Từ khoá: Số Hiệu, Tiêu đề hoặc Nội dung ngắn gọn của Văn Bản...

Đăng nhập

Dùng tài khoản LawNet
Quên mật khẩu?   Đăng ký mới

Đang tải văn bản...

Số hiệu: 04/VBHN-BKHCN Loại văn bản: Văn bản hợp nhất
Nơi ban hành: Bộ Khoa học và Công nghệ Người ký: Lê Xuân Định
Ngày ban hành: 15/11/2024 Ngày hợp nhất: Đã biết
Ngày công báo: Đã biết Số công báo: Đã biết
Tình trạng: Đã biết

BỘ KHOA HỌC VÀ
CÔNG NGHỆ
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 04/VBHN-BKHCN

Hà Nội, ngày 15 tháng 11 năm 2024

THÔNG TƯ

QUY ĐỊNH CHI TIẾT VÀ HƯỚNG DẪN THI HÀNH MỘT SỐ ĐIỀU CỦA NGHỊ ĐỊNH SỐ 99/2013/NĐ-CP NGÀY 29 THÁNG 8 NĂM 2013 CỦA CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP

Thông tư số 11/2015/TT-BKHCN ngày 26 tháng 6 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29 tháng 8 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, có hiệu lực kể từ ngày 11 tháng 8 năm 2015, được sửa đổi, bổ sung bởi:

Thông tư số 06/2024/TT-BKHCN ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 11/2015/TT-BKHCN ngày 26 tháng 6 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29 tháng 8 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 11 năm 2024.

Căn cứ Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012;

Căn cứ Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2009 (sau đây gọi tắt là Luật Sở hữu trí tuệ);

Căn cứ Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính;

Căn cứ Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29/8/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp;

Căn cứ Nghị định số 103/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp; Nghị định số 122/2010/NĐ-CP ngày 31/12/2010 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 103/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 (sau đây gọi tắt là Nghị định 103/2006/NĐ-CP sửa đổi);

Căn cứ Nghị định số 105/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ; Nghị định số 119/2010/NĐ-CP ngày 30/12/2010 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 105/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 (sau đây gọi tắt là Nghị định 105/2006/NĐ- CP sửa đổi);

Căn cứ Nghị định số 20/2013/NĐ-CP ngày 26/02/2013 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Khoa học và Công nghệ;

Theo đề nghị của Chánh Thanh tra Bộ và Vụ trưởng Vụ Pháp chế,

Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành Thông tư quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29/8/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp.[1]

Chương I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng[2]

1. Phạm vi điều chỉnh:

Thông tư này quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29 tháng 8 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp được sửa đổi, bổ sung một số điều tại Nghị định số 126/2021/NĐ-CP ngày 30 tháng 12 năm 2021 và Nghị định số 46/2024/NĐ-CP ngày 04 tháng 5 năm 2024 của Chính phủ (sau đây viết tắt là Nghị định số 99/2013/NĐ-CP).

2. Đối tượng áp dụng:

a) Đối tượng quy định tại Điều 1a Nghị định số 99/2013/NĐ-CP có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp;

b) Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính và lập biên bản vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp theo quy định từ Điều 15 đến Điều 21a Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ;

c) Tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp.

Điều 2.[3] (được bãi bỏ)

Điều 3. Hình thức xử phạt bổ sung[4]

Khi áp dụng hình thức xử phạt bổ sung quy định tại Điểm c Khoản 2 Điều 3 Nghị định số 99/2013/NĐ-CP , người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính áp dụng biện pháp đình chỉ một phần hoặc toàn bộ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ của tổ chức, cá nhân vi phạm theo nguyên tắc đình chỉ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ liên quan trực tiếp đến hành vi vi phạm bị xử phạt vi phạm hành chính. Biện pháp đình chỉ toàn bộ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ của tổ chức, cá nhân vi phạm áp dụng đối với trường hợp toàn bộ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ này liên quan trực tiếp đến hành vi vi phạm bị xử phạt vi phạm hành chính.

Điều 4. Áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính[5]

Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính xem xét, áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính là tạm giữ tên miền khi nhận được các tài liệu hợp lệ của chủ thể kiến nghị xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến việc chiếm hữu, sử dụng tên miền được quy định tại Điểm a Khoản 16 Điều 14 Nghị định số 99/2013/NĐ-CP , bao gồm:

1. Đề nghị áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính “tạm giữ tên miền” (bằng văn bản riêng hoặc thể hiện trong đơn kiến nghị xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến việc chiếm hữu, sử dụng tên miền);

2. Văn bản ủy quyền theo quy định tại Điều 23 Nghị định số 99/2013/NĐ-CP (nếu có);

3. Tài liệu, chứng cứ chứng minh hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến việc chiếm hữu, sử dụng tên miền theo quy định tại Điểm c Khoản 2 Điều 19 Thông tư này.

Điều 5.[6] (được bãi bỏ)

Điều 6. Xác định số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm hành chính[7]

1. Số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm hành chính là khoản lợi ích mà tổ chức, cá nhân thu được do thực hiện hành vi vi phạm hành chính, gồm:

a) Tiền;

b) Giấy tờ có giá;

c) Vật, tài sản khác.

2. Xác định số lợi bất hợp pháp là tiền:

a) Số lợi bất hợp pháp có được bằng tiền là toàn bộ số tiền tổ chức, cá nhân thu được từ hành vi vi phạm hành chính và được tính bằng số tiền thu được từ việc chuyển nhượng, tiêu thụ hàng hóa, cung cấp dịch vụ vi phạm sau khi đã trừ chi phí trực tiếp cấu thành hàng hóa, dịch vụ trên cơ sở căn cứ vào hồ sơ, chứng từ chứng minh tính hợp pháp, hợp lệ của các chi phí đó do tổ chức, cá nhân vi phạm cung cấp;

b) Việc xác định số lợi bất hợp pháp là tiền được thực hiện như sau:

Số lợi bất hợp pháp là tiền bằng (=) số lượng hàng hóa, khối lượng dịch vụ đã chuyển nhượng, tiêu thụ nhân (x) với đơn giá hàng hóa, dịch vụ trừ (-) chi phí trực tiếp cấu thành hàng hóa hoặc dịch vụ (nếu tổ chức, cá nhân vi phạm có đầy đủ hồ sơ, chứng từ để chứng minh tính hợp pháp, hợp lệ của các chi phí đó).

Trong đó:

- Số lượng hàng hóa hoặc khối lượng dịch vụ đã chuyển nhượng, tiêu thụ được xác định trên cơ sở kê khai của tổ chức, cá nhân vi phạm và kiểm tra, xác minh của người có thẩm quyền xử phạt;

- Đơn giá hàng hóa, dịch vụ được xác định trên cơ sở hồ sơ, chứng từ của tổ chức, cá nhân vi phạm. Trường hợp không có hồ sơ, chứng từ để xác định thì đơn giá được xác định theo giá thị trường của hàng hóa, dịch vụ tương tự tại thời điểm phát hiện hành vi vi phạm;

Trường hợp không xác định được số lượng, khối lượng, đơn giá thì số lợi bất hợp pháp có được là toàn bộ số tiền tổ chức, cá nhân thu được từ việc chuyển nhượng, tiêu thụ hàng hoá, cung cấp dịch vụ trái pháp luật.

3. Xác định số lợi bất hợp pháp là giấy tờ có giá:

a) Số lợi bất hợp pháp có được là giấy tờ có giá là toàn bộ giấy tờ có giá mà tổ chức, cá nhân vi phạm thu được từ hành vi vi phạm hành chính;

b) Giấy tờ có giá quy định tại Khoản 1 Điều này là các loại giấy tờ có giá theo quy định của Bộ luật Dân sự và các loại giấy tờ có giá khác theo quy định pháp luật liên quan;

c) Trường hợp giấy tờ có giá đã được chuyển nhượng thì số lợi bất hợp pháp được xác định bằng số tiền thực tế thu được tại thời điểm chuyển nhượng.

Trường hợp giấy tờ có giá đã bị tẩu tán, tiêu hủy thì số lợi bất hợp pháp được xác định theo giá trị sổ sách của tổ chức phát hành giấy tờ có giá tại thời điểm tẩu tán, tiêu hủy.

4. Xác định số lợi bất hợp pháp là vật, tài sản khác:

a) Số lợi bất hợp pháp là vật, tài sản khác mà tổ chức, cá nhân vi phạm thu được từ hành vi vi phạm hành chính là vật, tài sản khác theo quy định của Bộ luật Dân sự;

b) Trường hợp vật, tài sản khác đã được chuyển nhượng, tiêu thụ hoặc tiêu hủy thì số lợi bất hợp pháp được xác định bằng số tiền tương đương giá trị thị trường của tài sản cùng loại hoặc xác định theo giá trị sổ sách của tài sản (nếu không có giá trị thị trường) hoặc xác định bằng giá trị tiền của tài sản ghi trên tờ khai hàng hóa xuất khẩu, tờ khai hàng hóa nhập khẩu (nếu là hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu) của tổ chức, cá nhân vi phạm sau khi trừ chi phí trực tiếp cấu thành hàng hóa trên cơ sở căn cứ vào hồ sơ, chứng từ chứng minh tính hợp pháp, hợp lệ của các chi phí đó.

Chương II

HÀNH VI VI PHẠM BỊ XỬ PHẠT HÀNH CHÍNH

Mục 1. HÀNH VI VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP

Điều 7. Hành vi vi phạm quy định về chỉ dẫn bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp và chuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp quy định tại Điều 6 Nghị định số 99/2013/NĐ-CP[8]

1. Hành vi chỉ dẫn sai về tình trạng pháp lý quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 6 Nghị định số 99/2013/NĐ-CP được hiểu là việc cung cấp thông tin chỉ dẫn gây hiểu sai lệch rằng đối tượng đang được bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp tại Việt Nam mặc dù không được hoặc chưa được bảo hộ, kể cả trường hợp đối tượng đó đã nộp đơn đăng ký nhưng chưa được cấp văn bằng bảo hộ hoặc văn bằng bảo hộ đã bị huỷ bỏ, chấm dứt hiệu lực hoặc hết thời hạn bảo hộ tại thời điểm thực hiện việc chỉ dẫn lên hàng hoá, bao bì hàng hoá, phương tiện kinh doanh, bao gồm:

a) Gắn trên hàng hóa, bao bì hàng hóa, phương tiện kinh doanh chỉ dẫn gây hiểu sai lệch về việc hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu được bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp như: “nhãn hiệu đã được cấp văn bằng bảo hộ độc quyền”, “nhãn hiệu được bảo hộ”, “nhãn hiệu thuộc độc quyền của...” hoặc chỉ dẫn có ý nghĩa tương tự, kể cả việc sử dụng ký hiệu ® (chỉ dẫn về việc nhãn hiệu được bảo hộ tại Việt Nam). Trường hợp trên hàng hóa, bao bì hàng hóa sử dụng ký hiệu ® mà trên hàng hóa, bao bì hàng hóa (bao gồm nhãn phụ đối với hàng hóa nhập khẩu) có chỉ dẫn thông tin trung thực về tình trạng bảo hộ nhãn hiệu tại Việt Nam thì không bị coi là hành vi vi phạm quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 6 Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ;

b) Gắn trên hàng hóa, bao bì hàng hóa, phương tiện kinh doanh chỉ dẫn gây hiểu sai lệch về việc hàng hóa được bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp như: “sản phẩm được bảo hộ độc quyền kiểu dáng công nghiệp; “sản phẩm được bảo hộ độc quyền sáng chế”; “sản phẩm được sản xuất theo quy trình được bảo hộ sáng chế của...” hoặc chỉ dẫn có ý nghĩa tương tự, kể cả việc sử dụng ký hiệu “P” hoặc “Patent” (chỉ dẫn về việc sản phẩm, hàng hoá được sản xuất theo sáng chế được bảo hộ). Trường hợp trên hàng hóa, bao bì hàng hóa sử dụng ký hiệu “P” hoặc “Patent” mà trên hàng hóa, bao bì hàng hóa (bao gồm nhãn phụ đối với hàng hóa nhập khẩu) có chỉ dẫn thông tin trung thực về tình trạng bảo hộ sáng chế tại Việt Nam thì không bị coi là hành vi vi phạm quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 6 Nghị định số 99/2013/NĐ-CP .

2. Các hành vi quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 6 Nghị định số 99/2013/NĐ-CP được hiểu như sau:

a) Hành vi nhận chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu không thực hiện dưới hình thức hợp đồng bằng văn bản trong trường hợp sử dụng nhãn hiệu được chuyển quyền trên hàng hoá, bao bì hàng hoá là việc nhận chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu từ chủ thể quyền và sử dụng nhãn hiệu đó trên hàng hóa, bao bì hàng hóa nhưng không được thể hiện dưới hình thức hợp đồng có đầy đủ các nội dung được quy định tại khoản 1 Điều 144 Luật Sở hữu trí tuệ. Văn bản chấp thuận, Thư đồng ý hoặc các văn bản tương tự của chủ thể quyền với nội dung cho phép một bên sử dụng nhãn hiệu được bảo hộ mà không có đầy đủ các nội dung được quy định tại khoản 1 Điều 144 Luật Sở hữu trí tuệ thì không được coi là hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu;

b) Hành vi chỉ dẫn sai là hành vi ghi trên hàng hóa, bao bì hàng hóa cụm từ “được sản xuất theo hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp của...” hoặc chỉ dẫn có nghĩa tương tự bằng tiếng Việt hoặc tiếng nước ngoài thuộc một trong các trường hợp sau đây:

- Người sử dụng chưa được chuyển quyền sử dụng hợp pháp đối tượng sở hữu công nghiệp theo quy định của pháp luật;

- Có hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp giữa các bên nhưng thông tin như tên hoặc số hợp đồng trong nội dung chỉ dẫn không chính xác.

c) Hành vi không ghi chỉ dẫn là hành vi không ghi trên hàng hóa, bao bì hàng hóa chỉ dẫn về việc sản phẩm, hàng hóa đó được sản xuất theo hợp đồng sử dụng đối lượng sở hữu công nghiệp.

Điều 8. Hành vi vi phạm quy định về đại diện sở hữu công nghiệp quy định tại Điều 7 Nghị định 99/2013/NĐ-CP

1. Hành vi đồng thời là đại diện cho các bên tranh chấp với nhau về quyền sở hữu công nghiệp quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 7 Nghị định 99/2013/NĐ-CP được hiểu là một trong các hành vi sau đây:[9]

a) Thực hiện một hoặc một số dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp quy định tại Khoản 1 Điều 151 Luật Sở hữu trí tuệ cho cả bên yêu cầu xử lý và bên bị yêu cầu xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp trong cùng một vụ việc;

b) Thực hiện một hoặc một số dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp quy định tại Khoản 1 Điều 151 Luật Sở hữu trí tuệ cho bên thực hiện thủ lục phản đối, yêu cầu huỷ bỏ, chấm dứt hiệu lực văn bằng bảo hộ, xử lý vi phạm trong khi đang là đại diện cho người nộp đơn, chủ văn bằng bảo hộ thực hiện các thủ tục liên quan đến xác lập, thực hiện, bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp trong cùng một vụ việc.

2.[10] (Được bãi bỏ)

3. Đại diện sở hữu công nghiệp có sai phạm nghiêm trọng trong khi hành nghề đại diện làm thiệt hại đến lợi ích của nhà nước hoặc xã hội quy định tại Điểm b Khoản 4 Điều 7 Nghị định 99/2013/NĐ-CP được hiểu là một trong các hành vi sau đây:

a) Đăng ký sáng chế mật ra nước ngoài khi chưa được phép của cơ quan có thẩm quyền;

b) Tiết lộ thông tin, tài liệu chưa được phép công bố, thông tin thuộc diện bí mật nhà nước trong quá trình thực hiện dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp;

c) Thuê hoặc cho thuê chứng chỉ hành nghề dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp.

Điều 9. Hành vi vi phạm quy định về giám định sở hữu công nghiệp quy định tại Điều 8 Nghị định 99/2013/NĐ-CP

1. Hành vi tiết lộ bí mật thông tin biết được khi tiến hành giám định mà không được phép của các bên liên quan quy định tại Điểm b Khoản 3 Điều 8 Nghị định 99/2013/NĐ-CP được hiểu là một trong các hành vi sau đây:

a) Tiết lộ bí mật thông tin, tài liệu do cơ quan có thẩm quyền yêu cầu giám định[11], người yêu cầu giám định sở hữu công nghiệp cung cấp liên quan đến vụ việc đang giải quyết;

b) Tiết lộ thông tin, tài liệu chưa được phép công bố, thông tin thuộc diện bí mật nhà nước, bí mật kinh doanh do cơ quan có thẩm quyền, người yêu cầu giám định cung cấp để thực hiện việc giám định.

2. Hành vi lợi dụng tư cách giám định và hoạt động giám định để trục lợi quy định tại Điểm a Khoản 4 Điều 8 Nghị định 99/2013/NĐ-CP được hiểu là một trong các hành vi sau đây:

a) Lợi dụng tư cách tổ chức giám định, giám định viên hoặc việc tham gia hoạt động giám định để tác động, gây ảnh hưởng đến các tổ chức, cá nhân có liên quan nhằm thu lợi bất hợp pháp;

b) Hoạt động không đúng lĩnh vực giám định ghi trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động để thu lợi bất hợp pháp.

3. Hành vi cố ý đưa ra kết luận giám định sai sự thật quy định tại Điểm b Khoản 4 Điều 8 Nghị định 99/2013/NĐ-CP được hiểu là hành vi cố ý đưa ra kết luận giám định không có căn cứ pháp lý, không đúng với các thông tin, tài liệu được cung cấp để tiến hành giám định.

Mục 2. HÀNH VI XÂM PHẠM QUYỀN VÀ CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG LĨNH VỰC SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP[12]

Điều 10. Hành vi vi phạm trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp trên mạng Internet[13]

1. Hành vi bị xem xét xảy ra trên mạng Internet khi có đủ các yếu tố quy định tại Khoản 4 Điều 72 Nghị định số 65/2023/NĐ-CP ngày 23 tháng 8 năm 2023 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp, bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ (sau đây viết tắt là Nghị định số 65/2023/NĐ-CP) cũng bị coi là hành vi vi phạm trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp và bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Nghị định số 99/2013/NĐ-CP .

2. Chủ thể đăng ký tên miền cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng tên miền mà biết hoặc có căn cứ để biết tổ chức, cá nhân đó sử dụng tên miền để thực hiện hành vi vi phạm quy định tại Khoản 1 Điều này cũng bị coi là thực hiện hành vi vi phạm và bị xem xét xử phạt theo quy định tương ứng tại Nghị định số 99/2013/NĐ-CP .

Điều 11. Hành vi xâm phạm quyền đối với sáng chế

Khi xác định hành vi xâm phạm quyền đối với sáng chế phải tuân theo quy định tại các điều 72 và 74 Nghị định số 65/2023/NĐ-CP và hướng dẫn sau:[14]

1. Sản phẩm/bộ phận sản phẩm/quy trình bị xem xét được coi là trùng hoặc tương đương với sản phẩm/bộ phận sản phẩm/quy trình được bảo hộ theo một điểm nào đó (độc lập và phụ thuộc) của yêu cầu bảo hộ thuộc Bằng độc quyền sáng chế/Bằng độc quyền giải pháp hữu ích nếu tất cả các dấu hiệu (đặc điểm) kỹ thuật cơ bản được nêu trong điểm đó đều có mặt trong sản phẩm/bộ phận sản phẩm/quy trình bị xem xét dưới dạng trùng hoặc tương đương, trong đó:

a) Hai dấu hiệu (đặc điểm) kỹ thuật được coi là trùng nhau nếu dấu hiệu đó có cùng bản chất, cùng mục đích sử dụng, cùng cách thức đạt được mục đích và cùng mối quan hệ với các dấu hiệu khác nêu trong yêu cầu bảo hộ;

b) Hai dấu hiệu (đặc điểm) kỹ thuật được coi là tương đương với nhau nếu có bản chất tương tự nhau hoặc có thể thay thế cho nhau, có mục đích sử dụng và cách thức để đạt được mục đích sử dụng cơ bản giống nhau.

2. Nếu sản phẩm/bộ phận sản phẩm/quy trình bị xem xét không chứa ít nhất một dấu hiệu (đặc điểm) kỹ thuật cơ bản nêu trong một điểm nào đó của yêu cầu bảo hộ thì sản phẩm/bộ phận sản phẩm/quy trình bị xem xét được coi là không trùng/không tương đương với sản phẩm/bộ phận sản phẩm/quy trình được bảo hộ theo điểm đó.

Điều 12. Hành vi xâm phạm quyền đối với kiểu dáng công nghiệp

Khi xác định hành vi xâm phạm quyền đối với kiểu dáng công nghiệp phải tuân theo quy định tại các điều 72 và 76 Nghị định số 65/2023/NĐ-CP và hướng dẫn sau:[15]

1. Sản phẩm/bộ phận để lắp ráp thành sản phẩm phức hợp[16] bị xem xét được coi là bản sao của kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ nếu sản phẩm/bộ phận để lắp ráp thành sản phẩm phức hợp[17] đó có tập hợp các đặc điểm tạo dáng (hình dáng) bên ngoài chứa tất cả các đặc điểm tạo dáng cơ bản và không cơ bản của kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ.

2. Sản phẩm/bộ phận để lắp ráp thành sản phẩm phức hợp[18] bị xem xét về bản chất được coi là bản sao của kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ nếu sản phẩm/bộ phận để lắp ráp thành sản phẩm phức hợp[19] đó có tập hợp các đặc điểm tạo dáng bên ngoài chứa tất cả các đặc điểm tạo dáng cơ bản của kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ, chỉ khác biệt về những đặc điểm tạo dáng không dễ dàng nhận biết, ghi nhớ được.

3. Trường hợp tổng thể các đặc điểm tạo dáng bên ngoài của một sản phẩm/bộ phận để lắp ráp thành sản phẩm phức hợp[20] bị coi là bản sao hoặc về bản chất là bản sao của tập hợp các đặc điểm tạo dáng bên ngoài của ít nhất một sản phẩm trong bộ sản phẩm thuộc kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ thì cũng bị coi là xâm phạm quyền đối với kiểu dáng công nghiệp đó.

4. Đặc điểm tạo dáng cơ bản của kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ được hiểu là đặc điểm tạo dáng dễ dàng nhận biết, ghi nhớ, được dùng để phân biệt tổng thể kiểu dáng công nghiệp này với kiểu dáng công nghiệp khác. Tập hợp các đặc điểm tạo dáng cơ bản có thể là hình khối, đường nét, tương quan giữa các đặc điểm hình khối và/hoặc đường nét, các đặc điểm màu sắc được xác định trên cơ sở bộ ảnh chụp/bản vẽ kèm theo Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp, quyết định chấp nhận bảo hộ kiểu dáng công nghiệp đăng ký quốc tế hoặc bản trích lục sổ đăng ký quốc gia về sở hữu công nghiệp[21].

Điều 13. Hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu

Khi xác định hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu phải tuân theo quy định tại các điều 72 và 77 Nghị định số 65/2023/NĐ-CP và hướng dẫn sau:[22]

1. Việc đánh giá khả năng gây nhầm lẫn của dấu hiệu với nhãn hiệu đang được bảo hộ tuân theo các căn cứ sau:[23]

a) Phạm vi bảo hộ về tổng thể, từng thành phần của nhãn hiệu; mức độ tương tự của dấu hiệu với nhãn hiệu về tổng thể và với các thành phần có khả năng phân biệt của nhãn hiệu, đặc biệt thành phần gây ấn tượng mạnh đối với người tiêu dùng;

b) Tính liên quan của hàng hóa, dịch vụ về chức năng, công dụng, thành phần cấu tạo; thực tiễn tập quán mua bán, phân phối, lựa chọn, sử dụng hàng hóa, dịch vụ; điều kiện, phương thức, địa điểm bày bán, phân phối, tiếp thị, quảng bá, mua bán hàng hóa, dịch vụ;

c) Đặc điểm, mức độ chú ý của người tiêu dùng khi lựa chọn, mua bán hàng hóa, dịch vụ;

d) Những tiêu chí khác như: thực tiễn sử dụng và bảo hộ các nhãn hiệu tương tự cho cùng loại hàng hóa; ảnh hưởng của các yếu tố khác tạo ra sự liên tưởng về mối quan hệ giữa hàng hóa, dịch vụ bị xem xét với hàng hóa, dịch vụ được bảo hộ;

đ) Chứng cứ về hậu quả nhầm lẫn đối với người tiêu dùng có thể được sử dụng để hỗ trợ đánh giá khả năng gây nhầm lẫn của việc sử dụng dấu hiệu nhưng không phải là điều kiện bắt buộc trong việc đưa ra kết luận về khả năng gây nhầm lẫn của việc sử dụng dấu hiệu.

2. Xác định yếu tố xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu:

a) Trường hợp sử dụng dấu hiệu trùng với nhãn hiệu cho hàng hóa, dịch vụ trùng với hàng hóa, dịch vụ được xác định tại Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hoặc Giấy xác nhận nhãn hiệu đăng ký quốc tế được bảo hộ tại Việt Nam hoặc bản trích lục sổ đăng ký quốc gia về sở hữu công nghiệp[24], thì không cần xem xét khả năng gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu;

b) Trường hợp sử dụng dấu hiệu trùng với nhãn hiệu cho hàng hóa, dịch vụ tương tự hoặc liên quan; sử dụng dấu hiệu tương tự với nhãn hiệu cho hàng hóa, dịch vụ trùng hoặc tương tự hoặc liên quan tới hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục hàng hóa, dịch vụ kèm theo nhãn hiệu đã được xác định tại Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hoặc Giấy xác nhận nhãn hiệu đăng ký quốc tế được bảo hộ tại Việt Nam hoặc bản trích lục sổ đăng ký quốc gia về sở hữu công nghiệp[25], thì cần phải xem xét khả năng gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu.

3. Xác định yếu tố xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu nổi tiếng:

a) Trường hợp sử dụng dấu hiệu trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu nổi tiếng hoặc dấu hiệu dưới dạng dịch nghĩa, phiên âm từ nhãn hiệu nổi tiếng cho hàng hóa, dịch vụ bất kỳ kể cả hàng hóa, dịch vụ không trùng, không tương tự và không liên quan tới hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu nổi tiếng thì cần phải đánh giá khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hóa, dịch vụ hoặc về mối quan hệ giữa người sử dụng dấu hiệu đó với chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng;

b) Trường hợp sử dụng dấu hiệu trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu nổi tiếng theo quy định tại Điểm a Khoản 3 Điều này không có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hóa, dịch vụ nhưng gây ấn tượng sai lệch cho người tiêu dùng về mối quan hệ giữa người sử dụng dấu hiệu đó với chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng thì cũng bị coi là hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp;

c)[26] Khi nộp đơn yêu cầu xử lý xâm phạm đối với nhãn hiệu nổi tiếng, chủ thể quyền phải cung cấp các chứng cứ chứng minh nhãn hiệu đó đã nổi tiếng tại Việt Nam theo quy định tại Điều 75 Luật Sở hữu trí tuệ, không phụ thuộc vào việc nhãn hiệu đó đã được đăng ký bảo hộ tại Việt Nam hay chưa;

d)[27] Trước khi quyết định tiến hành thủ tục xử lý xâm phạm, cơ quan có thẩm quyền giải quyết vụ việc căn cứ vào quy định tại Điều 75 Luật Sở hữu trí tuệ để xem xét, đánh giá một nhãn hiệu có được coi là nổi tiếng tại Việt Nam hay không.

Trường hợp nhãn hiệu nổi tiếng tại Việt Nam được công nhận theo thủ tục tố tụng dân sự hoặc trường hợp nhãn hiệu nổi tiếng được công nhận dẫn đến quyết định xử lý xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu nổi tiếng đó theo quy định tại Điểm d Khoản 1 Điều 129 Luật Sở hữu trí tuệ hoặc dẫn đến quyết định không bảo hộ nhãn hiệu khác theo quy định tại Điểm i Khoản 2 Điều 74 Luật Sở hữu trí tuệ, thì Cơ quan có thẩm quyền giải quyết vụ việc có thể trao đổi ý kiến chuyên môn với cơ quan quản lý nhà nước về sở hữu công nghiệp và/hoặc lấy ý kiến chuyên gia để xem xét giải quyết vụ việc.

Điều 14. Hành vi xâm phạm quyền đối với tên thương mại

Khi xác định hành vi xâm phạm quyền đối với tên thương mại phải tuân theo quy định tại các điều 72 và 79 Nghị định số 65/2023/NĐ-CP và hướng dẫn sau:[28]

1. Căn cứ để xem xét yếu tố xâm phạm quyền đối với tên thương mại là phạm vi bảo hộ tên thương mại được xác định trên cơ sở các chứng cứ thể hiện việc sử dụng tên thương mại đó một cách hợp pháp, trong đó xác định chủ thể kinh doanh, cơ sở kinh doanh, hoạt động kinh doanh và sản phẩm, dịch vụ mang tên thương mại, cụ thể như sau:

a) Chứng cứ chứng minh tên thương mại đó được sử dụng tại khu vực kinh doanh (ví dụ: được sử dụng tại nơi có khách hàng, bạn hàng hoặc có danh tiếng thông qua quảng cáo, tiếp thị, phân phối) trong lĩnh vực kinh doanh hợp pháp (được ghi nhận trong giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh, giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh đối với những ngành nghề kinh doanh có điều kiện, đăng ký mã số thuế, điều lệ công ty đã đăng ký với cơ quan có thẩm quyền hoặc các giấy tờ có giá trị pháp lý khác);

b) Thời điểm bắt đầu sử dụng và quá trình sử dụng: tên thương mại đó đã và đang được bạn hàng, khách hàng biết đến thông qua hàng hóa, dịch vụ, hoạt động kinh doanh (ví dụ như: tên thương mại đang được sử dụng trên hàng hóa, hợp đồng mua bán, đơn đặt hàng, tài liệu giao dịch kinh doanh, tài liệu quảng cáo, tờ khai hải quan, chứng từ thu nộp thuế và các giấy tờ giao dịch khác).

2. Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh, giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh, đăng ký mã số thuế, điều lệ công ty được coi là chứng cứ chứng minh tính hợp pháp của hoạt động kinh doanh dưới tên thương mại. Tên cơ sở kinh doanh, tên doanh nghiệp ghi trong các giấy phép nêu trên chỉ được coi là tên thương mại khi có các tài liệu chứng minh tên cơ sở kinh doanh, tên doanh nghiệp đó được sử dụng trong thực tế hoạt động kinh doanh hợp pháp và đáp ứng điều kiện bảo hộ theo quy định tại các điều 76, 77 và 78 của Luật Sở hữu trí tuệ.

3.[29] (Được bãi bỏ)

4.[30] (Được bãi bỏ)

Điều 15. Hành vi xâm phạm quyền đối với chỉ dẫn địa lý

Khi xác định hành vi xâm phạm quyền đối với chỉ dẫn địa lý phải tuân theo quy định tại các điều 72 và 78 Nghị định số 65/2023/NĐ-CP và hướng dẫn sau:[31]

1. Căn cứ đánh giá khả năng gây nhầm lẫn của dấu hiệu với chỉ dẫn địa lý có thể được áp dụng một cách thích hợp tương tự như cách áp dụng căn cứ đánh giá khả năng gây nhầm lẫn của dấu hiệu với nhãn hiệu được bảo hộ.

2. Sản phẩm, hàng hóa vi phạm có thể là:

a) Sản phẩm cùng loại mang dấu hiệu trùng với chỉ dẫn địa lý được sản xuất tại địa phương thuộc vùng mang chỉ dẫn địa lý được bảo hộ nhưng không đáp ứng điều kiện về chất lượng đặc thù mang chỉ dẫn địa lý đó;

b) Sản phẩm cùng loại mang dấu hiệu trùng hoặc tương tự với chỉ dẫn địa lý nhưng không được sản xuất tại địa phương thuộc vùng mang chỉ dẫn địa lý được bảo hộ, kể cả trường hợp sản phẩm đó có các thông số tương ứng về chất lượng, quy trình sản xuất và quản lý sản phẩm;

c)[32] (Được bãi bỏ)

d) Sản phẩm tương tự mang dấu hiệu trùng hoặc tương tự với chỉ dẫn địa lý nhằm lợi dụng danh tiếng, uy tín của chỉ dẫn địa lý và/hoặc gây hiểu sai lệch về nguồn gốc địa lý của sản phẩm, bất kể nơi sản xuất sản phẩm đó có thuộc vùng mang chỉ dẫn địa lý được bảo hộ hay không.

Điều 16. Hành vi vi phạm về tem, nhãn, vật phẩm

1. Hành vi vi phạm quy định tại Điều 13 Nghị định 99/2013/NĐ-CP được áp dụng trong trường hợp tổ chức, cá nhân phát hiện tem, nhãn hoặc vật phẩm mang nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý giả mạo chưa được gắn lên sản phẩm nhưng có đủ căn cứ để xác định rằng tem, nhãn, vật phẩm đó sẽ được gắn lên sản phẩm để đưa ra thị trường (ví dụ: thông qua hợp đồng mua bán, hợp đồng in ấn, tài liệu khai báo với cơ quan có thẩm quyền, mẫu bao bì, mẫu sản phẩm có gắn tem, nhãn, vật phẩm vi phạm đang tàng trữ, vận chuyển, bày bán).

2. Tem, nhãn, vật phẩm khác quy định tại Điều 13 Nghị định 99/2013/NĐ-CP được hiểu là các loại tem của nhà sản xuất, nhà phân phối, nhà nhập khẩu để gắn lên sản phẩm, kể cả tem kiểm tra chất lượng (KCS) có chứa yếu tố vi phạm; nhãn hàng hóa; đề can; bao bì sản phẩm; bộ phận sản phẩm có thể tách rời nhưng không được lưu hành một cách độc lập, trên đó có in, đúc, dập khuôn nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý giả mạo.

Điều 17.[33] (Được bãi bỏ)

Điều 18. Hành vi nhập khẩu hàng hoá xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp[34]

1. Hành vi nhập khẩu hàng hoá xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp bị xử phạt vi phạm hành chính tại Nghị định 99/2013/NĐ-CP trừ trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều này.

2. Việc tổ chức, cá nhân nhập khẩu sản phẩm do chính chủ sở hữu hoặc tổ chức, cá nhân được chuyển giao quyền sử dụng, kể cả chuyển giao quyền sử dụng theo quyết định bắt buộc, người có quyền sử dụng trước đối tượng sở hữu công nghiệp theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ đã đưa ra thị trường trong nước hoặc nước ngoài, mặc dù không được sự đồng ý của chủ thể quyền sở hữu công nghiệp (nhập khẩu song song) không bị coi là hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp và không bị xử phạt vi phạm hành chính.

Điều 19. Hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp

1. Hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn:

a) Chủ thể có quyền kiến nghị xử lý[35] hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn là chủ thể kinh doanh đã sử dụng trước các chỉ dẫn thương mại quy định tại Khoản 2 Điều 130 Luật Sở hữu trí tuệ[36] một cách rộng rãi, ổn định trong hoạt động kinh doanh hợp pháp tại Việt Nam, được người tiêu dùng biết đến uy tín của chủ thể kinh doanh và hàng hóa, dịch vụ mang chỉ dẫn thương mại đó.

b) Chỉ dẫn thương mại quy định tại Khoản 2 Điều 130 Luật Sở hữu trí tuệ[37] gồm các đối tượng sở hữu công nghiệp (nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý) và các đối tượng sau đây:

- “Nhãn hàng hoá” là bản viết, bản in, bản vẽ, bản chụp của chữ, hình vẽ, hình ảnh được dán, in, đính, đúc, chạm, khắc trực tiếp trên hàng hoá, bao bì thương phẩm của hàng hoá hoặc trên các chất liệu khác được gắn trên hàng hoá, bao bì thương phẩm của hàng hoá.

- “Khẩu hiệu kinh doanh” là một nhóm từ ngữ xuất hiện bên cạnh tên chủ thể kinh doanh[38] hoặc nhãn hiệu gắn với sản phẩm, dịch vụ của chủ thể kinh doanh[39] nhằm nhấn mạnh mục đích hoặc tiêu chí kinh doanh của chủ thể kinh doanh[40] hoặc đối tượng khách hàng mà sản phẩm hướng tới.

- “Biểu tượng kinh doanh” là ký hiệu, chữ viết, hình vẽ, hình khối được thiết kế một cách độc đáo và được coi là biểu tượng của chủ thể kinh doanh[41] sử dụng trong hoạt động kinh doanh.”

- “Kiểu dáng bao bì của hàng hóa” là thiết kế, trang trí bao bì hàng hóa, gồm hình dạng, đường nét, hình vẽ, chữ, số, màu sắc, cách trình bày, cách phối hợp màu sắc, cách bố trí, kết hợp giữa các yếu tố nói trên tạo nên ấn tượng riêng hay nét đặc trưng của bao bì hàng hóa.

c) Chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn là chỉ dẫn thương mại chứa các dấu hiệu (yếu tố cấu thành, cách trình bày, cách kết hợp giữa các yếu tố, màu sắc, ấn tượng tổng quan đối với người tiêu dùng) trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với chỉ dẫn thương mại tương ứng của chủ thể quyền yêu cầu xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh được sử dụng cho hàng hóa, dịch vụ trùng hoặc tương tự.

Việc sử dụng chỉ dẫn nêu trên nhằm mục đích gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về chủ thể kinh doanh, hoạt động kinh doanh, nguồn gốc thương mại của hàng hóa, dịch vụ, xuất xứ địa lý, cách sản xuất, tính năng, chất lượng, số lượng hoặc đặc điểm khác của hàng hóa, dịch vụ, hoặc về điều kiện cung cấp hàng hóa, dịch vụ.

d) Chủ thể yêu cầu xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh về sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn phải cung cấp các chứng cứ chứng minh:

- Chủ thể kinh doanh đã sử dụng chỉ dẫn thương mại một cách rộng rãi, ổn định, được nhiều người tiêu dùng tại Việt Nam biết đến, có thể bao gồm: các thông tin về quảng cáo, tiếp thị, trưng bày triển lãm; doanh thu bán hàng; số lượng sản phẩm bán ra; hệ thống đại lý phân phối, liên doanh, liên kết; quy mô đầu tư; đánh giá của các cơ quan nhà nước, phương tiện thông tin đại chúng, bình chọn của người tiêu dùng và các thông tin khác thể hiện uy tín của chủ thể kinh doanh gắn với chỉ dẫn thương mại trong hoạt động kinh doanh của mình tại Việt Nam;

- Bên bị yêu cầu xử lý đã sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn trên hàng hóa, bao bì hàng hóa, phương tiện kinh doanh, phương tiện dịch vụ, phương tiện quảng cáo.

2.[42] Hành vi chiếm hữu, sử dụng tên miền quy định tại Điểm a Khoản 16 Điều 14 Nghị định số 99/2013/NĐ-CP:

a) Chủ thể có quyền kiến nghị xử lý hành vi chiếm hữu, sử dụng tên miền quy định tại Điểm a Khoản 16 Điều 14 Nghị định số 99/2013/NĐ-CP là tổ chức, cá nhân bị thiệt hại hoặc có khả năng bị thiệt hại do hành vi vi phạm này gây ra. Trong đó, tên miền quy định tại Điểm a Khoản 16 Điều 14 của Nghị định số 99/2013/NĐ-CP là tên miền thuộc quyền quản lý của Việt Nam (trừ tên miền đã được phân bổ thông qua hình thức đấu giá quyền sử dụng theo quy định của pháp luật về viễn thông);

b) Hành vi chiếm hữu, sử dụng tên miền bị coi là hành vi cạnh tranh không lành mạnh về sở hữu công nghiệp thuộc một trong các trường hợp sau đây:

- Chiếm hữu, sử dụng tên miền có dãy ký tự trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu, tên thương mại được bảo hộ của người khác hoặc chỉ dẫn địa lý mà mình không có quyền sử dụng để giới thiệu sản phẩm, chào hàng, bán hàng hóa, dịch vụ trùng, tương tự hoặc có liên quan trên trang thông tin điện tử mà địa chỉ tên miền đó dẫn tới; gây nhầm lẫn để lợi dụng uy tín, danh tiếng của nhãn hiệu, tên thương mại hoặc chỉ dẫn địa lý đó nhằm thu lợi bất chính;

- Chiếm hữu, sử dụng tên miền có dãy ký tự trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu, tên thương mại được bảo hộ của người khác hoặc chỉ dẫn địa lý mà mình không có quyền sử dụng với dụng ý xấu khi đáp ứng một trong các điều kiện sau đây:

(i) Có căn cứ chứng minh tổ chức, cá nhân chiếm giữ, sử dụng tên miền nhằm bán lại, chuyển giao quyền đăng ký, sử dụng tên miền cho chủ sở hữu nhãn hiệu, tên thương mại, cơ quan, tổ chức có quyền quản lý chỉ dẫn địa lý để thu lợi. Đồng thời, có căn cứ cho rằng, tại thời điểm đăng ký tên miền, tổ chức, cá nhân này biết hoặc có cơ sở để biết nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý đó đã được bảo hộ tại Việt Nam;

(ii) Trang thông tin điện tử mà địa chỉ tên miền đó dẫn tới đăng tải các thông tin làm thiệt hại đến uy tín, danh tiếng của chính nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý đã được bảo hộ tại Việt Nam.

c) Kiến nghị xử lý hành vi chiếm hữu, sử dụng tên miền quy định tại Điểm a Khoản 16 Điều 14 Nghị định số 99/2013/NĐ-CP phải được gửi kèm các thông tin, tài liệu sau:

- Đối với hành vi chiếm hữu, sử dụng tên miền trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu, tên thương mại được bảo hộ của người khác hoặc chỉ dẫn địa lý mà mình không có quyền sử dụng để lợi dụng uy tín, danh tiếng của nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý tương ứng nhằm thu lợi bất chính:

Thông tin, tài liệu chứng minh nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại được bảo hộ tại Việt Nam và nhãn hiệu, tên thương mại được sử dụng rộng rãi hoặc được người tiêu dùng Việt Nam trong lĩnh vực liên quan biết đến uy tín, danh tiếng hoặc chứng minh nhãn hiệu được coi là nhãn hiệu nổi tiếng theo quy định tại Điều 75 Luật Sở hữu trí tuệ (ví dụ: thông tin về quảng cáo, tiếp thị, trưng bày triển lãm; doanh thu bán hàng; số lượng sản phẩm bán ra; hệ thống đại lý phân phối, liên doanh, liên kết; quy mô đầu tư; đánh giá của các cơ quan nhà nước, hiệp hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, phương tiện thông tin đại chúng, bình chọn của người tiêu dùng; hoạt động công ích, từ thiện hoặc thông tin khác thể hiện nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại được sử dụng rộng rãi tại Việt Nam hoặc chứng minh nhãn hiệu được coi là nhãn hiệu nổi tiếng); và

Thông tin, tài liệu chứng minh bên bị kiến nghị xử lý đã sử dụng tên miền trên mạng Internet để giới thiệu sản phẩm, chào hàng, bán hàng hóa, dịch vụ trùng, tương tự hoặc có liên quan trên trang thông tin điện tử mà địa chỉ tên miền đó dẫn tới; gây nhầm lẫn để lợi dụng uy tín, danh tiếng của nhãn hiệu, tên thương mại hoặc chỉ dẫn địa lý đã được bảo hộ tại Việt Nam nhằm thu lợi bất chính (ví dụ: thông tin giới thiệu, chỉ dẫn hoặc thông tin khác khiến người tiêu dùng Việt Nam hiểu là đại lý, chi nhánh, đối tác, văn phòng đại diện tại Việt Nam);

- Đối với hành vi chiếm hữu, sử dụng tên miền trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu, tên thương mại được bảo hộ của người khác hoặc chỉ dẫn địa lý mà mình không có quyền sử dụng với dụng ý xấu:

Thông tin, tài liệu chứng minh tổ chức, cá nhân chiếm giữ, sử dụng tên miền nhằm bán lại, chuyển giao quyền đăng ký, sử dụng tên miền cho chủ sở hữu nhãn hiệu, tên thương mại, cơ quan, tổ chức có quyền quản lý chỉ dẫn địa lý để thu lợi và thông tin thể hiện tại thời điểm đăng ký tên miền, tổ chức, cá nhân này biết hoặc có cơ sở đế biết nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý đã được bảo hộ tại Việt Nam; hoặc thông tin thể hiện trang thông tin điện tử mà địa chỉ tên miền này dẫn tới đăng tải các thông tin làm thiệt hại đến uy tín, danh tiếng của nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý đã được bảo hộ tại Việt Nam;

- Thông tin, tài liệu chứng minh bên bị kiến nghị xử lý không có quyền và lợi ích hợp pháp đối với nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại đã được bảo hộ tại Việt Nam; thông tin chứng minh bên bị kiến nghị xử lý đã là thành viên, đối tác, đại lý với chủ thể quyền (nếu có).

Điều 20. Tái sử dụng, sửa chữa, tái chế sản phẩm, bao bì sản phẩm

Trường hợp tổ chức, cá nhân tái sử dụng, sửa chữa, tái chế sản phẩm, bao bì sản phẩm mang nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý đã được chủ thể quyền đưa ra thị trường để tạo ra sản phẩm khác cũng bị coi là hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp hoặc hành vi cạnh tranh không lành mạnh nếu việc sử dụng đó gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về nguồn gốc thương mại của sản phẩm, chủ thể kinh doanh, hoạt động kinh doanh hoặc các đặc tính của sản phẩm theo quy định tương ứng về hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp và hành vi cạnh tranh không lành mạnh.

Quy định này không áp dụng trong trường hợp trên sản phẩm đã có thông báo rõ ràng về sản phẩm, bao bì sản phẩm được tái sử dụng, sửa chữa, tái chế và đã loại bỏ các dấu hiệu có khả năng gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về nguồn gốc thương mại của sản phẩm, chủ thể kinh doanh, hoạt động kinh doanh hoặc các đặc tính của sản phẩm theo quy định tương ứng về hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp và hành vi cạnh tranh không lành mạnh.

Điều 21. Phương tiện kinh doanh

Phương tiện kinh doanh quy định tại Khoản 15 Điều 11 và Điểm b Khoản 15 Điều 14 Nghị định 99/2013/NĐ-CP được hiểu là bất kỳ phương tiện nào được gắn, chứa đựng đối tượng sở hữu công nghiệp được bảo hộ hoặc chỉ dẫn thương mại và được sử dụng nhằm phục vụ hoạt động kinh doanh (ví dụ: trang thông tin điện tử, gian hàng trên sàn thương mại điện tử, trang mạng xã hội[43], tài liệu giới thiệu, danh thiếp, phương tiện vận tải và các vật dụng, trang trí trong cơ sở kinh doanh).

Chương III

THỦ TỤC XỬ PHẠT HÀNH VI XÂM PHẠM QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP[44]

Điều 22. Ủy quyền yêu cầu xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp[45]

Văn bản ủy quyền khi được nộp kèm theo đơn yêu cầu xử lý xâm phạm phải đáp ứng các điều kiện theo quy định tại Điều 23 Nghị định 99/2013/NĐ-CP và hướng dẫn sau:

1. Trường hợp văn bản ủy quyền gốc bao gồm nội dung ủy quyền thực hiện thủ tục bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp đã nộp cho cùng cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm thì chủ thể quyền nộp bản sao và chỉ dẫn đến bản gốc văn bản ủy quyền đã nộp trước đó.

2. Trường hợp văn bản ủy quyền gốc bao gồm nội dung ủy quyền thực hiện thủ tục bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp đã nộp cho cơ quan quản lý nhà nước về sở hữu công nghiệp hoặc cơ quan có thẩm quyền khác thì chủ thể quyền nộp bản sao có xác nhận của cơ quan đang lưu giữ bản gốc văn bản ủy quyền.

Điều 23. Đơn yêu cầu xử lý xâm phạm trong xử phạt vi phạm hành chính[46]

1.[47] (Được bãi bỏ)

2.[48] Đối với tài liệu chứng minh quyền yêu cầu xử lý xâm phạm:

a) Bản sao các giấy chứng nhận, văn bằng bảo hộ, chứng chỉ và các tài liệu khác được coi là hợp lệ nếu chủ thể quyền xuất trình bản gốc để đối chiếu hoặc bản sao có chứng thực của cơ quan có thẩm quyền hoặc bản sao có xác nhận của cơ quan cấp bản gốc. Đối với trường hợp văn bằng bảo hộ được cấp dưới dạng bản điện tử thì chủ thể quyền nộp bản sao y, sao lục, trích sao theo quy định của pháp luật;

b) Tài liệu chứng minh chủ sở hữu tên thương mại là các tài liệu, hiện vật chứng minh việc sử dụng trước và hợp pháp tên thương mại trong lĩnh vực kinh doanh và khu vực kinh doanh đáp ứng các điều kiện bảo hộ quy định tại các điều 76, 77 và 78 Luật Sở hữu trí tuệ;

c) Tài liệu chứng minh chủ sở hữu bí mật kinh doanh là tài liệu chứng minh tổ chức, cá nhân nắm giữ hợp pháp và đã tiến hành các biện pháp bảo mật thông tin được coi là bí mật kinh doanh theo quy định tại các điều 84 và 85 Luật Sở hữu trí tuệ;

d) Trường hợp hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp, quy chế sử dụng nhãn hiệu tập thể, giấy phép sử dụng chỉ dẫn địa lý không có nội dung thỏa thuận hoặc quy định hạn chế quyền yêu cầu xử lý xâm phạm của người được chuyển quyền sử dụng thì người đó được phép thực hiện thủ tục yêu cầu xử lý xâm phạm theo quy định tại Nghị định 99/2013/NĐ-CP , với điều kiện chủ sở hữu quyền không có văn bản phản đối việc thực hiện thủ tục đó.

3.[49] Đối với các tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn:

Bản giải trình của chủ thể quyền (về doanh thu, uy tín, quảng cáo, bằng chứng sử dụng rộng rãi, bản sao các giấy chứng nhận, văn bằng bảo hộ tại các nước khác) cung cấp cho cơ quan có thẩm quyền giải quyết vụ việc được coi là hợp lệ nếu có cam kết chịu trách nhiệm pháp lý về nội dung, thông tin của bản giải trình và chữ ký xác nhận và đóng dấu (nếu có) của chủ thể quyền hoặc người đại diện hợp pháp của chủ thể quyền. Nếu bản giải trình có nhiều trang thì chủ thể quyền phải ký nháy vào từng trang hoặc đóng dấu giáp lai vào các trang (nếu có).

Quy định này cũng được áp dụng tương ứng đối với tài liệu do bên bị yêu cầu xử lý xâm phạm cung cấp.

4. Trong một đơn yêu cầu xử lý xâm phạm[50], chủ thể quyền có thể yêu cầu xử lý:

a) Một hoặc nhiều hành vi vi phạm liên quan đến một hoặc nhiều đối tượng sở hữu công nghiệp do cùng một tổ chức, cá nhân thực hiện;

b) Một hoặc nhiều hành vi vi phạm liên quan đến một đối tượng sở hữu công nghiệp do nhiều tổ chức, cá nhân thực hiện;

c) Trường hợp chủ thể quyền nộp đơn yêu cầu xử lý một hoặc nhiều tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi vi phạm ở cùng một địa phương thì chủ thể quyền chỉ cần nộp một đơn yêu cầu cho cơ quan có thẩm quyền xử lý tại địa phương đó;

d) Trường hợp chủ thể quyền nộp đơn yêu cầu xử lý một hoặc nhiều tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi vi phạm ở các địa phương khác nhau thì chủ thể quyền có thể nộp đơn yêu cầu cho cơ quan có thẩm quyền xử lý ở từng địa phương hoặc nộp một đơn cho cơ quan trung ương có thẩm quyền xử lý đối với hành vi vi phạm tại các địa phương đó.

5. Trường hợp nhiều cơ quan khác nhau cùng có thẩm quyền xử lý một hành vi vi phạm thì chủ thể quyền có thể lựa chọn một trong số các cơ quan đó để nộp đơn yêu cầu xử lý xâm phạm[51].

Điều 24. Xem xét, xử lý Đơn yêu cầu xử lý xâm phạm trong xử phạt vi phạm hành chính[52]

Trường hợp tài liệu, chứng cứ do người nộp đơn cung cấp chưa đầy đủ thì cơ quan giải quyết đơn có thể yêu cầu các bên cung cấp thông tin, chứng cứ, giải trình theo quy định tại Điểm b và Điểm c Khoản 3 Điều 25 Nghị định 99/2013/NĐ-CP .

1. Cơ quan có thẩm quyền giải quyết vụ việc yêu cầu người yêu cầu xử lý xâm phạm, cung cấp tài liệu, chứng cứ, ý kiến giải trình hoặc làm rõ các tình tiết của vụ việc trong thời hạn xác định; yêu cầu chủ thể quyền sở hữu công nghiệp cung cấp thông tin, tài liệu, mẫu vật để nhận biết dấu hiệu vi phạm, xác định hàng thật, hàng hoá giả mạo, hàng hoá xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp, nguồn cung cấp hoặc nơi tiêu thụ hàng hóa hợp pháp, căn cứ xác định hàng hóa sản xuất ngoài phạm vi được cấp phép quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp hoặc hàng nhập khẩu không phải là hàng hóa theo quy định tại Khoản 2 Điều 18 Thông tư này.

2. Các bên có thể cung cấp cho cơ quan có thẩm quyền giải quyết vụ việc ý kiến chuyên môn bằng văn bản của cơ quan quản lý nhà nước về sở hữu công nghiệp, văn bản kết luận giám định sở hữu công nghiệp, quyết định giải quyết tranh chấp, quyết định xử lý vụ việc vi phạm có liên quan hoặc tương tự của cơ quan có thẩm quyền và các tài liệu, chứng cứ khác để chứng minh yêu cầu, lập luận, giải trình của mình và làm rõ các tình tiết của vụ việc.

Trường hợp văn bản giải trình của các bên chưa làm rõ được các tình tiết của vụ việc và theo đề nghị của một hoặc các bên thì cơ quan có thẩm quyền giải quyết vụ việc tổ chức làm việc trực tiếp với các bên. Biên bản làm việc ghi nhận ý kiến của các bên được coi là một căn cứ để giải quyết vụ việc.

3. Cơ quan có thẩm quyền giải quyết vụ việc có thể tự mình tiến hành kiểm tra, xác minh, thu thập chứng cứ, xác định phạm vi bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp và xác định hành vi xâm phạm theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ. Trường hợp cần thiết có thể đề nghị cơ quan chức năng tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ xâm phạm, yêu cầu cơ quan quản lý nhà nước về sở hữu công nghiệp cung cấp ý kiến chuyên môn hoặc yêu cầu giám định sở hữu công nghiệp để xác định phạm vi bảo hộ và xác định yếu tố xâm phạm.

4. Người có thẩm quyền xử lý vi phạm có thể dựa trên văn bản cam kết xác nhận hàng hóa giả mạo nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý của chủ thể quyền sở hữu công nghiệp, văn bản ý kiến chuyên môn của cơ quan nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp, văn bản kết luận giám định để xác định hành vi xâm phạm nhưng phải chịu trách nhiệm pháp lý đối với kết luận xâm phạm và quyết định xử lý vi phạm hành chính của mình.

Điều 25.[53] (Được bãi bỏ)

Điều 26.[54] (Được bãi bỏ)

Điều 27.[55] (Được bãi bỏ)

Điều 28. Từ chối, dừng xử lý đơn yêu cầu xử lý xâm phạm trong xử phạt vi phạm hành chính[56]

1. Từ chối thụ lý đơn được áp dụng đối với đơn yêu cầu xử lý xâm phạm được nộp tại cơ quan có thẩm quyền nhưng không đủ điều kiện thụ lý thuộc các trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 28 Nghị định số 99/2013/NĐ-CP .

Thông báo từ chối xử lý xâm phạm được thực hiện theo quy định về tiếp nhận và xem xét đơn yêu cầu xử lý xâm phạm tại Điều 25 Nghị định số 99/2013/NĐ-CP .

2. Trường hợp cùng một vụ việc yêu cầu xử lý xâm phạm quyền được nộp cho nhiều cơ quan có thẩm quyền thì cơ quan nào thụ lý đầu tiên sẽ có thẩm quyền giải quyết. Chủ thể quyền có trách nhiệm thông báo cho các cơ quan có thẩm quyền khác về việc đơn đã được thụ lý giải quyết.

a) Trước khi thụ lý vụ việc, nếu cơ quan tiếp nhận đơn biết được thông tin cơ quan có thẩm quyền khác hoặc Toà án đã thụ lý vụ việc đó thì cơ quan tiếp nhận đơn ra thông báo từ chối thụ lý đơn.

b) Sau khi thụ lý vụ việc nhưng chưa tiến hành thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm hành chính, nếu cơ quan thụ lý đơn biết được thông tin cơ quan có thẩm quyền khác đã tiến hành thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm hành chính hoặc Toà án đang thụ lý vụ việc thì cơ quan thụ lý đơn ra thông báo từ chối tiến hành thủ tục xử lý vi phạm.

c) Sau khi tiến hành thanh tra, kiểm tra nếu cơ quan xử lý vi phạm biết được thông tin cơ quan khác đã tiến hành thanh tra, kiểm tra thì cơ quan xử lý vi phạm yêu cầu cơ quan có liên quan phối hợp xử lý và thống nhất để một cơ quan tiến hành thủ tục xử phạt vi phạm hành chính. Trường hợp cơ quan khác đã tiến hành xử lý vi phạm hành chính nhưng tại thời điểm thanh tra, kiểm tra vẫn phát hiện tổ chức, cá nhân đang thực hiện hành vi xâm phạm đó thì cơ quan xử lý vi phạm tiến hành xử lý vi phạm hành chính với tình tiết tăng nặng.

3. Dừng xử lý đơn được áp dụng đối với đơn yêu cầu xử lý xâm phạm đã được thụ lý thuộc một trong các trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 28 Nghị định số 99/2013/NĐ-CP .

a) Cơ quan có thẩm quyền xem xét dừng xử lý vi phạm khi có phát sinh khiếu nại, tranh chấp theo quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 28 Nghị định số 99/2013/NĐ-CP thuộc một trong các trường hợp sau:

- Khi có văn bản của cơ quan quản lý nhà nước về sở hữu công nghiệp về việc thụ lý hoặc xem xét giải quyết đơn yêu cầu huỷ bỏ, chấm dứt hiệu lực văn bằng bảo hộ, khiếu nại về phạm vi bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp liên quan đến đối tượng trong đơn yêu cầu xử lý xâm phạm;

- Khi có văn bản thụ lý của tòa án về vụ việc xâm phạm, khiếu nại, tranh chấp quyền sở hữu công nghiệp liên quan đến đối tượng trong đơn yêu cầu xử lý xâm phạm;

- Khi có căn cứ xác định vụ việc mà nội dung liên quan đến tư cách chủ thể quyền hoặc tranh chấp hợp đồng giữa các bên về quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp.

b) Cơ quan, người có thẩm quyền xem xét dừng xử lý đơn yêu cầu xử lý xâm phạm trong trường hợp người nộp đơn yêu cầu xử lý xâm phạm có văn bản rút yêu cầu xử lý xâm phạm hoặc đề nghị dừng xử lý vụ việc theo quy định tại Điểm c Khoản 2 Điều 28 Nghị định số 99/2013/NĐ-CP .

3. Thông báo về việc dừng giải quyết vụ việc phải nêu rõ căn cứ, lý do và được gửi cho các bên liên quan và cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp, khiếu nại.

Điều 29.[57] (Được bãi bỏ)

Điều 30.[58] (Được bãi bỏ)

Chương IV

TỔ CHỨC THỰC HIỆN[59]

Điều 31. Hiệu lực thi hành

Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 11 tháng 8 năm 2015 và thay thế Thông tư số 37/2011/TT-BKHCN ngày 27 tháng 12 năm 2011 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 97/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 9 năm 2010 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp.

Điều 32. Trách nhiệm thực hiện

1. Thủ trưởng các đơn vị trực thuộc Bộ, thủ trưởng các cơ quan, tổ chức và các cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Thông tư này.

2. Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc đề nghị các cơ quan, đơn vị phản ánh kịp thời về Bộ Khoa học và Công nghệ để nghiên cứu, hướng dẫn giải quyết./.


Nơi nhận:
- Văn phòng Chính phủ (để đăng Công báo);
- Bộ trưởng (để báo cáo);
- Cổng TTĐT Bộ Khoa học và Công nghệ (để đăng tải);
- Lưu: VT, TTra, PC.

XÁC THỰC VĂN BẢN HỢP NHẤT

KT. BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG




Lê Xuân Định



[1] Thông tư số 06/2024/TT-BKHCN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 11/2015/TT-BKHCN ngày 26 tháng 6 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29 tháng 8 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, có căn cứ ban hành như sau:

“Căn cứ Luật Sở hữu trí tuệ ngày 29 tháng 11 năm 2005; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ ngày 19 tháng 6 năm 2009; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Sở hữu trí tuệ ngày 14 tháng 6 năm 2019; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ ngày 16 tháng 6 năm 2022;

Căn cứ Luật Xứ lý vi phạm hành chính ngày 20 tháng 6 năm 2012; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính ngày 13 tháng 11 năm 2020;

Căn cứ Nghị định số 28/2023/NĐ-CP ngày 02 tháng 6 năm 2023 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Khoa học và Công nghệ;

Căn cứ Nghị định số 118/2021/NĐ-CP ngày 23 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính;

Căn cứ Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29 tháng 8 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp; Nghị định số 126/2021/NĐ-CP ngày 30 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp; tiêu chuẩn, đo lường và chất lượng sản phẩm, hàng hóa; hoạt động khoa học và công nghệ, chuyển giao công nghệ, năng lượng nguyên tử; Nghị định số 46/2024/NĐ-CP ngày 04 tháng 5 năm 2024 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29 tháng 8 năm 2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị định số 126/2021/NĐ-CP ngày 30 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ;

Căn cứ Nghị định số 65/2023/NĐ-CP ngày 23 tháng 8 năm 2023 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, quyền đối với giống cây trong và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ;

Theo đề nghị của Chánh Thanh tra Bộ và Vụ trưởng Vụ Pháp chế;

Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành Thông tư sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 11/2015/TT-BKHCN ngày 26 tháng 6 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29 tháng 8 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp.”

[2] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 1 Điều 1 của Thông tư số 06/2024/TT-BKHCN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 11/2015/TT-BKHCN ngày 26 tháng 6 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29 tháng 8 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 11 năm 2024.

[3] Điều này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 2 Điều 2 của Thông tư số 06/2024/TT-BKHCN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 11/2015/TT-BKHCN ngày 26 tháng 6 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29 tháng 8 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 11 năm 2024.

[4] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 2 Điều 1 của Thông tư số 06/2024/TT-BKHCN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 11/2015/TT-BKHCN ngày 26 tháng 6 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29 tháng 8 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 11 năm 2024.

[5] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 3 Điều 1 của Thông tư số 06/2024/TT-BKHCN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 11/2015/TT-BKHCN ngày 26 tháng 6 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29 tháng 8 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 11 năm 2024.

[6] Điều này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 2 Điều 2 của Thông tư số 06/2024/TT-BKHCN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 11/2015/TT-BKHCN ngày 26 tháng 6 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29 tháng 8 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 11 năm 2024.

[7] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 4 Điều 1 của Thông tư số 06/2024/TT-BKHCN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 11/2015/TT-BKHCN ngày 26 tháng 6 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29 tháng 8 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 11 năm 2024.

[8] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 1 của Thông tư số 06/2024/TT-BKHCN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 11/2015/TT-BKHCN ngày 26 tháng 6 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29 tháng 8 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 11 năm 2024.

[9] Cụm từ “Hành vi “đồng thời là đại diện cho các bên tranh chấp với nhau về quyền sở hữu công nghiệp” quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 7 Nghị định 99/2013/NĐ CP được hiểu là một trong các hành vi sau đây:” được thay thế bởi cụm từ “Hành vi đồng thời là đại diện cho các bên tranh chấp với nhau về quyền sở hữu công nghiệp quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 7 Nghị định 99/2013/NĐ-CP được hiểu là một trong các hành vi sau đây:” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 2 của Thông tư số 06/2024/TT-BKHCN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 11/2015/TT-BKHCN ngày 26 tháng 6 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29 tháng 8 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, có hiệu lực kể lừ ngày 15 tháng 11 năm 2024.

[10] Khoản này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 2 Điều 2 của Thông tư số 06/2024/TT-BKHCN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 11/2015/TT-BKHCN ngày 26 tháng 6 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29 tháng 8 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 11 năm 2024.

[11] Cụm từ “trưng cầu giám định” được thay thế bởi cụm từ “yêu cầu giám định” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 2 của Thông tư số 06/2024/TT-BKHCN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 11/2015/TT-BKHCN ngày 26 tháng 6 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29 tháng 8 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 11 năm 2024.

[12] Tên của Mục này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 6 Điều 1 của Thông tư số 06/2024/TT-BKHCN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 11/2015/TT-BKHCN ngày 26 tháng 6 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29 tháng 8 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 11 năm 2024.

[13] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 7 Điều 1 của Thông tư số 06/2024/TT-BKHCN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 11/2015/TT-BKHCN ngày 26 tháng 6 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29 tháng 8 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 11 năm 2024.

[14] Cụm từ “các điều 5 và 8 Nghị định số 105/2006/NĐ-CP sửa đổi và một số hướng dẫn sau:” được thay thế bởi cụm từ “các điều 72 và 74 Nghị định số 65/2023/NĐ-CP và hướng dẫn sau:” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 2 của Thông tư số 06/2024/TT-BKHCN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 11/2015/TT- BKHCN ngày 26 tháng 6 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29 tháng 8 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 11 năm 2024.

[15] Cụm từ “các điều 5 và 10 Nghị định 105/2006/NĐ-CP sửa đổi và một số hướng dẫn sau:” được thay thế bởi cụm từ “các điều 72 và 76 Nghị định số 65/2023/NĐ-CP và hướng dẫn sau:” theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 2 của Thông tư số 06/2024/TT-BKHCN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 11/2015/TT-BKHCN ngày 26 tháng 6 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29 tháng 8 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 11 năm 2024.

[16] Cụm từ “sản phẩm/phần sản phẩm” được thay thế bởi cụm từ “Sản phẩm/bộ phận để lắp ráp thành sản phẩm phức hợp” theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 2 của Thông tư số 06/2024/TT-BKHCN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 11/2015/TT-BKHCN ngày 26 tháng 6 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29 tháng 8 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 11 năm 2024.

[17] Cụm từ “sản phẩm/phần sản phẩm” được thay thế bởi cụm từ “Sản phẩm/bộ phận để lắp ráp thành sản phẩm phức hợp” theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 2 của Thông tư số 06/2024/TT-BKHCN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 11/2015/TT-BKHCN ngày 26 tháng 6 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29 tháng 8 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 11 năm 2024.

[18] Cụm từ “sản phẩm/phần sản phẩm” được thay thế bởi cụm từ “Sản phẩm/bộ phận để lắp ráp thành sản phẩm phức hợp” theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 2 của Thông tư số 06/2024/TT-BKHCN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 11/2015/TT-BKHCN ngày 26 tháng 6 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29 tháng 8 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 11 năm 2024.

[19] Cụm từ “sản phẩm/phần sản phẩm” được thay thế bởi cụm từ “Sản phẩm/bộ phận để lắp ráp thành sản phẩm phức hợp” theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 2 của Thông tư số 06/2024/TT-BKHCN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 11/2015/TT-BKHCN ngày 26 tháng 6 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29 tháng 8 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 11 năm 2024.

[20] Cụm từ “sản phẩm/phần sản phẩm” được thay thế bởi cụm từ “Sản phẩm/bộ phận để lắp ráp thành sản phẩm phức hợp” theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 2 của Thông tư số 06/2024/TT-BKHCN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 11/2015/TT-BKHCN ngày 26 tháng 6 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29 tháng 8 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 11 năm 2024.

[21] Cụm từ “Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp”được thay thế bởi cụm từ “Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp, quyết định chấp nhận bảo hộ kiểu dáng công nghiệp đăng ký quốc tế hoặc bản trích lục sổ đăng ký quốc gia về sở hữu công nghiệp” theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 2 của Thông tư số 06/2024/TT-BKHCN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 11/2015/TT-BKHCN ngày 26 tháng 6 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29 tháng 8 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 11 năm 2024.

[22] Cụm từ “các điều 5 và 11 Nghị định số 105/2006/NĐ-CP sửa đổi và một số hướng dẫn sau:” được thay thế bởi cụm từ “điều 72 và 77 Nghị định số 65/2023/NĐ-CP và hướng dẫn sau:” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 2 của Thông tư số 06/2024/TT-BKHCN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 11/2015/TT-BKHCN ngày 26 tháng 6 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29 tháng 8 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 11 năm 2024.

[23] Cụm từ “Căn cứ đánh giá khả năng gây nhầm lẫn của dấu hiệu với nhãn hiệu đang được bảo hộ bao gồm:” được thay thế bởi cụm từ “Việc đánh giá khả năng gây nhầm lẫn của dấu hiệu với nhãn hiệu đang được bảo hộ tuân theo các căn cứ sau:” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 2 của Thông tư số 06/2024/TT-BKHCN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 11/2015/TT-BKHCN ngày 26 tháng 6 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29 tháng 8 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 11 năm 2024.

[24] Cụm từ “Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hoặc Giấy chứng nhận nhãn hiệu đăng ký quốc tế được bảo hộ tại Việt Nam hoặc Công báo đăng ký quốc tế nhãn hiệu của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới” được thay thế bởi cụm từ “Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hoặc Giấy xác nhận nhãn hiệu đăng ký quốc tế được bảo hộ tại Việt Nam hoặc bản trích lục sổ đăng ký quốc gia về sở hữu công nghiệp” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 2 của Thông tư số 06/2024/TT-BKHCN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 11/2015/TT-BKHCN ngày 26 tháng 6 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29 tháng 8 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 11 năm 2024.

[25] Cụm từ “Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hoặc Giấy chứng nhận nhãn hiệu đăng ký quốc tế được bảo hộ tại Việt Nam hoặc Công báo đăng ký quốc tế nhãn hiệu của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới” được thay thế bởi cụm từ “Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hoặc Giấy xác nhận nhãn hiệu đăng ký quốc tế được bảo hộ tại Việt Nam hoặc bản trích lục sổ đăng ký quốc gia về sở hữu công nghiệp” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 2 của Thông tư số 06/2024/TT-BKHCN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 11/2015/TT-BKHCN ngày 26 tháng 6 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29 tháng 8 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 11 năm 2024.

[26] Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 8 Điều 1 của Thông tư số 06/2024/TT-BKHCN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 11/2015/TT-BKHCN ngày 26 tháng 6 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29 tháng 8 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 11 năm 2024.

[27] Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 8 Điều 1 của Thông tư số 06/2024/TT-BKHCN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 11/2015/TT-BKHCN ngày 26 tháng 6 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29 tháng 8 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 11 năm 2024.

[28] Cụm từ “các điều 5 và 13 Nghị định số 105/2006/ND-CP sửa đổi sửa đổi và một số hướng dẫn sau:” được thay thế bởi cụm từ “các điều 72 và 79 Nghị định số 65/2023/ND-CP và hướng dẫn sau:” theo quy định tại điểm k khoản 1 Điều 2 của Thông tư số 06/2024/TT-BKHCN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 11/2015/TT-BKHCN ngày 26 tháng 6 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29 tháng 8 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 11 năm 2024.

[29] Khoản này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 2 Điều 2 của Thông tư số 06/2024/TT-BKHCN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 11/2015/TT-BKHCN ngày 26 tháng 6 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29 tháng 8 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 11 năm 2024.

[30] Khoản này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 2 Điều 2 của Thông tư số 06/2024/TT-BKHCN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 11/2015/TT-BKHCN ngày 26 tháng 6 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29 tháng 8 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 11 năm 2024.

[31] Cụm từ “các điều 5 và 12 Nghị định số 105/2006/NĐ-CP sửa đổi và một số hướng dẫn sau:” được thay thế bởi cụm từ “các điều 72 và 78 Nghị định số 65/2023/NĐ-CP và hướng dẫn sau:” theo quy định tại điểm 1 khoản 1 Điều 2 của Thông tư số 06/2024/TT-BKHCN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 11/2015/TT-BKHCN ngày 26 tháng 6 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29 tháng 8 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 11 năm 2024.

[32] Điểm này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 2 Điều 2 của Thông tư số 06/2024/TT-BKHCN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 11/2015/TT-BKHCN ngày 26 tháng 6 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29 tháng 8 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 11 năm 2024.

[33] Điều này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 2 Điều 2 của Thông tư số 06/2024/TT-BKHCN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 11/2015/TT-BKHCN ngày 26 tháng 6 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29 tháng 8 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 11 năm 2024.

[34] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 9 Điều 1 của Thông tư số 06/2024/TT-BKHCN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 11/2015/TT-BKHCN ngày 26 tháng 6 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29 tháng 8 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 11 năm 2024.

[35] Cụm từ “yêu cầu xử lý” được thay thế bởi cụm từ “kiến nghị xử lý” theo quy định tại điểm m khoản 1 Điều 2 của Thông tư số 06/2024/TT-BKHCN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 11/2015/TT-BKHCN ngày 26 tháng 6 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29 tháng 8 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 11 năm 2024.

[36] Cụm từ “của Luật Sở hữu trí tuệ” được thay thế bởi cụm từ “Luật Sở hữu trí tuệ” theo quy định tại điểm o khoản 1 Điều 2 của Thông tư số 06/2024/TT-BKHCN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 11/2015/TT-BKHCN ngày 26 tháng 6 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29 tháng 8 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 11 năm 2024.

[37] Cụm từ “của Luật Sở hữu trí tuệ” được thay thế bởi cụm từ “Luật Sở hữu trí tuệ” theo quy định tại điểm o khoản 1 Điều 2 của Thông tư số 06/2024/TT-BKHCN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 11/2015/TT-BKHCN ngày 26 tháng 6 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29 tháng 8 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 11 năm 2024.

[38] Cụm từ “doanh nghiệp" được thay thế bởi cụm từ "chủ thể kinh doanh” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 2 của Thông tư số 06/2024/TT-BKHCN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 11/2015/TT-BKHCN ngày 26 tháng 6 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29 tháng 8 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 11 năm 2024.

[39] Cụm từ “doanh nghiệp" được thay thế bởi cụm từ "chủ thể kinh doanh” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 2 của Thông tư số 06/2024/TT-BKHCN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 11/2015/TT-BKHCN ngày 26 tháng 6 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29 tháng 8 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 11 năm 2024.

[40] Cụm từ “doanh nghiệp" được thay thế bởi cụm từ "chủ thể kinh doanh” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 2 của Thông tư số 06/2024/TT-BKHCN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 11/2015/TT-BKHCN ngày 26 tháng 6 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29 tháng 8 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 11 năm 2024.

[41] Cụm từ “doanh nghiệp" được thay thế bởi cụm từ "chủ thể kinh doanh” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 2 của Thông tư số 06/2024/TT-BKHCN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 11/2015/TT-BKHCN ngày 26 tháng 6 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29 tháng 8 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 11 năm 2024.

[42] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 10 Điều 1 của Thông tư số 06/2024/TT-BKHCN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 11/2015/TT-BKHCN ngày 26 tháng 6 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29 tháng 8 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 11 năm 2024.

[43] Cụm từ “trang thông tin điện tử” được thay thế bởi cụm từ “trang thông tin điện tử, gian hàng trên sàn thương mại điện tử, trang mạng xã hội” theo quy định tại điểm p khoản 1 Điều 2 của Thông tư số 06/2024/TT-BKHCN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 11/2015/TT-BKHCN ngày 26 tháng 6 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29 tháng 8 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 11 năm 2024.

[44] Tên Chương này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 11 Điều 1 của Thông tư số 06/2024/TT-BKHCN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 11/2015/TT-BKHCN ngày 26 tháng 6 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29 tháng 8 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 11 năm 2024.

[45] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 12 Điều 1 của Thông tư số 06/2024/TT-BKHCN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 11/2015/TT-BKHCN ngày 26 tháng 6 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29 tháng 8 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 11 năm 2024.

[46] Tên Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 13 Điều 1 của Thông tư số 06/2024/TT-BKHCN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 11/2015/TT-BKHCN ngày 26 tháng 6 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29 tháng 8 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 11 năm 2024.

[47] Khoản này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 2 Điều 2 của Thông tư số 06/2024/TT-BKHCN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 11/2015/TT-BKHCN ngày 26 tháng 6 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29 tháng 8 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 11 năm 2024.

[48] Các khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 13 Điều 1 của Thông tư số 06/2024/TT-BKHCN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 11/2015/TT-BKHCN ngày 26 tháng 6 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29 tháng 8 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 11 năm 2024.

[49] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 13 Điều 1 của Thông tư số 06/2024/TT-BKHCN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 11/2015/TT-BKHCN ngày 26 tháng 6 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29 tháng 8 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 11 năm 2024.

[50] Cụm từ “đơn yêu cầu xử lý vi phạm” được thay thế bởi cụm từ “đơn yêu cầu xử lý xâm phạm” theo quy định tại điểm q khoản 1 Điều 2 của Thông tư số 06/2024/TT-BKHCN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 11/2015/TT-BKHCN ngày 26 tháng 6 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29 tháng 8 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 11 năm 2024.

[51] Cụm từ “đơn yêu cầu xử lý” được thay thế bởi cụm từ “đơn yêu cầu xử lý xâm phạm” theo quy định tại điểm r khoản 1 Điều 2 của Thông tư số 06/2024/TT-BKHCN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 11/2015/TT-BKHCN ngày 26 tháng 6 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29 tháng 8 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 11 năm 2024.

[52] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 14 Điều 1 của Thông tư số 06/2024/TT-BKHCN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 11/2015/TT-BKHCN ngày 26 tháng 6 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29 tháng 8 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 11 năm 2024.

[53] Điều này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 2 Điều 2 của Thông tư số 06/2024/TT-BKHCN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 11/2015/TT-BKHCN ngày 26 tháng 6 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29 tháng 8 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 11 năm 2024.

[54] Điều này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 2 Điều 2 của Thông tư số 06/2024/TT-BKHCN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 11/2015/TT-BKHCN ngày 26 tháng 6 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29 tháng 8 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 11 năm 2024.

[55] Điều này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 2 Điều 2 của Thông tư số 06/2024/Tr-BKHCN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 11/2015/TT-BKHCN ngày 26 tháng 6 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29 tháng 8 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 11 năm 2024.

[56] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 15 Điều 1 của Thông tư số 06/2024/TT-BKHCN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 11/2015/TT-BKHCN ngày 26 tháng 6 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29 tháng 8 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 11 năm 2024.

[57] Điều này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 2 Điều 2 của Thông tư số 06/2024/TT-BKHCN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 11/2015/TT-BKHCN ngày 26 tháng 6 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29 tháng 8 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 11 năm 2024.

[58] Điều này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 2 Điều 2 của Thông tư số 06/2024/TT-BKHCN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 11/2015/TT-BKHCN ngày 26 tháng 6 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29 tháng 8 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 11 năm 2024.

[59] Điều 31 Thông tư số 11/2015/TT-BKHCN ngày 26 tháng 6 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29 tháng 8 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, có hiệu lực từ ngày 11 tháng 8 năm 2015 quy định như sau:

“Điều 31. Hiệu lực thi hành

Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 11 tháng 8 năm 2015 và thay thế Thông tư số 37/2011/TT-BKHCN ngày 27 tháng 12 năm 2011 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 97/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 9 năm 2010 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp.”

Điều 3, Điều 4 Thông tư số 06/2024/TT-BKHCN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 11/2015/TT-BKHCN ngày 26 tháng 6 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29 tháng 8 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 11 năm 2024 quy định như sau:

“Điều 3. Trách nhiệm tổ chức thực hiện

1. Thủ trưởng các đơn vị trực thuộc Bộ, thủ trưởng các cơ quan, tổ chức và các cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Thông tư này.

2. Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc đề nghị các cơ quan, đơn vị phản ánh kịp thời về Bộ Khoa học và Công nghệ để nghiên cứu, giải quyết.

Điều 4. Điều khoản thi hành

1. Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 11 năm 2024.

2. Trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật được dẫn chiếu thực hiện tại Thông tư này được sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế thì việc dẫn chiếu thực hiện theo quy định tại văn bản mới.”

THE MINISTRY OF SCIENCE AND TECHNOLOGY OF VIETNAM
-------

SOCIALIST REPUBLIC OF VIETNAM
Independence - Freedom – Happiness
---------------

No. 04/VBHN-BKHCN

Hanoi, November 15, 2024

CIRCULAR

ELABORATING AND GUIDING CERTAIN ARTICLES OF THE GOVERNMENT’S DECREE NO. 99/2013/ND-CP DATED AUGUST 29, 2013, ON IMPOSITION OF PENALTIES FOR ADMINISTRATIVE VIOLATIONS AGAINST REGULATIONS ON INDUSTRIAL PROPERTY

Circular No. 11/2015/TT-BKHCN dated June 26, 2015 of the Minister of Science and Technology elaborating and guiding Decree No. 99/2013/ND-CP dated August 29, 2013 of the Government providing for imposition of penalties for administrative violations against regulations on industrial property, which is effective from August 11, 2015, is amended and supplemented by:

Circular No. 06/2024/TT-BKHCN dated September 30, 2024 of the Minister of Science and Technology amending certain articles of Circular No. 11/2015/TT-BKHCN dated June 26, 2015 of the Minister of Science and Technology elaborating and guiding Decree No. 99/2013/ND-CP dated August 29, 2013 of the Government providing for imposition of penalties for administrative violations against regulations on industrial property, which is effective from November 15, 2024.

Pursuant to the Law on Handling of Administrative Violations 2012;

Pursuant to the 2005 Law on Intellectual Property; and the 2009 Law Amending and Supplementing certain Articles of the Law on Intellectual Property (hereinafter referred to as “the Law on Intellectual Property”);

Pursuant to the Government's Decree No. 81/2013/ND-CP dated July 19, 2013 elaborating certain articles of and measures to implement the Law on Handling of Administrative Violations;

Pursuant to Government's Decree No. 99/2013/ND-CP dated August 29, 2013 on imposition of penalties for administrative violations against regulations on industrial property;

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



Pursuant to the Government’s Decree No. 105/2006/ND-CP dated September 22. 2006, elaborating and guiding a number of articles of the Law on Intellectual Property on protection of intellectual property rights and state management of intellectual property; and Decree No. 119/2010/ND-CP dated December 30, 2010 amending and supplementing a number of articles of Decree No. 105/2006/ND-CP (hereinafter referred to as “amended Decree No. 105/2006/ ND-CP”);

Pursuant to the Government’s Decree No. 20/2013/ND-CP dated February 26, 2013 elaborating the functions, tasks, powers and organizational structure of the Ministry of Science and Technology;

At the request of the Chief Inspector of the Ministry of Science and Technology and the Director of the Legal Department;

The Minister of Science and Technology promulgates a Circular elaborating and guiding certain Articles of the Government’s Decree No. 99/2013/ND-CP dated August 29, 2013 on imposition of penalties for administrative violations against regulations on industrial property. [1]

Chapter 1

GENERAL PROVISIONS

Article 1. Regulated scope and entities [2]

1. Regulated scope:

This Circular elaborates and guides certain Articles of Decree No. 99/2013/ND-CP dated August 29, 2013 of the Government on administrative penalties in the field of industrial property, amended by Decree No. 126/2021/ND-CP dated August 30, 2021 of the Government and Decree No. 46/2024/ND-CP dated May 4, 2024 of the Government (hereinafter referred to as “Decree No. 99/2013/ND-CP”).

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



a) Entities stipulated in Article 1a of Decree No. 99/2013/ND-CP that commit administrative violations in the field of industrial property;

b) Persons authorized to impose administrative penalties and record administrative violations in the field of industrial property as provided in Articles 15 to 21a of Decree No. 99/2013/ND-CP ;

c) Other organizations and individuals involved in the penalties for administrative violations in the field of industrial property.

Article 2. [3] (annulled)

Article 3. Supplementary penalties [4]

When applying the supplementary penalty stipulated in Point c, Clause 2, Article 3 of Decree No. 99/2013/ND-CP , the authorized administrative sanctioning officer shall apply the measure of suspending part or all of the production, business, or service activities of the violating organization or individual. This suspension applies specifically to production, business, or service activities directly related to the administrative violation being sanctioned. A full suspension of production, business, or service activities for the violating organization or individual shall be applied when the entirety of these activities is directly related to the administrative violation being sanctioned.

Article 4. Application of preventive measures and assurance of enforcement of administrative penalties [5]

The authorized administrative sanctioning officer shall consider applying preventive measures to ensure enforcement of administrative penalties temporarily holding a domain name upon receiving valid documentation from the entity requesting action against unfair competition related to the possession or use of a domain name, as stipulated in Point a, Clause 16, Article 14 of Decree No. 99/2013/ND-CP , including:

1. A request for the application of the preventive measure "temporary hold of domain name" (submitted as a separate document or as part of the petition regarding unfair competition related to domain name possession or use);

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



3. Documentation and evidence proving the act of unfair competition related to domain name possession or use, as specified in Point c, Clause 2, Article 19 of this Circular.

Article 5. [6] (annulled)

Article 6. Determination of illegal gains obtained from administrative violations [7]

1. Illegal gains obtained from administrative violations are the benefits acquired by an organization or individual as a result of committing such violations, including:

a) Money;

b) Valuable papers;

c) Other goods or assets.

2. Determining illegal gains in monetary form:

a) Illegal gains in monetary form represent the total amount of money an organization or individual acquired from the administrative violation. This is calculated as the revenue obtained from the transfer, sale, or provision of goods or services in violation, after deducting the direct costs constituting these goods or services, based on documentation and proof verifying the legality and validity of these costs provided by the violating organization or individual;

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



Illegal gains in monetary form = Quantity of goods or volume of services transferred or sold x Unit price of goods or services - Direct costs of producing goods or services, if the violating organization or individual has sufficient records and documentation to prove the legality and validity of these costs.

Where:

- The quantity of goods or volume of services transferred or sold is based on the declaration of the violating organization or individual, verified by the authorized administrative sanctioning officer;

- The unit price of goods or services is based on the records and documentation of the violating organization or individual. If no records or documentation are available, the unit price is determined according to the market price of similar goods or services at the time the violation is detected;

If the quantity, volume, or unit price cannot be determined, then the illegal gain is considered the total amount of money the organization or individual received from the unlawful transfer, sale, or provision of goods or services.

3. Determining illegal gains as valuable papers:

a) Illegal gains as valuable papers refer to all valuable papers obtained by the organization or individual from administrative violations;

b) Valuable papers specified in Clause 1 of this Article include types of valuable papers as defined by the Civil Code and other valuable papers according to relevant legal regulations;

c) If the valuable papers have been transferred, the illegal gains are determined by the actual amount received at the time of transfer.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



4. Determining illegal gains as other objects or assets:

a) Illegal gains as other objects or assets refer to those obtained by the organization or individual through administrative violations, as defined by the Civil Code;

b) If the objects or assets have been transferred, sold, or destroyed, the illegal gains are determined by either the market value of similar assets or the book value of the asset (if no market value is available), or by the monetary value listed on the export or import declaration (in the case of exported or imported goods) of the violating organization or individual, after deducting the direct costs of producing the goods, based on legal and valid documentation supporting these costs.

Chapter II

VIOLATIONS/INFRINGEMENTS ON WHICH ADMINISTRATIVE PENALTIES WILL BE IMPOSED

Section 1. VIOLATIONS/INFRINGEMENTS OF REGULATIONS ON MANAGEMENT OF INDUSTRIAL PROPERTY ACTIVITIES

Article 7. Violations/infringements of regulations on industrial property protection indications and licensing of industrial property rights as specified in Article 6 of Decree No. 99/2013/ND-CP [8]

1. Wrongful indications of legal status, as specified in Point b, Clause 1, Article 6 of Decree No. 99/2013/ND-CP , refer to the act of providing misleading information that implies the subject is protected by industrial property laws in Vietnam when it is not, or has not been, protected. This includes cases where the subject has filed for registration but has not yet been granted a protection title, or where the protection title has been cancelled, terminated, or expired at the time the indication is made on goods, packaging, or business means, including:

a) Affixing indications on goods, packaging, or business means that create a false impression that the goods or services bearing the trademark that is protected by industrial property laws, such as: “trademark exclusively certified,” “protected trademark,” “exclusive trademark of...,” or similar indications, including the use of the ® symbol (indicating trademark protection in Vietnam). If the ® symbol is used on goods or packaging and there is accurate information on the protection status of the trademark in Vietnam (including supplementary labels on imported goods), it is not considered a violation as per Point b, Clause 1, Article 6 of Decree No. 99/2013/ND-CP ;

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



2. The acts specified in Point c, Clause 1, Article 6 of Decree No. 99/2013/ND-CP are understood as follows:

a) The act of receiving a trademark license without executing a written contract in cases where the licensed trademark is used on goods or packaging refers to obtaining the right to use the trademark from the rights holder and applying it to goods or packaging, but failing to formalize it through a contract that includes all the contents required by Clause 1, Article 144 of the Intellectual Property Law. Consent letters, Approval letters, or similar documents from the rights holder that permit the use of a protected trademark without including all the details required in Clause 1, Article 144 of the Intellectual Property Law are not recognized as valid trademark licensing agreements;

b) Wrongful indication involves marking goods or packaging with phrases like “manufactured under a license agreement for industrial property of…” or similar expressions in Vietnamese or foreign languages in the following cases:

- The user has not been legally licensed to use the industrial property subject under applicable law;

- There is an agreement for using the industrial property subject between parties, but the indication contains incorrect information, such as the name or contract number.

c) Omission of indication involves failing to mark goods or packaging with information indicating that the product or goods were manufactured under a license agreement for the industrial property subject.

Article 8. Violations/infringements of regulations on industrial property representation as specified in Article 7 of Decree No. 99/2013/ND-CP

1. Act of concurrently acting as representatives for industrial property rights disputing parties prescribed at Point a, Clause 2, Article 7 of Decree No. 99/2013/ND-CP shall be understood as either of the following: [9]

a) Providing one or more than one service of industrial property representation specified in Clause 1, Article 151 of the Law on Intellectual Property to both the requester for handling and the party requested to be handled for an infringement upon industrial property rights in the same case;

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



2. [10] (annulled)

3. Serious errors or infringements committed by industrial property representatives while practicing representation which cause damage to the interests of the State or society prescribed at Point b, Clause 4, Article 7 of Decree No. 99/2013/ND-CP shall be understood as one of the following:

a) Registering a confidential invention overseas without permission of a competent agency;

b) Disclosing information and documents not yet permitted for disclosure or information classified as state secret in the course of providing the service of industrial property representation;

c) Renting or leasing an industrial property representation service practice certificate.

Article 9. Infringements of regulations on industrial property examination as specified in Article 8 of Decree No. 99/2013/ND-CP

1. Act of disclosing information obtained while conducting examination without permission of related parties prescribed at Point b, Clause 3, Article 8 of Decree No. 99/2013/ND-CP shall be understood as either of the following:

a) Disclosing confidential information or documents provided by a competent agency or a person (requester) for industrial property examination[11] related to a case in question;

b) Disclosing information or documents not yet permitted for disclosure or information classified as state secret or business secret provided by a competent agency or a requester for the examination.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



a) Taking advantage of the status of an examination organization or examiner or the participation in examination activities to influence involved organizations and individuals in order to earn illicit profits;

b) Conducting activities outside areas of examination stated in the business registration certificate or operation registration certificate in order to earn illicit profits.

3. Act of intentionally making untruthful examination conclusions prescribed at Point b, Clause 4, Article 8 of Decree No. 99/2013/ND-CP shall be understood as an act of intentionally making groundless examination conclusions not based on the information and documents provided for the examination.

Section 2. Infringement of industrial property rights and unfair competition for industrial property [12]

Article 10. Violations of regulations on industrial property on the Internet [13]

1. The Internet-based act under review is considered a violation of regulations on industrial property if it meets the criteria specified in Clause 4, Article 72 of Decree No. 65/2023/ND-CP dated August 23, 2023, which details provisions and enforcement measures for the Law on Intellectual Property concerning industrial property, protection of industrial property rights, plant variety rights, and state management of intellectual property (hereinafter referred to as Decree No. 65/2023/ND-CP). Such acts are subject to administrative penalties under Decree No. 99/2013/ND-CP .

2. A domain name registrant who allows another organization or individual to use the domain name, knowing or having reason to know that it will be used to commit the violations specified in Clause 1 of this Article, is also considered to have engaged in a violation and may be subject to penalties in accordance with the applicable provisions of Decree No. 99/2013/ND-CP .

Article 11. Infringements of patent rights

The identification of infringements of patent rights must comply with Articles 72 and 74 of Decree No. 65/2023/ND-CP and the following guidance: [14]

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



a) Two technical specifications (features) are regarded as identical if they have the same nature, utility and method of utilization and share the same connection with other specifications stated in the protection request;

b) Two technical specifications (features) are regarded as similar if they have similar or interchangeable natures and basically the same utility and method of utilization.

2. If a product/product part/process in question does not contain at least one basic technical specification (feature) stated in a certain point of the protection request, it shall be regarded as neither identical nor similar to any product/product part/process protected under that point.

Article 12. Infringements of rights to industrial designs

The identification of infringements of rights to industrial designs must comply with Articles 72 and 76 Decree No. 65/2023/ND-CP and the following guidance: [15]

1. A product/component assembled into a complex product [16] in question shall be regarded as a replication of a protected industrial design if it [17] has a combination of visual shaping (external appearance) features incorporating all functional and non-functional shaping features of the protected industrial design.

2. A product/component assembled into a complex product [18] in question shall be regarded as a replication of a protected industrial design if it [19] has a combination of visual shaping (external appearance) features incorporating all functional shaping features of the protected industrial design and they are different from each other only in their shaping features that are not easily identified and remembered.

3. In case visual shaping features of a product/component assembled into a complex product [20] are regarded as a replication or substantially a replication of the combination of visual shaping features of at least one product in the set of products under a protected industrial design, the case shall also be regarded as an infringement upon rights to the industrial design.

4. Functional shaping features of a protected industrial design shall be understood as shaping features that can be easily identified or remembered and used to distinguish an industrial design as a whole from another. Functional shaping features may be configuration, pattern and correlation between configuration and/or pattern features, and colour features identified on the basis of the set of photos/drawings enclosed with the Industrial Design Patent, decision to grant protection for an internationally registered industrial design, or extract from the national registry of industrial property[21].

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



The identification of infringements of rights to marks must comply with Articles 72 and 77 of Decree No. 65/2023/ND-CP and the following guidance: [22]

1.”Grounds Assessment of the likelihood of confusion between a sign and a protected trademark follows these criteria: [23]

a) Scope of protection in whole and in each component of the mark; similarity between the sign and the mark in whole and in distinctive components, especially those making strong impression on consumers;

b) Relevance of the goods or service by function, utility or composition; practice and custom of sale, purchase, distribution, selection and use of the goods or service; conditions, methods and places of display, distribution, marketing, promotion and sale and purchase of the goods or service;

c) Characteristics and level of attention of consumers when selecting, purchasing and selling the goods or service;

d) Other criteria such as practical use and protection of similar marks for the same goods; effect of other elements suggestive of the relation between the goods or service in question and the protected goods or service;

dd) Evidence of consumer confusion consequences may be used to support the assessment of confusability of the use of the sign but does not constitute a compulsory condition for making a conclusion on confusability of the use of the sign.

2. Identification of elements infringing upon rights to marks:

a) In case of use of a sign identical to a mark for a goods or service identical to that stated in a Trademark Registration Certificate or Confirmation of International Registration of a trademark protected in Vietnam or an extract from the national register of industrial property[24], it is unnecessary to examine the possibility of consumer confusion about the goods or service bearing the mark;

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



3. Identification of elements infringing upon rights to well-known marks:

a) In case of use of a sign identical or similar to a well-known mark or sign in the form of definition or transcription from a well-known mark for any goods or service, including also goods or service neither identical nor similar nor relevant to that on the list of goods and services bearing well-known marks, it is necessary to examine the possibility of confusion about the origin of goods or service or the relation between the user of such sign and the owner of the well-known mark;

b) In case the use of a sign identical or similar to a well-known mark specified at Point a. Clause 3 of this Article cannot cause a confusion about the origin of a goods or service but causes a misleading impression on consumers about the relation between the user of such sign and the owner of the well-known mark, it shall also be regarded as an act infringing upon industrial property rights;

c)[26] When filing an infringement complaint on a well-known trademark, the rights holder must provide evidence demonstrating that the trademark is recognized as well-known in Vietnam, as stipulated in Article 75 of the Law on Intellectual Property, regardless of whether the trademark has been registered for protection in Vietnam;

d) [27] Before initiating infringement resolution procedures, the competent authority for case resolution shall assess and evaluate whether a trademark qualifies as well-known in Vietnam based on Article 75 of the Law on Intellectual Property.

In cases where a trademark is recognized as well-known in Vietnam through civil proceedings, or if the recognition of a well-known trademark leads to an infringement resolution decision under point d, Clause 1, Article 129 of the Law on Intellectual Property or results in a decision not to protect another trademark under point i, Clause 2, Article 74 of the Law on Intellectual Property, the competent authority for case resolution may consult with the industrial property right authority and/or seek expert opinions to resolve the matter.

Article 14. Infringements of rights to trade names

The identification of acts infringing upon rights to trade names must comply with Articles 72 and 79 of revised Decree No. 65/2023/ND-CP and the following guidance: [28]

1. The ground for examining elements infringing upon rights to a trade name is the protection scope of such trade name determined on the basis of evidence of lawful use of such trade name, indicating business subjects, business establishments, business activities and products or services bearing the trade name, specifically as follows:

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



b) Time of starting the use and use course: The trade name has been known by business partners and customers through goods, services and business activities (for example, the trade name is used on goods, sale and purchase contracts, goods orders, business transaction documents, advertising leaflets, customs declarations, tax payment documents and other transaction documents).

2. Business household registration certificate, enterprise registration certificate, investment registration certificate, certificate of eligibility for business operation, tax identification number registration and articles of incorporation are regarded as evidence proving the lawfulness of business activities conducted under the trade name. The name of a business establishment or an enterprise stated in the above papers may only be regarded as a trade name when there are documents proving that the name of the business establishment or enterprise is used in practical lawful business activities and satisfies the protection conditions prescribed in Articles 76, 77 and 78 of the Law on Intellectual Property.

3. [29] (annulled)

4. [30] (annulled)

Article 15. Infringements of rights to geographical indications

The identification of infringements of rights to geographical indications must comply with Articles 72 and 78 of Decree No. 65/2023/ND-CP and the following guidance: [31]

1. The ground for assessing the confusability of a sign with a geographical indication may be applied in an appropriate manner like the ground for assessing the confusability of a sign with a protected mark.

2. Infringing products and goods may be:

a) Products of the same type bearing a sign identical to a geographical indication and manufactured in a locality in the region bearing the protected geographical indication but not satisfying the condition of particular quality under such geographical indication;

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



c) [32] (annulled)

d) Similar products bearing a sign identical or similar to a geographical indication for the purpose of taking advantage of the popularity and reputation of such geographical indication and/or misleading as to their geographical origin, regardless of whether or not their place of manufacture is located in the region bearing the protected geographical indication.

Article 16. Infringements of stamps, labels and articles

1. Infringements prescribed in Article 13 of Decree No. 99/2013/ND-CP shall be applied in case where an organization or individual detects a stamp, label or article bearing a counterfeit mark or geographical indication not yet affixed on products and has sufficient grounds to believe that such stamp, label or article will be affixed on products to be marketed (for example, through a purchase and sale contract, printing contract, written declaration with a competent agency, package sample or product sample affixed with fringing stamp, label or article and currently in storage, transportation or on display for sale).

2. Other stamps, labels and articles specified in Article 13 of Decree No. 99/2013/ND-CP refer to stamps of all kinds of manufacturers, distributors and importers to be affixed on products, including quality control stamps containing infringing elements; goods labels; decals; product packages; product parts which can be detached but cannot be independently circulated, on which counterfeit marks or geographical indications are printed, molded or embossed.

Article 17. [33] (annulled)

Article 18. Acts of importing goods that infringe industrial property rights [34]

1. Acts of importing goods that infringe industrial property rights are subject to administrative penalties under Decree 99/2013/ND-CP , except as specified in Clause 2 of this Article.

2. Importation by organizations or individuals of products that were originally released into the domestic or foreign market by the legitimate owner, an authorized licensee (including those under compulsory licensing), or prior users of the industrial property subject, even without the consent of the industrial property rights holder (parallel importation), shall not be considered an infringement of industrial property rights and shall not be subject to administrative penalties.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



1. Act of using misleading trade indications:

a) A holder of rights to petition handling[35] of the act of using a misleading trade indication is a business entity that has made prior use of a trade indication specified in Clause 2, Article 130 of the Intellectual Property Law [36] in a public and stable manner in its lawful business activities in Vietnam and has its reputation and goods or services bearing such trade indication known to consumers.

b) Trade indications specified in Clause 2, Article 130 of the Intellectual Property Law[37] include industrial property subject matters (marks, trade names and geographical indications) and the following subject matters:

- Goods labels, which are scripts, prints, drawings or photos of letters, pictures or images stuck, printed, attached, molded, carved or engraved directly on goods or commercial packages of goods or on other materials to be affixed on goods or commercial packages of goods.

- Business motto, which is a group of words appearing beside the name of a business entity[38] or label affixed on products of a business entity[39] to emphasize business purposes or guidelines of the business entity[40] or customers targeted by such products.

- Business symbols, which are signs, letters, figures or configurations uniquely designed and used as symbols of business entities[41] in their business activities.

- Package designs, which are designs and decorations of goods packages, including shapes, patterns, figures, letters, numbers, colours, presentations, blending of colours, arrangements and combination of these elements to create a particular impression or typical feature of goods packages.

c) A misleading trade indication is a trade indication containing signs (components, presentation, combination of elements, colours, overall impression on consumers) identical or confusingly similar to a corresponding trade indication of the rights holder requesting handling of an act of unfair competition used for identical or similar goods or services.

The use of such an indication aims to mislead consumers as to the business entity, business activities, commercial origin of goods or services, geographical origin, manufacturing method, function, quality, quantity or other features of goods or services or conditions of goods or service provision.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



- The business entity has used the trade indication in a public and stable manner to the knowledge of many consumers in Vietnam, which may include information on advertising, marketing, display and exhibition; sale turnover; number of products sold; system of distribution agents, joint ventures and associated parties; investment scale; appraisal by state agencies, the mass media, selection by consumers, and other information showing the reputation of the business entity associated with the trade indication in its business activities in Vietnam;

- The party requested to be handled has used the misleading trade indication on goods, goods packages, means of business, means of services or means of advertising.

2. [42] The act of domain name possession and usage as specified in point a, Clause 16, Article 14 of Decree 99/2013/ND-CP:

a) Entities eligible to request handling of the domain name possession and usage act as outlined in point a, Clause 16, Article 14 of Decree 99/2013/ND-CP are organizations or individuals who have been or are likely to be harmed by this violation. The domain names specified in point a, Clause 16, Article 14 of Decree 99/2013/ND-CP refer to domain names under Vietnam's management (excluding domain names allocated through public auctions under telecommunications law);

b) Acts of domain name possession and usage are deemed acts of unfair competition in industrial property under the following conditions:

- Possession or use of a domain name containing character strings identical or confusingly similar to a protect trademark, trade name of another party, or geographical indication which the user has no right to use, to introduce, offer, or sell identical, similar, or related products or services on a website linked to that domain name, creating confusion to exploit the reputation or fame of the trademark, trade name, or geographical indication for unlawful gain;

- Possession or use of a domain name containing character strings identical or confusingly similar to a protected trademark, trade name of another party, or geographical indication which the user has no right to use, with malicious intent when meeting one of the following conditions:

(i) There is evidence that the organization or individual holding or using the domain name intends to sell or transfer the domain name registration rights to the trademark, trade name owner, or the organization entitled to manage the geographical indication for profit. Additionally, there is a basis to believe that, at the time of registering the domain name, the organization or individual knew or should have known that the trademark, trade name, or geographical indication was protected in Vietnam;

(ii) The website linked to the domain name publishes information that damages the reputation or fame of the trademark, trade name, or geographical indication protected in Vietnam.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



- For acts of domain name possession or usage that are identical or confusingly similar to another’s protected trademark, trade name, or geographical indication without the right to use them, for the purpose of exploiting the reputation or fame of the corresponding trademark, trade name, or geographical indication for unlawful gain:

Information and documentation proving that the trademark, geographical indication, or trade name is protected in Vietnam and that the trademark or trade name is widely used or recognized by Vietnamese consumers in the relevant field for its reputation or fame, or proving that the trademark is considered a well-known mark under Article 75 of the Intellectual Property Law (e.g., advertising, marketing, and exhibition information; sales revenue; quantity of products sold; distribution network, joint ventures, partnerships; investment scale; evaluations by government agencies, associations, professional organizations, media coverage, consumer choice; public service, charitable activities, or other information showing the extensive use of the trademark, geographical indication, or trade name in Vietnam, or proving the trademark as a well-known mark); and

Information and documentation proving that the party being petitioned for handling has used the domain name on the Internet to introduce, offer, or sell identical, similar, or related goods or services on the website linked to that domain name; causing confusion to exploit the reputation or fame of the trademark, trade name, or geographical indication protected in Vietnam for unlawful gain (e.g., information that suggests to Vietnamese consumers that the entity is an agent, branch, partner, or representative office in Vietnam);

- For acts of domain name possession or usage that are identical or confusingly similar to another's protected trademark, trade name, or geographical indication without authorized use, and done with malicious intent:

Information and documentation proving that the organization or individual holds or uses the domain name intending to resell or transfer the registration rights to the trademark or trade name owner, or the entity authorized to manage the geographical indication, for profit, along with evidence showing that at the time of domain name registration, the organization or individual knew or had reason to know that the trademark, trade name, or geographical indication was protected in Vietnam; or documentation showing that the website linked to the domain name contains information damaging to the reputation or fame of the trademark, trade name, or geographical indication protected in Vietnam;

- Information and documentation proving that the party being petitioned has no legal rights or legitimate interests in the protected trademark, geographical indication, or trade name in Vietnam; information proving that the party being petitioned was previously a member, partner, or agent with the rights holder (if applicable).

Article 20. Reuse, repair, recycling of products and product packages

The reuse, repair or recycling by organizations or individuals of products or product packages bearing marks, trade names or geographical indications marketed by rights holders to create other products shall also be regarded as an act of infringing upon industrial property rights or an act of unfair competition in case such act misleads consumers as to the commercial origin of products, business entity, business activities or properties of products under relevant provisions on acts infringing upon industrial property rights and acts of unfair competition.

This provision does not apply in case where products bear an explicit notification that products and product packages are reused, repaired or recycled and have no signs which may mislead consumers as to the commercial origin of products, business entity, business activities or properties of products under relevant provisions on acts infringing upon industrial property rights and acts of unfair competition.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



Means of business specified in Clause 15, Article 11, and at Point b, Clause 15, Article 14, of Decree No. 99/2013/ND-CP shall be understood as any means bearing or containing a protected industrial property subject matter or trade indication and used to serve business activities (for example, websites, online stores on e-commerce platforms, social network pages[43], introduction documents, name cards, means of transport and utensils and decorations in business establishments).

Chapter III

PROCEDURES FOR PENALTIES FOR INFRINGEMENTS OF INDUSTRIAL PROPERTY RIGHTS [44]

Article 22. Authorization for requesting the penalties for industrial property rights infringements [45]

Authorization document submitted with the infringement complaint must comply with the conditions specified in Article 23 of Decree 99/2013/ND-CP and the following guidelines:

1. If the original authorization document, which includes authorization for industrial property rights protection procedures, has already been submitted to the same competent authority addressing the infringement, the rights holder may submit a copy and reference the original authorization document previously filed.

2. If the original authorization document, including authorization for industrial property rights protection procedures, was submitted to an industrial property right authority or another competent authority, the rights holder must submit a certified copy from the agency that retains the original authorization document.

Article 23. Infringement complaint in administrative penalties [46]

1. [47] (annulled)

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



a) Copies of certificates, protection titles, permits, and other documents are considered valid if the rights holder presents the original for verification, a certified copy from a competent authority, or a copy authenticated by the issuing agency. For protection titles issued electronically, the rights holder must submit an authenticated copy or certified extract as required by law;

b) Documentation proving the ownership of a trade name includes materials and evidence showing prior and lawful use of the trade name in the business field and geographical area that meet the protection requirements under Articles 76, 77, and 78 of the Intellectual Property Law;

c) Documentation proving the ownership of trade secrets includes materials proving that the organization or individual lawfully possesses and has implemented security measures for the information regarded as a trade secret under Articles 84 and 85 of the Intellectual Property Law;

d) If a license agreement for the use of an industrial property subject, collective trademark regulation, or a geographical indication permit does not contain any provisions limiting the licensee’s right to request to address infringement, the licensee may initiate infringement addressing procedures under Decree 99/2013/ND-CP , provided that the rights holder has not issued any objection to such actions.

3. [49] For supporting documents and evidence attached to the request:

A written explanation by the rights holder (regarding revenue, reputation, advertising, evidence of extensive use, copies of certificates, protection titles in other countries) submitted to the competent authority for case resolution is considered valid if it includes a commitment to legal accountability for the content and information, along with the signature and stamp (if applicable) of the rights holder or their legal representative. If the explanation consists of multiple pages, the rights holder must initial each page or affix a contiguous seal across pages (if applicable).

This provision also applies correspondingly to documents provided by the party subject to infringement addressing.

4. In a request for infringement handling[50], the rights holder may request the handling of:

a) One or more than one infringement related to one or more than one industrial property subject matter committed by the same organization or individual;

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



c) In ease of requesting handling of one or more than one organization or individual committing an infringement in the same locality, the rights holder shall file only one request with the agency with handling competence in such locality;

d) In case of requesting handling of one or more than one organization or individual committing an infringement in different localities, the rights holder may file a request with the agency with handling competence in each locality or file a request with a central agency with infringement handling competence in such localities.

5. In case different agencies are competent to handle an infringement, the rights holder may choose one from among those agencies to file his/her/its request[51].

Article 24. Review and handling of infringement complaint in administrative penalties [52]

In cases where the documents and evidence provided by the applicant are incomplete, the reviewing authority may request the involved parties to supply additional information, evidence, and explanations as stipulated in Points b and c, Clause 3, Article 25 of Decree 99/2013/ND-CP .

1. The competent authority for case resolution may ask the complainant to submit supplementary documents, evidence, explanations, or clarifications within a specified period. The authority may also require the intellectual property rights holder to provide information, documents, and samples to identify infringement markers, determine authentic versus counterfeit goods, infringing products, legal supply sources, legitimate distribution channels, and evidence of goods manufactured outside the licensed scope of intellectual property rights or goods that are not considered genuine imports as specified in Clause 2, Article 18 of this Circular.

2. The parties may provide the competent authority with expert opinions in writing from the intellectual property authority, industrial property assessment conclusions, relevant dispute resolution decisions, infringement addressing decisions from competent authorities, and other documents and evidence to substantiate their claims, arguments, and explanations, thus clarifying the details of the case.

When the written explanations of the parties fail to clarify all details of the case, and upon request of one or more parties, the competent authority may arrange a direct meeting with the parties. The minutes of this meeting, which document the opinions of each party, are considered a basis for resolving the case.

3. The competent authority for case resolution may independently conduct inspections, investigations, evidence collection, and determinations of the intellectual property protection scope and infringement acts per intellectual property law. If necessary, the authority may request relevant agencies to carry out investigations, gather evidence of infringement, seek expert opinions from the intellectual property authority, or request industrial property assessment to determine the scope of protection and identify infringing elements.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



Article 25. [53] (annulled)

Article 26. [54] (annulled)

Article 27. [55] (annulled)

Article 28. Refusal and discontinuation of processing infringement complaints in administrative penalties [56]

1. Refusal to accept infringement complaints applies to those submitted to the competent authority but not meeting the conditions for acceptance, as specified in Clause 1, Article 28 of Decree No. 99/2013/ND-CP .

Notification of refusal to address infringement must follow the provisions on receiving and reviewing infringement complaints outlined in Article 25 of Decree No. 99/2013/ND-CP .

2. If the same infringement case is submitted to multiple competent authorities, the first authority to accept the request has jurisdiction. The rights holder must notify other competent authorities that the request has been accepted and is under resolution.

a) Before accepting the case, if the receiving authority is informed that another competent authority or court has already accepted the case, it will issue a notice of refusal to accept the request.

b) If the case has been accepted but no investigation or administrative action has begun, and the authority learns that another competent authority has initiated such actions or that the court has taken the case, it will issue a notice refusing to proceed with handling the violation.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



3. Discontinuation applies to complaints already accepted but falling under any conditions specified in Clause 2, Article 28 of Decree No. 99/2013/ND-CP .

a) The competent authority may discontinue processing when complaints or disputes arise, as outlined in Point a, Clause 2, Article 28 of Decree No. 99/2013/ND-CP , in any of the following cases:

- A written notice from the industrial property authority states it is processing or reviewing a request to cancel or terminate protection titles or a complaint about the scope of protection related to the subject in the infringement complaint;

- A court has accepted a case related to infringement, complaints, or disputes over intellectual property rights concerning the subject in the infringement complaint;

- There is evidence of disputes involving the rights holder’s status or contractual disputes over the use of the industrial property subject.

b) The authority or authorized individual may consider discontinuing the processing of an infringement complaint if the complainant submits a written request to withdraw or suspend the handling of the case, in accordance with Point c, Clause 2, Article 28 of Decree No. 99/2013/ND-CP .

3. The notice must clearly state the grounds and reasons for discontinuation and be sent to all parties involved and the authority responsible for dispute or complaint resolution.

Article 29. [57] (annulled)

Article 30. [58] (annulled)

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



ORGANIZATION OF IMPLEMENTATION [59]

Article 31. Effect

This Circular takes effect on August 11, 2015, and replaces the Minister of Science and Technology’s Circular No. 37/2011/TT-BKHCN dated December 27, 2011 guiding a number of articles of the Government’s Decree No. 97/2010/ND-CP of September 21, 2010, on administrative penalties for violations against regulations on industrial property.

Article 32. Responsibility for implementation

1. Heads of units under the Ministry, heads of relevant agencies and organizations, and individuals concerned are responsible for implementing this Circular.

2. Difficulties that arise during the implementation of this Circular should be reported to the Ministry of Science and Technology for consideration./.

CERTIFIED BY

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!


Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chỉ xem được Thuộc tính của văn bản.
Bạn chưa xem được Hiệu lực của Văn bản, Văn bản liên quan, Văn bản thay thế, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,...


Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây


Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!


Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chỉ xem được Thuộc tính của văn bản.
Bạn chưa xem được Hiệu lực của Văn bản, Văn bản liên quan, Văn bản thay thế, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,...


Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây


Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!


Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chỉ xem được Thuộc tính của văn bản.
Bạn chưa xem được Hiệu lực của Văn bản, Văn bản liên quan, Văn bản thay thế, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,...


Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây


Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!


Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chỉ xem được Thuộc tính của văn bản.
Bạn chưa xem được Hiệu lực của Văn bản, Văn bản liên quan, Văn bản thay thế, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,...


Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây


Văn bản hợp nhất 04/VBHN-BKHCN ngày 15/11/2024 hợp nhất Thông tư hướng dẫn Nghị định 99/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp do Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành

Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!


Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chỉ xem được Thuộc tính của văn bản.
Bạn chưa xem được Hiệu lực của Văn bản, Văn bản liên quan, Văn bản thay thế, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,...


Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây


Văn bản liên quan

Ban hành: 28/11/2013

Hiệu lực: Đã biết

Tình trạng: Đã biết

Cập nhật: 10/12/2013

Ban hành: 22/03/2012

Hiệu lực: Đã biết

Tình trạng: Đã biết

Cập nhật: 12/04/2012

2.436

DMCA.com Protection Status
IP: 17.166.23.65