|
Kính gửi:
|
- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính
phủ;
- Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh;
- Đại học Quốc gia Hà Nội;
- Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam;
- Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
|
Thực hiện nhiệm vụ được phân công tại điểm
b khoản 1 Thông báo Kết luận số 25-TB/TGV ngày 24/5/2025 của Lãnh đạo Ban
Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển
đổi số về việc hướng dẫn triển khai cơ chế tài chính đối với các nội dung chi
trong mô hình hợp tác “3 nhà”; Bộ Tài chính có ý kiến như sau:
1. Mô hình hợp tác 3 nhà “Nhà nước - nhà trường -
nhà doanh nghiệp” là một chiến lược hợp tác quan trọng, đặc biệt trong lĩnh vực
khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và đào tạo nguồn nhân lực. Mô hình này tập
trung vào việc kết nối, phối hợp ba bên để đạt được các mục tiêu chung, như
nâng cao chất lượng đào tạo, thúc đẩy nghiên cứu và phát triển, và đáp ứng nhu
cầu của thị trường lao động. Theo đó, đề nghị các bộ, cơ quan trung ương, các địa
phương và doanh nghiệp nâng cao vai trò, trách nhiệm của các cấp, các ngành,
các cơ quan, đơn vị, tổ chức, phất là người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, đoàn
thể trong việc lãnh đạo, chỉ đạo triển khai mô hình hợp tác “3 nhà” đảm bảo hiệu
quả.
2. Triển khai các Nghị quyết[1] của Bộ Chính trị và Quốc hội về phát triển khoa học, công
nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia và phát triển kinh tế tư nhân,
Chính phủ đã triển khai xây dựng các cơ chế, chính sách nhằm hỗ trợ, khuyến
khích việc kết nối hợp tác “3 nhà” như sau:
2.1. Nghị định số 88/2025/NĐ-CP ngày 13/4/2025 của
Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Nghị quyết số
193/2025/QH15 đã quy định về thí điểm cơ chế, chính sách đặc biệt tạo đột phá
phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số với nhiều điểm
mới quan trọng, nhiều chính sách ưu đãi vượt trội như: (1) Chấp nhận rủi ro
trong nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; (2) Lập dự toán, phân bổ và
quyết toán kinh phí theo cơ chế quỹ tạo thông thoáng cho các tổ chức khoa học,
đơn vị nghiên cứu gắn với vai trò quản lý của cơ quan quản lý về khoa học công
nghệ; (3) Hướng dẫn về chi phí được trừ để xác định thu nhập chịu thuế đối với
hoạt động nghiên cứu của doanh nghiệp....
Về nội dung, định mức chi làm cơ sở xây dựng dự
toán kinh phí thực hiện các nhiệm vụ khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo
(trong đó bao gồm các nhiệm vụ hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp, viện
nghiên cứu), đề nghị thực hiện theo quy định tại Thông tư số 03/2023/TT-BTC
ngày 10/01/2023 của Bộ Tài chính quy định lập dự toán, quản lý sử dụng và quyết
toán kinh phí ngân sách nhà nước thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ và
Thông tư số 02/2023/TT-BKHCN ngày 08/5/2023 của Bộ Khoa học và Công nghệ hướng
dẫn một số nội dung chuyên môn phục vụ công tác xây dựng dự toán thực hiện nhiệm
vụ khoa học và công nghệ có sử dụng ngân sách nhà nước và các văn bản quy định
pháp luật khác có liên quan. Việc quản lý, sử dụng kinh phí sau khi được cấp có
thẩm quyền giao dự toán thực hiện theo cơ chế khoán kinh phí thực hiện nhiệm vụ
theo quy định của pháp luật về khoa học và công nghệ.
2.2. Bên cạnh đó, các chính sách ưu đãi thuế đã được
quy định tại các luật thuế và thuộc thẩm quyền của Quốc hội. Triển khai thực hiện
Nghị quyết 57-NQ/TW, Bộ Tài chính đã khẩn trương nghiên cứu, trình Quốc hội
thông qua các Luật thuế, trong đó đã quy định cụ thể lĩnh vực, địa bàn ưu đãi
thuế, trong đó có các chính sách cụ thể cho lĩnh vực giáo dục và đào tạo, lĩnh
vực khoa học và công nghệ và một số chính sách mới, đặc thù mới, vượt trội nhằm
khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, hợp
tác với viện, trường trong hoạt động nghiên cứu, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng
cao (chi tiết tai Phụ lục kèm theo).
2.3. Về mua sắm công, Quốc hội đã thông qua dự án
Luật sửa đổi 08 Luật ngành tài chính tại kỳ họp thứ 9 khoá XV (có hiệu lực từ
ngày 01/7/2025). Trong đó, nội dung sửa đổi Luật Đấu thầu đã tập trung vào tháo
gỡ các điểm nghẽn trong mua sắm công để thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột
phá phát triển khoa học công nghệ và chuyển đổi số; đơn giản hoá quy trình, thủ
tục, rút ngắn thời gian trong đấu thầu; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền để tiếp tục
tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, tạo sự linh hoạt trong lựa chọn nhà thầu, trong đó
mở rộng các trường hợp chỉ định thầu, đặt hàng, lựa chọn nhà thầu trong trường
hợp đặc biệt cho các gói thầu (bao gồm nhiệm vụ nghiên cứu khoa học trọng điểm,
quan trọng quốc gia); đồng thời, các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học trọng điểm,
quan trọng quốc gia là hàng hóa, dịch vụ được đặt hàng.
2.4. Về cơ chế hợp tác công tư: Bộ Tài chính đã chủ
trì trình Chính phủ ban hành Nghị định về cơ chế, chính sách hợp tác công tư
trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Trong đó
đã có quy định về hợp tác giữa Nhà nước, tổ chức khoa học công nghệ và doanh
nghiệp.
3. Đối với lĩnh vực giáo dục, hiện nay, Luật Giáo dục
Đại học sửa đổi nhằm hoàn thiện khung pháp lý[2] để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, các vấn đề về
nghiên cứu khoa học; chính sách “Đẩy mạnh vai trò của doanh nghiệp và tăng cường
hợp tác quốc tế trong giáo dục nghề nghiệp” là một trong năm chính sách cơ bản
đang được nghiên cứu trong quá trình xây dựng Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi)
thể hiện rõ hơn việc ưu đãi, hỗ trợ doanh nghiệp tham gia trong quá trình đào tạo
nguồn nhân lực chất lượng cao. Ngoài ra, hiện nay Bộ GD&ĐT đang xây dựng dự
thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 109/2022/NĐ-CP
ngày 30/12/2022 quy định về hoạt động KH&CN trong cơ sở giáo dục đại học.
Do đó, đề nghị các bộ, cơ quan, đơn vị đề xuất các nội dung cụ thể về mô hình hợp
tác giữa “3 nhà” gửi Bộ GD&ĐT trong quá trình sửa đổi các Luật nêu trên,
trong đó cần xác định rõ vai trò dẫn dắt, kiến tạo của Nhà nước trong liên kết
3 Nhà, làm rõ mô hình hoạt động, trách nhiệm và quyền lợi của các bên tham gia
đảm bảo hiệu quả, thiết thực.
Trên cơ sở các cơ chế, chính sách hiện hành, đề nghị
các Bộ, cơ quan quản lý lĩnh vực chủ động rà soát, nghiên cứu, chủ trì ban hành
hướng dẫn theo thẩm quyền góp phần đẩy mạnh việc triển khai thực hiện mô hình hợp
tác “3 nhà”.
Trường hợp có vướng mắc trong quá trình thực hiện,
đề nghị các Bộ, cơ quan, địa phương có văn bản gửi Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ
Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tài chính tổng hợp các nội dung cần có hướng dẫn báo
cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định theo quy định.
Trên đây là ý kiến của Bộ Tài chính, trân trọng gửi
tới các Quý cơ quan, đơn vị để triển khai thực hiện mô hình hợp tác “3 nhà”
theo đúng nhiệm vụ, mục tiêu đã được phê duyệt./.
|
Nơi nhận:
- Như trên;
- Văn phòng Trung ương Đảng (để báo cáo);
- Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo TW về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới
sáng tạo và chuyển đổi số;
- Bộ trưởng (để báo cáo);
- Các Vụ: NSNN, PC;
- Các Cục: QLĐT, DNTN, DNNN, QLCS, CST;
- Lưu: VT, KTN (5b)
|
KT. BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG
Bùi Văn Khắng
|
PHỤ LỤC
CÁC CHÍNH SÁCH ƯU ĐÃI THUẾ
(Kèm theo văn bản số 9689/BTC-KTN ngày 30/6/2025 của Bộ Tài chính)
1. Các Luật thuế hiện hành quy định cụ thể lĩnh vực,
địa bàn ưu đãi thuế, trong đó lĩnh vực giáo dục và đào tạo luôn được ưu tiên áp
dụng các chính sách ưu đãi thuế cao nhất trong khuôn khổ pháp luật về thuế nhằm
khuyến khích phát triển lĩnh vực này, cụ thể:
- Luật Thuế Thu nhập doanh nghiệp (TNDN) quy định
áp dụng thuế suất ưu đãi 10% trong suốt thời gian hoạt động dốt với thu nhập của
doanh nghiệp từ thực hiện hoạt động xã hội hóa trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo.
Đồng thời, trường hợp doanh nghiệp thực hiện dự án đầu tư mới trong lĩnh vực xã
hội hóa giáo dục và đào tạo tại địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn hoặc
đặc biệt khó khăn thì được miễn thuế 4 năm và giảm 50% số thuế phải nộp tối đa
trong 9 năm tiếp theo; doanh nghiệp thực hiện dự án đầu tư mới trong lĩnh vực
xã hội hóa giáo dục và đào tạo tại địa bàn khác thì được miễn thuế 4 năm và giảm
50% so thuế phải nộp tối đa trong 5 năm tiếp theo.
Ngoài ra, Luật Thuế THNDN cùng quy định miễn thuế
TNDN đối với: Phần thu nhập không chia của cơ sở thực hiện xã hội hóa trong
lĩnh vực giáo dục và đào tạo để lại để đầu tư phát triển cơ sở đó theo quy định
của luật chuyên ngành; khoản tài trợ nhận được để sử dụng cho hoạt động giáo dục,
nghiên cứu khoa học. Đối với doanh nghiệp, tổ chức thực hiện chi tài trợ cho
giáo dục theo quy định thì cùng được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu
nhập chịu thuế TNDN.
Tại Luật Thuế TNDN số 67/2025/QH15 được Quốc hội
thông qua ngày 14/6/2025 tiếp tục giữ các mức ưu đãi cao nhất đối với lĩnh vực
giáo dục và đào tạo, đồng thời bổ sung một số chính sách đột phá, thúc đẩy phát
triển giáo dục và đào tạo, cụ thể bổ sung quy định miễn, giảm thuế đối với đơn
vị sự nghiệp công lập như sau:
(i) Bổ sung quy định về miễn thuế đối với thu nhập
của đơn vị sự nghiệp công lập từ cung cấp dịch vụ sự nghiệp công, bao gồm: Dịch
vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu thuộc danh mục dịch vụ sự nghiệp công sử dụng
ngân sách nhà nước do cơ quan có thẩm quyền ban hành; Dịch vụ sự nghiệp công mà
Nhà nước phải hỗ trợ, đảm bảo kinh phí hoạt động do chưa tính đủ chi phí cung cấp
dịch vụ trong trong giá dịch vụ; Dịch vụ sự nghiệp công tại địa bàn có điều kiện
kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn;
(ii) Bổ sung quy định về việc giảm 50% số thuế phải
nộp đối với thu nhập của đơn vị sự nghiệp công lập từ hoạt động cung cấp dịch vụ
sự nghiệp công tại địa bàn có điều kiện KT-XH khó khăn
(iii) Bổ sung quy định miễn thuế TNDN đối với tổ chức
khoa học và công nghệ công lập, cơ sở giáo dục đại học công lập không vì mục
tiêu lợi nhuận theo quy định của Chính phủ.
- Theo quy định của Luật Thuế giá trị gia tăng
(GTGT) thì hầu hết hàng hóa, dịch vụ thuộc lĩnh vực giáo dục và đào tạo thuộc đối
tượng không chịu thuế GTGT bao gồm: Dạy học, dạy nghề; Hoạt động xuất bản, nhập
khẩu, phát hành báo. tạp chí, bản tin chuyên ngành, sách chính trị, sách giáo
khoa, giáo trình, sách văn bản pháp luật, sách khoa học - kỹ thuật... qua đó
góp phần giảm chi phí, giá thành của các sản phẩm, dịch vụ giáo dục.
- Theo quy định của các Luật Thuế xuất khẩu, thuế
nhập khẩu, Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp thì chính sách ưu đãi các sắc
thuế này được áp dụng căn cứ theo ngành nghề ưu đãi đầu tư và địa bàn ưu đãi đầu
tư theo quy định của pháp luật đầu tư, trong đó giáo dục và đào tạo là ngành
nghề ưu đãi đầu tư và được áp dụng các chính sách ưu đãi như miễn thuế nhập khẩu
để tạo tài sản cố định của đối tượng được hưởng ưu đãi đầu tư; miễn thuế nhập
khẩu đối với hàng hóa nhập khẩu chuyên dùng trong nước chưa sản xuất được phục
vụ cho giáo dục và đào tạo; miễn thuế sử dụng đất phi nông nghiệp đối với đất của
cơ sở thực hiện xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục và đào
tạo;...
2. Thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024
của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và
chuyển đổi số quốc gia, thực hiện Nghị quyết số 03/NQ-CP ngày 09/01/2025 của
Chính phủ về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số
57-NQ/TW của Bộ Chính trị, ngoài việc tiếp tục duy trì các chính sách ưu đãi về
thuế ở mức cao nhất trong khuôn khổ pháp luật về thuế đối với lĩnh vực khoa học
và công nghệ, để tiếp tục thúc đẩy phát triển các lĩnh vực ưu tiên theo chủ
trương, định hướng của Đảng và Nhà nước, thực hiện Đề án định hướng Chương
trình xây dựng pháp luật nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV, Bộ Tài chính đã nghiên cứu,
rà soát tổng thể các Luật thuế, báo cáo Chính phủ, trình Ủy ban Thường vụ Quốc
hội (UBTVQH), Quốc hội xem xét quyết định sửa đổi, bổ sung, trong đó, đã đề xuất
bổ sung một số chính sách ưu đãi thuế cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo,
chuyển đổi số quốc gia và thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao, cụ thể:
- Về thuế TNDN: Luật Thuế TNDN số 67/2025/QH15 (đã
được Quốc hội thông qua vào ngày 14/6/2025) ngoài việc tiếp tục duy trì các
chính sách ưu đãi về thuế ở mức cao nhất trong khuôn khổ pháp luật về thuế đối
với lĩnh vực khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo để tiếp tục thúc đẩy,
phát triển các lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương, định hướng của Đảng và Nhà nước
còn bổ sung các quy định sau để triển khai có hiệu quả Nghị quyết số 57-NQ/TW của
Bộ Chính trị, cụ thể:
(i) Bổ sung khoản tài trợ cho nghiên cứu khoa học,
phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số là khoản chi được trừ
khi tính thuế TNDN.
(ii) Bổ sung khoản chi cho nghiên cứu khoa học,
phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trong doanh nghiệp là khoản
chi được trừ khi tính thuế TNDN.
(iii) Bổ sung quy định giao “Chính phủ quy định
mức chi bổ sung, điều kiện và phạm vi áp dụng đối với khoản chi cho hoạt động
nghiên cứu và phát triển của doanh nghiệp” để có cơ sở pháp lý cho Chính phủ
quy định mức chi bổ sung cụ thể, phù hợp với tình hình thực tiễn trong từng thời
kỳ.
(iv) Bổ sung khoản tài trợ từ doanh nghiệp không có
mối quan hệ liên kết, tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước cho hoạt động
nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số;
khoản thu nhập từ việc thực hiện hợp đồng nghiên cứu khoa học, phát triển công
nghệ và đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số là thu nhập được miễn thuế TNDN.
(v) Bổ sung một số lĩnh vực vào ngành, nghề ưu đãi
thuế để đột phá hơn so với quy định hiện hành của liên quan đến khoa học, công
nghệ và đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số như: ứng dụng công nghệ chiến lược theo
quy định của pháp luật; sản xuất sản phẩm công nghiệp hóa chất trọng điểm, sản
phẩm cơ khí trọng điểm; sản xuất sản phẩm an toàn thông tin mạng và cung cấp dịch
vụ an toàn thông tin mạng đảm bảo các điều kiện theo quy định của pháp luật về
an toàn thông tin mạng; sản xuất sản phẩm, cung cấp dịch vụ công nghệ số trọng
điểm, sản xuất thiết bị điện tử theo quy định của pháp luật về công nghiệp công
nghệ số; nghiên cứu và phát triển, thiết kế, sản xuất, đóng gói, kiểm thử sản
phẩm chip bán dẫn; xây dựng trung tâm dữ liệu trí tuệ nhân tạo; sản xuất quốc
phòng, an ninh và sản xuất sản phẩm động viên công nghiệp theo quy định của
pháp luật;...
Ngoài ra, tại Luật Thuế TNDN (sửa đổi) cũng đã quy
định doanh nghiệp được trích tối đa 20% thu nhập tính thuế thu nhập doanh nghiệp
để lập quỹ phát triển khoa học và công nghệ (tăng gấp đôi so với mức hiện hành
là 10%).
- Về thuế thu nhập cá nhân (TNCN):
Bộ Tài chính đã có Tờ trình số 73/TTr-BTC ngày
14/3/2025, Tờ trình số 125/TTr-BTC ngày 08/4/2025 trình Chính phủ về đề nghị
xây dựng dự án Luật Thuế TNCN (thay thế). Theo đề nghị của Văn phòng Chính phủ
tại công văn số 4091/VPCP-KTTH ngày 12/5/2025 về việc chuyển ý kiến các Thành
viện Chính phủ đối với đề nghị xây dựng Luật Thuế thu nhập cá nhân (thay thế) để
Bộ Tài chính tiếp thu, giải trình báo cáo Thủ tướng Chính phủ. Ngày 19/5/2025,
Bộ Tài chính đã có công văn số 6735/BTC-CST gửi Thủ tướng Chính phủ về việc tiếp
thu, giải trình ý kiến Thành viên Chính phủ về đề nghị xây dựng dự án Luật Thuế
TNCN (thay thế). Ngày 16/6/2025, Thường trực Chính phủ đã họp cho ý kiến về Hồ
sơ chính sách Luật Thuế TNCN (thay thế), Thực hiện Kết luận của Thường trực
Chính phủ tại cuộc họp về Hồ sơ chính sách Luật Thuế TNCN (thay thế) theo Thông
báo số 312/TB-VPCP ngày 20/6/2025 của Văn phòng Chính phủ, Bộ Tài chính đã có Tờ
trình Chính phủ số 316/TTr-BTC ngày 20/6/2025 trình Chính phủ chính sách của Luật
Thuế TNCN (thay thế), Tờ trình tóm tắt số 317/TTr-BTC, các Báo cáo số
261/BC-BTC, 262/BC-BTC, 263/BC-BTC và các tài liệu kèm theo. Ngày 21/6/2025,
Chính phủ đã tổ chức Phiên họp Chính phủ chuyên đề về xây dựng pháp luật tháng
6/2025, trong đó đã thảo luận về Hồ sơ chính sách Luật Thuế TNCN (thay thế).
Ngày 26/6/2025, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 191/NQ-CP, trong đó dự án
Luật Thuế TNCN (thay thế) dự kiến trình Quốc hội vào tháng 10/2025.
Tại Hồ sơ chính sách Luật Thuế TNCN (thay thế), Bộ
Tài chính báo cáo Chính phủ đề báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Quốc hội sửa
đổi tổng thể các quy định liên quan đến chính sách thuế TNCN, trong đó dự kiến
bổ sung các quy định:
(i) Bổ sung quy định giảm thuế TNCN đối với thu nhập
từ tiền lương, tiền công của các cá nhân là nhân lực công nghệ cao trong một số
lĩnh vực ưu tiên phát triển của Đảng và Nhà nước như khoa học, công nghệ, đổi mới
sáng tạo và chuyển đổi số.
(ii) Bổ sung nội dung quy định miễn thuế đối với thu
nhập từ tiền lương, tiền công từ thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng
ngân sách nhà nước quy định tại khoản 2 Điều 9 Nghị quyết số
193/2025/QH15 của Quốc hội về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc biệt tạo
đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc
gia.
(iỉi) Bổ sung nội dung quy định thu nhập từ công
tác xây dựng pháp luật theo quy định tại Nghị quyết này được miễn thuế TNCN quy
định tại khoản 4 Điều 7 Nghị quyết số 197/2025/QH15 của Quốc
hội một số cơ chế, chính sách đặc biệt tạo đột phá trong xây dựng và tổ chức
thi hành pháp luật.
(iv) Bổ sung quy định miễn thuế TNCN đối với khoản
thu nhập từ chuyển nhượng cổ phần, phần vốn góp, quyền góp vốn, quyền mua cổ phần,
quyền mua phần vốn góp vào doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo quy định tại khoản 2 Điều 10 Nghị quyết số 198/2025/QH15 của Quốc hội về một
số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân.
(v) Bổ sung quy định miễn thuế TNCN trong thời hạn
02 năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong 04 năm tiếp theo đối với thu nhập từ
tiền lương, tiền công của chuyên gia, nhà khoa học nhận được từ doanh nghiệp khởi
nghiệp sáng tạo, trung tâm nghiên cứu và phát triển, trung tâm đổi mới sáng tạo,
tổ chức trung gian hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quy định lại khoản 3 Điều 10 Nghị quyết số 198/2025/QH15 của Quốc hội.
- Về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu: Luật sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Đấu thầu; Luật Đầu tư theo phương thức đối tác
công tư; Luật Hải quan; Luật Thuế xuất khẩu, nhập khẩu; Luật Thuế giá trị gia
tăng; Luật Đầu tư; Luật Đầu tư công; Luật Quản lý sử dụng tài sản công vừa được
Quốc hội thông qua ngày 25/6/2025. Tại nội dung sửa đổi Luật Thuế xuất khẩu,
thuế nhập khẩu đã bổ sung quy định;
(i) Mở rộng quy định miễn thuế nhập khẩu đối với hàng
hóa nhập khẩu là máy móc, thiết bị, phụ tùng, vật tư chuyên dùng, tài liệu,
sách báo khoa học chuyên dùng sử dụng trực tiếp cho khoa học, công nghệ, đổi mới
sáng tạo, công nghiệp công nghệ số;
(ii) Bổ sung quy định miễn thuế nhập khẩu đối với
hàng hóa nhập khẩu để tạo tài sản cố định của dự án đầu tư để phát triển khoa học,
công nghệ, đổi mới sáng tạo, công nghiệp công nghệ số theo quy định của pháp luật
về đầu tư, pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo và pháp luật về
công nghiệp công nghệ số; dự án đầu tư bao gồm dự án đầu tư mới và dự án đầu tư
mở rộng;
(iii) Mở rộng quy định miễn thuế nhập khẩu trong thời
hạn 05 năm, kể từ khi bắt đầu nghiên cứu, sản xuất đối với nguyên liệu, vật tư,
linh kiện nhập khẩu để sản xuất, nghiên cứu của tổ chức khoa học và công nghệ,
doanh nghiệp công nghệ cao và doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư sản xuất
sản phẩm công nghệ cao đã được cấp Giấy chứng nhận theo quy định của pháp luật
về công nghệ cao, doanh nghiệp khoa học và công nghệ, trung tâm đổi mới sáng tạo;
(iv) Sửa đổi quy định miễn thuế đối với hàng hóa nhập
khẩu là nguyên liệu, vật tư, linh kiện trong nước chưa sản xuất được phục vụ trực
tiếp cho hoạt động sản xuất sản phẩm công nghệ số; nguyên liệu, vật tư, linh kiện
nhập khẩu để nghiên cứu, sản xuất thử nghiệm của trung tâm nghiên cứu và phát
triển.
3. Để triển khai Nghị quyết số 68-NQ/TW, Bộ Tài
chính cũng đã khẩn trương nghiên cứu, xây dựng và trình Chính phủ để trình Quốc
hội ban hành Nghị quyết số 198/2025/QH15 ngày 17/5/2025 một số cơ chế, chính
sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân để triển khai thực hiện có hiệu quả và
phát huy đúng theo tinh thần của Nghị quyết số 68-NQ/TW, tại Nghị quyết số
198/2025/QH15 quy định một số chính sách mới, đặc thù ngoài quy định của pháp
luật về thuế hiện hành, cụ thể:
(i) Miễn thuế TNCN, thuế TNDN đối với khoản thu nhập
từ chuyển nhượng cổ phần, phần vốn góp, quyền góp vốn, quyền mua cổ phần, quyền
mua phần vốn góp vào doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo;
(ii) Miễn thuế TNCN trong thời hạn 02 năm và giảm
50% số thuế phải nộp trong 04 năm tiếp theo đối với thu nhập từ tiền lương, tiền
công của chuyên gia, nhà khoa học nhận được từ doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo,
trung tâm nghiên cứu phát triển, trung tâm đổi mới sáng tạo, tổ chức trung gian
hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo;
(iii) Doanh nghiệp được trích tối đa 20% thu nhập
tính thuế TNDN để lập quỹ phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và
chuyển đổi số của doanh nghiệp.
(iv) Doanh nghiệp được tính vào chi phí được trừ để
xác định thu nhập chịu thuế đối với chi phí cho hoạt động nghiên cứu và phát
triển của doanh nghiệp bằng 200% chi phí thực tế của hoạt động này khi tính thuế
TNDN;
(v) Chi phí đào tạo và đào tạo lại nhân lực của
doanh nghiệp lớn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia chuỗi được tính vào chi
phí được trừ để xác định thu nhập chịu thuế khi tính thuế TNDN..../.
[1] Nghị
quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị; Nghị quyết số
193/2025/QH15 và Nghị quyết số 198/2025/QH15 của Quốc hội.
[2]
thúc đẩy tự chủ đại học, hiện đại hóa phát triển giáo dục đại học và phát triển
nguồn nhân lực chất lượng cao như kiến tại hệ thống quản trị đại học tiên tiến,
định vị cơ sở giáo dục đại học là trung tâm nghiên cứu, đổi mới sáng tạo quốc
gia, phát triển trung tâm đổi mới sáng tạo trong nhà trường, hỗ trợ doanh nghiệp
khởi nguồn, liên kết giữa nhà trường - doanh nghiệp - địa phương, huy động nguồn
lực ngoài ngân sách cho nghiên cứu và thương mại hóa kết quả nghiên cứu, chuyển
giao tri thức, phục vụ cộng đồng.