|
ỦY BAN NHÂN DÂN
TỈNH NGHỆ AN
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 268/QĐ-UBND
|
Nghệ An, ngày 04
tháng 02 năm 2025
|
QUYẾT ĐỊNH
BAN
HÀNH ĐỀ ÁN “NÂNG CAO NĂNG LỰC ỨNG PHÓ SỰ CỐ, THIÊN TAI VÀ TÌM KIẾM CỨU NẠN TRÊN
KHU VỰC BIÊN GIỚI, VÙNG BIỂN TỈNH NGHỆ AN GIAI ĐOẠN 2025 - 2030”
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày
19/6/2015; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Chính phủ và Luật
Tổ chức chính quyền địa phương ngày 22/11/2019;
Căn cứ Luật Phòng, chống thiên tai ngày
19/6/2013; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai;
Luật Đê điều ngày 17/6/2020; Luật khí tượng thủy văn số 90/2015/QH13 ngày
23/11/2015; Luật Phòng thủ dân sự số 18/2023/QH15 ngày 20/6/2023;
Căn cứ Chỉ thị số 42-CT/TW ngày 24/3/2020 của
Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng ngừa, ứng
phó, khắc phục hậu quả thiên tai;
Căn cứ Chỉ thị số 19/CT-TTg ngày 13/7/2018 của
Thủ tướng Chính phủ về công tác phòng tránh lũ quét và sạt lở đất;
Căn cứ các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ: số
379/QĐ-TTg ngày 17/3/2021 về việc phê duyệt chiến lược quốc gia PCTT đến năm
2030, tầm nhìn đến năm 2050; số 18/2021/QĐ-TTg ngày 22/4/2021 về việc quy định
về dự báo, cảnh báo, truyền tin thiên tai và cấp độ rủi ro thiên tai;
Căn cứ các Kế hoạch của Tỉnh ủy: số 51-KH/TU
ngày 27/7/2021 về việc thực hiện Kết luận số 02-KL/TW ngày 18/5/2021 của Ban Bí
thư về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 47-CT/TW của Ban Bí thư khóa XI về tăng cường
sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng cháy, chữa cháy; số 137-KH/TU ngày
23/11/2022 về việc triển khai thực hiện Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 30/8/2022 của
Bộ Chính trị về phòng thủ dân sự đến năm 2030 và những năm tiếp theo trên địa
bàn tỉnh Nghệ An;
Căn cứ các Kế hoạch của UBND tỉnh: số
444/KH-UBND ngày 05/8/2020 về việc triển khai thực hiện Chỉ thị số 42-CT/TW
ngày 24/3/2020 của Ban Bí thư; số 140/KH-UBND ngày 22/3/2021 về việc triển khai
thi hành Nghị định số 136/2020/NĐ-CP ngày 24/11/2020 của Chính phủ quy định chi
tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật PCCC và Luật sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật PCCC; số 574/KH-UBND ngày 18/7/2024 về việc triển khai thực hiện
Quyết định số 444/QĐ-TTg ngày 23/5/2024 của Thủ tướng Chính phủ;
Theo đề nghị của Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Bộ đội
Biên phòng tỉnh Nghệ An tại Tờ trình số 269/TTr-BCH ngày 04/02/2025.
QUYẾT ĐỊNH
Điều 1. Ban hành kèm theo
Quyết định này Đề án “Nâng cao năng lực ứng phó sự cố, thiên tai và tìm kiếm cứu
nạn trên khu vực biên giới, vùng biển tỉnh Nghệ An giai đoạn 2025 - 2030”.
Điều 2. Quyết định này có
hiệu lực kể từ ngày ký
Chánh Văn phòng UBND tỉnh, Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ
huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Nghệ An, Giám đốc các Sở, Thủ trưởng các ban, ngành,
đoàn thể cấp tỉnh, Chủ tịch UBND cấp huyện và Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị
liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.
|
Nơi nhận:
- Như Điều 2;
- Chủ tịch UBND tỉnh;
- Phó Chủ tịch (NN) UBND tỉnh;
- Lưu: VT, NN (Hưng).
|
TM. ỦY BAN NHÂN
DÂN
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH
Nguyễn Văn Đệ
|
ĐỀ ÁN
NÂNG
CAO NĂNG LỰC ỨNG PHÓ SỰ CỐ, THIÊN TAI VÀ TÌM KIẾM CỨU NẠN TRÊN KHU VỰC BIÊN GIỚI,
VÙNG BIỂN TỈNH NGHỆ AN GIAI ĐOẠN 2025 – 2030
(Kèm theo Quyết định số 268/QĐ-UBND ngày 04/02/2025 của UBND tỉnh)
Phần I
SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH ĐỀ
ÁN
I. THỰC TRẠNG VỀ HOẠT ĐỘNG ỨNG
PHÓ SỰ CỐ, THIÊN TAI VÀ TÌM KIẾM CỨU NẠN TRÊN ĐỊA BÀN KHU VỰC BIÊN GIỚI, VÙNG
BIỂN CỦA TỈNH NGHỆ AN HIỆN NAY
Tỉnh Nghệ An có 468,281 km đường biên giới đất liền
tiếp giáp với 3 tỉnh: Hủa Phăn, Xiêng Khoảng, Bô Ly Khăm Xay/nước Cộng hòa dân
chủ nhân dân Lào và 82 km bờ biển (có diện tích 7.529 km2). Khu vực biên giới
(KVBG) của tỉnh có 61 xã, phường/11 huyện, thị xã biên giới, ven biển. Toàn tỉnh
hiện có 3.161 phương tiện/11.956 lao động khai thác thủy sản trên biển, 150 tàu
vận tải sông, biển. Ngoài ra, có nhiều phương tiện ngoại tỉnh thường xuyên qua
lại, neo đậu tại các cảng Cửa Lò, Bến Thủy, Nghi Thiết và các cửa sông, cửa lạch.
Địa bàn KVBG của tỉnh có địa hình hiểm trở, giao thông đi lại gặp nhiều khó
khăn, thường xuyên chịu ảnh hưởng của mưa lớn, sạt lở đất đá, lũ quét... Bên
canh đó, lực lượng, phương tiện, trang bị phục vụ công tác phòng ngừa, ứng phó
sự cố, thiên tai và tìm kiếm cứu nạn (ƯPSCTT-TKCN) còn hạn chế, chưa đáp ứng được
với yêu cầu, nhiệm vụ phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn (PCTT-TKCN)
trong tình hình hiện nay.
1. Chủ trương, chính sách của
Trung ương, của tỉnh
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã có nhiều
chủ trương, chính sách thực hiện nhiệm vụ phòng ngừa, ƯPSCTT-TKCN gắn với các mục
tiêu phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) và đảm bảo quốc phòng, an ninh
(QP-AN); Nhân dân vùng ảnh hưởng sự cố, thiên tai được thụ hưởng nhiều chế độ,
chính sách để yên tâm phát triển sản xuất, ổn định cuộc sống, đời sống vật chất,
tinh thần được cải thiện đáng kể, góp phần đẩy nhanh tiến độ xây dựng nông thôn
mới. Chính phủ, các Bộ, ngành đã ban hành nhiều Nghị định, Nghị quyết, Quyết định,
Thông tư, hướng dẫn quy định cụ thể hoạt động phòng ngừa, ƯPSCTT-TKCN tạo cơ sở
pháp lý quan trọng cho các ngành, địa phương nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước,
góp phần giảm thấp nhất thiệt hại do sự cố, thiên tai gây ra, xây dựng xã hội
an toàn, ổn định.
Trên cơ sở cơ chế, chính sách của Trung ương, Tỉnh ủy,
UBND tỉnh đã ban hành nhiều chủ trương, giải pháp nhằm phát huy sức mạnh cả hệ
thống chính trị và toàn dân trong công tác phòng ngừa, ứng phó, giảm nhẹ thiên
tai và TKCN. Trong đó, Tỉnh ủy đã ban hành nhiều kế hoạch, chương trình hành động
để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng ngừa, ƯPSCTT-TKCN;
UBND tỉnh đã ban hành nhiều quyết định, kế hoạch hành động để chỉ đạo các sở,
ngành, địa phương triển khai đồng bộ, quyết liệt các nhiệm vụ, giải pháp nâng
cao hiệu quả quản lý nhà nước, củng cố lực lượng nòng cốt, xung kích, tuyên
truyền, phổ biến pháp luật, bảo đảm cơ sở vật chất, phương tiện, hệ thống văn bản
pháp luật, kết hợp phát triển KT-XH với nhiệm vụ PCTT-TKCN và củng cố QP-AN,
góp phần giảm thiểu thiệt hại do thiên tai gây ra.
2. Kết quả hoạt động ứng phó
sự cố, thiên tai và tìm kiếm cứu nạn trên khu vực biên giới, vùng biển tỉnh Nghệ
An trong thời gian qua
2.1. Công tác quán triệt, triển
khai
- Quán triệt sâu sắc chủ trương, cơ chế chính sách
của Trung ương, hàng năm UBND tỉnh ban hành các Chỉ thị, hướng dẫn về tăng cường
đảm bảo an toàn công trình thủy lợi, PCTT-TKCN, đảm bảo an toàn cho Nhân dân.
Ban Chỉ huy PCTT- TKCN&PTDS tỉnh giao chỉ tiêu chuẩn bị phương tiện, vật tư
dự trữ cho các đơn vị, địa phương và thường xuyên kiểm tra, đôn đốc công tác
chuẩn bị PCTT-TKCN ở các địa bàn, kịp thời chấn chỉnh, khắc phục những hạn chế,
thiếu sót.
- UBND tỉnh đã ban hành các Quyết định: số
227/QĐ-UBND ngày 04/6/2015 về việc phê duyệt phương án ứng phó bão mạnh, siêu
bão; số 4135/QĐ-UBND ngày 14/9/2018 về việc phê duyệt Kế hoạch thực hiện Nghị
quyết số 76/NQ-CP của Chính phủ về công tác PCTT trên địa bàn tỉnh Nghệ An; số
1361/QĐ-UBND ngày 03/6/2024 về việc ban hành phương án ứng phó với thiên tai
trên địa bàn tỉnh Nghệ An.
- Các Sở, ngành trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ được
giao đã chủ động xây dựng kế hoạch, ban hành các văn bản hướng dẫn các đơn vị
liên quan thực hiện tốt công tác PCTT-TKCN, đảm bảo an toàn cho người, tài sản
Nhà nước và nhân dân trước thiên tai; lồng ghép các nội dung PCTT vào quy hoạch,
kế hoạch phát triển KT-XH thuộc lĩnh vực ngành.
- UBND các huyện, thị xã biên giới, ven biển đã xây
dựng kế hoạch PCTT- TKCN theo chu kỳ 05 năm tương ứng với kế hoạch phát triển
KT-XH của từng địa phương; hàng năm bổ sung, điều chỉnh kế hoạch phù hợp với
tình hình thực tế. Xây dựng, triển khai các phương án về ứng phó thiên tai, đảm
bảo an toàn hồ chứa và vùng hạ du và bảo vệ khu vực trọng điểm xung yếu về đê
điều, hồ đập; phương án sơ tán dân sinh sống trong khu vực nguy hiểm ở bãi
sông, trũng thấp khi có mưa lũ lớn và khu vực sát mép nước, ven bờ biển, cửa
sông, cửa lạch khi có bão; phương án phòng tránh và di dời dân ra khỏi khu vực
nguy cơ lũ ống, lũ quét, sạt lở đất...
2.2. Công tác thông tin, tuyên
truyền
- UBND tỉnh chỉ đạo các sở, ngành phối hợp với Đài
Phát thanh và Truyền hình tỉnh mở chuyên mục “Chủ động phòng, chống, ƯPSCTT” và
phát sóng tuyên truyền, phổ biến pháp luật, kiến thức, kinh nghiệm cho Nhân dân
chủ động ứng phó khi thiên tai xảy ra; xây dựng các văn bản chỉ đạo điều hành,
các Website, chuyên mục để phổ biến nâng cao nhận thức cộng đồng và quản lý rủi
ro thiên tai dựa vào cộng đồng; đăng tải thông tin, kiến thức về PCTT trên ứng
dụng mạng xã hội Facebook, Zalo, đến nay, hầu hết các địa phương đều có trang
Facebook “Phòng chống thiên tai”, kết nối với trang của tỉnh và Trung ương để
theo dõi, cập nhật, chia sẻ thông tin, bài viết từ các trang của tỉnh và Trung
ương.
- Các sở, ngành, địa phương đã lồng ghép tuyên truyền
trực tiếp pháp luật, kinh nghiệm, kỹ năng phòng tránh, ƯPSCTT-TKCN qua hội nghị,
các lớp tập huấn cho cán bộ, hội viên, tình nguyện viên và người dân với hàng
trăm nghìn lượt người; in ấn cấp phát hàng chục nghìn tờ rơi, tờ gấp pháp luật,
treo băng zôn, khẩu hiệu tại cộng đồng; đăng tải nhiều trang, bài, tin trên
báo, đài Trung ương và địa phương để tuyên truyền. Trong đó, tập trung tuyên
truyền vai trò, trách nhiệm của hệ thống chính trị và toàn dân trong PCTT-TKCN;
biểu dương gương người tốt, việc tốt...
- UBND các huyện, thị xã biên giới, ven biển đã chỉ
đạo UBND cấp xã lồng ghép nội dung PCTT vào quy hoạch, kế hoạch phát triển
KT-XH; thường xuyên tuyên truyền, phổ biến pháp luật trên phương tiện truyền
thông cho Nhân dân và thông qua các hội nghị tập huấn, sơ, tổng kết để quán triệt,
phổ biến cho hàng nghìn lượt cán bộ cơ sở và lực lượng xung kích về công tác
PCTT-TKCN.
2.3. Tổ chức, bộ máy chỉ huy, điều
hành công tác ƯPSCTT-TKCN
Ban Chỉ huy PCTT-TKCN và PTDS từ tỉnh đến cấp xã
hàng năm được kiện toàn đảm bảo số lượng, chất lượng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ,
chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, toàn diện của cấp ủy, chính quyền cùng cấp.
Các thành viên Ban Chỉ huy các cấp làm việc theo chế độ kiêm nhiệm, được Trưởng
ban phân công nhiệm vụ và chịu trách nhiệm cụ thể trong từng lĩnh vực công tác.
Trong đó, cấp tỉnh, Trưởng ban là đồng chí Chủ tịch UBND tỉnh, Phó trưởng ban
Thường trực là đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh, các Phó trưởng ban khác và
thành viên là Lãnh đạo các Sở, ban, ngành; Văn phòng Thường trực Ban Chỉ huy
PCTT-TKCN và PTDS đặt tại Chi cục Thủy lợi, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh và Bộ Chỉ
huy Bộ đội Biên phòng (BĐBP) tỉnh. Cấp huyện, trưởng ban là Chủ tịch UBND huyện,
01 Phó Chủ tịch cùng cấp làm Phó trưởng ban thường trực, các Phó trưởng ban
khác và thành viên là lãnh đạo các phòng, ban, đơn vị cùng cấp; Văn phòng thường
trực là Phòng Nông nghiệp và PTNT (hoặc Phòng Kinh tế - Hạ tầng) và cán bộ
chuyên môn. cấp xã, trưởng ban là Chủ tịch UBND xã, 01 Phó Chủ tịch cùng cấp
làm Phó trưởng ban thường trực, các Phó trưởng ban và thành viên gồm quân sự,
công an, Đồn Biên phòng, cán bộ thủy lợi, nông nghiệp, trưởng các tổ chức chính
trị-xã hội và đoàn thể; bộ phận thường trực là một số cán bộ chuyên môn.
2.4. Lực lượng, phương tiện, vật
tư, trang thiết bị, hệ thống thông tin, nhu yếu phẩm phục vụ công tác phòng ngừa,
ƯPSCTT-TKCN
Quán triệt phương châm “4 tại chỗ”, hàng năm căn cứ
kế hoạch, phương án PCTT-TKCN đã được phê duyệt, các sở, ngành, địa phương đăng
ký huy động phương tiện, vật tư, trang bị đảm bảo thực hiện nhiệm vụ PCTT-TKCN,
cụ thể:
- Về phương án huy động lực lượng: Lực lượng BĐBP,
Quân sự, Công an làm nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ phòng chống, ƯPSCTT-TKCN
(hàng năm huy động khoảng 7.000 cán bộ, chiến sĩ), cùng với lực lượng xung kích
(59 Đội/590 người) và lực lượng cứu tải thương, thông tin cấp xã. Ngoài ra, Bộ
Chỉ huy Quân sự tỉnh hiệp đồng với các đơn vị của Bộ Quốc phòng và Quân khu 4
đóng quân trên địa bàn sẵn sàng tham gia thực hiện nhiệm vụ khi có yêu cầu.
- Về phương án huy động phương tiện, trang thiết bị:
Tập trung huy động phương tiện của BĐBP tỉnh, quân sự, công an và các địa
phương, doanh nghiệp trên địa bàn.
- Về phương án dự trữ vật tư của các địa phương và
Nhà nước, gồm: Đất, đá hộc, đá dăm, cát, cọc tre, rọ tre, rọ thép, bao tải, bạt,
thép sợi...
- Về phương án đảm bảo hậu cần, gồm: Gạo, mỳ tôm,
lương khô, nước uống, muối, dầu diezel, xăng, dầu hỏa..., đảm bảo số lượng theo
quy định.
- Về phương án đảm bảo y tế và xử lý môi trường sau
thiên tai: Thành lập 71 Tổ vận chuyển cấp cứu; 34 Đội phẫu thuật; 64 Đội vệ
sinh phòng dịch; 43 cơ số y dụng cụ; 153 cơ số thuốc; 640 giường bệnh; 02 tấn
cloramin B; 50 máy xử lý nước...
- Đảm bảo thông tin: Sở Thông tin và Truyền thông
(TT&TT) xây dựng phương án đảm bảo thông tin kịp thời, thông suốt trong mọi
tình huống; chuẩn bị đủ thiết bị, vật tư dự phòng, tổ chức xe thông tin cơ động
vô tuyến sóng ngắn, xe lưu động phát sóng thông tin di động khi mạng điện thoại
cố định và di động bị sự cố; sử dụng mạng thông tin nghiệp vụ (VTĐ, HTĐ) của
các đơn vị BĐBP tỉnh.
2.5. Công tác phòng ngừa,
ƯPSCTT-TKCN và khắc phục hậu quả
- Lực lượng quân sự, BĐBP và công an tỉnh làm nòng
cốt, trực tiếp thực hiện nhiệm vụ phòng chống, ƯPSCTT-TKCN, xác định đây là nhiệm
vụ chiến đấu trong thời bình. Hàng năm, các đơn vị đã quán triệt, chấp hành
nghiêm chỉ thị, mệnh lệnh của cấp trên, chủ động triển khai đồng bộ từ khâu lập
kế hoạch, dự kiến phương án, chuẩn bị lực lượng, phương tiện sẵn sàng cơ động
làm nhiệm vụ. Khi xảy ra thiên tai chủ động triển khai lực lượng, phương tiện
phối hợp với các địa phương tổ chức ứng cứu kịp thời và tích cực khắc phục hậu
quả, ổn định đời sống, sản xuất cho nhân dân.
- Từ năm 2020 - 2024, Bộ Chỉ huy BĐBP tỉnh, Bộ Chỉ
huy Quân sự tỉnh và Công an tỉnh đã điều động trên 40.000 lượt cán bộ, chiến sĩ
cùng với hơn 1.320 lượt phương tiện các loại thực hiện nhiệm vụ phòng cháy chữa
cháy rừng (PCCCR), khắc phục hậu quả thiên tai, TKCN và ứng phó sự cố tràn dầu
(ƯPSCTD); tổ chức di dời khẩn cấp 701 hộ dân, sơ tán trên 5.652 hộ dân. Bộ Chỉ
huy BĐBP tỉnh và các Đồn Biên phòng chủ trì, phối hợp với các lực lượng, địa
phương và nhân dân thông báo, kêu gọi, hướng dẫn gần 155.000 lượt tàu thuyền/875.235
lao động vào nơi tránh trú an toàn; cứu nạn thành công 96 vụ/94 phương tiện,
đưa vào bờ an toàn 267 nạn nhân và 18 phương tiện bị nạn trên biển. Qua các đợt
sự cố, thiên tai được sự quan tâm chỉ đạo, hỗ trợ kịp thời của Chính phủ, các Bộ,
ngành Trung ương, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và Nhân dân, công tác
khắc phục hậu quả được thực hiện khẩn trương, nghiêm túc, an toàn và trách nhiệm
cao, kịp thời ổn định đời sống, sản xuất cho Nhân dân vùng bị ảnh hưởng thiên
tai.
2.6. Công tác dự báo, cảnh báo
và thông báo sự cố, thiên tai
- Toàn tỉnh hiện có 09 trạm khí tượng, 11 trạm thủy
văn, 82 trạm đo mưa tự động để quan trắc, cảnh báo sớm lũ quét, sạt lở đất phục
vụ công tác chỉ đạo, điều hành ứng phó thiên tai. Các cơ quan chuyên môn thường
xuyên theo dõi nắm chắc tình hình, đặc biệt là Đài khí tượng thủy văn Bắc Trung
bộ đã kịp thời dự báo, thông báo, cảnh báo mưa lũ, sạt lở đất, ngập úng và các
hiện tượng thời tiết cực đoan thông qua các phương tiện thông tin đại chúng,
thư điện tử, tin nhắn Zalo, SMS, điện thoại di động hoặc trực tiếp cho nhân dân
chủ động phòng tránh, hạn chế thấp nhất thiệt hại.
- Bộ Chỉ huy BĐBP tỉnh, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh,
Đài Thông tin Duyên hải (TTDH) Bến Thủy phát huy hiệu quả kênh thông tin báo
bão và bắn pháo hiệu thông báo cho hàng chục nghìn lượt người, phương tiện hoạt
động trên biển biết diễn biến bão, ATNĐ, thời tiết nguy hiểm để chủ động di
chuyển phòng tránh và tiếp nhận, xử lý hàng ngàn tin liên quan đến thiên tai, sự
cố trên biển.
- Các Đồn Biên phòng phối hợp chặt chẽ với cấp ủy
chính quyền địa phương thường xuyên tổ chức kiểm tra, rà soát đánh giá nguy cơ
xảy ra thiên tai, sự cố, cháy rừng có thể xảy ra tại các khu vực trọng điểm để
điều chỉnh, bổ sung kế hoạch, phương án và kịp thời thông báo, cảnh báo, phòng
ngừa, ứng phó không để bị động, bất ngờ.
2.7. Lồng ghép quy hoạch, kế hoạch,
chương trình, dự án, phát triển kinh tế - xã hội của các ngành, địa phương với
nhiệm vụ PCTT-TKCN
- Thực hiện Thông tư số 05/2016/TT-BKHĐT ngày
06/6/2016 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về hướng dẫn lồng ghép nội dung PCTT vào
quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, KT-XH. Ngày 17/6/2016, UBND tỉnh đã ban
hành Công văn số 6410/UBND-THKH giao các sở, ngành triển khai thực hiện tốt
Thông tư trên, đến nay công tác PCTT đã được lồng ghép vào quy hoạch, kế hoạch
phát triển KT-XH, trong đó chú trọng bảo vệ môi trường, quy hoạch vùng dân cư,
bờ bãi sông, hành lang bảo vệ đê, quy hoạch đê và các trạm bơm tiêu úng.
- HĐND tỉnh ban hành Nghị quyết về phát triển KT-XH
5 năm 2021-2025 và hàng năm của tỉnh; trong đó, xác định việc thực hiện đồng bộ
các biện pháp ứng phó với biến đổi khí hậu và lồng ghép các nhiệm vụ PCTT-TKCN.
Xây dựng quy hoạch tỉnh Nghệ An giai đoạn 2020-2030, tầm nhìn đến năm 2045,
trong đó, tích hợp phương án quy hoạch phát triển thủy lợi và PCTT tỉnh Nghệ An
giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045 vào quy hoạch chung của tỉnh.
- Thực hiện có hiệu quả các dự án, chương trình
phát triển KT-XH, xây dựng nông thôn mới gắn với nhiệm vụ ƯPSCTT-TKCN và đảm bảo
QP-AN trên biên giới, vùng biển, đảo như: Phát triển các khu kinh tế, khu công
nghiệp, du lịch, ngành vận tải, cảng biển gắn với PCTT và bảo vệ môi trường;
quy hoạch cụm tuyến dân cư biên giới và phương án sắp xếp ổn định dân cư trong
khu vực nguy cơ lũ quét, sạt lở đất; ưu tiên phát triển hạ tầng giao thông, đặc
biệt là hệ thống đường tuần tra biên giới, đường ven biển, đường dân sinh phát
triển KT-XH và cơ động PCTT; dự án bảo vệ, phát triển rừng phòng hộ, đầu nguồn
và rừng ngập mặn; dự án xây dựng, nâng cấp các cảng cá, khu neo đậu, âu tránh
trú bão, nạo vét luồng lạch đảm bảo an toàn cho người, phương tiện thủy; xây dựng
các công trình PCTT, hồ, đập phục vụ điện, nước sinh hoạt, sản xuất và tiêu
thoát lũ....
2.8. Công tác phối hợp, hiệp đồng
và hợp tác quốc tế
- UBND tỉnh chỉ đạo Bộ Chỉ huy BĐBP tỉnh xây dựng
quy chế, kế hoạch phối hợp với Bộ Tư lệnh Vùng 1 Hải quân, Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh
sát biển 1, Hải đoàn Biên phòng 38, Kiểm ngư, Trung tâm ƯPSCTD khu vực miền Bắc,
Trung tâm phối hợp TKCN Hàng hải khu vực I, BĐBP các tỉnh từ Quảng Ninh đến Quảng
Bình để nắm tình hình, trao đổi thông tin, tuần tra bảo vệ chủ quyền, kết hợp hỗ
trợ ngư dân ứng phó các tình huống sự cố, thiên tai. Kết quả: Đã trao đổi, xử
lý 317 tin liên quan đến công tác bảo vệ chủ quyền và CNCH, tổ chức TKCN thành
công 27 vụ/27 phương tiện/209 lao động bị nạn trên biển đưa vào bờ an toàn.
- Sở Nông nghiệp và PTNT, Bộ Chỉ huy BĐBP tỉnh đã
phối hợp với lực lượng chức năng, chính quyền địa phương 2 bên biên giới tổ chức
107 cuộc giao ban, ký kết nhiều kế hoạch, chương trình bảo vệ rừng, PCCCR,
thông báo về cấp độ, nguy cơ cháy rừng, mưa lũ, sự cố môi trường, thiên tai, dịch
bệnh có thể xảy ra trên biên giới; tổ chức tuyên truyền, khuyến cáo nhân dân chủ
động phòng ngừa và chấp hành tốt các quy định; thống nhất phương án huy động lực
lượng, phương tiện thực thi nhiệm vụ PCTT-TKCN và khắc phục hậu quả khi có tình
huống, góp phần giảm thiểu thiệt hại do thiên tai gây ra, xây dựng biên giới
hòa bình, ổn định và phát triển.
3. Tồn tại, hạn chế và nguyên
nhân
3.1. Tồn tại, hạn chế
- Công tác lãnh đạo, chỉ đạo quán triệt triển khai
thực hiện nhiệm vụ phòng ngừa, ƯPSCTT-TKCN của một số cấp ủy, chính quyền địa
phương, đơn vị chưa toàn diện; kế hoạch, phương án ứng phó chưa sát thực tế,
còn bị động, bất ngờ, lúng túng khi xử lý tình huống, nhất là việc huy động lực
lượng, phương tiện tại chỗ; việc thể chế hóa các chủ trương chính sách của cấp
trên chưa phù hợp với thực tiễn và nhiệm vụ của đơn vị, địa phương.
- Công tác thông tin, tuyên truyền có lúc, có nơi
chưa kịp thời, nhất là vùng sâu, vùng xa; nắm tình hình có lúc còn chậm, thiếu
chính xác; công tác dự báo, cảnh báo, thông báo về sự cố, thiên tai chưa đáp ứng
yêu cầu thực tiễn; triển khai ứng dụng khoa học công nghệ còn hạn chế. Hệ thống
thông tin phục vụ chỉ huy, điều hành, thông báo, báo động chưa đáp ứng yêu cầu
nhiệm vụ, nhất là khi có tình huống lũ quét, sạt lở đất trên biên giới và vụ việc
TKCN trên biển.
- Lực lượng nòng cốt, xung kích còn mỏng, năng lực
không đồng đều, hoạt động chưa chuyên nghiệp; việc xây dựng, củng cố lực lượng
xung kích ở một số địa phương, đơn vị còn hình thức, chưa bảo đảm số lượng, chất
lượng, hoạt động chưa thường xuyên, huy động thực hiện nhiệm vụ có lúc chưa kịp
thời, hiệu quả chưa cao.
- Thực hiện phương châm “4 tại chỗ” có mặt còn hạn
chế; sự phối hợp giữa lực lượng nòng cốt của tỉnh (Quân sự, Công an, BĐBP...) với
các địa phương và lực lượng chuyên trách của Trung ương có nội dung hiệu quả
không cao; kết quả thực hiện nhiệm vụ ở nhiều ngành, địa phương chưa tương xứng
với yêu cầu thực tiễn; hợp tác trao đổi thông tin, tuyên truyền, tập huấn, diễn
tập với chính quyền và lực lượng chức năng 2 bên biên giới chưa thường xuyên;
phương tiện, vật tư, trang thiết bị thiếu về số lượng, chủng loại, đặc biệt là
các loại chuyên dụng về phòng cháy chữa cháy (PCCC), TKCN trên biển và sông, suối
biên giới.
- Công tác khảo sát, đánh giá tác động của thiên
tai đối với từng địa bàn, từng loại hình thiên tai chưa cụ thể; một số chương
trình, dự án phát triển KT-XH kết hợp với PCTT chậm tiến độ. Quy hoạch, xây dựng
các công trình lưỡng dụng trong phát triển KT-XH kết hợp với PCTT-TKCN và đảm bảo
QP-AN trên địa bàn biên giới, vùng biển, đảo còn hạn chế, nhất là trên biên giới
đất liền.
- Công tác kiểm tra, đôn đốc, xử lý vi phạm về đê
điều, ƯPSCTT-TKCN chưa quyết liệt, nhất là xử lý trong lĩnh vực bảo vệ công
trình PCTT, đảm bảo an toàn lao động và bảo vệ môi trường.
3.2. Nguyên nhân
a) Khách quan
- Do tác động của biến đổi khí hậu, tình hình thiên
tai diễn biến phức tạp, khó lường, không theo quy luật, khó dự báo trước; phạm
vi vùng biển rộng, địa hình biên giới vùng sâu, vùng xa, khó khăn, phức tạp, dễ
bị tổn thương, chia cắt, cô lập.
- Cơ sở hạ tầng chưa phát triển, khả năng chống chịu
thiên tai còn thấp; tần suất, quy mô, mức độ tàn phá của thiên tai ngày càng
nghiêm trọng; kinh tế, đời sống, nhận thức của nhân dân còn nhiều khó khăn,
phong tục, tập quán nhiều địa phương còn lạc hậu.
- Tổ chức bộ máy chỉ đạo, điều hành còn bất cập, lực
lượng nòng cốt, xung kích làm nhiệm vụ thiếu về số lượng, chưa bảo đảm chất lượng,
chủ yếu là kiêm nhiệm; một số địa phương chưa có cán bộ chuyên môn, cán bộ làm
công tác tham mưu chưa được đào tạo cơ bản, chuyên sâu.
- Phương tiện, vật tư, trang bị kỹ thuật thực hiện
nhiệm vụ chưa đáp ứng yêu cầu thực tế, còn lạc hậu, chưa đồng bộ, chưa phù hợp
với từng loại hình thiên tai, trên từng địa bàn, đặc biệt là phương tiện hiện đại,
chuyên dụng, gây khó khăn cho việc tiếp cận hiện trường và ứng cứu. Cơ sở sở vật
chất, trang thiết bị kỹ thuật, công cụ hỗ trợ, cơ sở dữ liệu phục vụ dự báo, cảnh
báo thiếu về số lượng, chưa đảm bảo chất lượng, chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ,
gây khó khăn cho công tác chỉ đạo, điều hành triển khai ứng phó của các cấp, nhất
là việc cảnh báo lũ quét, sạt lở đất.
b) Chủ quan
- Vai trò lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý công tác
ƯPSCTT-TKCN của người đứng đầu một số cấp ủy Đảng, chính quyền, đơn vị chưa
phát huy hết tinh thần trách nhiệm; công tác kiểm tra, đôn đốc chưa thường
xuyên, còn hình thức. Năng lực quản lý, điều hành ở một số địa phương, đơn vị
cơ sở còn nhiều bất cập; lực lượng xung kích địa phương chưa được kiện toàn thường
xuyên, huấn luyện, bồi dưỡng nghiệp vụ chưa sát với tình hình thực tế, hiệu quả
thực hiện nhiệm vụ đạt chưa cao.
- Việc quan tâm đầu tư, nâng cao năng lực cộng đồng,
vận động thực hiện “4 tại chỗ” còn hạn chế. Một bộ phận người dân còn chủ quan,
chưa tự giác chấp hành pháp luật, sự quản lý, điều hành của chính quyền; ngư
dân chưa đảm bảo đủ thiết bị an toàn, không hợp tác với cơ quan chức năng gây
khó khăn cho việc thu thập, xử lý thông tin và ứng cứu khi có tình huống.
- Công tác phối hợp tổ chức tập huấn, huấn luyện,
diễn tập ƯPSCTT-TKCN của nhiều sở, ngành, địa phương chưa được triển khai thường
xuyên, chưa sát thực tế, đặc biệt là diễn tập thực hành xử lý các tình huống sự
cố, thiên tai phức tạp.
- Quá trình triển khai thực hiện một số chương
trình, kế hoạch, dự án phát triển KT-XH làm thay đổi địa hình, dòng chảy, giảm
độ che phủ của rừng, ô nhiễm môi trường..., gia tăng nguy cơ xảy ra sự cố, rủi
ro, thiên tai.
- Một số đơn vị, địa phương chưa quyết liệt trong
điều tra, xử lý vi phạm trong lĩnh vực ƯPSCTT-TKCN, chế tài chưa đủ mạnh để bảo
đảm tính răn đe; chế độ, chính sách đảm bảo cho lực lượng nòng cốt, xung kích tại
chỗ chưa được quan tâm đúng mức, chưa thu hút được nguồn lực tại chỗ từ cộng đồng;
công tác thi đua khen thưởng có thời điểm chưa kịp thời.
- Cơ sở vật chất, phương tiện, trang bị, kinh phí
phục vụ PCTT-TKCN chưa được quan tâm đúng mức; nguồn lực hỗ trợ của Trung ương
và nguồn lực của địa phương các cấp chưa đáp ứng so với nhu cầu; nhiều cơ sở hạ
tầng thiết yếu cần được tu bổ, nâng cấp, nhưng chưa được cân đối bố trí nguồn lực
thực hiện.
II. CĂN CỨ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN
1. Về chủ trương, quan điểm của
Đảng, Tỉnh ủy Nghệ An
- Chỉ thị số 42-CT/TW ngày 24/3/2020 của Ban Bí thư
về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng ngừa, ứng phó, khắc phục
hậu quả thiên tai;
- Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 30/8/2022 của Bộ
Chính trị về Phòng thủ dân sự đến năm 2030 và những năm tiếp theo;
- Kế hoạch số 51-KH/TU ngày 27/7/2021 của Tỉnh ủy về
thực hiện Kết luận số 02-KL/TW ngày 18/5/2021 của Ban Bí thư về tiếp tục thực
hiện Chỉ thị số 47- CT/TW của Ban Bí thư khóa XI về tăng cường sự lãnh đạo của
Đảng đối với công tác phòng cháy, chữa cháy;
- Kế hoạch số 137-KH/TU ngày 23/11/2022 của Tỉnh ủy
về triển khai thực hiện Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 30/8/2022 của Bộ Chính trị
về phòng thủ dân sự đến năm 2030 và những năm tiếp theo trên địa bàn tỉnh Nghệ
An.
2. Về chính sách, pháp luật
của Nhà nước
- Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015; Luật
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức chính
quyền địa phương ngày 22/11/2019;
- Luật Phòng, chống thiên tai ngày 19/6/2013; Luật
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai và Luật Đê điều
ngày 17/6/2020; Luật khí tượng thủy văn số 90/2015/QH13 ngày 23/11/2015;
- Luật Phòng thủ dân sự số 18/2023/QH15 ngày
20/6/2023;
- Nghị định số 30/2017/NĐ-CP ngày 21/3/2017 của
Chính phủ quy định tổ chức, hoạt động ứng phó sự cố, thiên tai và tìm kiếm cứu
nạn;
- Nghị định số 66/2021/NĐ-CP ngày 06/7/2021 của
Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng, chống thiên
tai và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai và Luật
Đê điều.
- Nghị quyết số 28/NQ-CP ngày 01/3/2023 của Chính
phủ về ban hành chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 22-NQ/TW của Bộ
Chính trị về phòng thủ dân sự đến năm 2030 và những năm tiếp theo;
- Nghị quyết số 76/NQ-CP ngày 18/6/2018 của Chính
phủ về công tác PCTT;
- Chỉ thị số 19/CT-TTg ngày 13/7/2018 của Thủ tướng
Chính phủ về công tác phòng tránh lũ quét và sạt lở đất;
- Quyết định số 379/QĐ-TTg ngày 17/3/2021 của Thủ
tướng Chính phủ phê duyệt chiến lược quốc gia PCTT đến năm 2030, tầm nhìn đến
năm 2050;
- Quyết định số 18/2021/QĐ-TTg ngày 22/4/2021 của
Thủ tướng Chính phủ quy định về dự báo, cảnh báo, truyền tin thiên tai và cấp độ
rủi ro thiên tai; Quyết định số 12/2021/QĐ-TTg ngày 24/3/2021 của Thủ tướng
Chính phủ về ban hành Quy chế hoạt động ứng phó sự cố tràn dầu;
- Quyết định số 444/QĐ-TTg ngày 23/5/2024 của Thủ
tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch hành động thực hiện Chiến lược quốc gia phòng
thủ dân sự đến năm 2030 và những năm tiếp theo;
- Quyết định số 08/2020/QD-TWPCTT ngày 27/3/2020 của
Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống thiên tai ban hành hướng dẫn xây dựng và
củng cố Đội xung kích phòng, chống thiên tai cấp xã;
- Quyết định số 217/QĐ-UBQGƯPSCTT&TKCN ngày
16/4/2020 của của Ủy ban Quốc gia ƯPSCTT&TKCN về việc ban hành Kế hoạch ứng
phó cấp quốc gia về tai nạn tàu thuyền trên biển;
- Quyết định số 24/QĐ-UBQGƯPSCTT&TKCN ngày
04/3/2021 của Ủy ban Quốc gia ƯPSCTT&TKCN ban hành Kế hoạch công tác của Ủy
ban Quốc gia ƯPSCTT&TKCN 05 năm (2021-2025);
- Chỉ thị số 10-CT/TW ngày 25/9/2022 của Ban Bí thư
về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác khí tượng thủy văn.
- Quyết định số 934/QĐ-BQP ngày 13/3/2024 của Bộ
trưởng Bộ Quốc phòng về việc ban hành Kế hoạch thực hiện Đồ án phát triển, nâng
cao năng lực ứng phó sự cố, thiên tai và tìm kiếm cứu nạn đến năm 2030, định hướng
đến năm 2045 thuộc lĩnh vực Bộ Quốc phòng quản lý;
- Thông tư số 85/2020/TT-BTC ngày 01/10/2020 của Bộ
Tài chính quy định việc quản lý sử dụng kinh phí phục vụ hoạt động của Ban Chỉ
đạo Trung ương về phòng, chống thiên tai và Ban Chỉ huy PCTT-TKCN các cấp;
- Kế hoạch số 444/KH-UBND ngày 05/8/2020 của UBND tỉnh
về triển khai thực hiện Chỉ thị số 42-CT/TW ngày 24/3/2020 của Ban Bí thư về
tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng ngừa, ứng phó, khắc phục
hậu quả thiên tai trên địa bàn tỉnh Nghệ An;
- Kế hoạch số 140/KH-UBND ngày 22/3/2021 của UBND tỉnh
về triển khai thi hành Nghị định số 136/2020/NĐ-CP ngày 24/11/2020 của Chính phủ
quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật PCCC và Luật sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật PCCC;
- Kế hoạch số 56/KH-UBND ngày 01/02/2023 của UBND tỉnh
về triển khai, thực hiện Chỉ thị số 01/CT-TTg ngày 03/01/2023 của Thủ tướng
Chính phủ về tăng cường công tác PCCC trong tình hình mới trên địa bàn tỉnh Nghệ
An;
- Kế hoạch số 280KH-UBND ngày 22/4/2023 của UBND tỉnh
về thực hiện Nghị quyết số 28/NQ-CP ngày 01/3/2023 của Chính phủ về ban hành
chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 22-NQ-TW của Bộ Chính trị về
phòng thủ dân sự đến năm 2030 và những năm tiếp theo;
- Kế hoạch số 574/KH-UBND ngày 18/7/2024 của UBND tỉnh
về triển khai thực hiện Quyết định số 444/QĐ-TTg ngày 23/5/2024 của Thủ tướng
Chính phủ ban hành Kế hoạch hành động thực hiện Chiến lược quốc gia phòng thủ
dân sự đến năm 2030 và những năm tiếp theo.
III. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH ĐỀ
ÁN
1. Sự cần thiết
Thiên tai đang là nguy cơ lớn đe dọa sự phát triển
bền vững của đất nước. Trong những năm qua, diễn biến thiên tai và thời tiết ở
nước ta ngày càng có nhiêu bất thường và phức tạp hơn. Bình quân mỗi năm, thiên
tai đã làm chết và mất tích khoảng 500 người, bị thương hàng nghìn người, thiệt
hại về kinh tế từ 1,0 - 1,5% GDP, tác động tiêu cực đến môi trường, đời sống, sản
xuất của Nhân dân và sự phát triển bền vững đất nước. Đặc biệt là thời gian gần
đây, các tỉnh miền Trung và miền núi phía Bắc đã xảy ra trên 300 trận lũ quét,
sạt lở đất, ngập lụt với quy mô, phạm vi ngày càng lớn để lại hậu quả hết sức nặng
nề.
Trước tình hình đó, Đảng, Nhà nước và Chính phủ đã
tập trung nhiều nguồn lực để thực hiện các giải pháp phòng ngừa, ứng phó, khắc
phục hậu quả thiên tai như: Đầu tư công trình PCTT; tăng cường công tác dự báo,
cảnh báo thiên tai; tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng, nâng cao năng lực
ứng phó của lực lượng trong PCTT... Sự đầu tư đó kết hợp với đóng góp của người
dân, cộng đồng đã góp phần hạn chế được thiệt hại do thiên tai gây ra, nhất là
về số người chết và mất tích.
KVBG, vùng biển tỉnh Nghệ An vừa dài, vừa rộng,
tính chất địa hình rất phức tạp. Đây là những địa bàn trọng điểm, dễ tổn thương
và thường xuyên gánh chịu nhiều hậu quả thiên tai, sự cố, chiếm khoảng 70% tổng
số vụ việc xảy ra trong toàn tỉnh. Từ năm 2020-2024, đã xảy ra và chịu ảnh hưởng
của 72 trận thiên tai (Bão, áp thấp nhiệt đới (ATNĐ), lũ ống, lũ quét, ngập lụt,
mưa lớn, mưa đá, giông, lốc sét...) và các loại hình thiên tai khác. Hậu quả: Xảy
ra 426 vụ thiên tai, tai nạn trên biển; làm chết 83 người, mất tích 21 người, bị
thương 92 người; chìm 37 phương tiện, cháy 17 phương tiện, hư hỏng 123 phương
tiện, hư hỏng 12.723 nhà và trên 100 nghìn ha hoa màu hư hỏng. Trước tình hình
trên, cấp ủy, chính quyền, các lực lượng đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện
nhiêu chủ trương, biện pháp phòng chống, ứng phó, giảm nhẹ thiệt hại do sự cố,
thiên tai gây ra. Về cơ bản đã phát huy tốt sức mạnh tổng hợp và phương châm “4
tại chỗ”, từng bước xây dựng xã hội an toàn, thích ứng với thiên tai, đảm bảo
phát triển KT-XH và QP-AN trên địa bàn KVBG, vùng biển. Tuy nhiên, công tác
phòng ngừa, ƯPSCTT-TKCN và khắc phục hậu quả trong KVBG, vùng biển vẫn còn nhiều
hạn chế, khó khăn, bất cập về nguồn lực và phương châm “4 tại chỗ”, tổ chức bộ
máy, cơ chế lãnh đạo, chỉ đạo, lực lượng, phương tiện, trang bị, chế độ chính
sách, cơ chế phối hợp và kinh phí đảm bảo ... Bên cạnh đó, việc sử dụng nguồn lực
cho công tác PCTT có thời điểm chưa hiệu quả, khi thiên tai xảy ra mới tập
trung ứng phó và khắc phục thiệt hại; một số địa phương, nhất là cấp xã và các
tổ chức, cá nhân chưa tự giác tham gia và thiếu chủ động trong các hoạt động
PCTT.
Dự báo thời gian tới, tình hình thời tiết, khí hậu
sẽ có nhiều diễn biến phức tạp, cực đoan và khó lường, nhất là ở KVBG, vùng biển.
Bão, ATNĐ, mưa đá, ngập lụt, lũ ống, lũ quét, sạt lở đất đá, động đất, sóng thần,
dịch bệnh, nước biển dâng; tai nạn đâm va, cháy, chìm tàu thuyền, sự cố môi trường,
cháy nổ, cháy rừng, sập đổ công trình, tràn dầu, ngạt khí hầm lò, tai nạn đường
bộ, đường biển... sẽ tiếp tục xảy ra với mức độ và hậu quả nghiêm trọng hơn.
Yêu cầu đặt ra đối với công tác phòng ngừa, ƯPSCTT-TKCN là phải có sự chuyển biến
sâu sắc, toàn diện về mọi mặt để phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống
chính trị và toàn xã hội. Do đó, việc xây dựng và triển khai thực hiện Đề án
"Nâng cao năng lực ứng phó sự cố, thiên tai và tìm kiếm cứu nạn trên KVBG,
vùng biển tỉnh Nghệ An giai đoạn 2025-2030" là thực sự cần thiết, góp phần
hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại về người, tài sản, đảm bảo an ninh, an toàn
cho nhân dân, đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH và củng cố QP-AN trong tình hình
mới.
2. Phạm vi và thời gian
2.1. Phạm vi và địa bàn
a) Phạm vi thực hiện Đề án
Địa bàn KVBG 27 xã biên giới đất liền thuộc 06 huyện
biên giới (Kỳ Sơn, Tương Dương, Con Cuông, Anh Sơn, Thanh Chương, Quế Phong) và
28 xã, phường biên giới ven biển thuộc 05 huyện, thị xã khu vực biên giới biển
(Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Nghi Lộc, thị xã Cửa Lò (thành phố Vinh) và Hoàng Mai)
và vùng biển, đảo tỉnh Nghệ An.
b) Địa bàn, khu vực trọng điểm
- Lũ ống, lũ quét và sạt lở đất, đá:
+ Huyện Quế Phong: Địa bàn các xã Thông Thụ, Hạnh Dịch,
Nậm Giải, Tri Lễ.
+ Huyện Tương Dương: Địa bàn các xã Nhôn Mai, Mai
Sơn, Tam Hợp, Tam Quang.
+ Huyện Kỳ Sơn: Địa bàn các xã Nậm Cắn, Tà Cạ, Mường
Típ, Mường Ải, Na Ngoi, Nậm Càn, Mỹ Lý, Bắc Lý, Keng Đu, Na Loi, Đọoc Mạy.
+ Huyện Con Cuông: Địa bàn các xã Châu Khê, Môn
Sơn.
+ Huyện Anh Sơn: Địa bàn xã Phúc Sơn.
+ Huyện Thanh Chương: Đại bàn các xã Ngọc Lâm,
Thanh Đức, Thanh Sơn, Hạnh Lâm, Thanh Thủy.
(Theo thống kê trên địa bàn 27 xã biên giới, thuộc
06 huyện biên giới đất liền hiện có 1.363 hộ dân đang sinh sống trong vùng nguy
cơ cao xảy ra lũ quét, sạt lở đất - có phụ lục kèm theo).
- Ngập lụt do mưa, bão, vỡ đê, nước biển dâng:
+ Bản Pục, bản Phòng, bản Mờ/xã Nậm Giải, bản Long
Thắng/xã Hạnh Dịch/huyện Quế Phong;
+ Làng Nhùng, Bãi Xa, Bãi Sở, Làng Mỏ/xã Tam
Quang/huyện Tương Dương;
+ Bản Thái Sơn, Khe Mọi/xã Môn Sơn/huyện Con Cuông.
+ Xã Hạnh Lâm, Thanh Sơn/huyện Thanh Chương;
+ Thôn Tân Minh, Đồng Minh, Đồng Thanh/xã Quỳnh Lập,
Khối Thân Ái, Tân Phong/phường Quỳnh Phương, thôn Bình Minh, Đại Đồng/xã Quỳnh
Liên/thị xã Hoàng Mai;
+ Xã Tiến Thủy, Quỳnh Long, Quỳnh Bảng, Quỳnh Thọ,
Sơn Hải/huyện Quỳnh Lưu;
+ Xóm 6/xã Diễn Thành, xóm Đông Lập /xã Diễn Ngọc/huyện
Diễn Châu;
+ Khối 1 /phường Nghi Tân/thị xã Cửa Lò (thành phố
Vinh).
- Sự cố, thiên tai, tai nạn, đâm va, chìm đắm tàu
thuyền trên sông, trên biển:
+ Tuyến khơi: Đông Hòn Mắt; Đông Nam Hòn Mê.
+ Ven bờ: Luồng vào các cửa sông lớn. Ngư trường trọng
điểm: Khu vực vịnh Diễn Châu, Cồn Khơi, Hòn Lạp - vùng biển Cửa Lò.
- Tai nạn rủi ro: Các khu, điểm du lịch ven biển,
sông, suối, đò ngang.
- Sự cố tràn dầu, hóa chất, ô nhiễm môi trường,
cháy nổ: Vùng biển thị xã Cửa Lò, huyện Nghi Lộc, các khu du lịch, khu công
nghiệp, nhà máy, cảng cá, âu tránh bão, cơ sở kinh doanh, vận chuyển xăng dầu
và các xã, phường ven biển.
- Cháy rừng:
+ Xã Quỳnh Lập/thị xã Hoàng Mai;
+ Xã Tiến Thủy, Quỳnh Thuận/huyện Quỳnh Lưu;
+ Xã Diễn Trung/huyện Diễn Châu;
+ Xã Nghi Thiết/huyện Nghi Lộc;
+ Xã Mỹ Lý, Bắc Lý, Keng Đu, Mường Típ, Mường Ải, Nậm
Càn/huyện Kỳ Sơn;
+ Xã Tam Hợp, Tam Quang, Mai Sơn, Nhôn Mai/huyện
Tương Dương;
+ Xã Phúc Sơn/huyện Anh Sơn;
+ Xã Thanh Sơn, Hạnh Lâm, Thanh Thủy/huyện Thanh
Chương.
2.2. Thời gian thực hiện: Từ
năm 2025 đến hết năm 2030.
Phần II
MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ GIẢI
PHÁP THỰC HIỆN ĐỀ ÁN
I. MỤC TIÊU
1. Mục tiêu chung
Đảm bảo an toàn tính mạng, tài sản cho người dân
trước diễn biến phức tạp của thiên tai; nâng cao nhận thức, năng lực ứng phó,
phòng chống thiên tai, TKCN cho cán bộ, nhân dân, trên khu vực biên giới, vùng
biển của tỉnh; góp phần giảm thiểu thiệt hại về người, tài sản do sự cố, thiên
tai gây ra, kết hợp với phát triển kinh tế - xã hội với đảm bảo QP-AN, bảo vệ
quyền, quyền chủ quyền trên vùng biển của tỉnh. Phát huy sức mạnh tổng hợp của
cả hệ thống chính trị và toàn dân. Tranh thủ tối đa các nguồn lực đầu tư cho hoạt
động phòng ngừa, ƯPSCTT-TKCN đảm bảo đồng bộ, phù hợp với điều kiện thực tế
trên KVBG, vùng biển của tỉnh Nghệ An. Đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ và
hợp tác quốc tế trong hoạt động ƯPSCTT-TKCN.
2. Mục tiêu cụ thể
- Giai đoạn 2025 - 2027:
+ Hàng năm, có khoảng 85% cán bộ, nhân dân KVBG, ven
biển trở lên được tuyên truyền, phổ biến kiến thức pháp luật, kinh nghiệm và kỹ
năng phòng chống, ƯPSCTT-TKCN.
+ Xây dựng, hoàn thiện cơ chế phối hợp, kế hoạch,
phương án phòng ngừa, ứng phó cụ thể sát với từng loại hình sự cố, thiên tai
thường xảy ra trên từng địa bàn, khu vực trọng điểm, dễ tổn thương; 100% Ban Chỉ
huy PCTT- TKCN&PTDS cấp xã biên giới, ven biển được kiện toàn đảm bảo số lượng,
chất lượng hoạt động hiệu lực, hiệu quả.
+ Đảm bảo 100% các huyện, thị xã biên giới, ven biển
thành lập 01 Đội Thường trực PCTT-TKCN (nòng cốt là Đồn Biên phòng, Ban Chỉ huy
Quân sự và Công an huyện). Ngoài ra, mỗi huyện, thị xã ven biển thành lập thêm
01 Đội tàu TKCN trên biển (từ 07-10 tàu) nòng cốt là lực lượng các Đồn Biên
phòng, Hải đội 2 Biên phòng, Trung đội Dân quân biển và Tổ tàu thuyền đoàn kết.
+ 100% Đội xung kích PCTT-TKCN cấp xã biên giới,
ven biển được củng cố, kiện toàn hoạt động hiệu lực, hiệu quả đáp ứng yêu cầu
nhiệm vụ.
+ 100% cán bộ các xã biên giới, ven biển làm công
tác quản lý, chỉ huy, tham mưu và lực lượng nòng cốt, xung kích (Đội Cơ động
nhanh PCTT-TKCN, Đội xung kích PCTT cấp xã, Đội tàu TKCN trên biển) được tập huấn,
huấn luyện, diễn tập về công tác phòng chống, ƯPSCTT-TKCN.
- Giai đoạn 2028 - 2030:
+ Đảm bảo đủ các loại trang bị thiết yếu cho lực lượng
nòng cốt, xung kích: Đội Cơ động nhanh, Đội Thường trực, Đội xung kích PCTT và
Đội tàu TKCN trên biển.
+ Trang cấp, bổ sung các loại phương tiện, vật tư,
trang bị thiết yếu cho các Đồn Biên phòng, Quân sự, Công an để nâng cao năng lực
ứng phó sự cố, thiên tai, TKCN trong KVBG, vùng biển của tỉnh.
+ Chú trọng lồng ghép quy hoạch, kế hoạch các dự
án, đề án, chương trình phát triển KT-XH với xây dựng công trình PCTT-TKCN và
PTDS; hoàn thành sắp xếp ổn định dân cư đang sinh sống trong khu vực có nguy cơ
cao xảy ra lũ quét, sạt lở đất tại các xã biên giới đất liền và hoàn thành quy
hoạch, xây dựng, nâng cấp các cảng cá, khu neo đậu, âu tránh trú bão cho tàu
thuyền tại các huyện, thị xã ven biển.
II. NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP
1. Nhiệm vụ
- Xây dựng, hoàn thiện các cơ chế, quy chế, chính
sách trong hoạt động ƯPSCTT và TKCN.
- Kiện toàn tổ chức, đầu tư trang thiết bị, vật chất
chuyên dụng cho lực lượng chuyên trách thực hiện nhiệm vụ ƯPSCTT và TKCN ở các
xã, phường KVBG, ven biển.
- Nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo, theo dõi
thiên tai; thiết lập hệ thống thông tin phục vụ chỉ huy, chỉ đạo, điều hành thực
hiện nhiệm vụ ƯPSCTT- TKCN trên biên giới, vùng biển, đảo thông suốt, kịp thời
trong mọi tình huống. Tham mưu đầu tư trang thiết bị, cơ sở vật chất, công cụ hỗ
trợ, nâng cao năng lực Ban Chỉ huy PCTT-TKCN&PTDS các xã biên giới, ven biển.
Tăng cường hoạt động thông tin truyền thông, hướng dẫn kỹ năng phòng ngừa, ứng
phó với các loại hình thiên tai phổ biến (nhất là bão, mưa lũ, lũ ống, lũ quét,
sạt lở đất...), bảo đảm thông tin về thiên tai đến được người dân tại các khu vực
chịu ảnh hưởng, nhất là ở KVBG.
- Rà soát, kiện toàn Đội xung kích phòng, chống
thiên tai cấp xã, đây là lực lượng nòng cốt trong thực hiện phương châm “4 tại
chỗ”, là lực lượng phản ứng nhanh, kịp thời xử lý các tình huống về PCTT ngay tại
cơ sở.
- Tổ chức tập huấn, huấn luyện, diễn tập nâng cao
trình độ chỉ huy, khả năng phối hợp cho Đội Cơ động nhanh, Đội Thường trực,
Trung đội dân quân cơ động, Đội xung kích PCTT, Đội tàu TKCN trên biển, Tổ tàu
thuyền đoàn kết, Tổ thường trực PCCCR để nâng cao năng lực ứng phó sự cố, thiên
tai và TKCN trên KVBG, vùng biển.
- Làm tốt công tác sơ, tổng kết rút kinh nghiệm về
PCTT-TKCN. Xây dựng, nhân rộng mô hình, điển hình tiên tiến, kịp thời biểu
dương gương người tốt, việc tốt trong công tác PCTT-TKCN và xử lý các tổ chức,
cá nhân vi phạm các quy định về PCTT.
2. Giải pháp
2.1. Tăng cường sự lãnh đạo của
cấp ủy Đảng, vai trò quản lý của chính quyền các cấp đối với công tác phòng ngừa,
ƯPSCTT-TKCN
- Các cấp ủy, tổ chức Đảng xác định công tác phòng
ngừa, ƯPSCTT-TKCN là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách, thường xuyên của cả hệ thống
chính trị và toàn xã hội. Quán triệt sâu sắc quan điểm chủ động phòng ngừa là
chính, kết hợp với các biện pháp thích ứng phù hợp, tôn trọng quy luật tự
nhiên, thay đổi tư duy phát triển, bảo đảm phát triển bền vững.
- Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo việc phân công, phân
cấp, xác định rõ trách nhiệm, đặc biệt là người đứng đầu các cơ quan, tổ chức,
đơn vị trong công tác phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai theo
phương châm “4 tại chỗ” (chỉ huy tại chỗ; lực lượng tại chỗ; phương tiện, vật
tư tại chỗ; hậu cần tại chỗ) gắn với xây dựng cộng đồng an toàn.
- Chú trọng lãnh đạo, chỉ đạo công tác tuyên truyền,
phổ biến, giáo dục chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước liên
quan đến phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai, tạo sự thống nhất
trong cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền và toàn xã hội cả về nhận thức và hành
động trước tình hình và tác động tiêu cực, phức tạp của thiên tai. Nâng cao kiến
thức, năng lực cho lãnh đạo, cán bộ, đảng viên các cấp, nhất là ở cơ sở có
trách nhiệm thông tin, hướng dẫn kỹ năng nhận biết và cách thức ứng phó thiên
tai cho cộng đồng, đặc biệt là các đối tượng dễ bị tổn thương.
2.2. Đẩy mạnh công tác giáo dục
và phổ biến pháp luật
- Tập trung chỉ đạo các ngành, các cấp đổi mới hình
thức, nội dung, phương pháp tuyên truyền, tập huấn, phổ biến, giáo dục pháp luật
về PCTT, bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu cho cán bộ, nhân dân
phù hợp với đặc điểm dân cư biên giới, điều kiện sản xuất, sinh hoạt của từng địa
phương, đơn vị thông qua: Tổ chức hội nghị, hội thi, phát thanh, truyền hình, gửi
văn bản, ký cam kết, phát tờ rơi, tờ gấp pháp luật, gắn panô, áp phích, cấp
băng đĩa, vật mang tin, đăng trên mạng xã hội Zalo, Facebook.
- Tăng cường phổ biến kinh nghiệm, biện pháp phòng
ngừa, ƯPSCTT-TKCN và tham gia khắc phục hậu quả; nâng cao ý thức, phát huy tính
chủ động, tinh thần tương thân, tương ái giúp đỡ nhau khi gặp thiên tai, sự cố.
Đối với ngư dân hành nghề trên biển trang bị đầy đủ dụng cụ cứu sinh, thông tin
liên lạc, thiết bị giám sát hành trình, kỹ năng ứng phó, xử lý các tình huống để
tự bảo vệ mình; đối với nhân dân biên giới đất liền nắm vững kỹ năng, kinh nghiệm
phát hiện lũ ống, lũ quét, sạt lở đất, cháy rừng, cách thông báo truyền tin khi
có thiên tai, đảm bảo an toàn khi qua sông, suối, không vớt củi trên sông khi
có mưa lũ, không phá rừng làm nương rẫy.
- Các sở, ngành, địa phương thống nhất biên soạn đề
cương, tài liệu tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước,
điều ước quốc tế, kinh nghiệm, kỹ năng phòng tránh sự cố, thiên tai, CNCH, bảo
vệ môi trường, thích ứng biến đổi khí hậu, phát triển bền vững, xây dựng xã hội
ổn định trong thiên tai phục vụ tuyên truyền và cấp phát cho nhân dân; phối hợp
với các trường, trung tâm dạy nghề lồng ghép nội dung giáo dục về PCTT-TKCN vào
chương trình giảng dạy.
- Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể và nhân dân
thường xuyên vận động tập hợp lực lượng, đặc biệt là lực lượng xung kích PCTT tại
cơ sở; đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật
Nhà nước, giáo dục cập nhật kiến thức, kỹ năng, nâng cao nhận thức, năng lực,
tính chủ động cho đoàn viên, hội viên và nhân dân về phòng ngừa, ứng phó, khắc
phục sự cố, thiên tai; huy động và phân bổ nguồn lực cứu trợ phù hợp; phối hợp
với các cơ quan truyền thông giới thiệu, nhân rộng các mô hình người tốt, gương
điển hình trong công tác PCTT-TKCN.
2.3. Huy động và sử dụng hiệu
quả nguồn lực phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai và tìm kiếm cứu
nạn
- Đa dạng hóa việc huy động nguồn lực và sử dụng hiệu
quả nguồn lực theo phân cấp, đúng thẩm quyền. Bố trí nguồn chi ngân sách chính
đáng, kết hợp xã hội hóa các nguồn lực hợp pháp để chủ động phòng ngừa, ứng
phó, khắc phục hậu quả thiên tai. Phát huy vai trò, trách nhiệm của bộ máy quản
lý chuyên ngành trong huy động, quản lý và sử dụng nguồn lực. Kết hợp sử dụng
có hiệu quả các nguồn lực trong và nước ngoài để thực hiện chiến lược, quy hoạch,
kế hoạch, chương trình tổng thể, dự án phòng ngừa, ƯPSCTT-TKCN.
- Hàng năm, ưu tiên bố trí ngân sách tập trung xử
lý dứt điểm các trọng điểm đê điều, sạt lở bờ sông, xâm thực bờ biển, hồ đập,
luồng lạch, âu tránh bão. Lập quy hoạch, kế hoạch, phương án di dời dân đang
sinh sống trong vùng thiên tai gắn với sinh kế bền vững. Đầu tư, nâng cấp cơ sở
vật chất, trang thiết bị cho cơ quan chuyên môn, tham mưu phục vụ chỉ đạo, điều
hành công tác ƯPSCTT-TKCN các cấp, nhất là cơ quan cấp tỉnh, các đơn vị nòng cốt
theo hướng hiện đại ngang tầm nhiệm vụ. Bố trí nguồn lực phục vụ công tác điều
tra cơ bản, triển khai các chương trình trọng điểm cấp tỉnh về ứng dụng khoa học,
công nghệ trong phòng ngừa, ứng phó sự cố, khắc phục hậu quả thiên tai và TKCN.
- Rà soát, sắp xếp thứ tự ưu tiên, từng bước đầu tư
xây dựng, nâng cao khả năng chống chịu thiên tai của hệ thống kết cấu hạ tầng;
làm tốt công tác bảo vệ, phát triển rừng, đặc biệt là rừng phòng hộ, đầu nguồn
và rừng ngập mặn. Đối với biên giới đất liền bảo đảm an toàn nơi ở cho đồng
bào, tăng cường quản lý, kiểm soát không để người dân làm nhà lấn chiếm lòng
sông, suối, chân núi, đồi, khu vực rủi ro, giảm nguy cơ xảy ra lũ quét, sạt lở
đất; bảo đảm an toàn đê điều, hồ chứa nguồn nước sản xuất, sinh hoạt và an ninh
rừng. Đối với biên giới biển, đảo nâng cao năng lực quản lý người, phương tiện
hoạt động trên biển, sẵn sàng ứng phó với bão mạnh, siêu bão, sạt lở bờ biển, sạt
lở bờ sông, nước biển dâng, xâm nhập mặn và sụt lún đất.
2.4. Tăng cường các biện pháp đảm
bảo an ninh, an toàn cho nhân dân
- Thường xuyên rà soát xây dựng, bổ sung và triển
khai đầy đủ các kế hoạch, phương án phòng ngừa, ƯPSCTT-TKCN, đảm bảo an ninh,
an toàn cho nhân dân, bảo vệ cơ sở hạ tầng để phát triển KT-XH.
- Nắm chắc diễn biến tình hình sự cố, thiên tai,
mưa lũ, ngập lụt, bão, ATNĐ, sạt lở đất, cháy rừng..., áp dụng phương tiện công
nghệ để dự báo, thông báo, cảnh báo sớm, kết hợp với sử dụng mạng thông tin tín
hiệu cồng, chiêng, còi, kẻng báo động, truyền tin cho người dân biết phòng
tránh; tổ chức tiếp nhận, xử lý kịp thời hiệu quả thông tin liên quan đến công
tác PCTT - TKCN.
- Khảo sát, đánh giá kỹ lưỡng các tổ chức, cá nhân
đang sinh sống trong khu vực nguy cơ xảy ra lũ ống, lũ quét, sạt lở đất để lập
phương án, đề án di dời đến nơi an toàn bảo đảm sinh kế ổn định lâu dài cho người
dân.
- Ưu tiên quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng tại các
địa bàn vùng sâu, vùng xa biên giới, nhất là hạ tầng giao thông, không để các địa
bàn trọng điểm thiên tai có 01 tuyến đường độc đạo; xây dựng các công trình
tránh lũ tập trung tại các địa bàn trọng điểm, tăng cường các loại vật tư,
phương tiện kỹ thuật đáp ứng yêu cầu ƯPSCTT-TKCN.
- Làm tốt công tác điều tra cơ bản, quản lý, kiểm
soát chặt chẽ người, phương tiện, nắm chắc chủ tàu, thuyền trưởng, máy trưởng,
thuyền viên, thủ tục, nghề, ngư cụ, ngư trường, thời gian xuất, nhập bến, máy
thông tin, tần số, giám sát hành trình, trang bị cứu sinh, thiết bị an toàn làm
cơ sở kiểm tra, xử lý vi phạm. Đào tạo cấp bằng, chứng chỉ thuyền trưởng, máy
trưởng, đăng ký, đăng kiểm theo hướng cải cách thủ tục hành chính, tạo điều kiện
phát triển ngành kinh tế thủy sản.
- Duy trì có hiệu quả Đài thông tin báo bão của Bộ
Chỉ huy BĐBP tỉnh, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh, Đài TTDH Bến Thủy để thu thập, xử
lý thông tin về sự cố, thiên tai, tai nạn và kêu gọi, hướng dẫn tàu thuyền
tránh trú khi có thiên tai. Nâng cấp, hoàn thiện hệ thống thông tin chỉ huy, điều
hành PCTT-TKCN và thông tin nghề cá; có chính sách hỗ trợ trang thiết bị an
toàn, giám sát hành trình cho ngư dân, nhất là Dân quân biển, Đội tàu TKCN trên
biển và Tổ tàu thuyền đoàn kết; duy trì nghiêm các quy định về đảm bảo an toàn
đối với người, phương tiện trên biên giới, vùng biển.
- Tăng cường quản lý nhà nước đối với mọi hoạt động
trên biên giới, vùng biển, nhất là khu đông dân cư; bên đậu, vùng triều, đò
ngang và ngư trường; không cho tàu cá hoạt động nếu thiếu thủ tục, trang thiết
bị an toàn và khi có lệnh cấm biển của cơ quan có thẩm quyền; kiên quyết xử lý
các trường hợp vi phạm theo quy định.
- Đầu tư xây dựng các Trạm đo mưa; lắp đặt thiết bị
cảnh báo lũ ống, lũ quét, sạt lở đất, ngập lụt, lũ trên sông, suối xuyên biên
giới và nguy cơ cháy rừng.
2.5. Nâng cao vai trò, năng lực
quản lý nhà nước; xây dựng lực lượng nòng cốt, xung kích; bảo đảm phương tiện,
vật tư, trang bị đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ
- Kiện toàn hệ thống tổ chức bộ máy quản lý nhà nước
về PCTT-TKCN từ tỉnh đến cơ sở theo hướng đồng bộ, thống nhất, chuyên nghiệp,
hiệu lực, hiệu quả, trên cơ sở sắp xếp lại các tổ chức hiện có, bảo đảm tinh gọn,
không tăng thêm đầu mối và biên chế, có cơ chế hoạt động cụ thể, xác định rõ
trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong thực thi nhiệm vụ PCTT-TKCN.
- Phân công trách nhiệm, xây dựng cơ chế phối hợp
chặt chẽ giữa lực lượng quân đội, công an, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính
trị - xã hội, tổ chức quần chúng để phối hợp xây dựng kế hoạch, phương án, kịch
bản phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai, bảo đảm khả thi, thiết thực,
sát thực tiễn.
- Thường xuyên bồi dưỡng nâng cao năng lực chỉ huy,
điều hành, trình độ chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ cho cán bộ quản lý, tham mưu
các cấp. Nâng tầm hoạt động của cơ quan PCTT - TKCN và PTDS các cấp theo hướng
chuyên trách, trên cơ sở sắp xếp lại tổ chức bộ máy hiện có, xây dựng đội ngũ
cán bộ chuyên nghiệp, có năng lực, trình độ, kỹ năng nghiệp vụ cao đáp ứng yêu
cầu nhiệm vụ.
- Phát huy vai trò nòng cốt của lực lượng hiện có tại
các cấp, các ngành để củng cố, kiện toàn, bổ sung nguồn lực, trang bị thiết yếu.
Chú trọng củng cố, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của lực lượng nòng cốt
TKCN cấp tỉnh và lực lượng xung kích PCTT cấp xã. Từng bước nâng cao năng lực,
kỹ năng và các điều kiện bảo đảm để thực thi kịp thời, xử lý linh hoạt các tình
huống sự cố, thiên tai theo phương châm "4 tại chỗ" phù hợp với các
lĩnh vực của từng ngành, từng lực lượng, vùng, miền và từng địa phương.
- Tổ chức tập huấn, huấn luyện, diễn tập nâng cao
trình độ chỉ huy, khả năng phối hợp cho Đội Cơ động nhanh, Đội Thường trực, Trung
đội dân quân cơ động, Đội xung kích PCTT, Đội tàu TKCN trên biển, Tổ tàu thuyền
đoàn kết, Tổ thường trực PCCCR đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.
- Lực lượng Quân sự, Công an, BĐBP báo cáo Bộ Tư lệnh
Quân khu 4, Bộ Công an, Bộ Tư lệnh BĐBP cấp bổ sung vật tư, phương tiện, phấn đấu
đến năm 2025, cơ bản đáp ứng các loại phương tiện, trang bị, vật tư thiết yếu.
Các đơn vị biên phòng tuyến biển có tàu tuần tra và TKCN công suất từ 1.000 CV
đến 7.000 CV; đơn vị tuyến biên giới cơ bản có phương tiện, trang bị đặc dụng,
nhất là phương tiện, trang bị ứng phó với lũ quét, sạt lở đất, ngập lụt và
PCCCR.
- Tăng cường cơ sở vật chất, trang bị kỹ thuật và
năng lực thực thi nhiệm vụ cho BĐBP tỉnh theo Nghị Quyết số 58-NQ/TW ngày
05/8/2020 của Bộ Chính trị. Trang bị cơ bản đầy đủ cơ sở vật chất, phương tiện
thiết yếu cho lực lượng nòng cốt, xung kích của các đơn vị, địa phương phù hợp
với đặc diêm địa hình biên giới, vùng biển và từng loại hình thiên tai. Bảo đảm
cơ chế, chính sách, kinh phí cho lực lượng trực tiếp làm nhiệm vụ, nhằm thu hút
nguồn lực tại chỗ. Trong đó, các đơn vị, địa phương có trách nhiệm bảo đảm nguồn
lực và điều kiện hoạt động cho cơ quan, lực lượng làm công tác phòng ngừa,
ƯPSCTT-TKCN cùng cấp, đặc biệt là lực lượng xung kích PCTT ở cơ sở.
- Đề cao trách nhiệm người đứng đầu, thường xuyên
kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn khắc phục những hạn chế, yếu kém, chủ quan đơn giản
trong chỉ đạo điều hành và triển khai thực hiện nhiệm vụ; kịp thời khen thưởng
và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm.
2.6. Nâng cao hiệu quả công tác
phối hợp, hiệp đồng và hợp tác quốc tế
- Duy trì thực hiện tốt quy chế, kế hoạch phối hợp
giữa các lực lượng Quân sự, BĐBP, Công an và các ngành Nông nghiệp, Công
thương, Y tế, Giao thông vận tải, Thông tin và Truyền thông trong công tác
phòng ngừa, ƯPSCTT-TKCN trên KVBG, vùng biển.
- Phối hợp với Ủy ban Quốc gia ƯPSCTT-TKCN, Bô Tư lệnh
Quân khu 4, UBND các tỉnh Thanh Hoá, Hà Tĩnh... trong công tác nắm tình hình,
trao đổi thông tin và thực hiện công tác ƯPSCTT-TKCN.
- Lực lượng Quân sự, BĐBP, Công an và các ngành
liên quan xây dựng, bổ sung và thực hiện tốt quy chế, kế hoạch phối hợp với lực
lượng chuyên trách của Trung ương (Trung tâm phối hợp TKCN Hàng hải Việt Nam,
Trung tâm phối hợp TKCN Hàng hải khu vực I, Trung tâm phối hợp TKCN Hàng không,
Trung tâm ƯPSCTD khu vực miền Bắc), Hải quân Vùng I, Vùng Cảnh sát biển I, Hải
đoàn 38 BĐBP, Bộ Chỉ huy BĐBP các tỉnh từ Quảng Ninh đến Quảng Bình, Chi cục Kiểm
ngư, các Đài TTDH và các đơn vị của Bộ đóng quân trên địa bàn để nắm, trao đổi
tình hình và xử lý tình huống; tổ chức tuyên truyền, huấn luyện, diễn tập các kế
hoạch, phương án đảm bảo an ninh, an toàn cho nhân dân; kết hợp tuần tra bảo vệ
chủ quyền, lãnh thổ với sẵn sàng tham gia ƯPSCTT-TKCN và PCCCR khi có tình huống.
- Phối hợp trao đổi thông tin với chính quyền tỉnh
Hủa Phăn, Xiêng Khoảng, Bô Ly Khăm Xay/Lào và các tỉnh Thanh Hoá, Hà Tĩnh trong
các hoạt động xây dựng, vận hành xả lũ của các nhà máy thủy điện trên thượng
nguồn sông Nậm Mô, Nậm Nơn, bảo đảm an toàn cho các vùng hạ lưu trên địa bàn tỉnh.
- Các Sở, ngành (Quân sự, BĐBP, Công an, Nông nghiệp...),
UBND các huyện biên giới xây dựng, ký kết và thực hiện có hiệu quả các quy chế,
kế hoạch, chương trình phối hợp PCTT, PCCCR, CNCH với lực lượng chức năng và
chính quyền các huyện biên giới tiếp giáp của tỉnh Hủa Phăn, Xiêng Khoảng, Bô
Ly Khăm Xay/Lào; tổ chức hội đàm, giao ban trao đổi, thông báo tình hình về sự
cố, thiên tai (mưa lũ, sạt lở đất, cháy rừng, ô nhiễm môi trường, dịch bệnh...),
trong đó, chú trọng trao đổi về công tác quy hoạch, kế hoạch xây dựng cơ sở hạ
tầng, các công trình, dự án phát triển KT-XH, vận hành xả lũ các nhà máy thủy
điện (đập thủy điện, dự án khai thác tài nguyên, khoáng sản...) trên KVBG làm
gia tăng nguy cơ xảy ra lũ quệt, sạt lở đất, sự cố môi trường, sụt lún đất đá,
cháy nổ, cháy rừng, mất an toàn; tổ chức tuyên truyền, tập huấn, diễn tập
PCCCR, ƯPSCTT-TKCN nâng cao trình độ cho cán bộ, nhân dân 02 bên biên giới, xây
dựng biên giới an toàn, hữu nghị, hội nhập và phát triển.
- Thúc đẩy hợp tác quốc tế về khoa học công nghệ,
chia sẻ thông tin, kinh nghiệm với các tổ chức nước ngoài; từng bước hoàn thiện
cơ sở pháp lý, cơ sở dữ liệu về phòng tránh rủi ro, thiên tai. Nâng cao hiệu quả
hỗ trợ quốc tế về kinh phí, vật tư, phương tiện, trang thiết bị PCTT-TKCN; thực
thi tốt các cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia.
2.7. Đẩy mạnh ứng dụng khoa học
công nghệ trong lĩnh vực phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai
- Ứng dụng công nghệ, nâng cao năng lực dự báo, cảnh
báo, theo dõi thiên tai kịp thời, có độ tin cậy cao làm cơ sở xây dựng các kế
hoạch, phương án ứng phó; ưu tiên đầu tư nghiên cứu về thiên tai, hệ thống dự
báo khí tượng thủy văn, hệ thống theo dõi, giám sát thiên tai chuyên dùng chuẩn
hóa và hiện đại. Tăng cường rà soát, cập nhật kịch bản biến đổi khí hậu, nước
biển dâng, dự báo dài hạn về thiên tai, nguồn nước, nhất là các sông, suối
xuyên biên giới với nước Bạn (Lào).
- Khẩn trương thiết lập hệ thống thông tin phục vụ
chỉ huy, chỉ đạo, điều hành thực hiện nhiệm vụ ƯPSCTT-TKCN trên biên giới, vùng
biển, đảo thông suốt, kịp thời trong mọi tình huống. Rà soát, điều chỉnh, bổ
sung quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật, cấp độ rủi ro thiên tai phù hợp với đặc điểm
sự cố, thiên tai và điều kiện từng vùng, miền.
- Xác định ứng dụng khoa học công nghệ là nhiệm vụ,
giải pháp then chốt và hiệu quả trong phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả
thiên tai ưu tiên trang bị công nghệ quan trắc, theo dõi, giám sát, chỉ đạo điều
hành, ứng phó thiên tai. Tập trung ứng dụng công nghệ viễn thám, tin học, tự động
hóa, vật liệu mới trong quản lý, khai thác, vận hành cơ sở dữ liệu, công cụ hỗ
trợ chỉ đạo điều hành. Khuyến khích các doanh nghiệp, cơ quan nghiên cứu đầu tư
cho khoa học công nghệ, hợp tác công - tư; có bộ phận nghiên cứu chuyên sâu, mô
phỏng, chuyển giao, ứng dụng khoa học, công nghệ vào phòng ngừa, ứng phó, khắc
phục hậu quả thiên tai.
2.8. Kết hợp các mục tiêu phát
triển KT-XH với nhiệm vụ ƯPSCTT- TKCN và bảo đảm QP-AN trên địa bàn biên giới,
vùng biển, đảo
- Chú trọng đưa nhiệm vụ phòng ngừa, ứng phó, khắc
phục hậu quả thiên tai vào quy hoạch, kế hoạch, chiến lược phát triển KT-XH. Điều
chỉnh, lồng ghép nội dung phòng ngừa, ƯPSCTT-TKCN vào quy hoạch, kế hoạch, chiến
lược phát triển của các ngành, địa phương theo hướng kết hợp đa mục tiêu, hạn
chế tối đa việc gia tăng rủi ro, thiên tai, thích ứng với đặc điểm của từng
vùng, miền, nhất là vùng ven biển, các lưu vực sông suối biên giới, khu vực
đông dân cư...
- Quy hoạch, kế hoạch phát triển KT-XH, gắn với nhiệm
vụ QP-AN và PCTT-TKCN; đẩy nhanh tiến độ thực hiện các chương trình, dự án phát
triển KT-XH KVBG, vùng biển; ưu tiên đầu tư cơ sở hạ tầng, trang bị, phương tiện
cho các địa bàn trọng điểm xảy ra thiên tai.
- Ưu tiên đầu tư phát triển hạ tầng giao thông trên
KVBG đất liền, đặc biệt là giao thông kết nối giữa trung tâm các huyện biên giới
với các xã và các địa bàn trọng điểm về lũ ống, lũ quét, sạt lở đất, ngập lụt,
các khu vực dễ bị chia cắt, cô lập khi có thiên tai, tránh để các đường độc đạo;
hoàn thành việc sắp xếp ổn định dân cư đang sinh sống trong khu vực nguy cơ cao
lũ quét, sạt lở đất; tăng cường phát triển rừng và bảo vệ môi trường.
- Trên KVBG biển, xây dựng các bến cập tàu phục vụ
nhiệm vụ kiểm soát biên phòng kết hợp neo đậu phương tiện thực hiện nhiệm vụ
PCTT-TKCN; hoàn thành việc xây dựng, nâng cấp các cảng cá, khu neo đậu, âu
tránh trú bão cho tàu thuyền, phục vụ phát triển kinh tế thủy sản bền vững và
tháo gỡ thẻ vàng thủy sản của Ủy ban Châu Âu EC; phát triển hạ tầng giao thông
đường bộ ven biển, hệ thống cảng biển, giao thông đường thủy và ngành vận tải
biển, đặc biệt là kết nối giữa trung tâm các huyện, thị xã, thành phố ven biển
với các khu kinh tế, công nghiệp, du lịch phục vụ phát triển kinh tế biển, gắn
với PCTT- TKCN và bảo đảm QP-AN.
2.9. Xây dựng, hoàn thiện hệ thống
pháp luật, cơ chế, chính sách về phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên
tai
- Rà soát, sửa đổi, bổ sung hoàn thiện hệ thống văn
bản quy phạm pháp luật liên quan theo hướng khắc phục chồng chéo, bổ sung các
quy định mới bảo đảm sự thống nhất, phù hợp, tạo môi trường pháp lý đầy đủ, khả
thi, thuận lợi cho việc thực hiện nhiệm vụ phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu
quả thiên tai.
- Xây dựng ban hành cơ chế, thể chế để tăng cường
hiệu lực, hiệu quả quản lý, chỉ đạo, chỉ huy, điều hành; bảo đảm chế độ, chính
sách cho các tổ chức, cá nhân tham gia phòng ngừa, ƯPSCTT-TKCN, nhất là chính
sách đặc thù cho lực lượng trực tiếp làm nhiệm vụ. Hoàn thiện cơ chế vận hành,
sử dụng quỹ PCTT, bảo hiểm rủi ro thiên tai, dịch vụ dự báo, theo dõi, giám sát
và đánh giá tác động rủi ro thiên tai.
Phần III
TỔ CHỨC THỰC HIỆN
I. LỘ TRÌNH THỰC HIỆN ĐỀ ÁN
1. Quý I/2025, quán triệt, triển khai thực
hiện nội dung, nhiệm vụ Đề án theo lộ trình, kế hoạch triển khai thực hiện Đề
án theo các năm đã xác định.
2. Quý III/2027, tổ chức sơ kết rút kinh nghiệm
thực hiện Đề án.
3. Quý IV/2030, tổ chức tổng kết Đề án, rút
ra bài học kinh nghiệm, giải pháp phù hợp để tiếp tục nâng cao hiệu quả ứng phó
sự cố, thiên tai và tìm kiếm cứu nạn trên KVBG, vùng biển tỉnh Nghệ An giai đoạn
tiếp theo.
II. KINH PHÍ THỰC HIỆN ĐỀ ÁN
1. Nguồn kinh phí thực hiện Đề án từ ngân
sách địa phương bố trí theo phân cấp quản lý Nhà nước và huy động từ các nguồn
kinh phí hợp pháp khác.
2. Khai thác nguồn kinh phí huy động từ các
bộ, ngành (Bộ Quốc phòng, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn...) phân cấp
theo các chương trình, đề án về PCTT-TKCN đang triển khai.
3. Hằng năm, Sở Tài chính chủ trì, phối hợp
với Bộ Chỉ huy BĐBP tỉnh và các đơn vị có liên quan căn cứ khả năng cân đối nguồn
kinh phí về Đề án được duyệt thẩm định dự toán kinh phí thực hiện Đề án báo cáo
UBND tỉnh bố trí kinh phí theo phân cấp để thực hiện theo quy định.
III. PHÂN CÔNG TRÁCH NHIỆM
1. Ban Chỉ huy PCTT-TKCN và
PTDS tỉnh
- Tham mưu giúp UBND tỉnh thực hiện các nhiệm vụ
PCTT theo quy định tại khoản 1 Điều 43 của Luật Phòng, chống thiên tai và Nghị
định số 66/2021/NĐ-CP ngày 06/7/2021 của Chính phủ, Luật phòng thủ dân sự và
các nhiệm vụ khác do UBND tỉnh, Chủ tịch UBND tỉnh giao.
- Chỉ đạo, đôn đốc xây dựng và trình phê duyệt kế
hoạch, phương án và chỉ huy ứng phó thiên tai, TKCN trên địa bàn tỉnh. Tổ chức
tập huấn, diễn tập, phổ biến, tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng về
PCTT.
- Giúp UBND tỉnh chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc và tổng
hợp báo cáo việc thống kê đánh giá thiệt hại, xác định nhu cầu hỗ trợ, triển khai
công tác khắc phục hậu quả và phục hồi tái thiết sau thiên tai theo phương châm
“Chủ động phòng ngừa, ứng phó kịp thời, khắc phục khẩn trương và hiệu quả”.
- Chỉ đạo, triển khai và tổ chức thực hiện các giải
pháp nhằm từng bước nâng cao năng lực dân sự trong hoạt động ứng phó thiên tai.
- Tham mưu thực hiện có hiệu quả Quỹ phòng, chống
thiên tai theo quy định.
2. Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên
phòng tỉnh
- Chủ trì, phối hợp với các Sở, ngành, địa phương
liên quan triển khai thực hiện Đề án đảm bảo thiết thực, hiệu quả; hàng năm
tham mưu UBND tỉnh ban hành kế hoạch triển khai và điều chỉnh, bổ sung nhiệm vụ,
giải pháp, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện.
- Chủ trì, phối hợp với các lực lượng, địa phương
tham mưu UBND tỉnh thực hiện công tác phòng ngừa, ƯPSCTT-TKCN trên biên giới,
vùng biển; xây dựng phương án đảm bảo an ninh, an toàn cho nhân dân tại các khu
vực, địa bàn trọng điểm về thiên tai, sự cố; bổ sung hoàn thiện các phương án,
kế hoạch, duy trì lực lượng, phương tiện sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ; thường
xuyên tuần tra, kiểm soát trên các vùng biển để hỗ trợ ngư dân sản xuất và tham
gia TKCN; kiểm soát chặt chẽ công tác đảm bảo an toàn trước khi ra biển và khi
có thiên tai đối với người, phương tiện, kịp thời ngăn chặn, xử lý các hành vi
vi phạm.
- Phối hợp với các ngành, địa phương tuyên truyền,
phổ biến cho cán bộ, nhân dân nắm vững chủ trương của Đảng, pháp luật Nhà nước
về phát triển kinh tế - xã hội, PCTT-TKCN và đảm bảo QP-AN; tổ chức tập huấn,
huấn luyện, diễn tập ƯPSCTT-TKCN cho Đội Cơ động nhanh, Đội Thường trực, Đội
xung kích PCTT, Đội tàu TKCN trên biển, Trung đội dân quân cơ động, Tổ tàu thuyền
đoàn kết, Đội tàu bảo vệ chủ quyền, Tổ thường trực PCCCR và Đội ứng phó sự cố
tràn dầu.
- Hiệp đồng chặt chẽ với Bộ Tư lệnh Vùng 1 Hải
quân, Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 1, Kiểm ngư, Hải đoàn 38 BĐBP, Bộ Chỉ huy
BĐBP các tỉnh từ Quảng Ninh đến Quảng Bình, Trung tâm phối hợp TKCN Hàng hải
khu vực 1, Trung tâm phối hợp TKCN Hàng không, Trung tâm ƯPSCTD khu vực miền Bắc,
Trạm ƯPSCTD, để trao đổi thông tin, huấn luyện, diễn tập và sẵn sàng thực hiện
nhiệm vụ.
- Tham mưu UBND tỉnh xây dựng, ký kết các kế hoạch,
thỏa thuận phối hợp với chính quyền địa phương, lực lượng chức năng các tỉnh Hủa
Phăn, Xiêng Khoảng, Bô Ly Khăm Xay/Lào trong tuyên truyền, phổ biến pháp luật,
trao đổi thông tin, chia sẻ kinh nghiệm, tập huấn, diễn tập và sẵn sàng phối hợp,
hỗ trợ thực thi nhiệm vụ PCCCR, ƯPSCTT-TKCN liên quan đến 02 bên biên giới.
- Phối hợp với Sở Thông tin và Truyền thông xây dựng
phương án đảm bảo thông tin phục vụ chỉ huy, chỉ đạo xử lý các tình huống khẩn
cấp về sự cố, thiên tai trên biên giới, vùng biển, đảo; phát huy hiệu quả mạng
thông tin nghiệp vụ của các đơn vị biên phòng và 03 Trạm thông tin báo bão, bắn
pháo hiệu cảnh báo thiên tai, để thông báo, cảnh báo và kêu gọi, hướng dẫn tàu
thuyền vào nơi trú tránh an toàn.
- Chỉ đạo các Đồn Biên phòng tham mưu UBND cấp huyện,
xã biên giới thực hiện tốt Đề án; rà soát các khu vực nguy cơ xảy ra rủi ro,
thiên tai để có biện pháp phòng ngừa và tham mưu xử lý; phối hợp với các ngành,
đoàn thể tuyên truyền nhân dân chấp hành tốt chủ trương của Đảng, pháp luật Nhà
nước; tham gia xây dựng cơ sở chính trị vững mạnh, củng cố các mô hình
PCTT-TKCN cấp huyện, xã (Đội thường trực, Đội xung kích PCTT, Trung đội Dân
quân, Tổ tàu thuyền đoàn kết, Tổ thường trực PCCCR, Đội tàu TKCN trên biển);
cùng với các nhà trường trên địa bàn tham gia bồi dưỡng kiến thức pháp luật, hướng
dẫn kỹ năng phòng tránh sự cố, thiên tai cho học sinh để tự bảo vệ khi có tình
huống.
- Hàng năm, phối hợp với Sở Tài chính tham mưu, đề
xuất UBND tỉnh kinh phí thực hiện Đề án đảm bảo thiết thực, hiệu quả; thực hiện
tốt Thông tư số 92/2009/TT-BTC ngày 12/5/2009 của Bộ Tài chính hướng dẫn thanh
toán kinh phí từ ngân sách Nhà nước cho các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động
TKCN, ứng phó thiên tai, thảm họa.
- Kiến nghị Bộ Quốc phòng, Bộ Tư lệnh BĐBP xây dựng
hệ thống Đồn, Trạm kết hợp với các công trình PCTT cho nhân dân; trang cấp các
loại phương tiện tuần tra bảo vệ biên giới, PCTT-TKCN, trang thiết bị chuyên dụng
phù hợp với hoạt động TKCN trên biên giới, vùng biển, đặc biệt là tàu, xuồng
TKCN trên biển; trên cơ sở trang thiết bị được trên cấp, hàng năm, căn cứ thực
tế và yêu cầu nhiệm vụ tham mưu UBND tỉnh mua sắm bổ sung các loại vật tư, trang
bị PCTT-TKCN.
3. Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh
- Chủ trì, phối hợp với các đơn vị tham mưu cho Ban
Chỉ huy PCTT- TKCN và PTDS tỉnh chỉ đạo thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ PTDS,
ƯPSCTT, TKCN; chỉ đạo các đơn vị trực thuộc phối hợp với các lực lượng liên
quan tổ chức huấn luyện, diễn tập cho lực lượng Bộ đội địa phương, dân quân tự
vệ, dự bị động viên gắn với diễn tập khu vực phòng thủ biên giới, bờ biển. Thường
xuyên khảo sát địa bàn, xây dựng, bổ sung đầy đủ các kế hoạch, phương án đáp ứng
yêu cầu nhiệm vụ.
- Phối hợp với Bộ Chỉ huy BĐBP tỉnh xây dựng, củng
cố lực lượng nòng cốt, xung kích cấp huyện, xã vững mạnh về tổ chức, biên chế,
trang bị (Bộ đội địa phương, Dân quân, Dự bị động viên); phát huy hiệu quả mạng
thông tin của Đội tàu bảo vệ chủ quyền, Trung đội Dân quân biển trong PCTT-TKCN
và tổ chức bắn pháo hiệu cảnh báo thiên tai theo quy định.
- Đề xuất Bộ Tư lệnh Quân khu 4 đầu tư xây dựng các
công trình phòng thủ dân sự và hệ thống tiếp nhận, xử lý thông tin, nghiên cứu
dự báo, cảnh báo, thông báo, báo động; trang cấp bổ sung các loại vật tư,
phương tiện thiết yếu PCTT-TKCN Triển khai thực hiện tốt kế hoạch và cơ chế hoạt
động PTDS. Tổ chức tuyên truyền, giáo dục, bồi dưỡng, tập huấn, huấn luyện, diễn
tập và thực hiện tốt các biện pháp PTDS theo thẩm quyền.
4. Công an tỉnh
- Xây dựng, bổ sung các kế hoạch, phương án PCTT,
PCCN và CNCH theo chức năng, thẩm quyền; nắm chắc tình hình sự cố, thiên tai
trên địa bàn, sẵn sàng lực lượng, phương tiện thực hiện nhiệm vụ khi có yêu cầu.
- Phối hợp với Bộ Chỉ huy BĐBP tỉnh, các địa phương
đảm bảo ANTT tại các khu vực xảy ra sự cố, thiên tai, điều tiết, hướng dẫn giao
thông và bảo đảm trật tự an toàn giao thông theo quy định; điều tra, xử lý các
trường hợp lợi dụng sự cố, thiên tai để trục lợi, gây bất ổn tình hình; tăng cường
các biện pháp ngăn chặn, xử lý hoạt động lấn chiếm hành lang giao thông.
- Chỉ đạo Công an các địa phương phối hợp với các
đơn vị chức năng kiểm tra, xử lý vi phạm trong lĩnh vực PCTT, bảo vệ môi trường,
tài nguyên nước, phát hiện, ngăn chặn khai thác khoáng sản, bến bãi tập kết
cát, sỏi trái phép, lấn chiếm lòng sông, bãi sông gây cản trở dòng chảy.
- Báo cáo Bộ Công an cấp bổ sung vật tư, trang thiết
bị, phương tiện thiết yếu, chuyên dụng phục vụ công tác CNCH đáp ứng yêu cầu
nhiệm vụ.
5. Sở Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn
- Chủ trì, phối hợp với các Sở, ngành, địa phương
tham mưu UBND tỉnh xây dựng và triển khai Đề án sắp xếp ổn định dân cư khu vực
nguy cơ cao xảy ra lũ quét, sạt lở đất tại các huyện miền núi của tỉnh giai đoạn
2025-202; tiếp tục tham mưu UBND tỉnh triển khai thực hiện Luật Thủy sản năm
2017, Quyết định số 118/2007/QĐ-TTg ngày 25/7/2007 của Thủ tướng Chính phủ về
chính sách hỗ trợ ngư dân khắc phục rủi ro thiên tai trên biển; báo cáo Ban Chỉ
đạo Trung ương về PCTT, Bộ NN&PTNT trang cấp bổ sung vật tư, phương tiện
thiết yếu PCTT phù hợp với địa hình biên giới, vùng biển và từng loại hình
thiên tai.
- Phát huy vai trò Cơ quan thường trực về PCTT, chủ
động nắm bắt tình hình và kịp thời tham mưu Ban Chỉ huy PCTT-TKCN&PTDS tỉnh
trong việc chỉ huy, điều hành công tác PCTT trên địa bàn tỉnh.
- Tham mưu Ban Chỉ huy PCTT-TKCN và PTDS tỉnh chỉ đạo
các địa phương tổ chức huấn luyện, diễn tập PCTT nâng cao khả năng thực hiện
nhiệm vụ; thực hiện tốt công tác quản lý tàu cá theo phân cấp, phối hợp với các
đơn vị BĐBP tỉnh tuần tra, kiểm soát xử lý nghiêm các hành vi vi phạm về lĩnh vực
thủy sản và PCTT; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong công tác PCTT và khai thác
thủy sản.
- Đẩy mạnh truyền thông, nâng cao kiến thức, kỹ
năng phòng chống, ứng phó thiên tai; hiện đại hóa hệ thống thông tin, thiết bị
bảo đảm an toàn và giám sát tàu cá; vận động ngư dân khai thác thủy sản xa bờ
và phát triển dịch vụ hậu cần nghề cá gắn với CNCH; tích cực củng cố, kiện toàn
các Đội xung kích PCTT.
- Tham mưu UBND tỉnh, Ban Chỉ huy PCTT-TKCN và PTDS
tỉnh ban hành kế hoạch để kiểm tra, chỉ đạo công tác PCTT hàng năm ở các địa
phương, kèm theo đề cương nội dung kiểm tra công tác PCTT-TKCN.
- Tham mưu tổ chức nạo vét luồng lạch, cảng cá, âu
tránh bão và đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cảng cá, khu neo đậu, âu tránh bão đảm
bảo an toàn cho tàu cá...; phối hợp đào tạo, cấp chứng chỉ hành nghề cho thuyền
trưởng, máy trường tàu cá và ngành khai thác, chế biến, nuôi trồng thủy sản.
- Tăng cường các biện pháp bảo vệ, phát triển rừng,
đặc biệt là rừng phòng hộ, rừng đặc dụng đầu nguồn trên tuyến biên giới, bờ biển;
tích cực hưởng ứng chương trình trồng 01 tỷ cây xanh và tham gia củng cố các Tổ
thường trực PCCCR tại các xã, phường biên giới.
6. Sở Tài nguyên và Môi trường
- Tăng cường kiểm tra, quản lý chặt chẽ việc khai
thác tài nguyên, khoáng sản để hạn chế tối đa rủi ro, thiệt hại; sẵn sàng
phương tiện, vật tư, thiết bị, hoá chất tham gia xử lý môi trường sau thiên tai
khi có yêu cầu; phối hợp với Bộ Chỉ huy BĐBP tỉnh và các đơn vị liên quan triển
khai thực hiện tốt công tác ƯPSCTD.
- Chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan tham
mưu, trình UBND tỉnh phê duyệt kế hoạch phát triển mạng lưới trạm khí tượng thủy
văn chuyên dùng phục vụ phát triển KT-XH, QP-AN và PCTT.
7. Sở Thông tin và Truyền thông
- Chủ trì, phối hợp với BĐBP tỉnh, các ngành xây dựng
và triển khai phương án đảm bảo thông tin phục vụ chỉ huy, chỉ đạo PCTT-TKCN,
nhất là khi xảy ra lũ quét, sạt lở đất, ngập lụt kéo dài và tình huống TKCN phức
tạp trên biển.
- Chỉ đạo, hướng dẫn các cơ quan thông tấn báo chí,
Đài PT và TH tỉnh, Đài TT và TH cấp huyện, hệ thống thông tin cơ sở đẩy mạnh
tuyên truyền, phổ biến chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước,
gương điển hình, việc làm sáng tạo trong PCTT-TKCN.
- Tăng cường quản lý nhà nước về thông tin truyền
thông, đặc biệt là trên mạng xã hội khi thiên tai diễn biến phức tạp, kịp thời
định hướng dư luận, ngăn chặn, xử lý các tổ chức, cá nhân thông tin sai sự thật,
kích động nhân dân gây bất ổn tình hình.
- Phối hợp với các sở, ngành, địa phương tập huấn,
hướng dẫn các biện pháp đảm bảo thông tin trong PCTT-TKCN cho nhân dân, nhất là
ngư dân và nhân dân đang sinh sống trong vùng nguy cơ cao xảy ra lũ quét, sạt lở
đất, ngập lụt kéo dài.
8. Sở Kế hoạch và Đầu tư
Căn cứ nguồn vốn và khả năng cân đối vốn, tham mưu
cấp có thẩm quyền bố trí vốn trong kế hoạch đầu tư công trung hạn và hàng năm để
thực hiện các dự án phòng ngừa, ứng phó, khắc phục sự cố thiên tai theo quy định
của pháp luật về đầu tư công. Tham mưu lồng ghép nội dung phòng, chống thiên
tai vào kế hoạch phát triển KT-XH 5 năm và hàng năm của tỉnh.
9. Sở Giao thông vận tải
- Chủ trì, phối hợp với UBND các huyện, thành phố,
thị xã và các cơ quan, đơn vị liên quan triển khai phương án đảm bảo an toàn
giao thông tại các tuyến đường được giao quản lý; chuẩn bị nhân lực, phương tiện,
trang thiết bị chuyên ngành để sẵn sàng huy động ứng cứu phục vụ PCTT - TKCN
khi có lệnh điều động của cấp trên.
- Rà soát quy hoạch, kế hoạch và tham mưu, chỉ đạo
phát triển hạ tầng giao thông tuyến biên giới, vùng biển phù hợp với kế hoạch
PCTT-TKCN, hạn chế làm gia tăng rủi ro thiên tai, nhất là lũ, ngập lụt và sạt lở
đất.
- Phối hợp UBND các huyện, thành phố, thị xã và các
cơ quan, đơn vị liên quan rà soát, xác định các điểm, tuyến đường được giao quản
lý thường xuyên ngập lụt, sạt lở đất để chủ động triển khai các giải pháp khắc
phục; thống kê, tổng hợp vật tư dự trữ, phương tiện, lực lượng tại chỗ của các
địa phương, các cơ quan đơn vị liên quan đóng trên địa bàn đê tham mưu điều động
tham gia xử lý khi có sự cố về giao thông.
- Hướng dẫn các chủ đầu tư các dự án, công trình
giao thông trong KVBG có các phương án khảo sát để hạn chế tối đa sự thay đổi về
địa hình, sông suối biên giới.
10. Sở Công Thương
- Xây dựng, bổ sung các phương án, kế hoạch
PCTT-TKCN theo chức năng, nhiệm vụ của ngành; hàng năm trước mùa mưa bão tăng
cường kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn công tác chuẩn bị ứng phó thiên tai các cơ sở,
công trình trên địa bàn do ngành quản lý, đặc biệt là các đơn vị quản lý, vận
hành lưới điện, chủ sở hữu đập, hồ chứa thủy điện.
- Chỉ đạo giám sát, vận hành an toàn hồ đập thủy điện;
phối hợp với Sở Nông nghiệp và PTNT tham mưu UBND tỉnh không tích nước đối với
hồ không đảm bảo an toàn; giám sát việc lắp đặt hệ thống theo dõi, cung cấp số
liệu cho các đơn vị chức năng về thông tin cảnh báo an toàn cho hạ du khi xả
lũ.
- Kiểm tra và triển khai các kế hoạch, phương án dự
trữ hàng hóa, vật tư, nhu yếu phẩm thiết yếu, nhất là khu vực trọng điểm, vùng
sâu, xa, dễ bị chia cắt; phối hợp với chính quyền cơ sở, các đơn vị BĐBP thực
hiện tốt kế hoạch dự trữ tại chỗ, phương án bình ổn giá thị trường khi thiên
tai xảy ra.
- Trước khi mưa, bão, lũ... xảy ra yêu cầu các công
trình (hồ, đập thủy điện...) đang xây dựng dừng hoạt động thi công, di dời người,
thiết bị về vị trí an toàn, tránh để xảy ra sự cố đáng tiếc; sẵn sàng lực lượng,
phương tiện tham gia thực hiện nhiệm vụ khi có yêu cầu.
11. Sở Tư pháp
Phối hợp với các sở, ngành, địa phương tuyên truyền,
phổ biến pháp luật về PCTT-TKCN và các nội dung trong phạm vi Đề án; tham mưu
kiện toàn, bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên các
cấp để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến pháp luật tại các huyện,
thị xã, thành phố biên giới, bờ biển; đẩy mạnh hoạt động trợ giúp pháp lý cho
các tổ chức, cá nhân về công tác PCTT-TKCN; quản lý, khai thác có hiệu quả hệ
thống tủ sách pháp luật các cấp, nâng cao ý thức thượng tôn pháp luật cho cộng
đồng.
12. Sở Tài chính
Hàng năm, căn cứ khả năng cân đối ngân sách, chủ
trì phối hợp với Bộ Chỉ huy BĐBP tỉnh và các đơn vị có liên quan thẩm định dự
toán kinh phí thực hiện Đề án báo cáo cấp có thẩm quyền theo phân cấp để thực
hiện theo quy định.
13. Sở Y tế
- Xây dựng phương án dự phòng đầy đủ các cơ số thuốc,
dụng cụ y tế PCTT; phương án tổ chức ứng cứu, thành lập các đội cứu thương, tải
thương sẵn sàng làm nhiệm vụ khi có thiên tai; hướng dẫn công tác vệ sinh môi
trường và tham gia phòng, chống dịch bệnh trong và sau thiên tai.
- Phối hợp với các sở, ngành, địa phương tổ chức tập
huấn nghiệp vụ công tác đảm bảo y tế và xử lý tình huống trong PCTT, khắc phục
hậu quả.
14. Sở Ngoại vụ
Chủ trì, phối hợp với các sở, ngành, địa phương
liên quan thực hiện công tác đối ngoại của tỉnh trong hoạt động ƯPSCTT-TKCN; hướng
dẫn, triển khai thực hiện các điều ước quốc tế và làm tốt công tác bảo hộ công
dân khi có yêu cầu; gắn thực hiện Đề án với nhiệm vụ của đơn vị đảm bảo thiết
thực, hiệu quả.
15. Sở Xây dựng
Tăng cường công tác kiểm tra, tuyên truyền đến các
chủ thể tham gia hoạt động xây dựng thực hiện các biện pháp đảm bảo an toàn cho
người, thiết bị và công trình xây dựng, công trình khai thác trên địa bàn, đặc
biệt là trong mùa mưa bão; khuyến khích các đơn vị liên quan nghiên cứu ứng dụng
khoa học công nghệ sử dụng vật liệu mới, nhằm nâng cao khả năng chống chịu
thiên tai của hệ thống hạ tầng kỹ thuật, công trình PCTT và thích ứng với tác động
cực đoan mới của thiên tai.
16. Sở Lao động - Thương binh
và Xã hội
Chủ trì, phối hợp với BĐBP tỉnh, các sở, ban, ngành
và UBND các huyện, thị xã, thành phố hướng dẫn, kiểm tra, kịp thời giải quyết
chế độ chính sách cho lực lượng thực hiện nhiệm vụ ƯPSCTT-TKCN và các chính
sách khác theo quy định tại Nghị định số 20/2021/NĐ-CP ngày 15/3/2021 của Chính
phủ quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội.
17. Sở Khoa học và Công nghệ
Chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan tiếp tục
đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, đời
sống thích ứng với biến đổi khí hậu; tham mưu UBND tỉnh ưu tiên đặt hàng các
nhiệm vụ khoa học và công nghệ nghiên cứu, ứng dụng công nghệ viễn thám, tin học,
tự động hóa trong quản lý, khai thác, vận hành cơ sở dữ liệu, công cụ chỉ đạo,
điều hành công tác phòng, chống thiên tai.
18. Ban Dân tộc tỉnh
Chủ trì, phối hợp với các sở, ngành, UBND các huyện
có liên quan tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả Dự án 2 “Dự án bố trí, sắp
xếp ổn định dân cư vùng đặc biệt khó khăn, vùng biên giới, hộ dân tộc thiểu số
còn du canh, du cư, dân di cư tự do và những nơi cần thiết thuộc Chương trình mục
tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền
núi giai đoạn 2021-2030”.
19. Cảng vụ Hàng hải Nghệ An
- Duy trì thực hiện tốt quy định của pháp luật về
hàng hải và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; điều phối hoạt động
giao thông tại cảng biển, khu vực quản lý; huy động lực lượng, phương tiện thực
hiện công tác PCTT-TKCN hoặc xử lý sự cố ô nhiễm môi trường.
- Xây dựng phương án ƯPSCTT-TKCN, phương án điều động
tàu thuyền tránh trú bão; điều tra, xử lý sự cố, tai nạn hàng hải, sự cố tràn dầu,
ô nhiễm môi trường trong vùng nước cảng biển; đôn đốc thực hiện các biện pháp xử
lý, khắc phục hậu quả do thiên tai gây ra trong lĩnh vực hàng hải tại cảng biển.
- Phối hợp tuyên truyền, phổ biến pháp luật về an
toàn hàng hải và PCTT- TKCN; tham gia tập huấn, diễn tập và sẵn sàng lực lượng,
phương tiện thực hiện nhiệm vụ PCTT-TKCN khi có yêu cầu.
20. Đài Khí tượng Thủy văn khu
vực Bắc Trung Bộ
- Tổ chức quan trắc, đo đạc, dõi chặt chẽ, dự báo
và cung cấp thông tin kịp thời về tình hình thiên tai phục vụ công tác phòng
tránh, chỉ đạo ứng phó; nâng cao chất lượng công tác dự báo, cảnh báo kịp thời,
chính xác diễn biến đối với từng đợt thiên tai để tham mưu cho Ban Chỉ huy
PCTT-TKCN và PTDS tỉnh trong công tác chỉ đạo, điều hành.
- Tranh thủ sự hỗ trợ của các bộ, ngành để tăng cường
năng lực dự báo, cảnh báo, bổ sung trang thiết bị, ứng dụng công nghệ mới trong
công tác khí tượng thủy văn, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ
chuyên môn, bổ sung các Trạm quan trắc đo mực nước trên sông, suối biên giới.
Tuyên truyền, khuyến khích các tổ chức, cá nhân tham gia quan trắc, dự báo, cảnh
báo khí tượng thủy văn. Rà soát, cập nhật kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển
dâng, dự báo dài hạn về thiên tai, nguồn nước.
21. Đài Thông tin Duyên hải Bến
Thủy
- Duy trì hiệu quả mạng thông tin 02 chiều giữa tàu
với bờ, kịp thời thông báo, cảnh báo tình hình thiên tai, thời tiết trên biển
cho ngư dân phòng tránh; tổ chức trực canh cấp cứu khẩn cấp 24/7 sẵn sàng tiếp
nhận thông tin TKCN và cung cấp cho lực lượng chức năng, chính quyền địa phương
xử lý, ứng cứu kịp thời.
- Triển khai tốt các giải pháp về thông tin đảm bảo
an toàn cho người, phương tiện hoạt động trên biển; phối hợp với Bộ Chỉ huy
BĐBP tỉnh tổ chức tập huấn, phổ biến kiến thức, kỹ năng ứng phó thiên tai, đảm
bảo an toàn cho ngư dân, thu thập, xử lý hiệu quả thông tin TKCN trên biển.
22. UBND các huyện (thị xã)
biên giới, ven biển
- Xây dựng kế hoạch thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ
của Đề án và các chương trình, đề án, dự án PCTT-TKCN thuộc trách nhiệm quản lý
của địa phương; thường xuyên rà soát các địa bàn, khu vực nguy cơ xảy ra sự cố,
thiên tai để điều chỉnh, bổ sung kế hoạch, phương án sát thực tế.
- Tuyên truyền, phổ biến cho nhân dân chấp hành tốt
chủ trương của Đảng, pháp luật Nhà nước về PCTT-TKCN, bảo vệ tài nguyên, môi
trường phục vụ phát triển bền vững; nâng cao nhận thức cho cộng đồng và quản lý
rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng, chú trọng xây dựng lực lượng cơ sở theo
phương châm 4 tại chỗ.
- Nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý nhà nước về
PCTT-TKCN, xây dựng kế hoạch, phương án đảm bảo an toàn, an ninh cho các hoạt động
phát triển KT- XH phù hợp tình hình thiên tai; phát hiện, xử lý nghiêm các hành
vi vi phạm trong lĩnh vực PCTT-TKCN theo thẩm quyền.
- Tăng cường xây dựng, củng cố lực lượng nòng cốt,
xung kích PCTT- TKCN tại địa phương (Đội Thường trực, Đội xung kích PCTT, Đội
tàu TKCN trên biển, Trung đội Dân quân cơ động, Tổ tàu thuyền đoàn kết, Tổ thường
trực PCCCR...), đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; có cơ chế, chính sách hỗ trợ kinh
phí, vật tư cho lực lượng nòng cốt, xung kích để thu hút nguồn lực tại chỗ.
- Thực hiện tốt phương châm 4 tại chỗ; xây dựng
phương án đảm bảo thông tin chỉ huy, điều hành PCTT-TKCN. Tăng cường quản lý
người, phương tiện ra vào biên giới, vùng biển và phân cấp quản lý tàu cá theo
Quyết định số 35/2019/QĐ-UBND của UBND tỉnh; khuyến khích ngư dân chuyển đổi
nghề, đóng mới tàu cá công suất lớn vươn khơi sản xuất, khẳng định chủ quyền và
tham gia CNCH. Chỉ đạo UBND cấp xã tăng cường quản lý nhà nước về PCTT- TKCN, củng
cố, kiện toàn Đội xung kích PCTT đảm bảo số lượng, chất lượng đủ sức hoàn thành
nhiệm vụ; có chế độ, chính sách hỗ trợ tổ chức, cá nhân trực tiếp làm nhiệm vụ.
- Đầu tư xây dựng, nâng cấp hạ tầng giao thông,
công trình PCTT, tránh lũ tập trung, khu neo đậu, âu tránh bão, cảng cá, bến
cá; bảo vệ và phát triển rừng, củng cố đê điều, cải tạo công trình thủy lợi, nạo
vét cửa sông, cửa lạch; đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án phát triển kinh tế
- xã hội trên địa bàn.
- Bố trí kinh phí cho các ngành chức năng thực hiện
các nhiệm vụ của Đề án tại địa phương
23. Các đoàn thể, tổ chức
chính trị - xã hội; các sở, ban, ngành cấp tỉnh có liên quan
Theo chức năng, nhiệm vụ triển khai thực hiện có hiệu
quả nội dung Đề án, gắn nhiệm vụ Đề án với nhiệm vụ của đơn vị; tuyên truyền, vận
động nhân dân tích cực tham gia phòng ngừa, ứng phó, khắc phục sự cố, thiên tai
và TKCN đảm bảo an toàn cho cộng đồng, phát triển KT-XH, củng cố QP-AN; triển
khai có hiệu quả các kế hoạch tuyên truyền, tập huấn nâng cao năng lực cho lực
lượng làm công tác PCTT; kêu gọi, vận động các tổ chức, cá nhân trong nước và
quốc tế hỗ trợ các địa phương chung tay khắc phục hậu quả thiên tai; tổ chức cấp
phát nguồn cứu trợ đúng đối tượng, đảm bảo khách quan, minh bạch, góp phần ổn định
đời sống nhân dân.
Hàng năm, các sở, ban, ngành, đoàn thể cấp tỉnh và
UBND cấp huyện biên giới, ven biển xây dựng Kế hoạch triển khai thực hiện Đề
án, gửi về UBND tỉnh (qua Bộ Chỉ huy BĐBP tỉnh) trước 15/02 để theo dõi, chỉ đạo;
định kỳ 06 tháng (trước 15/6) và 01 năm (trước 15/12) báo cáo kết quả thực hiện
về Bộ Chỉ huy BĐBP tỉnh để tổng hợp báo cáo Tỉnh ủy, UBND tỉnh.
Giao Bộ Chỉ huy BĐBP tỉnh chủ trì, phối hợp với các
sở, ban, ngành, đoàn thể cấp tỉnh, UBND các huyện biên giới, thị xã, thành phố
ven biển triển khai thực hiện Đề án và tổng hợp báo cáo theo quy định./.