|
UỶ BAN NHÂN DÂN
TỈNH LẠNG SƠN
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 167/KH-UBND
|
Lạng Sơn, ngày 28
tháng 4 năm 2026
|
KẾ HOẠCH
THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH CỦNG CỐ, PHÁT TRIỂN VÀ NÂNG CAO CHẤT
LƯỢNG DỊCH VỤ KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH GIAI ĐOẠN 2026-2030 TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LẠNG
SƠN
Thực hiện Quyết định số 1848/QĐ
-TTg ngày 19/11/2020 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chương trình Củng
cố phát triển và nâng cao chất lượng dịch vụ kế hoạch hóa gia đình đến năm
2030; UBND tỉnh ban hành Kế hoạch thực hiện Chương trình Củng cố, phát triển và
nâng cao chất lượng dịch vụ kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ) giai đoạn 2026-2030
trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn (gọi tắt là Kế hoạch) như sau:
I. SỰ CẦN
THIẾT
1.
Yêu cầu duy trì thành quả và giải quyết các thách thức dân số tại địa phương
Sau
5 năm thực hiện Chương trình giai đoạn 2021-2025, công tác dân số tại Lạng Sơn
đã đạt được những kết quả quan trọng với mạng lưới dịch vụ phủ khắp 100% xã phường.
Tuy nhiên, kết quả này chưa thực sự bền vững khi mức sinh năm 2025 vẫn ở mức
cao (2.45 con/phụ nữ), vượt xa mức sinh thay thế (2,1 con/phụ nữ). Bên cạnh đó
tỷ lệ sinh con thứ ba và tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh ở mức cao
(116,1 bé trai/100 bé gái). Bên cạnh đó, các rào cản về địa lý, tập quán tại
vùng sâu, vùng xa và tình trạng tảo hôn vẫn là những “nút thắt” lớn, đòi hỏi phải
tiếp tục có một kế hoạch hành động chuyên sâu nhằm bảo vệ thành quả đã đạt được
và giải quyết triệt để các tồn tại cũ.
2.
Cụ thể hóa Chiến lược Dân số Việt Nam trong bối cảnh mới
Thực
hiện Nghị quyết số 21-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, chính
sách dân số hiện nay đã chuyển trọng tâm từ kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ) đơn
thuần sang dân số và phát triển. Tuy nhiên, việc chuyển trọng tâm không có
nghĩa là xem nhẹ công tác KHHGĐ; ngược lại, cần tiếp tục duy trì vững chắc mức
sinh thay thế, bảo đảm mọi người dân đều được tiếp cận thuận tiện với các dịch
vụ chất lượng. Giai đoạn 2026-2030 là thời điểm then chốt để thực hiện các mục
tiêu Chiến lược Dân số Việt Nam đến năm 2030, đòi hỏi công tác KHHGĐ phải được
củng cố để tận dụng hiệu quả cơ cấu dân số vàng và thích ứng với quá trình già
hóa dân số.
3.
Đảm bảo an sinh xã hội và phát triển bền vững tỉnh Lạng Sơn
Với
đặc thù là tỉnh miền núi, biên giới có đông đồng bào dân tộc thiểu số, việc củng
cố dịch vụ KHHGĐ có ý nghĩa quyết định trong công tác giảm nghèo và nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực. Việc tiếp tục triển khai kế hoạch không chỉ giúp người
dân chủ động trong việc sinh con, nâng cao vị thế của phụ nữ mà còn góp phần
quan trọng vào việc thực hiện bình đẳng giới, giảm thiểu các hệ lụy xã hội như phá thai
không an toàn hay hôn nhân cận huyết thống, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát
triển kinh tế - xã hội bền vững của tỉnh.
Từ
những thực tiễn nêu trên, việc xây dựng Kế hoạch thực hiện Chương trình củng cố,
phát triển và nâng cao chất lượng dịch vụ kế hoạch hóa gia đình tỉnh Lạng Sơn
giai đoạn 2026-2030 là hết sức cần thiết.
II. CĂN CỨ PHÁP LÝ
- Luật
Dân số số 113/2025/QH15 ngày 10/12/2025;
- Nghị
quyết số 21-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về
công tác dân số trong tình hình mới;
- Nghị
quyết số 137/NQ-CP ngày 31/12/2017 của Chính phủ về việc ban hành Chương trình
hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 21- NQ/TW;
- Kết
luận số 149-KL/TW ngày 10/4/2025 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh thực hiện Nghị
quyết số 21-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về công tác dân số
trong tình hình mới;
- Nghị
quyết số 72-NQ/TW ngày 09/9/2025 của Bộ Chính trị về một số giải pháp đột phá,
tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân;
- Quyết định số 1679/QĐ-TTg ngày 22/11/2019 của Thủ tướng
Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược Dân số Việt Nam đến năm 2030.
- Quyết định số 1848/QĐ-TTg ngày 19/11/2020 của Thủ tướng
Chính phủ phê duyệt Chương trình Củng cố, phát triển và nâng cao chất lượng dịch
vụ kế hoạch hóa gia đình đến năm 2030.
- Quyết định số 1347/QĐ-BYT ngày 22/02/2021 của Bộ Y tế ban
hành Kế hoạch hành động thực hiện Chương trình Củng cố, phát triển và nâng cao
chất lượng dịch vụ KHHGĐ đến năm 2030.
- Kế
hoạch số 51-KH/TU ngày 26/01/2018 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Lạng Sơn thực hiện
Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá
XII về công tác dân số trong tình hình mới;
- Kế
hoạch số 94/KH-UBND ngày 25/5/2018 của UBND tỉnh Lạng Sơn về việc thực hiện Nghị
quyết số 21-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về
công tác dân số trong tình hình mới;
- Kế
hoạch số 41/KH-UBND ngày 09/3/2020, của UBND tỉnh Lạng Sơn về Kế hoạch hành động
thực hiện Chiến lược Dân số Việt Nam giai đoạn 2020-2025, tầm nhìn đến năm 2030
tỉnh Lạng Sơn;
- Kế
hoạch số 247-KH/TU, ngày 23/6/2025 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy thực hiện Kết luận
số 149-KL/TW, ngày 10/4/2025 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết
số 21-NQ/TW của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về
công tác dân số trong tình hình mới.
- Kế
hoạch số 192/KH-UBND, ngày 16/7/2025 của UBND tỉnh về việc triển khai thực hiện
Kế hoạch số 247-KH/TU thực hiện Kết luận số 149-KL/TW về đẩy mạnh thực hiện Nghị
quyết số 21-NQ/TW của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa
XII về công tác dân số trong tình hình mới.
III. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI
1.
Đối tượng
- Đối
tượng thụ hưởng: Nam, nữ trong độ tuổi sinh sản trên địa bàn tỉnh; trọng tâm là
vị thành niên, thanh niên và các nhóm đối tượng yếu thế (bao gồm: người thuộc họ
nghèo, hộ cận nghèo; người dân tộc thiểu số tại các vùng khó khăn; người di cư;
công nhân tại khu công nghiệp; người khuyết tật và người có hoàn cảnh đặc biệt
khó khăn).
- Đối
tượng tác động: Người dân trong toàn xã hội; các cơ quan, tổ chức, đơn vị liên
quan; cán bộ y tế, dân số và các cá nhân tham gia thực hiện Kế hoạch.
- Đối
tượng thực hiện: Cán bộ cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản, KHHGĐ tại
các tuyến.
2.
Phạm vi thực hiện: 65/65 xã, phường trên địa
bàn tỉnh.
3.
Thời gian thực hiện: Từ năm 2026 đến năm
2030.
IV. THỰC TRẠNG DỊCH VỤ KHHGĐ
1. Kết quả đạt được
Trong
giai đoạn 2021-2025, dưới sự lãnh đạo sát sao của Tỉnh ủy, HĐND, và sự phối hợp
chặt chẽ của các sở, ban, ngành, công tác Kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ) trên địa
bàn tỉnh Lạng Sơn đã đạt được những thành tựu quan trọng, góp phần ổn định quy
mô và nâng cao chất lượng dân số địa phương:
1.1.
Về các chỉ tiêu mức sinh và sử dụng biện pháp tránh thai
- Trong phần lớn giai đoạn, mức sinh được kiểm soát tốt
(năm 2024 đạt 2,22
con/phụ nữ). Tuy nhiên, đến năm 2025, tổng tỷ suất sinh (TFR) có dấu hiệu gia
tăng, chạm ngưỡng 2,45 con/phụ nữ. Thực tế này cho thấy thành quả duy trì mức
sinh thay thế chưa thực sự bền vững, đòi hỏi những giải pháp can thiệp quyết liệt
hơn trong giai đoạn tới.
- Tỷ
lệ các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ sử dụng biện pháp tránh thai hiện đại
bình quân duy trì trên 69%, đáp ứng cơ bản nhu cầu tránh thai của người dân.
1.2.
Về mạng lưới và chất lượng cung cấp dịch vụ
-100%
trạm y tế xã, phường thực hiện cung cấp dịch vụ KHHGĐ; các bệnh viện, trung tâm
y tế khu vực đều triển khai kỹ thuật đặt dụng cụ tử cung, cấy que tránh thai,
thuốc tránh thai hàng ngày, thuốc tiêm tránh thai và triệt sản.
- Đa
dạng hóa các kênh cung ứng phương tiện tránh thai (PTTT), phát triển xã hội
hóa các dịch vụ KHHGĐ.
-
Công tác tư vấn, chăm sóc sức khỏe sinh sản được chú trọng; tỷ lệ phụ nữ mang
thai được khám thai định kỳ, sinh đẻ tại cơ sở y tế đạt tỷ lệ cao.
1.3.
Về nhận thức và chuyển đổi hành vi
- Mô
hình gia đình ít con (2 con) ngày càng được đa số người dân chấp nhận, đặc biệt
ở khu vực đô thị, vùng thuận lợi.
- Người
dân đã có sự chuyển biến tích cực trong việc chủ động sử dụng các biện pháp
tránh thai, quan tâm đến khoảng cách sinh và sức khỏe bà mẹ, trẻ em.
- Các
cấp, ngành, đoàn thể đã vào cuộc tích cực hơn trong công tác tuyên truyền, vận
động, góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách dân số - KHHGĐ.
2. Tồn tại, hạn chế
Bên cạnh
những kết quả đạt được, thực tiễn triển khai công tác KHHGĐ trên địa bàn tỉnh vẫn
còn nhiều tồn tại, hạn chế cần được tập trung giải quyết trong giai đoạn
2026-2030:
2.1.
Về kết quả thực hiện các chỉ tiêu KHHGĐ
- Mức sinh chưa ổn định và đang có xu hướng gia tăng mạnh
trở lại; cụ thể năm 2025 đạt 2,45 con/phụ nữ, vượt xa mức sinh thay thế, tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên còn cao và có xu hướng gia
tăng tại một số địa bàn.
- Tỷ
số giới tính khi sinh ở một số địa bàn ở mức cao, phản ánh tư tưởng “trọng nam,
khinh nữ” còn nặng nề trong một bộ phận nhân
dân.
2.2.
Về tiếp cận và chất lượng dịch vụ KHHGĐ
-
Tình trạng phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ đi làm ăn xa phổ biến dẫn đến việc
tuyên truyền, vận động và cung cấp dịch vụ bị gián đoạn, trong khi dịch vụ thân
thiện cho vị thành niên, thanh niên còn hạn chế.
- Chất
lượng dịch vụ tại một số cơ sở y tế còn hạn chế. Một số trạm y tế xã thiếu
trang thiết bị, dụng cụ cần thiết; kỹ năng tư vấn của cán bộ dân số xã, cộng
tác viên thôn, bản chưa đáp ứng yêu cầu.
2.3.
Về công tác truyền thông, vận động
- Công tác truyền thông chưa tạo được sự chuyển biến sâu sắc
và bền vững trong nhận thức của người dân. Tình trạng tảo hôn vẫn diễn ra tại
các xã vùng cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Đặc biệt, tâm lý chủ quan sau
khi đạt mức sinh thấp ở giai đoạn trước đã dẫn đến sự lơ là trong việc kiểm
soát sinh con thứ ba trở lên, khiến chỉ số này có xu hướng gia tăng mạnh trong
năm 2025.
- Nội
dung, hình thức truyền thông còn đơn điệu, chưa phù hợp từng nhóm đối tượng; lồng
ghép bình đẳng giới chưa hiệu quả, tư tưởng trọng nam vẫn tồn tại ở nhiều gia
đình.
2.4.
Về nguồn lực và tổ chức thực hiện
-
Nhân lực dân số cơ sở còn thiếu và yếu; một số xã chưa bố trí đủ cán bộ chuyên
trách, việc sáp nhập đơn vị hành chính ảnh hưởng đến tổ chức và phân công; cộng
tác viên thôn, bản kiêm nhiệm nhiều, phụ cấp thấp, kỹ năng tư vấn còn hạn chế.
-
Kinh phí cho công tác dân số - KHHGĐ còn hạn hẹp; ngân sách địa phương khó
khăn, phụ thuộc phần lớn vào Trung ương, làm hạn chế tính chủ động trong triển
khai dịch vụ, truyền thông và đào tạo.
3. Nguyên nhân của hạn chế
3.1.
Nguyên nhân khách quan
- Tư
tưởng muốn có con trai để nối dõi tông đường, duy trì dòng họ vẫn còn phổ biến
trong một bộ phận dân cư, nhất là vùng nông thôn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Đây là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tình trạng sinh
con thứ ba trở lên và mất cân bằng giới tính khi sinh.
-
Tình trạng di dân tự do, lao động đi làm ăn xa khỏi địa phương gây khó khăn cho
việc quản lý đối tượng, tư vấn và cung cấp dịch vụ KHHGĐ liên tục, kịp thời.
3.2.
Nguyên nhân chủ quan
-
Cơ chế xã hội hóa PTTT hiện nay dừng hoạt động, trong khi nguồn cấp miễn phí từ
ngân sách bị cắt giảm mạnh. Điều này tạo ra “khoảng trống” về nguồn cung, khiến
người dân khó tiếp cận các biện pháp tránh thai hiện đại, dẫn đến mức sinh tăng
cao đột biến (2,45 con/phụ nữ).
- Đầu tư cho cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế cơ sở chưa
tương xứng với yêu cầu thực tế. Chế độ phụ cấp cho đội ngũ cộng tác viên dân số
thôn, bản quá thấp, không bù đắp được công sức bỏ ra, gây tâm lý chán nản, ảnh
hưởng trực tiếp đến chất lượng vận động tại hộ gia đình.
-
Kinh phí cho truyền thông còn dàn trải, thiếu chiều sâu; sự phối hợp liên ngành
giữa y tế với văn hóa, giáo dục, các tổ chức chính trị - xã hội trong công tác
truyền thông chưa thường xuyên, hiệu quả chưa cao.
-
Công tác phối hợp liên ngành trong triển khai KHHGĐ tại cộng đồng chưa thực sự
chặt chẽ, thiếu liên tục.
4. Bài học kinh nghiệm
Thứ
nhất: Sự quan tâm, vào cuộc quyết liệt của cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp, đặc
biệt là vai trò người đứng đầu. Việc đưa các
chỉ tiêu về dân số - KHHGĐ vào nghị quyết đại hội Đảng bộ các cấp và kế hoạch
phát triển kinh tế - xã hội hàng năm của địa phương là nhân tố quyết định hiệu
quả thực hiện chính sách.
Thứ
hai: Đổi mới phương thức truyền thông, vận động từ truyền thông diện rộng sang
truyền thông có trọng tâm, trọng điểm, phù hợp với đặc thù từng nhóm đối tượng
và vùng miền (đặc biệt là vùng đồng bào dân tộc thiểu số, biên giới). Việc phát
huy vai trò của những người có uy tín trong cộng đồng, già làng, trưởng bản đã
tạo ra sự tin tưởng và thay đổi hành vi bền vững cho người dân.
Thứ
ba: Đảm bảo mạng lưới y tế cơ sở luôn sẵn sàng và đủ năng lực cung cấp dịch vụ
an toàn, thuận tiện. Việc kết hợp chặt chẽ giữa cung cấp dịch vụ miễn phí cho đối
tượng khó khăn và đẩy mạnh xã hội hóa cho đối tượng có khả năng chi trả giúp tối
ưu hóa nguồn lực và đáp ứng đa dạng nhu cầu của nhân dân.
Thứ
tư: Xây dựng đội ngũ cán bộ dân số và cộng tác viên thôn bản ổn định, có tâm
huyết và trình độ chuyên môn. Việc thường xuyên đào tạo, cập nhật kiến thức và có chính
sách hỗ trợ kịp thời cho đội ngũ cơ sở là "cánh tay nối dài" quan trọng
để đưa chính sách KHHGĐ đến từng hộ gia đình.
Thứ
năm: Thường xuyên kiểm tra giám sát việc thực hiện mục tiêu ở cơ sở để kịp thời
tháo gỡ khó khăn. Đồng thời, biểu dương và khen thưởng kịp thời các tập thể, cá
nhân, hộ gia đình tiêu biểu trong thực hiện chính sách dân số nhằm tạo sức lan
tỏa trong cộng đồng.
V. MỤC TIÊU
1.
Mục tiêu chung
Bảo
đảm cung cấp đầy đủ, kịp thời, an toàn, thuận tiện và chất lượng các dịch vụ
KHHGĐ, đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của nhân dân; tạo điều kiện để người
dân thực hiện quyền quyết định về sinh sản một cách có trách nhiệm. Góp phần thực
hiện thắng lợi các mục tiêu Chiến lược Dân số Việt Nam đến năm 2030 trên địa
bàn tỉnh Lạng Sơn, trọng tâm là tập trung các nguồn lực để điều chỉnh, đưa mức
sinh về mức sinh thay thế bền vững; kiểm soát tình trạng mất cân bằng giới tính
khi sinh và nâng cao chất lượng dân số của tỉnh.
2. Mục tiêu cụ thể
-
100% phụ nữ trong độ tuổi sinh sản được tiếp cận thuận tiện với các biện pháp
tránh thai hiện đại, dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản, hỗ trợ sinh sản và dự
phòng vô sinh tại cộng đồng.
- Tỷ
lệ phụ nữ trong độ tuổi sinh sản sử dụng biện pháp tránh thai hiện đại đạt 75%
vào năm 2030. Giảm 2/3 số vị thành viên, thanh niên có thai ngoài ý muốn vào
năm 2030.
- Tỷ
lệ cơ sở cung cấp dịch vụ KHHGĐ đạt tiêu chuẩn chất lượng theo quy định đạt
90%, bao gồm cả khu vực công lập và ngoài công lập.
-
100% xã, phường triển khai cung ứng các biện pháp tránh thai phi lâm sàng thông
qua mạng lưới cộng tác viên dân số và nhân viên y tế thôn, bản.
- 95%
trạm y tế xã, phường đủ năng lực cung cấp các dịch vụ KHHGĐ cơ ản theo quy định.
-
100% trung tâm y tế khu vực có cung cấp dịch vụ KHHGĐ lâm sàng và thực hiện hỗ
trợ kỹ thuật cho các trạm y tế xã, phường trong khu vực.
-
Trên 95% xã, phường duy trì thường xuyên hoạt động truyền thông, tư vấn về dân
số - KHHGĐ, chăm sóc sức khỏe sinh sản, đặc biệt đối với nhóm vị thành niên,
thanh niên; công tác truyền thông về hệ lụy của tảo hôn và hôn nhân cận huyết
thống, chú trọng truyền thông đến nhóm đối tượng vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
VI. NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP
1. Hoàn thiện cơ chế chính sách về cung cấp PTTT, dịch vụ kế
hoạch hóa gia đình tại địa phương
-
Rà soát, hoàn thiện cơ chế mua sắm và cung ứng PTTT từ nguồn ngân sách địa
phương và các nguồn hợp pháp khác, đảm bảo cung cấp đầy đủ, kịp thời, không để
xảy ra tình trạng gián đoạn dịch vụ tại cơ sở y tế.
-
Nghiên cứu, chuyển đổi mô hình cung cấp PTTT phù hợp với quy định hiện hành.
-
Tăng cường kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ chất lượng các loại PTTT lưu thông trên
địa bàn nhằm bảo đảm an toàn tuyệt đối cho sức khỏe nhân dân.
-
Hoàn thiện các chính sách về chế độ phụ cấp, hỗ trợ cho mạng lưới cộng tác viên
dân số thôn bản để duy trì hiệu quả công tác quản lý đối tượng và tư vấn KHHGĐ
tại cộng đồng.
2. Đổi mới tuyên truyền, vận động thay đổi hành vi
-
Chuyển mạnh từ truyền thông “Kế hoạch hóa gia đình” đơn thuần sang truyền thông
“Dân số và Phát triển”. Tập trung làm rõ mối quan hệ giữa quy mô dân số hợp lý
với sự phát triển kinh tế hộ gia đình và an sinh xã hội tại địa phương. Đặc biệt
nhấn mạnh hệ lụy của việc sinh con thứ ba trở lên và mức sinh cao đối với chất
lượng cuộc sống.
-
Xây dựng và phát triển các kênh truyền thông hiện đại trên nền tảng số (Zalo, Facebook,
TikTok, các ứng dụng di động...). Sản xuất các sản phẩm truyền thông số (video
ngắn, infographic, podcast) bằng cả tiếng phổ thông và tiếng dân tộc (Tày,
Nùng, Mông, Dao...) để dễ dàng tiếp cận với đồng bào vùng sâu, vùng xa.
- Tập
trung Truyền thông trọng tâm, trọng điểm vào nhóm đối tượng vị thành niên,
thanh niên thông qua tư vấn sức khỏe sinh sản học đường và tại các khu công
nghiệp, cửa khẩu. Đẩy mạnh giáo dục kỹ năng sống, tình dục an toàn để giảm thiểu
mang thai ngoài ý muốn và tình trạng phá thai.
- Tận
dụng tối đa sự ảnh hưởng của già làng, trưởng bản, chức sắc tôn giáo và người
có uy tín để vận động nhân dân xóa bỏ hủ tục, tư tưởng “trọng nam khinh nữ”.
Coi đây là lực lượng nòng cốt trong việc giảm thiểu tình trạng mất cân bằng giới
tính khi sinh và vận động dừng lại ở hai con để nuôi dạy cho tốt.
- Nâng cao chất lượng tư vấn trực tiếp tại các cơ sở y tế
và hộ gia đình. Đào tạo đội ngũ cán bộ không chỉ giỏi về chuyên môn y tế mà còn
có kỹ năng tâm lý, thuyết phục để giúp người dân tự nguyện, chủ động lựa chọn
các biện pháp tránh thai phù hợp.
3. Phát triển mạng lưới dịch vụ kế hoạch hóa gia đình
-
Tiếp tục kiện toàn mạng lưới cung cấp dịch vụ KHHGĐ đồng bộ từ tỉnh đến cơ sở.
Đảm bảo 100% Trạm Y tế xã, phường, đủ năng lực thực hiện các dịch vụ KHHGĐ cơ bản.
- Tập
trung đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế chuyên dụng cho các xã vùng
sâu, vùng xa, vùng có mức sinh cao. Đảm bảo các trạm y tế vùng khó khăn có đủ
điều kiện triển khai các kỹ thuật tránh thai dài hạn (đặt vòng, cấy que) để hỗ
trợ nhóm đối tượng có rào cản về địa lý.
-
Đào tạo chuyên sâu và cập nhật kỹ thuật mới cho đội ngũ cán bộ y tế, đặc biệt
là kỹ năng tư vấn tâm lý và xử lý tác dụng phụ của các BPTT. Nâng cao năng lực cho cộng tác
viên thôn bản trong việc quản lý đối tượng mang thai ngoài ý muốn và vận động
các gia đình đã sinh hai con.
- Cần
ưu tiên ngân sách địa phương để đảm bảo kho dự trữ PTTT luôn đầy đủ, đa dạng.
Xây dựng cơ chế điều phối linh hoạt giữa các tuyến để không xảy ra tình trạng
“trắng” dịch vụ. Từng bước khôi phục các kênh xã hội hóa mới phù hợp với quy định
hiện hành.
-
Phát triển các mô hình cung cấp dịch vụ KHHGĐ toàn diện, thân thiện dành riêng
cho vị thành niên và thanh niên. Đẩy mạnh tư vấn, khám sức khỏe trước hôn nhân
và dự phòng vô sinh, giúp nhóm đối tượng trẻ hình thành ý thức trách nhiệm về
sinh sản ngay từ đầu.
- Tạo
điều kiện thuận lợi cho các cơ sở y tế tư nhân đủ điều kiện tham gia cung cấp dịch
vụ KHHGĐ chất lượng cao. Khuyến khích các phòng khám tư nhân triển khai các gói
dịch vụ ưu đãi cho người lao động tại các khu công nghiệp, khu cửa khẩu.
-
Tăng cường kiểm tra, giám sát định kỳ chất lượng dịch vụ tại tất cả các tuyến.
Đảm bảo tuân thủ nghiêm ngặt quy trình kỹ thuật, nâng cao tỷ lệ hài lòng của
người dân để củng cố niềm tin vào các biện pháp tránh thai hiện đại.
4. Đẩy mạnh xã hội hóa, huy động nguồn lực
- Tạo
môi trường thuận lợi để các doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân tham gia cung ứng
PTTT theo cơ chế thị trường, từng bước giảm sự phụ thuộc vào nguồn cấp phát miễn
phí từ ngân sách, đảm bảo tính bền vững trong bối cảnh mức sinh đang biến động
tăng.
-
Khuyến khích các cơ sở y tế ngoài công lập, phòng khám đa khoa tư nhân tham gia
mạng lưới cung cấp dịch vụ KHHGĐ. Tăng cường phối hợp chặt chẽ giữa hệ thống y
tế công và tư để đa dạng hóa các gói dịch vụ kỹ thuật cao, đáp ứng nhu cầu chi
trả của các nhóm đối tượng có thu nhập khá tại khu vực thành thị, cửa khẩu.
-
Chủ động khai thác và sử dụng hiệu quả nguồn ngân sách nhà nước làm đòn bẩy, kết
hợp với nguồn xã hội hóa và các chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển
kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
5. Nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế
-
Nghiên cứu và triển khai các ứng dụng quản lý dân số, tư vấn KHHGĐ trực tuyến
phù hợp với trình độ và ngôn ngữ của đồng bào các dân tộc Tày, Nùng, Mông,
Dao... Khuyến khích các sáng kiến cải tiến quy trình cung ứng PTTT nhằm khắc phục
tình trạng đứt gãy nguồn cung xã hội hóa, đảm bảo dịch vụ đến tận các thôn, bản
vùng sâu, vùng cao, biên giới.
- Chủ
động tìm kiếm, ký kết hợp tác với các tổ chức quốc tế, các quỹ hỗ trợ phát triển
(như UNFPA, các tổ chức phi chính phủ) để tranh thủ nguồn lực tài chính và kỹ
thuật chuyên sâu.
- Tổ
chức các đợt khảo sát, trao đổi kinh nghiệm với các tỉnh có đặc điểm tương đồng
về địa hình và dân tộc (như các tỉnh miền núi phía Bắc) đã thành công trong việc
đưa mức sinh về mức sinh thay thế. Tổ chức các hội thảo chuyên đề, đào tạo nâng
cao năng lực cho đội ngũ cán bộ dân số Lạng Sơn về kỹ năng quản trị dân số hiện
đại và quản lý dịch vụ trong bối cảnh mới.
VII. KINH PHÍ
Từ
nguồn ngân sách ngân sách nhà nước theo phân cấp quản lý hiện hành; nguồn
Chương trình mục tiêu quốc gia về chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển giai
đoạn 2026-2035 và các nguồn huy động hợp pháp khác theo quy định của pháp luật.
VIII. TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1.
Sở Y tế
- Chủ
trì xây dựng kế hoạch và triển khai các nội dung của kế hoạch.
- Chủ
trì phối hợp với các ngành liên quan, tham mưu, đề xuất UBND tỉnh bố trí kinh
phí để tổ chức triển khai theo năm, giai đoạn của Kế hoạch.
- Phối
hợp với các cơ quan liên quan rà soát, tham mưu điều chỉnh bổ sung các chủ
trương, cơ chế, chính sách, phù hợp với mục tiêu duy trì vững chắc mức sinh
thay thế.
- Chỉ
đạo, hướng dẫn các cơ sở y tế trực thuộc triển khai các hoạt động động theo Kế
hoạch; củng cố, phát triển mạng lưới cung cấp dịch vụ KHHGĐ; nâng cao chất lượng
dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản, KHHGĐ tại các tuyến...
- Tổ
chức kiểm tra, giám sát tình hình thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch và nhiệm vụ trọng
tâm theo chỉ đạo của UBND tỉnh về Chương trình.
- Định
kỳ tổng hợp, đánh giá kết quả thực hiện, báo cáo UBND tỉnh, Bộ Y tế theo quy định.
2.
Sở Tài chính: chủ trì, phối hợp với các cơ
quan, đơn vị có liên quan; hằng năm, căn cứ khả năng cân đối của ngân sách nhà
nước, tham mưu cấp có thẩm quyền bố trí kinh phí để thực hiện các nhiệm vụ đã
được phê duyệt; đồng thời hướng dẫn, kiểm tra việc quản lý và sử dụng kinh phí
theo đúng quy định.
3.
Sở Giáo dục và Đào tạo
- Chủ
trì, phối hợp với Sở Y tế và các cơ quan liên quan tổ chức triển khai giáo dục
dân số, sức khỏe sinh sản, kế hoạch hóa gia đình và tác hại của tảo hôn... phù
hợp với từng cấp học.
-
Phối hợp với ngành Y tế tư vấn tâm lý học đường nhằm giảm thiểu tình trạng mang
thai ngoài ý muốn trong học sinh.
4.
Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch
- Chủ trì, phối hợp với Sở Y tế lồng ghép các thông điệp về
dân số - KHHGĐ, hệ lụy của mức sinh cao và mất cân bằng giới tính khi sinh vào
các chương trình văn hóa, văn nghệ, lễ hội truyền thống và hệ thống thiết chế
văn hóa cơ sở. Đặc biệt ưu tiên các hình thức diễn xướng dân gian, văn hóa bản
địa của đồng bào Tày, Nùng, Mông, Dao... để truyền tải thông điệp "sinh đủ
02 con" một cách gần gũi.
- Lồng
ghép nội dung tuyên truyền về xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc; bình
đẳng giới; phòng, chống bạo lực gia đình; nâng cao nhận thức về chăm sóc sức khỏe
sinh sản và KHHGĐ vào các chương trình, hoạt động văn hóa, gia đình và phong
trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”.
- Đẩy
mạnh truyền thông về xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc gắn với việc
thực hiện quy mô gia đình ít con đặc biệt nhấn mạnh vai trò và trách nhiệm của
nam giới (người cha, người chồng) trong việc chia sẻ trách nhiệm chăm sóc sức
khỏe sinh sản, nuôi dạy con cái và thực hiện KHHGĐ.
- Phối
hợp triển khai các hoạt động thông tin đối ngoại, quảng bá hình ảnh địa phương
gắn với nâng cao nhận thức về chất lượng dân số, gia đình và phát triển bền vững.
5.
Sở Dân tộc và Tôn giáo
-
Phối hợp với Sở Y tế và các cơ quan liên quan đẩy mạnh tuyên truyền, vận động đồng
bào các dân tộc thiểu số thực hiện tốt chính sách dân số - KHHGĐ; trọng tâm là
vận động mỗi cặp vợ chồng sinh đủ 02 con.
-
Tiếp tục triển khai các hoạt động giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận
huyết thống tại các xã vùng cao, vùng biên giới; lồng ghép nội dung KHHGĐ vào
các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu
số và miền núi.
6.
Báo và Phát thanh, Truyền hình Lạng Sơn
- Phối
hợp với Sở Y tế và các cơ quan, đơn vị liên quan tăng cường công tác thông tin,
tuyên truyền về dân số - KHHGĐ trên các phương tiện thông tin đại chúng.
- Xây
dựng, duy trì các chuyên trang, chuyên mục, phóng sự, tin, bài phản ánh kịp thời
các hoạt động, mô hình hiệu quả, các chủ trương, chính sách về công tác dân số
- KHHGĐ; góp phần nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi của người dân.
7.
Các Sở Ban, Ngành liên quan khác
-
Tham gia thực hiện Chương trình trong phạm vi, chức năng nhiệm vụ được giao.
-
Tăng cường phối hợp liên ngành trong công tác tuyên truyền, vận động, cung cấp
dịch vụ và kiểm tra, giám sát việc thực hiện Kế hoạch; góp phần nâng cao hiệu
quả công tác dân số - KHHGĐ trên địa bàn tỉnh.
8.
Đề nghị Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh, các tổ chức chính trị - xã hội tỉnh
- Chủ
trì, phối hợp với Sở Y tế và các cơ quan liên quan đẩy mạnh tuyên truyền, vận động
Nhân dân nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi trong chăm sóc sức khỏe sinh sản,
KHHGĐ.
- Thực
hiện vai trò giám sát, phản biện xã hội trong việc thực hiện các chủ trương,
chính sách, pháp luật về dân số, chăm sóc sức khỏe sinh sản và các chế độ hỗ trợ
cho phụ nữ, trẻ em trên địa bàn tỉnh.
9.
UBND các xã, phường
- Căn
cứ Kế hoạch này, xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện phù hợp với tình hình
thực tế của địa phương.
- Chủ
động bố trí, huy động các nguồn lực hợp pháp; lồng ghép các hoạt động dân số -
KHHGĐ vào các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa
phương.
-
Tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo; đẩy mạnh phối hợp giữa các ban, ngành,
đoàn thể; phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ y tế, cộng tác viên dân số trong
tuyên truyền, vận động và cung cấp dịch vụ tại cơ sở.
- Đẩy
mạnh công tác kiểm tra việc thực hiện các nội dung Kế hoạch; thực hiện chế độ
báo cáo định kỳ, đột xuất theo quy định; kịp thời phản ánh khó khăn, vướng mắc
về Sở Y tế để tổng hợp, báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, giải quyết.
UBND
tỉnh yêu cầu các cơ quan, đơn vị nghiêm túc triển khai, thực hiện Kế hoạch này.
Trong quá trình triển khai thực hiện nếu có khó khăn, vướng mắc đề nghị các cơ quan,
đơn vị phản ánh về Sở Y tế để tổng hợp, báo cáo UBND tỉnh xem xét, giải quyết./.
|
Nơi nhận:
- Bộ Y tế;
- Thường trực Tỉnh uỷ; (B/c);
- Lãnh đạo HĐND tỉnh;
- Chủ tịch, các PCT UBND tỉnh;
- UB MTTQ và các tổ chức CT-XH tỉnh;
- Thành viên BCĐ tỉnh (QĐ số 683/QĐ-UBND ngày 18/3/2025);
- UBND các xã, phường;
- C, PCVP UBND tỉnh, các phòng CM, TTTT;
- Lưu: VT, KGVX(ĐDĐ).
|
TM. ỦY BAN NHÂN DÂN
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH
Trần Thanh Nhàn
|