|
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 1928/QĐ-TTg
|
Hà Nội, ngày
05 tháng 10 năm 2026
|
QUYẾT
ĐỊNH
VỀ VIỆC BAN HÀNH QUY
TRÌNH VẬN HÀNH LIÊN HỒ CHỨA TRÊN LƯU VỰC SÔNG HỒNG
THỦ TƯỚNG CHÍNH
PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 18 tháng 02 năm 2025;
Căn cứ Luật Phòng thủ dân sự ngày 20 tháng
6 năm 2023;
Căn cứ Luật Tài nguyên nước ngày 27 tháng 11 năm 2023;
Căn cứ Luật Phòng, chống thiên tai ngày 19 tháng 6 năm 2013; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai và Luật Đê
Điều ngày 17 tháng 6 năm 2020;
Căn cứ Luật Thủy lợi ngày 19
tháng 6 năm 2017;
Căn cứ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều
của 15 luật trong lĩnh vực nông nghiệp và
môi trường ngày 11 tháng 12 năm 2025;
Căn cứ Luật Điện lực ngày 30
tháng 11 năm 2024;
Căn cứ Kết luận số 213-KL/TW ngày
21 tháng 11 năm 2025 về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số
42-CT/TW ngày 24 tháng 3 năm 2020 của Ban Bí
thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên
tai;
Căn cứ Nghị quyết số 12/2026/NQ-CP ngày
31 tháng 3 năm 2026 về thực hiện một số giải pháp
cấp bách trong quản lý
an toàn đập, hồ chứa nước;
Căn cứ Nghị định số 200/2025/NĐ-CP ngày
09 tháng 7 năm 2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng thủ dân sự;
Căn cứ Nghị định số 114/2018/NĐ-CP ngày
04 tháng 9 năm 2018 của Chính phủ về quản lý an toàn đập, hồ chứa
nước;
Căn cứ Nghị định số 53/2024/NĐ-CP ngày
16 tháng 5 năm 2024 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều
của Luật Tài nguyên nước;
Căn cứ Nghị định số 23/2026/NĐ-CP ngày
17 tháng 01 năm 2026 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định trong lĩnh vực tài nguyên nước;
Căn cứ Nghị định số 62/2025/NĐ-CP ngày
04 tháng 3 năm 2025 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật
Điện lực về bảo vệ công trình điện lực và
an toàn trong lĩnh vực điện lực;
Căn cứ Quyết định số 107/QĐ-BCĐ ngày
23 tháng 7 năm 2025 của Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia ban hành
quy chế hoạt động của Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Nông
nghiệp và Môi trường.
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này Quy trình vận hành liên hồ chứa trên
lưu vực sông Hồng, gồm các hồ: Sơn La, Hòa Bình, Thác Bà, Tuyên Quang, Lai Châu,
Bản Chát và Huội Quảng.
Điều 2. Điều khoản thi hành
1.
Quyết định này có hiệu lực thi hành
kể từ ngày ký ban hành và thay thế Quyết
định số 740/QĐ-TTg ngày 17 tháng 6 năm 2019 của Thủ tướng
Chính phủ về việc ban hành Quy trình vận hành liên hồ chứa trên lưu vực sông Hồng, Quyết định số 922/QĐ-TTg ngày
14 tháng 5 năm 2025 của Thủ tướng Chính phủ
về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy trình vận hành
liên hồ chứa trên lưu vực sông Hồng ban hành kèm theo Quyết định số 740/QĐ-TTg ngày
17 tháng 6 năm 2019 của Thủ tướng Chính phủ.
2.
Các quy trình vận hành hồ chứa đã
ban hành trước ngày Quyết định này có
hiệu lực mà không phù hợp với Quyết định này
thì phải được sửa đổi, bổ sung để phù hợp
với Quyết định này.
3.
Trong thời gian chưa hoàn thành phương án nâng cao
năng lực xả lũ kiểm tra của công trình, mực
nước cao nhất trong thời gian vận hành mùa lũ của hồ chứa
Thác Bà không được phép vượt quá
cao trình 56 m, trừ trường hợp được huy động dung tích chống lũ cho hạ du hoặc trong trường hợp cơ quan có thẩm quyền cho phép.
4.
Quy trình vận hành liên hồ chứa là
giải pháp phi công trình để phối hợp vận hành
giữa các hồ, đập, công trình góp phần nâng cao hiệu quả phòng, chống
lũ cho hạ du trong mùa lũ và sử dụng hiệu quả nguồn nước,
giảm thiểu nguy cơ hạn hán, thiếu nước trong mùa cạn trên lưu vực sông Hồng.
5.
Các Bộ, ngành, địa phương theo chức
năng, nhiệm vụ được giao tổ chức thực hiện việc bảo đảm an toàn cho hạ du trong mùa lũ và đáp ứng nhu cầu sử dụng nước
trong mùa cạn trên cơ sở thực hiện
đồng bộ, tổng thể các giải pháp công trình, phi
công trình, trong đó bao gồm xây dựng, nâng
cấp hệ thống hạ tầng phòng, chống thiên
tai, thủy lợi, thủy điện, cấp nước, quy hoạch đô thị, quy hoạch sử dụng đất và các quy hoạch ngành,
chi tiết ngành có liên quan.
Điều 3. Trưởng ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia; các Bộ trưởng: Nông
nghiệp và Môi trường, Công Thương, Xây dựng, Khoa học và Công nghệ, Tài chính;
Chủ tịch Ủy ban nhân dân và Trưởng ban Chỉ huy phòng thủ dân sự các tỉnh, thành
phố: Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Lào Cai, Tuyên Quang, Phú Thọ, Hà Nội, Bắc
Ninh, Hưng Yên, Ninh Bình, Hải Phòng; Cục trưởng Cục Khí tượng Thủy văn; Giám
đốc, Tổng giám đốc hoặc Thủ trưởng hoặc người đại diện theo pháp luật (sau đây
gọi chung là Giám đốc) của đơn vị quản lý, vận hành hồ: Sơn La, Hòa Bình, Thác
Bà, Tuyên Quang, Lai Châu, Bản Chát, Huội Quảng và Thủ trưởng các cơ quan, đơn
vị có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.
|
Nơi nhận:
- Thủ tướng, các Phó Thủ
tướng Chính phủ;
- Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia;
- Các Bộ: Nông nghiệp và
Môi trường, Công Thương,
Xây dựng, Tài chính, Quốc phòng, Công an,
Khoa học và Công nghệ,
Tư pháp, Văn hóa, Thể thao và
Du lịch;
- UBND, Ban Chỉ huy PTDS các tỉnh, thành
phố tại Điều 3;
- Cục Quản lý tài nguyên nước;
- Cục Quản lý đê điều và
Phòng, chống thiên tai;
- Cục Quản lý và Xây dựng
công trình thủy lợi;
- Cục Khí tượng Thủy văn;
- Cục Kỹ thuật an toàn và Môi trường công
nghiệp;
- Tập đoàn Điện lực Việt Nam;
- Công ty TNHH MTV Vận hành
hệ thống điện và thị
trường điện quốc gia;
- Các Công ty Thủy điện: Sơn La, Hòa
Bình, Tuyên Quang,
Huội Quảng - Bản Chát và Công ty cổ phần Thủy điện Thác Bà;
- VPCP: BTCN, các PCN, các Vụ,
Cục: CN, NC, CTTCP, Công báo;
- Lưu: VT, NN (2).
|
KT. THỦ
TƯỚNG
PHÓ THỦ TƯỚNG
Hồ Quốc Dũng
|
QUY TRÌNH
VẬN
HÀNH LIÊN HỒ CHỨA TRÊN LƯU VỰC SÔNG HỒNG
(Kèm theo Quyết định số 1928/QĐ-TTg ngày 05 tháng 10 năm 2026 của Thủ tướng Chính
phủ)
Chương I
QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Hằng năm, các hồ Sơn La, Hòa Bình, Thác Bà, Tuyên Quang,
Lai Châu, Bản Chát và Huội Quảng trên lưu vực sông Hồng phải vận hành theo
nguyên tắc thứ tự ưu tiên như sau:
1. Trong mùa lũ:
a) Đảm bảo an toàn công trình: đảm
bảo an toàn tuyệt đối cho các công trình
thủy điện, không được để mực
nước các hồ chứa vượt cao trình mực nước lớn nhất kiểm tra với mọi trận lũ nhỏ hơn
hoặc bằng lũ kiểm tra tần suất 0,01% đối với các
hồ Hòa
Bình và Thác Bà; mực nước lớn nhất
kiểm tra PMF đối với hồ Lai Châu, Sơn La và lũ
kiểm tra tần suất 0,02% đối với các hồ Tuyên Quang, Bản Chát và Huội Quảng;
b) Đảm bảo an toàn chống lũ cho hạ
du:
- Đảm bảo an toàn cho đồng bằng
Bắc Bộ với các trận lũ tại trạm thủy văn Sơn Tây có chu kỳ lặp lại nhỏ hơn
hoặc bằng 300 năm, giữ mực nước sông Hồng tại trạm thủy văn Hà Nội không vượt quá cao trình 13,1 m;
- Đảm bảo an toàn cho thủ đô Hà Nội với các trận lũ tại
trạm thủy văn Sơn Tây có chu kỳ lặp lại nhỏ hơn hoặc bằng 500 năm, giữ mực nước sông Hồng tại trạm
thủy văn Hà Nội không vượt quá cao trình
13,4 m;
c) Đảm bảo hiệu
quả phát điện: trên cơ sở đảm bảo an toàn
công trình và an toàn chống lũ cho hạ
du, an toàn cho các hoạt động sản xuất thiết yếu ở hạ du, điều hành để phát điện có hiệu quả cao
nhất.
2. Trong mùa cạn:
a) Đảm bảo an toàn công trình;
b) Đảm bảo an ninh
nguồn nước cấp cho sinh hoạt, các hoạt động sản xuất thiết yếu của nhân dân ở hạ du;
c) Đảm bảo dòng chảy tối thiểu
trên sông và nhu cầu sử dụng nước khác ở hạ du;
d) Đảm bảo hiệu
quả phát điện và góp phần đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia.
Điều 2. Thời gian vận hành mùa lũ và mùa cạn trong Quy trình này
được quy định như sau:
1. Thời gian vận hành mùa lũ từ ngày 15 tháng 6 đến
ngày 31 tháng 10, với các thời kỳ vận hành:
a) Từ ngày 15 tháng 6 đến
ngày 19 tháng 7;
b) Từ ngày 20 tháng 7 đến
ngày 31 tháng 8;
c) Từ ngày 01 tháng 9 đến
ngày 31 tháng 10.
2. Thời gian vận hành mùa cạn: từ ngày 01 tháng 11 đến
ngày 14 tháng 6 năm sau.
Điều 3. Trong thời gian làm nhiệm vụ đảm bảo an toàn chống lũ, việc
vận hành các công trình xả đáy và xả mặt phải thực hiện theo quy trình vận hành
công trình xả, nhằm đảm bảo ổn định cho hệ thống công trình đầu mối. Tùy theo
điều kiện kỹ thuật của thiết bị, cho phép đóng, mở linh hoạt các cửa xả đáy, xả
mặt tương ứng với lưu lượng đến hồ để điều tiết chống lũ.
Điều 4. Để giảm thiểu nguy cơ gây thiệt hại đến công trình đầu mối,
công trình đê điều, kết cấu hạ tầng, phương tiện giao thông thủy, sạt lở bờ
sông và ảnh hưởng đến sản xuất của nhân dân ở hạ du, quy định việc vận hành xả
lũ các hồ như sau:
1. Hồ Hòa Bình đóng, mở
lần lượt 6 cửa xả đáy đầu tiên, mỗi cửa cách nhau 6
giờ, các
cửa tiếp theo có thể đóng, mở nhanh hơn.
2. Hồ Tuyên Quang đóng, mở
lần lượt 4 cửa xả đáy đầu tiên, mỗi cửa cách nhau 6
giờ, các
cửa tiếp theo có thể đóng, mở nhanh hơn.
3. Đối với thời kỳ
xả hiệu chỉnh vào cuối mùa lũ, cho phép thời gian đóng, mở cửa xả đáy cuối cùng nhanh hơn,
tùy theo lưu lượng nước đến hồ.
4. Khi xả lũ khẩn
cấp đảm bảo an toàn công trình hoặc khi xuất hiện lũ bất thường, lũ đặc biệt lớn,
được phép đóng, mở cấp tốc các cửa xả, thời gian đóng,
mở các
cửa xả thực hiện theo quy định thao tác của thiết bị
trong quy trình vận hành hồ chứa.
Điều 5. Các chỉ tiêu kỹ thuật cơ bản của hệ thống hồ chứa
|
1. Hồ
Sơn La:
|
|
|
- Cao trình mực nước dâng bình thường:
|
215,00 m;
|
|
- Cao trình mực nước chết:
|
175,00 m;
|
|
- Cao trình mực nước lớn nhất thiết kế (P=0,01%):
|
217,83 m;
|
|
- Cao trình mực nước lớn nhất kiểm tra (PMF):
|
228,07 m;
|
|
- Dung tích ứng với cao trình mực nước dâng
bình thường:
|
9.260,00 triệu m3;
|
|
- Dung tích ứng với cao trình mực nước lớn nhất thiết kế:
|
9.893,92 triệu m3;
|
|
- Dung tích ứng với cao trình mực nước lớn nhất kiểm tra:
|
12.472,55 triệu m3;
|
|
- Dung tích hữu ích:
|
6.504,00 triệu m3.
|
|
2. Hồ Hòa Bình:
|
|
|
- Cao trình mực nước dâng bình thường:
|
117,00 m;
|
|
- Cao trình mực nước chết:
|
80,00 m;
|
|
- Cao trình mực nước lớn nhất kiểm tra (P=0,01%):
|
122,00 m;
|
|
- Dung tích ứng với cao trình mực nước dâng
bình thường:
|
9.862,00 triệu m3;
|
|
- Dung tích hữu ích:
|
6.062,00 triệu m3.
|
|
3. Hồ Thác Bà:
|
|
|
- Cao trình mực nước dâng bình thường:
|
58,00 m;
|
|
- Cao trình mực nước chết:
|
46,00 m;
|
|
- Cao trình mực nước lớn nhất kiểm tra (P=0,01%):
|
61,00 m;
|
|
- Dung tích ứng với cao trình mực nước dâng
bình thường:
|
2.940,00 triệu m3;
|
|
- Dung tích hữu ích:
|
2.160,00 triệu m3.
|
|
4. Hồ
Tuyên Quang:
|
|
|
- Cao trình mực nước dâng bình thường:
|
120,00 m;
|
|
- Cao trình mực nước chết:
|
90,00 m;
|
|
- Cao trình mực nước lũ kiểm tra (P=0,02%):
|
122,55 m;
|
|
- Dung tích ứng với cao trình mực nước lũ kiểm tra:
|
2.480,00 triệu m3;
|
|
- Dung tích ứng với cao trình mực nước dâng
bình thường:
|
2.260,00 triệu m3;
|
|
- Dung tích hữu ích:
|
1.699,00 triệu m3.
|
|
5. Hồ
Lai Châu:
|
|
|
- Cao trình mực nước dâng bình thường:
|
295,00 m;
|
|
- Cao trình mực nước chết:
|
265,00 m;
|
|
- Cao trình mực nước lũ thiết kế (P=0,01%):
|
297,68 m;
|
|
- Cao trình mực nước lũ kiểm tra (PMF):
|
303,00 m;
|
|
- Dung tích ứng với cao trình mực nước dâng
bình thường:
|
1.215,10 triệu m3;
|
|
- Dung tích hữu ích:
|
799,70 triệu
m3.
|
|
6. Hồ
Bản Chát:
|
|
|
- Cao trình mực nước dâng bình thường:
|
475,00 m;
|
|
- Cao trình mực nước chết:
|
431,00 m;
|
|
- Cao trình mực nước lũ thiết kế (P=0,1%):
|
477,31 m;
|
|
- Cao trình mực nước lũ kiểm tra (P=0,02%):
|
479,68 m;
|
|
- Dung tích ứng với cao trình mực nước dâng
bình thường:
|
2.137,70 triệu m3;
|
|
- Dung tích hữu ích:
|
1.702,40 triệu m3.
|
|
7. Hồ
Huội Quảng:
|
|
|
- Cao trình mực nước dâng bình thường:
|
370,00 m;
|
|
- Cao trình mực nước chết:
|
368,00 m;
|
|
- Cao trình mực nước lũ thiết kế (P=0,1%):
|
370,00 m;
|
|
- Cao trình mực nước lũ kiểm tra (P=0,02%):
|
371,77 m;
|
|
- Dung tích ứng với cao trình mực nước dâng
bình thường:
|
184,20 triệu
m3;
|
|
- Dung tích hữu ích:
|
16,30 triệu
m3.
|
Chương II
VẬN HÀNH CÁC HỒ CHỨA SƠN LA, HÒA BÌNH, THÁC BÀ, TUYÊN
QUANG, LAI CHÂU, BẢN CHÁT VÀ HUỘI QUẢNG TRONG MÙA LŨ
Điều 6. Vận hành trong thời kỳ từ ngày 15 tháng 6 đến ngày 19 tháng
7
1. Cao trình mực
nước cao nhất trước lũ của các hồ trong thời kỳ từ ngày 15 tháng 6 đến ngày 19 tháng 7 được
quy định trong Bảng 1.
Bảng 1.
|
Tên hồ
|
Sơn La
|
Hòa Bình
|
Tuyên Quang
|
Thác Bà
|
|
Cao trình mực nước (m)
|
200,0
|
105,0
|
105,2
|
56,0
|
2. Trước ngày 26 tháng 6, để
cắt lũ bảo vệ sản xuất và các công trình hạ tầng ở hạ du, việc vận hành các hồ quy
định như sau:
a) Hồ Hòa Bình xả xuống
hạ du với lưu lượng không lớn hơn 4.600 m3/s. Khi lưu lượng đến hồ
lớn hơn 4.600 m3/s, hồ Hòa Bình được sử dụng dung tích
hồ đến cao trình 107 m để cắt
lũ;
Khi mực nước hồ Hòa Bình đã đạt cao
trình 107 m mà dự báo lưu lượng về hồ vẫn lớn hơn 4.600 m3/s, thì hồ Sơn La được
sử dụng dung tích hồ đến cao trình 205 m để tham gia cắt lũ nhằm giữ mực nước hồ Hòa Bình không vượt
quá cao trình 107 m. Nếu dự báo trong 24 giờ tới mực nước hồ Hòa
Bình có thể vượt quá cao trình 107 m thì hồ Hòa Bình vận hành điều tiết để duy trì mực nước hiện tại của hồ;
b) Hồ Tuyên Quang xả xuống
hạ du với lưu lượng không lớn hơn 1.500 m3/s. Khi lưu lượng đến hồ
lớn hơn 1.500 m3/s, hồ được sử dụng dung tích đến cao trình 113 m để cắt
lũ. Khi mực nước hồ đã đạt cao trình 113 m mà dự báo trong 24 giờ tới lưu lượng về hồ vẫn lớn hơn 1.500 m3/s,
thì hồ
vận hành điều tiết để duy trì mực nước hiện tại của hồ;
c) Khi lưu lượng
đến các hồ giảm, đưa dần mực nước các
hồ về cao trình mực nước quy
định trong Bảng 1.
3. Vận hành chống lũ cho
hạ du từ ngày 26 tháng 6 đến ngày 19 tháng
7:
a) Bậc thang sông Đà:
- Khi dự báo mực nước tại
trạm thủy văn Hà Nội trong 24 giờ tới vượt quá
cao trình 10,5 m, hồ Sơn La được sử
dụng dung tích hồ đến cao trình 205 m để cắt lũ. Khi mực nước tại trạm thủy văn Hà Nội xuống dưới
cao trình 10,0 m, căn cứ bản tin dự báo của Cục Khí tượng Thủy văn, vận hành
điều tiết để đưa dần mực nước hồ về
cao trình mực nước quy định trong Bảng 1;
- Khi dự báo mực nước tại
trạm thủy văn Hà Nội trong 24 giờ tới vượt quá
cao trình 11,0 m, hồ Sơn La được sử
dụng tiếp dung tích hồ đến cao trình 206 m để cắt lũ, giữ mực nước tại trạm thủy văn Hà Nội không vượt quá cao trình 11,0 m. Khi mực nước tại trạm thủy văn Hà
Nội xuống dưới cao trình 10,5 m, căn cứ
bản tin dự báo của Cục Khí tượng Thủy văn, vận hành
điều tiết để đưa dần mực nước hồ về
cao trình mực nước quy định trong Bảng 1;
- Khi mực nước tại
trạm thủy văn Hà Nội vượt cao trình 11,0 m,
hồ Sơn La được sử dụng tiếp dung tích hồ đến cao trình 207 m, hồ Hòa Bình được sử
dụng dung tích hồ đến cao trình 107 m để điều tiết lũ. Khi mực nước tại trạm thủy văn Hà Nội xuống dưới
cao trình 10,5 m, căn cứ bản tin dự báo của Cục Khí tượng Thủy văn, vận hành
điều tiết để đưa dần mực nước các hồ về cao trình mực nước quy
định trong Bảng 1;
- Khi mực nước tại
trạm thủy văn Hà Nội vượt cao trình 11,5 m
và dự báo
còn tiếp tục lên, hồ Sơn La được
sử dụng tiếp dung tích hồ đến cao trình 208 m, hồ Hòa Bình được sử dụng dung tích
hồ đến cao trình 108 m để điều
tiết lũ. Khi mực nước tại trạm thủy văn Hà Nội xuống dưới cao trình
11,0 m, căn cứ bản tin dự báo của Cục Khí tượng Thủy văn,
vận hành điều tiết để đưa dần mực nước các
hồ về cao trình mực nước quy
định trong Bảng 1;
b) Hồ Tuyên Quang: khi dự báo mực nước sông Lô tại trạm
thủy văn Tuyên Quang trong 24 giờ tới vượt quá cao
trình 26 m và còn tiếp tục lên, được phép sử dụng dung tích hồ đến cao trình 113 m để cắt
lũ, giữ mực nước sông Lô tại trạm thủy văn Tuyên
Quang không vượt quá cao trình 27 m. Khi mực nước tại trạm thủy văn Tuyên Quang xuống dưới cao trình 26 m, vận hành điều tiết để
đưa dần mực nước hồ về cao trình mực nước quy định trong Bảng 1.
4. Từ ngày 15 tháng 6 đến
ngày 09 tháng 7, trong trường hợp không có
lũ và mực nước tại trạm thủy văn Hà Nội thấp hơn cao
trình 5,0 m, nếu không có cảnh báo hoặc dự báo có bão,
áp thấp nhiệt đới hoặc các hình thế thời
tiết khác có khả năng gây lũ ảnh hưởng trực tiếp đến lưu vực hồ chứa, các hồ được phép chủ động vận hành dâng mực nước
hồ cao hơn mức quy định tại Bảng 1 nhưng không
vượt quá
cao trình 202,3 m đối với hồ Sơn La,
106 m đối với hồ Hòa Bình và 107,3 m đối với hồ Tuyên
Quang;
Trường hợp Cục Khí tượng Thủy văn
cảnh báo hoặc dự báo có bão, áp thấp nhiệt đới hoặc có
các hình thế thời tiết khác có khả năng gây lũ mà trong vòng 05 ngày tới có nguy cơ ảnh hưởng trực tiếp đến lưu vực hồ chứa, Phó Trưởng ban Chỉ
đạo Phòng thủ dân sự quốc gia - Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường xem xét, quyết định vận
hành xả
nước để đưa dần mực nước các hồ về cao trình mực nước quy định trong Bảng 1;
Trong quá trình vận
hành xả
nước, nếu các hình thế thời tiết có khả năng gây lũ
không còn khả năng ảnh hưởng trực tiếp
đến lưu vực hồ chứa, Phó Trưởng ban Chỉ đạo Phòng
thủ dân
sự quốc gia - Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường xem xét, quyết định kết
thúc quá trình vận hành xả nước hạ mực nước hồ. Khi mực nước tại trạm thủy
văn Hà Nội thấp hơn cao trình 5,0m, các hồ được phép chủ động vận hành
dâng mực nước hồ nhưng không vượt quá cao trình 202,3 m đối với hồ Sơn La, 106 m đối với hồ Hòa
Bình và 107,3 m đối với hồ Tuyên Quang.
5. Từ ngày 10 tháng 7 đến
ngày 19 tháng 7, nếu các hồ không tham gia cắt lũ, đơn vị quản lý,
vận hành
hồ điều tiết hạ dần mực nước các hồ về cao trình mực nước quy
định trong Bảng 2.
Trong quá trình vận
hành hạ
mực nước, trường hợp không có lũ và mực nước tại trạm thủy văn Hà Nội thấp hơn cao
trình 5,0 m, tùy theo diễn biến của thời tiết, các
hồ được phép chủ động vận hành giữ mực nước
hồ cao hơn mức quy định tại Bảng 2 nhưng không
vượt quá
cao trình 199,3 m đối với hồ Sơn La,
102 m đối với hồ Hòa Bình và 107,3 m đối với hồ Tuyên
Quang.
6. Trong quá trình vận
hành theo Điều
này, khi xảy ra các tình huống bất thường, khẩn cấp thì thực hiện theo
quy định tại Điều 17 của Quy trình này.
Điều 7. Vận hành trong thời kỳ từ ngày 20 tháng 7 đến ngày 31 tháng
8
1. Cao trình mực
nước cao nhất trước lũ các hồ trong thời kỳ này
được quy định trong Bảng 2.
Bảng 2.
|
Tên hồ
|
Sơn La
|
Hòa Bình
|
Tuyên Quang
|
Thác Bà
|
|
Cao trình mực nước (m)
|
197,3
|
101,0
|
105,2
|
56,0
|
2. Các hồ trên bậc thang sông Đà:
a) Khi dự báo mực nước tại
trạm thủy văn Hà Nội vượt quá cao trình 10,5
m trong 24 giờ tới, hồ Sơn La được sử
dụng dung tích hồ đến cao trình 199,5 m để cắt lũ. Nếu dự báo
lũ sông Đà tiếp tục lên, thì hồ Sơn La
được sử dụng dung tích hồ đến cao trình 203 m để cắt lũ, giữ mực nước tại Hà Nội không vượt quá cao trình 11,0 m. Khi mực nước tại trạm thủy văn Hà
Nội xuống dưới cao trình 10,5 m, căn cứ
vào dự
báo của
Cục Khí tượng Thủy văn, vận hành điều tiết để đưa dần mực nước hồ về cao trình mực nước quy
định trong Bảng 2;
b) Khi dự báo mực nước tại
trạm thủy văn Hà Nội vượt quá cao trình 11,0
m trong 24 giờ tới, hồ Sơn La được sử
dụng dung tích hồ đến cao trình 203 m để cắt lũ trước hồ Hòa
Bình. Nếu dự báo lũ sông Đà tiếp
tục lên, hồ Sơn La được sử dụng dung tích
hồ đến cao trình 205 m, hồ Hòa Bình được sử
dụng dung tích hồ đến cao trình 106 m để cắt lũ giữ mực nước tại trạm thủy văn Hà Nội không vượt quá cao trình 11,5 m. Khi mực nước tại trạm thủy văn Hà
Nội xuống dưới cao trình 11,0 m, căn cứ
vào dự
báo của
Cục Khí tượng Thủy văn, vận hành điều tiết để đưa dần mực nước các hồ về cao trình mực nước quy
định trong Bảng 2;
c) Khi mực nước
tại trạm thủy văn Hà Nội vượt quá cao trình 11,5
m và dự báo sẽ tiếp tục
tăng trong 24 giờ tới, hồ Sơn La được sử dụng tiếp dung tích hồ đến cao trình 206 m để cắt
lũ trước hồ Hòa Bình. Nếu dự báo lũ sông Đà tiếp tục lên, Phó
Trưởng ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia -
Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường quyết định sử dụng tiếp dung tích hồ Sơn La đến
cao trình 208 m hoặc cao hơn, sử dụng tiếp dung tích hồ Hòa Bình đến cao trình 109 m hoặc cao
hơn để cắt lũ giữ mực nước tại trạm thủy văn Hà
Nội không
vượt quá
cao trình 13,1 m. Khi mực nước tại
trạm thủy văn Hà Nội xuống dưới cao trình
12,5 m, căn cứ vào dự báo của Cục Khí tượng Thủy văn,
vận hành điều tiết để đưa dần mực nước các
hồ về cao trình mực nước quy
định trong Bảng 2;
d) Khi mực nước
tại trạm thủy văn Hà Nội vượt quá cao trình 13,1
m và dự báo sẽ vượt quá cao trình 13,4 m trong 24 giờ tới, Phó Trưởng ban Chỉ đạo Phòng
thủ dân
sự quốc gia - Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường quyết
định sử dụng tiếp dung tích hồ Sơn La đến cao trình
217,2 m, sử dụng tiếp dung tích hồ Hòa Bình đến cao trình 117 m để cắt
lũ, giữ mực nước tại trạm thủy văn Hà Nội không vượt quá cao trình
13,4 m. Khi mực nước tại trạm thủy văn
Hà Nội
xuống dưới cao trình 13 m, căn cứ vào dự báo của Cục Khí tượng Thủy văn, vận hành
điều tiết để đưa dần mực nước các hồ về cao trình mực nước quy
định trong Bảng 2.
3. Hồ Tuyên Quang:
a) Khi dự báo lũ trên sông Đà, sông Thao nhỏ, mực nước tại trạm thủy văn Hà Nội không vượt quá cao trình 12,5 m và dự báo mực nước sông Lô tại trạm thủy văn Tuyên
Quang vượt quá cao trình 27 m trong 24 giờ tới, được phép sử dụng dung tích hồ đến cao trình
115 m để cắt lũ, giữ mực nước sông Lô tại trạm
thủy văn Tuyên Quang không vượt quá cao trình
27 m. Khi mực nước tại trạm thủy văn
Tuyên Quang xuống dưới cao trình 26 m, vận hành điều tiết để đưa dần mực nước hồ về cao trình mực nước quy
định trong Bảng 2;
b) Khi dự báo mực nước sông Hồng tại trạm
thủy văn Hà Nội vượt cao trình 12,5 m
trong 24 giờ tới và mực nước hồ Hòa Bình vượt cao
trình 109 m hoặc khi mực nước tại trạm thủy văn Hà Nội vượt cao trình 12,8 m, hồ Tuyên Quang bắt đầu
tham gia cắt lũ để cùng hồ Hòa Bình và Sơn La giữ mực nước sông Hồng tại trạm thủy văn Hà Nội không vượt quá cao trình 13,4 m, mực nước hồ không vượt quá cao trình
120 m. Khi mực nước tại trạm thủy văn
Hà Nội
xuống dưới cao trình 12,5 m, vận hành điều tiết để đưa dần mực nước hồ về cao trình mực nước quy
định trong Bảng 2.
4. Hồ Thác Bà:
Khi dự báo mực nước sông Hồng tại trạm
thủy văn Hà Nội vượt cao trình 12,5 m
trong 24 giờ tới, hồ Thác Bà bắt đầu tham
gia cắt lũ để cùng các hồ Hòa Bình, Sơn La và
Tuyên Quang giữ mực nước sông Hồng tại trạm
thủy văn Hà Nội không vượt quá cao trình
13,4 m, mực nước hồ không vượt quá cao trình 58 m. Khi mực nước tại trạm thủy văn Hà
Nội xuống dưới cao trình 12,5 m, vận hành điều tiết để
đưa dần mực nước hồ về cao trình mực nước quy định trong Bảng 2.
5. Khi các hồ Sơn
La, Hòa Bình, Thác Bà và Tuyên Quang đã sử dụng hết dung tích
chống lũ mà dự báo lũ còn tiếp tục
lên trong 24 giờ tới và mực nước tại trạm thủy văn Hà Nội có khả năng vượt
cao trình 13,4 m, Phó Trưởng ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia - Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường báo cáo Thủ tướng
Chính phủ - Trưởng ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia xem xét,
công bố tình trạng khẩn cấp
về thiên tai. Các hồ chứa chuẩn bị chuyển sang chế độ vận hành đảm bảo an toàn công trình. Trên đồng bằng sông Hồng, sông Thái Bình cần thực hiện ngay các
biện pháp
chống lũ lớn hơn lũ thiết kế cho hạ
du.
6. Trong trường
hợp không có lũ và mực nước tại trạm thủy văn Hà
Nội thấp hơn cao trình 5,0 m, tùy theo diễn biến của thời tiết, Phó
Trưởng ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia -
Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường xem xét, quyết định dâng mực nước các hồ chứa cao hơn mức quy định tại Bảng 2 nhưng không vượt quá cao trình 199,3 m đối với hồ Sơn La, 102 m đối với hồ Hòa
Bình và 107,3 m đối với hồ Tuyên Quang trên cơ sở
đề xuất bằng văn bản của đơn vị quản lý, vận hành hồ hoặc Tập đoàn Điện lực Việt Nam.
Trường hợp Cục Khí tượng Thủy văn
cảnh báo hoặc dự báo có bão, áp thấp nhiệt đới hoặc có
các hình thế thời tiết khác có khả năng gây lũ mà trong vòng 05 ngày tới có nguy cơ ảnh hưởng trực tiếp đến lưu vực hồ chứa, Phó Trưởng ban Chỉ
đạo Phòng thủ dân sự quốc gia - Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường xem xét, quyết định vận
hành xả
nước để đưa dần mực nước các hồ về cao trình mực nước quy định trong Bảng 2.
Trong quá trình vận
hành xả
nước, nếu các hình thế thời tiết có khả năng gây lũ
không còn khả năng ảnh hưởng trực tiếp
đến lưu vực hồ chứa, Phó Trưởng ban Chỉ đạo Phòng
thủ dân
sự quốc gia - Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường xem xét, quyết định vận
hành điều tiết duy trì mực nước hồ hoặc dâng
mực nước hồ nhưng không vượt quá cao trình 199,3 m đối với hồ Sơn La, 102 m đối với hồ Hòa
Bình và 107,3 m đối với hồ Tuyên Quang.
7. Từ ngày 10 tháng 8 đến
ngày 21 tháng 8, trường hợp Cục Khí tượng Thủy văn hoặc các
đơn vị liên quan nhận định
hoặc có thông tin dự báo, cảnh báo mùa lũ có
khả năng kết thúc sớm, không có khả năng
xuất hiện lũ lớn trên lưu vực hồ chứa, Phó
Trưởng ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia -
Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường xem xét, quyết định dâng dần mực nước các hồ Sơn La, Hòa
Bình, Thác Bà, Tuyên Quang nhưng không vượt quá cao trình mực nước quy định trong Bảng 3.
Trường hợp có cảnh báo, dự báo xuất hiện El
Nino, nguy cơ thiếu nước trên lưu vực sông, Phó Trưởng ban Chỉ đạo Phòng
thủ dân
sự quốc gia - Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường xem xét, quyết định dâng dần mực nước các hồ Sơn La, Hòa Bình, Thác Bà, Tuyên Quang sớm hơn quy định tại khoản này nhưng không vượt quá cao trình mực
nước quy định trong Bảng 3.
8. Từ ngày 22 tháng 8 đến
ngày 31 tháng 8, căn cứ nhận định xu thế khí tượng thủy văn của Cục Khí tượng
Thủy văn, các hồ được phép chủ động vận hành dâng dần mực nước hồ nhưng không
vượt quá cao trình mực nước quy định trong Bảng 3. Riêng hồ Sơn La, Phó Trưởng
ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia - Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường
xem xét, quyết định tích nước sớm hơn.
Bảng 3.
|
Tên hồ
|
Sơn La
|
Hòa Bình
|
Tuyên Quang
|
Thác Bà
|
|
Cao trình mực nước (m)
|
209,0
|
110,0
|
115,0
|
56,0
|
9. Trong quá trình vận
hành theo Điều
này, khi xảy ra các tình huống bất thường, khẩn cấp thì thực hiện theo
quy định tại Điều 17 của Quy trình này.
Điều 8. Vận hành trong thời kỳ từ ngày 01 tháng 9 đến ngày 31 tháng
10
1. Đối với hồ Sơn
La:
a) Từ ngày 01 tháng 9 đến
ngày 15 tháng 9, căn cứ nhận định xu thế khí tượng thủy văn của Cục Khí tượng Thủy văn,
hồ được phép chủ động tích dần đến mực nước 213 m.
Trong quá trình tích nước, nếu Cục Khí tượng Thủy văn cảnh báo
hoặc dự báo có bão, áp thấp
nhiệt đới hoặc có các hình thế thời tiết khác
có khả năng gây lũ mà trong vòng 05 ngày tới có nguy cơ ảnh hưởng trực tiếp đến lưu vực hồ chứa, Phó Trưởng ban Chỉ
đạo Phòng thủ dân sự quốc gia - Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường xem xét, quyết định
việc vận hành điều tiết để hạ dần mực nước hồ nhưng không thấp hơn giá trị mực nước quy
định tại Bảng 3;
b) Từ ngày 16 tháng 9 đến
ngày 31 tháng 10, hồ được phép chủ động tích dần nhưng không vượt quá cao trình mực nước dâng bình
thường;
c) Trong thời gian
tích nước,
được phép sử dụng dung tích hồ từ mực nước dâng
bình thường đến mực nước lớn nhất
thiết kế (217,83 m) để cắt lũ cho hạ du.
2. Đối với các hồ Hòa Bình, Thác Bà và Tuyên Quang:
a) Từ ngày 01 tháng 9 đến
ngày 15 tháng 9, căn cứ nhận định xu thế khí tượng thủy văn của Cục Khí tượng Thủy văn,
các hồ
được phép chủ động tích dần đến mực nước 115 m đối với hồ Hòa Bình, đến mực
nước 118 m đối với hồ Tuyên Quang và đến mực nước 57 m đối với hồ Thác Bà.
Trong quá trình tích nước, nếu Cục Khí tượng Thủy văn cảnh báo
hoặc dự báo có bão, áp thấp
nhiệt đới hoặc có các hình thế thời tiết khác
có khả năng gây lũ mà trong vòng 05 ngày tới có nguy cơ ảnh hưởng trực tiếp đến lưu vực hồ, các hồ, Phó Trưởng ban Chỉ
đạo Phòng thủ dân sự quốc gia - Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường xem xét, quyết định
việc vận hành điều tiết để hạ dần mực nước hồ, các hồ nhưng không thấp hơn giá trị mực nước quy
định tại Bảng 3.
Trong quá trình hồ
Hòa Bình, Thác Bà, Tuyên Quang vận hành điều tiết để hạ dần mực nước hồ mà xuất hiện lũ lớn
về hồ hoặc mực nước tại trạm thủy văn Hà Nội có nguy cơ vượt cao trình 10,5
m, Phó Trưởng ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia -
Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường xem xét, quyết định vận hành, điều tiết các hồ cắt, giảm lũ cho hạ du;
b) Từ ngày 16 tháng 9 đến
ngày 30 tháng 9, các hồ được chủ động tích dần đến cao trình
116 m đối với hồ Hòa Bình, 119 m đối
với hồ Tuyên Quang, 57 m đối với hồ Thác Bà.
Trong quá trình tích nước, trường hợp Cục Khí tượng Thủy văn cảnh báo
hoặc dự báo có bão, áp thấp
nhiệt đới hoặc có các hình thế thời tiết khác
có khả năng gây lũ mà trong vòng 05 ngày tới có nguy cơ ảnh hưởng trực tiếp đến lưu vực hồ chứa, nếu mực
nước hồ cao hơn cao trình 115 m đối với hồ Hòa
Bình, 118 m đối với hồ Tuyên Quang và 56 m đối
với hồ Thác Bà thì Phó Trưởng ban Chỉ đạo Phòng
thủ dân
sự quốc gia - Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường xem xét, quyết định việc
vận hành điều tiết để hạ dần mực nước hồ nhưng không thấp hơn giá trị mực nước 115
m đối với hồ Hòa Bình, 118 m đối với hồ Tuyên
Quang, 56 m đối với hồ Thác Bà để dành dung tích cắt,
giảm lũ cho hạ du.
Nếu mực nước hồ
thấp hơn cao trình 115 m đối với hồ Hòa
Bình, 118 m đối với hồ Tuyên Quang và 56 m đối
với hồ Thác Bà, các hồ vận hành duy trì mực nước hồ hiện tại để đón lũ.
Trường hợp Cục Khí tượng Thủy văn
hoặc các đơn vị liên quan nhận định hoặc có
thông tin dự báo, cảnh báo không còn khả
năng xuất hiện lũ lớn trên lưu vực hồ chứa hoặc trường hợp có cảnh báo, dự báo nguy cơ thiếu
nước trên lưu vực, trên cơ sở đề nghị của Tập đoàn
Điện lực Việt nam hoặc đơn vị quản lý, vận hành hồ, Phó Trưởng ban Chỉ
đạo Phòng thủ dân sự quốc gia - Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường xem xét, quyết định tích nước các hồ Hòa Bình, Thác Bà và Tuyên Quang sớm hơn quy định tại điểm c khoản 2 Điều này nhưng không vượt
quá cao trình mực nước dâng bình thường;
c) Từ ngày 01 tháng 10 đến
ngày 31 tháng 10, các hồ Hòa Bình, Thác Bà và
Tuyên Quang được chủ động tích dần nhưng không vượt quá cao trình mực
nước dâng bình thường.
Trong quá trình tích nước, trường hợp Cục Khí tượng Thủy văn cảnh báo
hoặc dự báo có bão, áp thấp
nhiệt đới hoặc có các hình thế thời tiết khác
có khả năng gây lũ mà trong vòng 05 ngày tới có nguy cơ ảnh hưởng trực tiếp đến lưu vực hồ chứa, nếu mực
nước hồ cao hơn cao trình 116 m đối với hồ Hòa
Bình, 118 m đối với hồ Tuyên Quang và 56 m đối
với hồ Thác Bà thì Phó Trưởng ban Chỉ đạo Phòng
thủ dân
sự quốc gia - Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường xem xét, quyết định
việc vận hành điều tiết để hạ dần mực nước các
hồ nhưng không thấp hơn giá trị mực nước 116
m đối với hồ Hòa Bình, 118 m đối với hồ Tuyên
Quang, 56 m đối với hồ Thác Bà để dành dung tích cắt,
giảm lũ cho hạ du.
Nếu mực nước hồ
thấp hơn cao trình 116 m đối với hồ Hòa
Bình, 118 m đối với hồ Tuyên Quang và 56 m đối
với hồ Thác Bà, các hồ vận hành duy trì mực nước hồ hiện tại để đón lũ;
d) Khi các hồ Hòa Bình, Thác Bà, Tuyên Quang đã tích đến mực nước dâng
bình thường mà lưu lượng đến hồ
vẫn tiếp tục tăng thì được phép xả xuống hạ du tương đương lưu lượng đến hồ.
Trong quá trình vận
hành mà xuất hiện các tình huống quy định tại Điều 10 của Quy
trình này thì chuyển sang chế độ vận hành đảm bảo an toàn
công trình.
3. Vận hành các hồ đảm bảo
cấp nước cho hạ du trong thời gian từ ngày 16
tháng 9 đến ngày 31 tháng 10:
Trong thời gian các hồ không thực hiện chế
độ vận hành cắt, giảm lũ cho hạ du và vận hành đảm bảo an toàn
công trình theo quy định của Quy trình
này, đơn vị quản lý, vận hành hồ được chủ động vận hành phát điện nhưng phải đảm
bảo yêu cầu về mực nước theo quy định và phải thực hiện
vận hành hằng ngày để bảo đảm yêu cầu sử dụng nước ở hạ du như sau:
a) Hồ Hòa Bình vận hành xả nước liên tục về hạ du
với lưu lượng không nhỏ hơn 214 m3/s;
b) Hồ Tuyên Quang vận hành xả nước không ít hơn 12 giờ/ngày với lưu lượng
không nhỏ hơn 94 m3/s, trừ các ngày
Thứ 7, Chủ nhật và các ngày nghỉ
lễ, tết theo quy định;
c) Hồ Thác Bà vận hành xả nước không ít hơn 12 giờ/ngày với lưu lượng
không nhỏ hơn 61 m3/s, trừ các ngày
Thứ 7, Chủ nhật và các ngày nghỉ
lễ, tết theo quy định.
4. Trường hợp có cảnh báo, dự báo xuất hiện El
Nino, nguy cơ thiếu nước trên lưu vực sông, Phó Trưởng ban Chỉ đạo Phòng
thủ dân
sự quốc gia - Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường xem xét, quyết định dâng dần mực nước các hồ Sơn La, Hòa Bình, Thác Bà, Tuyên Quang sớm hơn quy định tại Điều này
nhưng không vượt quá cao trình mực
nước dâng bình thường.
5. Trong quá trình vận
hành theo Điều
này, khi xảy ra các tình huống bất thường, khẩn cấp thì thực hiện theo
quy định tại Điều 17 của Quy trình này.
Điều 9. Vận hành đối với các hồ Lai Châu, Bản Chát và Huội Quảng
1. Trong quá trình các hồ Sơn La, Hòa Bình vận hành cắt lũ cho hạ du, Giám
đốc đơn vị quản lý, vận hành các hồ Lai Châu, Bản Chát và Huội Quảng
phải vận hành bảo đảm lưu lượng xả không
lớn hơn lưu lượng đến hồ, đồng thời
phải bảo đảm mực nước hồ không vượt mực nước dâng
bình thường. Khi mực nước hồ đạt đến
mực nước dâng bình thường, vận hành điều tiết các hồ với lưu lượng xả tương đương lưu lượng đến hồ.
Khi mực nước hồ
đạt đến mực nước dâng bình thường mà lũ đến hồ còn tiếp tục tăng và có
khả năng ảnh hưởng đến an toàn của công trình, thực
hiện chế độ vận hành đảm bảo an toàn công trình
theo Quy trình vận hành của hồ được
cấp có thẩm quyền ban hành.
2. Hồ Huội Quảng
vận hành xả nước liên tục ngay sau đập với lưu lượng không nhỏ hơn 5 m3/s.
Điều 10. Vận hành đảm bảo an toàn công trình
1. Việc vận hành đảm bảo an toàn công trình do Giám đốc đơn vị quản lý, vận hành hồ quyết định và phải tuân thủ chặt chẽ các quy
trình kỹ thuật của thiết bị, công trình xây dựng
và quy trình vận hành hồ chứa được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt. Trong
thời gian lũ lên, việc mở các cửa xả của các hồ phải tiến hành lần lượt để tổng lưu lượng xả xuống hạ du tương
đương tổng lưu lượng đến hồ cộng trừ sai số cho phép là lưu lượng xả
của một cửa xả đáy hoặc sai số cho phép là ±10%
tổng lưu lượng xả đối với hồ không có cửa xả đáy.
Trong quá trình vận
hành công trình nếu phát hiện có nguy cơ xảy ra sự cố công
trình đầu mối thì Giám đốc đơn vị
quản lý, vận hành các hồ: Sơn La, Hòa
Bình, Tuyên Quang, Lai Châu, Bản Chát, Huội Quảng có trách nhiệm báo cáo sự cố, đề
xuất phương án khắc phục với Tập đoàn Điện lực Việt Nam, Bộ Công Thương để chỉ đạo xử lý, khắc phục sự
cố; riêng đối với hồ Thác Bà, Giám đốc đơn vị quản lý,
vận hành
hồ báo
cáo Bộ Công Thương để chỉ đạo xử lý, khắc phục sự
cố. Đồng thời báo cáo ngay tới Phó Trưởng ban Chỉ đạo Phòng
thủ dân
sự quốc gia - Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường để
chỉ đạo công tác phòng, chống lũ cho hạ du;
Trường hợp sự cố công trình vượt quá khả năng ứng phó, Bộ trưởng Bộ Công Thương phải báo cáo Thủ tướng
Chính phủ và Trưởng ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia để chỉ đạo thực hiện.
2. Vận hành đảm bảo an toàn công trình thủy
điện Sơn La:
a) Khi mực nước hồ
Sơn La đã ở cao trình 217,2 m mà dự báo lũ sông Đà
tiếp tục lên, mực nước hồ có thể vượt cao trình 217,5 m, trong trường hợp không tham gia cắt lũ cho hạ du thì
bắt đầu chế độ vận hành đảm bảo an toàn công trình: mở
dần hoặc mở liên tiếp các cửa xả đáy, xả mặt, các cửa lấy nước để khi mực nước hồ đạt cao trình 217,5 m, toàn bộ
các cửa
xả đáy, xả mặt, các cửa lấy nước vào
tuabin đã được mở hết;
b) Khi lưu lượng
nước đến hồ bắt đầu giảm, thì tùy theo mực nước ở hồ Sơn La mà đóng dần các cửa xả mặt để
hạn chế lưu lượng xả nhằm đảm bảo an toàn cho
đập Hòa
Bình.
3. Vận hành đảm bảo an toàn công trình thủy
điện Hòa Bình:
a) Khi mực nước hồ
Hòa Bình đã ở cao trình 117 m mà dự báo lũ đến hồ tiếp tục tăng, mực nước hồ có thể vượt cao trình 117,3 m, thì bắt
đầu chế độ vận hành đảm bảo an toàn công trình:
mở dần hoặc mở liên tiếp các cửa xả đáy, xả mặt để khi
mực nước hồ đạt cao trình 117,3 m, toàn bộ các cửa xả đáy, xả mặt, các cửa lấy nước vào
tuabin đã được mở hết;
b) Trong trường
hợp hồ Sơn La có nguy cơ xảy ra sự cố, hồ Hòa
Bình cần được nhanh chóng xả lũ để đưa
mực nước hồ về dưới cao trình 110 m và phải báo cáo ngay tới Phó Trưởng ban Chỉ đạo Phòng
thủ dân
sự quốc gia - Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường và tuân thủ theo
quy định tại điểm c khoản 5 Điều 24 của Quy trình này.
4. Vận hành đảm bảo an toàn công trình thủy
điện Tuyên Quang:
a) Khi mực nước hồ
Tuyên Quang đã ở cao trình 119 m mà dự báo lưu lượng lũ về hồ tiếp tục tăng, dự kiến mực nước hồ có khả năng vượt quá cao trình 120 m trong 06 giờ tới thì Giám đốc Công ty Thủy điện Tuyên
Quang quyết định vận hành đảm bảo an toàn công trình và chịu
trách nhiệm về quyết định của mình,
đồng thời báo cáo đến Ban Chỉ
đạo Phòng thủ dân sự quốc gia.
Trường hợp nhận
được chỉ đạo hoặc lệnh vận hành của Phó Trưởng ban Chỉ đạo Phòng
thủ dân
sự quốc gia - Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường thì thực hiện theo
chỉ đạo hoặc lệnh vận hành;
b) Khi mực nước hồ
Tuyên Quang đã ở cao trình 120 m mà dự báo lũ sông Gâm
tiếp tục lên, mực nước hồ có thể vượt cao trình 120,5 m, thì bắt
đầu chế độ vận hành đảm bảo an toàn công trình:
mở dần hoặc mở liên tiếp các cửa xả đáy, xả mặt, các cửa lấy nước để
khi mực nước hồ đạt cao trình 120,5 m, toàn bộ các cửa xả đáy, xả mặt và các cửa lấy nước vào
tuabin đã được mở hết.
5. Vận hành đảm bảo an toàn công trình thủy
điện Thác Bà: khi mực nước hồ Thác Bà đã ở cao trình 58 m
mà dự báo
lũ sông Chảy tiếp tục lên, mực nước hồ có thể vượt cao trình 59,6 m, bắt
đầu chế độ vận hành đảm bảo an toàn công trình:
mở dần các cửa đập tràn, các cửa lấy
nước vào tuabin để khi mực nước hồ đạt cao trình
59,6 m, toàn bộ các cửa xả của tràn và các cửa lấy
nước vào tuabin đã được mở hết.
6. Vận hành đảm bảo an toàn công trình thủy
điện Sơn La và Hòa Bình trong trường hợp cả hai hồ hết khả năng cắt lũ cho hạ du:
a) Khi mực nước hồ
Sơn La đã ở cao trình 217,2 m, hồ Hòa Bình ở cao trình 117 m
mà dự báo
lũ sông Đà tiếp tục lên, mực nước hồ
Sơn La có thể vượt cao trình 217,5 m,
mực nước hồ Hòa Bình có thể
vượt cao trình 117,3 m thì bắt đầu chế độ vận hành
đồng thời các hồ Sơn La và Hòa Bình đảm bảo
an toàn công trình: mở dần hoặc mở liên tiếp các cửa xả đáy, xả mặt để khi mực nước hồ Sơn La đạt cao trình 217,5 m, hồ Hòa Bình đạt cao trình 117,3 m, toàn bộ
các cửa
xả đáy, xả mặt và các cửa lấy nước vào
tuabin đã được mở hết;
b) Khi các cửa xả
đáy và xả mặt của hồ Sơn La đã mở hết, tùy theo mực nước hồ Hòa
Bình mà đóng dần các cửa xả mặt của
hồ Sơn La để đảm bảo an toàn cho hồ Hòa Bình như
sau:
- Khi mực nước hồ
Hòa Bình vượt cao trình 120,5 m, đóng
một cửa xả mặt của hồ Sơn La;
- Khi mực nước hồ
Hòa Bình vượt cao trình 121,0 m, đóng
tiếp một cửa xả mặt của hồ Sơn La;
- Khi mực nước hồ
Hòa Bình vượt cao trình 121,5 m, vận hành các cửa xả mặt của hồ Sơn La để giữ mực nước hồ Hòa Bình không vượt
cao trình 122,0 m và mực nước hồ Sơn La không vượt cao trình
228,07 m.
7. Trong quá trình vận
hành theo Điều
này, khi xảy ra các tình huống bất thường, khẩn cấp thì thực hiện theo
quy định tại Điều 17 của Quy trình này.
Chương III
VẬN HÀNH CÁC HỒ CHỨA SƠN LA, HÒA BÌNH, THÁC BÀ, TUYÊN
QUANG, LAI CHÂU, BẢN CHÁT VÀ HUỘI QUẢNG TRONG MÙA CẠN
Điều 11. Nguyên tắc vận hành trong mùa cạn
1. Các hồ Hòa Bình, Thác Bà, Tuyên Quang phối hợp vận hành nhằm đảm bảo duy trì
mực nước tại trạm thủy văn Hà Nội không thấp hơn 1,6 m
trong các đợt xả nước gia tăng.
2. Các hồ Sơn La,
Lai Châu, Bản Chát và Huội Quảng phối hợp vận hành xả nước bổ
sung cho hồ Hòa Bình.
3. Trong thời gian
vận hành các hồ chứa, căn cứ vào mực nước hồ hiện tại và dự báo dòng chảy đến
hồ trung bình 10 ngày tới để điều chỉnh vận hành
sao cho mực nước hồ không nhỏ hơn giá trị tại các thời điểm quy
định trong Phụ lục III của Quy trình này.
4. Việc vận hành các hồ chứa
phải căn cứ vào kịch bản nguồn nước trên
lưu vực sông Hồng - Thái Bình do Bộ
trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường công bố để đảm bảo an ninh nguồn nước cấp cho sinh hoạt,
nhu cầu sử dụng nước tối thiểu ở hạ du và góp phần đảm bảo an ninh năng lượng, an toàn hệ thống điện
quốc gia.
Điều 12. Các thời kỳ vận hành hồ chứa trong mùa cạn
1. Thời kỳ sử dụng
nước gia tăng: các hồ phải vận hành tăng lượng nước xả về hạ du để phục vụ sản xuất vụ Đông Xuân, số đợt
xả nước tối đa không quá 03 đợt, tổng số ngày xả nước không quá
18 ngày. Thời gian xả nước cụ thể từng
đợt được xác định trên cơ sở lịch gieo cấy vụ Đông
Xuân và kế hoạch lấy nước từng đợt do
Bộ Nông nghiệp và Môi trường quyết định.
2. Thời kỳ sử dụng
nước bình thường: bao gồm thời gian còn
lại của mùa cạn.
Điều 13. Vận hành các hồ Hòa Bình, Thác Bà và Tuyên Quang trong thời
kỳ sử dụng nước gia tăng
1. Các hồ Thác Bà và Tuyên Quang vận hành xả nước với lưu lượng trung bình ngày không nhỏ
hơn:
a) 280 m3/s đối với hồ Thác Bà;
b) 500 m3/s đối với hồ Tuyên Quang.
2. Hồ Hòa Bình: căn cứ vào mực nước tại
trạm thủy văn Hà Nội, vận hành điều tiết hồ nhằm bảo đảm duy trì liên tục mực
nước tại trạm thủy văn Hà Nội không thấp hơn 1,6 m, trừ ngày
đầu tiên
của mỗi đợt xả nước.
Điều 14. Vận hành các hồ Hòa Bình, Thác Bà và Tuyên Quang trong thời
kỳ sử dụng nước bình thường
1. Hồ Thác Bà:
a) Trong khoảng
thời gian từ ngày 01 tháng 11 đến ngày 31 tháng 5
(trừ các
đợt xả nước trong thời kỳ sử dụng nước
gia tăng), hằng ngày vận hành xả nước không ít
hơn 12 giờ/ngày với lưu lượng
không nhỏ hơn 61 m3/s, trừ các ngày
Thứ 7, Chủ nhật và các ngày nghỉ
lễ, tết theo quy định;
b) Trong khoảng
thời gian từ ngày 01 tháng 6 đến ngày 14 tháng
6, hồ được phép chủ động vận hành.
2. Hồ Tuyên Quang:
a) Trong khoảng
thời gian từ ngày 01 tháng 11 đến ngày 31 tháng 5
(trừ các
đợt xả nước trong thời kỳ sử dụng nước
gia tăng), hằng ngày vận hành hồ như sau:
- Trường hợp mực
nước trung bình ngày hôm trước tại trạm thủy văn Tuyên Quang cao hơn 14 m hồ được phép chủ động vận hành;
- Trường hợp mực
nước trung bình ngày hôm trước tại trạm thủy văn Tuyên Quang thấp hơn
14 m, vận hành xả nước không ít hơn 12 giờ/ngày với lưu lượng không
nhỏ hơn 94 m3/s, trừ các ngày Thứ 7, Chủ
nhật và các ngày nghỉ lễ, tết theo quy định;
b) Trong khoảng
thời gian từ ngày 01 tháng 6 đến ngày 14 tháng
6, hồ được phép chủ động vận hành.
3. Hồ Hòa Bình:
a) Trong khoảng
thời gian từ ngày 01 tháng 11 đến ngày 31 tháng 5
(trừ các
đợt xả nước trong thời kỳ sử dụng nước
gia tăng), hằng ngày vận hành xả nước liên tục về hạ du với lưu lượng không nhỏ hơn 214 m3/s
và phải
bảo đảm lưu lượng xả trung bình ngày không nhỏ hơn:
- 600 m3/s đối với tháng 11;
- 700 m3/s đối với tháng 12 và tháng
01;
- 800 m3/s đối với tháng 02 và tháng
4;
- 600 m3/s đối với tháng 3 và tháng 5;
b) Trong khoảng
thời gian từ ngày 01 tháng 6 đến ngày 14 tháng 6,
vận hành
xả nước liên tục về hạ du
với lưu lượng không nhỏ hơn 214 m3/s;
c) Trong quá trình vận
hành theo quy định tại điểm a khoản này,
nếu mực nước trung bình ngày “hôm kia” tại
trạm thủy văn Hà Nội lớn hơn hoặc bằng 1,4 m, hồ được phép chủ động vận hành giảm lưu lượng
xả nhưng phải đảm bảo xả nước liên tục với lưu lượng không
nhỏ hơn 214 m3/s. Trường
hợp mực nước trung bình ngày “hôm kia” tại trạm thủy văn Hà
Nội xuống dưới 1,4 m, phải vận hành xả nước với
lưu lượng quy định tại điểm a khoản này;
d) Vào các ngày Thứ
7, Chủ nhật và các ngày nghỉ lễ, tết theo quy định, hồ được phép vận hành giảm lưu lượng
xả, nhưng phải bảo đảm xả nước liên tục với lưu lượng không
nhỏ hơn 214 m3/s.
Điều 15. Vận hành các hồ Sơn La, Lai Châu, Bản Chát và Huội Quảng
trong mùa cạn
1. Hồ Sơn La:
a) Trường hợp mực
nước hồ Hòa Bình cao hơn mực nước quy định trong Phụ lục III, hồ được phép chủ động vận hành;
b) Trường hợp mực
nước hồ Hòa Bình thấp hơn mực nước quy định trong Phụ lục III, phối hợp vận hành bổ sung nước
cho hồ Hòa Bình nhằm đảm bảo mực nước hồ Hòa
Bình không thấp hơn Phụ lục III tại
thời điểm tiếp theo.
2. Các hồ Lai Châu, Bản Chát và Huội Quảng:
trong quá trình vận hành phối hợp, điều tiết bổ sung nước cho hồ Sơn La.
3. Hồ Huội Quảng:
vận hành xả nước liên tục ngay sau đập với lưu lượng không nhỏ hơn 5 m3/s.
Điều 16. Vận hành bảo đảm nguồn nước của các hồ trong mùa cạn
1. Trong quá trình vận
hành các hồ Hòa Bình, Thác Bà và
Tuyên Quang theo quy định tại Điều 13, Điều 14 của Quy trình này, bảo đảm mực nước
hồ không nhỏ hơn giá trị tại các thời điểm quy định trong Phụ lục III của Quy trình
này.
2. Trường hợp không bảo đảm giá trị mực nước hồ
tại thời điểm tương ứng quy định trong Phụ lục III, căn cứ tình hình thực tế,
lưu lượng đến hồ, mực nước hồ, yêu cầu nước ở hạ du và
phương án đề xuất của đơn vị quản lý, vận hành hồ, Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ
trì, phối
hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan xem
xét, quyết định việc điều chỉnh lưu
lượng, thời gian vận hành hồ cho phù hợp.
3. Trong trường
hợp vào đầu mùa cạn mà mực nước các hồ không đạt giá trị quy định trong Phụ lục III, Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ
trì phối
hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan xem
xét, quyết định điều chỉnh lưu lượng,
thời gian vận hành các hồ nhằm đưa mực nước hồ đạt giá trị theo quy định trong Phụ
lục III.
4. Việc vận hành các hồ chứa
phải căn cứ vào kịch bản nguồn nước trên
lưu vực sông Hồng do Bộ
trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường công bố để đảm bảo an ninh nguồn nước cấp cho sinh hoạt,
nhu cầu sử dụng nước tối thiểu ở hạ du và góp phần đảm bảo an ninh năng lượng, an toàn hệ thống điện
quốc gia.
Chương IV
VẬN HÀNH CÁC HỒ CHỨA SƠN LA, HÒA BÌNH, THÁC BÀ, TUYÊN
QUANG, LAI CHÂU, BẢN CHÁT VÀ HUỘI QUẢNG TRONG TÌNH HUỐNG BẤT THƯỜNG, KHẨN CẤP
Điều 17. Vận hành trong các tình huống bất thường, khẩn cấp trong
thời gian mùa lũ
1. Trong thời gian
vận hành mùa lũ, Phó Trưởng ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia - Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường xem xét, quyết định vận
hành hồ
hoặc đề xuất Thủ tướng Chính phủ quyết định giải pháp
ứng phó
tình trạng khẩn cấp về thiên tai theo quy định
của pháp luật về phòng chống thiên tai,
pháp luật về tình trạng khẩn cấp
khi xảy ra một trong các trường hợp sau:
a) Các hồ Sơn La,
Hòa Bình, Thác Bà và Tuyên Quang đã hết khả năng cắt lũ mà
mực nước sông Hồng tại trạm
thủy văn Hà Nội vẫn tiếp tục lên nhanh;
b) Có nguy cơ xảy
ra sự cố nghiêm trọng đối với hệ thống đê điều;
c) Nhận định có khả năng xuất
hiện trận lũ lớn hơn lũ 500 năm xuất hiện một lần tại trạm thủy văn Sơn Tây, nhưng nhỏ hơn
lũ thiết kế công trình hồ Sơn La (tương ứng chu kỳ lặp lại 10.000 năm);
d) Xảy ra các tình huống khẩn
cấp về thiên tai;
đ) Xảy ra các tình huống ngoài dự kiến quy
định tại Quy trình này đe dọa đến an toàn đập, hồ chứa nước, đê
điều, công
trình hạ tầng, hoạt động sản xuất quan
trọng, thiết yếu ở hạ du.
2. Khi Cục Khí tượng Thủy văn
nhận định có khả năng xảy ra lũ lớn, lũ đặc biệt lớn hoặc các tình huống bất
thường khác có nguy cơ ảnh hưởng lớn đến an toàn
đập, hồ chứa nước, đê điều, công trình hạ tầng
hoặc đe dọa đến an toàn hạ du thì Phó Trưởng ban Chỉ đạo Phòng
thủ dân
sự quốc gia - Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường xem xét, quyết định
việc hạ mực nước hồ, các hồ xuống thấp hơn giá
trị mực nước quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 8 tương ứng với từng thời kỳ vận hành mùa lũ.
Trong quá trình tham gia cắt lũ cho hạ du, các hồ Hòa Bình, Thác
Bà, Tuyên Quang được phép sử dụng dung tích đến cao trình mực nước dâng bình thường.
Trong thời kỳ từ
ngày 01 tháng 9 đến ngày 31 tháng 10, việc quyết định hạ mực nước hồ, các hồ phải xem xét đến khả năng tích nước vào cuối mùa lũ của hồ, các hồ để đảm bảo
cấp nước cho hạ du trong mùa cạn năm tiếp theo.
3. Trong thời kỳ
vận hành từ ngày 15 tháng 6 đến ngày 19 tháng
7, khi mực nước tại trạm thủy văn Hà Nội chưa vượt quá cao trình 11,0 m, trong trường hợp cần thiết, Phó Trưởng ban Chỉ đạo Phòng
thủ dân
sự quốc gia - Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường xem xét, quyết định
việc huy động dung tích phòng lũ của hồ Hòa Bình để tham gia cắt, giảm lũ trên cơ sở diễn biến
mưa lũ, nguy cơ xảy ra sự cố đe dọa đến an toàn
đê điều, công trình hạ tầng,
hoạt động sản xuất quan trọng, thiết yếu ở hạ du.
4. Khi Cục Khí tượng Thủy văn
dự báo, cảnh báo có khả năng xảy ra lũ lớn, lũ đặc biệt lớn xuất hiện trên nhánh sông Lô - Gâm mà mực nước tại trạm thủy văn Hà
Nội thấp hơn 9 m thì Phó Trưởng ban
Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia - Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường xem xét, quyết định hạ
mực nước hồ Tuyên Quang xuống thấp hơn giá
trị mực nước quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 8 tương ứng với từng thời kỳ vận hành mùa lũ nhưng phải
đảm bảo mực nước tại trạm thủy văn Hà Nội không vượt quá 9,5 m.
Trong quá trình vận
hành, khi dự báo mực nước tại trạm thủy văn Tuyên Quang trong 24 giờ
tới có khả năng vượt quá cao trình
25 m thì Phó Trưởng ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia -
Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường xem xét, quyết định sử dụng dung tích của hồ Tuyên Quang để cắt lũ
cho hạ du.
5. Trong quá trình vận
hành theo Điều
này, tùy theo diễn biến của thời tiết và tình hình thực tế,
Phó Trưởng
ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia - Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường xem xét, quyết định sử
dụng dung tích hồ Sơn La từ mực nước dâng
bình thường đến mực nước lớn nhất
thiết kế để cắt lũ cho hạ du nhưng phải đảm bảo an toàn công trình.
Trường hợp cần
phải huy động một phần dung tích hồ Sơn La từ cao trình
mực nước lớn nhất thiết kế đến mực
nước lớn nhất kiểm tra để cắt lũ cho hạ du, Phó
Trưởng ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia -
Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường báo cáo Thủ tướng Chính phủ - Trưởng ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia xem
xét, quyết định.
6. Khi xảy ra hạn
hán, thiếu nước hoặc khi kịch bản nguồn nước công
bố nguồn nước trên lưu vực ở trạng
thái thiếu nước hoặc thiếu nước nghiêm trọng hoặc có yêu cầu các hồ vận hành bảo đảm an ninh nguồn nước cấp cho sinh hoạt hoặc góp phần đảm bảo an
ninh năng lượng quốc gia, Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp với các cơ
quan, đơn vị liên quan xem xét, quyết
định chế độ vận hành hồ cho phù hợp.
Điều 18. Vận hành trong các tình huống bất thường, khẩn cấp trong
thời gian mùa cạn
1. Trong thời gian
mùa cạn
quy định tại Điều 2 của Quy trình này, Phó Trưởng ban
Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia - Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường xem xét, quyết định
việc vận hành các hồ Sơn La, Hòa Bình, Thác
Bà, Tuyên Quang khi xuất hiện một
trong các trường hợp bất thường sau đây:
a) Có nguy cơ xảy
ra lũ, ngập lụt ở hạ du với rủi ro thiên tai từ cấp độ 2 trở lên
theo quy định về cấp độ rủi ro thiên tai;
b) Có khả năng
xuất hiện lũ trên một hoặc nhiều lưu vực hồ chứa;
c) Xuất hiện sự cố
trong quá trình vận hành các hạng mục đảm bảo an toàn công trình;
d) Xuất hiện sự cố
đê điều
hoặc có nguy cơ đe dọa đến an toàn của đê điều, công trình thủy lợi, kết cấu hạ tầng ở hạ du;
đ) Các tình huống
khác có nguy cơ đe dọa đến an toàn khu vực hạ du do Phó
Trưởng ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia -
Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường xem xét, quyết định;
e) Việc xem xét, quyết định các phương án vận hành các hồ trong các trường hợp quy
định tại các điểm a, b, c, d, đ khoản này để cắt, giảm lũ cho hạ du phải đảm bảo an toàn công trình.
2. Khi xảy ra hạn
hán, thiếu nước hoặc khi kịch bản nguồn nước công
bố nguồn nước trên lưu vực ở trạng
thái thiếu nước hoặc thiếu nước nghiêm trọng hoặc có yêu cầu các hồ vận hành bảo đảm an ninh nguồn nước cấp cho sinh hoạt hoặc góp phần đảm bảo an
ninh năng lượng quốc gia, Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp với các cơ
quan, đơn vị liên quan xem xét, quyết
định chế độ vận hành hồ cho phù hợp.
3. Trong quá trình vận
hành theo quy định tại Điều này, khi xảy ra các tình huống quy định tại Điều 17 thì thực hiện theo
quy định tại Điều 17 của Quy trình này.
Chương V
QUY ĐỊNH TRÁCH NHIỆM, TỔ CHỨC VẬN HÀNH CÁC HỒ CHỨA VÀ CUNG
CẤP THÔNG TIN, BÁO CÁO
Điều 19. Trách nhiệm của Trưởng ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc
gia
Chỉ đạo thực hiện
các biện
pháp ứng
phó trong trường hợp có tính chất quan trọng, cấp bách
theo quy định của pháp luật về phòng chống thiên tai, pháp luật
về thủy lợi và pháp luật về tình trạng khẩn cấp.
Điều 20. Trách nhiệm của Phó Trưởng ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự
quốc gia - Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường
1. Trong mùa lũ:
a) Tổ chức tính toán hỗ trợ ra
quyết định vận hành hồ chứa theo thẩm quyền để ban hành lệnh vận hành hồ. Trong quá trình tính toán, xem xét, quyết định vận hành các hồ, ngoài việc sử dụng các bản tin dự báo, cảnh báo của Cục Khí tượng Thủy văn có thể tham khảo các bản tin dự báo, cảnh báo có liên
quan.
b) Tổ chức thường
trực, theo dõi chặt chẽ diễn biến tình hình
mưa, lũ, tính toán các phương án điều
tiết; ban hành lệnh vận hành hồ chứa thủy điện: Sơn La, Hòa Bình, Thác Bà và Tuyên Quang trước 02 giờ tính đến thời điểm thực hiện; trường hợp xả lũ hồ Hòa Bình làm cho mực
nước tại trạm thủy văn Hòa Bình vượt cao trình 24 m
và xả lũ hồ Tuyên Quang làm cho mực
nước tại trạm thủy văn Tuyên Quang vượt cao trình 26 m
phải thông
báo trước 06 giờ tính đến thời điểm
thực hiện lệnh.
Khi ban hành lệnh
vận hành hồ phải thông báo ngay tới Trưởng ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia,
Trưởng ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự cấp tỉnh liên
quan trực tiếp có khả năng bị lũ,
lụt do vận hành hồ; đồng thời thông báo cho
Bộ Công
Thương, Tập đoàn Điện lực Việt
Nam và Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên
Vận hành
hệ thống điện và thị trường điện
Quốc gia. Lệnh vận hành phải thể hiện các
thông tin chính như sau: hiện trạng
mực nước hạ du, mực nước hồ, lưu lượng về hồ, lưu lượng xả sau công trình; mục tiêu cần đạt của
lệnh; thời gian thực hiện lệnh; mực nước hồ dự kiến đạt; cấp lưu lượng xả; mức
độ đóng hoặc mở cửa xả tương ứng (hoàn
toàn hoặc một phần, số lượng cửa xả đóng hoặc mở); các yêu cầu khác (nếu có);
c) Kiểm tra, giám sát việc vận hành các hồ chứa
thủy điện theo lệnh, đồng thời chỉ đạo công
tác phòng, chống lũ, lụt và xử lý các tình huống có ảnh hưởng đến an
toàn của
hệ thống đê điều ở hạ du theo phân công,
phân cấp; triển khai các biện pháp đảm bảo an toàn đê điều theo
quy định;
d) Khi xuất hiện
lũ có chu kỳ lặp lại lớn hơn 500 năm trên
hệ thống sông Hồng hoặc xảy
ra sự cố nghiêm trọng đối với hệ thống đê điều khu vực Hà Nội, trình Thủ tướng Chính phủ quyết định công
bố lệnh vận hành công trình đầu
mối sông Đáy theo quy định;
đ) Quyết định việc
vận hành các hồ chứa thủy điện Sơn La, Hòa
Bình, Thác Bà, Tuyên Quang, Lai Châu, Bản
Chát, Huội Quảng hoặc báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định khi xảy ra các
tình huống quy định tại Điều
17 của Quy trình này;
e) Quyết định việc
vận hành các hồ chứa khi nhận được báo
cáo của đơn vị quản lý, vận hành hồ theo quy
định tại điểm i khoản 5 Điều 24;
g) Chỉ đạo công tác phòng, chống
lũ, lụt ở vùng hạ du các đập theo thẩm quyền.
2. Trong mùa cạn:
Quyết định việc
vận hành các hồ chứa thủy điện Sơn La, Hòa
Bình, Thác Bà, Tuyên Quang, Lai Châu, Bản
Chát, Huội Quảng hoặc báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định khi xảy ra các
tình huống quy định tại Điều
18 của Quy trình này.
Điều 21. Trách nhiệm của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường
1. Trong mùa lũ:
a) Triển khai các biện pháp đảm bảo an toàn đê điều theo
quy định;
b) Tổ chức theo dõi, phát hiện, xử
lý kịp
thời các sự cố đối với hệ thống đê
sông Hồng, sông Thái Bình, báo cáo Trưởng ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia và Thủ tướng Chính phủ theo quy định;
c) Chỉ đạo việc
nghiên cứu, đề xuất phương án sử dụng một phần dung tích phòng lũ trên mực
nước dâng bình thường của hồ chứa thủy lợi lớn trên lưu vực sông Hồng để nâng cao khả năng
tham gia cắt, giảm lũ cho hạ du khi xảy ra các
tình huống khẩn cấp, bất thường theo
quy định tại khoản 8 Điều 50 của Luật Tài nguyên nước năm 2023.
2. Trong mùa cạn:
a) Chỉ đạo việc xây dựng và công bố kịch bản
nguồn nước trên lưu vực sông Hồng theo quy định;
b) Chỉ đạo lập kế
hoạch lấy nước phục vụ sản xuất vụ Đông Xuân
theo quy định tại khoản
1 Điều 12 của Quy trình này, thông báo lịch lấy nước cho Bộ Công Thương, Tập đoàn Điện lực Việt
Nam, Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên
Vận hành
hệ thống điện và thị trường điện
Quốc gia trước ngày 15 tháng 12 hằng năm;
c) Chủ trì, thống nhất với
các cơ quan liên quan về thời gian cụ thể và
phương án điều tiết nước cho hạ du
phục vụ sản xuất vụ Đông Xuân theo quy định của Quy trình này;
d) Chỉ đạo các đơn vị quản lý, vận hành hệ thống công trình thủy lợi
trên địa
bàn các tỉnh, thành phố: Tuyên Quang,
Lào Cai, Phú Thọ, Hà Nội, Bắc Ninh,
Hưng Yên, Ninh Bình, Hải Phòng thực hiện rà soát,
kiểm tra các công trình thủy
lợi, sẵn sàng cho việc lấy nước khi các hồ chứa thủy điện xả nước, đảm bảo không gây lãng phí nước.
3. Chỉ đạo các cơ quan chuyên môn, ngoài giải pháp quy trình vận hành liên hồ chứa, khẩn trương triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp khác để giải
quyết tổng thể, toàn diện các vấn đề lũ lụt, hạn hán,
thiếu nước trên lưu vực sông Hồng, cụ thể:
a) Rà soát, hoàn thiện
giải pháp công trình, phi công trình đã được nêu trong Quy
hoạch phòng chống lũ và quy hoạch đê điều hệ thống sông Hồng, sông Thái Bình được
cấp có thẩm quyền phê duyệt;
b) Rà soát, hoàn thiện
các Quy hoạch: phòng, chống thiên tai và
thủy lợi; tài nguyên nước;
thủy lợi;
c) Nâng cao năng lực
dự báo, cảnh báo mưa, lũ, hạn hán trên lưu vực sông.
4. Chỉ đạo các cơ quan chức
năng kiểm tra việc vận hành các hồ chứa theo quy định của Quy trình này.
5. Chỉ đạo công tác dự báo, cảnh báo và cung cấp số
liệu kịp thời về khí tượng, thủy văn cho các đơn
vị quản lý, vận hành hồ chứa: Sơn
La, Hòa Bình, Thác Bà, Tuyên Quang, Lai Châu,
Bản Chát,
Huội Quảng; Tập đoàn Điện lực Việt
Nam; Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên
Vận hành
hệ thống điện và thị trường điện
Quốc gia; Bộ Công Thương và Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia theo quy định của Quy trình này.
6. Chỉ đạo Cục Khí tượng Thủy văn
thực hiện và giám sát việc cung cấp thông tin, số liệu theo quy định tại Điều 27 và
Điều 28 của Quy trình này.
7. Chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị
liên quan xem xét, quyết định việc điều chỉnh lưu lượng, thời gian vận hành hồ theo quy
định tại Điều 16, khoản 6 Điều 17 và khoản 2 Điều 18 của Quy
trình này.
8. Trình Thủ tướng
Chính phủ điều chỉnh Quy trình vận hành liên hồ chứa khi cần thiết.
Điều 22. Trách nhiệm của Bộ trưởng Bộ Công Thương
1. Trong mùa lũ:
a) Chỉ đạo Tập đoàn Điện lực Việt
Nam, các Công ty thủy điện liên quan thực hiện việc đảm bảo an toàn các hồ: Sơn La,
Hòa Bình, Thác Bà, Tuyên Quang, Lai Châu, Bản Chát và Huội Quảng trong suốt mùa lũ. Kiểm tra, giám sát các Công ty Thủy điện: Sơn La, Hòa Bình, Tuyên Quang,
Huội Quảng - Bản Chát và Công ty cổ phần
Thủy điện Thác Bà thực hiện lệnh vận hành của Phó Trưởng ban Chỉ đạo Phòng
thủ dân
sự quốc gia - Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường;
b) Phối hợp chặt
chẽ với Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường trong việc chỉ đạo vận hành hồ chống lũ
cho hạ du;
c) Khi chỉ đạo các hồ xả lũ khẩn
cấp đảm bảo an toàn cho công trình đầu mối, Bộ trưởng Bộ Công Thương phải báo cáo ngay Thủ
tướng Chính phủ, Trưởng ban Chỉ đạo Phòng
thủ dân
sự quốc gia và Phó Trưởng ban
Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia - Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường để
chỉ đạo công tác phòng, chống lũ cho hạ du;
d) Chỉ đạo Công ty trách nhiệm
hữu hạn một thành viên Vận hành hệ thống điện và thị trường điện Quốc gia, Tập đoàn Điện lực Việt
Nam và các đơn vị quản lý, vận hành hồ xây dựng, điều chỉnh kế hoạch huy động điện của các nhà máy thủy
điện: Sơn La, Hòa Bình, Thác Bà, Tuyên Quang,
Lai Châu, Bản Chát và Huội Quảng
bảo đảm phù hợp với thời kỳ, thời gian vận hành các hồ chứa
theo quy định của Quy trình này; huy động điện tối đa có
thể của các nhà máy thủy
điện: Sơn La, Hòa Bình, Thác Bà, Tuyên Quang,
Lai Châu, Bản Chát và Huội Quảng
trong thời gian vận hành mùa lũ;
đ) Chỉ đạo Tập đoàn Điện lực Việt
Nam, các đơn vị quản lý, vận hành hồ rà soát, tính
toán lại đặc trưng lũ thiết kế, lũ
kiểm tra trên cơ sở cập nhật trận lũ lịch sử; đánh giá lại mức độ đảm bảo an
toàn công trình, nghiên cứu phương án bổ sung hạng mục công
trình xả lũ để đảm bảo an toàn công trình và an toàn tính mạng, tài sản của người dân ở hạ du trình cơ
quan có thẩm quyền phê duyệt;
e) Chỉ đạo việc
nghiên cứu, đề xuất phương án sử dụng một phần dung tích phòng lũ trên mực
nước dâng bình thường của hồ chứa thủy điện lớn, quan trọng trên lưu vực sông Hồng để nâng cao khả năng
tham gia cắt, giảm lũ cho hạ du khi xảy ra các
tình huống khẩn cấp, bất thường theo
quy định tại khoản 8 Điều 50 của Luật Tài nguyên nước năm 2023.
2. Trong mùa cạn:
a) Căn cứ kế hoạch
lấy nước của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, chỉ đạo Công
ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Vận hành hệ thống điện
và thị
trường điện Quốc gia, Tập đoàn Điện lực Việt Nam, các
đơn vị quản lý, vận hành hồ phối hợp
với các cơ quan chức năng lập kế hoạch xả nước cụ thể để đảm bảo trong thời
gian lấy nước gia tăng, mực nước tại trạm thủy văn Hà Nội không thấp hơn 1,6 m
như quy định của Quy trình này và gửi kế hoạch cho Bộ Nông
nghiệp và Môi trường trước ngày 25 tháng 12 hằng
năm;
b) Chỉ đạo Công ty trách nhiệm
hữu hạn một thành viên Vận hành hệ thống điện và thị trường điện Quốc gia, Tập đoàn Điện lực Việt
Nam và các đơn vị quản lý, vận hành hồ xây dựng, điều chỉnh kế hoạch huy động điện của các nhà máy thủy
điện: Sơn La, Hòa Bình, Thác Bà, Tuyên Quang,
Lai Châu, Bản Chát và Huội Quảng
bảo đảm phù hợp với thời kỳ, thời gian vận hành các hồ chứa
theo quy định của Quy trình này; huy động điện tối đa có
thể của các nhà máy thủy
điện nêu trên trong thời kỳ sử dụng nước gia tăng và thời kỳ sử dụng nước bình thường để hạn
chế lượng nước xả thừa gây lãng phí nguồn nước của các
nhà máy thủy điện vào cuối mùa cạn và đảm bảo an toàn cho đập, khu
vực lòng hồ;
c) Chỉ đạo Tập đoàn Điện lực Việt
Nam, các đơn vị quản lý, vận hành hồ thực hiện việc vận hành xả nước theo Quy
trình này.
3. Chỉ đạo Tập đoàn Điện lực Việt
Nam và các đơn vị quản lý, vận hành hồ lắp đặt camera giám
sát việc xả nước và truyền tín hiệu hình ảnh về Ban Chỉ
đạo Phòng thủ dân sự quốc gia, Bộ Nông
nghiệp và Môi trường, Bộ Công Thương, Tập đoàn Điện lực Việt
Nam, Cục Quản lý tài nguyên nước, Cục Kỹ thuật an toàn và Môi trường công nghiệp; xây dựng, lắp đặt
hệ thống quan trắc phục vụ việc giám sát tự động, trực tuyến việc vận hành xả nước của các hồ chứa theo
quy định.
4. Chỉ đạo Tập đoàn Điện lực Việt
Nam chủ trì, phối hợp với các cơ quan,
đơn vị có liên quan xây dựng Quy chế
phối hợp vận hành và cung cấp thông tin, số liệu khí tượng, thủy văn, vận hành
hồ.
5. Chỉ đạo Công ty Cổ phần
thủy điện Thác Bà khẩn trương nghiên cứu, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt phương án nâng
cao năng lực xả lũ kiểm tra của công trình.
6. Quyết định về
việc tích nước đối với hồ Thác Bà vượt quá cao trình
56 m từ ngày 16 tháng 9 đến
ngày 31 tháng 10 trong thời gian chưa hoàn thành
phương án nâng cao năng lực xả lũ kiểm
tra của công trình nhưng phải đảm bảo an toàn
công trình và an toàn hạ du trên cơ sở đề xuất
bằng văn bản của Công ty cổ phần Thủy điện Thác
Bà.
7. Trường hợp cần
thiết, xem xét, quyết định về việc tích nước đối với hồ Sơn La cao hơn mực nước quy định tại điểm b khoản 1 Điều 8 trên cơ
sở đề xuất bằng văn bản của Tập đoàn Điện lực Việt
Nam nhưng phải đảm bảo tuyệt đối an toàn công
trình và an toàn hạ du.
Điều 23. Trách nhiệm của Bộ trưởng các bộ, ngành liên quan, Chủ tịch
Ủy ban nhân dân, Trưởng ban Chỉ huy phòng thủ dân sự các tỉnh, thành phố: Lai
Châu, Điện Biên, Sơn La, Lào Cai, Tuyên Quang, Phú Thọ, Hà Nội, Bắc Ninh, Hưng
Yên, Ninh Bình, Hải Phòng.
1. Trong mùa lũ:
Khi nhận được lệnh
đóng, mở
cửa xả các hồ: Sơn La, Hòa Bình, Thác
Bà, Tuyên Quang, Chủ tịch Ủy ban nhân dân, Trưởng ban
Chỉ huy Phòng thủ dân sự các tỉnh: Sơn La, Lào
Cai, Phú Thọ, Tuyên Quang và các tỉnh,
thành phố có liên quan phải triển khai ngay các biện pháp ứng phó phù hợp với từng tình
huống nhằm hạn chế tác hại do việc đóng, mở các cửa xả gây ra.
2. Trong mùa cạn:
a) Chỉ đạo các tổ chức trực
thuộc, các cơ quan có liên quan lập kế hoạch sử dụng nước phù hợp với Quy
trình này và kịch bản nguồn nước được Bộ Nông
nghiệp và Môi trường công bố;
b) Chỉ đạo các địa phương có liên quan điều
chỉnh kế hoạch sử dụng nước phù hợp với quy định của Quy trình này;
c) Chỉ đạo các đơn vị quản lý, vận hành hệ thống công trình thủy lợi
trên địa
bàn các tỉnh, thành phố: Lào Cai, Tuyên
Quang, Phú Thọ, Hà Nội, Bắc Ninh,
Hưng Yên, Ninh Bình, Hải Phòng vận hành công trình
khai thác, sử dụng nước trên địa bàn thực hiện việc
lấy nước phù hợp với thời gian vận hành
của các
hồ chứa theo quy định tại Quy trình
này;
d) Trường hợp do
hạn hán, thiếu nước nghiêm trọng hoặc có yêu cầu bất thường về sử dụng nước thì lập kế hoạch,
phương án gửi Bộ Nông nghiệp và Môi trường để thống nhất chỉ đạo các hồ điều tiết xả
nước cho hạ du.
3. Khi nhận được
thông báo lệnh vận hành, Trưởng ban Chỉ huy phòng
thủ dân
sự cấp tỉnh phải thông báo ngay đến
Chủ tịch Ủy ban nhân dân, Trưởng ban Chỉ huy phòng
thủ dân
sự cấp xã có khả năng chịu ảnh hưởng,
đồng thời chỉ đạo triển khai ngay các biện pháp ứng phó phù hợp,
hạn chế thiệt hại do lũ, lụt. Chủ tịch
Ủy ban nhân dân, Trưởng ban Chỉ huy phòng thủ dân sự cấp xã chịu trách nhiệm tổ chức thông
báo để nhân dân biết và triển khai ngay các biện pháp ứng phó.
4. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh chỉ đạo các cơ quan chuyên môn về xây dựng, giao thông,
nông nghiệp và môi trường, công thương, chính quyền cấp xã và đơn vị quản lý hạ tầng rà soát
phương án bảo đảm an toàn đối với khu đô thị, khu dân cư, công trình xây dựng, công trình giao
thông, công trình cấp nước, thoát nước, chiếu sáng, cây xanh, bến
bãi ven sông khi có lệnh xả lũ hoặc thay đổi chế độ vận hành hồ.
5. Chủ tịch Ủy ban nhân dân, Trưởng
ban Chỉ huy phòng thủ dân sự cấp tỉnh có
trách nhiệm kiểm tra, giám sát, theo dõi thực
hiện lệnh vận hành của các hồ chứa trên địa bàn do mình quản lý.
Điều 24. Trách nhiệm của Giám đốc các Công ty Thủy điện: Sơn La, Hòa
Bình, Tuyên Quang, Huội Quảng - Bản Chát và Công ty cổ phần Thủy điện Thác Bà
và Tổng Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Vận hành hệ thống
điện và thị trường điện Quốc gia
1. Thực hiện vận hành hồ chứa theo
quy định của Quy trình này.
2. Theo dõi tình hình khí tượng, thủy văn; thực hiện chế độ quan trắc, dự báo và cung cấp thông tin số liệu theo
quy định tại Điều 27 và Điều 28 của Quy trình này.
3. Lắp đặt camera
giám sát việc xả nước và truyền tín hiệu hình ảnh về Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia, Bộ
Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Công
Thương, Tập đoàn Điện lực Việt
Nam, Cục Quản lý tài nguyên nước và Cục Kỹ thuật an toàn
và Môi trường công nghiệp; xây dựng, lắp đặt
hệ thống quan trắc phục vụ việc giám sát tự động, trực tuyến việc vận hành xả nước của các hồ chứa theo
quy định.
4. Hằng ngày, cung cấp số
liệu vận hành hồ về hệ thống thông tin,
giám sát vận hành hồ của Cục
Quản lý tài nguyên nước và Cục Kỹ thuật an toàn
và Môi trường công nghiệp theo yêu cầu.
5. Trong mùa lũ:
a) Thực hiện lệnh
vận hành công trình của Phó Trưởng ban Chỉ đạo Phòng
thủ dân
sự quốc gia - Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường theo
quy định trong Quy trình này;
b) Trường hợp xảy
ra những tình huống bất thường không thực hiện được theo đúng
lệnh vận hành, phải báo cáo ngay đến Phó Trưởng ban Chỉ
đạo Phòng thủ dân sự quốc gia - Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường để
chỉ đạo xử lý và báo cáo Bộ trưởng Bộ Công
Thương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân và Trưởng
ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự cấp tỉnh nơi xây
dựng công
trình;
c) Nếu có lệnh vận hành các cửa xả của
hồ Hòa Bình mà dự báo mực nước tại trạm thủy văn Hòa Bình có thể
vượt cao trình 24 m, Giám đốc Công ty Thủy điện Hòa Bình
phải thông
báo cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân và Trưởng
ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự tỉnh Phú Thọ;
d) Nếu có lệnh vận hành các cửa xả của
hồ Tuyên Quang khi mực nước tại trạm thủy văn Tuyên Quang vượt cao trình 26 m, Giám đốc
Công ty Thủy điện Tuyên Quang phải thông báo cho
Chủ tịch Ủy ban nhân dân và Trưởng
ban Chỉ huy phòng thủ dân sự tỉnh Tuyên
Quang;
đ) Nếu có lệnh vận hành các cửa xả của
hồ Sơn La, Giám đốc Công ty Thủy điện Sơn La phải thông báo ngay cho Giám đốc Công ty Thủy điện Hòa Bình;
e) Nếu có lệnh vận hành các cửa xả của
hồ Thác Bà để xả lũ, Giám đốc Công ty cổ phần Thủy điện Thác
Bà phải thông báo cho Chủ
tịch Ủy ban nhân dân và Trưởng ban Chỉ huy Phòng
thủ dân
sự tỉnh Lào Cai;
g) Tính toán, đề
xuất phương án dâng mực nước của các hồ theo quy định tại khoản 6 Điều 7
của Quy trình này gửi Phó Trưởng ban Chỉ đạo Phòng
thủ dân
sự quốc gia - Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường xem xét, quyết định;
h) Trên cơ sở các bản tin dự báo, cảnh báo của Cục Khí tượng Thủy văn,
các bản
tin dự báo dòng chảy đến hồ để tính toán,
quyết định dâng mực nước của các hồ theo quy
định tại khoản 4, khoản 5 Điều 6, khoản 8 Điều 7 và khoản 1,
khoản 2 Điều 8 của Quy trình này và chịu trách nhiệm về quyết định của mình;
i) Báo cáo Phó Trưởng
ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia - Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường khi
mực nước hồ có khả năng vượt quá mực nước cao nhất cho phép của từng thời
kỳ mùa lũ trong trường hợp các hồ không tham gia cắt, giảm lũ cho hạ du hoặc vận hành đảm bảo an toàn công trình.
6. Trong mùa cạn:
a) Tổ chức vận hành bảo đảm mực
nước hồ tại các thời điểm không nhỏ hơn giá trị quy định trong Phụ lục III;
b) Trong quá trình làm nhiệm vụ cấp nước cho hạ du, nếu mực nước hồ Hòa Bình thấp hơn giá trị quy định
trong Phụ lục III, Giám đốc Công ty Thủy điện Hòa Bình
phải thông
báo ngay cho Công ty trách nhiệm hữu
hạn một thành viên Vận hành hệ thống điện và thị trường điện Quốc gia, Giám đốc Công ty Thủy điện
Sơn La;
c) Nếu xảy ra sự
cố mà không thể vận hành hồ theo quy định của Quy trình này hoặc trong trường
hợp xảy ra hạn hán, thiếu nước mà các hồ không thể đảm bảo việc vận hành
theo quy định của Quy trình này thì Giám đốc đơn
vị quản lý, vận hành hồ phải báo cáo Tập đoàn Điện lực Việt Nam, Công
ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Vận hành hệ thống điện
và thị
trường điện Quốc gia để chỉ đạo việc sử dụng nước cho phù hợp, đồng thời báo cáo Bộ trưởng
Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và Môi trường;
d) Khi xuất hiện các trường hợp bất
thường, khẩn cấp quy định tại Điều 18 của Quy trình này phải báo cáo ngay tới Phó Trưởng ban Chỉ
đạo Phòng thủ dân sự quốc gia - Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường xem xét, quyết định.
7. Trách nhiệm của
Tổng Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành
viên Vận hành hệ thống điện
và thị
trường điện Quốc gia
a) Lập phương án vận hành và khai thác các hồ chứa đảm bảo tuân thủ các quy định của Quy trình này;
b) Chủ trì, phối hợp với Giám đốc Công ty Thủy điện
Sơn La để lập phương án bổ sung nước cho hồ Hòa
Bình trong khoảng thời gian không quá 03 ngày kể
từ khi nhận được thông báo tại điểm b khoản 6 Điều này;
c) Chủ trì lập phương án đề xuất điều
chỉnh và gửi Bộ Nông nghiệp và Môi trường để xem xét,
quyết định trong trường hợp không bảo đảm giá trị mực nước hồ
tại thời điểm tương ứng quy định trong Phụ lục III;
d) Có kế hoạch
khai thác nguồn nước an toàn và hiệu quả, hạn chế xả thừa, khai thác hiệu quả nguồn
nước cho phát điện và đáp ứng yêu cầu cấp nước hạ du.
8. Giám đốc Công ty Cổ phần
thủy điện Thác Bà có trách nhiệm nghiên cứu, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt và triển khai phương án
nâng cao năng lực xả lũ kiểm tra của công trình thủy
điện Thác Bà để đảm bảo an toàn cho công
trình và an toàn hạ du.
Điều 25. Trách nhiệm về an toàn các công trình
1. Lệnh vận hành các hồ: Sơn
La, Hòa Bình, Thác Bà, Tuyên Quang, Lai Châu,
Bản Chát
và Huội Quảng điều tiết lũ nếu trái với các quy định trong Quy
trình này, dẫn đến công trình đầu mối, hệ thống các
công trình đê điều, thủy lợi, giao thông và dân sinh ở
hạ du bị mất an toàn thì người ra lệnh phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.
2. Việc thực hiện
sai lệnh vận hành dẫn đến mất an toàn công
trình đầu mối, hệ thống các công trình đê điều, thủy lợi, giao thông và dân sinh ở hạ du thì Giám đốc Công ty Thủy điện liên quan
phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.
3. Trong quá trình vận
hành nếu
phát hiện
có nguy cơ xảy ra sự cố công trình đầu mối thì Giám đốc Công ty Thủy điện liên quan
có trách nhiệm báo cáo sự cố, đề
xuất phương án khắc phục với Tập đoàn Điện lực Việt Nam để xử lý, riêng đối với
hồ Thác Bà, Giám đốc đơn vị quản lý, vận hành hồ có trách nhiệm báo cáo sự cố, đề xuất phương án khắc phục với Bộ Công Thương để chỉ
đạo xử lý; đồng thời báo cáo Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia, Bộ Công
Thương.
4. Nếu phát hiện sự cố đê điều ở hạ du thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
nơi xảy ra sự cố có trách nhiệm báo cáo và đề xuất phương án
khắc phục với Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường để xử
lý, đồng
thời báo cáo Phó Trưởng ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia - Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường để
chỉ đạo điều chỉnh chế độ vận hành.
5. Từ ngày 15 tháng 5 đến
ngày 14 tháng 6 hằng năm là thời kỳ tổng kiểm tra trước mùa lũ, Giám đốc các Công ty Thủy
điện: Sơn La, Hòa Bình, Tuyên Quang, Huội Quảng - Bản Chát
và Công ty cổ phần Thủy điện Thác Bà có trách nhiệm
tổ chức kiểm tra các trang thiết bị, các hạng mục công trình
và tiến hành sửa chữa để
đảm bảo vận hành theo chế độ làm việc đúng quy định, đồng thời báo
cáo Bộ Công Thương để theo dõi chỉ đạo và báo cáo Phó Trưởng
ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia - Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
Trường hợp có sự cố công trình và trang thiết bị, không thể sửa chữa xong trước ngày 15 tháng 6, Giám đốc Công ty Thủy điện có liên quan phải báo cáo Bộ trưởng Bộ Công
Thương để xử lý, đồng thời báo cáo Phó Trưởng
ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia - Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường để
theo dõi chỉ đạo.
6. Việc quy kết trách nhiệm về sự
mất an toàn của công trình nêu trong
các khoản 1, 2, 3, 4 và khoản 5 Điều này, do cơ quan Thanh tra Chính phủ xem xét và kết luận.
Điều 26. Chế độ và phương thức thông tin, báo cáo vận hành công
trình
1. Trước khi hồ Hòa Bình xả lũ, dự
kiến có thể làm dâng mực nước sông Đà tại trạm thủy văn Hòa
Bình vượt cao trình 24 m, thì Giám đốc
Công ty Thủy điện Hòa Bình phải thông báo tới Chủ tịch Ủy ban nhân dân và Trưởng ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự tỉnh Phú Thọ biết trước
06 giờ tính đến thời điểm dự báo mực nước lũ đạt tới cao trình 24 m, để tỉnh
Phú Thọ
có đủ
thời gian sơ tán dân, đồng thời phải báo cáo Phó
Trưởng ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia -
Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
2. Trước khi hồ
Tuyên Quang xả lũ, nếu Cục Khí tượng Thủy văn dự báo
mực nước tại trạm thủy văn Tuyên Quang có thể
vượt cao trình 27 m thì Giám đốc Công ty Thủy điện Tuyên
Quang phải thông báo tới Chủ
tịch Ủy ban nhân dân và Trưởng ban Chỉ huy Phòng
thủ dân
sự tỉnh Tuyên Quang biết
trước 06 giờ tính đến thời điểm dự báo mực nước lũ đạt tới cao trình 27 m, để tỉnh
Tuyên Quang có đủ thời gian sơ tán dân, đồng thời phải báo
cáo Phó Trưởng ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia -
Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
3. Việc thông báo lệnh thao
tác cửa
xả của các nhà máy thủy điện: Sơn La, Hòa Bình,
Thác Bà và Tuyên Quang đến Cục Khí tượng Thủy văn,
Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên
Vận hành
hệ thống điện và thị trường điện
Quốc gia, Tập đoàn Điện lực Việt Nam và Ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự các tỉnh, thành phố bị ảnh hưởng của việc vận hành các cửa xả của
nhà máy thủy điện: Sơn La, Hòa Bình,
Thác Bà và Tuyên Quang do Ban Chỉ đạo
Phòng thủ dân sự quốc gia thực hiện.
4. Các lệnh, ý kiến chỉ đạo,
kiến nghị, trao đổi có liên quan đến việc điều hành
và cắt lũ của các hồ Sơn La, Hòa Bình, Thác Bà, Tuyên Quang, Lai Châu, Bản Chát và Huội Quảng đều phải thực hiện bằng văn bản.
Lệnh vận hành công trình được
gửi qua fax, thư điện tử, đường dây nóng, tin
nhắn cảnh báo khẩn cấp hoặc các nền tảng số chính thức cho các Công ty Thủy
điện: Sơn La, Hòa Bình, Tuyên Quang, Huội Quảng - Bản Chát
và Công ty cổ phần Thủy điện Thác Bà và các cơ quan liên quan, sau đó văn bản gốc được gửi cho các Công ty nêu trên để theo dõi đối chiếu và lưu hồ sơ quản lý.
Điều 27. Trách nhiệm về cung cấp thông tin, số liệu trong mùa lũ
Để phục vụ cho
việc tính toán và lựa chọn phương án vận hành hợp lý các hồ điều tiết lũ, các
cơ quan sau đây có trách nhiệm thực
hiện các công việc sau:
1. Cục Khí tượng Thủy văn
cung cấp cho: Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia, Bộ Công
Thương, Tập đoàn Điện lực Việt
Nam, Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên
Vận hành
hệ thống điện và thị trường điện
Quốc gia và các Công ty Thủy điện: Sơn La, Hòa
Bình, Tuyên Quang, Huội Quảng - Bản Chát và Công ty cổ phần
Thủy điện Thác Bà các số liệu sau:
a) Số liệu mưa,
mực nước của các trạm chính thuộc hệ thống sông Hồng - Thái Bình
trong 24 giờ qua;
b) Các trị số khí tượng thủy văn
dự báo:
Trong điều kiện
thời tiết bình thường, khi chưa xuất hiện lũ lớn, thực hiện chế độ như sau:
- Số liệu mực
nước: trước 06 giờ, 12 giờ, 18 giờ và 24 giờ của các trạm thủy văn: Bảo Yên,
Yên Bái, Tuyên Quang, Hòa Bình, Phú Thọ,
Vụ Quang, Đáp Cầu, Phủ Lạng Thương, Lục Nam và Phả Lại; trước
06 giờ, 12 giờ, 18 giờ, 24 giờ, 36 giờ và 48
giờ của các trạm thủy văn:
Sơn Tây, Hà Nội và Hưng Yên;
- Dự báo mực nước hồ và lưu lượng đến hồ
Sơn La trong 06 giờ, 12 giờ, 18 giờ và 24 giờ tới;
- Dự báo mực nước hồ và lưu lượng đến hồ
Hòa Bình trong 06 giờ, 12 giờ, 18 giờ và 24 giờ tới;
- Dự báo mực nước hồ và lưu lượng đến các hồ: Tuyên Quang, Thác Bà trong 06 giờ, 12 giờ, 18 giờ và 24 giờ tới;
Trường hợp dự báo xuất hiện lũ
lớn, tổ chức dự báo tăng cường theo yêu cầu của Phó Trưởng ban Chỉ đạo Phòng
thủ dân
sự quốc gia - Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường;
c) Báo cáo tình hình thời tiết 24 giờ qua và nhận định xu thế diễn biến thời tiết 24 giờ, 48 giờ và 72 giờ tới,
trước 15 giờ hằng ngày;
d) Nhận định về xu
thế dòng chảy trung hạn trước 05 đến 10 ngày:
- Dòng chảy đến các hồ: Sơn La, Hòa Bình, Tuyên Quang và Thác Bà;
- Mực nước, lưu
lượng tại các trạm thủy văn: Hàm Yên và
Tuyên Quang trên sông Lô; Bảo Yên trên sông Chảy;
Yên Bái và Phú Thọ trên sông Thao; Sơn Tây,
Hà Nội và Hưng Yên trên sông Hồng;
- Nhận định về khả
năng xuất hiện lũ lớn với chu kỳ lặp lại trên
500 năm tại trạm thủy văn Sơn Tây;
đ) Các bản tin dự
báo, nhận
định xu thế phải được cung cấp mỗi ngày một lần khi mực nước tại trạm thủy văn Hà Nội dưới 10,5 m,
mỗi ngày hai lần khi mực nước tại trạm thủy văn Hà Nội từ 10,5 m
trở lên;
e) Biểu khai toán Q = f(H) của các trạm thủy văn:
Tạ Bú, Yên Bái, Tuyên Quang, Vụ Quang, Hòa Bình,
Sơn Tây và Hà Nội;
g) Nhận định, dự báo, cảnh báo khả năng xuất
hiện bão, áp thấp nhiệt đới hoặc các hình
thế thời tiết khác có khả năng gây lũ trên lưu vực.
2. Các Công ty Thủy
điện: Sơn La, Hòa Bình, Tuyên Quang, Huội Quảng - Bản Chát
và Công ty cổ phần Thủy điện Thác Bà:
a) Cung cấp cho
Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia, Ban Chỉ huy phòng thủ dân sự các tỉnh: Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Lào Cai, Tuyên Quang, Phú Thọ, Bộ Công Thương,
Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Vận hành hệ thống điện
và thị
trường điện Quốc gia, Tập đoàn Điện lực Việt Nam và
Cục Khí
tượng Thủy văn số liệu của tất cả các lần quan trắc
đo đạc trong suốt thời gian làm nhiệm vụ điều tiết chống lũ:
- Mực nước thượng
lưu, mực nước hạ lưu các hồ theo thời gian quan trắc 30 phút/lần;
- Lưu lượng đến
hồ, lưu lượng xả, lưu lượng tháo qua tuabin
theo thời gian quan trắc 30 phút/lần;
- Dự tính khả năng gia
tăng mực nước hồ theo lưu lượng đến hồ, dự kiến lưu lượng xả trong 06 giờ, 12
giờ, 18 giờ và 24 giờ tới (trường hợp dự báo
xuất hiện lũ lớn, cung cấp theo yêu cầu của Phó Trưởng ban Chỉ
đạo Phòng thủ dân sự quốc gia - Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường);
b) Báo cáo Ban Chỉ
đạo Phòng thủ dân sự quốc gia, Ban Chỉ huy phòng thủ dân sự các tỉnh: Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Lào Cai, Tuyên Quang, Phú Thọ và Bộ Công Thương, Tập đoàn Điện lực Việt Nam về trạng thái làm việc của công trình mỗi ngày một lần vào lúc 07 giờ sáng trong suốt
thời gian mùa lũ.
3. Việc cung cấp các thông tin theo khoản 1 và khoản 2 Điều này, được thực hiện theo một trong các phương thức
sau:
a) Bằng fax;
b) Chuyển bản tin
bằng đường bưu điện;
c) Chuyển bản tin
bằng mạng vi tính, thư điện tử;
d) Thông tin trực
tiếp qua điện thoại;
đ) Hệ thống thông tin, giám sát vận
hành hồ
chứa;
e) Hệ thống thông tin liên lạc
phục vụ công tác phòng, chống thiên tai của các doanh nghiệp viễn thông hoặc các hình thức khác.
Điều 28. Chế độ, trách nhiệm quan trắc, dự báo và cung cấp thông tin
báo cáo trong mùa cạn
1. Trách nhiệm tổ
chức quan trắc, dự báo:
a) Cục Khí tượng Thủy văn có trách nhiệm chỉ
đạo, phân công các đơn vị trực thuộc:
- Tổ chức đo đạc,
quan trắc số liệu mưa, mực nước của các trạm chính thuộc hệ thống sông Hồng;
- Nhận định xu thế
diễn biến thời tiết, thủy văn trong tháng tới trên lưu vực sông Hồng vào ngày 01 hằng tháng;
b) Các Công ty Thủy
điện: Sơn La, Hòa Bình, Tuyên Quang, Huội Quảng - Bản Chát
và Công ty cổ phần Thủy điện Thác Bà:
- Tổ chức đo đạc,
quan trắc lưu lượng đến hồ, lưu lượng qua đập tràn,
qua nhà máy, mực nước thượng, hạ lưu
hồ ít nhất 02 lần một ngày vào lúc 07 giờ và 19 giờ;
- Tổ chức dự báo lưu lượng đến
hồ, mực nước hồ 10 ngày tới vào các ngày 01, 11 và
21 hằng tháng.
2. Trách nhiệm
cung cấp thông tin, số liệu:
a) Cục Khí tượng Thủy văn:
- Hằng ngày, trước 20 giờ
cung cấp cho:
+ Công ty Thủy
điện Hòa Bình và Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành
viên Vận hành hệ thống điện
và thị
trường điện Quốc gia trị số mực nước trung bình
ngày của trạm thủy văn Hà Nội;
+ Công ty Thủy
điện Tuyên Quang và Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành
viên Vận hành hệ thống điện
và thị
trường điện Quốc gia trị số mực nước trung bình
ngày của trạm thủy văn Tuyên Quang;
- Chỉ đạo, phân công các đơn vị
trực thuộc cung cấp cho Tập đoàn Điện lực Việt Nam, Công
ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Vận hành hệ thống điện
và thị
trường điện Quốc gia và các Công ty Thủy điện: Sơn La, Hòa
Bình, Tuyên Quang, Huội Quảng - Bản Chát và Công ty cổ phần
Thủy điện Thác Bà các số liệu quy định tại điểm a khoản 1 Điều này trong 10 ngày qua trước 16 giờ các ngày 01, 11
và 21 hằng tháng;
b) Các Công ty Thủy
điện: Sơn La, Hòa Bình, Tuyên Quang, Huội Quảng - Bản Chát
và Công ty cổ phần Thủy điện Thác Bà cung cấp cho
Cục Khí tượng Thủy văn và Công ty
trách nhiệm hữu hạn một thành viên Vận hành hệ thống điện
và thị
trường điện Quốc gia các số liệu:
- Mực nước thượng
lưu, mực nước hạ lưu các hồ; lưu lượng đến hồ, lưu lượng xả về hạ du thực tế
10 ngày qua theo các giờ quan trắc trước 10 giờ các
ngày 01, 11 và 21 hằng tháng;
- Lưu lượng đến
hồ, lưu lượng xả về hạ du dự kiến 10 ngày tới trước 10 giờ các
ngày 01, 11 và 21 hằng tháng.
3. Phương thức
cung cấp thông tin, số liệu: việc cung cấp các
thông tin, số liệu cho các cơ quan, đơn vị
quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này được thực hiện theo một trong các phương thức như
quy định tại khoản 3 Điều 27.
Điều 29. Tổ chức thực hiện
Trong quá trình thực
hiện Quy trình vận hành liên hồ chứa trên lưu vực sông Hồng, nếu có nội dung cần sửa đổi, bổ sung, Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị
có liên quan kiến nghị bằng văn bản gửi Bộ Nông nghiệp và Môi trường thẩm
định, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định./.
PHỤ LỤC I
CÁC ĐẶC TRƯNG CƠ
BẢN CỦA LŨ THIẾT KẾ CHO HẠ DU HỆ THỐNG SÔNG HỒNG - THÁI BÌNH
(Kèm theo Quy trình tại Quyết định
số 1928/QĐ-TTg ngày 05 tháng 10 năm 2026 của
Thủ tướng Chính phủ)
1. Lũ có chu kỳ lặp lại 300 năm.
a)
Lũ dạng 1969
|
Địa điểm
(Hồ)
|
Sơn La
|
Hòa Bình
|
Tuyên Quang
|
Thác Bà
|
Trạm Sơn Tây
|
|
Qmax (m3/s)
|
22.100
|
23.426
|
5.587
|
2.282
|
44.202
|
|
W20 ngày (tỷ m3)
|
19,71
|
21,27
|
3,51
|
1,90
|
43,06
|
b)
Lũ dạng 1971
|
Địa điểm
(Hồ)
|
Sơn La
|
Hòa Bình
|
Tuyên Quang
|
Thác Bà
|
Trạm Sơn Tây
|
|
Qmax (m3/s)
|
18.200
|
18.949
|
7.129
|
3.820
|
44.184
|
|
W20 ngày (tỷ m3)
|
16,73
|
17,50
|
4,70
|
2,40
|
43,70
|
c)
Lũ dạng 1996
|
Địa điểm
(Hồ)
|
Sơn La
|
Hòa Bình
|
Tuyên Quang
|
Thác Bà
|
Trạm Sơn Tây
|
|
Qmax (m3/s)
|
30.300
|
32.012
|
4.957
|
2.570
|
44.103
|
|
W20 ngày (tỷ m3)
|
19,74
|
22,60
|
3,50
|
1,90
|
43,60
|
2. Lũ có chu kỳ lặp lại 500 năm.
a)
Lũ dạng 1969
|
Địa điểm
(Hồ)
|
Sơn La
|
Hòa Bình
|
Tuyên Quang
|
Thác Bà
|
Trạm Sơn Tây
|
|
Qmax (m3/s)
|
23.442
|
26.000
|
6.040
|
2.420
|
48.500
|
|
W20 ngày (tỷ m3)
|
21,63
|
23,37
|
3,76
|
1,98
|
46,68
|
b)
Lũ dạng 1971
|
Địa điểm
(Hồ)
|
Sơn La
|
Hòa Bình
|
Tuyên Quang
|
Thác Bà
|
Trạm Sơn Tây
|
|
Qmax (m3/s)
|
19.500
|
20.600
|
7.968
|
4.070
|
48.500
|
|
W20 ngày (tỷ m3)
|
18,04
|
18,92
|
5,19
|
2,87
|
47,63
|
c)
Lũ dạng 1996
|
Địa điểm
(Hồ)
|
Sơn La
|
Hòa Bình
|
Tuyên Quang
|
Thác Bà
|
Trạm Sơn Tây
|
|
Qmax (m3/s)
|
31.863
|
33.671
|
5.480
|
2.771
|
48.500
|
|
W20 ngày (tỷ m3)
|
21,44
|
24,59
|
3,80
|
2,15
|
47,51
|
PHỤ LỤC II
ĐƯỜNG ĐẶC TÍNH
CỦA CÁC HỒ CHỨA
(Kèm theo Quy trình tại
Quyết định số 1928/QĐ-TTg ngày 05 tháng 10 năm 2026 của Thủ
tướng Chính phủ)
1. Hồ Sơn La

|
Z (m)
|
F (km2)
|
W (106 m3)
|
Z (m)
|
F (km2)
|
W (106 m3)
|
|
111
|
0
|
0
|
200
|
178,87
|
6.215
|
|
120
|
6,86
|
22,9
|
210
|
206,45
|
8.140
|
|
130
|
15,61
|
132,3
|
220
|
242,11
|
10.380
|
|
140
|
26,7
|
341,3
|
230
|
276,95
|
12.973
|
|
150
|
53,44
|
734,4
|
240
|
316,57
|
15.939
|
|
160
|
75,07
|
1.373,90
|
250
|
365,97
|
19.348
|
|
170
|
95,28
|
2.223,60
|
260
|
420,19
|
23.276
|
|
180
|
118,24
|
3.289,10
|
270
|
460,67
|
27.679
|
|
190
|
144,56
|
4.600,90
|
|
|
|
2. Hồ Hòa Bình

|
Z (m)
|
F (km2)
|
W (106 m3)
|
Z (m)
|
F (km2)
|
W (106 m3)
|
|
25
|
19,3
|
322
|
100
|
164,4
|
6.634
|
|
50
|
55,8
|
1.222
|
104
|
173,5
|
7.420
|
|
75
|
106,2
|
3.215
|
110
|
186,5
|
8.520
|
|
80
|
119
|
3.800
|
115
|
198,3
|
9.450
|
|
85
|
132
|
4.360
|
120
|
217,5
|
10.480
|
|
90
|
144,7
|
5.089
|
125
|
237,7
|
11.526
|
|
94
|
152
|
5.700
|
|
|
|
3. Hồ Thác Bà

|
Z (m)
|
F (km2)
|
W (106 m3)
|
Z (m)
|
F (km2)
|
W (106 m3)
|
|
45
|
106,9
|
676
|
53
|
187,7
|
1.820
|
|
46
|
117,5
|
780
|
54
|
197
|
2.020
|
|
47
|
128
|
910
|
55
|
206,3
|
2.251
|
|
48
|
138,6
|
1.040
|
56
|
215,5
|
2.480
|
|
49
|
149
|
1.190
|
57
|
224,7
|
2.700
|
|
50
|
159,7
|
1.337
|
58
|
234
|
2.940
|
|
51
|
169
|
1.480
|
59
|
243,2
|
3.160
|
|
52
|
178,3
|
1.640
|
60
|
252,4
|
3.396
|
|
|
|
|
61,9
|
270
|
3.940
|
4. Hồ Tuyên Quang

|
Z (m)
|
F (km2)
|
W (106 m3)
|
Z (m)
|
F (km2)
|
W (106 m3)
|
|
39,2
|
0
|
0
|
100
|
48,35
|
973,3
|
|
45
|
0,11
|
0,2
|
105
|
56,3
|
1.234,60
|
|
50
|
1,27
|
3,1
|
110
|
63,57
|
1.534,10
|
|
55
|
2,02
|
11,2
|
115
|
72,81
|
1.874,80
|
|
60
|
3,91
|
25,8
|
120
|
81,49
|
2.260,40
|
|
65
|
6,85
|
52,4
|
125
|
91,54
|
2.692,70
|
|
70
|
11,55
|
97,9
|
130
|
104,75
|
3.183
|
|
75
|
17,73
|
170,6
|
135
|
116,73
|
3.736,50
|
|
80
|
23,19
|
272,6
|
140
|
129,33
|
4.351,30
|
|
85
|
28,8
|
402,3
|
145
|
141,16
|
5.027,30
|
|
90
|
34,71
|
560,8
|
150
|
154,1
|
5.765,30
|
|
95
|
41,05
|
750
|
|
|
|
5. Hồ Lai Châu

|
Z (m)
|
F (km2)
|
W (106 m3)
|
Z (m)
|
F (km2)
|
W (106 m3)
|
|
185
|
0
|
0
|
260
|
14,31
|
338,1
|
|
205
|
0,69
|
4,57
|
265
|
16,63
|
415,4
|
|
210
|
0,95
|
8,65
|
270
|
18,9
|
504,2
|
|
215
|
1,28
|
14,22
|
275
|
22,14
|
606,6
|
|
220
|
2,69
|
23,94
|
280
|
26,29
|
727,6
|
|
225
|
3,75
|
39,54
|
285
|
30,34
|
869
|
|
230
|
5,01
|
60,89
|
290
|
34,28
|
1.030,50
|
|
235
|
6,2
|
88,88
|
295
|
39,63
|
1.215,10
|
|
240
|
7,74
|
123,7
|
300
|
44,25
|
1.424,70
|
|
245
|
8,96
|
165,4
|
305
|
49,183
|
1.658,20
|
|
250
|
10,64
|
214,3
|
310
|
54,26
|
1.916,70
|
|
255
|
12,3
|
271,6
|
|
|
|
6. Hồ Bản Chát

|
Z (m)
|
F (km2)
|
W (106 m3)
|
Z (m)
|
F (km2)
|
W (106 m3)
|
|
366
|
0
|
0
|
440
|
27,2
|
648,2
|
|
370
|
0,3
|
0,4
|
445
|
30,9
|
793,5
|
|
380
|
1,1
|
6,8
|
450
|
35,1
|
958,5
|
|
390
|
2,5
|
22,9
|
455
|
39,5
|
1.145
|
|
400
|
5,1
|
60
|
460
|
44,4
|
1.355
|
|
410
|
9,1
|
128,8
|
465
|
49,6
|
1.589
|
|
420
|
14
|
244,2
|
470
|
54,7
|
1.850
|
|
425
|
16,9
|
321,4
|
475
|
60,4
|
2.138
|
|
430
|
20
|
413,6
|
480
|
66,6
|
2.455
|
|
435
|
23,4
|
521,9
|
|
|
|
7. Hồ Huội Quảng

|
Z (m)
|
F (km2)
|
W (106 m3)
|
Z (m)
|
F (km2)
|
W (106 m3)
|
|
295
|
0
|
0
|
350
|
4,46
|
52,2
|
|
300
|
0,02
|
0,04
|
355
|
5,63
|
77,4
|
|
310
|
0,05
|
0,39
|
360
|
6,63
|
108
|
|
320
|
0,17
|
1,4
|
365
|
7,57
|
143,5
|
|
325
|
0,41
|
2,8
|
370
|
8,7
|
184,2
|
|
330
|
0,54
|
5,2
|
375
|
9,59
|
229,8
|
|
335
|
1,21
|
9,5
|
380
|
10,53
|
280,1
|
|
340
|
2,32
|
18,1
|
385
|
11,6
|
335,4
|
|
345
|
3,46
|
32,5
|
|
|
|
PHỤ LỤC III
MỰC NƯỚC TỐI
THIỂU CỦA CÁC HỒ CHỨA TẠI CÁC THỜI ĐIỂM
(Kèm theo Quy trình tại Quyết
định số 1928/QĐ-TTg ngày 05 tháng 10 năm 2026 của Thủ tướng Chính phủ)
|
Thời điểm
(ngày/tháng)
|
Hồ
|
|
Hòa Bình
|
Thác Bà
|
Tuyên Quang
|
|
1/11
|
112,9
|
55,0
|
109,6
|
|
11/11
|
112,9
|
54,9
|
109,6
|
|
21/11
|
112,9
|
54,8
|
109,6
|
|
1/12
|
112,9
|
54,8
|
109,6
|
|
11/12
|
112,9
|
54,5
|
109,2
|
|
21/12
|
112,7
|
54,2
|
108,8
|
|
1/1
|
112,2
|
53,9
|
108,4
|
|
11/1
|
111,6
|
53,4
|
107,6
|
|
21/1
|
107,8
|
52,9
|
106,9
|
|
1/2
|
106,7
|
52,4
|
106,1
|
|
11/2
|
102,3
|
51,9
|
104,9
|
|
21/2
|
101,1
|
51,4
|
103,7
|
|
1/3
|
97,1
|
50,8
|
102,5
|
|
11/3
|
95,5
|
50,2
|
100,3
|
|
21/3
|
93,7
|
49,6
|
98,2
|
|
1/4
|
91,9
|
48,9
|
96,0
|
|
11/4
|
90,3
|
48,3
|
94,3
|
|
21/4
|
88,6
|
47,8
|
92,7
|
|
1/5
|
86,6
|
47,2
|
91,0
|
|
11/5
|
85,2
|
46,9
|
90,9
|
|
21/5
|
83,0
|
46,6
|
90,8
|
|
1/6
|
81,9
|
46,5
|
90,7
|
|
14/6
|
80,0
|
46,0
|
90,0
|