|
HỘI ĐỒNG NHÂN
DÂN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 39/NQ-HĐND
|
Hà Nội, ngày 15
tháng 7 năm 2026
|
NGHỊ QUYẾT
VỀ
HOẠT ĐỘNG CHẤT VẤN TẠI KỲ HỌP THƯỜNG LỆ GIỮA NĂM 2026 (KỲ HỌP THỨ 5) HỘI ĐỒNG
NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI KHÓA XVII, NHIỆM KỲ 2026-2031
HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
KHÓA XVII, KỲ HỌP THỨ NĂM
Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương số
72/2025/QH15;
Căn cứ Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội
đồng nhân dân số 121/2025/QH15;
Căn cứ Luật Thủ đô số 02/2026/QH16;
Căn cứ Nghị quyết số 114/2025/UBTVQH15 ngày
24/12/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội hướng dẫn thi hành Luật Hoạt động giám
sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân về hoạt động giám sát của Hội đồng nhân
dân;
Trên cơ sở kết quả chất vấn và trả lời chất vấn
tại kỳ họp thường lệ giữa năm 2026 (kỳ họp thứ 5) của Hội đồng nhân dân thành
phố khóa XVII, nhiệm kỳ 2026-2031, Tờ trình số 31/TTr-HĐND ngày 15 tháng 7 năm
2026 của Thường trực Hội đồng nhân dân Thành phố về việc ban hành Nghị quyết hoạt
động chất vấn tại kỳ họp thường lệ giữa năm 2026 (Kỳ họp thứ 5) Hội đồng nhân
dân thành phố Hà Nội khóa XVII, nhiệm kỳ 2026-2031 và kết quả thảo luận, biểu
quyết của đại biểu Hội đồng nhân dân tại kỳ họp.
QUYẾT NGHỊ:
Điều 1. Hội đồng nhân dân
Thành phố khóa XVII, nhiệm kỳ 2026-2031 tại kỳ họp thường lệ giữa năm 2026 (Kỳ
họp thứ 5) tổ chức chất vấn, tái chất vấn đối với 02 nhóm vấn đề: (1) Tái chất
vấn việc thực hiện Nghị quyết số 436/NQ-HĐND ngày 10/7/2025 về hoạt động chất vấn
tại kỳ họp thứ 25 Hội đồng nhân dân Thành phố khóa XVI, nhiệm kỳ 2021-2026; gắn
với việc triển khai bữa ăn bán trú cho học sinh trên địa bàn Thành phố sau khi
thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp; (2) Chất vấn nhóm vấn đề việc
giải quyết điểm nghẽn về úng ngập đô thị trên địa bàn Thành phố.
Nội dung chất vấn của các đại biểu tập trung vào những
vấn đề còn tồn tại, hạn chế cần được tiếp tục làm rõ về nguyên nhân, trách nhiệm
và giải pháp thực hiện; đồng thời phản ánh đúng những nội dung Thành phố đang tập
trung lãnh đạo, chỉ đạo và cũng là những vấn đề được cử tri, Nhân dân Thủ đô đặc
biệt quan tâm.
Hội đồng nhân dân Thành phố ghi nhận và đánh giá cao
sự nghiêm túc, tinh thần cầu thị, trách nhiệm của các đồng chí lãnh đạo Ủy ban
nhân dân Thành phố, Giám đốc, Thủ trưởng các sở, ngành và một số Ủy ban nhân
dân các xã, phường tham gia trả lời chất vấn; cơ bản trả lời đúng trọng tâm các
nội dung được đại biểu chất vấn; giải trình, làm rõ nhiều vấn đề đại biểu quan
tâm; đồng thời đề ra các giải pháp, lộ trình và cam kết tiếp tục tổ chức thực
hiện trong thời gian tới theo phương châm “rõ người, rõ việc, rõ thời
gian, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm, rõ thẩm quyền”.
Điều 2. Về nhóm vấn đề Tái chất
vấn việc thực hiện Nghị quyết số 436/NQ-HĐND ngày 10/7/2025 về hoạt động chất vấn
tại kỳ họp thứ 25 Hội đồng nhân dân Thành phố khóa XVI, nhiệm kỳ 2021-2026; gắn
với việc triển khai bữa ăn bán trú cho học sinh trên địa bàn Thành phố sau khi
thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp
1. Tại kỳ họp thứ 25 (kỳ họp thường lệ giữa năm
2025) Hội đồng nhân dân Thành phố khóa XVI, nhiệm kỳ 2021-2026, Hội đồng
nhân dân Thành phố đã chất vấn về vấn đề an toàn thực phẩm, tại phiên chất vấn,
Chủ tọa kỳ họp đã kết luận 8 nhóm nhiệm vụ và 12 nội dung yêu cầu cam kết, đã
được Ủy ban nhân dân Thành phố đề ra các nhóm giải pháp cam kết để thực hiện tốt
nhiệm vụ quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm. Qua phiên tái chất vấn, Hội đồng
nhân dân Thành phố ghi nhận và đánh giá việc thực hiện Nghị quyết đã đạt được
nhiều kết quả tích cực, cụ thể như sau:
a) Công tác chỉ đạo, điều hành có chuyển biến rõ
hơn; Ủy ban nhân dân Thành phố đã ban hành Kế hoạch khắc phục các "điểm
nghẽn", thành lập Tổ công tác chuyên trách về an toàn thực phẩm, giao nhiệm
vụ cụ thể cho các sở, ngành và chính quyền cơ sở.
b) Đã chấm dứt hoạt động 313/701 cơ sở giết mổ nhỏ
lẻ, đạt gần 45%; giải tỏa 214/231 chợ cóc, điểm kinh doanh tự phát, đạt trên
92%; triển khai thí điểm 05 tuyến phố bảo đảm an toàn thực phẩm; 126/126 xã,
phường đã thành lập mạng lưới tự giám sát an toàn thực phẩm tại cộng đồng.
c) Đã hình thành và phát triển các mô hình bảo đảm
an toàn thực phẩm; duy trì, phát triển 182 chuỗi liên kết sản xuất - tiêu thụ
nông sản an toàn; hiện có 334,7 ha được chứng nhận hữu cơ, 331,4 ha đang chuyển
đổi theo hướng hữu cơ, khoảng 1.700 ha sản xuất VietGAP và 146 mã số vùng trồng
được cấp, quản lý.
d) Công tác tổ chức bữa ăn bán trú tại các trường học
được triển khai theo quy định; tăng cường kiểm soát chặt chẽ nguồn gốc thực phẩm
và các khâu: chế biến, bảo quản, vận chuyển thực phẩm trong các cơ sở giáo dục;
tuân thủ quy trình giao nhận, kiểm thực ba bước, lưu mẫu thực phẩm theo đúng
quy định
2. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn
còn nhiều nội dung chuyển biến chưa rõ nét, chưa đáp ứng yêu cầu của cử tri và
Nhân dân, cụ thể:
a) Công tác quản lý giết mổ gia súc, gia cầm và xử
lý chợ cóc, điểm kinh doanh tự phát tuy đã có chuyển biến nhưng chưa đạt yêu cầu
đề ra. Vẫn còn 388/701 cơ sở giết mổ nhỏ lẻ, chưa hoàn thành mục tiêu chấm dứt
giết mổ nhỏ lẻ, đưa vào giết mổ tập trung theo lộ trình; còn 17/231 chợ cóc, điểm
kinh doanh tự phát tiếp tục xử lý theo lộ trình đến năm 2027; tình trạng tái lấn
chiếm lòng đường, vỉa hè sau khi đã ra quân xử lý vẫn còn xảy ra tại một số địa
bàn. Đây là nguy cơ trực tiếp làm phát sinh thực phẩm không bảo đảm an toàn,
khó kiểm soát nguồn gốc trước khi đưa ra thị trường.
b) UBND Thành phố đã ban hành Quyết định
53/2025/QĐ-UBND ngày 15/9/2025 về phân công, phân cấp quản lý an toàn thực phẩm,
tuy nhiên trong quá trình triển khai còn nhiều vướng mắc, bất cập, chưa khắc phục
được tình trạng chồng chéo trong công tác quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm.
c) Cơ chế quản lý an toàn vệ sinh thực phẩm còn
phân tán, chưa thống nhất quản lý từ khâu sản xuất, lưu thông, chế biến về an
toàn thực phẩm; việc kiểm soát hiện nay còn có nhiều nội dung giao thoa, chồng
lấn, khó phối hợp khi truy xuất nguồn gốc, cũng như làm rõ trách nhiệm của đơn
vị liên quan, nhất là khi cần xử lý sự cố an toàn thực phẩm quy mô lớn.
d) Tình trạng hoa quả có dán tem, nhãn mác nhưng
không rõ nguồn gốc, xuất xứ vẫn diễn ra tại một số chợ đầu mối, chợ dân sinh và
cả tại một số cửa hàng kinh doanh hoa quả được quảng cáo là “hoa quả sạch”.
đ) Việc quản lý, kiểm soát sử dụng hóa chất bảo vệ
thực vật trong sản xuất nông nghiệp vẫn còn bất cập. Điều này làm gia tăng nguy
cơ mất an toàn thực phẩm đối với rau, củ, quả đưa vào tiêu thụ tại thị trường,
nhất là qua hệ thống chợ truyền thống và các kênh phân phối nhỏ lẻ.
e) Công tác cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện
an toàn thực phẩm, ký cam kết bảo đảm an toàn thực phẩm và hậu kiểm sau cấp giấy
vẫn còn hạn chế.
g) An toàn thực phẩm đối với thức ăn đường phố,
hàng rong và bếp ăn tập thể vẫn là vấn đề đáng lo ngại. Việc kiểm soát nguồn gốc
nguyên liệu, quy trình chế biến, lưu mẫu, kiểm thực ba bước có nơi chưa chặt chẽ;
nguy cơ xảy ra ngộ độc thực phẩm tập thể vẫn còn tiềm ẩn.
h) Việc xả nước thải từ các cơ sở giết mổ gia súc,
gia cầm và nước thải chứa dầu mỡ từ các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống trực
tiếp xuống hệ thống thoát nước chưa được kiểm soát chặt chẽ, gây ô nhiễm nguồn
nước, tắc nghẽn hệ thống thoát nước, phát sinh mùi ảnh hưởng đến môi trường và
sức khỏe của người dân; tiềm ẩn nguy cơ lây lan dịch bệnh, vi phạm các quy định
về bảo vệ môi trường và an toàn thực phẩm trong hoạt động sản xuất, chế biến,
kinh doanh thực phẩm.
i) Tình hình vận chuyển, buôn bán thực phẩm nhập lậu,
không đảm bảo an toàn thực phẩm từ tỉnh khác vào Hà Nội tuy giảm nhưng còn diễn
ra trên địa bàn.
k) Công tác bảo đảm an toàn thực phẩm đối với bữa
ăn bán trú trong các trường học tuy đã được quan tâm chỉ đạo nhưng vẫn còn nhiều
vấn đề cần tiếp tục khắc phục. Đề án tổng thể về mô hình cung cấp suất ăn bán
trú cho học sinh còn chậm được hoàn thiện.
l) Nhân lực quản lý an toàn thực phẩm còn mỏng, chủ
yếu kiêm nhiệm. Ở cấp xã, cán bộ phụ trách an toàn thực phẩm còn thiếu, kiêm
nhiệm. Việc đầu tư nguồn lực, phương tiện, thiết bị cho công tác bảo đảm An
toàn thực phẩm còn hạn chế
3. Hội đồng nhân dân Thành phố yêu cầu Ủy ban nhân
dân Thành phố, Chủ tịch, các Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố; Giám đốc,
Thủ trưởng các sở, ngành và đơn vị liên quan nghiêm túc thực hiện những giải
pháp, cam kết, khắc phục những tồn tại, hạn chế, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong
công tác quản lý nhà nước đối với những vấn đề tái chất vấn tại kỳ họp, gồm:
a) Tiếp tục rà soát, đánh giá việc thực hiện các nội
dung chất vấn đã được Hội đồng nhân dân Thành phố quyết nghị để đôn đốc, theo
dõi, kiểm tra, giám sát; xác định rõ trách nhiệm của từng sở, ngành, địa phương
và người đứng đầu; tăng cường kỷ luật, kỷ cương; bảo đảm rõ tiến độ, thời hạn
hoàn thành và sản phẩm đầu ra của từng nhiệm vụ, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu
quả công tác quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm trên địa bàn Thành phố, cụ
thể:
- Tăng cường kiểm soát việc sử dụng thuốc bảo vệ thực
vật, hóa chất trong sản xuất, bảo quản nông sản; mở rộng việc cấp, quản lý mã số
vùng trồng, nhật ký sản xuất, lấy mẫu kiểm nghiệm, giám sát tồn dư hóa chất và
công khai kết quả kiểm tra để người dân biết, lựa chọn và giám sát.
- Chỉ đạo kiểm tra thực chất việc ghi nhãn, dán
tem, truy xuất nguồn gốc đối với hoa quả, rau củ và các mặt hàng nông sản tiêu
thụ tại chợ đầu mối, chợ dân sinh, cửa hàng thực phẩm sạch; xử lý nghiêm tình
trạng sử dụng tem mác không đúng, tem mác không có giá trị truy xuất, lợi dụng
danh nghĩa hàng sạch, hàng an toàn để kinh doanh sản phẩm không rõ nguồn gốc. Cần
sớm kết nối dữ liệu vùng trồng, cơ sở sơ chế, đơn vị phân phối với chợ đầu mối,
siêu thị, cửa hàng và các chuỗi cung ứng thực phẩm.
- Chỉ đạo xử lý dứt điểm các cơ sở giết mổ nhỏ lẻ
không bảo đảm điều kiện; tăng cường kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ nguồn gốc, quá
trình vận chuyển, bảo quản, phân phối thịt gia súc, gia cầm, sản phẩm thịt và
thực phẩm sơ chế, chế biến; kiên quyết xử lý các trường hợp vận chuyển bằng
phương tiện không chuyên dụng, sản phẩm chưa qua kiểm dịch, không rõ nguồn gốc,
thực phẩm nhập lậu, thực phẩm giả, thực phẩm kém chất lượng đưa vào lưu thông
trên địa bàn Thành phố.
- Rà soát toàn diện công tác cấp giấy chứng nhận cơ
sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm, ký cam kết bảo đảm an toàn thực phẩm và chú
trọng công tác hậu kiểm sau cấp giấy.
- Đối với thức ăn đường phố, hàng rong, bếp ăn tập
thể, cần tăng cường quản lý theo địa bàn, theo nhóm nguy cơ; kiểm soát nguồn gốc
nguyên liệu, điều kiện chế biến, bảo quản, dụng cụ, nước sạch, sức khỏe và kiến
thức an toàn thực phẩm của người trực tiếp kinh doanh, chế biến.
- Chỉ đạo xử lý dứt điểm các điểm kinh doanh tự
phát theo danh mục đã rà soát; không để tình trạng giải tỏa xong lại tái lấn
chiếm. Nơi nào để tái diễn chợ cóc, chợ tạm, lấn chiếm lòng đường, vỉa hè gắn với
kinh doanh thực phẩm không an toàn, mà thiếu kiểm tra và chưa xử lý kịp thời thì
phải xem xét trách nhiệm người đứng đầu.
- Đẩy nhanh chuyển đổi số trong quản lý an toàn thực
phẩm; hoàn thiện, đưa vào vận hành hệ thống cơ sở dữ liệu dùng chung về an toàn
thực phẩm, bảo đảm kết nối, chia số dữ liệu giữa các sở, ngành, địa phương.
- Tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện mô hình quản lý
nhà nước về an toàn thực phẩm theo hướng thống nhất, rõ đầu mối, rõ trách nhiệm,
khắc phục tình trạng chồng chéo, bỏ sót, đùn đẩy trách nhiệm.
b) Đối với công tác đảm bảo an toàn thực phẩm trong
bữa ăn bán trú tại các trường học, đề nghị Ủy ban nhân dân Thành phố:
- Sớm ban hành Đề án tổng thể mô hình cung cấp suất
ăn bán trú cho học sinh; đẩy mạnh số hóa quản lý bữa ăn bán trú; từng bước triển
khai hệ thống quản lý, truy xuất nguồn gốc thực phẩm học đường theo hướng công
khai, minh bạch, dễ giám sát, phù hợp với điều kiện thực tiễn của từng địa bàn.
- Phát huy vai trò giám sát của ban đại diện cha mẹ
học sinh, cộng đồng dân cư và chính quyền cơ sở, nhưng phải bảo đảm đúng quy định,
tránh hình thức, tránh khoán trắng trách nhiệm cho nhà trường hoặc phụ huynh.
(Các nội dung cam kết cụ thể tại Phụ lục số 01)
Điều 3. Đối với nhóm nội dung
chất vấn việc giải quyết điểm nghẽn về úng ngập đô thị trên địa bàn Thành phố.
1. Qua kết quả giám sát của Thường trực Hội đồng
nhân dân Thành phố, báo cáo của Ủy ban nhân dân Thành phố và kết quả phiên chất
vấn cho thấy, công tác phòng, chống ngập ứng trên địa bàn Thành phố đã có nhiều
chuyển biến tích cực số với trước đây, cụ thể:
a) Trong thời gian qua, trên cơ sở chỉ đạo của đồng
chí Tổng Bí thư và Bộ Chính trị và các cơ quan trung ương, công tác lãnh đạo,
chỉ đạo của Thành ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân Thành phố trong công
tác triển khai chống ngập ứng trên địa bàn Thành phố đã được quan tâm chỉ đạo.
Thành phố đã xác định việc chống úng ngập trên địa bàn Thành phố là một trong
“điểm nghẽn” của Thành phố cần tháo gỡ, khắc phục.
b) Công tác quy hoạch: Quy hoạch thoát nước Thủ đô
Hà Nội theo Quyết định số 725/QĐ-TTg ngày 10/5/2013 của Thủ tướng Chính phủ cơ
bản đã xác định tương đối đầy đủ hệ thống công trình đầu mối, hồ điều hòa, trạm
bơm và các tuyến tiêu thoát nước chính theo từng lưu vực. Tại đồ án Quy hoạch tổng
thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm được đã được Hội đồng nhân dân Thành phố
thông qua và Ủy ban nhân dân Thành phố phê duyệt tại Quyết định số 2512/QĐ-UBND
ngày 13/5/2026 đã đề ra những chỉ tiêu, nội dung công việc cần tiếp tục rà
soát, chỉnh sửa để đồng bộ vào các quy hoạch thoát nước trong thời gian tới.
c) Về Đầu tư: Trong giai đoạn từ tháng 01/2025
đến 15/4/2026, Thành phố đã quyết định chủ trương đầu tư và bố trí vốn cho 25 dự
án đầu tư thuộc lĩnh vực thoát nước và chống úng ngập sử dụng vốn ngân sách
Thành phố, trong đó bao gồm 13 dự án đầu tư theo hình thức khẩn cấp và 12 dự án
theo trình tự xây dựng cơ bản (đạt 12,07% số với tổng vốn của khối Hạ tầng đô
thị), minh chứng cho sự chủ động vào cuộc của Ủy ban nhân dân Thành phố, các sở,
ban ngành, các chủ đầu tư và chính quyền địa phương trong việc tổ chức thực hiện
các nhóm công trình khẩn cấp, bước đầu đã có nhiều kết quả khả quan.
d) Công tác quản lý và tổ chức xử lý tình trạng úng
ngập đã được triển khai đồng bộ từ cấp Thành phố đến cơ sở, bám sát định hướng
quy hoạch thoát nước và các kế hoạch, phương án đã được ban hành, tạo nhiều
chuyển biến tích cực, từng bước nâng cao năng lực ứng phó.
e) Hệ thống thoát nước Thành phố hiện được phân cấp
cho nhiều chủ thể cùng tham gia quản lý, như Sở Xây dựng, Sở Nông nghiệp và Môi
trường, Ủy ban nhân dân các phường, xã, góp phần nâng cao tính chủ động của các
cấp chính quyền và đơn vị quản lý trong công tác vận hành, duy trì hệ thống
thoát nước.
2. Bên cạnh kết quả đạt được Hội đồng nhân dân
Thành phố đánh giá còn một số nội dung tồn tại, vướng mắc, cụ thể:
a) Về lập và cập nhật quy hoạch:
- Quy hoạch thoát nước được phê duyệt từ năm 2013,
với lượng mưa khoảng 310mm/2 ngày, chu kỳ lặp lại 10 năm. Tuy nhiên, thực tế gần
đây đã xuất hiện nhiều trận mưa cực đoan, có nơi đạt 500 - 600mm/2 ngày, vượt
xa năng lực thiết kế của hệ thống, gây ngập sâu, ngập kéo dài tại nhiều khu vực,
ngoài ra việc bổ cập nước cho các sông, xác định cao độ nền xây dựng cũng chưa
cập nhật, ảnh hưởng đến triển khai các dự án thoát nước dẫn đến một số giải
pháp quy hoạch hệ thống thoát nước trong Quyết định số 725/QĐ-TTg ngày
10/5/2013 của Thủ tướng Chính phủ chưa đáp ứng được các trận mưa cực đoan, cường
độ lớn.
- Quy hoạch thoát nước hiện nay chưa cập nhật với
nhóm các công trình ngầm, công trình hạ tầng lớn được đầu tư trong thời gian
qua; Quy hoạch thoát nước tại khu vực nông thôn mới chỉ dừng lại quy hoạch tiêu
thoát nước của công trình hiện hữu.
- Khả năng tiêu thoát nước của nhiều khu vực còn phụ
thuộc vào hệ thống tiêu thoát nước nông nghiệp và các nguồn tiếp nhận liên
vùng. Khi mực nước các sông tiêu dâng cao hoặc công trình đầu mối chưa vận hành
đồng bộ, hiệu quả tiêu thoát nước đô thị bị ảnh hưởng rõ rệt, làm phát sinh các
điểm úng ngập cục bộ. Năng lực tiêu thoát nước của một số lưu vực vẫn phụ thuộc
lớn vào các công trình hiện hữu, còn thiếu quy hoạch đối với nhóm công trình tiếp
nước, trạm bơm chuyển bậc (đặc biệt là lưu vực Hữu sông Nhuệ).
- Không gian trữ nước tự nhiên (ao, hồ, kênh mương)
tại một số khu vực bị thu hẹp; Công tác quản lý phát triển đô thị chưa kiểm
soát chặt chẽ yêu cầu về cao độ nền, hành lang thoát nước và đấu nối hệ thống.
Tình trạng san lấp ao hồ, thu hẹp kênh mương, tôn nền cục bộ và đấu nối hệ thống
không phù hợp vẫn còn xảy ra tại một số khu vực, làm thay đổi điều kiện thủy
văn, thủy lực ban đầu, phát sinh các điểm nghẽn dòng chảy và làm suy giảm hiệu
quả của các công trình đã đầu tư. Trong nhiều trường hợp, hệ thống thoát nước
phải “gánh” thêm lưu lượng phát sinh ngoài tính toán thiết kế, dẫn đến quá tải
cục bộ khi xảy ra mưa lớn.
b) Việc đầu tư triển khai thực hiện quy hoạch:
- Hệ thống thoát nước chưa được đầu tư đồng bộ,
chưa khép kín theo từng lưu vực theo quy hoạch. Mức độ đầu tư hệ thống thoát nước
của Thành phố giữa quy hoạch và thực tế còn khoảng cách lớn, nguồn lực chưa tập
trung vào nhóm các công trình đầu mới và hồ điều hòa có tính quyết định.
- Việc đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội sau đầu tư
còn chưa được quan tâm đúng mức. Nhiều công trình đầu mối, hồ điều hòa và tuyến
dẫn chưa được đầu tư đầy đủ, đồng bộ dẫn đến khả năng tiêu thoát nước phụ thuộc
lớn vào điều kiện vận hành và chưa đáp ứng yêu cầu khi xảy ra mưa lớn. Các công
trình, dự án này còn có dự án chưa tính đến các yếu tố tạo giá trị gia tăng sau
đầu tư, vừa thúc đẩy kinh tế địa phương, tạo nguồn thu để duy trì hệ thống
thoát nước.
- Hệ thống thoát nước tại một số khu đô thị, khu vực
phát triển mới chưa được khớp nối đồng bộ với hệ thống chung của Thành phố về
hướng tuyến, cao độ nền và phương án đấu nối. Một số hồ điều hòa trong khu đô
thị chưa phát huy đầy đủ chức năng điều tiết, chủ yếu phục vụ cảnh quan, làm giảm
hiệu quả hỗ trợ tiêu thoát nước khi mưa lớn. Còn nhiều khu đô thị chưa đầu tư đồng
bộ hạ tầng theo dự án.
- Việc thi công các công trình khẩn cấp còn xảy ra
tình trạng làm ảnh hưởng tới môi trường (bụi bẩn), làm xuống cấp hạ tầng khu vực
(sụt lún), cảnh báo an toàn trong thi công, và cho người dân chưa đáp ứng được
yêu cầu.
- Đối với khối lượng bùn, đất đào của các dự án vừa
qua cần xử lý rất lớn, việc bố trí các bãi tập kết, phương án xử lý đất đào rất
chậm, đến ngày 09 tháng 7 năm 2026 Ủy ban nhân dân Thành phố mới có văn bản số
3406/UBND-NNMT để chỉ đạo xử lý khối lượng đất đào theo hướng tận dụng tài
nguyên (thu hồi), làm ảnh hưởng đến tiến độ dự án, gây phát thải bụi ra môi trường.
c) Về quản lý vận hành:
- Công tác quản lý, vận hành và phối hợp giữa các
đơn vị chưa thực sự đồng bộ theo lưu vực. Hệ thống thoát nước hiện do nhiều chủ
thể quản lý (Cơ quan quản lý chuyên ngành đô thị, thủy lợi; chính quyền địa
phương; chủ đầu tư dự án), trong khi cơ chế điều phối thống nhất theo lưu vực
chưa hoàn thiện, dẫn đến một số thời điểm việc vận hành, điều tiết chưa tối ưu,
ảnh hưởng đến hiệu quả xử lý úng ngập cục bộ. Một số khu đô thị đã hoàn thành
xây dựng công trình nhà ở nhưng chưa hoàn thiện hoặc chưa bàn giao hệ thống
thoát nước, hồ điều hòa, trạm bơm và các công trình hạ tầng kỹ thuật liên quan
theo quy hoạch, dẫn đến phát sinh khoảng trống trong công tác quản lý, vận
hành, duy tu, duy trì công trình.
- Hệ thống thông tin, dữ liệu phục vụ giám sát, dự
báo và điều hành thoát nước chưa đồng bộ, chưa đáp ứng yêu cầu quản lý theo thời
gian thực, làm hạn chế khả năng ra quyết định nhanh, chính xác trong các tình
huống mưa lớn, diễn biến phức tạp.
- Công tác phối hợp giữa các ngành đôi lúc còn chưa
tốt, còn vướng mắc trong việc khớp nối hạ tầng giữa các dự án; việc xử lý hạng
mục công trình ngầm cần sự vào cuộc của nhiều sở ngành chuyên môn, nhiều cấp,
nhiều đơn vị.
- Số lượng vụ việc vi phạm phạm vi bảo vệ công
trình thủy lợi còn tồn đọng lớn (còn tồn đọng khoảng 81,68%); một số địa phương
chưa quyết liệt trong xử lý vi phạm, phối hợp giữa chính quyền địa phương và
đơn vị khai thác công trình thủy lợi còn hạn chế, làm ảnh hưởng trực tiếp đến
khả năng tiêu thoát nước liên vùng và hiệu quả vận hành chung của hệ thống.
- Ý thức một bộ phận người dân chưa cao, vẫn còn
tình trạng vứt rác thải xuống cống, mương; nhiều hộ kinh doanh thực phẩm đường
phố vẫn xả nước thải vào hệ thống thoát nước mưa; một số nơi còn tình trạng đổ
rác che bịt miệng hố ga gây cản trở, tắc nghẽn hệ thống thoát nước. Việc xử lý
vi phạm đối với các hành vi này còn hạn chế, chưa thực sự mang tính răn đe.
3. Hội đồng nhân dân Thành phố yêu cầu Ủy ban nhân
dân Thành phố chỉ đạo các Sở, Ngành và các đơn vị có liên quan một số nội dung
sau:
a) Về công tác xây dựng, triển khai Quy hoạch:
- Nghiên cứu các giải pháp, rà soát quy hoạch thoát
nước của Thủ đô theo định hướng Quy hoạch tổng thể Thủ đô 100 năm đã được phê
duyệt (như: thành phố bọt biển, bể siêu lớn, nêm xanh...) và tình hình biến đổi
khí hậu phức tạp trong giai đoạn hiện nay, cũng như dự báo trong thời gian tới,
hoàn thành việc rà soát ban hành quy hoạch thoát nước, xây dựng quy định về quản
lý cao độ nền, quản lý quy hoạch hạ tầng không gian ngầm của Thành phố trong
năm 2026.
- Kiểm soát chặt về quy hoạch hạn chế tối đa việc
giảm diện tích ao hồ, mặt nước trên địa bàn Thành phố, có giải pháp nâng thêm
diện tích mặt nước, khu vực trữ nước, tiêu thoát nước.
b) Về việc đầu tư, thực hiện quy hoạch:
- Triển khai các công trình theo Quy hoạch thoát nước,
ưu tiên đầu tư các công trình đầu mối, trạm bơm, hồ điều hòa và các tuyến truyền
dẫn theo từng lưu vực, bảo đảm tính khép kín của hệ thống. Tập trung nguồn lực
hoàn thành dứt điểm các dự án trọng điểm như: Trạm bơm tiêu Yên Nghĩa (kênh La
Khê), cụm công trình đầu mối Liên Mạc, trạm bơm Đông Mỹ, Văn Khê, Phương Trạch;
đồng thời đẩy nhanh tiến độ các dự án trung hạn có quy mô lớn, từng bước bổ
sung công suất đầu mối và không gian trữ nước theo quy hoạch.
- Tăng cường chỉ đạo công tác phối hợp giữa các đơn
vị, có kế hoạch triển khai cụ thể với từng ngành, từng cấp; thực hiện lồng ghép
đầu tư hệ thống thoát nước, xử lý nước thải với các dự án xây dựng hạ tầng khác
nhằm đảm bảo thực hiện đồng bộ theo thiết kế, chống lãng phí và phát huy hiệu
quả sau đầu tư.
- Xây dựng lộ trình xử lý thoát nước theo từng lưu
vực, gắn với tiến độ hoàn thành các công trình đầu mối và dự án trọng điểm. Rà
soát, xây dựng nguyên tắc, thứ tự ưu tiên đầu tư các công trình thoát nước.
Trong đó, phấn đấu đến hết năm 2026 cơ bản khắc phục các điểm úng ngập cục bộ
phát sinh do thiếu kết nối hệ thống; giai đoạn 2026-2030 tập trung xử lý các điểm
ngập có tính chất hệ thống, phụ thuộc vào các công trình đầu mối và dự án quy
mô lớn, bảo đảm từng bước giảm số lượng, phạm vi và thời gian úng ngập trên địa
bàn Thành phố.
- Chỉ đạo các Chủ đầu tư tập trung bố trí nguồn lực
đảm bảo để đẩy nhanh tiến độ thực hiện đối với nhóm dự án thực hiện theo lệnh
khẩn cấp. Rà soát, thực hiện nghiêm túc theo các quy định về việc đảm bảo an
toàn cho người lao động và người dân xung quanh dự án; thực hiện nghiêm việc kiểm
soát bụi, vệ sinh môi trường và công tác hoàn trả mặt bằng của dự án; Đẩy nhanh
tiến độ triển khai hệ thống hỗ trợ kiểm soát ngập lụt Thành phố. Rà soát, đánh
giá năng lực nhà thầu đối với nhóm các dự án chậm tiến độ, chậm triển khai thực
hiện.
- Chỉ đạo Ủy ban nhân dân các xã, phường tiếp tục
tăng cường phối hợp với các chủ đầu tư đối với nhóm các dự án thực hiện theo lệnh
khẩn cấp, đồng thời tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện của
các Chủ đầu tư đối với các nội dung đã phân cấp thuộc trách nhiệm của địa
phương (công tác an ninh, an toàn, công tác vệ sinh môi trường...); thường
xuyên phối hợp với Chủ đầu tư để khớp nối đồng bộ hạ tầng giữa các dự án khẩn cấp
với các dự án trên địa bàn và hạ tầng hiện hữu;
- Chỉ đạo hoàn chỉnh việc xác định công nghệ, quy
chuẩn, tiêu chuẩn, định mức, đơn giá phục vụ quản lý vận hành đối với các nhà
máy xử lý nước thải sau khi đưa dự án vào vận hành nhằm đảm bảo việc đồng bộ,
khả năng cân đối ngân sách của Thành phố hiệu quả, tránh lãng phí; Nghiên cứu
hoàn thiện giải pháp tách nước mưa và nước thải trong hệ thống thu gom, hạn chế
nước mưa, nước mặt xâm nhập vào hệ thống thu gom nước thải. Yêu cầu các nhà đầu
tư nhà máy xử lý nước thải có lộ trình chuyển giao công nghệ, cam kết về giá, cũng
như đảm bảo việc xác định đơn giá ngay sau khi dự án đưa vào hoạt động để xác định
được chi phí duy tu, duy trì công trình.
c) Về quản lý:
- Kiểm soát chặt không để việc san lấp ao hồ, lấn
chiếm hành lang thoát nước hoặc tự ý đấu nối vào hệ thống thoát nước. Làm rõ
trách nhiệm cụ thể của chính quyền địa phương trong việc xử lý vi phạm tình trạng
vứt rác thải xuống cống, mương; hộ kinh doanh xả nước thải chưa qua xử lý hoặc
đổ rác che bịt miệng hố ga gây cản trở, tắc nghẽn hệ thống thoát nước.
- Nghiên cứu, đề xuất giải pháp để quản lý đồng bộ
hệ thống thoát nước của Thành phố theo thời gian thực, đồng thời với việc xây dựng
quy chế quản lý vận hành các hồ, hệ thống thu gom, các cơ chế chính sách phát
triển xây dựng các bể chứa, hệ thống hồ trữ nước kết hợp hồ cảnh quan, công
viên sinh thái, tạo giá trị gia tăng khai thác về du lịch, dịch vụ. Nghiên cứu
các cơ chế khuyến khích, bảo tồn và giữ lại các hồ ao cổ có giá trị văn hóa, lịch
sử;
- Chỉ đạo rà soát, hoàn thiện cơ chế quản lý hệ thống
hồ điều hòa trên địa bàn Thành phố; nghiên cứu, xây dựng quy trình quản lý, vận
hành hồ điều hòa thống nhất trên địa bàn Thành phố; có hướng dẫn chung về công
tác quan trắc, kiểm soát chất lượng nước hồ; xác định rõ trách nhiệm của các
đơn vị được giao quản lý trực tiếp trong công tác duy trì vệ sinh môi trường,
thu gom rác nổi, xử lý rác thải, xác động vật, thủy sản chết và các vấn đề phát
sinh khác nhằm bảo đảm vệ sinh môi trường, phát huy hiệu quả điều hòa, tiêu
thoát nước của hệ thống hồ.
- Chỉ đạo các cơ quan chuyên môn tổ chức đánh giá
hiệu quả đầu tư sau khi hoàn thành đối với các công trình, dự án thoát nước, chống
úng ngập và xử lý nước thải; xây dựng bộ tiêu chí đánh giá theo từng lưu vực
trên cơ sở số điểm úng ngập được xử lý, thời gian tiêu thoát nước sau mưa, khả
năng vận hành hệ thống và mức độ cải thiện chất lượng môi trường nước làm cơ sở
phục vụ công tác quản lý, đầu tư trong giai đoạn tiếp theo.
- Chỉ đạo các đơn vị có liên quan rà soát các khu
đô thị chưa đồng bộ về khớp nối hạ tầng kỹ thuật của các khu đô thị; đôn đốc
các chủ đầu tư các dự án khu đô thị, dự án nhà ở trong việc chậm đầu tư xây dựng
hạ tầng của dự án, việc đấu nối, khớp nối giữa hạ tầng của dự án và hạ tầng khu
vực xung quanh, việc bàn giao hạ tầng của dự án cho Thành phố; yêu cầu các chủ
đầu tư thực hiện đầy đủ trách nhiệm đầu tư, hoàn thiện, đấu nối và bàn giao hệ
thống hạ tầng kỹ thuật theo quy định; xử lý dứt điểm các tồn tại ảnh hưởng đến
khả năng tiêu thoát nước của từng lưu vực và hệ thống thoát nước chung của
Thành phố; xây dựng các tiêu chuẩn để thực hiện việc đánh giá hiệu quả sau đầu
tư đối với nhóm các dự án thoát nước. Rà soát, đánh giá, phân loại đối với việc
bàn giao hạ tầng kỹ thuật của các khu đô thị cho Ủy ban nhân dân các xã, phường
vận hành, trong đó đảm bảo việc vận hành đồng bộ hệ thống thoát nước của toàn
khu vực, đáp ứng yêu cầu, mức độ sử dụng dịch vụ của người dân.
- Chỉ đạo Sở Xây dựng rà soát, nghiên cứu hoàn thiện
cơ chế giá dịch vụ thoát nước và xử lý nước thải trong năm 2026, bảo đảm bù đắp
chi phí vận hành, duy tu hệ thống và quy chuẩn tiêu chuẩn xử lý nước thải chung
của Thành phố; đồng thời nghiên cứu, đề xuất cơ chế huy động các nguồn lực
ngoài ngân sách, thúc đẩy xã hội hóa đầu tư đối với một số hạng mục phù hợp, giảm
áp lực cho ngân sách Thành phố.
- Chỉ đạo Sở Xây dựng phối hợp với Sở Khoa học Công
nghệ ứng dụng khoa học công nghệ chuyển đổi số trong lĩnh vực thoát nước, cần
nghiên cứu xây dựng hệ thống điều hành, theo dõi thoát nước tập trung, hướng tới
tích hợp vào Trung tâm điều hành tập trung IOC của Thành phố nhằm vận hành hệ
thống đảm bảo thông suốt, kịp thời và có tính cảnh báo sớm theo kịch bản cực
đoan với thời tiết mưa bão.
- Rà soát, nghiên cứu tổ chức lại công tác vận hành
hệ thống thoát nước theo lưu vực, khắc phục tình trạng phân tán theo địa giới
hành chính; xác định đầu mối điều hành tập trung cấp Thành phố để thực hiện điều
phối thống nhất. Xây dựng các kịch bản vận hành tổng thể trên toàn hệ thống, bảo
đảm huy động đồng bộ các công trình đầu mối, tuyến dẫn, hồ điều hòa và các lực
lượng ứng trực, từng bước nâng cao hiệu quả vận hành và chủ động kiểm soát tình
trạng úng ngập trong điều kiện mưa lớn, cực đoan. Hoàn thiện cơ chế phối hợp
liên ngành giữa thoát nước đô thị và thủy lợi; nâng cao hiệu quả công tác duy
tu, duy trì, nạo vét và ứng trực xử lý úng ngập theo các kịch bản mưa. Có
phương án để giải quyết việc tách dầu mỡ tại các cơ sở kinh doanh nhà hàng,
khách sạn, bếp ăn tập thể, các cơ sở kinh doanh thực phẩm... Trên cơ sở Luật Thủ
đô số 02/2016/QH16, xây dựng các chế tài xử phạt đối với các hành vi vi phạm
quy định xả thải không đúng quy định vào hệ thống thoát nước của Thành phố.
- Giao nhiệm vụ cho sở chuyên ngành ban hành các hướng
dẫn cụ thể đối với việc lát đá vỉa hè, quảng trường, công viên vườn hoa theo hướng
khuyến khích việc sử dụng các vật liệu thấm hút tự nhiên, thân thiện với môi
trường, có thể tháo lắp, tái sử dụng nhằm tiết kiệm, tránh lãng phí. Khẩn
trương ban hành các quy chuẩn, tiêu chuẩn, hướng dẫn kỹ thuật, thiết kế mẫu
theo thẩm quyền về nội dung này, để tạo điều kiện thuận lợi, tiết kiệm chi phí
triển khai trên địa bàn Thành phố.
(Các nội dung cam kết cụ thể tại Phụ lục số 02)
Điều 4. Tổ chức thực hiện
1. Giao Ủy ban nhân dân Thành phố tổ chức triển
khai thực hiện Nghị quyết, báo cáo Hội đồng nhân dân kết quả thực hiện tại kỳ họp
thường lệ cuối năm 2026 hoặc khi có yêu cầu của Thường trực Hội đồng nhân dân
Thành phố. Đề nghị Ủy ban nhân dân Thành phố rà soát, làm rõ tiến độ đối với những
nội dung cam kết chưa rõ thời hạn hoàn thành, chưa rõ đơn vị thực hiện, báo cáo
Thường trực Hội đồng nhân dân Thành phố trước ngày 01 tháng 8 năm 2026.
2. Giao Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của
Hội đồng nhân dân, Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân
Thành phố giám sát việc thực hiện Nghị quyết.
3. Đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Thành
phố phối hợp tuyên truyền và tham gia giám sát thực hiện Nghị quyết.
Nghị quyết này đã được Hội đồng nhân dân thành phố
Hà Nội khóa XVII, kỳ họp thứ Năm thông qua ngày 15 tháng 7 năm 2026 và có hiệu
lực từ ngày thông qua./.
|
Nơi nhận:
- Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
- Chính phủ;
- Ủy ban Công tác đại biểu của QH;
- Ủy ban KHCNMT của QH;
- Ủy ban KTTC của QH;
- Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chính phủ;
- Ban Thường vụ Thành ủy;
- Thường trực HĐND, UBND, UB MTTQ TP;
- Đoàn đại biểu Quốc hội TP Hà Nội;
- Đại biểu HĐND Thành phố;
- Các Ban Đảng TU, VP TU;
- VP ĐĐBQH và HĐND, VP UBND TP;
- Các sở, ban, ngành Thành phố;
- TT HĐND, UBND các xã, phường;
- Trang Thông tin điện tử của Đoàn ĐBQH và
HĐND Thành phố;
- Trung tâm TT, DL và CNS Thành phố;
- Lưu: VT, BĐT.
|
CHỦ TỊCH
Phùng Thị Hồng Hà
|
PHỤ LỤC 01
THỜI HẠN CAM KẾT CHỈ ĐẠO, THỰC HIỆN CÁC NỘI DUNG TÁI CHẤT
VẤN VỀ VIỆC THỰC HIỆN CÁC NGHỊ QUYẾT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VỀ HOẠT ĐỘNG
CHẤT VẤN VÀ TRẢ LỜI CHẤT VẤN
(Tổng hợp tại phiên chất vấn và trả lời chất vấn, Kỳ họp thứ 5 HĐND
Thành phố khóa XVII, ngày 15/7/2026)
|
CÁC NỘI DUNG TÁI CHẤT VẤN VỀ TIẾN ĐỘ THỰC HIỆN
CÁC CAM KẾT TRONG CÔNG TÁC BẢO ĐẢM AN TOÀN THỰC PHẨM, GẮN VỚI QUẢN LÝ BỮA ĂN
BÁN TRÚ CHO HỌC SINH
|
|
TT
|
Vấn đề chất vấn
|
Nội dung, giải
pháp cam kết
|
Cơ quan, cá
nhân cam kết
|
Thời gian hoàn
thành
|
|
1
|
Kiểm soát nguồn gốc, xuất xứ, hóa đơn, chứng từ
và tính xác thực của tem, nhãn đối với hoa quả, thực phẩm tại chợ đầu mối, chợ
dân sinh và các cửa hàng kinh doanh; trách nhiệm của chính quyền địa phương
và Ban Quản lý chợ khi hàng hóa không rõ nguồn gốc vẫn lưu hành.
|
- Kiểm tra ngay các điểm, quầy hàng và cơ sở được
phản ánh trong phóng sự; rà soát hồ sơ, hóa đơn, chứng từ, nguồn gốc hàng hóa
và tem, nhãn.
- Yêu cầu chủ hàng lưu sẵn hồ sơ tại điểm kinh
doanh và bố trí người có trách nhiệm xuất trình khi kiểm tra.
- Xử lý nghiêm hàng hóa không rõ nguồn gốc; chấn
chỉnh trách nhiệm quản lý, hậu kiểm của địa phương và Ban Quản lý chợ.
- Báo cáo bằng văn bản kết quả kiểm tra, xử lý với
HĐND Thành phố.
|
Chủ tịch UBND phường Hồng Hà; Trưởng Ban Quản lý
chợ Hồng Hà; Chủ tịch UBND phường Tương Mai; Chủ tịch UBND phường Ô Chợ Dừa;
lực lượng Quản lý thị trường và các cơ quan liên quan.
|
Kiểm tra ngay sau phiên chất vấn; báo cáo bằng
văn bản chậm nhất trước khi bế mạc kỳ họp. Việc kiểm tra, hậu kiểm thực hiện
thường xuyên. Ngay sau khi kỳ họp kết thúc, phóng viên đã tiến hành kiểm tra
và ghi hình tại chợ Long Biên. Tuy nhiên, tình trạng bán hàng không rõ nguồn
gốc vẫn diễn ra tràn lan tại chợ không đúng với cam kết của Trưởng BQL chợ. Đề
nghị UBND Thành phố chỉ đạo Sở, ngành, UBND phường làm rõ nguyên nhân, trách
nhiệm (Hoàn thành trong tháng 7/2026)
|
|
2
|
Tình trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật không
đúng quy định, không bảo đảm thời gian cách ly tại vùng sản xuất nông nghiệp.
|
- Tăng cường tuyên truyền, hướng dẫn trực tiếp
các hộ sản xuất về danh mục thuốc được phép sử dụng, quy trình sử dụng và thời
gian cách ly.
- Tập trung kiểm tra, giám sát tại địa bàn; xử phạt
các trường hợp vi phạm, hạn chế tái phạm.
- Xây dựng cơ sở dữ liệu đồng bộ đến từng vùng sản
xuất, gắn mã QR, quản lý đầu vào, thời gian sản xuất và thời điểm sử dụng thuốc
bảo vệ thực vật để phục vụ truy xuất nguồn gốc.
|
Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường; UBND các
xã, phường có vùng sản xuất nông nghiệp.
|
Thực hiện ngay và thường xuyên; báo cáo bằng văn
bản tiến độ xây dựng cơ sở dữ liệu triển khai theo lộ trình chuyển đổi số của
ngành
|
|
3
|
Xử lý các cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm nhỏ lẻ
trong khu dân cư; bảo đảm điều kiện vệ sinh thú y, môi trường, kiểm soát giết
mổ và truy xuất nguồn gốc tại các điểm giết mổ tập trung, tập trung tạm thời;
hoàn thiện mạng lưới giết mổ theo quy hoạch.
|
- Xử lý dứt điểm các điểm giết mổ nhỏ lẻ còn tồn
tại; cơ sở tiếp tục hoạt động bị xác định là vi phạm và phải được chính quyền,
cấp ủy, công an địa phương kiểm tra, xử lý.
- Trước mắt bố trí khoảng 70 điểm giết mổ tập
trung tạm thời có kiểm soát.
- Phúc Lộc duy trì không còn cơ sở giết mổ trong
khu dân cư, kiểm soát điểm giết mổ tạm thời và phối hợp đề xuất dự án giết mổ
tập trung.
- Trần Phú mở rộng điểm tập trung tạm thời, đưa nốt
03 hộ còn lại vào điểm tập trung; xây dựng khu giết mổ tập trung mới, xa khu
dân cư.
- Kêu gọi đầu tư, hình thành 27 điểm giết mổ tập
trung theo quy hoạch, công nghệ khép kín, tuần hoàn, xanh.
|
Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường; Giám đốc Sở
Tài chính; Chủ tịch UBND các xã, phường; trực tiếp là Chủ tịch UBND xã Phúc Lộc
và xã Trần Phú.
|
Xử lý dứt điểm các điểm giết mổ nhỏ lẻ trong
tháng 7/2026; hoàn thành 27 điểm giết mổ tập trung theo quy hoạch đến hết năm
2028.
|
|
4
|
Cơ sở vật chất phục vụ bữa ăn bán trú tại các trường
học, nhất là khu vực ngoại thành, chưa đồng bộ; còn thiếu bếp ăn, nhà ăn, khu
tổ chức ăn bán trú, nhà vệ sinh, khu vực rửa tay và trang thiết bị.
|
- Chỉ đạo 126 xã, phường rà soát toàn bộ cơ sở vật
chất trường học, tập trung vào nhà vệ sinh, khu vực rửa tay, hạ tầng và bếp
ăn.
- Bố trí kinh phí để địa phương hoàn thiện các điều
kiện phục vụ năm học mới.
- Tổ chức hai mô hình: nấu ăn tại trường đối với
trường đủ điều kiện, được cấp phép; sử dụng đơn vị chuyên nghiệp đủ điều kiện
cung cấp suất ăn sẵn đối với nơi chưa đủ điều kiện tổ chức nấu tại trường.
|
Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo; Chủ tịch UBND
các xã, phường.
|
Hoàn thiện để phục vụ năm học 2026-2027; triển
khai ngay sau khi nghị quyết về hỗ trợ bữa ăn bán trú được HĐND Thành phố
thông qua.
|
|
5
|
Chất lượng bữa ăn bán trú giữa các trường còn
chênh lệch; lựa chọn, kiểm soát nhà cung cấp chưa chặt chẽ, thiếu công khai,
minh bạch; chưa có cơ sở dữ liệu và bộ tiêu chí thống nhất; số hóa quản lý bữa
ăn bán trú còn chậm.
|
- Hoàn thiện đề án tổng thể về tổ chức bữa ăn bán
trú và hướng dẫn triển khai thống nhất.
- Xây dựng hệ thống dữ liệu tập trung/phần mềm Hà
Nội Check gồm: hồ sơ dinh dưỡng điện tử; quản lý nhà cung cấp và truy xuất
nguồn gốc; kiểm soát an toàn trên môi trường số, chữ ký số, camera AI; ứng dụng
cho phụ huynh tra cứu, giám sát; hệ thống thông tin điều hành.
- Công khai các đơn vị cung cấp; yêu cầu toàn bộ
đơn vị cung cấp cập nhật hồ sơ và nguồn gốc thực phẩm trên hệ thống.
- Hiệu trưởng chịu trách nhiệm toàn diện về an
toàn thực phẩm; thực hiện đầy đủ kiểm thực ba bước và lưu mẫu thức ăn.
|
Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo; Giám đốc Sở Khoa
học và Công nghệ; Ban Chỉ đạo an toàn thực phẩm Thành phố; Chủ tịch UBND các
xã, phường; hiệu trưởng các cơ sở giáo dục.
|
Sở Giáo dục và Đào tạo gửi văn bản báo cáo số liệu
chính xác: (i) Tổng số trường tiểu học triển khai chính sách; số trường đủ/không
đủ điều kiện CSVC tổ chức bữa ăn bán trú (phân loại theo địa bàn nội/ngoại
thành); Hoàn thiện hướng dẫn, đề án và triển khai đồng bộ sau khi nghị quyết
được thông qua, phục vụ năm học 2026-2027 (Hoàn thành trong tháng 8/2026)
|
|
6
|
Công tác kiểm tra, hậu kiểm cơ sở kinh doanh dịch
vụ ăn uống và bếp ăn tập thể còn hạn chế; lưu mẫu thức ăn chưa đúng quy định;
kiểm tra chủ yếu qua hồ sơ, tỷ lệ test nhanh và kiểm nghiệm chuyên sâu tại cấp
xã còn thấp.
|
- Bổ sung nguồn lực, bộ test và thiết bị cho địa
phương; tăng tỷ lệ kiểm tra bằng test nhanh, xét nghiệm, kiểm nghiệm thay cho
việc chủ yếu kiểm tra hồ sơ và quan sát.
- Nâng cao năng lực chuyên môn cho y tế cơ sở và
các đoàn/ban chỉ đạo an toàn thực phẩm cấp xã.
- Tăng cường hậu kiểm sau cấp giấy chứng nhận; kịp
thời đình chỉ, thu hồi giấy chứng nhận và xử lý cơ sở không duy trì điều kiện
an toàn thực phẩm.
- Xây dựng bản đồ đánh giá rủi ro, xếp hạng cơ sở
an toàn thực phẩm để phục vụ quản lý và công khai cho người dân.
|
Giám đốc Sở Y tế; Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm;
Chủ tịch UBND các xã, phường; cơ quan chuyên môn liên quan.
|
Sở Y tế, Sở Nội vụ gửi văn bản báo cáo tiến độ
hoàn thiện đề án (thời gian trình, nội dung chính 1 đầu mối và cơ chế chính
sách); kế hoạch trang bị test kit, thiết bị và đào tạo nâng cao năng lực
chuyên môn cho y tế cơ sở/BCĐ địa phương Triển khai trong năm 2026 và thực hiện
thường xuyên (Hoàn thành tháng 8/2026)
|
|
7
|
Phân công, phân cấp quản lý an toàn thực phẩm còn
chồng chéo; cấp xã phải quản lý khối lượng lớn thuộc cả ba lĩnh vực y tế,
công thương, nông nghiệp nhưng nguồn lực, năng lực và trang thiết bị còn hạn
chế; chưa có đầu mối quản lý thống nhất.
|
- Hoàn thiện Đề án tổ chức quản lý an toàn thực
phẩm theo một đầu mối, bảo đảm chỉ đạo xuyên suốt từ Thành phố đến xã, phường.
- Đồng thời xây dựng cơ chế, chính sách phát triển,
tăng cường năng lực và nguồn lực cho công tác an toàn thực phẩm.
- Báo cáo xin chủ trương của cấp có thẩm quyền để
triển khai mô hình tổ chức sau khi Đề án được hoàn thiện.
|
Giám đốc Sở Y tế; Giám đốc Sở Nội vụ và các sở,
ngành liên quan.
|
Hoàn thiện, trình Đề án trong tháng 8/2026 (theo
cam kết “trong tháng tới” tại phiên chất vấn ngày 16/7/2026); sớm đưa vào thực
hiện sau khi được cấp có thẩm quyền chấp thuận.
|
|
8
|
Thực phẩm giả, nhập lậu, không rõ nguồn gốc, kém
chất lượng và vi phạm an toàn thực phẩm trên môi trường thương mại điện tử
còn diễn biến phức tạp; có tình trạng tái phạm và né tránh trách nhiệm bằng
cách thay đổi, đóng tài khoản.
|
- Tăng cường phối hợp giữa lực lượng Quản lý thị
trường với Công an Thành phố, Hải quan, Sở Y tế, Sở Nông nghiệp và Môi trường,
Sở Khoa học và Công nghệ và cơ quan quản lý thương mại điện tử thuộc Bộ Công
Thương.
- Kết nối, trao đổi thông tin với Ban Chỉ đạo 389
của 10 tỉnh, thành phố để phát hiện, xử lý các vụ việc liên tỉnh.
- Yêu cầu xác thực điện tử đối với chủ gian
hàng/tài khoản kinh doanh thực phẩm.
- Triển khai Đề án thí điểm mô hình tiêu dùng số
và bảo trợ thương mại điện tử, xây dựng “gian hàng số Thủ đô”, minh bạch nguồn
gốc và bảo vệ người tiêu dùng.
- Kiểm tra, xử lý từ 900 đến 1.100 vụ theo mục
tiêu đã đề ra.
|
Giám đốc Sở Công Thương; Chi cục trưởng Chi cục
Quản lý thị trường; Công an Thành phố và các sở, ngành liên quan.
|
Sở Công thương gửi văn bản báo cáo: (i) Kết quả
phê duyệt đề án TMĐT và tiến độ triển khai "; (ii) Số liệu chi tiết vụ
TMĐT và tỷ lệ tái phạm. Chi cục QLTT báo cáo hiệu quả thực hiện quy chế phối
hợp liên tỉnh mới (Hoàn thành trong tháng 7/2026)
|
PHỤ LỤC 02
THỜI HẠN CAM KẾT CHỈ ĐẠO, THỰC HIỆN CÁC NỘI DUNG CHẤT VẤN
VỀ VIỆC GIẢI QUYẾT ĐIỂM NGHẼN VỀ ÚNG NGẬP ĐÔ THỊ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ
(Kèm theo Nghị quyết số 39/NQ-HĐND ngày 15 tháng 7 năm 2026 của Hội đồng
nhân dân Thành phố)
|
TT
|
Vấn đề chất vấn
|
Nội dung, giải
pháp cam kết
|
Cơ quan, cá
nhân cam kết
|
Thời gian hoàn
thành
|
|
1
|
Việc triển khai cập nhật quy hoạch thoát nước,
quy hoạch cao độ nền xây dựng
|
Sở Quy hoạch Kiến trúc đang phối hợp với Sở Xây dựng
triển khai rà soát quy hoạch thoát nước, quy hoạch cao độ nền xây dựng, trong
đó sẽ bổ sung khoảng 8.000 ha hồ điều hòa (tăng khoảng 20-25% so với quy hoạch
theo Quyết định số 725/QĐ-TTg), bổ sung hệ thống bể ngầm chứa nước khi triển
khai các hệ thống giao thông, hệ thống đường sắt đô thị
|
Giám đốc Sở Quy hoạch Kiến trúc
|
Tháng 9 năm 2026
|
|
2
|
Việc đánh giá hiệu quả tăng thêm, phương án khai
thác khi thẩm định, phê duyệt dự án đối với nhóm xây dựng các hồ chứa nước
|
Đã đánh giá hiệu quả, đo lường đóng góp vào ngân
sách của địa phương và Thành phố. Sẽ tiến hành bàn giao cho các địa phương,
các cơ quan sau khi hoàn thành để tiếp tục quản lý khai thác đầu tư công
trình.
|
Giám đốc Sở Tài chính
|
|
|
3
|
Việc huy động nguồn lực để triển khai các dự án
theo quy hoạch, giải quyết cơ bản điểm nghẽn về úng ngập trên địa bàn Thành
phố
|
Ban hành Đề án thoát nước, chống úng ngập trên địa
Thành phố giai đoạn 2026-2030, với sơ bộ tổng mức đầu tư khoảng 32.000 tỷ đồng
vốn ngân sách và khoảng 100.000 tỷ đồng vốn ngoài ngân sách. Xác định tập trung
nguồn vốn để hoàn thành nhiệm vụ thoát nước theo từng lưu vực; Tập trung nguồn
vốn ngân sách đầu tư cho các công trình trạm bơm đầu mối, kênh dẫn, hồ điều
hòa chiến lược, các tuyến tiêu thoát chính và nhóm công trình điều tiết. Đối
với các Chủ đầu tư các khu đô thị không hoàn thành việc đầu tư đồng bộ hệ thống
hạ tầng kỹ thuật, bàn giao cho các đơn vị quản lý vận hành hệ thống thoát nước
sẽ không giao dự án mới hoặc hạn chế tham gia các dự án trên địa bàn Thành phố.
Tăng cường triển khai mô hình đầu tư hợp tác công tư (PPP) trong lĩnh vực
thoát nước, đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án đã được phê duyệt trong thời
gian qua.
|
Đ/c Trương Việt Dũng - Phó Chủ tịch UBND Thành phố
|
|
|
4
|
Việc nghiên cứu để ban hành các chính sách khai
thác các hồ chứa nước đã được đầu tư
|
Giao cho các đơn vị, xã phường vận hành, quản lý
khai thác, tính toán nguồn thu từ diện tích quỹ đất 5% ở các khu vực cạnh hồ
như đường dạo, công viên cây xanh để bù đắp chi phí vận hành, duy tu, duy trì
|
Đ/c Trương Việt Dũng - Phó Chủ tịch UBND Thành phố
|
|
|
5
|
Việc sử dụng các vật liệu thấm hút tự nhiên, thân
thiện với môi trường, có thể tháo lắp, tái sử dụng; ban hành các quy chuẩn,
tiêu chuẩn, hướng dẫn kỹ thuật, thiết kế mẫu theo thẩm quyền về sử dụng vật
liệu trên
|
Đang triển khai xây dựng Đề án thành phố Bọt biển
để trình Ban Thường vụ Thành ủy cho ý kiến, trong đó có quy định, quy chuẩn,
tiêu chuẩn về việc sử dụng thấm nước tự nhiên. Trước mắt sẽ triển khai tại
các khu vực tại vườn hoa, công viên và các khu vực đầu tư mới
|
Đ/c Giám đốc Sở Xây dựng
|
|
|
6
|
Tình trạng đào lòng đường, vỉa hè nhiều lần để đầu
tư các hạng mục thoát nước
|
Thí điểm triển khai đồng bộ việc hạ ngầm cáp điện
chiếu sáng, hệ thống viễn thông kết hợp với các công trình thoát nước tại các
phường Cửa Nam, Ba Đình, Hoàn Kiếm.
|
Đ/c Giám đốc Sở Xây dựng
|
|
|
7
|
Tình trạng thiếu đầu tư xây dựng các công trình hạ
tầng kỹ thuật, không bàn giao hạ tầng kỹ thuật tại nhiều dự án Khu đô thị
trên địa bàn Thành phố
|
Hiện tại còn 26 khi đô thị chưa hoàn thiện hoặc
chưa bàn giao hạ tầng kỹ thuật cho Thành phố. Hiện nay, Sở đang phối hợp với
các xã, phường yêu cầu các nhà đầu tư trên hoàn thiện đầu tư đồng bộ hạ tầng
kỹ thuật và bàn giao cho Thành phố
|
Đ/c Giám đốc Sở Xây dựng
|
Hoàn thành 50% khu đô thị hoàn thành bàn giao hạ
tầng kỹ thuật cho Thành phố vào Quý III năm 2026, hoàn thành 100% vào Quý IV
năm 2026
|
|
8
|
Trách nhiệm trong việc xử lý việc úng ngập tại một
số khu đô thị trên địa bàn Thành phố (Khu đô thị Ciputra, Khu đô thị Khai
Sơn)
|
Yêu cầu Chủ đầu tư khu đô thị Khai Sơn định kỳ phải
thực hiện nạo vét bùn đất, vật liệu xây dựng tại các tuyến cống, ga thu thuộc
phạm vi quản lý của dự án. Đẩy nhanh tiến độ xây dựng đối với tuyến đường
30m. Phối hợp với UBND Phường Việt Hưng đôn đốc Chủ đầu tư bàn giao hạ tầng kỹ
thuật cho Thành phố để bàn giao cho Thành phố.
|
Đ/c Chủ tịch UBND phường Bồ Đề
|
Khởi công xây dựng công trình tuyến đường 30m vào
tháng 9 năm 2026
|
|
9
|
Việc phân cấp, quản lý hệ thống thoát nước phân
chia theo địa giới hành chính không, không quản lý theo lưu vực thoát nước (theo
Quyết định 61/2025/QĐ-UBND của UBND Thành phố)
|
Đã chỉ đạo Sở Nông nghiệp Môi trường và Sở Xây dựng
ban hành quy chế phối hợp thoát nước đô thị và tiêu thoát nước thủy lợi. Tối
đa trong vòng 30 phút các đơn vị phải phối hợp trong công tác thoát nước theo
từng lưu vực. Chuyển việc duy tu thoát nước theo kết quả thoát nước. Việc triển
khai thoát nước thực hiện theo mô hình Thành phố vận hành hệ thống trục chính
liên phường, liên xã, liên khu vực, các xã phường vận hành hệ thống ngõ
ngách, các hố ga và điểm tắc cục bộ trên cơ sở kịch bản chung của Thành phố.
UBND Thành phố sẽ sửa Quyết định 61/2025/QĐ-UBND
trong thời gian tới để phù hợp với định hướng trên.
|
Đ/c Trương Việt Dũng - Phó Chủ tịch UBND Thành phố
|
|
|
10
|
Việc chậm hoàn thành đầu tư xây dựng các hạng mục
đối với nhóm công trình khẩn cấp phục vụ mùa mưa năm 2026 (Cải tạo tuyến
kênh Thụy Phương, hồ điều hòa Yên Nghĩa 1, công tác hoàn trả mặt đường, đèn
chiếu sáng, trồng cây xanh tại các tuyến kênh Thụy Phương, Hoàng Minh Thảo,
Võ Chí Công). Trách nhiệm giải quyết các tuyến đường hư hỏng do thi công
các dự án khẩn cấp.
|
Chưa được trả lời
|
|
|
|
11
|
Việc triển khai hệ thống thông tin, dữ liệu phục
vụ giám sát, dự báo và điều hành thoát nước đáp ứng yêu cầu quản lý theo thời
gian thực
|
Ban QLDA Hạ tầng Kỹ thuật Nông nghiệp Thành phố
đang triển khai xây dựng cảm biến ngập trên địa bàn Thành phố kết hợp với hệ
thống quản lý thoát nước do Công ty TNHH MTV Thoát nước đang vận hành và sẽ
tiếp tục hoàn chỉnh các hệ thống khác để đáp ứng nội dung quản lý theo thời
gian thực. Việc triển khai sẽ được đồng bộ vào trung tâm điều hành IOT của
Thành phố.
|
Đ/c Giám đốc Sở Xây dựng
|
|
|
Việc ban hành giá dịch vụ thoát nước
|
Đang dự thảo trình UBND Thành phố ban hành.
|
Đ/c Giám đốc Sở Xây dựng
|
|
|
12
|
Việc xử lý vi phạm xả nước thải sinh hoạt vào hệ
thống thu gom nước mưa, tình trạng vứt rác thải xuống cống gây cản trở dòng
chảy, tắc cống một số phường Hoàn Kiếm, Đống Đa.
|
Chưa được trả lời
|
|
|
|
13
|
Giải pháp và chế tài xử lý tình trạng mất nắp hố
ga, cảnh báo mất nắp hố ga, che lấp cống thoát nước
|
Trả lời chưa rõ
|
Đ/c Giám đốc Sở Xây dựng
|
|