|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
-------
|
CỘNG
HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 01/CT-CA
|
Hà Nội, ngày 05 tháng 10 năm 2026
|
CHỈ THỊ
VỀ ĐỔI MỚI CÔNG TÁC ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG TRONG TÒA
ÁN NHÂN DÂN GẮN VỚI CHUYỂN ĐỔI SỐ GIAI ĐOẠN 2026 - 2031
Trong thời
gian qua, Ban Thường vụ Đảng ủy, lãnh đạo Tòa án nhân dân tối cao đã quan tâm
lãnh đạo, chỉ đạo công tác đào tạo, bồi dưỡng; từng bước đổi mới nội dung,
chương trình, phương pháp, tăng cường đào tạo, tập huấn chuyên môn, nghiệp vụ,
góp phần nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và chất lượng
thực hiện nhiệm vụ của Tòa án nhân dân.
Trước yêu
cầu tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt
Nam, đẩy mạnh cải cách tư pháp, tổ chức hệ thống Tòa án nhân dân theo mô hình mới,
bảo đảm nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật;
đồng thời đẩy mạnh chuyển đổi số, xây dựng Tòa án điện tử, đổi mới phương thức
quản trị, điều hành và tổ chức hoạt động tư pháp trên môi trường số, yêu cầu đối
với đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức Tòa án nhân dân, nhất là công chức giữ
chức danh tư pháp, ngày càng cao cả về phẩm chất, trình độ chuyên môn, kỹ năng
nghề nghiệp, năng lực số, tư duy đổi mới và khả năng thích ứng. Thực tiễn xét xử
đang đặt ra yêu cầu chuyên sâu trong giải quyết các vụ án, vụ việc nhất là lĩnh
vực dân sự, lao động, hành chính, kinh doanh, thương mại, phục hồi, phá sản và
các nhiệm vụ mới phát sinh khó, phức tạp đòi hỏi đội ngũ Thẩm phán không chỉ nắm
vững pháp luật, kỹ năng nghề nghiệp mà còn phải có kiến thức chuyên ngành cần
thiết, năng lực ứng dụng công nghệ, khai thác dữ liệu số và khả năng thích ứng
kịp thời với những yêu cầu mới của thực tiễn.
Vì vậy,
công tác đào tạo, bồi dưỡng phải tiếp tục được đổi mới mạnh mẽ, thực chất và hiệu
quả về tư duy, nội dung, chương trình, phương pháp và phương thức tổ chức thực
hiện; bám sát yêu cầu thực tiễn xét xử, vị trí việc làm, chức danh, lĩnh vực
công tác; lấy chất lượng thực hiện nhiệm vụ và hiệu quả vận dụng kiến thức, kỹ
năng sau đào tạo, bồi dưỡng làm thước đo. Trọng tâm là chuyển từ tư duy cử đi
đào tạo, bồi dưỡng sang nâng cao ý thức chủ động học tập, tự bồi dưỡng, học tập
thường xuyên và suốt đời; xác định đúng nhu cầu và những kiến thức, kỹ năng còn
hạn chế, cần bổ sung, cập nhật để tổ chức đào tạo, bồi dưỡng đúng đối tượng,
đúng nội dung, sát yêu cầu thực tiễn; tăng cường đào tạo chuyên sâu đối với các
lĩnh vực đặc thù, khó, phức tạp và mới phát sinh; đồng thời nâng cao năng lực số,
phương pháp làm việc hiện đại, khả năng ứng dụng khoa học, công nghệ và khai
thác dữ liệu phục vụ thực hiện nhiệm vụ.
Quán triệt
chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao,
khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; ý kiến chỉ đạo của Tổng
Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ tư pháp, chú
trọng đào tạo kỹ năng xét xử, giải quyết tranh chấp, kiến thức kinh tế và khả
năng sử dụng công nghệ; thực hiện các quy định về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,
công chức, viên chức và Chỉ thị số 14/CT-TTg ngày 22/4/2026 của Thủ tướng Chính
phủ về đẩy mạnh bồi dưỡng và đánh giá kiến thức, kỹ năng số đối với cán bộ,
công chức, viên chức, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao yêu cầu người đứng đầu
các đơn vị, Tòa án các cấp tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện
nghiêm túc, đồng bộ các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp đổi mới công tác đào tạo,
bồi dưỡng trong Tòa án nhân dân gắn với chuyển đổi số, cụ thể như sau:
1. Mục tiêu
1.1. Mục
tiêu chung
Đổi mới
công tác đào tạo, bồi dưỡng trong Tòa án nhân dân theo hướng chuẩn hóa, chuyên
nghiệp, hiện đại, thiết thực và hiệu quả; lấy yêu cầu của vị trí việc làm, chức
danh, chức vụ, yêu cầu thực tiễn công tác và chất lượng, hiệu quả thực hiện nhiệm
vụ làm căn cứ xác định nhu cầu và đánh giá kết quả đào tạo, bồi dưỡng. Xây dựng
đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất
đạo đức nghề nghiệp, trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, năng lực số, tư
duy đổi mới và khả năng thích ứng với yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.
Xây dựng
môi trường học tập thường xuyên, liên tục và học tập suốt đời trong toàn hệ thống
Tòa án nhân dân; phát huy trách nhiệm tự học, tự bồi dưỡng của mỗi cán bộ, công
chức, viên chức. Đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, dữ liệu, trí tuệ nhân tạo
và các phương thức học tập hiện đại trong đào tạo, bồi dưỡng; từng bước hình
thành hệ thống quản lý, theo dõi và đánh giá kết quả đào tạo, bồi dưỡng trên
môi trường số, tăng cường khai thác dữ liệu, kết quả tổng kết thực tiễn xét xử
và những vấn đề mới phát sinh trong thực tiễn để phục vụ đào tạo, bồi dưỡng,
chú trọng khả năng vận dụng kiến thức, kỹ năng sau đào tạo vào thực tiễn công
tác.
Tập trung đào
tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức giữ chức danh tư pháp theo hướng chuyên sâu,
chuyên nghiệp, đáp ứng yêu cầu giải quyết các loại vụ án, vụ việc ngày càng đa
dạng, phức tạp và những nhiệm vụ mới phát sinh; bảo đảm không chỉ nắm vững pháp
luật, kỹ năng nghề nghiệp mà còn có kiến thức chuyên ngành cần thiết phù hợp với
lĩnh vực công tác được phân công. Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đội
ngũ giảng viên, chuyên gia có trình độ chuyên môn, năng lực thực tiễn, tư duy đổi
mới và khả năng ứng dụng công nghệ; gắn đào tạo, bồi dưỡng với nghiên cứu khoa
học, tổng kết thực tiễn xét xử và hợp tác quốc tế, đáp ứng yêu cầu cải cách tư
pháp, chuyển đổi số và xây dựng Tòa án điện tử.
1.2. Mục
tiêu theo giai đoạn
1.2.1. Đến hết năm 2026: Bảo đảm 100% cán bộ, công chức, viên chức có
hiểu biết về chuyển đổi số, kiến thức và kỹ năng số, sử dụng tốt các nền tảng,
dịch vụ số phục vụ công việc theo yêu cầu của ngành Tòa án trong tình hình mới.
Rà soát nhu cầu, nội dung, chương trình, học liệu và phương pháp đào tạo, bồi
dưỡng; xác định kiến thức, kỹ năng cần bồi dưỡng phù hợp với vị trí việc làm,
chức danh, chức vụ và yêu cầu thực hiện nhiệm vụ. Ưu tiên rà soát, tổ chức đào
tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức giữ chức danh tư pháp, kịp thời cập nhật, nắm
vững các quy định pháp luật mới, các lĩnh vực khó, phức tạp, chuyên môn đặc thù
và những nhiệm vụ mới phát sinh.
1.2.2. Từ năm 2027 đến năm 2030: Bảo đảm 100% cán bộ, công chức, viên
chức hoàn thành bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng số theo chương trình, học liệu
được cập nhật; sử dụng tốt các nền tảng, công cụ và dịch vụ số, đáp ứng yêu cầu
của vị trí việc làm. Duy trì việc cập nhật thường xuyên kiến thức pháp luật,
chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng nghề nghiệp, kỹ năng số và phương pháp làm việc
mới; phát triển các chương trình đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu theo vị trí việc
làm, chức danh và lĩnh vực công tác, nhất là đối với các loại vụ án, vụ việc
khó, phức tạp, lĩnh vực đòi hỏi kiến thức chuyên ngành và những vấn đề mới phát
sinh trong thực tiễn xét xử.
Tăng cường
sử dụng kết quả tổng kết thực tiễn xét xử, công tác giám đốc, kiểm tra, các bản
án, quyết định bị hủy, sửa, những vụ án, vụ việc kéo dài, phức tạp và các tình
huống điển hình làm nguồn tài liệu phục vụ đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn và rút
kinh nghiệm; chú trọng các vấn đề phát sinh trong giải quyết tranh chấp dân sự,
vụ án hành chính và việc bảo đảm thi hành bản án, quyết định của Tòa án. Tổ chức
bồi dưỡng chuyên sâu về hòa giải, đối thoại tại Tòa án; giải quyết các vụ án
hành chính, tranh chấp kinh doanh, thương mại, nhất là tranh chấp có yếu tố nước
ngoài và những lĩnh vực khó, phức tạp, mới phát sinh.
1.2.3. Đến năm 2031: Hoàn thiện hệ sinh thái đào tạo, bồi dưỡng trên
môi trường số dùng chung trong Tòa án nhân dân; hình thành cơ sở dữ liệu đào tạo,
kho học liệu số và hồ sơ học tập điện tử của cán bộ, công chức, viên chức; kết
quả đào tạo, bồi dưỡng do Tòa án nhân dân tổ chức được quản lý, theo dõi và cập
nhật trên môi trường số. Các chương trình bồi dưỡng trọng điểm theo vị trí việc
làm, chức danh tư pháp, chức vụ lãnh đạo, quản lý và các lĩnh vực chuyên môn
chuyên sâu được rà soát, cập nhật thường xuyên, từng bước số hóa phù hợp; triển
khai đánh giá kết quả học tập và hiệu quả vận dụng kiến thức, kỹ năng vào thực
tiễn công tác đối với các chương trình phù hợp.
Từng bước
khai thác dữ liệu đào tạo, kết quả học tập, thực tiễn xét xử và yêu cầu thực hiện
nhiệm vụ làm nguồn thông tin phục vụ xác định nhu cầu, xây dựng kế hoạch đào tạo,
bồi dưỡng và bố trí nguồn lực đào tạo hằng năm; bảo đảm công tác đào tạo, bồi
dưỡng được cập nhật thường xuyên, kịp thời đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của Tòa án
nhân dân.
2. Nhiệm vụ, giải pháp
2.1. Nâng cao nhận thức, trách nhiệm về công tác đào tạo, bồi dưỡng
Người đứng
đầu các đơn vị, Tòa án các cấp phải xác định đào tạo, bồi dưỡng là nhiệm vụ quan
trọng, thường xuyên, gắn trực tiếp với xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên
chức và nâng cao chất lượng thực hiện nhiệm vụ của Tòa án nhân dân; trực tiếp
lãnh đạo, chỉ đạo, tạo điều kiện và chịu trách nhiệm về chất lượng, hiệu quả
công tác đào tạo, bồi dưỡng tại đơn vị.
Tổ chức
quán triệt và thực hiện nghiêm các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của
Nhà nước và quy định của Tòa án nhân dân tối cao về đào tạo, bồi dưỡng; gắn
công tác đào tạo, bồi dưỡng với yêu cầu cải cách tư pháp, xây dựng đội ngũ,
chuyển đổi số, xây dựng Tòa án điện tử và nâng cao chất lượng thực hiện nhiệm vụ.
Việc xác định nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng phải bám sát vị trí việc làm, chức
danh, chức vụ và yêu cầu thực tiễn của đơn vị; kịp thời xác định những kiến thức,
kỹ năng còn hạn chế hoặc cần cập nhật để tổ chức đào tạo, bồi dưỡng đúng đối tượng,
đúng nội dung, thiết thực và hiệu quả. Mỗi cán bộ, công chức, viên chức, nhất
là công chức giữ chức danh tư pháp, phải xác định học tập, tự học và tự bồi dưỡng
là trách nhiệm thường xuyên trong quá trình công tác; chủ động cập nhật kiến thức
pháp luật, chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng nghề nghiệp, kỹ năng số và phương
pháp làm việc mới, đáp ứng yêu cầu của vị trí việc làm và sự thay đổi của thực
tiễn.
2.2. Xây dựng môi trường học tập thường xuyên trong hệ thống Tòa
án nhân dân
Xây dựng
môi trường học tập thường xuyên, liên tục trong toàn hệ thống Tòa án nhân dân;
khuyến khích và tạo điều kiện để cán bộ, công chức, viên chức chủ động tự học, tự
nghiên cứu, cập nhật kiến thức pháp luật, chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng nghề
nghiệp, kỹ năng số và phương pháp làm việc mới; kịp thời cập nhật các quy định
mới của pháp luật và những vấn đề phát sinh từ thực tiễn công tác, đáp ứng yêu
cầu nhiệm vụ được giao.
Phát triển
văn hóa học tập, tự học và học tập suốt đời; đa dạng hóa các hình thức học tập
thông qua đào tạo, bồi dưỡng tập trung, trực tuyến, tự học có hướng dẫn, sinh
hoạt chuyên môn, trao đổi nghiệp vụ, nghiên cứu tình huống thực tiễn, rút kinh
nghiệm từ hoạt động xét xử, chia sẻ kinh nghiệm và học tập tại nơi làm việc. Tạo
điều kiện để cán bộ, công chức, viên chức khai thác hiệu quả học liệu, cơ sở dữ
liệu, tài liệu chuyên môn và các nguồn tri thức dùng chung của Tòa án nhân dân.
Từng bước xây dựng cơ chế theo dõi, ghi nhận kết quả học tập, bồi dưỡng và tự học
của cán bộ, công chức, viên chức; chú trọng khả năng vận dụng kiến thức, kỹ
năng đã được đào tạo, bồi dưỡng vào thực tiễn công tác. Kết quả học tập, bồi dưỡng
và việc vận dụng sau đào tạo được sử dụng làm một trong những nguồn thông tin
phục vụ xác định nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng và công tác quản lý, sử dụng cán bộ,
công chức, viên chức theo quy định.
2.3. Đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp đào tạo, bồi dưỡng
Nội dung,
chương trình đào tạo, bồi dưỡng phải bám sát yêu cầu của vị trí việc làm, chức
danh, chức vụ và thực tiễn hoạt động xét xử, giải quyết các loại vụ án, vụ việc;
bảo đảm thiết thực, gắn lý luận với thực tiễn, đáp ứng yêu cầu cải cách tư
pháp, chuyển đổi số và xây dựng Tòa án điện tử.
Tập trung
bồi dưỡng kiến thức pháp luật, chuyên môn, nghiệp vụ xét xử và các kỹ năng cần
thiết cho từng nhóm đối tượng; chú trọng phát triển tư duy pháp lý, kỹ năng
nghiên cứu hồ sơ, phân tích, đánh giá chứng cứ, điều hành phiên tòa, xây dựng bản
án, quyết định và giải quyết các vụ án, vụ việc khó, phức tạp, có yếu tố nước
ngoài. Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu theo lĩnh vực xét xử; đối với
những lĩnh vực đòi hỏi kiến thức liên ngành, công chức giữ chức danh tư pháp phải
được trang bị kiến thức chuyên ngành cần thiết để thực hiện tốt nhiệm vụ được
giao. Chú trọng các nội dung về kinh tế, tài chính, ngân hàng, kế toán, quản trị
doanh nghiệp phục vụ giải quyết các vụ việc kinh doanh, thương mại, thực hiện
thủ tục phục hồi, phá sản, sở hữu trí tuệ; các vấn đề chuyên sâu trong lĩnh vực
dân sự, lao động, hành chính, nhất là chứng cứ, giám định, định giá; đồng thời
tăng cường kiến thức, kỹ năng về tư pháp người chưa thành niên, trong đó có việc
xem xét, áp dụng các biện pháp xử lý chuyển hướng theo quy định của pháp luật,
các biện pháp giải quyết tranh chấp thay thế (ADR), ngoài Tòa án. Kịp thời cập
nhật nội dung đào tạo, bồi dưỡng khi có quy định pháp luật mới, nhiệm vụ mới hoặc
yêu cầu mới phát sinh từ thực tiễn.
Đổi mới
chương trình, phương pháp đào tạo, bồi dưỡng theo hướng lấy người học làm trung
tâm, tăng cường thực hành; chú trọng học qua tình huống, hồ sơ vụ án, vụ việc,
phiên tòa giả định, mô phỏng tình huống nghề nghiệp, thảo luận, phản biện và
chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn. Tăng cường sử dụng các vụ án, vụ việc khó, phức
tạp, kéo dài, bản án, quyết định bị hủy, sửa và những sai sót, vướng mắc được
phát hiện qua công tác giám đốc, kiểm tra, tổng kết thực tiễn xét xử làm tình
huống đào tạo, tập huấn, rút kinh nghiệm. Kết hợp linh hoạt đào tạo trực tiếp,
trực tuyến, đào tạo kết hợp, tự học có hướng dẫn và học tập tại nơi làm việc. Đổi
mới phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả học tập theo hướng chú trọng khả
năng phân tích, xử lý tình huống và vận dụng kiến thức, kỹ năng vào thực tiễn.
Tích hợp nội dung về bản lĩnh chính trị, đạo đức tư pháp, liêm chính, trách nhiệm
nghề nghiệp, văn hóa ứng xử và học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phong cách
Hồ Chí Minh vào các chương trình đào tạo, bồi dưỡng; gắn với yêu cầu thực hiện
chức trách, nhiệm vụ của từng nhóm cán bộ, công chức, viên chức, bảo đảm thiết
thực, dễ hiểu và dễ vận dụng.
2.4. Đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và
chuyển đổi số trong công tác đào tạo, bồi dưỡng
Đẩy mạnh ứng
dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong công tác đào
tạo, bồi dưỡng; phát triển các hình thức đào tạo trực tuyến, đào tạo kết hợp, tự
học có hướng dẫn và các phương thức học tập hiện đại, tạo điều kiện để cán bộ,
công chức, viên chức học tập, cập nhật kiến thức, kỹ năng thường xuyên, thuận
tiện, phù hợp với yêu cầu của vị trí việc làm. Xây dựng, hoàn thiện nền tảng
đào tạo, bồi dưỡng trên môi trường số dùng chung trong toàn hệ thống Tòa án
nhân dân; từng bước hình thành cơ sở dữ liệu đào tạo, hồ sơ học tập điện tử và
hệ thống quản lý. Phát triển kho học liệu số dùng chung, tích hợp có chọn lọc
các tài liệu chuyên môn, án lệ, giải đáp nghiệp vụ, tình huống xét xử điển
hình, kết quả nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn và kinh nghiệm nghề nghiệp
được phép khai thác; tăng cường kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu phục vụ
đào tạo, bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực.
Nghiên cứu,
ứng dụng có kiểm soát trí tuệ nhân tạo và công nghệ số trong xây dựng học liệu,
hỗ trợ giảng dạy, tự học, tra cứu, kiểm tra, đánh giá và quản lý đào tạo; từng
bước khai thác dữ liệu để xác định nhu cầu và cập nhật nội dung đào tạo, bồi dưỡng
phù hợp với vị trí việc làm, chức danh và yêu cầu thực tiễn công tác. Việc ứng
dụng trí tuệ nhân tạo phải có cơ chế kiểm tra, kiểm soát, chỉ đóng vai trò hỗ
trợ, không thay thế vai trò, trách nhiệm của con người trong công tác chuyên
môn, nghiệp vụ.
Thường
xuyên cập nhật, bồi dưỡng và đánh giá kiến thức, kỹ năng số của cán bộ, công chức,
viên chức; bảo đảm sử dụng tốt các nền tảng, công cụ và dịch vụ số phục vụ công
việc, đáp ứng yêu cầu của vị trí việc làm và quá trình xây dựng Tòa án điện tử.
Có giải pháp hỗ trợ phù hợp đối với cán bộ, công chức, viên chức còn hạn chế về
kỹ năng số và các đơn vị có điều kiện hạ tầng công nghệ còn khó khăn, bảo đảm
cơ hội tiếp cận đào tạo, bồi dưỡng trong toàn hệ thống. Việc xây dựng, quản lý,
kết nối và khai thác nền tảng đào tạo, cơ sở dữ liệu, học liệu số và các công cụ
trí tuệ nhân tạo phải tuân thủ nghiêm các quy định về bảo vệ bí mật nhà nước, bảo
vệ dữ liệu, an toàn thông tin và an ninh mạng.
2.5. Đẩy mạnh đào tạo chuyên sâu và phát triển nguồn nhân lực chất lượng
cao
Tập trung
đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức giữ chức danh tư pháp và các vị trí chuyên
môn có vai trò then chốt theo hướng chuyên sâu, chuyên nghiệp; từng bước hình
thành đội ngũ có chuyên môn sâu theo lĩnh vực công tác, phù hợp với tính chất,
mức độ phức tạp và yêu cầu thực tiễn của từng loại vụ án, vụ việc. Chú trọng
nâng cao tư duy pháp lý, năng lực thực tiễn, kỹ năng nghề nghiệp, kiến thức
chuyên ngành cần thiết, năng lực số, ngoại ngữ và khả năng giải quyết các vụ việc
khó, phức tạp.
Xác định
các lĩnh vực cần ưu tiên phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trên cơ sở thực
tiễn xét xử, yêu cầu thực hiện các quy định mới của pháp luật, nhiệm vụ mới phát
sinh và định hướng phát triển của Tòa án nhân dân; chú trọng các lĩnh vực
chuyên sâu, phức tạp, có yếu tố nước ngoài và những lĩnh vực đòi hỏi kiến thức
liên ngành. Chủ động lựa chọn cán bộ, công chức, viên chức có năng lực, kinh
nghiệm thực tiễn và tiềm năng phát triển để đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu; từng
bước hình thành đội ngũ chuyên gia, nhân lực nòng cốt trong các lĩnh vực chuyên
môn quan trọng.
Gắn đào tạo,
bồi dưỡng chuyên sâu với bố trí, phân công và sử dụng cán bộ phù hợp với chuyên
môn được đào tạo; phát huy kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm của người được đào
tạo trong thực hiện nhiệm vụ, nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, hướng dẫn nghiệp
vụ và đào tạo, bồi dưỡng tại đơn vị; tăng cường chia sẻ, chuyển giao và lan tỏa
tri thức trong toàn hệ thống Tòa án nhân dân.
2.6. Phát triển Học viện Tòa án, đội ngũ giảng viên và gắn kết
nghiên cứu khoa học với yêu cầu thực tiễn
Tiếp tục
xây dựng Học viện Tòa án trở thành cơ sở đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu của hệ
thống Tòa án nhân dân; phát triển theo hướng hiện đại, nâng cao chất lượng đào
tạo, bồi dưỡng và nghiên cứu khoa học; tăng cường gắn kết giữa đào tạo với tổng
kết thực tiễn xét xử, nghiên cứu những vấn đề mới, khó, phức tạp và yêu cầu thực
hiện các quy định mới của pháp luật để kịp thời cập nhật nội dung, chương trình
và học liệu đào tạo, bồi dưỡng.
Tập trung
xây dựng, phát triển đội ngũ giảng viên cơ hữu có trình độ chuyên môn sâu, phẩm
chất nghề nghiệp, kỹ năng sư phạm và năng lực thực tiễn; phát triển đội ngũ giảng
viên kiêm nhiệm, giảng viên thỉnh giảng là các chuyên gia, nhà khoa học, Thẩm
phán, Thẩm tra viên và công chức có nhiều kinh nghiệm thực tiễn, nhất là những
người có chuyên môn sâu, kinh nghiệm giải quyết các vụ án, vụ việc khó, phức tạp
và trong các lĩnh vực chuyên môn đặc thù, góp phần nâng cao tính thực tiễn và
chất lượng đào tạo, bồi dưỡng.
2.7. Mở rộng hợp tác, hội nhập quốc tế trong đào tạo, bồi dưỡng
Chủ động mở
rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác với các cơ sở đào tạo, cơ quan tư pháp, tổ chức
quốc tế và các đối tác có uy tín trong nước và nước ngoài nhằm trao đổi kinh
nghiệm, tiếp thu có chọn lọc tri thức, kỹ năng, phương pháp và mô hình đào tạo
tiên tiến phù hợp với thực tiễn của Ngành; ưu tiên hợp tác trong các lĩnh vực
xét xử chuyên sâu, giải quyết vụ việc có yếu tố nước ngoài và những vấn đề mới,
phức tạp đặt ra trong thực tiễn tư pháp.
Đẩy mạnh
công tác cử cán bộ, công chức, viên chức, giảng viên tham gia các chương trình
đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu, khảo sát, trao đổi kinh nghiệm ở nước ngoài; đồng
thời tăng cường hợp tác nghiên cứu, chia sẻ kinh nghiệm phục vụ công tác đào tạo,
bồi dưỡng của Tòa án nhân dân. Tiếp tục nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc kinh
nghiệm và chuẩn mực quốc tế phù hợp về đào tạo tư pháp, phát triển nguồn nhân lực,
chuyển đổi số và xây dựng Tòa án điện tử để vận dụng phù hợp với điều kiện thực
tiễn của Việt Nam, yêu cầu cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế trong tình hình
mới.
3. Tổ chức thực hiện
3.1. Vụ
Tổ chức - Cán bộ
Là đơn vị
đầu mối, chủ trì tham mưu Chánh án Tòa án nhân dân tối cao tổ chức triển khai
thực hiện Chỉ thị; hướng dẫn, theo dõi, kiểm tra, đôn đốc và tổng hợp, đánh giá
kết quả thực hiện trong Tòa án nhân dân. Chủ trì, phối hợp với Học viện Tòa án
và các đơn vị có liên quan rà soát nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng; tham mưu xây dựng
kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng gắn với vị trí việc làm, chức danh, chức vụ; nghiên
cứu, đề xuất cơ chế phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, quản lý kết quả
đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng dữ liệu đào tạo phục vụ công tác quản lý, sử dụng
và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức theo quy định.
Hằng năm,
chủ trì, phối hợp với các đơn vị có liên quan rà soát cơ cấu đội ngũ, khối lượng,
tính chất công việc và yêu cầu thực hiện nhiệm vụ; xác định các lĩnh vực, nhóm
đối tượng cần ưu tiên đào tạo, bồi dưỡng, nhất là đối với công chức giữ chức
danh tư pháp và các lĩnh vực chuyên môn sâu, khó, phức tạp hoặc có nhiệm vụ mới
phát sinh, làm căn cứ xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng trong Tòa án nhân
dân.
Trong thời
hạn 60 ngày kể từ ngày Chỉ thị được ban hành, chủ trì tham mưu ban hành Kế hoạch
triển khai Chỉ thị, xác định rõ nhiệm vụ, sản phẩm, đơn vị chủ trì, đơn vị phối
hợp, tiến độ và kết quả; định kỳ tổng hợp, báo cáo Chánh án Tòa án nhân dân tối
cao tình hình, kết quả thực hiện.
3.2. Học viện Tòa án
Chủ trì rà
soát, đổi mới nội dung, chương trình, tài liệu, học liệu, phương pháp đào tạo,
bồi dưỡng, kiểm tra và đánh giá theo hướng thiết thực, hiện đại, gắn với vị trí
việc làm và thực tiễn xét xử, giải quyết các loại vụ việc. Phát triển các
chương trình đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu, chương trình bồi dưỡng kỹ năng số;
xây dựng học liệu số, ngân hàng tình huống, đào tạo trực tuyến và đào tạo kết hợp;
phối hợp xây dựng phương pháp đánh giá kết quả học tập và hiệu quả sau đào tạo.
Phát triển
đội ngũ giảng viên cơ hữu, giảng viên kiêm nhiệm, giảng viên thỉnh giảng và mạng
lưới chuyên gia; tăng cường nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn và chuyển
hóa kết quả nghiên cứu, kinh nghiệm thực tiễn thành nội dung phục vụ đào tạo, bồi
dưỡng.
3.3. Cục Công nghệ thông tin
Chủ trì
tham mưu, xây dựng, vận hành và bảo đảm hạ tầng công nghệ, nền tảng đào tạo, bồi
dưỡng trên môi trường số, cơ sở dữ liệu, hệ thống quản lý tri thức và các công
cụ số phục vụ công tác đào tạo, bồi dưỡng trong Tòa án nhân dân. Phối hợp với Vụ
Tổ chức - Cán bộ, Học viện Tòa án và các đơn vị liên quan xây dựng, kết nối và
khai thác hồ sơ học tập điện tử, dữ liệu đào tạo, bồi dưỡng; nghiên cứu, tham
mưu ứng dụng trí tuệ nhân tạo và các công nghệ số mới phù hợp trong đào tạo, quản
lý tri thức và hỗ trợ học tập.
Bảo đảm việc
kết nối, chia sẻ, khai thác dữ liệu và vận hành các hệ thống công nghệ tuân thủ
quy định về bảo vệ bí mật nhà nước, bảo vệ dữ liệu, an toàn thông tin và an
ninh mạng.
3.4. Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học
Chủ trì tham
mưu hoàn thiện chính sách, pháp luật về Tòa án nhân dân gắn với yêu cầu cải
cách tư pháp, chuyển đổi số và xây dựng Tòa án điện tử. Đẩy mạnh nghiên cứu
khoa học, tổng kết thực tiễn xét xử, phát triển và hệ thống hóa tri thức pháp
lý; thúc đẩy việc chuyển hóa kết quả nghiên cứu, án lệ, giải đáp nghiệp vụ,
tình huống điển hình và kinh nghiệm thực tiễn có giá trị thành tài liệu, học liệu
phục vụ đào tạo, bồi dưỡng.
3.5. Cục Kế hoạch - Tài chính
Chủ trì
tham mưu bố trí kinh phí, cơ sở vật chất, trang thiết bị và các điều kiện cần
thiết để thực hiện các nhiệm vụ của Chỉ thị theo quy định. Ưu tiên bố trí nguồn
lực phù hợp cho các nhiệm vụ có tính nền tảng, dùng chung và có khả năng nâng
cao hiệu quả lâu dài như phát triển nền tảng đào tạo số, cơ sở dữ liệu, học liệu
số, nâng cao năng lực đội ngũ giảng viên và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng
cao.
3.6. Vụ Hợp tác quốc tế
Chủ trì,
phối hợp với Vụ Tổ chức - Cán bộ, Học viện Tòa án và các đơn vị liên quan tham
mưu, triển khai hoạt động hợp tác quốc tế về đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu,
trao đổi chuyên môn và phát triển nguồn nhân lực. Ưu tiên các chương trình hợp
tác có khả năng chuyển giao tri thức, đào tạo giảng viên, chuyên gia nòng cốt
và nâng cao năng lực bền vững cho hệ thống Tòa án nhân dân; phối hợp theo dõi
việc chia sẻ, chuyển giao và vận dụng kiến thức, kinh nghiệm sau các chương
trình đào tạo, nghiên cứu, khảo sát ở nước ngoài.
3.7. Văn phòng Tòa án nhân dân tối cao, Báo Công
lý, Tạp chí Tòa án nhân dân
Đẩy mạnh
công tác thông tin, tuyên truyền về mục tiêu, nhiệm vụ, kết quả thực hiện Chỉ
thị; kịp thời phổ biến kinh nghiệm, mô hình hiệu quả, cách làm hay trong công
tác đào tạo, bồi dưỡng, chuyển đổi số và xây dựng Tòa án điện tử trong hệ thống
Tòa án nhân dân.
Văn phòng Tòa án
nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp với Vụ Tổ chức - Cán bộ và các đơn vị
có liên quan tham mưu đưa kết quả thực hiện Chỉ thị vào nội dung, tiêu chí đánh
giá, bình xét thi đua, khen thưởng hằng năm đối với các đơn vị, Tòa án các cấp;
hướng dẫn các đơn vị, Tòa án các cấp phát động, tổ chức các phong trào thi đua
gắn với việc học tập, tự học, tự bồi dưỡng, nâng cao năng lực số và đổi mới
sáng tạo trong công tác đào tạo, bồi dưỡng. Kịp thời phát hiện, biểu dương,
khen thưởng hoặc đề nghị cấp có thẩm quyền khen thưởng các tập thể, cá nhân có
thành tích tiêu biểu, có sáng kiến, giải pháp, mô hình hiệu quả trong thực hiện
Chỉ thị; phối hợp với Báo Công lý, Tạp chí Tòa án nhân dân tuyên truyền, nhân rộng
các điển hình tiên tiến trong toàn hệ thống Tòa án nhân dân.
3.8. Thanh tra Tòa án nhân dân tối cao
Theo chức
năng, nhiệm vụ, thực hiện thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định trong
công tác đào tạo, bồi dưỡng và quản lý, sử dụng nguồn lực; kịp thời phát hiện,
kiến nghị chấn chỉnh, xử lý các tồn tại, vi phạm theo quy định, góp phần bảo đảm
kỷ luật, kỷ cương và nâng cao hiệu quả thực hiện Chỉ thị trong toàn hệ thống
Tòa án nhân dân.
3.9. Thủ trưởng các đơn vị thuộc Tòa án nhân dân
tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh án Tòa án quân sự các cấp
Căn cứ Chỉ
thị và Kế hoạch triển khai của Tòa án nhân dân tối cao, tổ chức quán triệt, xây
dựng kế hoạch và triển khai thực hiện phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và điều
kiện thực tiễn của từng đơn vị. Hằng năm, rà soát nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng
trên cơ sở vị trí việc, làm khối lượng, tính chất công việc, kết quả thực hiện
nhiệm vụ và những vấn đề phát sinh trong thực tiễn; xác định rõ đối tượng, nội
dung cần đào tạo, bồi dưỡng và kết quả cần đạt; kịp thời đề xuất đào tạo, bồi
dưỡng chuyên sâu đối với các lĩnh vực còn hạn chế, khó, phức tạp hoặc có yêu cầu
mới.
Người đứng
đầu chịu trách nhiệm về chất lượng, hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng tại
đơn vị; phân công nhiệm vụ, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện; tạo điều kiện để cán
bộ, công chức, viên chức học tập, tự bồi dưỡng, vận dụng kiến thức, kỹ năng vào
thực tiễn công tác và xây dựng môi trường học tập thường xuyên. Kết quả thực hiện
các nhiệm vụ của Chỉ thị được xem xét trong đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ
của đơn vị và trách nhiệm của người đứng đầu; công tác thi đua, khen thưởng hằng
năm theo quy định.
Trong quá trình tổ
chức thực hiện, nếu có khó khăn, vướng mắc, các đơn vị kịp thời báo cáo Tòa án
nhân dân tối cao (qua Vụ Tổ chức - Cán bộ) để xem xét, hướng dẫn, giải quyết./.
|
Nơi nhận:
- Các đ/c PCA TANDTC (để chỉ đạo thực hiện);
- Các đ/c Thẩm phán TANDTC;
- Thủ trưởng các đơn vị thuộc TANDTC (để t/hiện);
- Chánh án TAND và TAQS các cấp (để t/hiện);
- Cổng Thông tin điện tử TANDTC (để đăng tải);
- Lưu: Vụ TCCB (P.ĐT,BD).
|
CHÁNH ÁN
Nguyễn Văn Quảng
|