|
BỘ Y TẾ
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 2351/QĐ-BYT
|
Hà Nội, ngày 07
tháng 6 năm 2016
|
QUYẾT ĐỊNH
PHÊ
DUYỆT DỰ ÁN “XÂY DỰNG VÀ THỬ NGHIỆM MÔ HÌNH XÃ HỘI HÓA CUNG CẤP DỊCH VỤ KẾ HOẠCH
HÓA GIA ĐÌNH/SỨC KHỎE SINH SẢN TẠI CÁC CƠ SỞ Y TẾ ĐỦ ĐIỀU KIỆN GIAI ĐOẠN
2016-2020”
BỘ TRƯỞNG BỘ Y TẾ
Căn cứ Nghị định số 63/NĐ-CP
ngày 31/8/2012 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu
tổ chức của Bộ Y tế;
Căn cứ Quyết định số 17/2013/QĐ-TTg ngày 12/3/2013 của Thủ tướng
Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục
Dân số- Kế hoạch hóa gia đình thuộc Bộ Y tế;
Căn cứ Quyết định số 2013/QĐ-TTg ngày 14/11/2011 của Thủ tướng Chính
phủ về việc phê duyệt Chiến lược Dân số và sức khỏe sinh sản Việt Nam giai đoạn
2011-2020;
Căn cứ Quyết định số 818/QĐ-BYT ngày 12/3/2015 của Bộ trưởng Bộ Y tế
về việc phê duyệt Đề án Xã hội hóa cung cấp phương tiện tránh thai, dịch vụ kế
hoạch hóa gia đình/sức khỏe sinh sản tại khu vực thành thị và nông thôn phát
triển giai đoạn 2015-2020;
Xét đề nghị của Tổng cục trưởng Tổng cục Dân số
- Kế hoạch hóa gia đình,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Phê duyệt kèm theo Quyết định này Dự án “Xây dựng và thử
nghiệm Mô hình xã hội hóa cung cấp dịch vụ kế hoạch hóa gia đình/sức khỏe sinh
sản tại các cơ sở y tế đủ Điều kiện giai đoạn 2016-2020”.
Điều 2. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký, ban hành.
Điều 3. Chánh Văn phòng Bộ, Tổng cục trưởng Tổng cục Dân số - Kế hoạch
hóa gia đình, Vụ trưởng Vụ Kế hoạch - Tài chính, Vụ trưởng Vụ Sức khỏe Bà mẹ -
Trẻ em, Thủ trưởng các đơn vị liên quan thuộc Bộ Y tế, Giám đốc Sở Y tế các tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.
|
Nơi nhận:
- Như Điều 3;
- Bộ trưởng (để b/c);
- Các Thứ trưởng;
- Cổng Thông tin điện tử Bộ Y tế;
- Chi cục DS-KHHGĐ các tỉnh/Tp;
- Trung tâm Chăm sóc SKSS các tỉnh/Tp;
- Lưu: VT, TCDS(05).
|
KT. BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG
Nguyễn Viết Tiến
|
DỰ ÁN
XÂY
DỰNG VÀ THỬ NGHIỆM MÔ HÌNH XÃ HỘI HÓA CUNG CẤP DỊCH VỤ KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH/SỨC
KHỎE SINH SẢN TẠI CÁC CƠ SỞ Y TẾ ĐỦ ĐIỀU KIỆN GIAI ĐOẠN 2016-2020
(Ban hành kèm theo Quyết định số 2351/QĐ-BYT ngày 7 tháng 6 năm 2016 của Bộ
trưởng Bộ Y tế phê duyệt Dự án xây dựng và thử nghiệm Mô hình xã hội hóa cung cấp
dịch vụ kế hoạch hóa gia đình/sức khỏe sinh sản tại các cơ sở y tế đủ Điều kiện
giai đoạn 2016-2020)
I. SỰ CẦN THIẾT CỦA DỰ ÁN
Sau 5 năm thực hiện Chiến lược DS-SKSS giai đoạn
2011-2020, công tác DS-KHHGĐ đã đạt được những kết quả quan trọng, cơ bản đạt
được các Mục tiêu, chỉ tiêu giai đoạn 1 của Chiến lược DS-SKSS đã đề ra, trong
đó kết quả duy trì mức sinh thay thế liên tục trong 10 năm (2005-2015) là thành
công mà ít quốc gia trên thế giới làm được. Cung cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS được
tăng cường về số lượng, chất lượng và được mở rộng nhiều hình thức cung cấp cho
phù hợp với đặc Điểm, nhu cầu của các nhóm khách hàng, góp phần bảo đảm được tỷ
lệ sử dụng BPTT ở mức cao tới 76,2% để duy trì tổng tỷ sinh ở mức 2,1 con năm
2015[1]. Tuy nhiên, việc
cung cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém và không còn phù hợp
với chính sách mới và tình hình thực tiễn, thậm chí còn là cản trở đối với sự
phát triển bền vững của chương trình DS-KHHGĐ:
1. Mức độ phổ cập BPTT chưa đạt
yêu cầu đề ra của Chiến lược DS-SKSS đến năm 2015 và nhiều khả năng không đáp ứng
nhu cầu số lượng, chất lượng các dịch vụ KHHGĐ/SKSS
Cơ hội tiếp cận dịch vụ KHHGĐ/SKSS còn nhiều hạn chế
về Khoảng cách, khả năng lựa chọn và chất lượng dịch vụ; nhu cầu tránh thai
chưa được đáp ứng còn khá cao[2]:
chiếm 11,2% trong nhóm phụ nữ có chồng, tới 22,7% trong nhóm phụ nữ chưa chồng
và Khoảng 35% trong nhóm thanh niên, vị thành niên.
Yêu cầu về số lượng, chất lượng BPTT tiếp tục gia
tăng trong giai đoạn 2016-2020 để duy trì mức sinh thay thế, bao gồm số thay thế
BPTT đã hết tác dụng tránh thai và số BPTT phải tăng thêm cho số phụ nữ trong
tuổi sinh đẻ 15-49 tuổi tăng từ 25,1 triệu người năm 2015 tăng lên 25,4 triệu
người năm 2020, nhất là cho các nhóm khách hàng mới bước vào độ tuổi sinh đẻ.
2. Các cơ sở cung cấp dịch vụ
KHHGĐ/SKSS còn nhiều hạn chế trong việc bảo đảm sự thuận tiện, khả năng lựa chọn
dịch vụ và đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng về chất lượng, hình thức của các
nhóm khách hàng.
Các dịch vụ KHHGĐ/SKSS đã được phân tuyến cho các
cơ sở cung cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS, song thực trạng việc cung cấp dịch vụ ở các
tuyến còn nhiều hạn chế, nên nhiều khả năng không bảo đảm sự thuận tiện về Khoảng
cách đi lại, về mở rộng sự lựa chọn trong nhiều cơ sở có cung cấp dịch vụ và hạn
chế trong việc đáp ứng nhu cầu về số lượng, chất lượng dịch vụ và đặc biệt là
không đủ khả năng đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng về dịch vụ KHHGĐ/SKSS có chất
lượng cho các nhóm khách hàng có Điều kiện kinh tế, hoàn cảnh khác nhau.
- Trạm y tế xã là đơn vị chăm sóc sức khỏe ban đầu
của hệ thống y tế công lập ở tuyến cơ sở. Đến năm 2013 có 98,9% số xã có trạm y
tế, 75% trạm y tế có bác sỹ, 96% trạm y tế có y sỹ sản nhi hoặc nữ hộ sinh
trung học và 40% trạm y tế đạt chuẩn quốc gia về y tế[3]. Trạm y tế xã là nơi gần dân nhất và đã bao
phủ rộng khắp các khu dân cư trong cả nước, nhưng mức độ cung cấp dịch vụ KHHGĐ
rất thấp: trạm y tế xã chỉ cung cấp dịch vụ đặt, tháo dụng cụ tử cung, tiêm thuốc
tránh thai và một số dịch vụ chăm sóc SKSS (một số xã vẫn chưa được phép đặt dụng
cụ tử cung theo quy định của tỉnh). Mặt khác, trạm y tế xã thực hiện các dịch vụ
bao cấp một phần hoặc toàn bộ, nên trình độ chuyên môn, cơ sở hạ tầng, trang
thiết bị phát triển chậm hơn so với khu vực tư nhân và bệnh viện. Chất lượng dịch
vụ KHHGĐ/SKSS được đánh giá thấp, cùng với việc nhận thức không đầy đủ về các dịch
vụ KHHGĐ/SKSS, dẫn tới tình trạng suy giảm về số lượng tuyệt đối và tỷ lệ tương
đối việc cung cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS từ trạm y tế.
- Bệnh viện các cấp, phòng khám đa khoa khu vực,
trung tâm chăm sóc SKSS cấp tỉnh, khoa SKSS thuộc Trung tâm y tế cấp huyện cung
cấp các dịch vụ KHHGĐ/SKSS miễn phí và một phần nhỏ các dịch vụ theo yêu cầu có
thu phí dịch vụ của khách hàng. Tuy có phạm vi dịch vụ rộng, nhưng Khoảng cách
đi lại khá xa so với số đông khách hàng và đặc biệt là Khoảng cách giữa bệnh
nhân với y, bác sỹ mà không phải là mối quan hệ giữa khách hàng với người bán
hàng.
- Trạm y tế của cơ quan, xí nghiệp, nông lâm trường
(năm 2014 có Khoảng 700 cơ sở[4])
thực hiện chăm sóc sức khỏe cho cán bộ, công nhân viên trong đơn vị, trong đó
có thực hiện các dịch vụ KHHGĐ/SKSS (không bao gồm các cơ sở y tế của các đơn vị
thuộc lực lượng vũ trang).
- Y tế tư nhân chậm mở rộng, phát triển sau nhiều
năm thực hiện chính sách xã hội hóa sự nghiệp y tế. Cơ sở y tế tư nhân tham gia
cung cấp các dịch vụ SKSS là chủ yếu, nhất là thăm khám thai hoặc phá thai cho
thanh niên/vị thành niên, nơi được giữ bí mật hơn và thân thiện hơn so với các
cơ sở y tế công lập. Cơ sở y tế tư nhân ít tham gia cung cấp các dịch vụ KHHGĐ
bởi các dịch vụ này được cung cấp miễn phí cho đa số khách hàng và do cơ sở y tế
công lập đảm nhận. Mặc dù, khách hàng làm dịch vụ KHHGĐ/SKSS ở cơ sở y tế tư
nhân có thuận lợi trong giao tiếp thân thiện, thái độ tôn trọng khách hàng và
được tư vấn đầy đủ, nhưng có hạn chế là giá dịch vụ khá cao và chưa đủ độ tin cậy
về chất lượng dịch vụ do tâm lý “bao cấp” còn khá nặng nề trong số đông khách
hàng, nên số lượng và tỷ lệ người sử dụng dịch vụ KHHGĐ/SKSS ở cơ sở y tế tư
nhân còn khá thấp.
- Các tổ chức phi chính phủ quốc tế và trong nước
tham gia cung cấp các dịch vụ KHHGĐ/SKSS như Marie Stopes International tại Việt
Nam, DKT, Tổ chức Dân số quốc tế, các phòng khám của Hội KHHGĐ Việt Nam dưới
các hình thức phi lợi nhuận như viện trợ, tiếp thị xã hội hoặc thu phí thấp.
Ngoài ra, các tổ chức phi chính phủ còn hỗ trợ kỹ thuật nâng cao năng lực cho
các cơ sở y tế, chuyển giao công nghệ, kỹ năng quản lý, đánh giá, nghiên cứu
khoa học phục cho quản lý cơ sở dịch vụ và quản lý nhà nước.
3. Những khó khăn trong việc
bảo đảm đủ số lượng và có chất lượng về cung cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS trong những
năm tới để duy trì mức sinh thay thế và đáp ứng nhu cầu đa dạng của người sử dụng
Trước năm 2010, chi phí dịch vụ KHHGĐ/SKSS chủ yếu
được viện trợ không hoàn lại và ngân sách nhà nước chi trả. Từ sau năm 2010, nước
ta trở thành nước có thu nhập trung bình thì các nguồn viện trợ giảm mạnh, ngân
sách trung ương giảm, ngân sách một số địa phương tăng nhưng không đủ bù đắp phần
thiếu hụt, nhiều địa phương không đầu tư ngân sách địa phương cho cung cấp miễn
phí dịch vụ KHHGĐ/SKSS.
Với tổng sản phẩm bình quân đầu người là 2052 USD[5] và với sự phát triển của
kinh tế - xã hội, đời sống của nhân dân ngày càng được nâng cao và có sự phân
hóa giàu nghèo, tầng lớp trung lưu đã, đang hình thành và trở thành số đông tại
các khu vực đô thị và nông thôn phát triển thì đòi hỏi khách quan là phải đáp ứng
nhu cầu đa dạng về số lượng, hình thức dịch vụ KHHGĐ/SKSS có chất lượng của các
nhóm khách hàng có Điều kiện và hoàn cảnh khác nhau.
Chưa có thị trường dịch vụ KHHGĐ/SKSS. Các cơ sở y
tế công lập được giao nhiệm vụ cung cấp miễn phí dịch vụ KHHGĐ/SKSS cho đa số
người sử dụng hoặc được thu phí dịch vụ với mức rất thấp đối với một số trường
hợp. Các cơ sở y tế ngoài công lập tham gia cung cấp một số dịch vụ KHHGĐ/SKSS
cho những khách hàng mà họ thấy thấy thuận lợi hơn so với cơ sở y tế công lập.
Sự độc lập trong cung cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS giữa cơ sở y tế công lập với cơ sở
y tế ngoài công lập là không có sự cạnh tranh phát triển và không bên nào chủ động
hoặc đủ khả năng đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị, đào tạo, bồi dưỡng trình độ kỹ
thuật để nâng cao chất lượng dịch vụ KHHGĐ/SKSS.
Sự phát triển của cơ sở y tế tư nhân ngoài tầm kiểm
soát về số lượng, chất lượng dịch vụ KHHGĐ/SKSS và chưa có cơ chế, biện pháp để
gắn kết giữa cơ sở y tế công lập với cơ sở y tế ngoài công lập nhằm bảo đảm chất
lượng và hiệu quả cung cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS.
4. Các rào cản quá lớn để sớm
hình thành thị trường đầy đủ về dịch vụ KHHGĐ/SKSS, nên khó bảo đảm số lượng,
đa dạng về hình thức, chất lượng dịch vụ KHHGĐ/SKSS để duy trì mức sinh thay thế
và đáp ứng nhu cầu đa dạng của người sử dụng trong thời gian trước mắt.
Tâm lý “bao cấp”, “ỷ lại” vào nhà nước trong việc
cung cấp miễn phí dịch vụ KHHGĐ/SKSS còn rất nặng nề; khá phổ biến trong nhân
dân và đối với người cung cấp dịch vụ. Một bộ phận không nhỏ đối tượng chưa sẵn
sàng tự trả chi phí dịch vụ KHHGĐ/SKSS hoặc chưa chấp nhận làm dịch vụ
KHHGĐ/SKSS tại cơ sở y tế ngoài công lập. Thực tế mấy năm gần đây cho thấy, tỷ
lệ sử dụng BPTT đã giảm bình quân 1,5 % năm.
Các chính sách khuyến khích xã hội hóa các hoạt động
y tế đã được ban hành, nhưng những rào cản về mức độ miễn phí lớn, về tâm lý
chưa chấp nhận của người sử dụng, về hiệu quả đầu tư, nên sự phát triển, mở rộng
các cơ sở cung cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS là rất chậm và không đạt yêu cầu cho việc
giảm nhanh tỷ lệ cung cấp miễn phí dịch vụ KHHGĐ/SKSS trong thời ngắn sắp tới.
Những thực tế trên đòi hỏi phải có biện pháp can
thiệp, hỗ trợ của cơ quan quản lý về dịch vụ KHHGĐ/SKSS nhằm xóa dần tâm lý
cung cấp miễn phí, tạo thuận lợi cho các cơ sở cung cấp dịch vụ vượt qua các
rào cản, đem lại niềm tin để phát triển và sớm mở rộng thị trường dịch vụ
KHHGĐ/SKSS. Việc thực hiện thành công dự án “xây dựng và thử nghiệm mô hình xã
hội hóa cung cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS tại các cơ sở y tế đủ Điều kiện giai đoạn
2016-2020” là cơ sở để mở rộng phạm vi trong toàn quốc nhằm bảo đảm cho người
nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn được cung cấp miễn phí dịch vụ KHHGĐ/SKSS có
chất lượng; bảo đảm cho người có thu nhập khá và giàu sẽ có nhiều cơ hội lựa chọn
sử dụng các dịch vụ KHHGĐ/SKSS có chất lượng khác nhau, phù hợp với tâm lý, khả
năng của bản thân mỗi người; bảo đảm sự chủ động trong phát triển và nâng cao
chất lượng dịch vụ KHHGĐ/SKSS của các cơ sở y tế công lập, ngoài công lập và bảo
đảm cho sự phát triển bền vững của chương trình DS-KHHGĐ.
II. CĂN CỨ XÂY DỰNG DỰ ÁN
- Quyết định số 2013/QĐ-TTg
ngày 14/11/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược dân số và sức khỏe
sinh sản Việt Nam giai đoạn 2011-2020 đã nhấn mạnh “Nâng cao chất lượng dịch vụ
thông qua việc hoàn thiện các quy định, quy trình kỹ thuật; tăng cường kiểm
tra, giám sát, đánh giá việc thực hiện các quy định chuyên môn và quy trình kỹ
thuật đối với các cơ sở cung cấp dịch vụ; nâng cấp cơ sở hạ tầng, bổ sung trang
thiết bị và tập huấn cập nhật kiến thức cho những người cung cấp dịch vụ dân số,
chăm sóc sức khỏe sinh sản”;
- Quyết định số 818/QĐ-BYT
ngày 12 tháng 3 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc phê duyệt Đề án Xã hội
hóa cung cấp PTTT, dịch vụ KHHGĐ/SKSS tại khu vực thành thị và nông thôn phát
triển giai đoạn 2016-2020;
- Chính sách của Đảng và nhà nước liên quan đến dân
số, xã hội hóa công tác y tế và sửa đổi cơ chế, chính sách phát triển kinh tế -
xã hội phù hợp với nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Kết
luận số 119-KL/TW ngày 04/01/2016 của Ban Bí thư về việc tiếp tục thực hiện Nghị
quyết số 47-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa IX về
tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình đã nhấn mạnh
“Đẩy mạnh xã hội hóa, thu hút và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đầu tư cho
dân số và phát triển. Khuyến khích, tạo Điều kiện thuận lợi cho các tổ chức,
doanh nghiệp tham gia cung cấp các dịch vụ kế hoạch hóa gia đình, nâng cao chất
lượng dân số. Tích cực tranh thủ viện trợ quốc tế cho lĩnh vực này”.
- Các quy định của pháp luật có liên quan: i) Nghị quyết số 18/2008/QH12 ngày 03/6/2008 của Quốc hội về đẩy mạnh
thực hiện chính sách, pháp luật xã hội hóa để nâng cao chất lượng chăm sóc sức
khỏe nhân dân; ii) Nghị định số 69/2008/NĐ-CP
ngày 30/5/2008 của Chính phủ về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các
hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường;
iii) Nghị định số 85/2012/NĐ-CP ngày
15/10/2012 của Chính phủ về cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính đối với các đơn
vị sự nghiệp y tế công lập và giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh của các cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh công lập; iv) Nghị định số 16/2015/NĐ-CP
ngày 14/2/2015 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ của các đơn vị sự nghiệp
công lập.
- Căn cứ thực trạng cung cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS đến
năm 2015, khả năng nguồn ngân sách nhà nước 2016-2020 và thực trạng cơ chế quản
lý cung cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS hiện hành thì không có khả năng cung cấp đủ về số
lượng, chất lượng dịch vụ KHHGĐ/SKSS theo yêu cầu của giai đoạn tới. Để thực hiện
Mục tiêu, nhiệm vụ duy trì mức sinh thay thế và nâng cao chất lượng cung cấp dịch
vụ KHHGĐ/SKSS thì cần thiết phải cải tiến cơ chế quản lý, tạo hành lang pháp lý
khuyến khích phát triển thị trường cung cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS. Đồng thời, phải
có sự can thiệp, sự hỗ trợ của cơ quan quản lý chương trình DS-KHHGĐ để huy động
sự tham gia cung cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS của các cơ sở y tế công lập và ngoài
công lập; tạo cơ hội mở rộng nhanh hơn thị trường cung cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS;
đáp ứng nhu cầu về số lượng, đa dạng về chất lượng dịch vụ KHHGĐ/SKSS cho phù hợp
với Điều kiện, khả năng của mỗi nhóm khách hàng và bảo đảm sự công bằng xã hội.
III. MỤC TIÊU CỦA
DỰ ÁN
1. Mục tiêu tổng quát
Mục tiêu tổng quát của
dự án là: Huy động được các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh công lập và ngoài công lập,
các cơ sở y tế và các tổ chức phi chính phủ tham gia cung cấp dịch vụ
KHHGĐ/SKSS có chất lượng thông qua các hỗ trợ mở rộng thị trường; tạo cơ hội thuận lợi cho người dân được tiếp cận, sử dụng dịch
vụ KHHGĐ/SKSS có chất lượng, góp phần thực hiện thành công Chiến lược Dân số và
Sức khỏe sinh sản giai đoạn 2011-2020, bảo đảm cho sự phát triển bền vững của
chương trình DS-KHHGĐ.
2. Mục tiêu cụ thể
2.1. Giai đoạn 2016-2017: triển khai thử nghiệm mô
hình xã hội hóa cung cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS có chất lượng tại 100 cơ sở y tế có
đủ Điều kiện của 4 tỉnh (bình quân 25 cơ sở/tỉnh); xây
dựng và hoàn thiện cơ chế hoạt động, cơ chế quản lý cơ sở cung cấp dịch vụ
KHHGĐ/SKSS có chất lượng.
2.2. Giai đoạn 2018-2020: đánh giá và triển khai mở
rộng mô hình xã hội hóa cung cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS có chất lượng tại các cơ sở
y tế đủ Điều kiện của các tỉnh; bảo đảm mỗi cơ sở cung
cấp được ít nhất 5 dịch vụ KHHGĐ/SKSS có chất lượng, đáp ứng nhu cầu đa dạng hóa, sự công bằng và sự phát triển bền vững của
chương trình DS-KHHGĐ.
2.3. Từ sau năm 2020, các cơ sở y tế công lập và
ngoài công lập tham gia cung cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS có chất lượng theo cơ chế
thị trường, các chuẩn hóa của hệ thống y tế và sự quản lý nhà nước theo quy định
của pháp luật.
2.4. Giai đoạn 2016-2020: Các địa phương huy động
thêm cơ sở y tế đủ Điều kiện tham gia cung cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS có chất lượng
bằng nguồn lực của địa phương; phấn đấu huy động được số lượng cơ sở y tế tham
gia cung cấp dịch vụ bằng ngân sách địa phương tương đương với số lượng cơ sở y
tế tham gia cung cấp dịch vụ do ngân sách trung ương thực hiện nhằm nhanh chóng
mở rộng thị trường cung cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS trong thời gian sớm nhất.
IV. NHIỆM VỤ, HOẠT ĐỘNG CỦA DỰ
ÁN
1. Xác định mô hình cung cấp
dịch vụ KHHGĐ/SKSS có chất lượng
1.1. Nội dung mô hình cung cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS
có chất lượng
Cơ sở cung cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS hoạt động theo
quy định của pháp luật; thực hiện đúng, đủ các quy định chuyên môn và quy trình
kỹ thuật được xác định là cung cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS có chất lượng. Các quy định
chuyên môn và quy trình kỹ thuật bao gồm:
i) Thực hiện tốt các kỹ năng giao tiếp thân thiện
trước, trong, sau khi làm dịch vụ kỹ thuật;
ii) Tư vấn đầy đủ, bảo đảm 10 quyền cơ bản của khách
hàng, giữ gìn phẩm chất của cán bộ tư vấn, thực hiện đúng 6 bước tư vấn;
iii) Thực hiện đúng, đủ quy trình chuyên môn kỹ thuật;
thăm khám trước khi làm dịch vụ kỹ thuật; chọn đúng thời Điểm và sử dụng đúng
phương pháp làm dịch vụ kỹ thuật; xử lý đúng, đủ những vấn đề xảy ra (nếu có)
trong, sau khi làm dịch vụ kỹ thuật;
iv) Chăm sóc chu đáo, tận tình trước, trong khi làm
dịch vụ kỹ thuật và có biện pháp theo dõi, tư vấn, giúp đỡ người sử dụng dịch vụ
KHHGĐ/SKSS;
v) Có đủ các Điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết
bị, vệ sinh môi trường, trình độ chuyên môn kỹ thuật của cán bộ và hoạt động của
cơ sở cung cấp dịch vụ theo quy định của pháp luật;
vi) Bảo đảm tỷ lệ tai biến, thất bại khi sử dụng dịch
vụ KHHGĐ/SKSS ở dưới mức cho phép.
1.2. Hình thức mô hình cung cấp dịch vụ
KHHGĐ/SKSS có chất lượng
Hình thức thể hiện của cơ sở cung cấp dịch vụ
KHHGĐ/SKSS có chất lượng là các cơ sở y tế công lập và ngoài công lập được công
nhận và được gắn nhãn hiệu “cung cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS có chất lượng”.
2. Xác định, tuyển chọn cơ sở
y tế đủ Điều kiện tham gia cung cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS có chất lượng
2.1. Xác định cơ sở y tế đủ Điều kiện
Các cơ sở y tế công lập, ngoài công lập được tham
gia cung cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS có chất lượng nếu có đủ các Điều kiện sau:
- Có giấy phép hoạt động và có phạm vi hoạt động
chuyên môn về dịch vụ KHHGĐ/SKSS;
- Tự nguyện tham gia cung cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS có
chất lượng.
- Có cơ sở hạ tầng, trang thiết bị, trình độ chuyên
môn của người hành nghề đúng với tiêu chuẩn quy định. Trường hợp chưa đủ tiêu
chuẩn theo quy định thì phải có bản cam kết thực hiện về thời gian hoàn thành
các tiêu chuẩn đó đúng với thời hạn quy định của Ban quản lý đề án 818.
2.2. Yêu cầu của việc tuyển chọn cơ sở y tế đủ Điều
kiện tham gia cung cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS có chất lượng
- Ưu tiên lựa chọn cơ sở y tế cung cấp dịch vụ lâm
sàng, nếu trên địa bàn xã phường thiếu cơ sở y tế cung cấp dịch vụ lâm sàng thì
lựa chọn cơ sở y tế cung cấp dịch vụ phi lâm sàng;
- Trên địa bàn xã, phường, thị trấn cần lựa chọn ít
nhất 1 cơ sở y tế công lập và 1 cơ sở ngoài công lập.
2.3. Tổ chức thực hiện việc tuyển chọn
- Căn cứ kế hoạch hàng năm về triển khai mở rộng số
lượng cơ sở y tế tham gia cung cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS có chất lượng của trung
ương; căn cứ khả năng ngân sách địa phương đầu tư và khả năng tổ chức thực hiện
của địa phương, Chi cục DS-KHHGĐ các tỉnh, thành phố xây dựng kế hoạch mở rộng
số lượng cơ sở y tế tham gia cung cấp dịch vụ có chất lượng.
- Ban quản lý Đề án 818 của trung ương có trách nhiệm
xây dựng, hướng dẫn trình tự, thủ tục tuyển chọn cơ sở y tế đủ Điều kiện tham
gia cung cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS có chất lượng.
- Ban quản lý Đề án 818, Chi cục DS-KHHGĐ các tỉnh,
thành phố tổ chức thực hiện việc tuyển chọn cơ sở y tế có đủ Điều kiện tham gia
cung cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS có chất lượng và báo cáo Sở Y tế quyết định lựa chọn
cơ sở y tế có đủ Điều kiện tham gia cung cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS có chất lượng.
- Kết quả lựa chọn các cơ sở y tế đủ Điều kiện tham
gia cung cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS có chất lượng được tách riêng số lượng cơ sở y
tế do trung ương đầu tư và số lượng cơ sở y tế do địa phương đầu tư.
3. Xây dựng, đăng ký, phát
triển thương hiệu cơ sở y tế cung cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS có chất lượng
Xây dựng, đăng ký và nhận diện thương hiệu “cơ sở y
tế cung cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS có chất lượng”.
Thực hiện các biện pháp phát triển thương hiệu “cơ
sở y tế cung cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS có chất lượng” bao gồm cả quảng cáo thương
hiệu.
Sản xuất, cung cấp các sản phẩm truyền thông để quảng
bá thương hiệu “cơ sở y tế cung cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS có chất lượng”.
4. Xây dựng các tài liệu hướng
dẫn thực hiện
Xây dựng tài liệu về cung cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS có
chất lượng trên cơ sở hệ thống hóa các quy định của pháp luật và các quyết định
chuyên môn, quy trình kỹ thuật của Bộ Y tế về i) kỹ năng giao tiếp thân thiện
trước, trong, sau khi làm dịch vụ kỹ thuật; ii) nội dung tư vấn đầy đủ, bảo đảm
10 quyền cơ bản của khách hàng và thực hiện 6 bước tư vấn; iii) quy trình
chuyên môn kỹ thuật (quy trình chung, quy trình thực hiện từng dịch vụ); thăm
khám, lựa chọn thời Điểm và phương pháp làm dịch vụ kỹ thuật; xử lý những vấn đề
xảy ra (nếu có); iv) chăm sóc trước, trong khi làm dịch vụ kỹ thuật và biện
pháp theo dõi, tư vấn, giúp đỡ người sử dụng dịch vụ KHHGĐ/SKSS).
Xây dựng, hướng dẫn sử dụng tài liệu về các Điều kiện
cần thiết để được làm dịch vụ KHHGĐ/SKSS trên cơ sở hệ thống hóa các quy định của
pháp luật và các quyết định chuyên môn của Bộ Y tế về cơ sở vật chất, trang thiết
bị, vệ sinh môi trường, trình độ chuyên môn kỹ thuật của người chịu trách nhiệm
về chuyên môn kỹ thuật của từng tuyến kỹ thuật và tỷ lệ tai biến, thất bại khi
sử dụng dịch vụ KHHGĐ/SKSS ở mức cho phép theo từng loại dịch vụ.
Xây dựng tài liệu cụ thể hóa các kỹ thuật dịch vụ
KHHGĐ/SKSS về phân tuyến chuyên môn kỹ thuật đối với hệ thống cơ sở khám bệnh,
chữa bệnh; về phân loại phẫu thuật, thủ thuật và định mức nhân lực trong từng
ca phẫu thuật, thủ thuật; về trình tự thủ tục cấp giấy phép hoạt động khám bệnh,
chữa bệnh và phạm vi hoạt động chuyên môn; về cấp chứng chỉ hành nghề khám bệnh,
chữa bệnh và cung cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS.
Xây dựng, hướng dẫn tài liệu về nội dung bản cam kết
của cơ sở y tế công lập, ngoài công lập trong việc cam kết hoàn thành các tiêu
chuẩn về cơ sở hạ tầng, trang thiết bị, trình độ chuyên môn của người hành nghề
trong thời gian phù hợp với thời hạn quy định của Ban quản lý đề án 818; tài liệu
về quy trình, thủ tục tuyển chọn cơ sở y tế đủ Điều kiện tham gia cung cấp dịch
vụ KHHGĐ/SKSS có chất lượng.
5. Hội thảo, đào tạo, tập huấn,
bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ
Hội thảo với các nhà quản lý, các
Ban quản lý dự án về triển khai dự án và tình hình thực hiện dự án và những biện
pháp nâng cao hiệu quả của dự án và hiệu quả cung cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS có chất
lượng.
Hội thảo với các nhà quản lý và
người chịu trách nhiệm về chuyên môn kỹ thuật của các cơ sở y tế tham gia cung
cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS có chất lượng về các Điều kiện cần thiết để làm dịch vụ,
phân tuyến chuyên môn kỹ thuật, phân loại phẫu thuật thủ thuật, cấp giấy phép
hoạt động, cấp chứng chỉ hành nghề, nội dung và phương pháp xác định Mục tiêu
trong bản cam kết tham gia cung cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS có chất lượng và những
nhu cầu, kiến nghị của cơ sở cung cấp dịch vụ.
Tập huấn, đào tạo, bồi dưỡng cho
người cung cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS về các kỹ năng giao tiếp, tư vấn, quy trình kỹ
thuật, chăm sóc khách hàng, cập nhật kỹ thuật dịch vụ mới theo yêu cầu của các
cơ sở y tế cung cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS có chất lượng.
Đào tạo nâng cao trình độ chuyên
môn kỹ thuật, cấp chứng chỉ hành nghề cho người cung cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS
theo yêu cầu của các cơ sở cung cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS có chất lượng.
6. Tổ chức
cung cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS có chất lượng
6.1. Các cơ sở y tế tham gia cung cấp dịch vụ
KHHGĐ/SKSS có chất lượng chủ động tổ chức thực hiện việc cung cấp dịch vụ bao gồm:
- Công khai các loại dịch vụ KHHGĐ/SKSS được cung cấp
tại cơ sở, khuyến khích việc cung cấp dịch vụ trọn gói;
- Mua, bán các PTTT, hàng hóa SKSS theo phân khúc
thị trường xã hội hóa để làm dịch vụ hoặc kinh doanh (danh Mục PTTT và hàng hóa
SKSS theo quyết định số 4911/QĐ-BYT và cơ chế mua, bán theo cơ chế quản lý của
dự án 1 về xây dựng và thử nghiệm mô hình xã hội hóa cung cấp PTTT, hàng hóa
SKSS có chất lượng giai đoạn 2016-2020).
- Thực hiện các hoạt động giao tiếp, tư vấn, dịch vụ
kỹ thuật, chăm sóc cho khách hàng. Thực hiện phương pháp phẫu thuật, thủ thuật
và các biện pháp kỹ thuật đối với các dịch vụ KHHGĐ/SKSS có chất lượng theo hướng
dẫn quốc gia về các dịch vụ chăm sóc SKSS và phù hợp với sức khỏe của khách
hàng (việc thực hiện các dịch vụ kỹ thuật tại các tuyến được áp dụng theo đúng
quy định về phân tuyến kỹ thuật tại Thông tư số 43/2013/TT-BYT
ngày 11/12/2013 của Bộ Y tế Quy định chi Tiết phân tuyến chuyên môn kỹ thuật đối
với hệ thống cơ sở khám bệnh, chữa bệnh).
- Giới thiệu, tư vấn các loại PTTT, các loại dịch vụ
KHHGĐ/SKSS, tạo cơ hội để khách hàng lựa chọn, sử dụng dịch vụ kỹ thuật
KHHGĐ/SKSS có chất lượng phù hợp với tâm lý, khả năng của khách hàng.
6.2. Các cơ sở y tế tham gia cung cấp dịch vụ
KHHGĐ/SKSS có chất lượng thường xuyên bảo đảm các hoạt động giao tiếp thân thiện,
tư vấn đầy đủ, kỹ thuật thành thạo và chăm sóc chu đáo đối với mọi khách hàng.
7. Tổ chức thực hiện cơ chế gắn
kết cơ sở y tế công lập, ngoài công lập
7.1. Xây dựng, công bố quyết định
phân công cơ sở y tế tuyến trên tiếp nhận, Điều trị các tác dụng phụ hoặc rủi
ro (nếu có) của khách hàng đã làm dịch vụ kỹ thuật ở cơ sở y tế tuyến dưới.
Chi cục DS-KHHGĐ các tỉnh xây dựng
quyết định phân công cơ sở y tế tuyến trên sẵn sàng tiếp nhận, Điều trị các tác
dụng phụ hoặc rủi ro (nếu có) của khách hàng đã làm dịch vụ kỹ thuật ở cơ sở y
tế tuyến dưới; trình Sở Y tế quyết định nhằm bảo đảm sự gắn kết của cơ sở
y tế công lập và cơ sở ngoài công lập giữa các tuyến dịch vụ; bảo
đảm sự tin cậy của khách hàng đối với các cơ sở y tế cung cấp dịch vụ
KHHGĐ/SKSS có chất lượng và sự tự tin của cơ sở cung cấp dịch vụ trong việc thực
hiện dịch vụ KHHGĐ/SKSS có chất lượng.
Tuyên truyền, vận động cơ sở y tế
tham gia mua bảo hiểm nghề nghiệp và việc xử lý các rủi ro, tai nạn nghề nghiệp
(nếu có) theo quy định của pháp luật;
7.2. Tổ chức trao đổi, học tập
kinh nghiệm, phát huy ưu Điểm, khắc phục hạn chế trong việc cung cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS
có chất lượng.
BQLĐA 818, Chi cục DS-KHHGĐ cấp tỉnh
định kỳ tổ chức các cuộc trao đổi với cán bộ quản lý của các cơ sở y tế cung cấp
dịch vụ KHHGĐ/SKSS có chất lượng để rút kinh nghiệm trong quá trình thực hiện dịch
vụ.
8. Truyền thông, vận động xã hội
Tổ chức hội thảo, đối thoại, cung cấp thông tin về
xã hội hóa cung cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS có chất lượng nhằm cung cấp kiến thức
cho lãnh đạo các cấp ủy Đảng, chính quyền, các cấp quản lý và đoàn thể của các
địa phương. Tranh thủ sự ủng hộ, sự chỉ đạo, quản lý và trực tiếp tham gia vận
động nhân dân chuyển đổi hành vi tự chi trả chi phí dịch vụ KHHGĐ/SKSS có chất
lượng của cấp ủy Đảng, chính quyền, ban, ngành, đoàn thể các cấp.
Truyền thông chuyển đổi hành vi đối với các nhóm đối
tượng trực tiếp sử dụng dịch vụ KHHGĐ/SKSS có chất lượng cho các nhóm đối tượng
sử dụng dịch vụ KHHGĐ/SKSS, chú trọng các hình thức tư vấn trực tiếp, tư vấn cộng
đồng.
Tổ chức thực hiện các sự kiện truyền thông, tạo dư
luận xã hội đồng tình, ủng hộ và lôi cuốn người dân thực hiện hành vi tự chi trả
chi phí sử dụng dịch vụ KHHGĐ/SKSS có chất lượng.
9. Tăng cường hợp tác với cơ
quan, tổ chức phi chính phủ trong và ngoài nước trong việc cung cấp dịch vụ
KHHGĐ/SKSS có chất lượng
Hợp tác với các cơ quan, tổ chức
phi chính phủ trong và ngoài nước trong các lĩnh vực: i) nghiên cứu khoa học,
nghiên cứu thử nghiệm và áp dụng kết quả nghiên cứu khoa học vào thực tiễn về
các biện pháp kinh tế, xã hội, kỹ thuật và cơ chế nâng cao chất lượng dịch vụ
KHHGĐ/SKSS; ii) đào tạo, tập huấn chuyển giao công nghệ; iii) hỗ trợ cung cấp dịch
vụ KHHGĐ/SKSS có chất lượng.
Tăng cường việc giới thiệu và cung
cấp các dịch vụ KHHGĐ/SKSS mới được đưa vào Việt Nam với sự hỗ trợ về kỹ thuật,
tài chính của các cơ quan, tổ chức phi chính phủ trong và ngoài nước.
10. Quản lý và thực hiện dự án
Xây dựng, hướng dẫn và đánh giá
các yếu tố đầu vào về việc cung cấp các dịch vụ KHHGĐ/SKSS của cơ sở y tế trước
khi được tham gia cung cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS có chất lượng (thay cho nghiên cứu,
khảo sát đầu vào), làm cơ sở cho việc đánh giá sự tiến bộ trong việc cung cấp dịch
vụ KHHGĐ/SKSS của các cơ sở cung cấp dịch vụ và sơ kết, tổng kết tình hình thực
hiện dự án.
Xây dựng hướng dẫn thực hiện các hoạt động của dự
án (mỗi hoạt động nêu rõ Mục đích yêu cầu, trách nhiệm thực hiện, đầu ra và thời
gian hoàn thành).
Hàng năm, các cơ sở y tế cung cấp
dịch vụ KHHGĐ/SKSS có chất lượng báo cáo tình hình thực hiện, bao gồm kết quả về
các dịch vụ đã cung cấp; số lượng khách hàng sử dụng dịch vụ KHHGĐ/SKSS có chất
lượng; số lượng PTTT, hàng hóa SKSS đã tiêu thụ, phân phối; số lượng và tỷ lệ
người sử dụng dịch vụ KHHGĐ/SKSS bị rủi ro hoặc tai biến và thất bại (nếu có).
Cơ quan quản lý dự án các cấp tổng
hợp tình hình thực hiện cung cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS có chất lượng của các cơ sở
y tế tham gia dự án; đôn đốc và đề ra biện pháp hỗ trợ cơ sở y tế thực hiện cam
kết hoàn thành các Điều kiện cung cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS có chất lượng. Kết quả
thực hiện của các cơ sở y tế tham gia dự án là kết quả thực hiện Mục tiêu của dự
án xây dựng và thử nghiệm mô hình xã hội hóa cung cấp PTTT, dịch vụ KHHGĐ/SKSS
có chất lượng.
Kiểm tra, giám sát, hỗ trợ kỹ thuật
của Trung ương, cấp tỉnh đối với các cơ sở y tế cung cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS có
chất lượng.
Thực hiện các nghiệp vụ quản lý dự
án của Ban quản lý dự án trung ương và địa phương về ghi chép ban đầu, thu thập
thông tin, theo dõi, giám sát; báo cáo tình hình thực hiện dự án với cơ quan quản
lý nhà nước.
11. Tăng cường thực hiện chức năng,
nhiệm vụ quản lý nhà nước để hỗ trợ cơ sở y tế cung cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS có
chất lượng
Nghiên cứu, đánh giá và sửa đổi cơ chế, chính sách
cụ thể, bảo đảm cho các cơ sở y tế chủ động cung cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS có chất
lượng.
Tổ chức kiểm tra, giám sát, thanh tra tình hình chấp
hành các quy định của pháp luật trong việc cung cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS có chất
lượng.
Tổ chức tiếp nhận, phản hồi thông tin và giải quyết
các khó khăn cho Ban quản lý dự án trong việc hỗ trợ các cơ sở y tế cung cấp dịch
vụ KHHGĐ/SKSS có chất lượng; tham gia trực tiếp vào quá trình tiếp nhận, hướng
dẫn, phản hồi thông tin cho các cơ sở y tế cung cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS có chất
lượng.
Thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cơ quan quản lý
nhà nước trong việc cụ thể hóa các quy định chuyên môn, các quy trình kỹ thuật,
tạo thuận lợi cho cơ sở y tế cung cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS có chất lượng.
Thực hiện việc thu thập, tổng hợp
và báo cáo về tình hình cung cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS có chất lượng theo quy định.
Tổ chức sơ kết, tổng kết thực hiện
dự án xây dựng và thử nghiệm mô hình xã hội hóa cung cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS có
chất lượng giai đoạn 2016-2020.
V. CÁC GIẢI
PHÁP THỰC HIỆN DỰ ÁN
1. Giải pháp
về nguồn vốn
1.1. Nguồn kinh phí thực hiện dự
án bao gồm ngân sách trung ương, ngân sách địa phương, vốn vay viện trợ nước
ngoài, vốn của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và các nguồn vốn khác. Phân định
các nguồn vốn đầu tư cho dự án như sau:
- Ngân sách trung ương đầu tư bao
gồm:
Thực hiện chính sách cung cấp miễn
phí PTTT, dịch vụ KHHGĐ/SKSS cho người nghèo, người thuộc diện được hưởng chính
sách xã hội;
Thiết kế, đăng ký, quảng bá thương
hiệu cơ sở cung cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS có chất lượng;
Xây dựng, in ấn các tài liệu hướng
dẫn quản lý, chuyên môn nghiệp vụ và thực hiện dự án;
Hội thảo, tập huấn cho các nhà quản
lý của ban, ngành, đoàn thể và cán bộ quản lý chủ chốt của Đề án ở cấp tỉnh.
Kiểm tra, giám sát, hỗ trợ kỹ thuật,
sơ kết, tổng kết và quản lý dự án thuộc phạm vi trung ương.
- Ngân sách địa phương đầu tư bao
gồm:
Thực hiện chính sách, quyết định của
địa phương về cung cấp miễn phí PTTT, dịch vụ KHHGĐ/SKSS cho các nhóm đối tượng
thụ hưởng;
Mở rộng số lượng cơ sở y tế công lập,
ngoài công lập tham gia cung cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS có chất lượng;
Tổ chức hội thảo, tập huấn cho các
nhà quản lý của ban, ngành, đoàn thể và cán bộ quản lý chủ chốt của Đề án ở cấp
huyện, xã;
Kiểm tra, giám sát, hướng dẫn kỹ
thuật, sơ kết, tổng kết dự án thuộc phạm vi địa phương.
- Vốn vay, viện trợ nước ngoài của
các tổ chức, cá nhân đầu tư cho việc nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ
KHHGĐ/SKSS theo Mục tiêu, hoạt động được phê duyệt trong văn kiện dự án (trong
trường hợp có hoạt động trùng lặp giữa dự án xã hội hóa cung cấp dịch vụ
KHHGĐ/SKSS có chất lượng với hoạt động của dự án viện trợ thì Ban quản lý dự án
có trách nhiệm báo cáo và đề nghị cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền Điều
chỉnh hoạt động dự án).
- Vốn của các cơ sở công lập,
ngoài công lập đầu tư:
Nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết
bị, dụng cụ, đào tạo, tập huấn chuyên môn kỹ thuật và vệ sinh môi trường để có
đủ Điều kiện tham gia cung cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS có chất lượng;
Trả tiền lương, tiền công cho nhân
viên; chi phí quản lý hoạt động văn phòng của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
- Các nguồn vốn khác bao gồm các
nguồn vốn vay ưu đãi của các nhà cung cấp PTTT, hàng hóa SKSS cho các cơ quan
quản lý dự án và cơ sở y tế tham gia cung cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS có chất lượng.
1.2. Quản lý các nguồn vốn
Nguồn vốn đầu tư cho dự án của cấp
nào thì Ban quản lý dự án cấp đó quản lý theo quy định của Luật ngân sách nhà nước (ngân sách trung ương,
ngân sách địa phương, vốn vay, vốn viện trợ nước ngoài hoặc quy định của bên
góp vốn (nếu có quy định khác với Luật ngân
sách nhà nước).
Định mức chi, tiêu chuẩn chi cho các
hoạt động của dự án được áp dụng theo quy định của pháp luật hiện hành (Thông
tư Quy định sử dụng kinh phí thực hiện chương trình Mục tiêu y tế, dân số) hoặc
theo quy định của bên góp vốn.
2. Giải pháp
về tổ chức bộ máy và nhân sự
2.1. Giải pháp về tổ chức quản lý
dự án
Dự án xây dựng và thử nghiệm mô
hình xã hội hóa cung cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS có chất lượng được xây dựng theo hướng
mở và mang tính chất của dự án khung, nên việc thực hiện dự án gắn liền với chức
năng, nhiệm vụ của BQLĐA 818.
Không thành lập Ban quản lý dự án riêng mà sử dụng
bộ máy của Ban quản lý đề án 818. Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Ban quản
lý dự án trung ương (BQLDATW) do BQLĐA 818 Trung ương thực hiện và của Ban quản
lý dự án địa phương (BQLDAĐP) do BQLĐA 818 địa phương thực hiện. Quyền hạn và
trách nhiệm của BQLDATW và BQLDAĐP được phân định cụ thể như sau:
- BQLDATW chịu trách nhiệm:
Xây dựng tài liệu về các quy định của pháp luật và
quyết định chuyên môn, quy trình kỹ thuật của Bộ Y tế về cung cấp dịch vụ
KHHGĐ/SKSS có chất lượng; tài liệu về các Điều kiện cần thiết để cung cấp dịch
vụ KHHGĐ/SKSS có chất lượng; các tài liệu về phân tuyến chuyên môn kỹ thuật,
phân loại phẫu thuật, thủ thuật và việc cấp giấy phép hoạt động, cấp chứng chỉ
hành nghề khám bệnh, chữa bệnh và cung cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS.
Dự kiến số lượng cơ sở y tế công lập,
ngoài công lập có đủ Điều kiện tham gia cung cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS có chất lượng
tương ứng với yêu cầu đánh giá và khả năng nguồn vốn từ ngân sách trung ương (lựa
chọn tên cụ thể của cơ sở cung cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS do địa phương quyết định);
Bảo đảm số lượng, chất lượng PTTT,
dịch vụ KHHGĐ/SKSS theo đăng ký của BQLDAĐP trên cơ sở tổng hợp nhu cầu của các
cơ sở y tế tham gia cung cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS có chất lượng.
- BQLDAĐP có trách nhiệm:
Bổ sung số lượng cơ sở y tế công lập,
ngoài công lập tham gia cung cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS có chất lượng (cần theo cơ
cấu cơ sở y tế công lập, ngoài công lập của trung ương để bảo đảm cho việc đánh
giá kết quả việc thử nghiệm) theo Mục tiêu và khả năng ngân sách của địa
phương;
Lựa chọn, quyết định tên từng cơ sở
y tế có đủ Điều kiện tham gia cung cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS có chất lượng;
Quản lý, thanh toán số lượng PTTT,
hàng hóa SKSS đã nhận và phân phối cho cơ sở y tế tham gia cung cấp dịch vụ
KHHGĐ/SKSS có chất lượng;
2.2. Giải pháp về nhân sự
Các BQLDA có thể sử dụng cán bộ
kiêm nhiệm hoặc hợp đồng nhân sự để quản lý dự án và tự cân đối nguồn kinh phí
để chi trả tiền công, chi phí văn phòng cho nhân viên theo quy định của pháp luật
(trừ giám đốc và một số nhân viên dự án được cơ quan quản lý nhà nước bổ nhiệm).
Cán bộ, nhân viên của BQLDAĐP, của
cơ sở y tế cung cấp dịch vụ tham gia các khóa đào tạo, tập huấn về chuyên môn
nghiệp vụ phải tự chi trả các Khoản chi phí (chi phí của mỗi khóa học theo quy
định của ban tổ chức khóa học)
3. Quyền, nghĩa vụ của cơ sở
cung cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS
3.1. Quyền của cơ sở cung cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS:
- Tự nguyện tham gia cung cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS có
chất lượng;
- Được sử dụng thương hiệu cung cấp dịch vụ
KHHGĐ/SKSS có chất lượng nếu đáp ứng đúng, đủ các tiêu chuẩn theo quy định
(thương hiệu có sự bảo lãnh của Tổng cục DS-KHHGĐ, cơ quan quản lý nhà nước và
chịu trách nhiệm việc thực hiện nhiệm vụ chuyên môn về dịch vụ KHHGĐ/SKSS);
- Được ưu tiên cung cấp PTTT, hàng hóa SKSS có chất
lượng theo phân khúc thị trường xã hội hóa;
- Được cung cấp miễn phí PTTT, dịch vụ KHHGĐ/SKSS
và được hưởng thù lao theo quy định;
- Được hỗ trợ đào tạo, tập huấn cập nhật kiến thức,
kỹ thuật mới hoặc nâng cao trình độ để được cấp chứng chỉ hành nghề và được nhận
các hỗ trợ khác để sớm tham gia vào thị trường cung cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS có
chất lượng;
- Được thu phí dịch vụ KHHGĐ/SKSS có chất lượng
theo quy định của pháp luật.
3.2. Nghĩa vụ của cơ sở cung cấp dịch vụ
KHHGĐ/SKSS:
- Thực hiện đúng, đủ các quy định chuyên môn và quy
trình kỹ thuật cung cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS có chất lượng;
- Thường xuyên nâng cao chất lượng của cơ sở vật chất,
trang thiết bị, trình độ chuyên môn và kỹ năng cung cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS có
chất lượng;
- Niêm yết giá và công khai thông tin về giá dịch vụ
KHHGĐ/SKSS theo quy định của pháp luật;
- Báo cáo đầy đủ, kịp thời những thông tin về tình
hình thực hiện cung cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS có chất lượng theo quy định.
4. Giải pháp
về thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước
Tổng cục DS-KHHGĐ thực hiện chức
năng quản lý nhà nước về dịch vụ KHHGĐ/SKSS có trách nhiệm quản lý chất lượng dịch
vụ KHHGĐ/SKSS theo quy định của pháp luật về chất lượng sản phẩm hàng hóa và
pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật.
Sở Y tế có trách nhiệm ban hành
quyết định phân công các bệnh viện chuyên môn tuyến trên sẵn sàng tiếp nhận, Điều
trị cho những khách hàng có các tác dụng phụ hoặc gặp tai biến (nếu có) từ cơ sở
y tế tuyến dưới cung cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS có chất lượng, bảo đảm sự gắn kết
an toàn trong việc xử lý, Điều trị tác dụng phụ, tai biến.
Chính quyền địa phương có quyền
ban hành chính sách hỗ trợ sử dụng dịch vụ KHHGĐ/SKSS cho các nhóm đối tượng được
hưởng và quyết định giá dịch vụ KHHGĐ/SKSS của các cơ sở y tế công lập của từng
tuyến kỹ thuật.
VI. QUY MÔ, ĐỊA ĐIỂM, PHẠM VI,
THỜI GIAN THỰC HIỆN
1. Quy mô dự án
Dự án được thực hiện tại xã, phường, thị trấn, quận,
huyện, thành phố, thị xã thuộc khu vực thành thị và nông thôn phát triển trong
phạm vi cả nước.
Tại các địa Điểm thực hiện dự án là xã, phường, thị
trấn có ít nhất 2 cơ sở cung cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS có chất lượng và tại mỗi cơ
sở cung cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS có ít nhất 5 loại dịch vụ để bảo đảm mở rộng cơ
hội lựa chọn của khách hàng (có ít nhất 5 cơ hội lựa chọn).
2. Địa Điểm thực hiện dự án
Các cơ sở y tế có đủ Điều kiện tham gia cung cấp dịch
vụ KHHGĐ/SKSS có chất lượng tại khu vực thành thị và nông thôn phát triển.
Hệ thống DS-KHHGĐ các cấp, cơ sở y tế dự phòng, hiệu
thuốc tham gia cung cấp PTTT, hàng hóa SKSS có chất lượng.
3. Phạm vi dự án
Các PTTT, hàng hóa SKSS có chất lượng
Các dịch vụ KHHGĐ/SKSS có chất lượng.
4. Thời gian thực hiện dự án
Thời gian thực hiện: từ năm 2016 đến năm 2020
VII. CƠ QUAN QUẢN LÝ, THỰC HIỆN,
PHỐI HỢP
1. Cơ quan chủ quản: Bộ Y tế
2. Cơ quan quản lý: Tổng cục DS-KHHGĐ
3. Cơ quan thực hiện: Ban quản lý Đề án 818
4. Cơ quan phối hợp: Các cơ sở y tế cung cấp dịch vụ
KHHGĐ/SKSS, BQL Đề án 818 cấp tỉnh, chi cục DS-KHHGĐ các tỉnh, thành phố và tổ
chức liên quan.
VIII. DỰ KIẾN KINH PHÍ
Đơn vị: tỷ đồng
|
Năm
|
Cộng
|
NSTW
|
NSĐP
|
Cơ sở y tế
|
Viện trợ
|
Nguồn khác
|
|
2016
|
10
|
5
|
|
|
|
|
|
2017
|
30
|
7
|
|
|
|
|
|
2018
|
50
|
5
|
|
|
|
|
|
2019
|
60
|
5
|
|
|
|
|
|
2020
|
70
|
5
|
|
|
|
|
|
Cộng 5 năm
|
38
|
27
|
|
|
|
|
Dự kiến nguồn kinh phí là ước tính sơ bộ dựa theo kết
quả Điều tra nghiên cứu về sự tham gia của các cơ sở y tế công lập, ngoài công
lập.
IX. ĐỐI TƯỢNG THỤ HƯỞNG VÀ HIỆU
QUẢ KINH TẾ XÃ HỘI
1. Đối tượng thụ hưởng
Các cặp vợ chồng, thanh niên, vị thành niên, những
người có nhu cầu sử dụng được lựa chọn dịch vụ KHHGĐ/SKSS có chất lượng phù hợp
với tâm lý, khả năng của bản thân và gia đình và bảo đảm sự bình đẳng, sự bền vững
trong việc chăm sóc sức khỏe sinh sản của nhân dân.
Các cơ sở y tế được chủ động tham gia cung cấp dịch
vụ KHHGĐ/SKSS có chất lượng và đáp ứng nhu cầu tốt nhất cho khách hàng, tạo cơ
hội sớm mở rộng thị trường đầy đủ về cung cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS và sự phát triển
bền vững của cơ sở, đơn vị.
2. Hiệu quả kinh tế xã hội
Dự án xây dựng và thử nghiệm mô hình xã hội hóa
cung cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS có chất lượng liên quan đến các cơ sở y tế công lập
và ngoài công lập nhằm tạo cơ hội cho sự lựa chọn của khách hàng là một bước
chuyển vững chắc để đảm bảo thực hiện thành công các Mục tiêu và sự phát triển
bền vững của chương trình DS-KHHGĐ trong thời gian tới.
Dự án sẽ từng bước đưa dịch vụ KHHGĐ/SKSS có chất
lượng đến các đối tượng có nhu cầu phù hợp với tâm lý, khả năng chi trả và Điều
kiện kinh tế - xã hội của từng vùng miền, đáp ứng nhu cầu lựa chọn tránh thai
phù hợp và nâng cao vai trò, trách nhiệm của người dân trong thực hiện kế hoạch
hóa gia đình và chăm sóc sức khỏe sinh sản.
Với Mục tiêu tăng cường khả năng tiếp cận và nâng
cao chất lượng cung cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS, dự án sẽ góp phần trực tiếp vào
tăng tỷ lệ người sử dụng các biện pháp tránh thai từ đó Điều chỉnh mức sinh và
quy mô dân số ở mức hợp lý góp phần vào nâng cao chất lượng dân số và phát triển
kinh tế - xã hội.
Tăng tỷ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai, cung cấp
các biện pháp tránh thai cho vị thành niên và thành niên là một trong những giải
pháp hữu hiệu phòng ngừa tránh thai ngoài ý muốn và do đó giảm đáng kể tình trạng
phá thai nói chung và tình trạng phá thai của vị thành niên, thanh niên nói
riêng. Kết quả này sẽ làm giảm đáng kể các chi phí cho các dịch vụ xã hội, tạo
cơ hội dành vốn đầu tư cho các lĩnh vực kinh tế xã hội khác, đồng thời làm gia
tăng thời gian tham gia lao động của phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ do tránh được
thời gian nghỉ đẻ, thai sản, giảm thiểu các tác hại của tình trạng thai nghén ở
vị thành niên và thanh niên.
Thực hiện thành công Dự án sẽ đóng góp thiết thực
vào việc bảo đảm số lượng người sử dụng BPTT để duy trì mức sinh thay thế và bảo
vệ được thành quả của chương trình kế hoạch hóa gia đình đã đạt được trong hơn
50 năm qua và quan trọng nhất là việc tạo cơ hội cho khách hàng tiếp cận và sử
dụng BTTT phù hợp với tâm lý, khả năng của khách hàng, đáp ứng được nhu cầu của
đông đảo quần chúng nhân dân.
Đầu tư cho chương trình dân số là đầu tư cho phát
triển và mang lại hiệu quả rất cao. Kết quả giảm sinh sẽ Tiết kiệm các Khoản
chi cho các dịch vụ xã hội để dành vốn đầu tư cho các lĩnh vực phát triển kinh
tế xã hội nhằm thực hiện Mục tiêu xóa đói, giảm nghèo và cải thiện đời sống
nhân dân.
Huy động sự đóng góp của các nguồn lực xã hội thông
qua xã hội hóa một mặt làm giảm chi phí đầu tư của nhà nước, mặt khác làm tăng
sự quan tâm của quần chúng nhân dân đối với các Mục tiêu dân số - kế hoạch hóa
gia đình, tăng ý thức xã hội của các tầng lớp nhân dân.
Xã hội hóa cũng là hình thức tạo cơ hội cho các cơ
sở y tế công lập tham gia thị trường. Sự cạnh tranh trên thị trường là yếu tố,
Điều kiện quan trọng để cơ sở y tế công lập thúc đẩy đầu tư, nâng cao trình độ
kỹ thuật của cán bộ cung cấp dịch vụ và nâng cao chất lượng dịch vụ được cung cấp.
[1] Niên
giám Thống kê tóm tắt DS-KHHGĐ 2015, Tổng cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình
[2] Điều tra đánh giá các
Mục tiêu trẻ em và phụ nữ 2010, UNCEF (MICS2010)
[3] Niên
giám Thống kê y tế 2014, Bộ Y tế
[4] Niên
giám Thống kê Y tế năm 2014, Bộ Y tế
[5] Niên
giám Thống kê năm 2014, Tổng cục Thống kê