|
BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG
*
|
ĐẢNG
CỘNG SẢN VIỆT NAM
---------------
|
|
Số 225-QĐ/TW
|
Hà Nội, ngày 14 tháng 10 năm 2026
|
QUY ĐỊNH
VỀ CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT VÀ KỶ LUẬT CỦA
ĐẢNG
-----
- Căn cứ
Điều lệ Đảng;
- Căn cứ Quy
chế làm việc của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị và Ban Bí thư khoá XIV;
Ban Chấp
hành Trung ương Đảng ban hành Quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật
của Đảng như sau:
Chương I
QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng
1. Quy định này
quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng đối với các tổ chức
đảng và đảng viên trong việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị
quyết, chỉ thị, quy định, quyết định, quy chế, kết luận, hướng dẫn của Đảng,...
(gọi chung là chủ trương, quy định của Đảng), pháp luật của Nhà nước.
2. Quy định này
áp dụng đối với tổ chức đảng và đảng viên, bao gồm cả tổ chức đảng đã hết nhiệm
kỳ hoạt động, đã giải thể hoặc thay đổi do chuyển giao, chia tách, hợp nhất,
sáp nhập về mặt tổ chức; đảng viên đã chuyển công tác, nghỉ việc, nghỉ hưu.
3. Đối với
tổ chức đảng, đảng viên ở nước ngoài, thực hiện công tác kiểm tra, giám sát, kỷ
luật của Đảng theo Quy định này và các quy định của Bộ Chính trị, Ban Bí thư.
Điều 2. Nguyên tắc trong kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng
1. Kiểm
tra, giám sát là những chức năng lãnh đạo của Đảng. Tổ chức đảng phải tiến hành
công tác kiểm tra, giám sát và chấp hành việc kiểm tra, giám sát của cấp có thẩm
quyền. Tổ chức đảng và đảng viên phải thường xuyên tự kiểm tra, giám sát.
2. Tổ chức
đảng cấp trên kiểm tra, giám sát tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên. Tổ chức đảng,
đảng viên thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát theo sự phân công của tổ chức đảng
có thẩm quyền.
3. Công tác kiểm
tra, giám sát phải kịp thời phát hiện nhân tố mới tích cực để phát huy, phải bảo
vệ cái đúng, bảo vệ người tốt, cán bộ dám đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu
trách nhiệm, dám đột phá vì lợi ích chung; phải chủ động phát hiện sớm để phòng
ngừa, ngăn chặn và khắc phục khuyết điểm, vi phạm của tổ chức đảng và đảng viên
ngay từ khi còn mới manh nha, không để vi phạm nhỏ tích tụ thành sai phạm lớn,
kéo dài và lan rộng. Khi các vụ việc vi phạm được phát hiện, phải cương quyết xử
lý kỷ luật nghiêm minh, kịp thời để răn đe và giáo dục.
4. Tuân thủ
đúng nguyên tắc, quy trình, thủ tục, thẩm quyền, phương pháp công tác theo quy
định của Đảng; chủ động, kịp thời, công khai, dân chủ, khách quan, công tâm, thận
trọng, chặt chẽ, chính xác, nghiêm minh.
5. Mọi tổ
chức đảng và đảng viên đều bình đẳng trước kỷ luật của Đảng và đều phải chịu sự
kiểm tra, giám sát của Đảng, không có ngoại lệ. Việc xử lý kỷ luật phải gắn với
tăng cường giáo dục, quản lý, làm cho tổ chức đảng, đảng viên nhận thức được
khuyết điểm, vi phạm để khắc phục, sửa chữa và làm tốt hơn.
6. Nguyên tắc,
trình tự, thủ tục, thẩm quyền kỷ luật đảng được quy định tại Điều lệ Đảng, các
quy định, hướng dẫn của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy
ban Kiểm tra Trung ương. Mọi tổ chức đảng và đảng viên phải tuân thủ nhằm bảo đảm
việc thi hành kỷ luật tổ chức đảng và đảng viên được thống nhất, chặt chẽ, công
minh, chính xác, kịp thời.
Điều 3. Giải thích từ ngữ
Trong Quy định
này, những từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. Ủy ban kiểm
tra là tổ chức đảng, được lập từ đảng uỷ trực thuộc cơ sở trở lên, do cấp uỷ
cùng cấp bầu hoặc ban thường vụ cấp uỷ cấp trên trực tiếp chỉ định (trong trường
hợp tổ chức đảng thành lập mới, do chuyển giao, chia tách, hợp nhất, sáp nhập về
tổ chức, thực hiện công tác luân chuyển cán bộ ngành kiểm tra đảng hoặc thuộc
trường hợp thí điểm), gồm một số đồng chí trong cấp uỷ, ngoài cấp uỷ, các thành
viên Ủy ban hoạt động chuyên trách hoặc kiêm nhiệm.
2. Cơ quan Ủy ban
kiểm tra là cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp uỷ cùng cấp, cơ quan
tham mưu, giúp Ủy ban kiểm tra cùng cấp thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn về
công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng theo quy định của Điều lệ Đảng
và thực hiện các nhiệm vụ do cấp uỷ, ban thường vụ cấp uỷ cùng cấp giao; đồng
thời, là cơ quan chuyên môn, nghiệp vụ về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật
của cấp uỷ và Ủy ban kiểm tra.
3. Kiểm
tra của Đảng là việc các tổ chức đảng xem xét, đánh giá, kết luận về ưu điểm,
khuyết điểm hoặc vi phạm (nếu có) của cấp uỷ, tổ chức đảng cấp dưới và đảng
viên trong việc chấp hành chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
4. Giám sát của
Đảng là việc các tổ chức đảng quan sát, theo dõi, nắm bắt, xem xét, đánh giá, kết
luận hoạt động nhằm kịp thời nhắc nhở, chấn chỉnh để cấp uỷ, tổ chức đảng cấp
dưới và đảng viên được giám sát chấp hành nghiêm chủ trương, quy định của Đảng,
pháp luật của Nhà nước và khắc phục, sửa chữa hạn chế, khuyết điểm, vi phạm (nếu
có). Hình thức giám sát bao gồm giám sát thường xuyên và giám sát chuyên đề;
giám sát chuyên đề khi cần thiết thì thực hiện thẩm tra, xác minh.
5. Chủ thể
kiểm tra, giám sát gồm: Chi bộ, đảng uỷ bộ phận, ban thường vụ đảng uỷ, đảng uỷ
từ cấp trực thuộc cơ sở trở lên; Ủy ban kiểm tra; các ban đảng, văn phòng cấp uỷ
(gọi chung là các cơ quan tham mưu, giúp việc cấp uỷ).
6. Đối tượng
kiểm tra, giám sát bao gồm: Chi uỷ, chi bộ, đảng uỷ bộ phận, ban thường vụ đảng
uỷ, đảng uỷ từ cấp trực thuộc cơ sở trở lên; Ủy ban kiểm tra; các cơ quan tham
mưu, giúp việc của cấp uỷ; đảng viên.
7. Tố cáo
trong Đảng là việc công dân, đảng viên báo cho tổ chức đảng hoặc cán bộ, đảng
viên có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm chủ trương, quy định của Đảng, pháp
luật của Nhà nước của tổ chức đảng hoặc đảng viên mà người tố cáo cho là gây
thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại đến lợi ích của Đảng, Nhà nước, xâm phạm
quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức hoặc cá nhân.
8. Thi hành kỷ
luật đảng là việc các cấp uỷ, tổ chức đảng có thẩm quyền quyết định kỷ luật đối
với tổ chức đảng và đảng viên có vi phạm đến mức phải xử lý bằng một trong những
hình thức kỷ luật được quy định tại Khoản 2, Điều 35 Điều lệ Đảng.
9. Khiếu nại
kỷ luật đảng là việc tổ chức đảng, đảng viên bị thi hành kỷ luật thực hiện quyền
của mình theo quy định của Điều lệ Đảng và các quy định, hướng dẫn của Đảng, đề
nghị tổ chức đảng có thẩm quyền xem xét lại quyết định kỷ luật đảng khi có căn
cứ, cơ sở cho rằng quá trình kiểm tra, xem xét, quyết định kỷ luật đối với mình
chưa đúng với quy định của Đảng, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức
đảng hoặc đảng viên bị kỷ luật.
10. Khi có dấu
hiệu vi phạm của tổ chức đảng, đảng viên là khi có những thông tin, tài liệu,
phản ánh, đối chiếu cho thấy tổ chức đảng hoặc đảng viên không tuân theo, không
làm hoặc làm trái với chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
11. Kiểm
tra tài chính đảng là việc các tổ chức đảng có thẩm quyền xem xét, đánh giá, kết
luận về ưu điểm, khuyết điểm hoặc vi phạm (nếu có) của đối tượng kiểm tra trong
công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện các quy định của Đảng, pháp luật
của Nhà nước về quản lý tài chính, tài sản của Đảng.
12. Cơ quan kiểm
soát tài sản, thu nhập của Đảng là Ủy ban kiểm tra cấp uỷ cơ sở trở lên.
13. Kiểm
soát tài sản, thu nhập là hoạt động do Cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập thực
hiện theo quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước để biết rõ tài sản, thu nhập,
biến động về tài sản, thu nhập, nguồn gốc của tài sản, thu nhập tăng thêm,
nguyên nhân tài sản, thu nhập bị giảm của người có nghĩa vụ kê khai nhằm phòng
ngừa tham nhũng, phục vụ công tác cán bộ, kịp thời phát hiện tham nhũng, ngăn
chặn hành vi tẩu tán tài sản tham nhũng, thu hồi tài sản tham nhũng.
14. Xác minh tài
sản, thu nhập là việc Cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập kiểm tra, làm
rõ nội dung kê khai, kết luận về tính trung thực, đầy đủ, rõ ràng của bản kê
khai và tính trung thực trong việc giải trình về nguồn gốc của tài sản, thu nhập
tăng thêm và giảm đi của người có nghĩa vụ kê khai.
15. Nhiệm
vụ chuyên môn được giao là công việc thực hiện theo chức danh được chỉ định, bổ
nhiệm, bầu cử; theo vị trí việc làm, chức trách, cương vị công tác trong tổ chức,
cơ quan, đơn vị mà đảng viên đó là thành viên.
16. Nhiệm
vụ cấp uỷ giao là nhiệm vụ do cấp uỷ, ban thường vụ cấp uỷ (ở Trung ương là Bộ
Chính trị, Ban Bí thư) phân công cấp uỷ viên, đảng viên thực hiện theo quy định.
17. Nhiệm
vụ cấp trên giao là nhiệm vụ do cấp trên cử, phân công, giao cho tổ chức đảng,
cán bộ, đảng viên thực hiện trong hoặc ngoài phạm vi nhiệm vụ chuyên môn.
18. Chức vụ
trong Đảng bao gồm: Chức vụ do tổ chức đảng bầu, chỉ định hoặc bổ nhiệm đối với
đảng viên theo quy định của Đảng (kể cả chức vụ kiêm nhiệm).
19. Thời
hiệu xử lý kỷ luật của Đảng là thời hạn mà khi hết thời hạn đó, tổ chức đảng, đảng
viên có hành vi vi phạm không bị xử lý kỷ luật.
20. Thời hạn
kiểm tra, giám sát là thời gian được tính từ ngày chủ thể kiểm tra, giám sát
công bố quyết định kiểm tra, giám sát hoặc ngày nhận được báo cáo của đối tượng
kiểm tra, giám sát đến ngày kết thúc cuộc kiểm tra, giám sát đó.
21. Thời
gian kiểm tra, giám sát: Tính theo ngày làm việc, 1 năm tính đủ 12 tháng.
Chương II
CÔNG TÁC KIỂM
TRA, GIÁM SÁT CỦA ĐẢNG
Điều 4. Cấp uỷ, tổ chức đảng
1. Lãnh đạo,
chỉ đạo công tác kiểm tra, giám sát
1.1. Chủ
thể: Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cấp uỷ, ban thường vụ
cấp uỷ các cấp.
1.2. Nội
dung
a) Triển
khai, quán triệt chủ trương, quy định của Đảng, của cấp uỷ cấp trên và cấp mình
về công tác kiểm tra, giám sát.
b) Lãnh đạo,
chỉ đạo kiểm tra, giám sát tổ chức đảng, đảng viên chấp hành chủ trương, quy định
của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
c) Xây dựng
và chỉ đạo các cơ quan tham mưu, giúp việc cấp uỷ cùng cấp và cấp uỷ cấp dưới
xây dựng phương hướng, nhiệm vụ; phân công cấp uỷ viên, các cơ quan tham mưu,
giúp việc của cấp uỷ cùng cấp thực hiện công tác kiểm tra, giám sát. Chỉ đạo,
đôn đốc cấp uỷ cấp dưới thực hiện chương trình, kế hoạch kiểm tra, giám sát.
d) Ban hành các
văn bản theo thẩm quyền để các tổ chức đảng thực hiện nhiệm vụ kiểm tra,
giám sát và kỷ luật của Đảng và Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội,
Nhân dân tham gia giám sát, phản biện; đề xuất với cấp có thẩm quyền về những vấn
đề cần bổ sung, sửa đổi văn bản về công tác kiểm tra, giám sát của Đảng.
đ) Chỉ đạo
thực hiện việc phối hợp giữa Ủy ban kiểm tra với các cơ quan tham mưu, giúp việc
của cấp uỷ; giữa các cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp uỷ với các cơ quan
liên quan. Ban hành hoặc chỉ đạo ban hành quy chế phối hợp giữa Ủy ban kiểm tra
với các đảng uỷ công an, quân đội, thanh tra, kiểm toán nhà nước, viện kiểm
sát, toà án nhân dân cùng cấp và các tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị khác có liên
quan (do ban thường vụ cấp uỷ quyết định).
e) Nghe báo cáo
và chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng; giải
quyết kiến nghị của tổ chức đảng cấp dưới; định kỳ sơ kết, tổng kết về công tác
kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng.
g) Chỉ đạo
về tổ chức, hoạt động của Ủy ban kiểm tra, cơ quan Ủy ban kiểm tra, về xây dựng
đội ngũ cán bộ kiểm tra.
h) Chỉ đạo
tuyên truyền, phổ biến công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng.
2. Thực hiện
nhiệm vụ kiểm tra
2.1. Chủ
thể kiểm tra: Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư; cấp uỷ, ban
thường vụ cấp uỷ các cấp.
2.2. Đối
tượng kiểm tra
2.2.1. Tổ
chức đảng thuộc phạm vi quản lý, trước hết là cấp uỷ, ban thường vụ cấp uỷ, tổ
chức đảng cấp dưới trực tiếp; các cơ quan tham mưu, giúp việc cấp uỷ.
2.2.2. Đảng
viên thuộc phạm vi quản lý, trước hết là cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí
thư, cấp uỷ hoặc ban thường vụ cấp uỷ cấp mình quản lý, cán bộ giữ cương vị chủ
chốt hoặc được giao các nhiệm vụ quan trọng.
2.3. Nội
dung kiểm tra
2.3.1. Đối
với tổ chức đảng
a) Việc chấp
hành chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
b) Việc chấp
hành các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, giữ gìn đoàn kết nội bộ, quy
chế làm việc, chế độ công tác, thực hiện dân chủ trong Đảng.
c) Việc
lãnh đạo, chỉ đạo thực hành tiết kiệm; phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu
cực; quản lý, rèn luyện phẩm chất, đạo đức, lối sống của đảng viên.
d) Việc
lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện chuyển đổi số, cải cách hành chính, cải
cách pháp luật và tư pháp.
đ) Việc
lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan bảo vệ pháp luật trong công tác điều tra, truy tố,
xét xử, thi hành án.
e) Việc tuyển
dụng, tiếp nhận, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá, luân chuyển, điều động,
biệt phái, chuyển đổi vị trí công tác, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, nâng ngạch, chuyển
ngạch, bố trí, sử dụng, giới thiệu ứng cử, bầu cử, khen thưởng, kỷ luật cán bộ,
thực hiện chính sách cán bộ.
g) Việc
lãnh đạo, chỉ đạo và giải quyết khiếu nại, tố cáo.
h) Việc
lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện kê khai, công khai, kiểm soát tài sản,
thu nhập của cán bộ, đảng viên.
i) Việc
lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện các quy định về phát huy vai trò của Mặt
trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội và Nhân dân trong việc tham gia xây
dựng Đảng, xây dựng chính quyền.
2.3.2. Đối
với đảng viên: Tiêu chuẩn đảng viên, tiêu chuẩn cấp uỷ viên và việc thực hiện
nhiệm vụ đảng viên.
3. Thực hiện
nhiệm vụ giám sát
3.1. Chủ
thể giám sát: Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cấp uỷ, ban
thường vụ cấp uỷ các cấp.
3.2. Đối
tượng giám sát: Tổ chức đảng, đảng viên thuộc phạm vi quản lý.
3.3. Nội
dung giám sát
3.3.1. Đối
với tổ chức đảng: Như nội dung kiểm tra của cấp uỷ tại Tiết 2.3.1, Điểm 2.3,
Khoản 2, Điều 4 Quy định này.
3.3.2. Đối
với đảng viên: Tiêu chuẩn đảng viên, tiêu chuẩn cấp uỷ viên và việc thực hiện
nhiệm vụ đảng viên.
4. Thẩm
quyền, trách nhiệm của chủ thể, đối tượng kiểm tra, giám sát
4.1. Đối với
chủ thể kiểm tra, giám sát
a) Căn cứ
yêu cầu nhiệm vụ chính trị, công tác xây dựng Đảng và tình hình thực tế để xây
dựng chương trình, kế hoạch kiểm tra, giám sát, xác định rõ nội dung, đối tượng,
thời gian, phương pháp tiến hành, thành phần đoàn kiểm tra, giám sát chuyên đề.
b) Yêu cầu
các tổ chức đảng và đảng viên có liên quan báo cáo, cung cấp thông tin, tài liệu
theo nội dung kiểm tra, giám sát chuyên đề và phải giữ bí mật thông tin, tài liệu.
c) Thông báo phân
công cấp uỷ viên thực hiện việc giám sát thường xuyên, thành lập các tổ
(đoàn) giám sát thường xuyên; cấp uỷ viên được phân công thực hiện nhiệm vụ
giám sát thường xuyên; các tổ (đoàn) giám sát thường xuyên được yêu cầu các tổ
chức, cá nhân có liên quan báo cáo, cung cấp thông tin, tài liệu, văn bản theo
nội dung giám sát và chịu trách nhiệm về bảo mật các nội dung, thông tin, tài
liệu được cung cấp; có trách nhiệm báo cáo kết quả giám sát bằng văn bản cho chủ
thể giám sát theo quy định.
d) Cấp uỷ,
ban thường vụ cấp uỷ trực tiếp kiểm tra hoặc giao Ủy ban kiểm tra tiến hành kiểm
tra khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm của tổ chức đảng, đảng viên; xem xét, xử
lý theo thẩm quyền đối với các tổ chức đảng, đảng viên có vi phạm đến mức phải
xử lý kỷ luật.
đ) Khi thực
hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát chuyên đề, cấp uỷ, ban thường vụ cấp uỷ thẩm
tra, xác minh, phân tích, đánh giá, nhận xét về ưu điểm, khuyết điểm và nguyên
nhân; rút kinh nghiệm về lãnh đạo, chỉ đạo, về tổ chức thực hiện; bổ sung, sửa
đổi những vấn đề cần thiết; cử cấp uỷ viên trực tiếp chỉ đạo, giám sát tổ chức
đảng cấp dưới, đảng viên sửa chữa, khắc phục yếu kém, khuyết điểm, vi phạm;
phân công cấp uỷ viên, cán bộ theo dõi địa bàn trực tiếp chỉ đạo, giám sát tổ
chức đảng cấp dưới, đảng viên chấp hành kết luận, kiến nghị kiểm tra, giám sát.
e) Nếu
phát hiện đối tượng kiểm tra, giám sát không thực hiện, thực hiện không đúng hoặc
ban hành các văn bản trái quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước thì quyết định
bãi bỏ theo thẩm quyền hoặc yêu cầu, kiến nghị tổ chức đảng, cơ quan có thẩm
quyền sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ, thu hồi các văn bản trái chủ trương, quy định của
Đảng, pháp luật của Nhà nước.
g) Đề nghị
cơ quan có thẩm quyền giám định chuyên môn, kỹ thuật liên quan đến nội dung kiểm
tra, giám sát.
4.2. Đối với
đối tượng kiểm tra, giám sát
a) Chấp
hành nghiêm Điều lệ Đảng, các quy định của Đảng về kiểm tra, giám sát, các quyết
định, kết luận, yêu cầu của chủ thể kiểm tra, giám sát; báo cáo, giải trình đầy
đủ, trung thực về các nội dung được yêu cầu.
b) Không để
lộ nội dung kiểm tra, giám sát cho tổ chức, cá nhân không có trách nhiệm biết;
không được sử dụng thiết bị ghi âm, ghi hình, thu phát sóng khi làm việc với chủ
thể kiểm tra, giám sát.
c) Được sử
dụng bằng chứng có liên quan đến nội dung kiểm tra, giám sát để báo cáo, giải
trình; bảo lưu ý kiến và đề nghị tổ chức đảng có thẩm quyền xem xét lại nhận
xét, đánh giá, kết luận, quyết định đối với mình hoặc việc thực hiện nguyên tắc,
quy trình, thủ tục, nội dung, yêu cầu, trách nhiệm, thẩm quyền của chủ thể kiểm
tra, giám sát.
5. Thực hiện
các nhiệm vụ khác theo quy định
5.1. Thi hành kỷ
luật trong Đảng, giải quyết tố cáo, giải quyết khiếu nại kỷ luật đảng, đình chỉ
sinh hoạt đảng của đảng viên, đình chỉ sinh hoạt cấp uỷ của cấp uỷ viên và đình
chỉ hoạt động của tổ chức đảng theo thẩm quyền.
5.2. Kiểm
tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với tổ chức đảng, đảng viên ở lĩnh vực phức tạp,
nhạy cảm, quan trọng hoặc liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành.
Điều 5. Các cơ quan tham mưu, giúp việc cấp uỷ
1. Thực hiện
nhiệm vụ kiểm tra
1.1. Đối
tượng kiểm tra
a) Chi uỷ,
chi bộ, cấp uỷ, ban thường vụ cấp uỷ, trước hết là cấp dưới trực tiếp.
b) Đảng
viên thuộc lĩnh vực phụ trách và các đối tượng khác do cấp uỷ, ban thường vụ cấp
uỷ cùng cấp giao.
1.2. Nội
dung kiểm tra: Theo chức năng, nhiệm vụ, lĩnh vực được phân công phụ trách và
những nội dung do cấp uỷ giao.
1.3. Thẩm
quyền và trách nhiệm
a) Xây dựng
chương trình, kế hoạch và sử dụng bộ máy của cơ quan mình tiến hành kiểm tra hoặc
phối hợp với Ủy ban kiểm tra và các cơ quan tham mưu, giúp việc khác của cấp uỷ
để tiến hành công tác kiểm tra.
b) Phối hợp
với Ủy ban kiểm tra cùng cấp tham mưu, giúp cấp uỷ, ban thường vụ cấp uỷ xây dựng
và tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch kiểm tra của cấp uỷ hằng năm thuộc
lĩnh vực phụ trách; tham gia hoặc cử cán bộ tham gia các cuộc kiểm tra của cấp
uỷ hoặc chủ trì kiểm tra khi được cấp uỷ giao.
c) Giúp cấp
uỷ, ban thường vụ cấp uỷ theo dõi, đôn đốc tổ chức đảng cấp dưới thực hiện nhiệm
vụ kiểm tra; tham gia ý kiến và giúp cấp uỷ, ban thường vụ cấp uỷ kết luận các
nội dung kiểm tra thuộc lĩnh vực được giao.
d) Khi thực
hiện nhiệm vụ kiểm tra, được yêu cầu tổ chức đảng và đảng viên có liên quan báo
cáo, cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến việc kiểm tra và phải giữ bí mật
nội dung thông tin, tài liệu.
đ) Qua kiểm
tra, yêu cầu đối tượng kiểm tra kịp thời khắc phục, sửa chữa hạn chế, khuyết điểm;
nếu phát hiện có dấu hiệu vi phạm thì đề nghị tổ chức đảng có thẩm quyền kiểm
tra khi có dấu hiệu vi phạm.
e) Đề nghị
cơ quan có thẩm quyền giám định chuyên môn, kỹ thuật liên quan đến nội dung kiểm
tra.
2. Thực hiện
nhiệm vụ giám sát
2.1. Đối
tượng giám sát: Như đối tượng kiểm tra được quy định tại Điểm 1.1, Khoản 1, Điều
5 Quy định này.
2.2. Nội
dung giám sát
2.2.1. Đối
với tổ chức đảng
a) Việc chấp
hành chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước liên quan đến đối tượng
giám sát.
b) Việc thực
hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn thuộc lĩnh vực phụ trách và những nội dung
do cấp uỷ giao.
2.2.2. Đối
với đảng viên: Việc thực hiện nhiệm vụ đảng viên, nhiệm vụ cấp uỷ viên liên
quan đến lĩnh vực phụ trách của đối tượng giám sát.
2.3. Thẩm
quyền và trách nhiệm
a) Xây dựng
chương trình, kế hoạch và sử dụng bộ máy của cơ quan mình hoặc phối hợp với Ủy
ban kiểm tra và các cơ quan tham mưu, giúp việc khác của cấp uỷ để tiến hành
công tác giám sát; cử cán bộ tham gia các đoàn giám sát của cấp uỷ, ban thường
vụ cấp uỷ cùng cấp hoặc cấp trên.
b) Phối hợp
với Ủy ban kiểm tra cùng cấp tham mưu, giúp cấp uỷ, ban thường vụ cấp uỷ xây dựng
và tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch giám sát của cấp uỷ hằng năm thuộc
lĩnh vực phụ trách.
c) Các cơ quan
tham mưu, giúp việc của cấp uỷ và cán bộ, công chức được phân công theo
dõi lĩnh vực, địa bàn khi thực hiện nhiệm vụ giám sát được yêu cầu tổ chức đảng,
đảng viên thuộc phạm vi phụ trách báo cáo, cung cấp thông tin, tài liệu liên
quan đến việc giám sát và phải giữ bí mật nội dung thông tin, tài liệu đó.
d) Qua giám sát,
kịp thời nhắc nhở đối tượng được giám sát phát huy ưu điểm, khắc phục, sửa
chữa thiếu sót, khuyết điểm; nếu phát hiện tổ chức đảng hoặc đảng viên có dấu
hiệu vi phạm thì báo cáo hoặc đề nghị tổ chức đảng có thẩm quyền kiểm tra khi
có dấu hiệu vi phạm.
đ) Nếu
phát hiện tổ chức đảng cấp dưới hoặc đảng viên không thực hiện, thực hiện không
đúng hoặc ban hành các văn bản trái chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của
Nhà nước thì báo cáo cấp uỷ, ban thường vụ cấp uỷ cùng cấp xem xét, xử lý.
3. Chủ trì
giải quyết tố cáo theo quy định của Bộ Chính trị hoặc cấp uỷ, ban thường vụ cấp
uỷ cùng cấp về giải quyết tố cáo đối với tổ chức đảng, đảng viên (kể cả đảng
viên là cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư hoặc cấp uỷ, ban thường vụ cấp
uỷ cùng cấp quản lý) có nội dung liên quan đến lĩnh vực phụ trách.
Điều 6. Chi bộ
1. Xây dựng
kế hoạch và tiến hành kiểm tra, giám sát đảng viên trong chi bộ thực hiện nhiệm
vụ đảng viên. Tập trung kiểm tra việc thực hiện nghị quyết của chi bộ, nhiệm vụ
do chi bộ phân công và quy định về trách nhiệm nêu gương, về những điều đảng
viên không được làm. Giám sát thường xuyên, giám sát chuyên đề đối với đảng
viên trong việc thực hiện nhiệm vụ đảng viên, thực hiện nhiệm vụ chuyên môn được
giao.
2. Giải
quyết tố cáo và kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với đảng viên trong chi bộ
về phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống; "tự diễn biến",
"tự chuyển hoá", sinh hoạt đảng, thực hiện nhiệm vụ chi bộ giao, nhiệm
vụ đảng viên (trừ nhiệm vụ cấp trên giao).
Điều 7. Ủy ban kiểm tra các cấp
1. Nguyên tắc
tổ chức và chế độ làm việc
1.1. Nguyên tắc
tổ chức
a) Ủy ban kiểm
tra được lập từ đảng uỷ trực thuộc cơ sở trở lên, do cấp uỷ cùng cấp bầu, bầu uỷ
viên Ủy ban kiểm tra trước, sau đó bầu chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra trong số uỷ
viên Ủy ban kiểm tra. Phó chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra do Ủy ban kiểm tra bầu
trong số uỷ viên Ủy ban kiểm tra. Việc bầu cử được thực hiện theo Quy chế bầu cử
trong Đảng. Trường hợp tổ chức đảng thành lập mới, do chuyển giao, chia tách, hợp
nhất, sáp nhập, thực hiện công tác điều động, luân chuyển cán bộ ngành Kiểm tra
Đảng thì thí điểm ban thường vụ cấp uỷ cấp trên trực tiếp chỉ định uỷ viên Ủy
ban kiểm tra, chủ nhiệm, phó chủ nhiệm.
b) Nhiệm kỳ
hoạt động của Ủy ban kiểm tra theo nhiệm kỳ của cấp uỷ cùng cấp. Ủy ban kiểm
tra khoá mới điều hành công việc ngay sau khi được bầu, chỉ định và nhận bàn
giao từ Ủy ban kiểm tra khoá trước. Chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra được ký ban hành
văn bản ngay sau khi được bầu hoặc chỉ định.
c) Các thành viên
Ủy ban kiểm tra cấp dưới phải được ban thường vụ cấp uỷ cấp trên trực tiếp
chuẩn y, nếu điều động, luân chuyển thành viên Ủy ban kiểm tra sang công tác
khác phải được ban thường vụ cấp uỷ cấp trên trực tiếp đồng ý.
Uỷ viên ủy
ban kiểm tra khi có quyết định nghỉ công tác chờ nghỉ hưu, quyết định nghỉ hưu
hoặc chuyển vị trí công tác khác, chuyển công tác sang tổ chức đảng khác không
cơ cấu uỷ viên Ủy ban kiểm tra, không thực hiện kiêm nhiệm thì đương nhiên thôi
thành viên Ủy ban kiểm tra kể từ khi quyết định có hiệu lực thi hành; ban thường
vụ cấp uỷ không phải ban hành quyết định thôi tham gia thành viên Ủy ban kiểm
tra (kể cả chức danh chủ nhiệm, phó chủ nhiệm).
d) Ủy ban kiểm
tra phối hợp với ban tổ chức (hoặc ban xây dựng Đảng) của cấp uỷ cùng cấp chuẩn
bị nhân sự Ủy ban kiểm tra cấp mình và phối hợp với cấp uỷ cấp dưới chuẩn bị
nhân sự Ủy ban kiểm tra cấp dưới (kể cả nhân sự dự kiến chỉ định); giúp cấp uỷ
xây dựng, ban hành quy chế làm việc của Ủy ban kiểm tra; tham mưu kiện toàn cơ
quan Ủy ban kiểm tra về tổ chức bộ máy, đào tạo, bồi dưỡng, thực hiện chế độ,
chính sách, xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra; tham mưu xây dựng kế hoạch, tổ chức
thực hiện luân chuyển cán bộ kiểm tra và bố trí công tác đối với cán bộ sau
luân chuyển.
Khi cần bổ
sung uỷ viên ủy ban kiểm tra, phó chủ nhiệm còn thiếu so với đề án nhân sự được
phê duyệt thì ban thường vụ cấp uỷ thực hiện quy trình giới thiệu nhân sự và
báo cáo ban thường vụ cấp uỷ cấp trên (qua ủy ban kiểm tra cấp trên) để xem
xét, quyết định (không phải xin chủ trương bổ sung số lượng nhân sự còn thiếu).
Khi thay đổi
chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra thì phải trao đổi với Ủy ban kiểm tra cấp trên để báo
cáo ban thường vụ cấp uỷ xem xét, quyết định, trước khi thực hiện quy trình
công tác cán bộ.
đ) Ban Tổ
chức Trung ương chủ trì, phối hợp với Ủy ban Kiểm tra Trung ương tham mưu Ban
Bí thư quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của cơ quan Ủy
ban kiểm tra cấp dưới.
1.2. Chế độ
làm việc
Ủy ban kiểm
tra thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, làm việc theo chế độ tập thể, quyết
định theo đa số, chịu sự lãnh đạo trực tiếp của cấp uỷ, ban thường vụ cấp uỷ
cùng cấp và sự chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát của Ủy ban kiểm tra cấp
trên, cụ thể:
a) Ủy ban kiểm
tra có thể uỷ quyền cho tập thể thường trực Ủy ban (nơi có từ 2 phó chủ nhiệm
trở lên) quyết định một số vấn đề cụ thể (theo quy chế làm việc của Ủy ban và
quy định chế độ làm việc của cơ quan Ủy ban kiểm tra). Thường trực Ủy ban gồm
chủ nhiệm và các phó chủ nhiệm. Đối với Ủy ban Kiểm tra Quân uỷ Trung ương, Ủy
ban Kiểm tra Đảng uỷ Công an Trung ương, thường trực Ủy ban kiểm tra gồm chủ
nhiệm, các phó chủ nhiệm và các uỷ viên chuyên trách.
b) Chấp
hành nghiêm chỉnh các quy định của Điều lệ Đảng và quy chế làm việc; xây dựng,
ban hành, tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch kiểm tra, giám sát, định kỳ
báo cáo cấp uỷ, ban thường vụ cấp uỷ về kết quả thực hiện nhiệm vụ kiểm tra,
giám sát và kỷ luật của Đảng, việc thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, quyết định,
quy định, kết luận của cấp uỷ, ban thường vụ cấp uỷ về công tác kiểm tra, giám
sát và kỷ luật của Đảng, việc thực hiện quy chế làm việc của Ủy ban kiểm tra và
các nhiệm vụ do cấp uỷ, ban thường vụ cấp uỷ giao; chịu sự kiểm tra, giám sát của
cấp uỷ.
c) Làm việc
dưới sự chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát của Ủy ban kiểm tra cấp trên
trong việc:
- Thực hiện
nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Điều lệ Đảng, của Trung ương và hướng dẫn
của Ủy ban Kiểm tra Trung ương.
- Phương hướng,
nhiệm vụ, nghiệp vụ công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng; việc
tham mưu và xây dựng nội dung, chương trình kiểm tra, giám sát chuyên đề hằng
năm.
- Báo cáo, cung cấp
thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung kiểm tra, giám sát mà ủy ban kiểm
tra cấp trên đang tiến hành.
- Tuyên truyền,
phổ biến công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng.
- Khi cần
thiết, ủy ban kiểm tra cấp trên trực tiếp chỉ đạo giải quyết một số vấn đề cụ
thể trong việc thực hiện nhiệm vụ công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật
của cấp uỷ, tổ chức đảng, Ủy ban kiểm tra cấp dưới.
1.3. Quyền
hạn
a) Ủy ban kiểm
tra có quyền yêu cầu tổ chức đảng cấp dưới, đảng viên báo cáo, cung cấp hồ sơ,
tài liệu, dữ liệu về những vấn đề liên quan đến nội dung kiểm tra, giám sát.
b) Ủy ban kiểm
tra cấp trên có quyền kiểm tra lại kết luận, thông báo, quyết định của cấp uỷ,
tổ chức đảng, ủy ban kiểm tra cấp dưới về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật
của Đảng; chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát cấp uỷ, tổ chức đảng, ủy ban
kiểm tra cấp dưới về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng.
c) Khi cấp
uỷ, ban thường vụ cấp uỷ, tổ chức đảng gửi các văn bản, báo cáo cho cấp uỷ, ban
thường vụ cấp uỷ cấp trên thì đồng thời gửi Ủy ban kiểm tra cấp trên.
d) Thực hiện
thẩm định về công tác cán bộ khi được cấp uỷ giao (có ý kiến về tình hình đơn,
thư phản ánh, tố cáo; về thực hiện kết luận kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng;
về kê khai tài sản, thu nhập; về thực hiện nhiệm vụ đảng viên và trách nhiệm
nêu gương của đảng viên nơi công tác...).
đ) Đề nghị
các tổ chức, cơ quan, đơn vị liên quan cử cán bộ tham gia các tổ (đoàn) kiểm
tra, giám sát.
e) Được
quyền kết nối cơ sở dữ liệu của các cơ quan nhà nước trong lĩnh vực ngân hàng,
chứng khoán, đăng ký tài sản, đất đai, thuế, thanh tra, kiểm toán, truy tố, xét
xử, thi hành án và các cơ sở dữ liệu khác để phục vụ cho công tác kiểm tra,
giám sát; việc truy cập, sử dụng cơ sở dữ liệu thực hiện theo quy định của Đảng,
pháp luật của Nhà nước.
g) Khi tiến
hành công tác kiểm tra, giám sát được sử dụng một số biện pháp: Ghi âm, ghi
hình; niêm phong hồ sơ, tài liệu; yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền xem xét,
quyết định áp dụng biện pháp phong toả tài khoản, kê biên tài sản, tạm hoãn xuất
cảnh và các biện pháp khác theo quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
1.4. Trường
hợp Ủy ban kiểm tra có ý kiến khác với ban thường vụ cấp uỷ, cấp uỷ thì ủy ban
kiểm tra phải chấp hành kết luận, quyết định của ban thường vụ cấp uỷ, cấp uỷ,
đồng thời báo cáo ủy ban kiểm tra cấp trên. Trường hợp Ủy ban kiểm tra cấp trên
có ý kiến khác với ban thường vụ, cấp uỷ cấp dưới thì báo cáo cấp uỷ cùng cấp
xem xét, quyết định. Trường hợp Ủy ban Kiểm tra Trung ương có ý kiến khác với đảng
uỷ, tỉnh uỷ, thành uỷ trực thuộc Trung ương thì báo cáo Ban Bí thư, Bộ Chính trị
xem xét, quyết định.
1.5. Ủy ban Kiểm
tra Quân uỷ Trung ương chỉ đạo, hướng dẫn ủy ban kiểm tra đảng uỷ các quân khu,
bộ đội biên phòng phối hợp với Ủy ban kiểm tra các tỉnh uỷ, thành uỷ (chủ trì)
tiến hành công tác kiểm tra, giám sát đối với các tổ chức đảng, đảng viên thuộc
đảng bộ quân sự tỉnh, thành phố.
1.6. Ủy ban kiểm
tra tỉnh uỷ, thành uỷ chủ trì, phối hợp với Ủy ban Kiểm tra Đảng uỷ Công an Trung
ương tiến hành công tác kiểm tra, giám sát đối với các tổ chức đảng, đảng viên
trong Công an nhân dân các địa phương.
2. Cơ cấu
tổ chức và số lượng uỷ viên Ủy ban kiểm tra các cấp
2.1. Ủy ban Kiểm
tra Trung ương
Số lượng từ
23 đến 25 uỷ viên (trong đó có 2 đến 3 uỷ viên kiêm nhiệm), trong đó không quá
một phần ba là Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Thường trực Ủy ban Kiểm
tra Trung ương gồm Chủ nhiệm và các Phó Chủ nhiệm; số lượng Phó Chủ nhiệm do Bộ
Chính trị quyết định.
2.2. Ủy ban kiểm
tra tỉnh uỷ, thành uỷ trực thuộc Trung ương
a) Số lượng
từ 11 đến 13 uỷ viên chuyên trách; riêng Ủy ban Kiểm tra Thành uỷ Hà Nội, Thành
uỷ Thành phố Hồ Chí Minh: số lượng từ 13 đến 15 uỷ viên chuyên trách (do cấp uỷ
quyết định).
b) Chủ nhiệm
là uỷ viên ban thường vụ, từ 3 đến 4 phó chủ nhiệm (phó chủ nhiệm thường trực
là cấp uỷ viên) và một số uỷ viên; riêng Ủy ban Kiểm tra Thành uỷ Hà Nội, Thành
uỷ Thành phố Hồ Chí Minh không quá 5 phó chủ nhiệm.
2.3. Ủy ban Kiểm
tra Đảng uỷ các cơ quan Đảng Trung ương, Đảng uỷ Chính phủ, Đảng uỷ Quốc hội và
Đảng uỷ Dân vận, Mặt trận và các đoàn thể Trung ương.
a) Số lượng
từ 9 đến 11 uỷ viên; riêng Ủy ban Kiểm tra Đảng uỷ Chính phủ từ 11 đến 13 uỷ
viên, Ủy ban Kiểm tra Đảng uỷ các cơ quan Đảng Trung ương không quá 13 uỷ viên,
gồm uỷ viên chuyên trách và kiêm nhiệm (do cấp uỷ quyết định), Chủ nhiệm Ủy ban
Kiểm tra là đồng chí Phó Bí thư hoặc Uỷ viên Ban Thường vụ Đảng uỷ kiêm nhiệm.
b) Các uỷ
viên chuyên trách gồm: Từ 2 đến 3 phó chủ nhiệm và một số uỷ viên; riêng Ủy ban
Kiểm tra Đảng uỷ Chính phủ có từ 3 đến 4 phó chủ nhiệm; phó chủ nhiệm thường trực
là cấp uỷ viên.
2.4. Ủy ban Kiểm
tra Quân uỷ Trung ương
a) Số lượng
từ 11 đến 13 uỷ viên (do Quân uỷ Trung ương quyết định), trong đó có 8 đến 10 uỷ
viên chuyên trách và từ 3 đến 5 uỷ viên kiêm nhiệm (bao gồm: Chủ nhiệm Ủy ban
là Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Cục trưởng Cục Tổ chức,
Cục trưởng Cục Cán bộ, Chánh Thanh tra Bộ Quốc phòng); có 2 đến 3 uỷ viên là Uỷ
viên Quân uỷ Trung ương.
b) Các uỷ viên
chuyên trách gồm: 4 phó chủ nhiệm (có 1 phó chủ nhiệm thường trực là cấp uỷ
viên) và một số uỷ viên.
2.5. Ủy ban Kiểm
tra Đảng uỷ Công an Trung ương
a) Số lượng
từ 11 đến 13 uỷ viên (do Đảng uỷ Công an Trung ương quyết định), trong đó có từ
8 đến 10 uỷ viên chuyên trách và 3 đến 5 uỷ viên kiêm nhiệm (bao gồm: Chủ nhiệm
Ủy ban là Phó Bí thư hoặc Uỷ viên Ban Thường vụ Đảng uỷ Công an Trung ương, Thứ
trưởng Bộ Công an; Cục trưởng Cục Tổ chức cán bộ; Chánh Thanh tra Bộ Công an);
có từ 2 đến 3 uỷ viên là Uỷ viên Đảng uỷ Công an Trung ương.
b) Các uỷ
viên chuyên trách gồm: 4 phó chủ nhiệm (có 1 phó chủ nhiệm thường trực là cấp uỷ
viên) và một số uỷ viên.
2.6. Ủy ban kiểm
tra đảng uỷ cơ sở
2.6.1. Ủy ban kiểm
tra đảng uỷ xã, phường, đặc khu
Số lượng từ
3 đến 7 uỷ viên chuyên trách (do cấp uỷ quyết định), phó bí thư hoặc uỷ viên
ban thường vụ đảng uỷ làm chủ nhiệm; từ 1 đến 2 phó chủ nhiệm (trong đó 1 phó
chủ nhiệm thường trực là cấp uỷ viên).
2.6.2. Ủy ban kiểm
tra đảng uỷ cơ sở khác
a) Số lượng
từ 5 đến 7 uỷ viên, có từ 2 đến 3 uỷ viên kiêm nhiệm (do cấp uỷ quyết định),
trong đó phó bí thư hoặc uỷ viên ban thường vụ đảng uỷ làm chủ nhiệm; từ 1 đến
2 phó chủ nhiệm; riêng Ủy ban kiểm tra đảng uỷ hội đồng nhân dân cấp tỉnh số lượng
từ 3 đến 5 uỷ viên, có từ 1 đến 3 uỷ viên kiêm nhiệm (do cấp uỷ quyết định),
trong đó phó bí thư hoặc uỷ viên ban thường vụ đảng uỷ làm chủ nhiệm.
b) Các uỷ
viên chuyên trách gồm: Phó chủ nhiệm thường trực là cấp uỷ viên và một số uỷ
viên chuyên trách là cán bộ cơ quan Ủy ban kiểm tra đảng uỷ.
c) Trường
hợp không đủ điều kiện thành lập cơ quan Ủy ban kiểm tra thì số lượng uỷ viên
chuyên trách hoặc kiêm nhiệm do cấp uỷ quyết định sau khi thống nhất với Ủy ban
kiểm tra cấp trên trực tiếp.
2.7. Ủy ban kiểm
tra đảng uỷ trực thuộc cơ sở
a) Số lượng
từ 3 đến 5 uỷ viên, gồm uỷ viên chuyên trách và kiêm nhiệm (do cấp uỷ quyết định),
chủ nhiệm là phó bí thư hoặc uỷ viên ban thường vụ cấp uỷ, có 1 phó chủ nhiệm;
các uỷ viên kiêm nhiệm có thể là cấp uỷ viên cùng cấp hoặc đảng viên phụ trách
công tác tổ chức, đoàn thể, bí thư chi bộ.
b) Các uỷ
viên chuyên trách gồm: Phó chủ nhiệm là cấp uỷ viên và có thể gồm một số uỷ
viên.
2.8. Ủy ban kiểm
tra đảng uỷ đặc khu khác (trường hợp không đủ điều kiện thực hiện như Điểm 2.6,
Khoản 2 Điều này) thì thực hiện như Điểm 2.7 hoặc 2.10, Khoản 2 Điều này.
2.9. Tổ chức
cơ sở đảng trong cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp không thuộc đối tượng quy định tại
Điểm 2.7, Khoản 2, Điều 7 Quy định này, có từ 400 đảng viên trở lên thì Ủy ban
kiểm tra có từ 5 đến 7 uỷ viên (do cấp uỷ quyết định), bố trí 1 phó chủ nhiệm
chuyên trách.
2.10. Đảng
uỷ bộ phận và chi bộ không lập Ủy ban kiểm tra; tập thể cấp uỷ, chi bộ thực hiện
công tác kiểm tra, giám sát và phân công 1 cấp uỷ viên phụ trách. Có thể lựa chọn
phân công một số đảng viên giúp đồng chí cấp uỷ viên phụ trách làm công tác kiểm
tra, giám sát.
2.11. Tổ
chức bộ máy, số lượng uỷ viên Ủy ban kiểm tra đảng uỷ cơ sở và đảng uỷ trực thuộc
cơ sở thuộc Quân uỷ Trung ương, Đảng uỷ Công an Trung ương, do Ủy ban Kiểm tra
Trung ương hướng dẫn sau khi thống nhất với các đảng uỷ nêu trên và Ban Tổ chức
Trung ương.
2.12. Đối
với ủy ban kiểm tra thuộc đảng bộ thực hiện hợp nhất, sáp nhập thì số lượng uỷ
viên Ủy ban kiểm tra tại thời điểm hợp nhất, sáp nhập có thể nhiều hơn số lượng
nêu trên nhưng không quá tổng số lượng hiện có của các Ủy ban kiểm tra trước
khi hợp nhất, sáp nhập, chậm nhất sau 5 năm kể từ ngày thành lập đảng bộ mới,
thì số lượng phải thực hiện theo Quy định này.
Trường hợp
có những yêu cầu khác với nội dung Điều 7 của Quy định này thì cấp uỷ hoặc ban
thường vụ cấp uỷ phải báo cáo với cấp uỷ, Ủy ban kiểm tra cấp trên trực tiếp,
khi được sự đồng ý (bằng văn bản) mới tổ chức thực hiện.
3. Về thực
hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát
3.1. Thực
hiện nhiệm vụ giám sát
3.1.1. Nội
dung giám sát
a) Đối với
tổ chức đảng
- Việc
lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện chủ trương, quy định của Đảng, của cấp uỷ
cấp trên và cấp mình, pháp luật của Nhà nước.
- Việc ban
hành các văn bản triển khai thực hiện chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật
của Nhà nước.
- Việc thực
hiện các kết luận, quyết định kiểm tra, giám sát và kỷ luật tổ chức đảng, đảng
viên vi phạm.
- Việc
lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện kê khai, công khai, kiểm soát tài sản, thu
nhập theo quy định.
b) Đối với
đảng viên (kể cả cấp uỷ viên cùng cấp và cán bộ thuộc diện cấp uỷ cùng cấp quản
lý).
- Việc chấp
hành chủ trương, quy định của Đảng, của cấp uỷ cấp trên và cấp mình, pháp luật
của Nhà nước.
- Thực hiện
các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, quy chế làm việc, chế độ công
tác.
- Tư tưởng
chính trị, giữ gìn đạo đức, lối sống và trách nhiệm nêu gương theo các quy định
của Đảng.
- Về tiêu
chuẩn đảng viên, tiêu chuẩn cấp uỷ viên và trong thực hiện nhiệm vụ đảng viên.
- Việc kê
khai, công khai tài sản, thu nhập theo quy định.
3.1.2. Đối
tượng giám sát
a) Đối với
tổ chức đảng: Các tổ chức đảng cấp dưới, trước hết là cấp uỷ, ban thường vụ cấp
uỷ, Ủy ban kiểm tra cấp dưới trực tiếp.
b) Đối với
đảng viên: cấp uỷ viên cùng cấp, cán bộ thuộc diện cấp uỷ cùng cấp quản lý, khi
cần thiết giám sát đảng viên do cấp dưới quản lý.
3.1.3. Thẩm
quyền và trách nhiệm
a) Ủy ban kiểm
tra các cấp căn cứ yêu cầu, nhiệm vụ chính trị, công tác xây dựng Đảng và tình
hình thực tế để xây dựng chương trình, kế hoạch giám sát, xác định rõ nội dung,
đối tượng, thời gian, phương pháp tiến hành, tổ chức thành phần đoàn giám sát.
b) Ủy ban kiểm
tra phân công thành viên Ủy ban dự các cuộc họp của cấp uỷ, ban thường vụ cấp uỷ
cùng cấp; cử cán bộ cơ quan Ủy ban kiểm tra dự các hội nghị của cấp uỷ, ban thường
vụ cấp uỷ cấp dưới, kể cả tổ chức đảng cấp dưới cách cấp có đảng viên là cán bộ
thuộc diện cấp uỷ cùng cấp quản lý cùng công tác và sinh hoạt cấp uỷ, sinh hoạt
đảng, tổ chức đảng cấp dưới cách cấp có vị trí, vai trò quan trọng trong hệ thống
chính trị, khu vực doanh nghiệp nhà nước.
c) Thành viên ủy
ban kiểm tra, đoàn giám sát và cán bộ được giao nhiệm vụ được yêu cầu
các cấp uỷ, tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên giải trình, cung cấp tài liệu,
báo cáo về các nội dung giám sát; có trách nhiệm bảo mật thông tin, tài liệu và
chịu trách nhiệm về việc giám sát trước ủy ban kiểm tra.
d) Qua giám sát
phải kịp thời báo cáo, kiến nghị cấp uỷ, tổ chức đảng, đảng viên được
giám sát phát huy ưu điểm, nhắc nhở, uốn nắn, khắc phục, sửa chữa thiếu sót,
khuyết điểm.
đ) Nếu
phát hiện cấp uỷ, tổ chức đảng cấp dưới ban hành văn bản trái chủ trương, quy định
của Đảng, pháp luật của Nhà nước thì Ủy ban kiểm tra yêu cầu xem xét lại, nếu
không khắc phục, xử lý thì báo cáo cấp uỷ cùng cấp xem xét trách nhiệm của cấp
uỷ, tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên có liên quan.
e) Qua giám sát nếu
phát hiện tổ chức đảng cấp dưới hoặc đảng viên có dấu hiệu vi phạm thì quyết định
kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm.
3.2. Kiểm
tra khi có dấu hiệu vi phạm
3.2.1. Việc
phát hiện, xác định dấu hiệu vi phạm thông qua
a) Công tác lãnh
đạo, chỉ đạo, quản lý, kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, điều
tra của các cấp uỷ, tổ chức đảng, tổ chức nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức
chính trị-xã hội, tổ chức kinh tế và giám sát của Nhân dân.
b) Báo cáo, kiến
nghị của cấp uỷ, tổ chức đảng cấp dưới; của các cơ quan, tổ chức, đơn vị và cá
nhân.
c) Tự phê
bình và phê bình của tổ chức đảng và đảng viên; việc bình xét, phân tích chất
lượng đảng viên, tổ chức đảng.
d) Tố cáo,
khiếu nại, phản ánh, kiến nghị của tổ chức đảng, đảng viên và Nhân dân.
đ) Phản
ánh của các phương tiện thông tin đại chúng đã được kiểm chứng.
e) Phần mềm
giám sát, hệ thống cơ sở dữ liệu số.
3.2.2. Nội
dung kiểm tra
a) Đối với
tổ chức đảng
- Việc chấp
hành chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
- Việc chấp
hành các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, giữ gìn đoàn kết nội bộ, quy
chế làm việc, chế độ công tác, thực hiện dân chủ trong Đảng.
- Việc thực
hành tiết kiệm, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
- Việc quản
lý, giáo dục, rèn luyện phẩm chất, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên.
- Việc tuyển
dụng, tiếp nhận, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá, luân chuyển, điều động,
biệt phái, chuyển đổi vị trí công tác, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, từ chức, miễn
nhiệm, cho thôi giữ chức vụ, tạm đình chỉ chức vụ, đình chỉ chức vụ, bố trí, sử
dụng, giới thiệu ứng cử, đề cử, bầu cử, tái cử, chỉ định, nâng ngạch, chuyển ngạch;
phong, thăng, giáng, tước quân hàm; khen thưởng, kỷ luật cán bộ.
b) Đối với
đảng viên: Tiêu chuẩn đảng viên, tiêu chuẩn cấp uỷ viên và việc thực hiện nhiệm
vụ đảng viên.
3.2.3. Đối
tượng kiểm tra
a) Đối với
tổ chức đảng: Các tổ chức đảng cấp dưới, trước hết là cấp uỷ, ban thường vụ cấp
uỷ cấp dưới trực tiếp; cấp uỷ, tổ chức đảng thuộc phạm vi lãnh đạo, quản lý của
cấp uỷ cùng cấp.
b) Đối với
đảng viên: Đảng viên, trước hết là cấp uỷ viên cùng cấp, đảng viên là cán bộ
thuộc diện cấp uỷ cùng cấp quản lý khi có dấu hiệu vi phạm; khi cần thiết thì
kiểm tra đảng viên do tổ chức đảng cấp dưới quản lý.
3.2.4. Thẩm
quyền quyết định kiểm tra
Ủy ban kiểm
tra (nơi không có thường trực Ủy ban kiểm tra) hoặc thường trực Ủy ban kiểm tra
quyết định kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với tổ chức đảng và đảng viên.
3.3. Kiểm
tra việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát
3.3.1. Nội
dung kiểm tra
a) Việc
lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện công tác kiểm tra, giám sát của các tổ
chức đảng cấp dưới theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn.
b) Việc lãnh
đạo, chỉ đạo, tổ chức hoạt động của Ủy ban kiểm tra, xây dựng tổ chức bộ máy, đội
ngũ cán bộ của cơ quan Ủy ban kiểm tra cấp dưới.
3.3.2. Đối
tượng kiểm tra: Các tổ chức đảng cấp dưới, trước hết là cấp uỷ, ban thường vụ cấp
uỷ, Ủy ban kiểm tra cấp dưới trực tiếp; các cơ quan tham mưu, giúp việc cấp uỷ
cùng cấp.
3.4. Kiểm
tra việc thi hành kỷ luật trong Đảng
3.4.1. Nội
dung kiểm tra
a) Việc thực
hiện phương hướng, phương châm, nguyên tắc, quy trình, thủ tục, thẩm quyền thi
hành kỷ luật đối với tổ chức đảng, đảng viên và việc giải quyết khiếu nại kỷ luật
đảng.
b) Xem xét các vụ
vi phạm đến mức phải xử lý nhưng không xử lý hoặc xử lý không đúng mức, xử lý
không kịp thời.
c) Việc chấp
hành các quyết định, chỉ thị, kết luận, thông báo của tổ chức đảng cấp trên có
liên quan đến việc thi hành kỷ luật và giải quyết khiếu nại kỷ luật đảng.
3.4.2. Đối
tượng kiểm tra: Các tổ chức đảng cấp dưới có thẩm quyền thi hành kỷ luật tổ chức
đảng, đảng viên và giải quyết khiếu nại kỷ luật đảng.
3.5. Kiểm
tra tài chính của cấp uỷ cấp dưới và của cơ quan tài chính cấp uỷ cùng cấp
3.5.1. Nội
dung kiểm tra
a) Đối với
cấp uỷ cấp dưới:
- Việc ban
hành các quy định, quyết định về quản lý, sử dụng tài chính, tài sản của cấp uỷ.
- Việc thực
hiện và chỉ đạo các cơ quan, tổ chức đảng cấp dưới (cơ quan tài chính của cấp uỷ,
các cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp uỷ cùng cấp và cấp uỷ cấp dưới) chấp
hành các quy định của Đảng, pháp luật về tài chính, tài sản.
- Việc thực
hiện các quy định về chế độ kế toán, chứng từ; về thanh quyết toán, chi tiêu
tài chính, quản lý tài sản của Đảng; việc kiểm tra tài chính đối với tổ chức đảng
trực thuộc.
b) Đối với
cơ quan tài chính cấp uỷ cùng cấp:
- Việc
tham mưu cho cấp Ủy ban hành các chính sách, quyết định, quy định về quản lý, sử
dụng tài chính, tài sản.
- Việc thực
hiện các quy định của Đảng và pháp luật về quản lý, sử dụng tài chính, tài sản.
- Việc thực
hiện sự chỉ đạo, quy định, quyết định của cấp uỷ cấp mình và cơ quan tài chính
cấp uỷ cấp trên.
- Việc hướng
dẫn và kiểm tra về nghiệp vụ công tác tài chính đối với cơ quan tài chính cấp uỷ
cấp dưới.
c) Đối với
ngân sách do Nhà nước cấp: Ủy ban kiểm tra và cơ quan tài chính cấp uỷ có thể
phối hợp với cơ quan chức năng của Nhà nước tổ chức kiểm tra.
d) Đối với
kiểm tra thu, nộp đảng phí: Chủ yếu do đảng uỷ trực thuộc cơ sở và Ủy ban kiểm
tra đảng uỷ trực thuộc cơ sở tiến hành.
3.5.2. Đối
tượng kiểm tra: cấp uỷ cấp dưới và cơ quan tài chính cấp uỷ cùng cấp. Khi cần
thiết thì kiểm tra tài chính các cơ quan, đơn vị sự nghiệp và doanh nghiệp trực
thuộc cấp uỷ cùng cấp.
3.6. Xem xét, kết
luận những trường hợp vi phạm kỷ luật, quyết định hoặc đề nghị cấp thẩm quyền
thi hành kỷ luật.
Căn cứ kết
quả kiểm tra, đề nghị của tổ chức đảng và kết luận, kiến nghị, đề nghị của cơ
quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền nếu thấy tổ chức đảng, đảng viên vi phạm đến
mức phải xử lý kỷ luật thì Ủy ban kiểm tra quyết định theo thẩm quyền hoặc đề
nghị ban thường vụ cấp uỷ, cấp uỷ xem xét, quyết định kỷ luật.
3.7. Giải
quyết tố cáo, giải quyết khiếu nại kỷ luật đảng theo thẩm quyền đối với tổ chức
đảng và đảng viên (chi tiết tại Chương IV, Chương V Quy định này).
3.8. Thẩm
quyền và trách nhiệm
a) Yêu cầu
tổ chức đảng và đảng viên có liên quan báo cáo, cung cấp thông tin, tài liệu theo
nội dung kiểm tra và phải giữ bí mật thông tin, tài liệu.
b) Yêu cầu
đối tượng kiểm tra phát huy ưu điểm, khắc phục, sửa chữa hạn chế, khuyết điểm,
vi phạm (nếu có). Nếu phát hiện có dấu hiệu vi phạm (trừ thực hiện nhiệm vụ kiểm
tra khi có dấu hiệu vi phạm) thì quyết định và tiến hành kiểm tra khi có dấu hiệu
vi phạm.
c) Khi thực
hiện nhiệm vụ kiểm tra, Ủy ban kiểm tra được quyền yêu cầu, kiến nghị tổ chức đảng,
cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ, thu hồi các văn bản trái quy định
của Đảng, pháp luật của Nhà nước; xem xét hoặc đề nghị cấp uỷ, ban thường vụ cấp
uỷ xem xét, xử lý theo thẩm quyền đối với các vi phạm đến mức phải xử lý kỷ luật.
d) Đề nghị
cơ quan có thẩm quyền giám định chuyên môn, kỹ thuật liên quan đến nội dung kiểm
tra, giám sát.
4. Tham mưu giúp
cấp uỷ và thực hiện nhiệm vụ cấp uỷ giao
4.1. Chủ
trì phối hợp với các cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp uỷ cùng cấp tham mưu,
giúp cấp uỷ thực hiện các nội dung tại Điểm 2.3, Khoản 2, Điểm
3.3, Khoản 3, Điều 4 Quy định này; xem xét, xử lý kỷ luật và giải quyết tố
cáo, khiếu nại kỷ luật đảng.
4.2. Tham gia các
cuộc kiểm tra, giám sát do cấp uỷ, ban thường vụ cấp uỷ, các cơ quan
tham mưu, giúp việc của cấp uỷ cùng cấp chủ trì. Khi thực hiện nhiệm vụ kiểm
tra, báo cáo cấp uỷ, ban thường vụ cấp uỷ yêu cầu, kiến nghị tổ chức đảng, cơ
quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ, thu hồi các văn bản trái chủ
trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước; đề nghị cấp uỷ, ban thường vụ
cấp uỷ xem xét, xử lý theo thẩm quyền đối với các vi phạm đến mức phải xử lý kỷ
luật.
4.3. Cùng các cơ
quan tham mưu, giúp việc của cấp uỷ cùng cấp tham mưu, giúp cấp uỷ, ban
thường vụ cấp uỷ kết luận các cuộc kiểm tra, giám sát; sơ kết, tổng kết thực hiện
công tác kiểm tra, giám sát; theo dõi, đôn đốc việc thực hiện các kết luận kiểm
tra, giám sát, quyết định của cấp uỷ, ban thường vụ cấp uỷ sau các cuộc kiểm
tra, giám sát. Phối hợp với văn phòng cấp uỷ giúp cấp uỷ, ban thường vụ cấp uỷ
lập và nộp lưu hồ sơ các cuộc kiểm tra, giám sát.
4.4. Hướng
dẫn các cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp uỷ cùng cấp và cấp uỷ, tổ chức đảng,
ủy ban kiểm tra cấp dưới về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng; chỉ
đạo kiện toàn Ủy ban kiểm tra, tổ chức bộ máy cơ quan ủy ban kiểm tra, xây dựng
đội ngũ cán bộ kiểm tra.
4.5. Lãnh đạo,
chỉ đạo thực hiện tuyên truyền, phổ biến công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của
Đảng.
4.6. Trong công
tác phòng, chống vi phạm pháp luật
a) Thực hiện
kiểm tra, kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực
trong: Công tác kiểm tra, thi hành kỷ luật đảng và trong hoạt động thanh tra,
kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; công tác cán bộ; đầu tư
công, quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công; công tác xây dựng pháp luật, thực
thi pháp luật; kiểm tra, giám sát trách nhiệm giải trình trong hoạt động công vụ;
giáo dục cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư.
b) Trong quá
trình kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi
hành án các vụ án, vụ việc nếu phát hiện vi phạm liên quan đến đảng viên là cán
bộ thuộc diện cấp uỷ cùng cấp quản lý thì thủ trưởng các cơ quan, đơn vị trên
chuyển thông tin, hồ sơ, tài liệu liên quan đến Ủy ban kiểm tra cùng cấp để kiểm
tra, xử lý theo đúng quy định của Đảng.
Trong quá trình
kiểm tra, giám sát nếu phát hiện tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị hoặc cá
nhân có dấu hiệu vi phạm pháp luật hình sự thì báo cáo, xin ý kiến cấp có thẩm
quyền và chuyển hồ sơ, tài liệu liên quan cho cơ quan điều tra để thụ lý, xử lý
theo quy định của pháp luật.
c) Ủy ban kiểm
tra kiểm tra, xử lý kịp thời, nghiêm minh các tổ chức đảng, đảng viên là cán bộ
thuộc diện cấp uỷ cùng cấp quản lý có dấu hiệu vi phạm trong các vụ việc, vụ án
do các cơ quan chức năng thụ lý.
5. Thực hiện
nhiệm vụ kiểm soát tài sản, thu nhập
5.1. Đối
tượng kiểm soát: Đảng viên là cán bộ thuộc diện ban thường vụ cấp uỷ cùng cấp
quản lý (theo phân cấp quản lý cán bộ) và đảng viên có nghĩa vụ kê khai, công
khai tài sản, thu nhập công tác trong các cơ quan tham mưu, giúp việc cấp uỷ; Mặt
trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội cùng cấp và cấp dưới theo quy định.
5.2. Nội
dung kiểm soát: Tài sản, thu nhập của đảng viên kê khai và của người có quyền,
nghĩa vụ liên quan đến tài sản, thu nhập của đảng viên (vợ hoặc chồng, con chưa
thành niên).
5.3. Thẩm
quyền kiểm soát tài sản, thu nhập: Ủy ban kiểm tra cấp uỷ cơ sở trở lên.
Chương III
THI HÀNH KỶ LUẬT
TRONG ĐẢNG
Điều 8. Nguyên tắc thi hành kỷ luật trong Đảng
1. Tổ chức
đảng và đảng viên vi phạm kỷ luật phải được xử lý công minh, chính xác, kịp thời;
tất cả tổ chức đảng, đảng viên đều bình đẳng trước kỷ luật của Đảng, nếu vi phạm
đến mức phải kỷ luật đều phải xử lý kỷ luật nghiêm minh.
2. Đảng
viên vi phạm pháp luật đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự thì chuyển cơ
quan có thẩm quyền giải quyết, không được xử lý nội bộ. Nếu làm thất thoát tài
chính, tài sản của Đảng, Nhà nước, của tổ chức, cá nhân thì phải xem xét trách
nhiệm và bồi hoàn.
3. Đảng
viên sau khi chuyển sinh hoạt đảng sang tổ chức đảng mới hoặc tổ chức đảng kết
thúc hoạt động hoặc do chuyển giao, chia tách, hợp nhất, sáp nhập, nếu phát hiện
hoặc bị tố cáo có vi phạm ở nơi sinh hoạt đảng trước đây mà chưa được xem xét,
xử lý thì do tổ chức đảng cấp trên của các tổ chức đảng nơi quản lý đảng viên
trước đây và hiện nay xem xét, xử lý hoặc giao tổ chức đảng cấp dưới xem xét, xử
lý, chỉ đạo xem xét, xử lý theo thẩm quyền.
4. Việc
thi hành kỷ luật đảng phải căn cứ nội dung, mức độ, tính chất, tác hại, ảnh hưởng,
nguyên nhân vi phạm, hoàn cảnh cụ thể và các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ
để xem xét, quyết định cho phù hợp và phải chịu trách nhiệm về quyết định đó.
5. Kỷ luật
đảng không thay thế kỷ luật hành chính, kỷ luật đoàn thể hoặc việc xử lý bằng
pháp luật và ngược lại (trừ trường hợp có quy định khác). Tổ chức đảng sau khi
xem xét, xử lý hoặc chỉ đạo việc xem xét, xử lý về kỷ luật đảng, chậm nhất 5
ngày phải chỉ đạo hoặc đề nghị với các tổ chức có trách nhiệm xem xét, xử lý kỷ
luật về hành chính, đoàn thể hoặc xử lý hình sự cho đồng bộ, kịp thời.
Khi các tổ
chức nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội đình chỉ công tác
hoặc xử lý kỷ luật đối với cán bộ, hội viên, đoàn viên là đảng viên (kể cả quyết
định giải quyết khiếu nại kỷ luật về hành chính của các cấp chính quyền hoặc bản
án, quyết định của toà án) thì chậm nhất 5 ngày phải chủ động thông báo cho tổ
chức đảng quản lý đảng viên đó để xem xét, xử lý kỷ luật đảng. Sau khi giải quyết
khiếu nại kỷ luật về Đảng, nếu có thay đổi hình thức kỷ luật thì tổ chức đảng
có thẩm quyền chỉ đạo việc xem xét lại hình thức kỷ luật về hành chính, đoàn thể.
6. Đối với
đảng viên là cấp uỷ viên các cấp hoặc cán bộ thuộc diện cấp uỷ, các cấp quản lý
đã nghỉ hưu, từ chức, miễn nhiệm hoặc cho thôi giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý hoặc
đã chuyển công tác khác, nếu phát hiện có vi phạm khi đang công tác thì thẩm
quyền thi hành kỷ luật của các tổ chức đảng được thực hiện như đang đương chức.
7. Đảng
viên vi phạm đang trong thời gian mang thai, nghỉ thai sản, đang nuôi con nhỏ
dưới 12 tháng tuổi hoặc đảng viên là nam giới (trong trường hợp vợ chết hoặc vì
lý do khách quan, bất khả kháng khác) đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi thì chưa
xem xét, xử lý kỷ luật, trừ trường hợp đảng viên đó có văn bản đề nghị xem xét,
xử lý kỷ luật. Đảng viên đang trong thời gian điều trị bệnh hiểm nghèo hoặc
đang mất khả năng nhận thức hoặc bị ốm nặng đang điều trị nội trú tại bệnh viện,
có xác nhận của cơ quan y tế có thẩm quyền (bệnh viện đa khoa khu vực và tương
đương trở lên) thì chưa xem xét, xử lý kỷ luật; khi sức khoẻ ổn định (được ra
viện) mới xem xét, xử lý kỷ luật. Trường hợp đảng viên vi phạm đã qua đời tổ chức
đảng xem xét, không xử lý kỷ luật, trừ trường hợp có vi phạm đặc biệt nghiêm trọng.
8. Tổ chức
đảng quyết định kỷ luật oan, sai đối với tổ chức đảng, đảng viên phải thay đổi
hoặc huỷ bỏ quyết định đó, đồng thời xin lỗi và phục hồi quyền lợi đối với tổ
chức đảng, đảng viên bị kỷ luật oan, tự phê bình, kiểm điểm, rút kinh nghiệm; nếu
vi phạm đến mức phải xử lý kỷ luật thì cấp uỷ hoặc Ủy ban kiểm tra cấp trên xem
xét, quyết định.
9. Đảng
viên chính thức vi phạm nghiêm trọng đến mức phải khai trừ thì phải kỷ luật
khai trừ, không áp dụng biện pháp xoá tên, không chấp nhận việc xin ra khỏi Đảng.
10. Đảng
viên dự bị vi phạm đến mức phải kỷ luật thì kỷ luật khiển trách hoặc cảnh cáo,
khi hết thời hạn dự bị, chi bộ vẫn tiến hành xét công nhận đảng viên chính thức.
Nếu vi phạm đến mức không còn đủ tư cách đảng viên thì xoá tên trong danh sách
đảng viên.
11. Khi kỷ
luật một tổ chức đảng phải xem xét trách nhiệm, xử lý kỷ luật đối với những đảng
viên vi phạm, nhất là trách nhiệm người đứng đầu tổ chức đảng.
12. Tổ chức
đảng, đảng viên bị kỷ luật oan phải được xin lỗi và phục hồi quyền lợi. Việc
xin lỗi và phục hồi quyền lợi thực hiện theo quy định của Bộ Chính trị.
Điều 9. Hình thức kỷ luật của Đảng
1. Đối với
tổ chức đảng: Khiển trách, cảnh cáo, giải tán.
2. Đối với
đảng viên chính thức: Khiển trách, cảnh cáo, cách chức (nếu có chức vụ), khai
trừ.
3. Đối với
đảng viên dự bị: Khiển trách, cảnh cáo.
Điều 10. Thẩm quyền thi hành kỷ luật đảng viên vi phạm
1. Thẩm
quyền của cấp uỷ, tổ chức đảng các cấp
1.1. Chi bộ
quyết định khiển trách, cảnh cáo đảng viên trong chi bộ (kể cả cấp uỷ viên các
cấp, đảng viên thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý) vi phạm phẩm chất chính trị,
tư tưởng, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển
hoá", sinh hoạt đảng, thực hiện nhiệm vụ do chi bộ giao, nhiệm vụ đảng
viên (trừ nhiệm vụ cấp trên giao).
a) Sau khi chi bộ
quyết định kỷ luật khiển trách, cảnh cáo đối với cấp uỷ viên các cấp, cán bộ
thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý, phải báo cáo lên các cấp uỷ mà đảng viên đó
là thành viên và cấp uỷ, Ủy ban kiểm tra cấp uỷ quản lý cán bộ.
b) Việc
cách chức, khai trừ cấp uỷ viên của chi bộ do chi bộ đề nghị cấp có thẩm quyền
xem xét, quyết định.
c) Đối với
cấp uỷ viên các cấp sinh hoạt tại chi bộ (từ cấp uỷ viên đảng uỷ trực thuộc cơ
sở trở lên) và cán bộ thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý, nếu vi phạm khi thực
hiện nhiệm vụ do cấp trên giao mà phải áp dụng hình thức kỷ luật thì chi bộ đề
nghị cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.
1.2. Đảng
uỷ bộ phận có trách nhiệm thẩm tra việc đề nghị thi hành kỷ luật của chi bộ để
báo cáo đề nghị cấp uỷ, ban thường vụ cấp uỷ cấp trên quyết định theo thẩm quyền.
1.3. Ban thường
vụ đảng uỷ trực thuộc cơ sở quyết định khiển trách, cảnh cáo đảng viên trong đảng
bộ nhưng không phải cấp uỷ viên cùng cấp hoặc cán bộ thuộc diện cấp uỷ cấp trên
quản lý.
1.4. Đảng
uỷ trực thuộc cơ sở quyết định các hình thức kỷ luật đảng viên trong đảng bộ;
cách chức cấp uỷ viên cấp dưới nhưng không phải là cấp uỷ viên cùng cấp hoặc
cán bộ thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý. Khiển trách, cảnh cáo đối với cấp uỷ
viên cùng cấp, cán bộ thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý vi phạm phẩm chất
chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, sinh hoạt đảng, thực hiện nhiệm vụ do cấp
uỷ cùng cấp giao; đối với cấp uỷ viên cùng cấp, cán bộ thuộc diện cấp uỷ cấp
trên quản lý nếu vi phạm nhiệm vụ chuyên môn đến mức phải kỷ luật thì đảng uỷ
trực thuộc cơ sở đề nghị cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.
- Trường hợp
tất cả cấp uỷ viên của chi bộ và của đảng bộ trực thuộc cơ sở đều bị thi hành kỷ
luật thì báo cáo tổ chức đảng có thẩm quyền cấp trên quyết định.
1.5. Ban thường
vụ đảng uỷ cơ sở quyết định các hình thức kỷ luật đảng viên; khiển trách, cảnh cáo
cấp uỷ viên cấp dưới nhưng không phải cấp uỷ viên cùng cấp hoặc cán bộ thuộc diện
cấp uỷ cấp trên quản lý.
1.6. Đảng
uỷ cơ sở quyết định các hình thức kỷ luật đảng viên; cách chức cấp uỷ viên cấp
dưới nhưng không phải là cấp uỷ viên cùng cấp hoặc cán bộ thuộc diện cấp uỷ cấp
trên quản lý; khiển trách, cảnh cáo đối với cấp uỷ viên cùng cấp, cán bộ thuộc
diện cấp uỷ cấp trên quản lý vi phạm phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối
sống, sinh hoạt đảng, thực hiện nhiệm vụ do cấp uỷ giao.
1.7. Ban thường
vụ tỉnh uỷ, thành uỷ và đảng uỷ trực thuộc Trung ương quyết định các hình thức
kỷ luật đảng viên nhưng không phải là cấp uỷ viên cùng cấp; quyết định khiển
trách, cảnh cáo cấp uỷ viên cùng cấp nhưng không phải đảng viên là cán bộ thuộc
diện cấp uỷ cấp trên quản lý khi vi phạm phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức,
lối sống, sinh hoạt đảng, thực hiện nhiệm vụ chuyên môn được giao; cán bộ thuộc
diện cấp uỷ cấp trên quản lý (kể cả trường hợp đã nghỉ công tác, nghỉ hưu) vi
phạm nhiệm vụ đảng viên, nhiệm vụ do cấp uỷ cùng cấp giao. Trường hợp cách chức,
khai trừ cấp uỷ viên cùng cấp thì báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.
1.8. Cấp uỷ
tỉnh, thành và đảng uỷ trực thuộc Trung ương quyết định các hình thức kỷ luật đảng
viên; quyết định khiển trách, cảnh cáo uỷ viên ban thường vụ cấp uỷ (đương chức
và nghỉ hưu) đảng viên là cán bộ thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý vi phạm phẩm
chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, sinh hoạt đảng, thực hiện nhiệm vụ
đảng viên, thực hiện nhiệm vụ do cấp uỷ giao.
1.9. Ban Bí thư,
Bộ Chính trị quyết định các hình thức kỷ luật đảng viên, kể cả đảng viên
là cán bộ thuộc diện Ban Bí thư, Bộ Chính trị quản lý; khiển trách, cảnh cáo Uỷ
viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng (kể cả Uỷ viên Bộ Chính trị, Uỷ viên Ban Bí
thư, Uỷ viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng) vi phạm phẩm chất chính
trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, sinh hoạt đảng, thực hiện nhiệm vụ đảng viên,
thực hiện nhiệm vụ chuyên môn được giao. Trường hợp cách chức, khai trừ thì báo
cáo Ban Chấp hành Trung ương Đảng xem xét, quyết định.
1.10. Ban Chấp
hành Trung ương Đảng là cấp quyết định kỷ luật cuối cùng; quyết định các hình
thức kỷ luật đảng viên, kể cả Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Uỷ viên Bộ
Chính trị, Uỷ viên Ban Bí thư.
2. Thẩm quyền
của Ủy ban kiểm tra các cấp
2.1. Ủy ban kiểm
tra đảng uỷ trực thuộc cơ sở quyết định khiển trách, cảnh cáo đảng viên trong đảng
bộ (kể cả cấp uỷ viên chi bộ, cấp uỷ viên đảng uỷ bộ phận, cán bộ thuộc diện cấp
uỷ cùng cấp quản lý nhưng không phải là cấp uỷ viên cùng cấp).
2.2. Ủy ban kiểm
tra đảng uỷ cơ sở quyết định các hình thức kỷ luật đảng viên. Quyết định khiển
trách, cảnh cáo cấp uỷ viên cấp dưới trực tiếp (kể cả bí thư, phó bí thư, uỷ
viên ban thường vụ cấp uỷ đương chức và nghỉ hưu); đảng viên là cán bộ thuộc diện
cấp uỷ cùng cấp quản lý nhưng không phải là cấp uỷ viên cùng cấp.
2.3. Ủy ban kiểm
tra tỉnh uỷ, thành uỷ và đảng uỷ trực thuộc Trung ương quyết định các hình thức
kỷ luật đối với đảng viên, nhưng không phải cấp uỷ viên cấp dưới trực tiếp hoặc
cán bộ do cấp uỷ tỉnh, thành và đảng uỷ trực thuộc Trung ương quản lý; khiển
trách, cảnh cáo cấp uỷ viên cấp dưới trực tiếp (kể cả bí thư, phó bí thư, uỷ
viên ban thường vụ cấp uỷ đương chức và nghỉ hưu); đảng viên là cán bộ thuộc diện
cấp uỷ cùng cấp quản lý nhưng không phải là cấp uỷ viên cùng cấp.
2.4. Ủy ban Kiểm
tra Trung ương quyết định các hình thức kỷ luật đối với đảng viên, cấp uỷ viên
cấp cơ sở trở xuống; khiển trách, cảnh cáo, cách chức cấp uỷ viên tỉnh uỷ,
thành uỷ và đảng uỷ trực thuộc Trung ương (kể cả bí thư, phó bí thư, uỷ viên
ban thường vụ đương chức và nghỉ hưu), đảng viên là cán bộ thuộc diện Bộ Chính
trị, Ban Bí thư quản lý nhưng không phải là Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
Điều 11. Thẩm quyền thi hành kỷ luật tổ chức đảng vi phạm
1. Thẩm
quyền của tổ chức đảng
a) Cấp uỷ,
ban thường vụ cấp uỷ từ cấp uỷ trực thuộc cơ sở trở lên có quyền kỷ luật tổ chức
đảng cấp dưới.
b) Tổ chức
đảng bị kỷ luật khiển trách, cảnh cáo do cấp uỷ hoặc ban thường vụ cấp uỷ cấp
trên trực tiếp quyết định.
c) Tổ chức
đảng bị kỷ luật giải tán do cấp uỷ hoặc ban thường vụ cấp uỷ cấp trên trực tiếp
đề nghị, cấp uỷ hoặc ban thường vụ cấp uỷ cấp trên cách một cấp quyết định. Quyết
định này phải báo cáo lên cấp uỷ cấp trên trực tiếp và Ủy ban Kiểm tra Trung
ương.
2. Thẩm
quyền của Ủy ban kiểm tra
Ủy ban kiểm
tra các cấp xem xét, kết luận, đề xuất với cấp uỷ hoặc ban thường vụ cấp uỷ
trong việc xử lý kỷ luật tổ chức đảng cấp dưới trực tiếp; quyết định hình thức
kỷ luật khiển trách, cảnh cáo tổ chức đảng trực thuộc cấp uỷ cấp dưới (tổ chức
đảng cách một cấp trở xuống).
Điều 12. Trình tự xem xét thi hành kỷ luật
1. Trước
khi quyết định kỷ luật, đại diện tổ chức đảng có thẩm quyền quyết định kỷ luật
nghe đảng viên vi phạm hoặc đại diện tổ chức đảng vi phạm trình bày ý kiến và ý
kiến này được báo cáo đầy đủ (kèm theo bản tự kiểm điểm) khi tổ chức đảng có thẩm
quyền họp xem xét, quyết định kỷ luật. Hoặc đại diện tổ chức đảng vi phạm, đảng
viên vi phạm có thể trình bày ý kiến trực tiếp với tổ chức đảng có thẩm quyền tại
hội nghị xem xét, quyết định kỷ luật.
Nếu đảng
viên hoặc người đại diện tổ chức đảng vi phạm không trực tiếp trình bày ý kiến
với đại diện tổ chức đảng có thẩm quyền khi được yêu cầu thì báo cáo với tổ chức
đảng đó bằng văn bản và phải nghiêm chỉnh chấp hành sau khi có quyết định kỷ luật.
2. Trình tự
xem xét, quyết định kỷ luật đảng viên
2.1. Đảng
viên vi phạm kỷ luật phải kiểm điểm trước chi bộ (trừ các trường hợp nêu tại Điểm
2.3, Khoản 2 Điều này), tự nhận hình thức kỷ luật; nếu từ chối kiểm điểm mà
không có lý do chính đáng thì tổ chức đảng vẫn tiến hành xem xét kỷ luật. Trường
hợp cần thiết, cấp uỷ và Ủy ban kiểm tra cấp có thẩm quyền trực tiếp xem xét kỷ
luật.
2.2. Cấp uỷ
hướng dẫn đảng viên vi phạm kỷ luật chuẩn bị bản tự kiểm điểm. Hội nghị chi bộ
thảo luận, góp ý và kết luận rõ nội dung, tính chất, mức độ, tác hại, nguyên
nhân vi phạm, các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ và biểu quyết (đề nghị hoặc
quyết định) kỷ luật. Đại diện cấp uỷ tham dự hội nghị chi bộ xem xét kỷ luật đảng
viên là cấp uỷ viên hoặc cán bộ thuộc diện cấp uỷ quản lý.
2.3. Đảng
viên vi phạm một trong các trường hợp sau thì cấp uỷ và Ủy ban kiểm tra có thẩm
quyền trực tiếp xem xét, quyết định kỷ luật, không cần yêu cầu đảng viên đó phải
kiểm điểm trước chi bộ: Vi phạm khi thực hiện nhiệm vụ cấp trên giao; nội dung
vi phạm liên quan đến bí mật của Đảng và Nhà nước mà chi bộ không biết; vi phạm
trước khi chuyển đến sinh hoạt ở chi bộ; vi phạm pháp luật đang bị khởi tố, tạm
giam, truy nã, truy tố, xét xử.
2.4. Đảng
viên sinh hoạt đảng tạm thời, nếu vi phạm kỷ luật thì cấp uỷ nơi đảng viên sinh
hoạt tạm thời có trách nhiệm xem xét, xử lý kỷ luật tới mức cảnh cáo. Sau khi xử
lý kỷ luật phải thông báo bằng văn bản cho cấp uỷ nơi đảng viên sinh hoạt chính
thức biết.
2.5. Tổ chức
đảng cấp trên có thẩm quyền khi phát hiện cấp uỷ viên các cấp, đảng viên thuộc
diện cấp uỷ cấp trên quản lý có vi phạm phải chỉ đạo tổ chức đảng cấp dưới, trước
hết là chi bộ xem xét, xử lý kỷ luật theo thẩm quyền.
Trường hợp
tổ chức đảng cấp dưới không xem xét, xử lý hoặc xử lý không đúng mức thì tổ chức
đảng có thẩm quyền cấp trên xem xét, xử lý kỷ luật; đồng thời xem xét trách nhiệm
của tổ chức đảng cấp dưới và người đứng đầu tổ chức đảng đó.
3. Trình tự
xem xét, quyết định kỷ luật tổ chức đảng
3.1. Tổ chức
đảng vi phạm phải tự kiểm điểm, tự nhận hình thức kỷ luật và báo cáo cấp uỷ cấp
trên xem xét, quyết định.
3.2. Nếu tổ
chức đảng sau khi chuyển giao, hợp nhất, sáp nhập, chia tách hoặc kết thúc hoạt
động, đã giải thể mới phát hiện có vi phạm thì tổ chức đảng có thẩm quyền cấp
trên của các tổ chức đảng đó xem xét, xử lý.
Điều 13. Kỷ luật cách chức đối với đảng viên
1. Đảng
viên giữ nhiều chức vụ (kể cả chức vụ đương nhiệm hoặc chức vụ ở các nhiệm kỳ
trước đó) vi phạm kỷ luật phải cách chức thì tuỳ mức độ, tính chất vi phạm mà
cách một, một số hay tất cả các chức vụ hoặc phải khai trừ thì tổ chức đảng quản
lý đảng viên đó quyết định.
2. Đảng
viên tham gia nhiều cấp uỷ (trừ Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng) vi phạm
đến mức phải cách chức cấp uỷ viên cao nhất hoặc khai trừ thì do ban thường vụ
cấp uỷ cấp trên trực tiếp của cấp uỷ cấp cao nhất mà đảng viên đó là thành viên
quyết định. Nếu phải cách chức cấp uỷ viên ở một cấp uỷ cấp dưới thì do ban thường
vụ cấp uỷ quản lý đảng viên đó quyết định.
3. Đảng viên
tham gia nhiều cấp uỷ, giữ nhiều chức vụ, bị kỷ luật cách chức một chức vụ
đương nhiệm hoặc chức vụ trước đó, thì cấp uỷ hoặc ban thường vụ cấp uỷ có thẩm
quyền phải xem xét các chức vụ khác, có thể cách chức hoặc cho thôi giữ một, một
số hoặc tất cả các chức vụ khác.
4. Việc kỷ
luật đối với uỷ viên ủy ban kiểm tra là cấp uỷ viên tiến hành như đối với cấp uỷ
viên. Nếu uỷ viên Ủy ban kiểm tra không phải là cấp uỷ viên thì việc kỷ luật
khiển trách, cảnh cáo tiến hành như đối với cán bộ do cấp uỷ cùng cấp quản lý;
trường hợp kỷ luật cách chức, khai trừ do cấp uỷ cùng cấp quyết định.
5. Cấp uỷ
viên vi phạm đến mức cách chức thì phải kỷ luật cách chức, không để thôi giữ chức,
không chấp nhận cho rút khỏi cấp uỷ.
Điều 14. Trình tự, thủ tục, cách thức bỏ phiếu thi hành kỷ luật
1. Sau khi xem
xét, kết luận tổ chức đảng, đảng viên có vi phạm đến mức phải thi hành kỷ
luật thì tổ chức đảng phải bỏ phiếu biểu quyết hình thức kỷ luật bằng phiếu
kín. Thực hiện kiểm điểm ở tổ chức đảng nào thì bỏ phiếu đề nghị hoặc quyết định
kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên ở tổ chức đảng đó.
2. Tổ chức
đảng và đảng viên vi phạm không thuộc thẩm quyền quyết định kỷ luật của cấp
mình thì đề nghị cấp có thẩm quyền quyết định.
3. Cách tính số
phiếu biểu quyết
3.1. Kết
quả biểu quyết quyết định các hình thức kỷ luật cụ thể mà không có hình thức kỷ
luật nào đủ số phiếu theo quy định, thì cộng dồn số phiếu từ hình thức kỷ luật
cao nhất xuống đến hình thức kỷ luật liền kề thấp hơn, đến hình thức kỷ luật
nào mà kết quả có đủ số phiếu theo quy định thì quyết định kỷ luật bằng hình thức
đó.
3.2. Quyết
định kỷ luật khiển trách, cảnh cáo, cách chức đối với đảng viên; khiển trách, cảnh
cáo đối với tổ chức đảng phải được biểu quyết với sự đồng ý của trên một nửa số
đảng viên chính thức hoặc thành viên của tổ chức đảng đó.
3.3. Trường
hợp khai trừ đảng viên phải được ít nhất hai phần ba số đảng viên chính thức hoặc
thành viên của tổ chức đảng đó nhất trí đề nghị và được sự nhất trí của trên một
nửa số thành viên tổ chức đảng cấp trên có thẩm quyền quyết định.
3.4. Trường
hợp giải tán tổ chức đảng phải được ít nhất hai phần ba số thành viên cấp uỷ cấp
trên trực tiếp đề nghị, cấp uỷ cấp trên cách một cấp quyết định với sự đồng ý của
trên một nửa số thành viên.
3.5. Một nửa
hay hai phần ba quy định ở trên được tính trên tổng số đảng viên chính thức hoặc
thành viên có quyền biểu quyết của tổ chức đảng, không tính trên số thành viên
có mặt trong cuộc họp:
a) Ở chi bộ
là tổng số đảng viên chính thức (trừ số đảng viên bị đình chỉ sinh hoạt đảng, bị
khởi tố, tạm giam, truy tố, đảng viên đã được giới thiệu sinh hoạt tạm thời ở đảng
bộ khác và đảng viên đã được miễn công tác, sinh hoạt đảng không có mặt tại cuộc
họp); nếu đảng viên được giới thiệu sinh hoạt tạm thời, đảng viên đã được miễn
công tác, sinh hoạt đảng đó có mặt ở cuộc họp, tham gia biểu quyết thì vẫn
tính.
b) Ở cấp uỷ,
ban thường vụ cấp uỷ hoặc ủy ban kiểm tra là tổng số cấp uỷ viên, uỷ viên ban
thường vụ hoặc tổng số thành viên ủy ban kiểm tra đương nhiệm (trừ số thành viên
đã chuyển sinh hoạt đảng tạm thời không có mặt tại hội nghị, bị đình chỉ sinh
hoạt đảng, bị khởi tố, tạm giam, truy tố).
Điều 15. Hiệu lực quyết định kỷ luật
1. Quyết định
kỷ luật tổ chức đảng và đảng viên vi phạm có hiệu lực kể từ ngày ký (trừ quyết
định kỷ luật thuộc thẩm quyền của chi bộ).
2. Quyết định
khiển trách, cảnh cáo đối với đảng viên vi phạm của chi bộ có hiệu lực ngay sau
khi chi bộ công bố kết quả biểu quyết quyết định kỷ luật. Trong vòng 10 ngày,
chi bộ ban hành quyết định kỷ luật giao cho đảng viên bị kỷ luật, báo cáo cấp
trên và lưu hồ sơ. Quyết định kỷ luật của chi bộ (trong đảng bộ bộ phận, trong
đảng bộ trực thuộc cơ sở, trong đảng bộ cơ sở), của ủy ban kiểm tra đảng uỷ trực
thuộc cơ sở được đóng dấu của đảng uỷ trực thuộc cơ sở vào phía trên, góc trái.
Đảng uỷ trực thuộc cơ sở hoặc cấp uỷ cơ sở không phải ra quyết định chuẩn y.
3. Tổ chức
đảng có thẩm quyền sau khi ký quyết định kỷ luật hoặc quyết định giải quyết khiếu
nại kỷ luật đảng phải kịp thời công bố (trực tiếp hoặc uỷ quyền cho tổ chức đảng
cấp dưới công bố) chậm nhất 10 ngày kể từ ngày ký. Tổ chức đảng cấp dưới được uỷ
quyền chậm nhất 5 ngày kể từ ngày nhận được uỷ quyền phải công bố quyết định
cho tổ chức đảng, đảng viên bị kỷ luật hoặc khiếu nại kỷ luật đảng. Nếu quá hạn
trên phải báo cáo ngay với cấp có thẩm quyền quyết định.
4. Đề nghị
của cấp dưới về kỷ luật cách chức, khai trừ đối với đảng viên và giải tán đối với
tổ chức đảng nếu chưa được tổ chức đảng có thẩm quyền quyết định và công bố thì
đảng viên đó vẫn được sinh hoạt đảng, sinh hoạt cấp uỷ, tổ chức đảng đó vẫn được
hoạt động.
5. Quyết định
của cấp dưới về kỷ luật tổ chức đảng và đảng viên vi phạm phải báo cáo lên cấp
uỷ, Ủy ban kiểm tra cấp trên trực tiếp; nếu đảng viên vi phạm tham gia nhiều cơ
quan lãnh đạo của Đảng thì phải báo cáo các cơ quan lãnh đạo cấp trên mà đảng
viên đó là thành viên.
6. Quyết định
của cấp trên về kỷ luật tổ chức đảng và đảng viên vi phạm phải được thông báo đến
cấp dưới, nơi có tổ chức đảng và đảng viên vi phạm; trường hợp cần thông báo rộng
hơn thì do cấp uỷ có thẩm quyền quyết định.
7. Quyết định
kỷ luật, quyết định giải quyết khiếu nại kỷ luật đối với tổ chức đảng hoặc đảng
viên vi phạm phải được giao cho tổ chức đảng và đảng viên vi phạm để chấp hành.
Nếu cần thông báo rộng hơn thì do cấp uỷ hoặc tổ chức đảng có thẩm quyền kỷ luật
đối với tổ chức đảng, đảng viên quyết định.
8. Phạm vi
thông báo các quyết định thi hành kỷ luật, quyết định giải quyết khiếu nại kỷ
luật đối với đảng viên là cấp uỷ viên các cấp, cán bộ thuộc diện cấp uỷ cấp trên
quản lý do cấp uỷ hoặc ban thường vụ cấp uỷ quản lý đảng viên đó quyết định.
9. Sau một
năm kể từ ngày quyết định kỷ luật hoặc quyết định giải quyết khiếu nại kỷ luật
có hiệu lực (trừ quyết định kỷ luật khai trừ đối với đảng viên hoặc quyết định
kỷ luật giải tán đối với tổ chức đảng), nếu tổ chức đảng, đảng viên không khiếu
nại, không tái phạm hoặc không có vi phạm mới đến mức phải xử lý kỷ luật thì
quyết định kỷ luật đương nhiên chấm dứt hiệu lực.
10. Trường
hợp quyết định thay đổi hình thức kỷ luật khiển trách, cảnh cáo, đối với tổ chức
đảng, đảng viên (kể cả trường hợp do tổ chức đảng cấp dưới thực hiện không đúng
quy định, do thay đổi hình thức kỷ luật hoặc giải quyết khiếu nại về hành
chính, đoàn thể) thì thời hạn chấp hành kỷ luật được tính từ ngày quyết định kỷ
luật đầu tiên có hiệu lực.
Trường hợp
quyết định thay đổi hình thức kỷ luật giải tán đối với tổ chức đảng, khai trừ đối
với đảng viên thì thời hạn chấp hành kỷ luật được tính từ ngày quyết định kỷ luật
thay thế có hiệu lực.
Điều 16. Kỷ luật đối với đảng viên vi phạm pháp luật
1. Khi cơ quan có
thẩm quyền ra quyết định tạm giữ, bắt, khám xét khẩn cấp, khởi tố bị can
hoặc khi có bản án của toà án có thẩm quyền đối với công dân là đảng viên thì
chậm nhất là 3 ngày, thủ trưởng cơ quan đó có trách nhiệm thông báo bằng văn bản
cho tổ chức đảng trực tiếp quản lý đảng viên đó.
2. Đảng
viên bị khởi tố, truy tố hoặc do cơ quan điều tra, viện kiểm sát, thanh tra, kiểm
toán nhà nước cung cấp nội dung liên quan đến dấu hiệu vi phạm pháp luật thì tổ
chức đảng có thẩm quyền chủ động, kịp thời kiểm tra, kết luận và xem xét, xử lý
kỷ luật đảng viên có vi phạm đến mức phải xử lý, không chờ kết luận hoặc tuyên
án của toà án hoặc kết luận của cơ quan điều tra, viện kiểm sát, thanh tra, kiểm
toán; không cần quyết định cho đảng viên, cấp uỷ viên trở lại sinh hoạt mới xem
xét, xử lý kỷ luật. Sau khi có bản án hoặc quyết định của toà án hoặc kết luận
của cơ quan điều tra, viện kiểm sát, thanh tra, kiểm toán, nếu thấy cần thiết,
tổ chức đảng có thẩm quyền kỷ luật xem xét lại việc kỷ luật đảng đối với đảng
viên đó.
3. Đảng
viên có vi phạm bị truy nã, tạm giam hoặc bị toà án tuyên phạt từ hình phạt cải
tạo không giam giữ trở lên thì tổ chức đảng có thẩm quyền quyết định khai trừ
hoặc xoá tên trong danh sách đảng viên (đối với đảng viên dự bị), không phải thực
hiện đầy đủ các bước theo quy trình thi hành kỷ luật. Tổ chức đảng có thẩm quyền
quyết định khai trừ hoặc xoá tên đảng viên thông báo bằng văn bản cho chi bộ
nơi đảng viên sinh hoạt và các tổ chức đảng nơi đảng viên đó là thành viên. Đảng
viên, cấp uỷ viên bị toà án tuyên phạt hình phạt thấp hơn hình phạt cải tạo
không giam giữ, sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, tổ chức đảng có thẩm quyền
xem xét lại quyết định xử lý kỷ luật theo đúng quy định.
4. Trong quá trình
kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án
các vụ án, vụ việc tham nhũng, kinh tế, nếu phát hiện dấu hiệu vi phạm pháp luật liên quan đến cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý thì
người đứng đầu cấp uỷ của các cơ quan, đơn vị phải báo cáo ngay cho đồng chí
Phó Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực
là Thường trực Ban Bí thư, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Trưởng Ban Nội
chính Trung ương để tham mưu cho đồng chí Tổng Bí thư, Trưởng Ban Chỉ đạo chỉ đạo
xử lý; đồng thời chuyển ngay hồ sơ, tài liệu liên quan đến Ủy ban Kiểm tra
Trung ương; tại địa phương, nếu phát hiện dấu hiệu vi phạm pháp luật liên quan
đến cán bộ thuộc diện cấp uỷ tỉnh, thành uỷ quản lý thì báo cáo đồng chí Trưởng
Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực để chỉ đạo
xử lý; đồng thời chuyển ngay hồ sơ, tài liệu liên quan đến Ủy ban kiểm tra tỉnh
uỷ, thành uỷ để kiểm tra, xử lý theo quy định của Đảng.
5. Đảng
viên bị kết án oan, sai đã được toà án quyết định huỷ bỏ bản án hoặc thay đổi mức
án, cơ quan có thẩm quyền đình chỉ vụ án, đình chỉ bị can thì các tổ chức đảng
có thẩm quyền phải kịp thời xem xét lại quyết định kỷ luật đối với đảng viên
đó, kể cả trường hợp đã chết.
Điều 17. Kỷ luật giải tán tổ chức đảng
1. Chỉ giải
tán một tổ chức đảng khi tổ chức đảng đó có hành động chống đối chủ trương, quy
định của Đảng; vi phạm đặc biệt nghiêm trọng nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng
hoặc pháp luật của Nhà nước.
2. Những tổ
chức đảng vi phạm một trong các nội dung sau đây thì giải tán
a) Có hành động
chống đối quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng với các hành vi
cụ thể như: Tổ chức, kích động, xúi giục, cưỡng bức quần chúng mít tinh, biểu
tình trái với quy định của pháp luật; xuyên tạc sự thật, xuyên tạc lịch sử, phủ
nhận vai trò lãnh đạo của Đảng; có hành động cụ thể chống Đảng.
b) Vi phạm
đặc biệt nghiêm trọng nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng hoặc pháp luật Nhà
nước với các hành vi như: Bỏ ba kỳ liên tiếp không sinh hoạt; cố ý không chấp
hành chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước; chia rẽ bè phái, mất
đoàn kết nghiêm trọng, không còn vai trò và tác dụng lãnh đạo đối với địa
phương, đơn vị.
3. Tổ chức
đảng bị kỷ luật giải tán, cấp uỷ cấp trên trực tiếp lập tổ chức đảng mới hoặc
giới thiệu sinh hoạt đảng cho số đảng viên còn lại.
4. Đối với
cấp uỷ, ban thường vụ cấp uỷ bị kỷ luật giải tán, cấp uỷ cấp trên trực tiếp xem
xét xử lý kỷ luật những thành viên của tổ chức đảng đó và chỉ định cấp uỷ, cấp
uỷ bầu ban thường vụ cấp uỷ, Ủy ban kiểm tra và chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra.
Chương IV
GIẢI QUYẾT TỐ
CÁO ĐỐI VỚI TỔ CHỨC ĐẢNG VÀ ĐẢNG VIÊN
Điều 18. Nguyên tắc giải quyết tố cáo
1. Khi nhận
được tố cáo, cơ quan có thẩm quyền phải kịp thời phân loại, nắm tình hình đơn tố
cáo (người tố cáo, đối tượng bị tố cáo, nội dung tố cáo), giải quyết các trường
hợp thuộc phạm vi trách nhiệm hoặc phối hợp với các tổ chức đảng có thẩm quyền
để giải quyết; nếu không thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan mình thì chuyển
đến các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giải quyết các đơn tố cáo hoặc xếp lưu
theo quy định.
2. Thời hạn
giải quyết tố cáo: Chậm nhất 60 ngày đối với cấp tỉnh, thành uỷ và đảng uỷ trực
thuộc Trung ương trở xuống; 90 ngày đối với cấp Trung ương, kể từ ngày ký quyết
định giải quyết tố cáo đến ngày ban hành thông báo kết luận giải quyết tố cáo
(trừ trường hợp bất khả kháng hoặc đề nghị giám định chuyên môn, kỹ thuật liên
quan đến nội dung tố cáo).
Trường hợp
vụ việc phức tạp thì có thể gia hạn giải quyết tố cáo 1 lần nhưng không quá 30
ngày, đồng thời phải thông báo cho người tố cáo, người bị tố cáo, tổ chức có
liên quan biết. Sau khi giải quyết xong, trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ban
hành thông báo kết luận giải quyết tố cáo phải thông báo cho người tố cáo biết
kết quả giải quyết tố cáo bằng hình thức thích hợp; trường hợp người tố cáo được
mời (2 lần) nhưng không đến làm việc mà không có lý do chính đáng thì tổ chức đảng
có thẩm quyền giải quyết tố cáo lập biên bản, không xem xét, giải quyết tố cáo,
lưu hồ sơ kết thúc.
3. Trường hợp
tố cáo có liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành, Ủy ban kiểm tra báo cáo cấp uỷ
hoặc ban thường vụ cấp uỷ cùng cấp xem xét, giải quyết hoặc chỉ đạo phối hợp giải
quyết.
4. Trường
hợp người tố cáo xin rút nội dung tố cáo thì tổ chức đảng giải quyết tố cáo
không xem xét, giải quyết nội dung tố cáo đó, trừ trường hợp có căn cứ xác định
người tố cáo bị đe doạ, ép buộc, mua chuộc.
5. Tổ chức
đảng quản lý đối tượng bị tố cáo phải bảo đảm quyền dân chủ của đảng viên và quần
chúng trong việc giám sát, tố cáo, phản ánh về tổ chức đảng và đảng viên có dấu
hiệu vi phạm. Phối hợp và thực hiện yêu cầu của tổ chức đảng có thẩm quyền giải
quyết tố cáo. Trong thời gian đang giải quyết, chưa kết luận thì tổ chức đảng
quản lý đảng viên phải bảo đảm các quyền của đảng viên, của tổ chức đảng bị tố
cáo; giáo dục và tạo điều kiện để đảng viên, tổ chức đảng thực hiện nghiêm các
yêu cầu của tổ chức đảng giải quyết tố cáo.
6. Những
người lợi dụng việc tố cáo để xuyên tạc sự thật, vu khống, tố cáo bịa đặt, đả
kích, chia rẽ bè phái, gây rối nội bộ, tố cáo nhiều lần có dụng ý xấu phải được
xem xét, xử lý nghiêm theo quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
7. Không giải
quyết đơn tố cáo đang được cấp có thẩm quyền giải quyết; đơn tố cáo nặc danh,
giấu tên, mạo tên, không rõ địa chỉ, không rõ nội dung và đơn tố cáo có tên đã
được cấp có thẩm quyền xem xét, kết luận hoặc đã có thông báo không xem xét, giải
quyết; đơn tố cáo do người tố cáo đã tự nguyện rút đơn nay tiếp tục tố cáo lại
nhưng không cung cấp thêm nội dung, tài liệu, chứng cứ mới làm thay đổi bản chất
sự việc; đơn tố cáo có tên nhưng nội dung không cụ thể, không có cơ sở, không
có căn cứ để thẩm tra, xác minh; đơn tố cáo có tên nhưng trong nội dung của đơn
không chứa đựng, phản ánh nội dung tố cáo đối với đảng viên, tổ chức đảng; đơn
tố cáo không phải do người tố cáo trực tiếp ký tên hoặc điểm chỉ; đơn tố cáo có
từ hai người trở lên cùng ký tên; đơn tố cáo của người không có năng lực hành
vi dân sự.
Nếu đơn tố
cáo nặc danh, giấu tên, mạo tên, nhưng rõ địa chỉ, đối tượng và nội dung tố cáo
thì tổ chức đảng có thẩm quyền nắm tình hình để làm cơ sở kiểm tra, giám sát đối
với tổ chức đảng, đảng viên bị tố cáo.
8. Tổ chức
đảng và đảng viên nhận được tố cáo phải bảo đảm bí mật cho người tố cáo, hướng
dẫn người tố cáo thực hiện đúng quy định của Đảng, Nhà nước và có biện pháp bảo
vệ người tố cáo. Không để người bị tố cáo chủ trì giải quyết tố cáo đối với
mình. Không để người tố cáo hoặc người có liên quan đến tố cáo giải quyết tố
cáo.
9. Cấp uỷ,
ban thường vụ cấp uỷ, ủy ban kiểm tra các cấp giải quyết tố cáo phải xử lý hoặc
đề nghị xử lý nghiêm những trường hợp sau: Truy tìm, trù dập, trả thù người tố
cáo; cản trở, không xem xét, giải quyết tố cáo; bao che những việc làm sai trái
của đối tượng bị tố cáo; để lộ tên người tố cáo cho đối tượng bị tố cáo biết; để
lộ tên người tố cáo, nội dung tố cáo cho người không có trách nhiệm biết; người
tố cáo lợi dụng việc tố cáo để xuyên tạc sự thật, vu khống, tố cáo mang tính bịa
đặt, đả kích, gây dư luận xấu đối với người khác, các tổ chức, cơ quan, đơn vị
có liên quan.
Điều 19. Thẩm quyền giải quyết tố cáo
1. Cấp uỷ,
ban thường vụ cấp uỷ, Ủy ban kiểm tra có nhiệm vụ giải quyết tố cáo đối với tổ
chức đảng và đảng viên thuộc phạm vi quản lý của cấp uỷ cùng cấp. Tổ chức đảng có
nhiệm vụ giải quyết tố cáo đối với tổ chức đảng, đảng viên thuộc phạm vi phụ
trách. Chi bộ có nhiệm vụ giải quyết tố cáo đối với đảng viên thuộc phạm vi quản
lý.
2. Trường
hợp đảng viên là cấp uỷ viên các cấp hoặc cán bộ thuộc diện cấp uỷ các cấp quản
lý đã nghỉ hưu, từ chức, miễn nhiệm hoặc cho thôi giữ chức vụ lãnh đạo, quản
lý, nếu bị tố cáo vi phạm khi đang công tác thì thẩm quyền giải quyết tố cáo được
thực hiện như đang đương chức.
Điều 20. Nội dung tố cáo phải giải quyết
1. Đối với
tổ chức đảng: Những nội dung liên quan đến việc chấp hành chủ trương, quy định
của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng;
đoàn kết nội bộ.
2. Đối với
đảng viên: Những nội dung liên quan đến tiêu chuẩn đảng viên, tiêu chuẩn cấp uỷ
viên và việc thực hiện nhiệm vụ đảng viên; việc chấp hành chủ trương, quy định
của Đảng, pháp luật của Nhà nước; về nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng, thực
hiện chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn và phẩm chất, đạo đức, lối sống của cán bộ,
đảng viên; về thực hiện trách nhiệm nêu gương; về "tự diễn biến",
"tự chuyển hoá".
3. Những nội
dung tố cáo mà Ủy ban kiểm tra chưa đủ điều kiện xem xét thì kiến nghị cấp uỷ,
ban thường vụ cấp uỷ phối hợp hoặc yêu cầu tổ chức đảng ở cơ quan, đơn vị cùng
cấp có thẩm quyền giải quyết.
4. Kết luận
giải quyết tố cáo phải nêu rõ đối với từng nội dung tố cáo: Tố cáo sai; tố cáo
không có cơ sở, không đủ căn cứ kết luận; tố cáo đúng có khuyết điểm; tố cáo
đúng có vi phạm.
Chương V
GIẢI QUYẾT KHIẾU
NẠI KỶ LUẬT ĐẢNG
Điều 21. Phạm vi, đối tượng giải quyết khiếu nại
1. Giải
quyết khiếu nại về nội dung vi phạm, hình thức kỷ luật trong quyết định kỷ luật
và về nguyên tắc, thủ tục, quy trình, thẩm quyền thi hành kỷ luật mà tổ chức đảng,
đảng viên bị kỷ luật có khiếu nại. Trong quá trình giải quyết, nếu phát hiện đảng
viên khiếu nại có dấu hiệu vi phạm hoặc có đơn tố cáo thì cấp có thẩm quyền giải
quyết khiếu nại xem xét, quyết định.
2. Đảng
viên bị kỷ luật có khiếu nại chưa được giải quyết hoặc đang giải quyết đã qua đời
thì tổ chức đảng vẫn xem xét, giải quyết; nếu thân nhân (cha, mẹ; vợ hoặc chồng;
con; anh, chị, em ruột) đề nghị cho biết kết quả thì thông báo kết quả giải quyết
khiếu nại bằng văn bản cho tổ chức đảng nơi cư trú và thân nhân người đó biết.
3. Không giải
quyết những trường hợp khiếu nại sau: Quá thời hạn khiếu nại theo quy định;
đang được cấp trên có thẩm quyền giải quyết; đã được cấp có thẩm quyền cao nhất
xem xét, kết luận, quyết định; bị toà án quyết định hình phạt từ cải tạo không
giam giữ trở lên chưa được toà án có thẩm quyền quyết định huỷ bỏ bản án; khiếu
nại hộ, khiếu nại khi chưa nhận được quyết định kỷ luật bằng văn bản của tổ chức
đảng có thẩm quyền; từ chối nhận quyết định kỷ luật hoặc quyết định giải quyết
khiếu nại kỷ luật đảng.
Điều 22. Nguyên tắc khiếu nại và giải quyết khiếu nại
1. Nghiêm cấm
các hành vi cản trở, không xem xét, giải quyết khiếu nại. Không khiếu nại vượt
cấp khi chưa giải quyết xong. Không gửi đơn khiếu nại đến nhiều cấp, đến các tổ
chức và cá nhân không có thẩm quyền giải quyết. Không khiếu nại hộ.
2. Trong khi chờ
giải quyết khiếu nại, tổ chức đảng và đảng viên bị kỷ luật phải chấp hành
nghiêm chỉnh quyết định kỷ luật. Khi tổ chức đảng cấp trên tiến hành giải quyết
khiếu nại, các tổ chức đảng cấp dưới phải nghiêm túc xem xét lại quyết định của
mình và chấp hành nghiêm quyết định giải quyết khiếu nại của tổ chức đảng cấp
trên; trường hợp tổ chức đảng, đảng viên khiếu nại được mời (2 lần) nhưng không
đến làm việc mà không có lý do chính đáng thì tổ chức đảng có thẩm quyền giải
quyết khiếu nại lập biên bản, không xem xét, giải quyết khiếu nại, lưu hồ sơ kết
thúc.
3. Tổ chức
đảng trực tiếp quản lý đảng viên khiếu nại phối hợp với Ủy ban kiểm tra, ban
thường vụ cấp uỷ hoặc cấp uỷ để giải quyết khiếu nại; giáo dục và tạo điều kiện
để người khiếu nại thực hiện đầy đủ các yêu cầu của Ủy ban kiểm tra, ban thường
vụ cấp uỷ hoặc cấp uỷ; chấp hành nghiêm yêu cầu, kết luận hoặc quyết định giải
quyết khiếu nại của Ủy ban kiểm tra, ban thường vụ cấp uỷ hoặc cấp uỷ cấp trên.
Điều 23. Thẩm quyền, trách nhiệm giải quyết khiếu nại
1. Việc giải
quyết khiếu nại kỷ luật đảng được tiến hành từ Ủy ban kiểm tra; ban thường vụ cấp
uỷ hoặc cấp uỷ từ cấp trực thuộc cơ sở trở lên (sau đây gọi chung là ban thường
vụ cấp uỷ), trừ trường hợp tổ chức đảng cấp trên quyết định kỷ luật tổ chức đảng,
đảng viên cách cấp.
2. Ban thường
vụ cấp uỷ là cấp giải quyết khiếu nại kỷ luật lần đầu của tổ chức đảng, đảng
viên đối với quyết định kỷ luật của Ủy ban kiểm tra cùng cấp.
3. Ủy ban kiểm
tra tỉnh uỷ, thành uỷ và đảng uỷ trực thuộc Trung ương là cấp giải quyết khiếu
nại cuối cùng đối với hình thức kỷ luật khiển trách, cảnh cáo đảng viên do ban
thường vụ cấp uỷ trực thuộc cơ sở trở xuống quyết định kỷ luật.
4. Ban thường
vụ cấp uỷ tỉnh, thành uỷ và đảng uỷ trực thuộc Trung ương là cấp giải quyết khiếu
nại cuối cùng đối với hình thức kỷ luật khiển trách, cảnh cáo đảng viên do ban
thường vụ cấp uỷ cơ sở trở xuống quyết định kỷ luật (trừ trường hợp đã được giải
quyết tại Khoản 3 Điều này); khiển trách, cảnh cáo tổ chức đảng do ban thường vụ
cấp uỷ cấp cơ sở trở xuống quyết định kỷ luật.
5. Ủy ban Kiểm
tra Trung ương là cấp giải quyết khiếu nại cuối cùng đối với các hình thức kỷ
luật cách chức đảng viên; khiển trách, cảnh cáo đảng viên do ban thường vụ cấp
uỷ tỉnh, thành uỷ và đảng uỷ trực thuộc Trung ương trở xuống quyết định kỷ luật
(trừ trường hợp đã được giải quyết tại Khoản 3, Khoản 4 Điều này).
6. Ban Bí thư là
cấp giải quyết khiếu nại cuối cùng đối với hình thức kỷ luật khai trừ đảng
viên (trừ trường hợp do Ủy ban Kiểm tra Trung ương quyết định kỷ luật); khiển
trách, cảnh cáo tổ chức đảng do cấp uỷ, tổ chức đảng trực thuộc Trung ương trở
xuống quyết định (trừ trường hợp đã được giải quyết tại Khoản 4 Điều này).
7. Đối với
các hình thức kỷ luật do Ủy ban Kiểm tra Trung ương quyết định thì Bộ Chính trị
là cấp giải quyết khiếu nại cuối cùng.
8. Đối với
các hình thức kỷ luật do Ban Bí thư, Bộ Chính trị quyết định thì Ban Chấp hành
Trung ương Đảng là cấp giải quyết khiếu nại cuối cùng.
9. Đối với
trường hợp tổ chức đảng vừa ban hành quyết định kỷ luật hoặc quyết định giải
quyết khiếu nại, nhưng do yêu cầu về tổ chức phải chuyển giao, chia tách, hợp
nhất, sáp nhập hoặc kết thúc nhiệm kỳ hoạt động mới phát sinh đơn khiếu nại
trong thời hạn quy định thì tổ chức đảng tiếp nhận việc chuyển giao, chia tách,
hợp nhất, sáp nhập hoặc kết thúc nhiệm kỳ hoạt động đó thực hiện việc giải quyết
khiếu nại tiếp theo.
Tổ chức đảng,
đảng viên bị kỷ luật đang khiếu nại nhưng do kết thúc nhiệm kỳ hoạt động hoặc
chia tách, sáp nhập thì tổ chức đảng có thẩm quyền vẫn xem xét, giải quyết và
thông báo kết quả cho tổ chức đảng tiếp nhận việc kết thúc hoạt động, chia
tách, hợp nhất, sáp nhập và đảng viên biết.
Điều 24. Thẩm quyền chuẩn y, thay đổi hoặc xoá kỷ luật
Ủy ban kiểm
tra cấp uỷ, ban thường vụ cấp uỷ từ cấp trực thuộc cơ sở trở lên có thẩm quyền
chuẩn y, thay đổi hoặc xoá bỏ hình thức kỷ luật đối với đảng viên, tổ chức đảng
do tổ chức đảng cấp dưới quyết định. Trường hợp phải thay đổi bằng hình thức kỷ
luật cao hơn, vượt quá thẩm quyền phải báo cáo tổ chức đảng có thẩm quyền cấp
trên xem xét, quyết định.
Điều 25. Thời hạn khiếu nại, thời hạn giải quyết khiếu nại và thời
hạn chuyển đơn khiếu nại không thuộc thẩm quyền giải quyết
1. Tổ chức
đảng, đảng viên bị kỷ luật không đồng ý với quyết định kỷ luật hoặc quyết định
giải quyết khiếu nại kỷ luật có quyền khiếu nại lên các tổ chức đảng cấp trên
có thẩm quyền giải quyết. Thời hạn khiếu nại trong vòng 30 ngày, tính từ ngày
nhận quyết định kỷ luật hoặc quyết định giải quyết khiếu nại kỷ luật (căn cứ
ngày công bố quyết định) đến ngày tổ chức đảng, đảng viên bị kỷ luật gửi đơn
khiếu nại trực tiếp hoặc theo dấu bưu điện chuyển đến (trừ trường hợp cấp thẩm
quyền kiểm tra việc thi hành kỷ luật, kiểm tra việc giải quyết khiếu nại kỷ luật
đảng đối với tổ chức đảng, đảng viên của cấp uỷ, ban thường vụ cấp uỷ và Ủy ban
kiểm tra cấp dưới và quyết định thay đổi hình thức kỷ luật).
2. Khi nhận
được đơn khiếu nại kỷ luật đảng, cấp có thẩm quyền phải tiến hành xác minh người
khiếu nại, nội dung khiếu nại và thông báo cho tổ chức đảng hoặc đảng viên khiếu
nại biết; hướng dẫn người khiếu nại thực hiện đúng quy định của Đảng. Thời hạn
giải quyết khiếu nại chậm nhất là 60 ngày đối với cấp tỉnh, thành uỷ và đảng uỷ
trực thuộc Trung ương trở xuống; 90 ngày đối với cấp Trung ương, kể từ ngày nhận
được đơn khiếu nại (gửi trực tiếp hoặc theo dấu bưu điện chuyển đến) đến ngày
ban hành quyết định giải quyết khiếu nại (trừ trường hợp bất khả kháng hoặc đề
nghị giám định chuyên môn, kỹ thuật liên quan đến nội dung khiếu nại). Trường hợp
hết thời hạn mà chưa giải quyết xong thì được gia hạn 1 lần nhưng không quá 30
ngày, đồng thời phải có văn bản thông báo cho người khiếu nại biết.
3. Tổ chức
đảng khi nhận được khiếu nại không thuộc thẩm quyền giải quyết thì chậm nhất 5
ngày phải chuyển cho tổ chức đảng có thẩm quyền giải quyết, đồng thời báo cho
người khiếu nại biết.
4. Trong trường
hợp bất khả kháng, người khiếu nại không thực hiện được quyền khiếu nại theo
đúng thời gian quy định thì thời gian bất khả kháng đó không được tính vào thời
gian khiếu nại.
Điều 26. Trình tự, thủ tục, phương pháp tiến hành
1. Sau khi xem
xét, kết luận, tổ chức đảng phải biểu quyết bằng phiếu kín quyết định
hình thức kỷ luật cụ thể. Việc tính số phiếu biểu quyết để quyết định hình thức
kỷ luật thực hiện như quy định tại Khoản 3, Điều 14 Quy định này.
Trường hợp biểu quyết quyết định hình thức kỷ luật cụ thể không đủ số phiếu
theo quy định thì báo cáo tổ chức đảng cấp trên có thẩm quyền xem xét, quyết định.
2. Khiếu nại
kỷ luật đảng thuộc thẩm quyền giải quyết của ban thường vụ cấp uỷ hoặc cấp uỷ
(kể cả Ban Bí thư, Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương) thì Ủy ban kiểm tra
phối hợp với văn phòng cấp uỷ và các cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp uỷ
cùng cấp hoặc các tổ chức đảng có liên quan giúp ban thường vụ cấp uỷ hoặc cấp
uỷ (ở Trung ương là Ban Bí thư, Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương) lập
đoàn (tổ) giải quyết khiếu nại. Đoàn (tổ) giải quyết khiếu nại có trách nhiệm
giải quyết và chuẩn bị hồ sơ vụ việc khiếu nại trình cấp có thẩm quyền xem xét,
quyết định.
3. Ủy ban kiểm
tra sau khi giải quyết khiếu nại kỷ luật đảng phải báo cáo ban thường vụ cấp uỷ
cùng cấp. Ban thường vụ cấp uỷ sau khi giải quyết khiếu nại kỷ luật đảng phải
báo cáo cấp uỷ cùng cấp. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày ban hành quyết định
giải quyết khiếu nại, phải thông báo cho người khiếu nại biết.
4. Đảng uỷ
bộ phận có trách nhiệm xem xét khiếu nại kỷ luật đảng của đảng viên do chi bộ
quyết định nhưng không có quyền chuẩn y hoặc thay đổi, xoá bỏ hình thức kỷ luật
mà phải đề nghị Ủy ban kiểm tra đảng uỷ, ban thường vụ đảng uỷ trực thuộc cơ sở
hoặc đảng uỷ trực thuộc cơ sở xem xét, quyết định.
Chương VI
ĐÌNH CHỈ HOẠT ĐỘNG,
SINH HOẠT ĐẢNG, CẤP UỶ
Điều 27. Trường hợp bị đình chỉ hoạt động, sinh hoạt đảng, cấp uỷ
1. Việc
đình chỉ sinh hoạt đảng của đảng viên, đình chỉ sinh hoạt cấp uỷ của cấp uỷ
viên, đình chỉ hoạt động của tổ chức đảng nhằm ngăn chặn hành vi gây trở ngại
cho việc xem xét, kết luận của tổ chức đảng có thẩm quyền hoặc hành vi làm cho
vi phạm trở nên nghiêm trọng hơn.
2. Đảng
viên, cấp uỷ viên có dấu hiệu vi phạm nghiêm trọng kỷ luật đảng mà có hành vi cố
ý gây trở ngại cho hoạt động của cấp uỷ và công tác kiểm tra của Đảng hoặc bị
cơ quan pháp luật có thẩm quyền ra quyết định khởi tố, truy tố, thì phải đình
chỉ sinh hoạt đảng (công bố quyết định đình chỉ tại các tổ chức đảng mà đảng
viên đang sinh hoạt); cấp uỷ viên bị đình chỉ sinh hoạt đảng đương nhiên bị
đình chỉ sinh hoạt cấp uỷ.
3. Tổ chức
đảng có dấu hiệu vi phạm nghiêm trọng kỷ luật đảng mà có hành vi cụ thể cố ý
gây trở ngại cho hoạt động của tổ chức đảng, cho công tác lãnh đạo và kiểm tra
của Đảng thì đình chỉ hoạt động.
Điều 28. Thẩm quyền đình chỉ hoạt động, sinh hoạt đảng, cấp uỷ
1. Đối với
tổ chức đảng
1.1. Tổ chức
đảng quyết định đình chỉ hoạt động của một tổ chức đảng là tổ chức đảng có thẩm
quyền giải tán tổ chức đó.
1.2. Khi có đủ
căn cứ phải đình chỉ mà tổ chức đảng cấp dưới không đề nghị đình chỉ hoặc không
đình chỉ thì tổ chức đảng cấp trên có thẩm quyền ra quyết định đình chỉ sinh hoạt
đảng của đảng viên, sinh hoạt cấp uỷ của cấp uỷ viên, đình chỉ chức vụ trong Đảng,
đình chỉ công tác hoặc đình chỉ hoạt động của tổ chức đảng. Quyết định đó được
thông báo cho đảng viên, cấp uỷ viên bị đình chỉ sinh hoạt, tổ chức đảng bị
đình chỉ hoạt động và các tổ chức đảng có liên quan để chấp hành.
2. Đối với
đảng viên
2.1. Tổ chức
đảng quyết định đình chỉ sinh hoạt đảng, đình chỉ chức vụ trong Đảng, đình chỉ
công tác của đảng viên là tổ chức đảng có thẩm quyền khai trừ đối với đảng viên
đó.
2.2. Ủy ban kiểm
tra đảng uỷ cơ sở trở lên được quyền quyết định đình chỉ sinh hoạt đảng của đảng
viên, đình chỉ sinh hoạt cấp uỷ của cấp uỷ viên cấp dưới trực tiếp khi có đề
nghị của tổ chức đảng hoặc bị khởi tố; đình chỉ sinh hoạt đảng của cấp uỷ viên
cấp dưới trực tiếp và đảng viên là cán bộ thuộc diện cấp uỷ cùng cấp quản lý (ở
Trung ương là Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý) nhưng không phải là cấp uỷ viên
cùng cấp khi có đề nghị của tổ chức đảng hoặc bị tạm giam, truy tố.
3. Đối với
cấp uỷ viên
3.1. Tổ chức
đảng quyết định đình chỉ sinh hoạt cấp uỷ của cấp uỷ viên là tổ chức đảng có thẩm
quyền cách chức cấp uỷ viên đó.
3.2. Đình chỉ
sinh hoạt cấp uỷ của cấp uỷ viên do chi bộ hoặc ban thường vụ cấp uỷ, cấp uỷ cùng
cấp đề nghị, Ủy ban kiểm tra hoặc ban thường vụ cấp uỷ, cấp uỷ cấp trên trực tiếp
quyết định. Nếu đảng viên tham gia nhiều cấp uỷ thì Ủy ban kiểm tra hoặc ban
thường vụ cấp uỷ, cấp uỷ phát hiện đảng viên có dấu hiệu vi phạm đề nghị, cấp
có thẩm quyền cách chức cấp uỷ viên, khai trừ đảng viên đó quyết định.
4. Trong trường
hợp cần thiết hoặc khi có dấu hiệu vi phạm nghiêm trọng chủ trương, quy định của
Đảng, pháp luật của Nhà nước, người đứng đầu cấp uỷ có quyền tạm đình chỉ công
tác đối với đảng viên là cán bộ cấp dưới theo quy định.
Điều 29. Thủ tục đình chỉ hoạt động, sinh hoạt đảng, cấp uỷ
1. Trường
hợp đặc biệt, đối với những vụ việc đang trong quá trình điều tra, kiểm tra,
thanh tra, kiểm toán nhận thấy đảng viên có dấu hiệu liên quan đến trách nhiệm
cá nhân hoặc có những dấu hiệu vi phạm nghiêm trọng, nếu để đương chức sẽ gây
trở ngại cho việc xem xét, kết luận, thì ngoài việc đã đình chỉ sinh hoạt đảng
hoặc đình chỉ sinh hoạt cấp uỷ, tổ chức đảng có thẩm quyền quyết định đình chỉ
chức vụ trong Đảng mà đảng viên đó đang đảm nhiệm; đồng thời, giao trách nhiệm
cho cấp uỷ quản lý đảng viên đó chỉ đạo tổ chức nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các
tổ chức chính trị - xã hội quyết định đình chỉ chức vụ về chính quyền, đoàn thể
theo thẩm quyền.
2. Sau khi kết
thúc điều tra, kiểm tra, thanh tra, kiểm toán nếu đảng viên đó vi phạm pháp luật
thì xử lý theo quy định của pháp luật; đồng thời phải xem xét, thi hành kỷ luật
về Đảng. Nếu đảng viên đó không vi phạm hoặc vi phạm không đến mức cách chức
thì khôi phục lại chức vụ đã đình chỉ hoặc bố trí công tác khác.
3. Trường
hợp tổ chức nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội đình chỉ
chức vụ về chính quyền, đoàn thể đối với đảng viên thì thủ trưởng hoặc cấp uỷ,
tổ chức đảng trong cơ quan của đảng viên đó phải kịp thời thông báo (chậm nhất
là 5 ngày) cho Ủy ban kiểm tra cùng cấp để đề nghị tổ chức đảng có thẩm quyền
xem xét, quyết định việc đình chỉ sinh hoạt đảng, sinh hoạt cấp uỷ hoặc đình chỉ
chức vụ về Đảng; chức vụ trong các cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc của
cấp uỷ, các đơn vị sự nghiệp, trực thuộc cấp uỷ mà đảng viên đó đang đảm nhiệm.
4. Trong thời
gian đảng viên bị đình chỉ sinh hoạt đảng, chức vụ; cấp uỷ viên bị đình chỉ
sinh hoạt cấp uỷ, tổ chức đảng bị đình chỉ hoạt động phải chấp hành nghiêm các
yêu cầu của tổ chức đảng có thẩm quyền (tường trình sự việc, tự kiểm điểm về những
vi phạm, thực hiện các nhiệm vụ được giao...); được đề đạt ý kiến của mình
nhưng không được lấy danh nghĩa tổ chức đảng hoặc danh nghĩa cấp uỷ viên, danh
nghĩa chức vụ đã bị đình chỉ để điều hành công việc.
5. Ủy ban kiểm
tra của cấp uỷ kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện việc đình chỉ sinh hoạt đảng,
sinh hoạt cấp uỷ, đình chỉ hoạt động của tổ chức đảng thuộc phạm vi quản lý của
cấp uỷ cùng cấp; giúp cấp uỷ làm các thủ tục đình chỉ sinh hoạt đảng, sinh hoạt
cấp uỷ, đình chỉ hoạt động của tổ chức đảng theo đúng quy định.
Điều 30. Thời hạn đình chỉ sinh hoạt, hoạt động
1. Thời hạn
đình chỉ sinh hoạt đảng đối với đảng viên (kể cả cấp uỷ viên), đình chỉ hoạt động
của tổ chức đảng là 90 ngày kể từ ngày ký quyết định; được gia hạn 1 lần nhưng
không quá 30 ngày.
2. Thời hạn
đình chỉ sinh hoạt đảng, sinh hoạt cấp uỷ viên khi bị khởi tố, truy tố tính
theo thời hạn quy định của pháp luật (kể cả gia hạn, nếu có).
3. Thủ trưởng
của cơ quan pháp luật có thẩm quyền quyết định khởi tố, tạm giam, truy tố, xét
xử đối với công dân là đảng viên, cấp uỷ viên phải chỉ đạo thông báo ngay bằng
văn bản (chậm nhất là 3 ngày) các quyết định trên (kể cả khi gia hạn) đến cấp uỷ
hoặc Ủy ban kiểm tra của cấp uỷ quản lý đảng viên, cấp uỷ viên đó.
Điều 31. Việc quyết định cho đảng viên, cấp uỷ viên trở lại sinh
hoạt đảng, sinh hoạt cấp uỷ và tổ chức đảng trở lại hoạt động
1. Tổ chức
đảng có thẩm quyền phải xem xét, kết luận rõ nội dung vi phạm của đảng viên, cấp
uỷ viên bị đình chỉ sinh hoạt đảng, sinh hoạt cấp uỷ, tổ chức đảng bị đình chỉ
hoạt động để quyết định cho đảng viên, cấp uỷ viên trở lại sinh hoạt, tổ chức đảng
trở lại hoạt động và xem xét, xử lý kỷ luật đảng bằng hình thức phù hợp; kịp thời
chỉ đạo việc xem xét, xử lý kỷ luật về chính quyền, về đoàn thể. Trường hợp
không thuộc thẩm quyền thì chỉ đạo hoặc kiến nghị các tổ chức đảng có thẩm quyền
xem xét, quyết định.
2. Khi đảng
viên, cấp uỷ viên không còn bị tạm giam và không bị truy tố, chậm nhất là 5
ngày, đảng viên là thủ trưởng của cơ quan pháp luật hoặc tổ chức đảng ở các cơ
quan pháp luật có trách nhiệm chỉ đạo thông báo kịp thời bằng văn bản đến cấp uỷ
hoặc Ủy ban kiểm tra của cấp uỷ quản lý đảng viên, cấp uỷ viên đó để xem xét việc
quyết định cho đảng viên, cấp uỷ viên trở lại sinh hoạt đảng và xem xét, xử lý
kỷ luật đảng. Trường hợp đình chỉ điều tra thì quyết định cho cấp uỷ viên trở lại
sinh hoạt cấp uỷ.
Trường hợp
hết thời hạn tạm giam hoặc không bị tạm giam nhưng vẫn bị truy tố, xét xử, thì
tổ chức đảng chưa quyết định cho đảng viên, cấp uỷ viên trở lại sinh hoạt đảng,
cấp uỷ.
Điều 32. Thủ tục ra quyết định trở lại sinh hoạt, hoạt động
Tổ chức đảng
nào quyết định đình chỉ sinh hoạt đảng của đảng viên, đình chỉ sinh hoạt cấp uỷ
của cấp uỷ viên, đình chỉ hoạt động của tổ chức đảng thì tổ chức đảng đó quyết
định cho đảng viên, cấp uỷ viên, tổ chức đảng trở lại sinh hoạt, hoạt động. Ủy
ban kiểm tra tham mưu giúp cấp uỷ chuẩn bị văn bản đối với các trường hợp thuộc
thẩm quyền của cấp uỷ.
Chương VII
TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Điều 33. Cấp uỷ, tổ chức đảng các cấp tổ chức nghiên cứu,
quán triệt và triển khai thực hiện Quy định này.
Điều 34. Ban Bí thư hướng dẫn cụ thể một số nội dung thực hiện
Quy định này.
Điều 35. Quy định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký,
thay thế Quy định số 21-QĐ/TW, ngày 11/4/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng
về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng.
Trường hợp
kiểm tra, giám sát đã thông qua dự thảo báo cáo thẩm tra, xác minh đối với đối
tượng kiểm tra, giám sát trước thời điểm Quy định này có hiệu lực thi hành thì
thực hiện theo Quy định số 21-QĐ/TW, ngày 11/4/2026 của Ban Chấp hành Trung
ương Đảng về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng.
|
Nơi nhận:
- Các tỉnh uỷ, thành uỷ, đảng uỷ trực thuộc Trung ương;
- Các ban đảng Trung ương;
- Các đảng uỷ bộ, ngành, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung
ương;
- Các đảng uỷ đơn vị sự nghiệp Trung ương;
- Các đồng chí Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng;
- Lưu Văn phòng Trung ương Đảng.
|
T/M BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG
TỔNG BÍ THƯ
Tô Lâm
|