|
|
Bản dịch này thuộc quyền sở hữu của
THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Mọi hành vi sao chép, đăng tải lại mà không có sự đồng ý của
THƯ VIỆN PHÁP LUẬT là vi phạm pháp luật về Sở hữu trí tuệ.
THƯ VIỆN PHÁP LUẬT has the copyright on this translation. Copying or reposting it without the consent of
THƯ VIỆN PHÁP LUẬT is a violation against the Law on Intellectual Property.
X
CÁC NỘI DUNG ĐƯỢC SỬA ĐỔI, HƯỚNG DẪN
Các nội dung của VB này được VB khác thay đổi, hướng dẫn sẽ được làm nổi bật bằng
các màu sắc:
: Sửa đổi, thay thế,
hủy bỏ
Click vào phần bôi vàng để xem chi tiết.
|
|
|
|
Đang tải văn bản...
|
Số hiệu:
|
532-TTg
|
|
Loại văn bản:
|
Quyết định
|
|
Nơi ban hành:
|
Thủ tướng Chính phủ
|
|
Người ký:
|
Võ Văn Kiệt
|
|
Ngày ban hành:
|
12/07/1997
|
|
Ngày hiệu lực:
|
Đã biết
|
|
Ngày công báo:
|
Đã biết
|
|
Số công báo:
|
Đã biết
|
|
Tình trạng:
|
Đã biết
|
|
THỦ
TƯỚNG CHÍNH PHỦ
********
|
CỘNG
HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********
|
|
Số:
532-TTg
|
Hà
Nội, ngày 12 tháng 7 năm 1997
|
I. VỊ TRÍ, CHỨC
NĂNG:
Thành phố Hồ Chí Minh là một đô
thị lớn, một trung tâm nhiều chức năng trong vùng phát triển kinh tế trọng điểm
thành phố Hồ Chí Minh - Sông Bé - Đồng Nai - Bà Rịa - Vũng tàu; là trung tâm
phát triển của khu vực phía Nam và cả nước. Từng bước phát triển thanh phố
thành trung tâm hiện đại; liên kết chặt chẽ về quy hoạch, kết cấu hạ tầng kinh
tế - xã hội với các tỉnh Đông Nam bộ, đồng bằng sông Cửu Long, Nam Tây Nguyên
và Nam Trung bộ để thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và bảo vệ
môi trường, góp sức cùng cả nước mở rộng hợp tác, nâng cao sức cạnh tranh của
kinh tế nước ta trên thị trường khu vực và quốc tế.
II. MỤC TIÊU
PHÁT TRIỂN CHUNG:
1. Duy trì tốc độ tăng trưởng của
thành phố cao hơn mức bình quân chung của cả nước và phát triển một cách toàn
diện, cân đối và bền vững về kinh tế, văn hoá, xã hội, bảo đảm vững chắc an
ninh quốc phòng.
2. Tạo sự chuyển biến đồng bộ, mạnh
mẽ, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của toàn bộ nền kinh tế (đặc biệt
là các ngành sản xuất và dịch vụ then chốt) với cơ cấu kinh tế hướng mạnh về xuất
khẩu. Hình thành một cơ cấu các thành phần kinh tế hợp lý, liên kết hỗ trợ lẫn
nhau, bao gồm kinh tế Nhà nước, kinh tế hợp tác, kinh tế tư nhân và kinh tế tư
bản Nhà nước.
3. Hạn chế tăng dân số và phân bố
lại hợp lý dân cư trong vùng và trên địa bàn thành phố. Nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực, bao gồm học vấn, nghề nghiệp và thể chất. Coi trọng phát triển khoa học,
công nghệ, văn hoá - nghệ thuật tương xứng với một trung tâm của khu vực. Khắc
phục các tiêu cực và tệ nạn xã hội, phân hoá giàu nghèo.
4. Phát triển đồng bộ và đi trước
một bước hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, hạ tầng kỹ thuật, đặc biệt là
giao thông đô thị. Song song với việc chỉnh trang, cải tạo nâng cấp khu vực đô
thị cũ, phát triển nhanh các khu vực đô thị mới, đô thị hoá vùng nông thôn nhằm
hạn chế mật độ dân cư tập trung quá mức ở các khu trung tâm; gia tăng mật độ
cây xanh, khắc phục ô nhiễm, cải thiện môi trường sinh thái, tiến tới xây dựng
một đô thị văn minh, hiện đại.
5. Tiếp tục thực hiện cải cách
hành chính, nâng cao năng lực điều hành và quản lý Nhà nước ở các cấp chính quyền
thành phố; nghiên cứu đề xuất điều chỉnh, bổ sung những vấn đề thuộc cơ chế,
chính sách và luật pháp để tạo động lực mới, động viên sức dân tham gia xây dựng
thành phố.
6. Giữ vững kỷ cương, trật tự
công cộng, an toàn xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng.
III. MỤC TIÊU
CỤ THỂ VÀ CHỈ TIÊU CHỦ YẾU:
1. Về dân số và nguồn lao động.
Hạn chế mức tăng dân số không
quá 2,80%
Đến năm 2010, quy mô dân số
thành phố đạt khoảng 7,5 đến 8 triệu người, trong đó có khoảng 5 đến 6 triệu
lao động. Giảm tỷ lệ lao động chưa có việc làm còn khoảng 5%.
2. Về kinh tế:
Tốc độ tăng trưởng GDP của thành
phố bình quân từ nay đến năm 2000 là 13% và duy trì được tốc độ này trong những
năm tiếp theo. Trong đó khu vực dịch vụ khoảng 14,4%; khu vực công nghiệp và
xây dựng khoảng 14%; khu vực nông lâm ngư và khai thác khoảng 4% (năm 2010);
GDP bình quân đầu người đạt khoảng
1600 USD (năm 2000) và khoảng 4540 USD (năm 2010);
Đến năm 2010, cơ cấu GDP của
thành phố tiếp tục phát triển theo hướng dịch vụ - công nghiệp - nông nghiệp,
trong đó dịch vụ chiếm 54%; công nghiệp 45,3%; nông - lâm - ngư và khai thác
0,7%; chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế: quốc doanh khoảng 30%, ngoài quốc
doanh khoảng 40% và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài khoảng 30%;
Tốc độ tăng tổng kim ngạch xuất
khẩu bình quân từ nay đến năm 2000 và đến năm 2010 khoảng 22%; tốc độ tăng tổng
kim ngạch nhập khẩu bình quân từ nay đến năm 2000 khoảng 24% và từ năm 2000 đến
năm 2010 khoảng 19%;
Tổng vốn đầu tư thời kỳ 1996 -
2000 khoảng 133.641 tỷ đồng (khoảng 12,149 tỷ USD) và thời kỳ 2000 - 2010 khoảng
782.141 tỷ đồng (khoảng 71,103 tỷ USD).
3. Về phát triển đô thị và cơ sở
hạ tầng:
- Lượng điện nhận từ lưới: khoảng
8.073 triệu Kwh (năm 2000) và khoảng 23.913 triệu Kwh (năm 2010);
- Lượng nước sản xuất: 1.250.000
m3/ngày (năm 2000) và 2.820.000 m3/ngày (năm 2010);
- Diện tích nhà ở bình quân đầu
người: 7 m2 (năm 2000) và 12 m2 (năm 2010);
- Tăng diện tích thảm xanh đô thị
bình quân đầu người trong khu vực nội thành hiện hữu lên 3,6 m2 (năm 2000) và 4
m2 (năm 2010); trong khu vực nội thành phát triển từ 30 m2 đến 35 m2 (sau năm
2000).
4. Giáo dục: Mặt bằng học vấn: lớp
7,5 (năm 2000) và lợp 10 (năm 2010).
5. Y tế: Số giường bệnh: 16.900
(năm 2000) và 19.700 (năm 2010).
IV. NHỮNG NHIỆM
VỤ PHÁT TRIỂN CHỦ YẾU:
1. Phát triển và hiện đại hoá
các ngành, các lĩnh vực dịch vụ then chốt như thương mại, xuất nhập khẩu, tài
chính - ngân hàng, bảo hiểm, du lịch, thông tin viễn thông, khoa học - công nghệ
và các dịch vụ khác phục vụ cho sản xuất, kinh doanh cũng như các mặt hoạt động
đa dạng của thành phố và khu vực phái Nam. Xây dựng thành phố Hồ Chí Minh trở
thành một trong các Trung tâm thương mại - tài chính - ngân hàng của cả nước và
của khu vực Đông Nam á.
2. Đầu tư đổi mới công nghệ,
trang bị kỹ thuật tiên tiến nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm các ngành công
nghiệp hiện có. Tập trung đầu tư phát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn như:
cơ khí chế tạo; điện tử - công nghệ thông tin; công nghệ sinh học phục vụ chế
biến nông, lâm, thuỷ - hải sản; công nghệ chế tạo vật liệu mới; các ngàng công
nghiệp chủ lực phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Phát triển
các khu công nghiệp của thành phố phù hợp với chiến lược phát triển và phân bố
lực lượng sản xuất của toàn vùng, có mối quan hệ hợp tác và phân công hài hoà với
các khu công nghiệp của các tỉnh lân cận trong một thể thống nhất. Từng bước di
dời các cơ sở công nghiệp không còn thích hợp ở nội thành ra các khu công nghiệp
tập trung. Phát triển công nghiệp phải đảm bảo môi trường bền vững
3. Đẩy mạnh phát triển nông nghiệp
sinh thái gắn với công nghiệp chế biến. Chú trọng phát triển các loại rau, quả,
thực phẩm sạch. Phát triển nông nghiệp đi đôi với xây dựng nông thôn mới, trong
đó chú trọng cải thiện cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội và hạ tầng kỹ thuật như:
điện, giao thông, nước sạch, thông tin liên lạc, trường học, bệnh viện, nhà ở
và phát triển giáo dục nâng cao mặt bằng văn hoá, chăm sóc sức khoẻ cho nhân
dân.
4. Cải thiện đồng bộ và hiện đại
hoá cơ sở hạ tầng kỹ thuật của thành phố nhằm nhanh chóng khắc phục tình trạng
quá tải hiện nay, đồng thời chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho nhu cầu phát
triển theo các mục tiêu đã đề ra. Tập trung đầu tư phát triển giao thông công cộng,
nâng cấp sân bay, bến cảng...; phát triển đội tàu biển và các cơ sở dịch vụ vận
tải biển. Phối hợp với các tỉnh lân cận nâng cấp các quốc lộ 1A, 22, 13, 50, 51
và mở các trục đường giao thông mới nối liền thành phố với các vùng đô thị phát
triển, các khu công nghiệp tập trung đang và sẽ hình thành theo quy hoạch. Nâng
cấp và bổ sung hệ thống giao thông đối ngoại của thành phố cả về tuyến, công
trình đầu mối và phương tiện vận tải thuỷ bộ, bảo đảm giao thông thuận lợi giữa
thành phố với khu vực phía Nam, với cả nước và giao thông Xuyên á.
Hệ thống giao thông vận tải, cấp
điện, cấp nước, thoát nước, thông tin liên lạc, vệ sinh đô thị của thành phố phải
được nâng cấp, phát triển từng bước theo kế hoạch, quy hoạch dài hạn, theo hướng
hiện đại, ngang tầm trình độ về công nghệ và tổ chức quản lý của các đô thị văn
minh tiên tiến trong khu vực và thế giới.
Nghiên cứu, tổ chức thực hiện
quy hoạch và kiến trúc đô thị nhằm mục tiêu đưa thành phố Hồ Chí Minh trở thành
một đô thị hiện đại và mang bản sắc dân tộc; giữ gìn và tôn tạo các di tích lịch
sử, văn hoá, kiến trúc tiêu biểu và cảnh quan thiên nhiên.
Đến năm 2010 hoàn thành cơ bản
giải toả các khu nhà ở lụp xụp trên và ven kênh rạch, nạo vét thông thoát nước
thải thành phố. Kết hợp giải toả với bố trí lại dân cư, cải thiện điều kiện sống
và việc làm cho đồng bào.
5. Phát triển các lĩnh vực văn
hoá, xã hội tương xứng với phát triển kinh tế và đáp ứng các yêu cầu của một
trung tâm khu vực. Tổ chức đời sống dân cư đô thị theo hướng văn minh hiện đại nhưng
phải giữ vững bản sắc văn hoá dân tộc. Coi trọng việc đào tạo và nâng cao chất
lượng giáo dục, tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại
hoá, phát triển kinh tế - xã hội của thành phố.
6. Quản lý chặt chẽ quá trình đô
thị hoá và đầu tư, xây dựng. Kết hợp cải tạo, chỉnh trang khu đô thị cũ với mở
rộng đô thị mới theo đúng quy hoạch và đảm bảo các chỉ tiêu về quy hoạch, kỹ
thuật đô thị, kiến trúc, tiện ích công cộng và các chỉ tiêu khác của một đô thị
hiện đại, văn minh.
Phát triển thành phố thành một
đô thị đa trung tâm, nối kết với các tỉnh trong khu vực bằng những hành lang đô
thị hoá. Hạn chế tăng dân số tự nhiên và cơ học kết hợp với bố trí lại dân cư.
Khống chế dân số toàn thành phố đến năm 2010 khoảng 7,5 - 8 triệu người, trong đó
tại 12 Quận nội thành cũ khoảng 3 triệu người, các quận mới phát triển và các
đô thị vùng ngoại vi khoảng 3 triệu người, vùng nông thôn ngoại thành khoảng 2
triệu người. Thực hiện đồng thời việc cải tạo, chỉnh trang, hiện đại hoá 12 Quận
nội thành hiện nay với hình thành các Quận mới ở vùng ven. Khẩn trương xây dựng
các khu đô thị mới, các khu công nghiệp tập trung nhằm tiếp nhận một bộ phận
dân cư của nội thành chuyển ra.
Quy hoạch cải tạo vùng nông thôn
kết hợp với việc hình thành các đô thị ngoại vi, các huyện lỵ mở rộng, huyện lỵ
mới và các khu dân cư đô thị gắn với các khu công nghiệp tập trung.
Hướng phát triển chính của thành
phố:
- Hướng Đông: vùng Thủ Đức cũ ra
tới giáp Nhơn Trạch, Long Thành thuộc tỉnh Đồng Nai;
- Hướng Nam: vùng quận 7, 8, huyện
Nhà Bè - Nam Bình Chánh hướng ra biển;
- Hướng Bắc: theo Quốc lộ 22 (đường
xuyên á) vùng Hóc Môn, Củ Chi tới giáp Tây Ninh và theo hướng Quốc lộ 13 tới
giáp Bình Dương;
- Hướng Tây: theo Quốc lộ 1, Quốc
lộ 50 đi đồng bằng sông Cửu Long.
V. CÁC GIẢI
PHÁP CHỦ YẾU:
Để thực hiện quy hoạch, Uỷ ban
nhân dân thành phố Hồ Chí Minh cần thực hiện và vận dụng sáng tạo các biện pháp
đồng bộ về cơ chế, chính sách phù hợp với điều kiện của thành phố nhằm huy động
được các nguồn lực trong và ngoài nước thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế
- xã hội đã đề ra.
Sau khi quy hoạch tổng thể được
phê duyệt, cần cụ thể hoá các mục tiêu và triển khai thực hiện bằng các chương
trình phát triển kinh tế - xã hội, dự án đầu tư; xây dựng kế hoạch dài hạn,
trung hạn và ngắn hạn để điều hành và quản lý. Trong quá trình thực hiện quy hoạch
phải cập nhật tình hình, có sơ kết tổng kết rút kinh nghiệm để đánh giá và có
những điều chỉnh kịp thời.
Uỷ ban nhân dân thành phố Hồ Chí
Minh cùng với các Bộ, ngành có liên quan nghiên cứu và đề xuất với Chính phủ
các cơ chế, chính sách cụ thể nhằm phát triển đúng định hướng đã đề ra; huy động
vốn, mở rộng thị trường, phát triển nguồn nhân lực, phát triển khoa học và công
nghệ, bảo vệ môi trường.
Điều 2.
Uỷ ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh có kế hoạch kiểm tra, theo dõi việc thực
hiện quy hoạch một cách chặt chẽ. Các Bộ, ngành ở Trung ương có trách nhiệm phối
hợp, hỗ trợ thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình thực hiện nhằm bảo đảm sự thống
nhất giữa quy hoạch của thành phố với chiến lược và quy hoạch phát triển các
ngành kinh tế - kỹ thuật - xã hội, phù hợp với quy hoạch lãnh thổ, quy hoạch
vùng kinh tế trọng điểm của khu vực phía Nam và của cả nước.
Điều 3.
Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ban hành. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thành
phố Hồ Chí Minh, các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan
thuộc Chính phủ và Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có
liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.
Quyết định 532-TTg năm 1997 phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thành phố Hồ Chí Minh thời kỳ 1996 - 2000 do Thủ Tướng Chính Phủ ban hành
|
THE
PRIME MINISTER OF GOVERNMENT
-------
|
SOCIALIST
REPUBLIC OF VIET NAM
Independence - Freedom - Happiness
------------
|
|
No.
532/TTg
|
Hanoi,
July 12, 1997
|
DECISION TO APPROVE THE
MASTER PLAN ON THE SOCIO-ECONOMIC DEVELOPMENT OF HO CHI MINH CITY IN THE PERIOD
1996-2010 THE PRIME MINISTER Pursuant to the Law on Organization of the
Government of September 30, 1992;
At the proposal of the President of the People’s Committee of Ho Chi Minh City
in Report No. 4552/UB-TH of December 23, 1996 and the proposal of the Minister
of Planning and Investment in Official Dispatch No. 1891-BKH/VPTD of April 3,
1997; DECIDES: Article 1.- To approve the Master Plan on
the Socio-Economic Development of Ho Chi Minh City in the Period 1996-2010
along the following major orientations: I. LOCATION AND FUNCTIONS: Ho Chi Minh City is a large city, a
multi-functional center located in the key economic development zone comprising
Ho Chi Minh City - Song Be - Dong Nai - Ba Ria - Vung Tau; a development center
of the Southern region and the whole country. The city shall be developed step
by step into a modern hub, which is closely associated in terms of planning and
socio-economic infrastructure with the provinces of eastern and southern
Vietnam, Mekong River Delta, southern Central Highlands and south-Central
Vietnam. This will enable the acceleration of the process of industrialization,
modernization and environmental protection, and combined efforts of the entire
country in expanding cooperation and enhancing the competitiveness of the
national economy on the regional and international markets ... ... ... Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh. 1. To keep the city�s growth rate higher than
the national average and develop the city economically, culturally and socially
in a comprehensive, balanced and sustainable manner while ensuring stable
security and defense. 2. To bring about strong and synchronous changes
and raise the productivity, quality and efficiency of the entire economy
(particularly key production branches and services) with an export-oriented
economic structure. To create a rational structure of interactive economic
components including: a State run economy, a cooperative economy, a private
economy and a State capitalist economy 3. To control the population growth rate and
rationally redistribute inhabitants in the region and in the city. To improve
the quality of human resources in terms of educational level, professional
skills and physical strength. To attach importance to the scientific,
technological, cultural and artistic development to a level commensurate with
that of a regional center. To overcome negative phenomena and social vices and
narrow the gap between the rich and the poor. 4. To develop synchronously and advance the
system of socio-economic and technical infrastructure, especially urban
traffic. In parallel with renovating and upgrading the old city quarters, to
quickly develop new urban areas and urbanize rural areas so as to reduce the
overconcentration of population in the central quarters; to increase the
density of green trees, overcome the problem of pollution, improve the
ecological environment and strive for a civilized and modern city. 5. To continue the administrative reform, promote
the State management capacity at the various administrative levels of the city;
study and propose adjustments and supplements to the mechanisms, policies and
legal issues so as to create a new driving force for and mobilize the people to
take part in building the city. 6. To firmly maintain discipline and public
order, social safety and ensure security and defense. III. Specific objectives and major targets: 1. Population and sources of labor: To restrict the population growth at a rate of
not higher than 2.8%. ... ... ... Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh. To reduce the unemployment rate to around 5 %. 2. Economically: From now to the year 2000 and in the subsequent
years, the city shall maintain an average GDP growth rate of 13%. Particularly,
the service sector shall grow by about 14.4%, the industrial and construction
sector by about 14% and the agricultural, forestry, fishery and mining sector
by about 4% (by the year 2010); The average per capita GDP shall be about 1,600
USD (by the year 2000) and about 4,540 USD (by the year 2010); By the year 2010, the city�s GDP structure shall
continue to develop along the service-industry-agriculture direction, in which
services make up 54%; industries: 45.3%; agriculture-forestry-fishery and
mining: 0.7%; The structure of economic sectors shall be: the State-run sector
accounting for about 30%; non-State sector: about 40% and foreign invested
enterprises: about 30%; From now to the year 2000 and then to 2010, the
average growth rate of total import and export value shall be about 22%; the
average growth rate of total import value shall be about 24% from now to the
year 2000 and about 19% from 2000 to 2010; Total investment capital shall be about 133,641
billion VND (around 12.149 billion USD) in the 1996 - 2000 period and about
782,141 billion VND (around 71.103 billion USD) in the 2000 - 2010 period. 3. Urban and infrastructure development: - The amount of electricity received from the
national power grid: about 8,073 million Kwh (by the year 2000) and about
23,913 million (by the year 2010); ... ... ... Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh. - The average per-capita housing space: 7 m2 (by
the year 2000) and 12 m2 (by the year 2010); - The average per-capita urban greenery in
existing urban areas shall be increased to 3.6 m2 (by the year 2000) and 4 m2
(by the year 2010); and in expanded urban areas from 30 m2 to 35 m2 (after the
year 2000). 4. Education: The average highest educational
level attained shall be grade 7.5 (by the year 2000) and grade 10 (by the year
2010). 5. Health: The number of hospital beds shall be
16,900 (by the year 2000) and 19,700 (by the year 2010). IV. Major development tasks: 1. To develop and modernize such key branches
and services as commerce, import and export, finance and banking, insurance,
tourism, information and telecommunication, science and technology and others
in service of production and business, as well as diversified activities of the
city and the southern region. To build Ho Chi Minh City into one of the
commercial, financial and banking centers of the whole country and the
Southeast Asian region. 2. To invest in new technologies and advanced
technical equipment in order to improve the quality of products of the existing
industries. To concentrate investment on the development of such spearhead
industries as mechanical engineering; electronics-information technologies; biological
technologies in service of agricultural, forestry and aquatic products
processing; new materials manufacturing technologies; and key industries
serving domestic consumption and export needs. To develop the city�s industrial
zones in conformity with the strategy on the development and distribution of
the production force in the whole region, ensuring the cooperative relations
and harmonious assignment of operation with the industrial zones of adjoining
provinces within a uniform system. To gradually move industrial establishments
that are no longer suitable for an inner city location to concentrated
industrial parks. The development of industries must ensure a sustainable
environment. 3. To speed up the development of ecological
agriculture in close association with processing industries. To attach
importance to the development of clean vegetables, fruit and food. To develop
agriculture hand in hand with the building of a new countryside, with attention
paid to upgrading the socio-economic infrastructure and technical
infrastructure, including power, communications, clean water, information and
communication, schools, medical care and hospitals and and dwelling houses as
well as improving education in order to raise the cultural level of the population. 4. To simultanueously improve and modernize the
technical infrastructure of the city so as to quickly overcome the existing
over-loaded situation, while at the same time preparing necessary conditions
for development of the set objectives. To concentrate investment on developing
the mass transit, upgrading existing airports and sea ports and to develop a
sea-going fleet and maritime shipping services. To coordinate with nearby
provinces in upgrading National Highways 1A, 22, 13, 50 and 51 and open new main
roads linking the city to developing urban areas and concentrated industrial
zones which are being formally designed. To upgrade and expand the city�s
outbound traffic system with new routes, key constructions and means of land
and water transport, ensuring smooth traffic flow between the city and the
southern region and the entire country, as well as trans-Asian transport. ... ... ... Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh. To research and implement the urban planning and
architecture in order to transform Ho Chi Minh City into a modern city bearing
the nation�s identity; to preserve and renovate typical historical, cultural
and architectural relics and natural landscapes. By the year 2010, to basically complete the
clearance of the slums located on and along the canals and dredge up the
drainage system of the city. To combine the clearance of the slums with the
population resettlement and the improvement of people’s living and working
conditions. 5. To promote the cultural and social
development commensurate with the economic development to meet the conditions
of a regional center. To organize the life of the city population along a
modern and civilized orientation, while firmly preserving the nation’s cultural
identity. To attach importance to teaching and improving the quality of
education, to create human resources for meeting the requirements of
industrialization and modernization and socio-economic development of the city. 6. To strictly manage the process of
urbanization, investment and construction. To combine the renovation and repair
of the old urban quarters with the building of new urban quarters in accordance
with the master plan and satisfy the criteria for urban planning and technical
infrastructure, architecture, public utilities and other criteria of a modern
and civilized city. To develop the city into a multi-centered city
linked to other provinces in the region through urbanized corridors. To control
the natural and physical population growth together with population
resettlement. To restrict the population of the whole city to about 7.5 and 8
million by the year 2010, of which about 3 million will reside in 12 old inner
districts, about 3 million in newly developed districts and urban centers in
peripheral areas, and about 2 million in suburban rural areas. To renovate,
upgrade and modernize the 12 existing inner districts simultaneously with
developing new urban districts in peripheral areas. To rapidly construct new
urban quarters and concentrated industrial zones to accommodate that part of
the population moving from the inner city. To plan the renovation of rural areas in
connection with the development of peripheral towns, expandion and new rural districts
and urban population quarters attached to concentrated industrial zones. Major development directions of the city will
be: - Eastward: The former Thu Duc area up to the
border of Nhon Trach and Long Thanh in Dong Nai province; - Southward: The area of urban Districts 7 and
8, Districts Nha Be - Nam Binh Chanh and to the sea; ... ... ... Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh. - Westward: Along National Highway 1 and
National Highway 50 to the Mekong River delta. V. Major solutions: To implement the master plan, the People’s
Committee of Ho Chi Minh City should creatively apply simultaneous mechanisms
and policies suitable to the conditions of the city in order to mobilize all
possible resources inside and outside the country to achieve the set
socio-economic development objectives. After the master plan is approved, it is
necessary to specify the objectives and start the implementation thereof
through socio-economic development programs and investment projects, to design
and approve short-term, mid-term and long-term plans for the execution and
management thereof. In the course of implementing the master plan, it may be
necessary to update data on the situation and organize preliminary and summary
meetings to draw experiences for evaluation and making timely adjustments. The People�s Committee of Ho Chi Minh City
shall, together with the concerned Ministries and branches, study and propose
to the Government specific mechanisms and policies to ensure that the city
develops along the set orientation; mobilize capital, expand the market,
develop human resources, develop sciences and technologies, and protect the
environment. Article 2.- The People�s
Committee of Ho Chi Minh City shall plan to closely inspect and supervise the
implementation of the master plan The Ministries and branches at the central
level shall coordinate with and support Ho Chi Minh City in the implementation
process so as to ensure the uniformity between the city�s master plan and the
development strategy and planning of the economic, technical and social
branches, in conformity with the territorial planning, the planning of key
economic zones of the Southern region and the whole country. Article 3.- This Decision
takes effect from the date of its promulgation. The President of the People�s
Committee of Ho Chi Minh City, the concerned Ministers, Heads of the concerned
ministerial-level agencies, agencies attached to the Government and People�s
Committees of the provinces and cities directly under the Central Government
shall implement this Decision. THE PRIME MINISTER
VO VAN KIET
Quyết định 532-TTg ngày 12/07/1997 phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thành phố Hồ Chí Minh thời kỳ 1996 - 2000 do Thủ Tướng Chính Phủ ban hành
Văn bản liên quan
Ban hành:
04/03/2003
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng: Đã biết
Cập nhật:
04/10/2011
Ban hành:
23/11/1996
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng: Đã biết
Cập nhật:
04/10/2011
Ban hành:
06/10/1996
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng: Đã biết
Cập nhật:
04/10/2011
Ban hành:
06/05/1996
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng: Đã biết
Cập nhật:
17/12/2009
Ban hành:
30/09/1992
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng: Đã biết
Cập nhật:
17/09/2012
5.347
|
NỘI DUNG SỬA ĐỔI, HƯỚNG DẪN
Văn bản bị thay thế
Văn bản thay thế
Chú thích
Chú thích:
Rà chuột vào nội dụng văn bản để sử dụng.
<Nội dung> = Nội dung hai
văn bản đều có;
<Nội dung> =
Nội dung văn bản cũ có, văn bản mới không có;
<Nội dung> = Nội dung văn
bản cũ không có, văn bản mới có;
<Nội dung> = Nội dung được sửa đổi, bổ
sung.
Click trái để xem cụ thể từng nội dung cần so sánh
và cố định bảng so sánh.
Click phải để xem những nội dung sửa đổi, bổ sung.
Double click để xem tất cả nội dung không có thay
thế tương ứng.
Tắt so sánh [X] để
trở về trạng thái rà chuột ban đầu.
FILE ĐƯỢC ĐÍNH KÈM THEO VĂN BẢN
FILE ATTACHED TO DOCUMENT
|
|
|
|
|
Địa chỉ:
|
17 Nguyễn Gia Thiều, P. Xuân Hòa, TP.HCM
|
|
Điện thoại:
|
(028) 3930 3279 (06 lines)
|
|
E-mail:
|
inf[email protected]
|
|
Mã số thuế:
|
0315459414
|
|
|
|
|
|
IP:
2402:800:6375:26f1:39e8:6606:c2c3:645f
|
|
TP. HCM, ngày 31/05/2021
Thưa Quý khách,
Đúng 14 tháng trước, ngày 31/3/2020, THƯ VIỆN PHÁP LUẬT đã bật Thông báo này, và nay 31/5/2021 xin bật lại.
Hơn 1 năm qua, dù nhiều khó khăn, chúng ta cũng đã đánh thắng Covid 19 trong 3 trận đầu. Trận 4 này, với chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, chắc chắn chúng ta lại thắng.
Là sản phẩm online, nên 250 nhân sự chúng tôi vừa làm việc tại trụ sở, vừa làm việc từ xa qua Internet ngay từ đầu tháng 5/2021.
Sứ mệnh của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT là:
sử dụng công nghệ cao để tổ chức lại hệ thống văn bản pháp luật,
và kết nối cộng đồng Dân Luật Việt Nam,
nhằm:
Giúp công chúng “…loại rủi ro pháp lý, nắm cơ hội làm giàu…”,
và cùng công chúng xây dựng, thụ hưởng một xã hội pháp quyền trong tương lai gần;
Chúng tôi cam kết dịch vụ sẽ được cung ứng bình thường trong mọi tình huống.
THÔNG BÁO
về Lưu trữ, Sử dụng Thông tin Khách hàng
Kính gửi: Quý Thành viên,
Nghị định 13/2023/NĐ-CP về Bảo vệ dữ liệu cá nhân (hiệu lực từ ngày 01/07/2023) yêu cầu xác nhận sự đồng ý của thành viên khi thu thập, lưu trữ, sử dụng thông tin mà quý khách đã cung cấp trong quá trình đăng ký, sử dụng sản phẩm, dịch vụ của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT.
Quý Thành viên xác nhận giúp THƯ VIỆN PHÁP LUẬT được tiếp tục lưu trữ, sử dụng những thông tin mà Quý Thành viên đã, đang và sẽ cung cấp khi tiếp tục sử dụng dịch vụ.
Thực hiện Nghị định 13/2023/NĐ-CP, chúng tôi cập nhật Quy chế và Thỏa thuận Bảo về Dữ liệu cá nhân bên dưới.
Trân trọng cảm ơn Quý Thành viên.
Tôi đã đọc và đồng ý Quy chế bảo vệ dữ liệu cá nhân
Tiếp tục sử dụng

Cảm ơn đã dùng ThuVienPhapLuat.vn
- Bạn vừa bị Đăng xuất khỏi Tài khoản .
-
Hiện tại có đủ người dùng cùng lúc,
nên khi người thứ vào thì bạn bị Đăng xuất.
- Có phải do Tài khoản của bạn bị lộ mật khẩu
nên nhiều người khác vào dùng?
- Hỗ trợ: (028) 3930.3279 _ 0906.229966
- Xin lỗi Quý khách vì sự bất tiện này!
Tài khoản hiện đã đủ người
dùng cùng thời điểm.
Quý khách Đăng nhập vào thì sẽ
có 1 người khác bị Đăng xuất.
Tài khoản của Quý Khách đẵ đăng nhập quá nhiều lần trên nhiều thiết bị khác nhau, Quý Khách có thể vào đây để xem chi tiết lịch sử đăng nhập
Có thể tài khoản của bạn đã bị rò rỉ mật khẩu và mất bảo mật, xin vui lòng đổi mật khẩu tại đây để tiếp tục sử dụng
|
|