|
ỦY BAN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 3108/QĐ-UBND
|
Cần Thơ, ngày 18
tháng 12 năm 2025
|
QUYẾT ĐỊNH
VỀ VIỆC GIAO CHỈ TIÊU KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
THÀNH PHỐ CẦN THƠ GIAI ĐOẠN 2026 - 2030
ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Căn cứ Luật Tổ chức chính
quyền địa phương ngày 16 tháng 6 năm 2025;
Căn cứ Nghị quyết số
274/NQ-HĐND ngày 10 tháng 12 năm 2025 của Hội đồng nhân dân thành phố về Kế hoạch
phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh giai đoạn 2026 - 2030;
Theo đề nghị của Giám đốc Sở
Tài chính tại Tờ trình số 579/TTr-STC ngày 17 tháng 12 năm 2025.
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1.
Giao chỉ tiêu Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội
thành phố Cần Thơ giai đoạn 2026 - 2030 cho các sở, ban ngành thành phố, Ủy ban
nhân dân xã, phường (đính kèm Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội thành phố
Cần Thơ giai đoạn 2026 - 2030 và các Phụ lục).
Điều 2.
Giao Giám đốc sở, Thủ trưởng cơ quan, ban ngành thành
phố căn cứ Điều 1 Quyết định này và theo chức năng, nhiệm vụ được giao khẩn
trương tổ chức triển khai quyết định phân bổ và giao chỉ tiêu kế hoạch cho Ủy
ban nhân dân xã, phường, các đơn vị, bộ phận trực thuộc về nhiệm vụ, chỉ tiêu kế
hoạch; xây dựng kế hoạch hàng năm, các chương trình, đề án cụ thể của từng
ngành, lĩnh vực, địa phương để triển khai thực hiện một cách hiệu quả.
Giao Giám đốc Sở Tài chính chủ
trì, phối hợp với các Thủ trưởng cơ quan, đơn vị có liên quan hướng dẫn, kiểm
tra, đôn đốc việc tổ chức thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ và kế hoạch được
giao; kịp thời phối hợp Thống kê thành phố phân tích, đánh giá, báo cáo tình
hình và đề xuất các giải pháp nhằm thực hiện đạt và vượt Kế hoạch phát triển
kinh tế - xã hội thành phố Cần Thơ giai đoạn 2026 - 2030.
Điều 3.
Giám đốc sở, Thủ trưởng cơ quan, ban ngành thành phố;
Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường và các cơ quan, đơn vị có liên quan chịu
trách nhiệm thi hành Quyết định này kể từ ngày ký./.
|
Nơi nhận:
- VP Chính phủ (HN, TP.HCM);
- Bộ Tài chính;
- TT. Thành ủy;
- TT. HĐND thành phố;
- TT. UBMTTQVN thành phố và các đoàn thể;
- TT. Đảng ủy UBND thành phố;
- TT. UBND thành phố (1);
- Đoàn ĐBQH thành phố;
- Như Điều 3;
- Các cơ quan được tổ chức theo ngành dọc đóng trên địa bàn thành phố;
- Các cơ quan tham mưu, giúp việc Thành ủy;
- Các Ban thuộc HĐND thành phố;
- VP. Đoàn ĐBQH và HĐND thành phố;
- Các DNNN và đơn vị thuộc UBND thành phố;
- HĐND và UBND xã, phường;
- VP. UBND thành phố (2,3);
- Cổng TTĐT thành phố;
- Lưu: VT, QTP.
|
TM. ỦY BAN NHÂN
DÂN
CHỦ TỊCH
Trương Cảnh Tuyên
|
KẾ HOẠCH
PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI THÀNH PHỐ CẦN THƠ GIAI ĐOẠN 2026
– 2030
(Kèm theo Quyết định số: 3108/QĐ-UBND ngày 18 tháng 12 năm 2025 của Ủy ban
nhân dân thành phố)
Phần thứ nhất
TÌNH HÌNH THỰC HIỆN KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
GIAI ĐOẠN 2021 - 2025
I. BỐI CẢNH
1. Bối cảnh
thế giới và khu vực
Giai đoạn 2021 - 2025, thế giới
và khu vực có nhiều biến động nhanh, phức tạp, khó lường, chưa từng có tiền lệ.
Đại dịch COVID-19, xung đột vũ trang và cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn
diễn ra gay gắt, kéo theo khủng hoảng kinh tế toàn cầu, lạm phát cao, thương mại
và đầu tư suy giảm, chuỗi cung ứng đứt gãy, dòng vốn đầu tư dịch chuyển. Các
thách thức an ninh phi truyền thống như biến đổi khí hậu, thiên tai, an ninh
năng lượng, lương thực và an ninh mạng, ngày càng gia tăng. Trong khi đó, khoa
học - công nghệ, trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh phát triển
mạnh, vừa tạo cơ hội, vừa đặt ra yêu cầu mới về năng lực thích ứng và quản trị.
Khu vực Châu Á - Thái Bình
Dương, đặc biệt là Tiểu vùng sông Mê Kông tiếp tục là trung tâm phát triển năng
động, đồng thời là khu vực trọng điểm cạnh tranh chiến lược của các nước lớn.
Những biến động này tác động trực tiếp đến xu thế hợp tác, đầu tư, liên kết
vùng và phát triển bền vững của vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), trong đó
có thành phố Cần Thơ.
2. Bối cảnh
trong nước và thành phố
Ở trong nước, mặc dù chịu tác động
nặng nề của dịch bệnh và suy giảm kinh tế toàn cầu, nhưng với sự lãnh đạo của Đảng,
chỉ đạo của Chính phủ và nỗ lực của toàn hệ thống chính trị, nước ta đã phục hồi
mạnh mẽ, duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm an sinh xã
hội, giữ vững quốc phòng - an ninh, mở rộng đối ngoại và nâng cao vị thế quốc tế.
Đặc biệt, trong hai năm cuối giai
đoạn, Trung ương đã ban hành và triển khai nhiều chủ trương, chính sách mang
tính chiến lược, nổi bật là việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, hình thành
thành phố Cần Thơ (gồm thành phố Cần Thơ, tỉnh Sóc Trăng và tỉnh Hậu Giang) là
bước ngoặt quan trọng, mở ra thời cơ lớn để thành phố Cần Thơ thực sự trở thành
trung tâm động lực phát triển của vùng ĐBSCL, cực tăng trưởng quan trọng của quốc
gia.
Trong bối cảnh đó, thành phố Cần
Thơ vừa có thuận lợi, thời cơ mới, vừa phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách
thức. Kinh tế địa phương chịu ảnh hưởng mạnh từ biến động thị trường trong nước
và thế giới; hoạt động sản xuất - kinh doanh, xuất khẩu, thu hút đầu tư, du lịch
còn gặp khó khăn; tình hình thời tiết bất thường, sạt lở, xâm nhập mặn diễn biến
phức tạp. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm, năng suất lao động và năng lực cạnh
tranh chưa cao, hạ tầng giao thông - logistics còn thiếu đồng bộ.
Tuy nhiên, nhờ sự chỉ đạo quyết
liệt của Thành ủy, Hội đồng nhân dân (HĐND), Ủy ban nhân dân (UBND) thành phố;
sự phối hợp chặt chẽ của các cấp, các ngành và sự đồng lòng của Nhân dân, cộng
đồng doanh nghiệp, thành phố Cần Thơ đã từng bước phục hồi, duy trì tăng trưởng
kinh tế ổn định, bảo đảm an sinh xã hội, giữ vững ổn định chính trị, quốc phòng
- an ninh. Các chương trình, dự án trọng điểm như đầu tư hạ tầng giao thông,
phát triển đô thị, khu công nghiệp, chuyển đổi số, ứng phó biến đổi khí hậu, được
triển khai đồng bộ, tạo chuyển biến tích cực.
II. TÌNH
HÌNH THỰC HIỆN KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI GIAI ĐOẠN 2021 - 2025
1. Kết quả
thực hiện mục tiêu kép về phòng, chống dịch COVID-19 và phục hồi, phát triển
kinh tế - xã hội
Đối với thành phố, Đại dịch
COVID-19 bắt đầu bùng phát vào giữa năm 2021, phải thực hiện giãn cách xã hội để
tập trung phòng, chống dịch, ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động kinh tế - xã
hội, sản xuất kinh doanh, chuỗi cung ứng, thu ngân sách, doanh nghiệp và đời sống
của Nhân dân thành phố. Với sự chỉ đạo của Trung ương, Ban Chỉ đạo Quốc gia
phòng, chống dịch COVID-19, Thành ủy/Tỉnh ủy, HĐND thành phố/HĐND tỉnh và sự đồng
hành, tham gia của cộng đồng doanh nghiệp và Nhân dân, sự điều hành quyết liệt
của UBND thành phố/UBND tỉnh (trước sáp nhập) triển khai các giải pháp khống chế,
đẩy lùi dịch bệnh; đồng thời, quyết tâm khôi phục sản xuất kinh doanh, ổn định
đời sống, thích ứng với tình hình mới.
Tình hình dịch bệnh được kiểm
soát ổn định, các biện pháp phòng, chống dịch COVID-19 được linh hoạt triển
khai trong từng thời điểm; tổ chức tiêm chủng an toàn, khoa học, hiệu quả; cơ bản
hoàn thành 100% việc tiêm đủ 02 liều cơ bản cho các nhóm đối tượng theo hướng dẫn
của Bộ Y tế. Tổ chức thực hiện xét nghiệm giám sát lưu hành các biến chủng mới
của SAR-CoV-2 và phối hợp với Viện Pasteur thành phố Hồ Chí Minh thực hiện lấy
mẫu các trường hợp dương tính để phát hiện sớm các biến thể nguy hiểm. Tổ chức
các lớp tập huấn hướng dẫn chuyên môn cho y tế cơ sở nhằm nâng cao năng lực
giám sát, cảnh báo dịch, xử lý ổ dịch và hạn chế lây lan.
Triển khai thực hiện Nghị quyết
số 11/NQ-CP ngày 30 tháng 01 năm 2022 của Chính phủ về Chương trình phục hồi và
phát triển kinh tế - xã hội và triển khai Nghị quyết số 43/2022/QH15 của Quốc hội
về chính sách tài khóa, tiền tệ hỗ trợ Chương trình đã kịp thời hỗ trợ khó khăn
cho Nhân dân, doanh nghiệp thông qua các chính sách tài khóa (cụ thể
Chính sách giảm 2% thuế giá trị gia tăng đã hỗ trợ cho các doanh nghiệp với tổng
số thuế được giảm 2.801,34 tỷ đồng[1];
Chính sách giảm mức thuế bảo vệ môi trường hỗ trợ doanh nghiệp với tổng số tiền
701,054 tỷ đồng[2]); Chính sách cho
vay hỗ trợ của Ngân hàng Chính sách xã hội với kế hoạch tín dụng được giao
1.325,23 tỷ đồng, kết quả giải ngân đạt trên 95% kế hoạch tín dụng được giao[3]; Hỗ trợ thuê nhà trọ với tổng số
tiền 34,2 tỷ đồng[4]… Chính sách đầu
tư phát triển đã huy động tốt các nguồn lực cho quá trình phục hồi kinh tế,
thành phố Cần Thơ được giao kế hoạch vốn ngân sách trung ương để thực hiện 13 dự
án, với tổng số vốn được bố trí là 3.606 tỷ đồng, kết quả giải ngân chi tiết là
3.545,27 tỷ đồng, đạt 98,32%[5].
Nhờ đó, tình hình kinh tế - xã
hội tiếp tục phục hồi, khởi sắc, kinh tế đạt mức tăng trưởng dương, trong hai
năm 2020 - 2021 đạt bình quân 1,09%/năm; giai đoạn 2022 - 2024, kinh tế thành
phố đạt mức tăng trưởng bình quân 8,57%/năm; năm 2025 duy trì kết quả tăng trưởng
kinh tế đạt 7,23%.
2. Kết quả
thực hiện cơ chế, chính sách đặc thù
Theo Nghị quyết số 45/2022/QH15
ngày 01 tháng 11 năm 2022 của Quốc hội về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc
thù phát triển thành phố Cần Thơ, thành phố có 06 cơ chế, chính sách về quản lý
đất đai, quản lý quy hoạch, tài chính ngân sách, thu nhập của cán bộ, công chức,
viên chức thuộc thành phố quản lý và chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư cho 02 dự
án; tiến độ thực hiện Nghị quyết số 45/2022/QH15 đến nay như sau:
- Chính sách quản lý đất đai và
quản lý quy hoạch đã được triển khai thực hiện theo văn bản quy phạm pháp luật
của Trung ương[6], góp phần thực hiện
đẩy mạnh phân cấp, phù hợp với chủ trương, quan điểm lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng
và Chính phủ, tăng tính chủ động cho địa phương, thực hiện tốt công tác cải
cách hành chính, rút ngắn thời gian, thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất,
trình tự, thủ tục điều chỉnh cục bộ quy hoạch xây dựng, quy hoạch đô thị; tạo
điều kiện cho chính quyền địa phương chủ động và phản ứng nhanh với những yêu cầu
cấp bách về nguồn lực đất đai, các điều kiện đảm bảo về quy hoạch tạo môi trường
thông thoáng cho địa phương để thu hút các dự án đầu tư động lực trên địa bàn.
- Các cơ chế, chính sách đang
trong giai đoạn thực hiện, gồm:
+ Nhóm chính sách tài chính,
ngân sách nhà nước (Điều 3 Nghị quyết số 45/2022/QH15) gồm 03 cơ chế, chính
sách:
(1) Đối với cơ chế thưởng vượt
thu ngân sách Trung ương: Điều kiện để được hưởng chính sách này, yêu cầu phải
thu vượt dự toán các khoản thu phân chia giữa ngân sách Trung ương và ngân sách
thành phố so với dự toán Thủ tướng Chính phủ giao và các khoản thu ngân sách
Trung ương hưởng 100% theo quy định (thuế xuất nhập khẩu) của Luật Ngân sách
Nhà nước hàng năm. Thành ủy, UBND thành phố đã ban hành các văn bản lãnh đạo, chỉ
đạo về tăng cường công tác thu thuế, điều hành thu, chi ngân sách, góp phần đạt
mục tiêu thu vượt dự toán ngân sách Trung ương giao, làm cơ sở có thêm nguồn lực
từ chính sách được Quốc hội ban hành, thực hiện đầu tư các dự án quan trọng của
thành phố. Đến năm 2024, thành phố phấn đấu hoàn thành vượt dự toán thu ngân
sách hàng năm để có cơ sở được bổ sung có mục tiêu cho ngân sách thành phố theo
quy định tại Nghị quyết; UBND thành phố đã báo cáo Bộ Tài chính đề nghị xem
xét, thưởng vượt thu ngân sách Trung ương so với dự toán năm 2024 và được Ủy
ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 1767/NQ-UBTVQH15 ngày 16 tháng 7
năm 2025 phân bổ, sử dụng nguồn tăng thu ngân sách trung ương năm 2024, thưởng
vượt dự toán thu và đầu tư trở lại cho thành phố Cần Thơ với số tiền 57 tỷ đồng.
(2) Đối với cơ chế vay (tổng mức
dư nợ vay không vượt quá 60% số thu ngân sách địa phương được hưởng theo phân cấp):
UBND thành phố đã trình HĐND thành phố ban hành Nghị quyết số 44/NQ-HĐND ngày
08 tháng 12 năm 2023 về việc sửa đổi Nghị quyết số 35/NQ-HĐND ngày 04 tháng 12
năm 2020 của HĐND thành phố về kế hoạch tài chính 05 năm giai đoạn 2021 - 2025
của thành phố. Trên cơ sở đó, UBND thành phố đã phê duyệt Đề án phát hành trái
phiếu chính quyền địa phương năm 2024, Bộ Tài chính đã có ý kiến tại Công văn số
4374/BTC-TCNH ngày 26 tháng 4 năm 2024.
Thành phố đã đề xuất các dự án
hưởng cơ chế vay lại từ Chương trình chính sách phát triển (DPO) để triển khai
trong giai đoạn 2021 - 2025 và những năm tiếp theo, gồm: Dự án đường kết nối quận
Ô Môn, huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ với huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên
Giang; Dự án nâng cấp, mở rộng Quốc lộ 61C (đoạn trên địa bàn thành phố) với tổng
mức đầu tư hơn 8.780 tỷ đồng, đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề xuất dự
án tại Quyết định 1201/QĐ-TTg ngày 20 tháng 6 năm 2025; hiện tại UBND thành phố
đã giao cho Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông và nông
nghiệp thành phố thực hiện thủ tục chuẩn bị đầu tư theo quy định.
Sau sáp nhập, trên địa bàn
thành phố tiếp nhận thêm 04 dự án với tổng mức đầu tư 239 triệu USD từ 02 địa
phương Sóc Trăng và Hậu Giang (cũ).
Việc tổ chức thực hiện các nội
dung trên cần có thời gian để triển khai thực hiện; các dự án có sử dụng vốn
vay trên địa bàn đang trong kết thúc của Hiệp định vay, từ đó có sự thay đổi
trong tổng dư nợ vay theo thời gian.
(3) Đối với việc ban hành mức
thu phí, lệ phí: Thành phố đang xây dựng 02 Đề án gồm: (i) Đề án quy định mức
thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí sử dụng tạm thời vỉa hè, lòng đường
không vào mục đích giao thông và (ii) Đề án quy định mức thu, chế độ thu, nộp,
quản lý và sử dụng phí sử dụng mặt bằng công viên, quảng trường trên địa bàn
thành phố để tổ chức sự kiện, dịch vụ vào mục đích kinh doanh, UBND thành phố sẽ
trình HĐND thành phố xem xét thông qua khi đủ điều kiện thực hiện.
+ Chính sách về thu nhập của
cán bộ, công chức, viên chức thuộc thành phố quản lý (Điều 6 Nghị quyết số
45/2022/QH15): Để thực hiện chính sách này, đòi hỏi thành phố phải tự cân đối
ngân sách và đảm bảo các điều kiện khác có liên quan. Do đó, thành phố sẽ triển
khai vào thời điểm thích hợp, đảm bảo sát với nguồn lực, điều kiện thực hiện.
+ Dự án Nạo vét kết hợp thu hồi
sản phẩm luồng hàng hải Định An - Cần Thơ (Điều 7 Nghị quyết số 45/2022/QH15):
Ngày 20/5/2024, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 57/2024/NĐ-CP về quản lý hoạt
động nạo vét trong vùng nước cảng biển và vùng nước đường thủy nội địa, đây là
cơ sở pháp lý để các địa phương triển khai thực hiện dự án theo thẩm quyền và địa
bàn quản lý. Thành phố đã chủ động phối hợp, tranh thủ sự hướng dẫn của Bộ Giao
thông vận tải, Cục Hàng hải Việt Nam, các địa phương liên quan và một số doanh
nghiệp thực hiện khảo sát lập Báo cáo nghiên cứu khả thi dự án khi được phê duyệt.
Ngày 16/9/2024, Bộ Giao thông vận tải có Công văn số 9914/BGTVT-KCHT giao UBND
thành phố Cần Thơ là cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện dự án nạo vét kết
hợp thu hồi sản phẩm luồng hải Định An - Sông Hậu theo Nghị định số
57/2024/NĐ-CP. Tuy nhiên, theo kết quả nghiên cứu của Cục Hàng hải Việt Nam về
Dự án nạo vét kết hợp thu hồi sản phẩm luồng hàng hải Định An - Sông Hậu không
đạt tính khả thi về hiệu quả kinh tế và Bộ Giao thông vận tải (nay là Bộ Xây dựng)
thống nhất đưa dự án ra khỏi danh mục dự án nạo vét vùng nước cảng biển kết hợp
thu hồi sản phẩm bằng hình thức xã hội hóa thuộc phạm vi quản lý của Bộ.
+ Dự án Trung tâm liên kết, sản
xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp vùng ĐBSCL tại Cần Thơ (Điều 8
Nghị quyết số 45/2022/QH15): UBND thành phố đã phối hợp chặt chẽ với Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) xây dựng Đề
án thành lập Trung tâm liên kết, sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm nông
nghiệp vùng ĐBSCL tại Cần Thơ trình Thủ tướng Chính phủ. Qua nhiều lần phối hợp
rà soát, tiếp thu, giải trình, bổ sung hồ sơ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn đã có Tờ trình số 277/TTr-BNN-KH ngày 08 tháng 01 năm 2025 trình Thủ tướng
Chính phủ xem xét ban hành Quyết định Quy định về thành lập, tổ chức và hoạt động
Trung tâm liên kết, sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp vùng
ĐBSCL tại thành phố Cần Thơ. Đến ngày 18/6/2025, Văn phòng Chính phủ ban hành
Thông báo số 308/TB-VPCP về kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà tại
cuộc họp về dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ quy định về thành lập, tổ
chức và hoạt động của Trung tâm liên kết, sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm
nông nghiệp vùng ĐBSCL tại thành phố Cần Thơ. Hiện nay, theo quy định của pháp
luật hiện hành về phân cấp, phân quyền, tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp
thì quyết định phê duyệt đề án thuộc thẩm quyền, trách nhiệm của UBND thành phố
Cần Thơ; thành phố đang khẩn trương rà soát, hoàn thiện phê duyệt Đề án để triển
khai thực hiện.
- Thành phố đã phối hợp với Bộ
Kế hoạch và Đầu tư (nay là Bộ Tài chính) tham mưu Chính phủ báo cáo Quốc hội, Ủy
ban Thường vụ Quốc hội về sơ kết 03 năm thực hiện Nghị quyết số 45/2022/QH15. Đến
ngày 17/10/2024, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã có Kết luận số 1014/KL-UBTVQH15;
trong đó, kết luận việc sửa đổi, bổ sung chính sách cần tuân thủ đúng điều kiện
về: (1) sự cần thiết sửa đổi, bổ sung; (2) tính hợp lý, khả thi của chính sách
được đề xuất mới; (3) cần tuân thủ đúng quy trình luật định, theo đó cần có báo
cáo đánh giá kết quả thi hành, đánh giá tác động, kết quả đầu ra, nguồn lực thực
hiện; (4) cần bảo đảm tuân thủ nguyên tắc trong xây dựng pháp luật, bảo đảm
tính ổn định của chính sách và của Chương trình xây dựng luật.
Tại Kỳ họp thứ 9 Quốc hội khoá
XV, Quốc hội quyết nghị chuyển tiếp áp dụng một số cơ chế, chính sách đặc thù
đã được Quốc hội cho phép thực hiện tại một số địa phương sau khi thực hiện sắp
xếp bộ máy, mở rộng địa giới hành chính theo chủ trương của Đảng, Nhà nước.
Đồng thời, trên cơ sở thực hiện
sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết số 59- NQ/TW của Bộ Chính trị, thành phố sẽ
tiếp tục tranh thủ hướng dẫn của Trung ương để tổng kết, đánh giá cơ chế, chính
sách đặc thù cho địa phương, đề xuất điều chỉnh, bổ sung cơ chế, chính sách phù
hợp với tình hình mới, tạo điều kiện cho thành phố có thêm nguồn lực, thực hiện
tốt các nhiệm vụ Nghị quyết số 59-NQ/TW đã đề ra
3. Kết quả
thực hiện các chỉ tiêu chủ yếu
- Tổng sản phẩm trên địa bàn
(GRDP) giá so sánh bình quân giai đoạn 2021 - 2025 ước tăng 6,86%/năm; trong
đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,62%/năm; công nghiệp, xây dựng
tăng 9,17%/năm (riêng ngành công nghiệp tăng 9,26%/năm); dịch vụ ước tăng
7,89%/năm, thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm ước tăng 2,29%/năm.
Tổng sản phẩm trên địa bàn
(GRDP) theo giá hiện hành ước năm 2025 đạt 306.170 tỷ đồng, gấp 1,61 lần so với
năm 2021.
Tổng sản phẩm bình quân đầu người
(GRDP/người) tăng từ 59,64 triệu đồng/người năm 2021 lên 94,94 triệu đồng/người
năm 2025.
Cơ cấu kinh tế: Dự kiến đến hết
năm 2025, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 20,97%, giảm 3,45
điểm phần trăm so với năm 2021; khu vực công nghiệp - xây dựng chiếm tỷ trọng
28,05%, tăng 4,44 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ chiếm tỷ trọng 45,67%, tăng
0,34 điểm phần trăm; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm tỷ trọng 5,31%,
giảm 1,34 điểm phần trăm.
- Tốc độ tăng năng suất lao động
bình quân tăng 7,74%/năm. Giá trị năng suất lao động tăng từ 123,79 triệu đồng/lao
động năm 2021 tăng lên 182,93 triệu đồng/lao động năm 2025.
- Thu ngân sách Nhà nước hàng
năm đạt và vượt dự toán Trung ương giao[7],
ước tổng thu ngân sách thực hiện giai đoạn 2021 - 2025 đạt 116.706 tỷ đồng,
tăng trưởng bình quân 4,78%/năm.
- Tổng số vốn đầu tư toàn xã hội
giai đoạn 2021 - 2025 ước thực hiện 361.963 tỷ đồng, tăng bình quân 7,59%/năm.
- Tỷ lệ đô thị hóa đến năm 2025
ước đạt 47,6%[8] (năm 2021:
46,52%).
- Thực hiện hoàn thành chỉ tiêu
nhà ở xã hội được Thủ tướng Chính phủ giao cho địa phương đến năm 2025 (theo
Quyết định số 444/QĐ-TTg ngày 27 tháng 02 năm 2025).
- Tỷ lệ học sinh đi học đúng độ
tuổi năm 2025: Trẻ vào học mẫu giáo đạt 95%, bậc tiểu học đạt 99,5%, bậc trung
học cơ sở đạt 95%, 75% học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở vào học trung học phổ
thông và giáo dục nghề nghiệp.
- Tỷ lệ lao động qua đào tạo năm
2025 đạt 73,67% (năm 2021: 66,82%).
- Tỷ lệ hộ nghèo đa chiều năm
2025 giảm còn 3,7% (năm 2021: 5,1%).
- Tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế
năm 2025 đạt 95% (năm 2021: 91,5%).
- Đến năm 2025, tỷ lệ xã đạt
chuẩn nông thôn mới là 81,94%; 59/72 xã đạt chuẩn nông thôn mới, 15/72 xã đạt
chuẩn nông thôn mới nâng cao và 02/72 xã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu (năm
2021: 77,2%).
- Tỷ lệ hộ dân được cung cấp nước
sạch khu vực đô thị năm 2025 đạt 95% (năm 2021: 91,4%); tỷ lệ hộ dân nông thôn
được cung cấp nước sạch từ các nguồn theo quy chuẩn đạt 82,74% (năm 2021:
70,2%).
- Tỷ lệ thu gom, xử lý chất thải
rắn ở đô thị bảo đảm tiêu chuẩn, quy chuẩn năm 2025 đạt 95% (năm 2021: 91,3%).
- Tỷ lệ xã, phường đạt tiêu chuẩn
an toàn về an ninh trật tự hàng năm đạt từ 75% trở lên.
4. Về phát
triển kinh tế
a) Tăng trưởng kinh tế:
Tăng trưởng kinh tế đạt khá,
bình quân giai đoạn 2021 - 2025, thành phố ước đạt mức tăng trưởng bình quân
6,86%/năm; trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,62%/năm; công
nghiệp, xây dựng tăng 9,17%/năm (riêng ngành công nghiệp tăng 9,26%/năm); dịch
vụ ước tăng 7,89%/năm, thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm ước tăng 2,29%/năm.
Quy mô nền kinh tế tiếp tục được
mở rộng, tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) theo giá hiện hành, ước năm 2025 đạt
306.170 tỷ đồng, gấp 1,61 lần so với năm 2021. Tổng sản phẩm bình quân đầu người
(GRDP/người) tăng từ 59,64 triệu đồng/người năm 2021 lên 94,94 triệu đồng/người
năm 2025. Năng suất lao động tăng từ 123,79 triệu đồng/lao động năm 2021 lên
182,93 triệu đồng/lao động năm 2025.
b) Phát triển các ngành kinh tế:
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo
hướng tích cực, giảm dần tỷ trọng khu vực nông nghiệp; phát triển công nghiệp -
xây dựng, thương mại - dịch vụ. Dự kiến đến hết năm 2025, khu vực nông nghiệp
chiếm tỷ trọng 20,97%, giảm 3,45 điểm phần trăm so với năm 2021; khu vực công
nghiệp - xây dựng chiếm tỷ trọng 28,05%, tăng 4,44 điểm phần trăm; khu vực dịch
vụ chiếm tỷ trọng 45,67%, tăng 0,34 điểm phần trăm; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản
phẩm chiếm tỷ trọng 5,31%, giảm 1,34 điểm phần trăm.
- Sản xuất công nghiệp tiếp tục
duy trì đà tăng trưởng ổn định, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục giữ
vai trò chủ lực, chiếm tỷ trọng cao trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp
(khoảng 80 - 90%). Một số ngành nổi bật tạo động lực tăng trưởng gồm: chế biến
lương thực, thực phẩm; hóa chất, hóa dược; cơ khí; sản xuất kim loại; dệt may
và da giày…
Phát triển các khu công nghiệp:
Tổng số các khu công nghiệp theo quy hoạch được duyệt là 41 khu công nghiệp với
tổng diện tích quy hoạch là 21.240,32 ha; đến nay, đã thành lập 13 khu công
nghiệp (chưa hoạt động 04 khu công nghiệp) với tổng diện tích 3.036,94 ha.
Trong giai đoạn 2021 - 2025, các khu công nghiệp thu hút 65 dự án thứ cấp, vốn
đăng ký 1.252,88 triệu USD (trong đó có 09 dự án có vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài với vốn đăng ký 143,56 triệu USD). Lũy kế đến nay, các khu công nghiệp
trên địa bàn có 381 dự án (Trong đó: 334 dự án đầu tư trong nước, 46 dự án FDI
và 01 dự án ODA), tổng vốn đầu tư đăng ký 10,291 tỷ USD, vốn thực hiện 4.755,62
triệu USD chiếm 46,3% tổng vốn đầu tư đăng ký.
Phát triển cụm công nghiệp: Tổng
số các cụm công nghiệp theo quy hoạch được duyệt là 37 cụm công nghiệp (CCN) với
tổng diện tích 2.191,23 ha. Đến nay, đã thành lập 10 CCN với tổng diện tích là
541,65 ha, đạt tỷ lệ lấp đầy 59,36% và đang thực hiện xem xét lựa chọn chủ đầu
tư đối với 05 CCN với diện tích là 274 ha, còn lại 22 CCN với diện tích
1.375,58 ha đang kêu gọi đầu tư. Trong giai đoạn 2021 - 2025, các cụm công nghiệp
thu hút 49 dự án thứ cấp, tổng vốn đầu tư 8.480 tỷ đồng, (trong đó có 04 dự án
có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài với vốn đăng ký 303,3 triệu USD và 92,7 tỷ đồng.
Trong đó: Có 01 doanh nghiệp tạm ngưng hoạt động,với tổng kinh phí là 16,7 tỷ đồng);
giải quyết hơn 9.000 lao động.
Lĩnh vực công nghiệp năng lượng
được quan tâm đầu tư, gắn với phát triển đồng bộ hệ thống lưới điện trung và hạ
áp trên địa bàn, bảo đảm phù hợp với Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời
kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 (Quy hoạch điện VIII) đã được Thủ tướng
Chính phủ phê duyệt; theo quy hoạch, thành phố hiện có 47 dự án nguồn, tổng quy
mô công suất 10.403,6 MW[9].
- Ngành dịch vụ: tiếp tục được
thúc đẩy theo hướng nâng cao chất lượng dịch vụ, đầu tư cơ sở vật chất và phát
triển đa dạng các sản phẩm theo hướng hiện đại từ các ngành ngân hàng, bảo hiểm,
các dịch vụ về y tế, giáo dục…
Thị trường nội địa phục hồi mạnh,
cân đối cung cầu hàng hóa, phù hợp với nhu cầu và thị hiếu của người dân, nhất
là mặt hàng thiết yếu. Tổng mức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ giai đoạn
2021 - 2025 ước đạt 1.363,34 nghìn tỷ đồng; tăng trưởng bình quân đạt
14,2%/năm. Hạ tầng thương mại hiện có 257 chợ, 08 trung tâm thương mại; 20 siêu
thị; 297 cửa hàng tiện lợi; ngoài ra thành phố đang rà soát, thực hiện kêu gọi
đầu tư các trung tâm logistics theo quy hoạch.
Tổng giá trị xuất khẩu hàng hóa
và dịch vụ thu ngoại tệ giai đoạn 2021 - 2025 ước đạt 24,6 tỷ USD. Một số sản
phẩm xuất khẩu chủ lực của thành phố như gạo, thủy sản, may mặc và giày da,
nông sản chế biến đều tăng so với cùng kỳ, các thị trường chủ yếu là Malaysia,
Ghana, Nam Phi, Singapore, Qatar, Nhật Bản, Mỹ, Úc, Canada, Philippines, Trung
Quốc, Pháp, Ý... Giá trị nhập khẩu hàng hóa giai đoạn 2021 - 2025 ước đạt 5,6 tỷ
USD.
Công tác quảng bá, xúc tiến du
lịch được đổi mới, có trọng tâm, trọng điểm; liên kết, hợp tác phát triển du lịch
ngày càng sâu rộng. Sản phẩm du lịch ngày càng phong phú, đa dạng, thu hút
khách du lịch trong và ngoài nước; giai đoạn 2021 - 2025, thành phố ước đón
41,83 triệu lượt khách, tăng bình quân khoảng 11%/năm; trong đó, khách du lịch
lưu trú đạt khoảng 16,92 triệu lượt khách. Tổng doanh thu từ du lịch ước đạt
hơn 33 nghìn tỷ đồng, tăng bình quân khoảng 23%/năm.
- Sản xuất nông nghiệp: chuyển
dần theo hướng chất lượng và giá trị gia tăng; ngành nông nghiệp tiếp tục giữ
vai trò quan trọng trong giải quyết việc làm, giảm nghèo, tạo sự ổn định và
phát triển kinh tế - xã hội ngay cả khi trong bối cảnh đại dịch COVID-19, ngành
vẫn tăng trưởng theo kế hoạch. Tổ chức sản xuất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật
nuôi được thực hiện linh hoạt, phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa bàn.
Mặc dù diện tích gieo trồng lúa giảm theo kế hoạch chuyển dịch cơ cấu cây trồng,
vật nuôi, tuy nhiên tổng sản lượng lúa hằng năm vẫn đạt trên 4,6 triệu tấn, các
giống lúa đặc sản, thơm (ST, Đài thơm 8, RVT,…) chiếm gần 39,52%, chất lượng
cao (Giống OM5451, OM18, OM380,...) chiếm gần 59,96%, chất lượng trung bình
(IR50404) chiếm tỷ lệ 0,52%. Diện tích trồng cây ăn trái năm 2025 là 102.194 ha
(bao gồm: bưởi, cam, quýt, chanh, xoài, nhãn, sầu riêng, vú sữa, mít, ổi, mãng
cầu,...) tăng 7.492 ha so với năm 2021. Diện tích nuôi thủy sản năm 2025 là
97.078 ha, tăng 3.606 ha so năm 2021; tổng sản lượng thủy, hải sản đạt 782.958
tấn (trong đó, sản lượng nuôi 705.958 tấn, khai thác 77.000 tấn), tăng 164.163
tấn so năm 2021. Trong đó, diện tích/sản lượng nuôi cá tra 820 ha/250.000 tấn;
tôm thẻ chân trắng 38.878 ha/205.200 tấn; tôm sú 12.700 ha/24.500 tấn. Phát triển
các cơ sở chăn nuôi gia súc, gia cầm tập trung quy mô lớn liên kết sản xuất
theo chuỗi, đã hình thành 1.110 trang trại chăn nuôi (842 trang trại heo; 97
trang trại trâu, bò, dê; 171 trang trại gia cầm); 1.171 cơ sở nuôi chim yến với
1.285 nhà yến, 35 cơ sở/vùng (cấp xã) chăn nuôi được chứng nhận an toàn dịch bệnh
còn hiệu lực.
Chú trọng công tác nghiên cứu,
chuyển giao, ứng dụng khoa học công nghệ trong các khâu của chuỗi giá trị; ứng
dụng công nghệ sinh học, công nghệ số, thông tin, viễn thông, viễn thám; nâng
cao năng lực hệ thống quản lý nghiên cứu, chọn tạo sản xuất giống cây trồng vật
nuôi; tổ chức lại sản xuất gắn với phát triển nông nghiệp xanh, sạch, nông nghiệp
sinh thái, nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp công nghệ cao, thông minh, thích ứng
với biến đổi khí hậu; mở rộng diện tích liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị
nông sản với trên 30% diện tích cánh đồng lúa lớn và trên 6.000 ha cây ăn trái
góp phần phát triển ổn định cho kinh tế hộ và hợp tác xã; phát triển mô hình
chuỗi cung ứng nông lâm thủy sản an toàn được 183 chuỗi, với 529 sản phẩm. Chủ
động hình thành vùng sản xuất tập trung, mở rộng diện tích sản xuất đạt tiêu
chuẩn VietGAP, GlobalGAP, gắn với xây dựng thương hiệu, mã số vùng trồng và
truy xuất nguồn gốc, đến nay, thành phố có 601 mã số vùng trồng với tổng diện
tích 9.835 ha; 26 mã số cơ sở đóng gói với 16 doanh nghiệp tham gia; 895 sản phẩm
OCOP, trong đó nhiều sản phẩm đạt 4-5 sao.
5. Về huy động
các nguồn lực
- Tổng vốn đầu tư xã hội: Nguồn
vốn đầu tư trên địa bàn được huy động, khai thác mạnh mẽ, đa dạng về hình thức,
tăng tỷ trọng đầu tư của các thành phần kinh tế ngoài Nhà nước và đẩy mạnh xã hội
hóa đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, phát huy tối đa nguồn lực
cho đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, thay đổi nhanh chóng diện mạo thành phố,
đặc biệt là xây dựng hệ thống giao thông vận tải, sân bay, bến cảng, tăng cường
tính kết nối, đồng bộ, cơ bản đáp ứng nhu cầu vận tải thông suốt từ thành phố Cần
Thơ đi các tỉnh, vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) và thành phố Hồ Chí Minh,
các vùng miền trong cả nước ngày càng thuận lợi, nhanh chóng; ưu tiên đầu tư
các công trình văn hóa - thể thao, y tế, giáo dục - đào tạo, nông thôn mới. Tổng
số vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2021 - 2025 ước thực hiện 361.963 tỷ đồng,
tăng bình quân 7,59%/năm; trong đó: vốn đầu tư Nhà nước chiếm 39,14%, tăng bình
quân 11,88%/năm; đầu tư ngoài Nhà nước chiếm 58,03%, tăng bình quân 5,40%/năm;
đầu tư vốn nước ngoài chiếm 2,83%, tăng bình quân 0,91%/năm. Tỷ lệ vốn đầu tư
toàn xã hội/GRDP chiếm 29,04%.
- Quản lý đầu tư công: Tổng số
vốn kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2021 - 2025 được giao là
102.658,555 tỷ đồng. Thành phố đã giao chi tiết là 100.713,881 tỷ đồng, số vốn
còn lại chưa giao chi tiết là 1.581,596 tỷ đồng. Thành phố tập trung tổ chức thực
hiện đồng bộ, quyết liệt nhiệm vụ giải ngân kế hoạch vốn đầu tư công theo đúng
quy định, tỷ lệ giải ngân tăng dần qua từng năm (số vốn giải ngân bao gồm nguồn
vốn kéo dài); dự kiến giải ngân đến hết kỳ kế hoạch vốn đầu tư công trung hạn
giai đoạn 2021 - 2025 giải ngân đạt 89.624,950 tỷ đồng, đạt 88,99% kế hoạch vốn
giao.
- Thu chi ngân sách: Thực hiện
đồng bộ, kịp thời các giải pháp chính sách thu theo quy định, đảm bảo thu đúng,
thu đủ, thu kịp thời các khoản phát sinh. Giai đoạn 2021 - 2025, tổng thu ngân
sách Nhà nước theo dự toán Trung ương giao thực hiện 116.706 tỷ đồng, tăng bình
quân 4,78%/năm; trong đó, thu nội địa 110.358 tỷ đồng, tăng bình quân
5,25%/năm; thu từ hoạt động xuất nhập khẩu 2.704 tỷ đồng, tăng bình quân
8,15%/năm. Tổng chi ngân sách địa phương ước thực hiện 182.508 tỷ đồng, giảm
bình quân 2,3%/năm.
- Thu hút các nguồn lực ngoài
ngân sách:
+ Về doanh nghiệp: Giai đoạn
2021 - 2025, toàn thành phố có khoảng 13.996 doanh nghiệp thành lập mới, với tổng
vốn đăng ký khoảng 135.691 tỷ đồng; bình quân mỗi doanh nghiệp đăng ký khoảng
9,69 tỷ đồng vốn điều lệ.
+ Về thu hút đầu tư trong nước:
Thành phố đã cấp chủ trương đầu tư cho 168 dự án, với tổng vốn đăng ký khoảng
108.300 tỷ đồng. Trong đó, nhiều dự án quy mô lớn tập trung vào hạ tầng giao
thông, khu công nghiệp, năng lượng tái tạo, logistics, nông nghiệp ứng dụng
công nghệ cao và thương mại - dịch vụ. Lũy kế đến nay, toàn thành phố có 695 dự
án, tổng vốn đầu tư 315.603,391 tỷ đồng.
+ Về thu hút đầu tư trực tiếp
nước ngoài (FDI): Toàn thành phố cấp mới 25 dự án FDI, với tổng vốn đăng ký ước
đạt 2,415 tỷ USD. Các dự án FDI chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực: chế biến thủy
sản, dệt may, hóa dược, năng lượng tái tạo, công nghiệp phụ trợ và kinh doanh hạ
tầng khu - cụm công nghiệp. Lũy kế hiện nay, trên địa bàn thành phố có 124 dự
án FDI, tổng vốn đầu tư đăng ký khoảng 7.451,8 triệu USD (trong khu công nghiệp
46 dự án; ngoài khu công nghiệp 78 dự án).
6. Phát triển
kết cấu hạ tầng
Về đường bộ: Thành phố đã tập
trung nguồn lực đầu tư kết cấu hạ tầng, nhất là các công trình hạ tầng giao
thông quan trọng quốc gia, đường bộ cao tốc, đường ven biển, liên vùng[10]. Giai đoạn 2021 - 2025, Chính
phủ, Bộ Giao thông vận tải và Bộ ngành liên quan quan tâm chỉ đạo, ưu tiên bố
trí vốn đầu tư xây dựng hoàn thành cao tốc Mỹ Thuận - Cần Thơ và cầu Mỹ Thuận
2; dự án cao tốc Bắc Nam phía Đông, dự án thành phần Cần Thơ - Hậu Giang; dự án
cao tốc Châu Đốc - Cần Thơ - Sóc Trăng, Lộ Tẻ Rạch Sỏi, An Hữu - Lộ Tẻ.... Nhiều
công trình giao thông quan trọng, quy mô lớn được đầu tư, nâng cấp, đảm bảo kết
nối giữa các trung tâm kinh tế lớn, các vùng miền với các trục quốc lộ, thành
phố hiện có 09 tuyến với chiều dài khoảng 565km, trải đều rộng khắp địa bàn (gồm
Quốc lộ 1, 91, 91B, 61C, 80). Đồng thời, thành phố tập trung nguồn lực thực hiện
các dự án đường tỉnh hiện có 40 tuyến với chiều dài khoảng 817 km, với quy mô
đường cấp IV, cấp V đồng bằng, 2 làn xe; có 6.209 tuyến đường đô thị, đường huyện
và đường giao thông nông thôn với chiều dài khoảng 12.758 km nhằm kết nối đồng
bộ với các tuyến cao tốc và quốc lộ; góp phần tăng tính kết nối, chỉnh trang đô
thị.
Về đường thủy: Trên địa bàn có
16 tuyến do Trung ương quản lý với chiều dài 344 km đảm nhận vai trò là các tuyến
đường thủy nội địa liên vùng; trong đó, có 02 tuyến vận tải thủy nội địa liên tỉnh
chính có lưu lượng vận tải cao đi qua địa bàn thành phố Cần Thơ kết nối thành
phố Hồ Chí Minh - Cà Mau (qua rạch Cần Thơ và kênh Xà No) và thành phố Hồ Chí
Minh - Kiên Lương (qua kênh Rạch Sỏi Hậu Giang); bên cạnh đó thành phố còn có
678 tuyến đường thủy nội địa do địa phương quản lý với chiều dài 3.607 km, đảm
nhận với vai trò vận tải thủy của địa phương.
Về đường biển: Thành phố có 72
km đường bờ biển và 177 km tuyến hàng hải sông Hậu được kết nối thông ra biển
Đông qua 02 luồng tàu biển chính gồm: (1) Luồng cho tàu biển tải trọng lớn vào
sông Hậu (kênh Quan Chánh Bố) và (2) Luồng hàng hải Định An - Sông Hậu; 02 luồng
hàng hải này có vai trò vận tải biển quan trọng của vùng phục vụ nhu cầu vận tải
biển từ Campuchia ra biển Đông, trong tương lai gần sẽ kết nối với cảng biển quốc
tế Trần Đề, tạo động lực phát triển kinh tế biển mạnh mẽ ở khu vực ĐBSCL.
Cảng biển thành phố Cần Thơ thuộc
nhóm 5 Cảng biển ĐBSCL với các khu bến chính như: Khu bến Cái Cui, Khu bến
Hoàng Diệu - Bình Thủy, Khu bến Trà Nóc - Ô Môn, Bến Thốt Nốt, khu vực cảng biển
Hậu Giang, Khu bến Đại Ngãi, Khu bến Kế Sách, Khu bến Trần Đề. Thực trạng tổng
sản lượng hàng hóa thông qua cảng biển Cần Thơ năm 2024 đạt khoảng 12 triệu tấn/năm.
Về đường hàng không: Cảng hàng
không Quốc tế Cần Thơ đạt quy mô sân bay cấp 4E, với tổng diện tích khoảng
268ha, gồm nhà ga hành khách với diện tích sàn 20.750 m2, 06 vị trí sân đỗ dành
cho máy bay, đường cất hạ cánh dài 3.000 m, rộng 45 m, lắp đặt hệ thống đèn
đêm, hệ thống hạ cánh chính xác ILS để tiếp nhận các loại máy bay thân rộng như
B777-300ER, B747-400 và tương đương, nối thành phố Cần Thơ với các nước trong
khu vực và trên thế giới. Năng lực tiếp đón từ 3 - 5 triệu khách/năm cùng lượng
hàng hóa thông qua cảng khoảng 5.000 tấn/năm.
Ngoài ra, triển khai Nghị quyết
số 59-NQ/TW, ngày 05 tháng 8 năm 2020 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển
thành phố Cần Thơ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, thành phố được Chính phủ,
Bộ Giao thông vận tải và các Bộ, ngành Trung ương quan tâm chỉ đạo, ưu tiên bố
trí vốn đầu tư xây dựng các dự án kết cấu hạ tầng giao thông quan trọng, có
tính chất kết nối liên vùng; theo Nghị quyết số 98/NQ-CP của Chính phủ có 20 dự
án kết cấu hạ tầng giao thông (trong đó có 10 dự án do Bộ Giao thông vận tải thực
hiện và 10 dự án do thành phố thực hiện). Đến nay, Bộ Giao thông vận tải đã triển
khai đầu tư 06/10 dự án và thành phố đã triển khai 08/10 dự án; các dự án còn lại
đang được Trung ương và thành phố ưu tiên triển khai lập thủ tục đầu tư, tìm
các nguồn vốn để sớm triển khai trước năm 2030.
Hạ tầng cấp điện được tập trung
đầu tư, nhiều công trình lớn được hoàn thành, tăng thêm năng lực cho hệ thống
năng lượng quốc gia; chú trọng phát triển năng lượng tái tạo, năng lượng sạch,
cơ bản đáp ứng được yêu cầu phát triển và bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.
Tích cực tháo gỡ khó khăn, đưa nhiều dự án có vai trò quan trọng đi vào vận
hành[11]. Hạ tầng thủy lợi, phòng
chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu được quan tâm đầu tư.
Nhiều công trình kết cấu hạ tầng
trong lĩnh vực giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ, y tế và các thiết chế văn
hóa, thể thao... đã được chú trọng đầu tư. Hạ tầng thông tin và truyền thông, hạ
tầng số tiếp tục được mở rộng, hiện đại hóa và phát triển mạnh. Đẩy mạnh đầu tư
hạ tầng số theo hướng hiện đại hóa góp phần thúc đẩy chuyển đổi số quốc gia. Hệ
thống cơ sở dữ liệu quốc gia được hình thành, từng bước tích hợp, kết nối, chia
sẻ dữ liệu giữa các bộ, ngành, địa phương.
Hạ tầng đô thị ngày càng cải
thiện, chú trọng công tác quy hoạch và bố trí nguồn lực để xây dựng các tuyến
đường vành đai, hệ thống giao thông công cộng hiện đại giảm thiểu ô nhiễm và ùn
tắc giao thông và phát triển các khu đô thị mới. Đẩy mạnh chương trình phát triển
nhà ở, nhà ở xã hội cho các đối tượng thu nhập thấp, sinh viên và công nhân.
Triển khai đồng bộ, thường xuyên các giải pháp quản lý đô thị, bảo đảm kiến
trúc cảnh quan, vệ sinh môi trường, tạo diện mạo mới cho các đô thị; bảo tồn,
tôn tạo các công trình có giá trị về lịch sử, kiến trúc, văn hóa. Tăng cường kiểm
tra, giám sát theo quy hoạch và quản lý đất đai, thực hiện nếp sống văn minh đô
thị; phấn đấu nâng tỷ lệ đô thị hóa đạt 47,6% (năm 2021 đạt 46,5%).
Hạ tầng nông thôn được quan tâm
đầu tư, góp phần thay đổi bộ mặt nông thôn; qua rà soát sau sáp nhập, thành phố
hiện có 59/72 xã đạt chuẩn nông thôn mới, đạt tỷ lệ 81,94% (năm 2021 đạt
77,20%); trong đó, 15 xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao và 02 xã đạt chuẩn
nông thôn mới kiểu mẫu. Tuy nhiên, kết quả này sẽ được tiếp tục rà soát, đánh
giá theo bộ tiêu chí mới để làm cơ sở đánh giá chính xác cụ thể mức độ hoàn
thành các chỉ tiêu nông thôn mới ở cấp xã.
7. Về phát
triển nguồn nhân lực, giáo dục và đào tạo, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo
và chuyển đổi số
Dự báo quy mô dân số đến năm
2025 của thành phố là 3.224.937 người[12],
trong đó, lực lượng lao động 1.673.707 người. Cơ cấu lao động tiếp tục chuyển dịch
tích cực, tỷ lệ lao động nông nghiệp giảm từ 42,41% năm 2021 xuống còn 38,86%
năm 2025. Công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao kỹ năng nghề cho người lao động
được triển khai đồng bộ, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu thị trường, tỷ lệ
lao động qua đào tạo qua đào tạo tăng từ 66,8% năm 2021 lên 73,7% năm 2025,
trong đó tỷ lệ lao động có bằng cấp, chứng chỉ tăng từ 16,8% năm 2021 lên 19%
năm 2025.
Giáo dục và đào tạo có nhiều
chuyển biến tích cực. Việc triển khai Chương trình giáo dục phổ thông 2018 đạt
kết quả tốt; tỷ lệ huy động học sinh đi học đúng độ tuổi đạt kế hoạch hàng năm.
Công tác hướng nghiệp, phân luồng học sinh được chú trọng, gắn với nhu cầu thị
trường lao động và hỗ trợ khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo. Hệ thống giáo dục nghề
nghiệp từng bước sắp xếp tinh gọn, nâng cao hiệu quả; chất lượng đào tạo nghề
có nhiều tiến bộ. Giáo dục đại học được mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng,
thúc đẩy tự chủ, gắn đào tạo với nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ.
Mạng lưới trường lớp và quy mô học sinh ở các bậc học, cấp học được quan tâm đầu
tư về cơ sở hạ tầng, vật chất trang thiết bị phục vụ dạy và học; tỷ lệ trường học
các cấp đạt chuẩn quốc gia đến năm 2025 ước đạt 64,6% (năm 2021 đạt 68,3%)[13].
Quy mô đào tạo đại học tiếp tục
được mở rộng; chất lượng được nâng lên. Đổi mới giáo dục đại học gắn với tăng
cường tự chủ đã tạo ra động lực mới, tạo chuyển biến mạnh về chất lượng, hiệu
quả trong đào tạo nguồn nhân lực và nghiên cứu khoa học; toàn thành phố hiện có
08 trường đại học, 23 trường cao đẳng.
Hoạt động khoa học, công nghệ
và đổi mới sáng tạo tại địa phương được thúc đẩy, tập trung vào nghiên cứu, ứng
dụng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, nhất là trong các lĩnh vực y tế, nông
nghiệp, công nghiệp, thông tin. Tiềm lực khoa học và công nghệ từng bước được
nâng cao, hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo được hình thành, hỗ trợ
doanh nghiệp phát triển trên cơ sở tài sản trí tuệ. Các hoạt động sở hữu trí tuệ,
tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng ngày càng hoàn thiện, phù hợp với cam kết quốc
tế. Đội ngũ trí thức, nhà khoa học, cán bộ công nghệ phát triển cả về số lượng
và chất lượng, trong đó một số chuyên gia có uy tín được ghi nhận ở phạm vi quốc
tế.
Thị trường khoa học và công nghệ
có bước phát triển theo hướng đồng bộ, hội nhập quốc tế. Hệ sinh thái khởi nghiệp
sáng tạo từng bước được hình thành và phát triển. Thúc đẩy các đề án, dự án đầu
tư, hoàn thiện hạ tầng như: Đề án thành lập Khu công nghệ cao, Đề án thành lập
Khu công nghệ thông tin tập trung, Đề án thành lập Trung tâm Khởi nghiệp và Đổi
mới sáng tạo, Đề án Xây dựng thành phố Cần Thơ phát triển thành đô thị thông
minh.
Nghiêm túc triển khai Nghị quyết
số 57-NQ/TW ngày 22 tháng 12 năm 2024 của Bộ Chính trị “Về đột phá phát triển
khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”; trong đó
thành phố chú trọng rà soát, tham mưu sửa đổi, hoàn thiện các cơ chế, chính
sách về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, triển khai thực
hiện Nghị quyết số 193/2025/QH15 ngày 19 tháng 02 năm 2025 của Quốc hội về thí
điểm một số cơ chế, chính sách đặc biệt tạo đột phá phát triển khoa học, công
nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, gồm: xây dựng Đề án thành lập
Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Cần Thơ nhằm tạo nguồn kinh phí ổn định để
hỗ trợ các hoạt động nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng khoa học và công nghệ;
xây dựng chính sách hỗ trợ đổi mới công nghệ; xây dựng quy định quản lý nhiệm vụ
khoa học và công nghệ cấp thành phố với cơ chế chuyển giao quyền sở hữu, quản
lý, sử dụng đối với kết quả nghiên cứu khoa học, tài sản trang bị để thực hiện
nhiệm vụ khoa học và công nghệ theo Nghị quyết số 193/2025/QH15 ngày 19 tháng
02 năm 2025 của Quốc hội…
Chuyển đổi số trên địa bàn được
triển khai mạnh mẽ, gắn với cải cách hành chính và phát triển Chính quyền số,
kinh tế số, xã hội số. Hệ thống dữ liệu dân cư, định danh và xác thực điện tử
được khai thác phục vụ hiệu quả cho quản lý Nhà nước, tạo thuận lợi cho người
dân và doanh nghiệp. Nhận thức về vai trò của chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo
trong cộng đồng, doanh nghiệp ngày càng được nâng cao. Ước năm 2025, tỷ trọng
giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GRDP đạt khoảng 7,4% (năm 2021 đạt 6%).
8. Về một số
lĩnh vực xã hội
Công tác chăm sóc sức khỏe Nhân
dân từng bước được nâng cao; thực hiện hiệu quả công tác phòng, chống dịch
COVID-19. Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, nguồn nhân lực y tế đáp ứng nhu cầu
khám chữa bệnh của Nhân dân. Hệ thống các bệnh viện chuyên sâu, đa khoa, trung
tâm y tế được quan tâm đầu tư xây dựng, nâng cấp; áp dụng kỹ thuật mới, kỹ thuật
cao, chuyên sâu trong khám, chẩn đoán và điều trị bệnh; xã hội hóa hoạt động y
tế ngày càng đa dạng, mở rộng nhiều loại hình, góp phần nâng cao chất lượng
chăm sóc sức khỏe người dân, tiếp tục khẳng định vai trò là trung tâm y tế của
vùng. Số bác sỹ trên vạn dân tăng từ 13 bác sỹ năm 2021 lên 14,8 bác sỹ năm
2025; số giường bệnh trên vạn dân tăng từ 40,5 giường bệnh năm 2021 lên 43,9
giường bệnh năm 2025. Tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân hàng năm đều đạt, ước
đến cuối năm 2025 đạt trên 95% (năm 2021 đạt 91,5%).
Văn hóa, thể thao phát triển
sâu rộng, hoạt động ngày càng đa dạng, phong phú. Hệ thống thiết chế văn hóa được
quan tâm xây dựng, phát huy hiệu quả hơn. Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng
đời sống văn hóa gắn kết chặt chẽ với cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng
nông thôn mới, đô thị văn minh”. Các mô hình xã/phường, ấp/khu phố, gia đình
văn hóa, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn văn hóa được củng cố và
phát triển. Công tác tôn tạo, bảo tồn, phát huy các di tích lịch sử, giá trị
văn hoá truyền thống tốt đẹp của dân tộc, nhất là các dân tộc thiểu số gắn với
phát triển du lịch. Phong trào thể dục, thể thao quần chúng và thể thao thành
tích cao, thể thao chuyên nghiệp được quan tâm đầu tư và đạt nhiều giải, hạng
cao. Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, tạo điều kiện để người dân phát triển
toàn diện về thể chất và tinh thần.
Tổ chức triển khai có kết quả
Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc
thiểu số giai đoạn 2021 - 2030, góp phần cải thiện, nâng cao đời sống đồng bào
dân tộc thiểu số. Công tác tôn giáo ngày càng được quan tâm, hầu hết các hoạt động
tôn giáo đều chấp hành tốt chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước và Hiến
chương, điều lệ của các tổ chức tôn giáo; tuyên truyền, sinh hoạt pháp luật về
tín ngưỡng cho các chức sắc, chức việc tôn giáo trên địa bàn; kịp thời giải quyết
cơ bản các đề xuất, kiến nghị của các tổ chức tôn giáo, tạo niềm tin, sự thân
thiện, gần gũi giữa Nhà nước với các tôn giáo.
Thực hiện đồng bộ các chính
sách an sinh xã hội, bảo đảm thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng đối tượng, nhất
là đối với người có công với cách mạng, đối tượng bảo trợ xã hội, hộ nghèo, hộ
cận nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số. Quan tâm giải quyết việc làm, giảm
nghèo, xóa nhà tạm, nhà dột nát, tạo điều kiện để các đối tượng thụ hưởng tiếp
cận hiệu quả các chương trình, chính sách hỗ trợ của Nhà nước; đẩy mạnh công
tác bình đẳng giới, nâng cao vị thế của phụ nữ trên các lĩnh vực.
9. Về công
tác quy hoạch, quản lý đô thị và xây dựng nông thôn mới
Công tác quy hoạch được triển
khai tích cực và có bước đột phá đảm bảo phù hợp với hệ thống quy hoạch quốc
gia gồm Quy hoạch tổng thể quốc gia, quy hoạch ngành, vùng. Chất lượng quy hoạch
được nâng cao, đảm bảo tính liên kết và đồng bộ. Việc triển khai thực hiện quy
hoạch đã tạo thêm các động lực tăng trưởng và không gian phát triển mới cho địa
phương, nhất là trong bối cảnh thực hiện chủ trương sáp nhập đơn vị hành chính
cấp tỉnh.
UBND thành phố đã ban hành Kế
hoạch số 78/KH-UBND ngày 19 tháng 9 năm 2025 về tổ chức lập điều chỉnh Quy hoạch
thành phố Cần Thơ thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 (sau sắp xếp đơn vị
hành chính). Trong thời gian tới, thành phố sẽ bám sát các quy định của Trung
ương, sẽ tiến hành rà soát, đề nghị đề xuất điều chỉnh Quy hoạch thành phố trên
cơ sở sáp nhập 03 địa phương; từ đó tích hợp, hoàn thiện đồng bộ hệ thống các
quy hoạch đô thị, quy hoạch nông thôn, quy hoạch có tính chất kỹ thuật, chuyên
ngành; tập trung triển khai các chương trình, đề án, dự án, các nhiệm vụ ưu
tiên, trọng tâm và đột phá theo quy hoạch; thu hút nguồn lực để thực hiện các
ngành, lĩnh vực có tiềm năng, lợi thế mang tính dẫn dắt, liên kết phát triển
thành phố trong tình hình mới.
Tiếp tục đẩy nhanh tiến độ lập,
điều chỉnh các quy hoạch xây dựng, dự án quy hoạch đô thị, Thực hiện rà soát,
tháo gỡ các vướng mắc pháp lý và đôn đốc tiến độ các dự án nhà ở, khu đô thị,
nhất là các dự án chậm triển khai, đã có quyết định chủ trương đầu tư; trong đó
phân loại nhóm dự án cần xử lý, tái khởi động hoặc điều chỉnh quy hoạch; góp phần
thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển minh bạch, bền vững. Triển khai các
chương trình phát triển nhà ở xã hội theo quy hoạch; đến nay, thành phố đã đạt
100% chỉ tiêu phát triển nhà ở xã hội giai đoạn 2021 - 2025 (3.649 căn) theo tiến
độ chỉ tiêu được Thủ tướng Chính phủ giao. Tỷ lệ đô thị hóa năm 2025 ước đạt
47,6% (năm 2021 đạt 46,5%).
Xây dựng nông thôn mới: thực hiện
rà soát, đánh giá mức độ hoàn thành các chỉ tiêu nông thôn mới ở cấp xã sau sáp
nhập; dự kiến cuối năm, thành phố duy trì và nâng chất 59/72 xã đạt chuẩn nông
thôn mới, đạt tỷ lệ 81,94%; trong đó, 15 xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao và
02 xã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu..
10. Công
tác quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường; chủ động phòng, chống, hạn chế tác
động của thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu
Công tác bảo vệ môi trường được
quan tâm kiểm soát; tăng cường bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học; từng bước
chủ động ứng phó với thiên tai và biến đổi khí hậu. Khai thác, sử dụng tiết kiệm,
hiệu quả nguồn tài nguyên đất, nước và khoáng sản. Thực hiện nghiêm các quy định
đánh giá tác động môi trường, công tác phòng, chống, hạn chế sạt lở bờ sông,
kênh rạch, bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu. Tăng cường hợp
tác các tổ chức quốc tế về quản lý chất lượng không khí, kiểm kê khí thải, ứng
dụng các biện pháp giảm phát thải khí nhà kính và bảo vệ môi trường.
Triển khai thực hiện kế hoạch
thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn thành phố, tỷ lệ
thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị bảo đảm tiêu chuẩn, quy chuẩn đạt
95% (năm 2021 đạt 91,3%); tỷ lệ chất thải nguy hại được thu gom, xử lý 98% (năm
2021 đạt 97%). Duy trì việc cấp nước liên tục, đủ áp lực, chất lượng nước; mở rộng
mạng lưới cung cấp nước sạch, phấn đấu đến cuối năm 2025 hoàn thành các chỉ
tiêu về nước sạch với tỷ lệ hộ dân được cung cấp nước sạch khu vực đô thị đạt
95% (năm 2021 đạt 91,4%); tỷ lệ hộ dân nông thôn được cung cấp nước sạch từ các
nguồn theo quy chuẩn đạt 82,74% (năm 2021 đạt 70,2%). Thường xuyên rà soát, xử
lý các bất cập của hệ thống thoát nước trên địa bàn mùa mưa bão, ngập nước.
Thực hiện quan trắc và phân
tích chất lượng không khí xung quanh thành phố; chất lượng nước mặt, vận hành
17 trạm quan trắc xâm nhập mặn; quản lý dữ liệu quan trắc tự động của 24 trạm.
Thường xuyên kiểm tra, duy tu, sửa chữa các tuyến kênh, đê bao, cống; kịp thời
nạo vét, gia cố các hạng mục xung yếu nhằm đảm bảo công trình vận hành ổn định,
an toàn, phục vụ hiệu quả công tác điều tiết nước, phòng chống hạn, xâm nhập mặn,
đáp ứng nhu cầu sản xuất, sinh hoạt của người dân.
11. Về
liên kết vùng, liên kết hợp tác
Thúc đẩy phát triển liên kết
vùng, khu kinh tế và phát triển đô thị: Nghiêm túc triển khai Nghị quyết số
13-NQ/TW ngày 02 tháng 4 năm 2022 của Bộ Chính trị về phương hướng phát triển
kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng ĐBSCL đến năm 2030, tầm
nhìn đến năm 2045. Chủ động phối hợp chặt chẽ với các địa phương trong vùng thực
hiện các hoạt động liên kết phát triển, tạo sự gắn kết giữa các địa phương, phối
hợp chặt chẽ trong công tác rà soát, xây dựng, triển khai quy hoạch cấp vùng,
quy hoạch thành phố theo quy định của Luật Quy hoạch, trong đó chú trọng công
tác phối hợp phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội của vùng, đặc biệt là
các dự án hạ tầng giao thông và thủy lợi liên vùng, xây dựng các chương trình,
dự án của tiểu vùng liên quan đến biến đổi khí hậu, an ninh nguồn nước...
Thành phố thực hiện tốt vai trò
thành viên Hội đồng điều phối vùng ĐBSCL theo Quyết định số 825/QĐ-TTg ngày 12
tháng 6 năm 2020 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập và ban hành Quy chế
hoạt động của Hội đồng điều phối vùng ĐBSCL giai đoạn 2020 - 2025; triển khai
thực hiện Nghị quyết số 57/NQ-CP ngày 21 tháng 4 năm 2022 của Chính phủ về các
nhiệm vụ, giải pháp hoàn thiện thể chế liên kết vùng kinh tế - xã hội; trong
đó, đề ra mục tiêu tăng cường vai trò điều phối liên kết vùng của Chính quyền
Trung ương, tạo kênh thông tin, thúc đẩy liên kết Chính quyền địa phương trong
vùng ĐBSCL, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh vùng, huy động đa dạng các
nguồn lực để hỗ trợ các hoạt động, dự án liên kết vùng, tận dụng nội lực và ngoại
lực của các địa phương trong vùng, bảo đảm phát triển kinh tế - xã hội vùng bền
vững.
Liên kết, hợp tác giữa thành phố
với các tỉnh, thành phố, viện, trường không ngừng được cải thiện; các lĩnh vực
liên kết, hợp tác tập trung chủ yếu vào: công nghiệp; nông nghiệp ứng dụng công
nghệ cao; thương mại - dịch vụ; thông tin và truyền thông; văn hóa, thể thao và
du lịch; y tế; lao động, xã hội; tài nguyên, môi trường; quốc phòng - an ninh…
Đối với việc ký kết với viện trường, UBND thành phố đã thực hiện và triển khai
ký kết hợp tác với trường Đại học Cần Thơ. Đối với các tỉnh, thành, Ủy ban nhân
dân thành phố Cần Thơ cùng Ủy ban nhân dân các tỉnh ĐBSCL đã ký Bản thỏa thuận
hợp tác phát triển kinh tế - xã hội giữa thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh vùng
ĐBSCL đến năm 2025 với các lĩnh vực về phát triển hạ tầng giao thông, phát triển
du lịch, kết nối cung - cầu, xúc tiến đầu tư - thương mại, hợp tác thích ứng biến
đổi khí hậu, phát triển khoa học công nghệ, chuyển đổi số, phát triển lĩnh vực
giáo dục, y tế, đào tạo nguồn nhân lực và hợp tác song phương trong xây dựng đề
án và trình tự thủ tục để thành lập trung tâm khởi nghiệp đổi mới sáng tạo vùng
ĐBSCL. Xây dựng kế hoạch và triển khai cụ thể các nội dung Thỏa thuận hợp tác
phát triển kinh tế - xã hội giữa thành phố Cần Thơ và thành phố Hồ Chí Minh.
Ngoài ra, thành phố còn triển
khai các mô hình liên kết do phát sinh nhu cầu của các địa phương như: liên kết
vùng tứ giác long xuyên, liên kết vùng ABCD Mekong (An Giang - Bến Tre - Cần
Thơ - Đồng Tháp) …, liên kết phối hợp các tỉnh/thành phố khu vực Nam Sông Hậu
trong phòng chống dịch COVID-19 và phát triển kinh tế - xã hội... Tổ chức Diễn
đàn hợp tác kinh tế ĐBSCL đã tạo cầu nối cho liên kết các tỉnh, thành phố trong
cả nước và có tiếng nói chung với các Bộ, ngành Trung ương trên cơ sở khai thác
có hiệu quả hơn các nguồn lực sẵn có của từng địa phương và Vùng, đẩy mạnh hợp
tác xúc tiến thương mại, du lịch; trở thành đầu mối tạo liên kết giữa các nhà
(nhà khoa học, nhà băng, nhà nông, nhà doanh nghiệp, nhà quản lý) cung cấp các
kênh thông tin, tư vấn về cơ chế, chính sách, tạo điều kiện thuận lợi cho vùng
phát triển mạnh mẽ, bền vững; qua đó đã giới thiệu đến các đối tác, nhà đầu tư
trong và ngoài nước về tiềm năng, thế mạnh và các dự án mời gọi đầu tư.
12. Cải
cách hành chính, thanh tra, tư pháp
- Thực hiện nghiêm túc quy
trình xây dựng và ban hành văn bản theo quy định: Công tác thẩm định, kiểm tra,
xử lý văn bản quy phạm pháp luật luôn được chú trọng, nâng cao chất lượng; thường
xuyên kiểm tra, tự kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật,
góp phần xây dựng cơ chế, chính sách của thành phố đảm bảo tính hợp pháp, hợp
hiến, phù hợp với thực tiễn. Tập trung theo dõi tình hình thi hành pháp luật
trong các lĩnh vực trọng tâm, liên ngành; lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính
tư pháp, trợ giúp pháp lý được chú trọng hoàn thiện, giải quyết kịp thời nhu cầu
của người dân, doanh nghiệp thông qua đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và
cải cách thủ tục hành chính. Tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật có trọng tâm,
trọng điểm, gắn với việc thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, các nội
dung liên quan trực tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, quyền, nghĩa vụ và
lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp. Tăng cường quản lý Nhà nước bằng
pháp luật, đưa các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của
Nhà nước đi vào đời sống.
Trên cơ sở chủ trương, chính
sách, pháp luật của Trung ương, địa phương luôn xác định công tác xây dựng,
hoàn thiện và tổ chức thi hành pháp luật là nhiệm vụ trọng tâm, then chốt, được
triển khai với quyết tâm cao của cả hệ thống chính trị. Trong thời gian qua,
thành phố đã kịp thời cụ thể hóa, ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật, cơ
chế, chính sách thuộc thẩm quyền; đồng thời chủ động rà soát, điều chỉnh, bổ
sung các quy định nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn, bảo đảm quyền
và lợi ích hợp pháp của người dân, tạo môi trường thuận lợi cho đầu tư, sản xuất,
kinh doanh, khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, phục hồi và phát triển kinh tế - xã
hội.
Thể chế kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa trên địa bàn thành phố tiếp tục được hoàn thiện, các yếu
tố và quy luật thị trường ngày càng phát huy vai trò trong phân bổ nguồn lực,
thúc đẩy phát triển kinh tế. Các loại thị trường cơ bản như bất động sản, lao động,
khoa học công nghệ, vốn, hàng hóa, dịch vụ... tiếp tục được hình thành, phát
triển đồng bộ.
- Công tác cải cách hành chính
được quan tâm chỉ đạo mạnh mẽ hướng đến mục tiêu nâng cao chất lượng và cải thiện
vị trí xếp hạng các Chỉ số Cải cách hành chính, Chỉ số Hiệu quả quản trị và
Hành chính công, Chỉ số năng lực cạnh tranh và Chỉ số chuyển đổi số đều xếp hạng
khá cao qua các kỳ công bố.
Chính quyền điện tử, chuyển đổi
số đã và đang được triển khai thực hiện tích cực trong hệ thống các ngành, lĩnh
vực, giúp người dân và doanh nghiệp kịp thời nắm bắt thông tin và thuận tiện, dễ
dàng trong thực hiện các giao dịch công. Hoạt động tuyên truyền, kiểm tra việc
thực hiện nhiệm vụ cải cách hành chính đạt hiệu quả tốt, trọng tâm là cải cách
chế độ công vụ, xây dựng và phát triển Chính quyền điện tử, Chính quyền số. Cơ
chế một cửa, một cửa liên thông tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động;
100% TTHC có đủ điều kiện được cung cấp trực tuyến và tích hợp lên Cổng Dịch vụ
công quốc gia. Kỷ luật, kỷ cương hành chính, kỷ luật công vụ được tăng cường;
hiệu quả, hiệu lực chỉ đạo, điều hành được nâng cao; đến thời điểm báo cáo,
thành phố đã rà soát, đơn giản hóa TTHC, giúp giảm thời gian giải quyết từ 10%
đến 40% và cắt giảm chi phí tuân thủ TTHC lên đến 35%; hồ sơ TTHC được giải quyết
đúng hạn đạt tỷ lệ cao ở cả 2 cấp (cấp tỉnh đạt 96,82%, cấp xã đạt 99,66%).
- Công tác phân cấp, phân quyền
giữa các cấp Chính quyền được đẩy mạnh, nhất là trong lĩnh vực đầu tư, quy hoạch,
quản lý đất đai, tài chính - ngân sách, bảo vệ môi trường, giao thông. Thành phố
đã được Quốc hội ban hành Nghị quyết số 45/2022/QH15 ngày 11 tháng 02 năm 2022
về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển thành phố Cần Thơ
(thành phố được áp dụng 06 cơ chế, chính sách về quản lý đất đai, quản lý quy
hoạch, tài chính ngân sách, thu nhập của cán bộ, công chức, viên chức thuộc
thành phố quản lý và chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư cho 02 dự án).
Sau sáp nhập đơn vị hành chính
cấp tỉnh, vận hành Chính quyền địa phương hai cấp, UBND thành phố đã chỉ đạo cơ
quan chuyên môn và Ủy ban nhân dân xã, phường nghiêm túc quán triệt, triển khai
thực hiện đầy đủ các quy định pháp luật về phân cấp, phân quyền, phân định thẩm
quyền; chủ động rà soát, đánh giá khả năng thực hiện tại cơ quan, đơn vị, địa
phương mình để kịp thời đề xuất điều chỉnh, hướng dẫn, sửa đổi hoặc kiến nghị
cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản mới phù hợp với yêu cầu, lộ trình và
tình hình thực tiễn. Qua soát đến thời điểm hiện tại, tổng số văn bản quy phạm
pháp luật của 03 địa phương (thành phố Cần Thơ, Tỉnh Sóc Trăng, Tỉnh Hậu Giang
cũ) 1.310 văn bản (481 Nghị quyết, 829 Quyết định). Hiện thành phố đang tiếp tục
rà soát, lập danh mục và đề xuất thời gian, hình thức xử lý cụ thể đối với từng
văn bản; hiện đã xử lý xong 399 văn bản (135 Nghị quyết, 264 Quyết định). Thành
phố đã hoàn thành công tác ban hành quy định về chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ
chức của 14/14 cơ quan chuyên môn cấp thành phố; 100% UBND xã, phường đã ban
hành quyết định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của
cơ quan chuyên môn và Trung tâm Phục vụ hành chính công.
- Tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo
nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thanh tra, đảm bảo có trọng tăm, trọng
điểm, tập trung vào những lĩnh vực nhạy cảm, dễ phát sinh tiêu cực, tham nhũng
dư luận quan tâm, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, phục vụ phát triển kinh tế
- xã hội trên địa bàn thành phố. Qua thanh tra kịp thời phát hiện, chấn chỉnh
những yếu kém, thiếu sót trong quản lý Nhà nước; có biện pháp xử lý nghiêm
minh, đúng pháp luật đối với tập thể, cá nhân vi phạm pháp luật, tham nhũng,
lãng phí, tiêu cực; kiến nghị hoàn thiện chính sách pháp luật còn bất cập, sơ hở:
tăng cường công tác đôn đốc, xử lý sau thanh tra, nhất là tăng tỷ lệ thu hồi tiền
và tài sản do vi phạm, tham nhũng, tiêu cực.
Công tác tiếp công dân, xử lý
đơn thư, giải quyết khiếu nại, tố cáo tiếp tục được quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo
thực hiện, đặc biệt là phát huy vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy
trong việc tiếp công dân, đối thoại trực tiếp với dân và xử lý những phản ánh,
kiến nghị của dân; tập trung giải quyết dứt điểm, kịp thời, đúng pháp luật các
vụ việc khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân, hạn chế phát sinh
điểm nóng, vụ việc vượt cấp, kéo dài, gây dư luận, bức xúc cho người dân.
Thực hiện nghiêm túc, đồng bộ
các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về phòng,
chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, nhằm bảo đảm thực hiện kịp thời, thống nhất
và có hiệu quả các giải pháp phòng ngừa tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, góp phần
giữ vững ổn định chính trị, kỷ luật, kỷ cương hành chính và tăng cường niềm tin
trong Nhân dân.
13. Đảm bảo
quốc phòng, an ninh
Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực
hiện đồng bộ, xây dựng lực lượng quân sự theo hướng tinh, gọn, mạnh, chính quy,
tinh nhuệ, hiện đại; tập trung xây dựng các tiềm lực trong khu vực phòng thủ,
xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với nền an
ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân ngày càng vững chắc. Quán triệt sâu sắc
quan điểm, đường lối quân sự quốc phòng của Đảng, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo
các hoạt động truyền thông thông tin, tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho các
tầng lớp nhân dân, lực lượng vũ trang về nhiệm vụ phòng thủ dân sự. Kết hợp chặt
chẽ giữa nhiệm vụ củng cố quốc phòng, an ninh với đẩy mạnh phát triển kinh tế -
xã hội, phát triển kinh tế xã - hội với đảm bảo quốc phòng, an ninh. An ninh
chính trị được giữ vững, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo; chủ động nắm chắc
và xử lý kịp thời, hiệu quả tình hình an ninh chính trị, an ninh kinh tế, văn
hóa tư tưởng, thông tin truyền thông...; đấu tranh, trấn áp có hiệu quả với các
loại tội phạm, tệ nạn xã hội; năm 2025, thành phố có 25 xã, phường không ma túy
(chiếm tỷ lệ 20% trên tổng số xã phường trên địa bàn thành phố); trật tự an
toàn giao thông bình quân giảm cả 3 tiêu chí; đảm bảo trật tự đô thị, trật tự
công cộng, phòng cháy, chữa cháy, tìm kiếm cứu nạn, cứu hộ được tăng cường thường
xuyên.
14. Hoạt động
đối ngoại
Hoạt động đối ngoại được triển
khai đồng bộ, hiệu quả bằng nhiều hình thức đa dạng, phong phú, phù hợp với điều
kiện thực tế; triển khai thực hiện Nghị quyết số 59-NQ/TW, ngày 24 tháng 01 năm
2025 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới[14]. Hoạt động giao lưu quốc tế, xúc tiến đầu tư, quảng bá
địa phương ở nước ngoài được đẩy mạnh. Thành phố đã ký kết 04 bản ghi nhớ hợp
tác và các hình thức thỏa thuận quốc tế khác với đối tác từ các quốc gia: Nhật
Bản, Senegal, Hàn Quốc. Tiếp tục quan tâm giữ mối liên hệ với các cơ quan đại
diện Việt Nam ở nước ngoài, tích cực tham gia vào các tổ chức quốc tế trên các
lĩnh vực đô thị, môi trường, biến đổi khí hậu, giáo dục, y tế, văn hóa, an ninh
mạng.
III. ĐÁNH
GIÁ CHUNG VỀ VIỆC CHỈ ĐẠO, PHỐI HỢP VÀ TỔ CHỨC TRIỂN KHAI THỰC HIỆN KẾ HOẠCH 5
NĂM 2016 - 2020
1. Kết quả
đạt được
Quy mô nền kinh tế từng bước được
cải thiện, diện mạo thành phố thay đổi theo hướng khang trang, tiến bộ, văn
minh, hiện đại. Đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng,
nâng cao sức cạnh tranh nền kinh tế.
Năng lực cạnh tranh của thành
phố và doanh nghiệp được cải thiện; tăng cường đầu tư, nghiên cứu ứng dụng
thành tựu khoa học và công nghệ vào sản xuất kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh
tranh của sản phẩm; đẩy mạnh các hoạt động hỗ trợ phát triển hệ sinh thái khởi
nghiệp đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ số cho thành phố.
Hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế
- xã hội, nhất là hạ tầng giao thông được quan tâm đầu tư. Công tác quy hoạch
và phát triển đô thị và quản lý phát triển đô thị gắn với bố trí lại dân cư có
nhiều đổi mới, triển khai khá đồng bộ. Chất lượng đô thị được nâng cao, hệ thống
đô thị phát triển dần trở thành động lực và góp phần quan trọng phát triển kinh
tế - xã hội. Liên kết giữa các địa phương trong và ngoài Vùng bước đầu đạt một
số kết quả.
Công tác cải cách hành chính và
cải thiện môi trường đầu tư có bước chuyển biến quan trọng theo hướng phục vụ,
nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước, xây dựng Chính quyền các cấp
trong sạch, vững mạnh. Tích cực xúc tiến, làm việc với các Tập đoàn, các doanh
nghiệp ngoài Nhà nước để kêu gọi đầu tư vào các dự án mang tính dẫn dắt của
thành phố, tạo động lực thu hút các doanh nghiệp cùng tham gia thực hiện trên địa
bàn.
Phát triển văn hóa - xã hội đạt
nhiều kết quả tích cực, các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao, hoạt
động chào mừng các ngày lễ, kỷ niệm trọng đại của đất nước tổ chức trên tinh thần
an toàn, tiết kiệm, tạo không khí vui tươi, phấn khởi, phục vụ tốt nhiệm vụ
chính trị của địa phương và đời sống văn hóa tinh thần cho nhân dân; quản lý,
khai thác, sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên; thực hiện đồng bộ,
chủ động ứng phó biến đổi khí hậu. Bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn
xã hội trong mọi tình huống.
Nguyên nhân khách quan:
Được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ
đạo của Trung ương, Quốc hội, Chính phủ và các Bộ, ngành; bên cạnh đó, thành phố
được sự ủng hộ, hợp tác tích cực, hiệu quả của các tỉnh, thành trong khu vực ĐBSCL
và cả nước.
Nguyên nhân chủ quan:
Sự đoàn kết thống nhất, quyết
tâm chính trị cao trong toàn Đảng bộ; sự chỉ đạo quyết liệt và hiệu quả của
Thành ủy, quyết nghị các chính sách và giám sát của HĐND thành phố, sự điều
hành linh hoạt sâu sát, toàn diện trên các mặt kinh tế, đời sống xã hội của
UBND thành phố. Sự phối hợp chặt chẽ giữa các sở, ban ngành, đoàn thể; sự đồng
thuận, hưởng ứng của doanh nghiệp và của các tầng lớp nhân dân trong thực hiện
các chủ trương, nghị quyết, các quan điểm đổi mới của Đảng và thành phố và những
đóng góp ý kiến cụ thể của các Lãnh đạo, nguyên lãnh đạo đối với thành phố.
Có sự đổi mới phương thức lãnh
đạo, chỉ đạo, có trọng tâm, trọng điểm, giải quyết kịp thời, hiệu quả những vấn
đề phát sinh. Tận dụng được một số cơ hội; phát huy nội lực, huy động các nguồn
lực trong xã hội, tạo sức mạnh tổng hợp tổ chức thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ
phát triển kinh tế - xã hội.
2. Tồn tại,
hạn chế
Tăng trưởng kinh tế chưa đạt mục
tiêu đề ra, thiếu bền vững và chưa tương xứng với tiềm năng. Quy mô nền kinh tế
mở rộng nhưng tốc độ tăng trưởng chưa đạt kỳ vọng, một số chỉ tiêu chủ yếu như
tốc độ tăng GRDP, cơ cấu kinh tế, chỉ số sản xuất công nghiệp chưa đạt mục tiêu
đề ra. Tính chất hạt nhân, trung tâm phát triển của vùng ĐBSCL vẫn chưa rõ nét,
đóng góp vào GRDP toàn vùng chỉ khoảng 23%. Các động lực tăng trưởng mới, nhất
là từ khu vực kinh tế tư nhân, đầu tư trực tiếp nước ngoài, khoa học công nghệ
phát triển chậm, chưa tạo ra chuyển biến rõ nét.
Năng lực cạnh tranh còn thấp,
chuyển dịch cơ cấu kinh tế đúng định hướng nhưng còn chậm. Một số ngành sản xuất,
dịch vụ chủ lực tăng trưởng chậm, hàm lượng công nghệ, giá trị gia tăng thấp; dịch
vụ logistics có tiềm năng nhưng phát triển chưa đồng bộ, quy mô nhỏ; kêu gọi đầu
tư, kinh doanh kết cấu hạ tầng khu, cụm công nghiệp còn nhiều khó khăn, hạn chế;
xuất khẩu gặp nhiều khó khăn do sức cầu giảm, khả năng đa dạng hóa thị trường,
đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế còn hạn chế. Tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư chưa đạt yêu
cầu về tiến độ hàng năm ảnh hưởng đến tỷ lệ giải ngân cả kỳ kế hoạch trung hạn.
Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội
chưa đồng bộ, chưa phát huy hiệu quả trong liên kết vùng. Hạ tầng giao thông
chưa được khai thác hiệu quả, nhiều công trình quan trọng như Cảng hàng không
quốc tế Cần Thơ, Cảng Cái Cui chưa phát huy hết công suất. Đầu tư phát triển
các dự án điện (nhiệt điện, điện gió, lưới điện truyền tải) chậm tiến độ, chưa
đưa vào vận hành đạt quy mô công suất đề ra. Hạ tầng đô thị, khu vui chơi, giải
trí, nhà ở phát triển chưa đồng bộ; các khu vực dự kiến mở rộng đô thị còn thiếu
đầu tư. Mối liên kết, hợp tác vùng dù được chú trọng nhưng vẫn chưa tạo được kết
quả cụ thể, thực chất.
Việc triển khai chính sách ưu
đãi, thu hút đầu tư chưa hiệu quả; công tác xã hội hóa đầu tư còn gặp khó khăn.
Triển khai quy hoạch còn chậm,
tỷ lệ quy hoạch phân khu, chi tiết còn thấp; việc phát triển các dự án nhà ở gặp
nhiều khó khăn. Thiên tai, sạt lở bờ sông, xâm nhập mặn ngày càng phức tạp,
trong khi giải pháp ứng phó chưa hiệu quả. Phát triển đô thị chưa đạt mục tiêu
kép về hiện đại hóa và thích ứng với biến đổi khí hậu, tình trạng ô nhiễm môi
trường còn xảy ra ở một số địa phương, công tác thu gom chất thải rắn còn nhiều
khó khăn, một số địa phương chưa thực hiện triệt để; tình trạng ngập nước ở một
số khu vực đô thị đã ảnh hưởng đến sinh hoạt và đời sống của Nhân dân.
Giáo dục, đào tạo, khoa học
công nghệ và đổi mới sáng tạo chưa trở thành động lực then chốt. Nguồn nhân lực
chất lượng cao chưa đáp ứng yêu cầu phát triển. Hoạt động nghiên cứu, ứng dụng
khoa học và công nghệ còn hạn chế, hàm lượng công nghệ trong sản phẩm còn thấp.
Chuyển đổi số trong quản trị và sản xuất còn chậm.
Du lịch phát triển chưa tương xứng
với tiềm năng. Sản phẩm du lịch chưa hấp dẫn, thiếu đặc trưng riêng biệt; các
loại hình như du lịch nông nghiệp, đường sông còn đơn điệu, chưa có sản phẩm nổi
bật mang thương hiệu Cần Thơ - Hậu Giang - Sóc Trăng.
Đời sống một bộ phận người dân,
nhất là ở khu vực nông thôn, đồng bào dân tộc còn gặp nhiều khó khăn, cần triển
khai các chính sách hỗ trợ trong khi nguồn lực thành phố có giới hạn.
Nguyên nhân khách quan:
Tình hình kinh tế - chính trị
thế giới biến động rất nhanh, phức tạp, khó đoán định, nhiều diễn biến chưa từng
có tiền lệ, vượt quá khả năng dự báo và gây khó khăn, tạo áp lực lớn lên khả
năng phân tích, tổng hợp và công tác điều hành. Đặc biệt là suy thoái kinh tế
toàn cầu, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn diễn biến phức tạp; lạm phát
tăng cao, các nước thắt chặt chính sách tiền tệ dẫn đến suy giảm tăng trưởng,...
Đại dịch COVID-19 để lại nhiều
hậu quả, tác động tiêu cực đến nhiều mặt của đời sống kinh tế - xã hội, vẫn
đang trong quá trình phục hồi; áp lực lạm phát gia tăng, giá nguyên liệu đầu
vào, nhiên liệu cho sản xuất tăng cao,…, tác động xấu đến quá trình phục hồi một
số ngành, lĩnh vực. Việc nối lại thị trường nước ngoài, chuỗi cung ứng bị gián
đoạn vẫn chưa trở lại bình thường đã ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh
doanh và xuất khẩu.
Thiên tai, mưa bão, nắng nóng,
xâm nhập mặn trái quy luật, khó dự báo và diễn ra nhanh hơn dự báo gây ra nhiều
khó khăn, thách thức mới, ảnh hưởng phát triển kinh tế - xã hội.
Nguyên nhân chủ quan:
Kết quả thực hiện một số nhiệm
vụ để cụ thể hóa các nội dung, nhiệm vụ theo yêu cầu đặt ra của Nghị quyết số
59-NQ/TW vẫn còn chậm; một số nội dung cụ thể hóa Nghị quyết số 45/2022/QH15
ngày 11 tháng 01 năm 2022 của Quốc hội về thí điểm một số cơ chế đặc thù phát
triển thành phố Cần Thơ về cơ chế chính sách đặc thù thuộc thẩm quyền của địa
phương đang được triển khai hoặc chưa đủ điều kiện triển khai thực hiện, làm ảnh
hưởng đến hiệu quả của chính sách đã được Quốc hội thông qua.
Công tác dự báo, tham mưu còn bị
động; công tác phối hợp với các bộ, ngành Trung ương và các địa phương chưa chủ
động, thiếu chặt chẽ, nhịp nhàng, nhất là khi xuất hiện những vấn đề mới phát
sinh, chưa có tiền lệ.
Công tác phối hợp trong các cơ
quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân vẫn còn trường hợp chưa đáp ứng yêu cầu;
nhiều tồn tại, hạn chế kéo dài chưa được giải quyết, khắc phục, như trong công
tác giải phóng mặt bằng, tái định cư, giải ngân vốn đầu tư công, thu hút đầu tư
ngoài ngân sách.
3. Bài học
kinh nghiệm
a) Quán triệt, triển khai, thực
hiện đầy đủ hiệu quả chủ trương của Đảng, tuân thủ và vận dụng sáng tạo những
quy định của pháp luật, chính sách điều hành của Chính phủ, bộ, ngành Trung
ương, Thành ủy phù hợp với điều kiện thực tiễn của thành phố.
b) Phát huy sức mạnh tổng hợp của
cả hệ thống chính trị, tăng cường sự đoàn kết, năng động, sáng tạo của Đảng bộ,
chính quyền và nhân dân thành phố trong thực hiện nhiệm vụ chính trị; thực hiện
nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, quy chế làm việc; xác định nhiệm vụ trọng
tâm, trọng điểm, khâu đột phá, kịp thời đề ra những giải pháp để tập trung chỉ
đạo thực hiện. Trong đó, tập trung thực hiện các khâu đột phá chiến lược, đặc
biệt là chú trọng huy động tối đa các nguồn lực, đầu tư đồng bộ kết cấu hạ tầng,
trọng tâm là hạ tầng giao thông.
c) Huy động được trí tuệ, các
nguồn lực, nhân lực xây dựng thành phố. Kịp thời chuyển đổi mô hình tăng trưởng,
giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa tốc độ và chất lượng tăng trưởng theo hướng
tăng hàm lượng giá trị hơn là khai thác tài nguyên; coi trọng các yếu tố phát
triển theo chiều sâu, gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, phát triển
toàn diện con người, thực hiện dân chủ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường để
phát triển bền vững.
d) Phát huy vai trò của Mặt trận
Tổ quốc, các tổ chức đoàn thể, lực lượng cốt cán, người có uy tín trong đồng
bào dân tộc; tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; tạo điều kiện để
Nhân dân tham gia đóng góp ý kiến, phản biện xã hội.
đ) Thực hiện hài hòa các lợi
ích giữa các thành phần kinh tế, nhà nước - doanh nghiệp - Nhân dân. Kết hợp chặt
chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với chăm lo, củng cố, xây dựng nền quốc
phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân vững mạnh toàn diện, giữ vững an ninh
chính trị và trật tự an toàn xã hội, đáp ứng mục tiêu phát triển. Chủ động thực
hiện liên kết, hợp tác hiệu quả với các địa phương trong cả nước, nhất là Thành
phố Hồ Chí Minh, các tỉnh trong vùng; tận dụng các cơ hội hội nhập quốc tế mở rộng
thị trường xuất khẩu.
Phần thứ hai
KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI, ĐẢM BẢO QUỐC
PHÒNG, AN NINH GIAI ĐOẠN 2026 - 2030
I. BỐI CẢNH
THỰC HIỆN
Tình hình thế giới tiếp tục diễn
biến nhanh, phức tạp, khó lường; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gia
tăng; kinh tế toàn cầu tăng trưởng chậm, xu hướng bảo hộ, tái cấu trúc chuỗi
cung ứng và phân cực công nghệ diễn ra mạnh mẽ. Biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch
bệnh, khủng hoảng tài nguyên và an ninh phi truyền thống ngày càng nghiêm trọng,
đặc biệt ảnh hưởng đến các quốc gia đang phát triển. Cùng với đó, các xu hướng
lớn như chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, phát triển bền vững và đổi mới sáng tạo
đang trở thành động lực chính cho tăng trưởng. Sự phát triển nhanh chóng của
các công nghệ mới đặt ra cả cơ hội và thách thức trong điều chỉnh mô hình phát
triển, cơ cấu lao động và quản trị xã hội.
Trong nước, tình hình chính trị
- xã hội ổn định, kinh tế vĩ mô cơ bản được giữ vững, hội nhập quốc tế ngày
càng sâu rộng. Quy mô, tiềm lực và vị thế quốc gia được nâng cao; môi trường đầu
tư, kết cấu hạ tầng, đời sống Nhân dân có nhiều chuyển biến tích cực. Tuy
nhiên, nền kinh tế vẫn đối mặt với nhiều thách thức như nguy cơ tụt hậu, năng lực
tự chủ và sức cạnh tranh còn hạn chế, tình trạng già hóa dân số gia tăng, biến
đổi khí hậu, thiên tai ngày càng gay gắt.
Việc sáp nhập đơn vị hành chính
cấp tỉnh tạo ra không gian phát triển rộng hơn, nguồn lực lớn hơn, đồng thời đặt
ra yêu cầu cấp thiết về tái cấu trúc mô hình phát triển, phân bổ lại nguồn lực.
Thành phố Cần Thơ sau sáp nhập vừa kế thừa các thuận lợi, thành tựu của thành
phố Cần Thơ, tỉnh Sóc Trăng, tỉnh Hậu Giang trước đây, vừa tiếp nhận thêm tiềm
năng và thách thức đặc thù của tỉnh Sóc Trăng và tỉnh Hậu Giang. Do đó, Thành
phố cần chủ động thích ứng với mô hình quản lý mới, bảo đảm ổn định chính trị -
xã hội, rà soát, điều chỉnh toàn diện về quy hoạch, chiến lược phát triển, cơ
chế quản lý và phân bổ nguồn lực để đảm bảo tính đồng bộ, hiệu quả, tiếp tục
triển khai thực hiện hiệu quả các Nghị quyết của Trung ương về xây dựng và phát
triển thành phố Cần Thơ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; phát huy tiềm năng
tổng hợp của các địa phương sau sáp nhập. Đồng thời, giải quyết hài hòa các vấn
đề đặt ra như chênh lệch phát triển, liên kết hạ tầng, bảo vệ môi trường và an
ninh nguồn nước. Chủ động nâng cao năng lực nội tại, đẩy mạnh đổi mới sáng tạo,
phát triển kinh tế số, kinh tế xanh và tăng cường hội nhập quốc tế để tận dụng
cơ hội, vượt qua thách thức, thúc đẩy phát triển bền vững, phát huy vai trò
trung tâm động lực, dẫn dắt vùng ĐBSCL; trở thành cực tăng trưởng quan trọng của
quốc gia.
Trước bối cảnh, tình hình thế
giới, khu vực và trong nước, Đảng bộ thành phố đã phân tích, đánh giá tiềm
năng, lợi thế và nguồn lực của thành phố quyết nghị thông qua Nghị quyết Đại hội
Đại biểu Đảng bộ thành phố lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030 (Nghị quyết số
02-NQ/ĐH ngày 28 tháng 9 năm 2025); xác định mục tiêu, chỉ tiêu và các nhiệm vụ,
giải pháp chủ yếu phấn đấu thực hiện cho giai đoạn tiếp theo.
II. MỤC
TIÊU, CÁC CHỈ TIÊU CHỦ YẾU
1. Mục
tiêu
Cần Thơ phấn đấu trở thành một
cực tăng trưởng của quốc gia; là trung tâm kinh tế tri thức, đổi mới sáng tạo,
logistics, giáo dục, y tế và tài chính của toàn vùng. Hoàn thiện đồng bộ hệ thống
kết cấu hạ tầng chiến lược, đặc biệt là hạ tầng giao thông đa phương thức, hạ tầng
logistics, hạ tầng số, hạ tầng thủy lợi và năng lượng. Ưu tiên phát triển các
ngành, lĩnh vực có lợi thế so sánh và giá trị gia tăng cao, gồm: nông nghiệp
công nghệ cao và nông nghiệp sinh thái gắn với chuỗi cung ứng chế biến, xuất khẩu;
công nghiệp chế biến nông, thủy sản; năng lượng sạch; kinh tế biển; kinh tế cửa
khẩu; du lịch sinh thái, văn hóa, tâm linh; đô thị thông minh; thương mại và dịch
vụ chất lượng cao. Thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường
sinh thái, ứng phó biến đổi khí hậu, giữ gìn tài nguyên nước và cân bằng hệ
sinh thái đồng bằng sông Cửu Long. Vận hành hiệu quả mô hình Chính quyền địa
phương hai cấp; đảm bảo quốc phòng, an ninh vững chắc, giữ vững ổn định chính
trị, trật tự an toàn xã hội.
2. Các chỉ
tiêu chủ yếu
a) Chỉ tiêu về kinh tế:
(1) Tổng sản phẩm trên địa bàn
(GRDP) tính theo giá hiện hành đến năm 2030 đạt tối thiểu 717.067 tỷ đồng. GRDP
bình quân đầu người đến năm 2030 phấn đấu đạt khoảng 215 triệu đồng/người/năm;
tốc độ tăng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) bình quân giai đoạn 2026 - 2030 đạt
từ 10 - 10,5%/năm trở lên; kim ngạch xuất khẩu, dịch vụ và thu ngoại tệ phấn đấu
đến năm 2030 đạt 8,2 tỷ USD, giai đoạn 2026 - 2030 phấn đấu bình quân tăng
11%/năm; thu nhập bình quân đầu người đến năm 2030 đạt tối thiểu 8.500.000 đồng/người/tháng.
(2) Tổng thu ngân sách hằng năm
tăng khoảng 15%; phấn đấu đến năm 2030 ước đạt 57.000 tỷ đồng.
(3) Cơ cấu tổng sản phẩm trên địa
bàn (GRDP) đến năm 2030 dự kiến: khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm thấp
hơn 16%; công nghiệp và xây dựng chiếm cao hơn 35% (trong đó, công nghiệp chiếm
hơn 29%); dịch vụ chiếm cao hơn 45% và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm
cao hơn 4%.
(4) Tổng vốn đầu tư thực hiện
trên địa bàn theo giá hiện hành đến năm 2030 đạt tối thiểu 286.000 tỷ đồng; chiếm
tỷ trọng 40% GRDP.
(5) Nâng cao các chỉ số: cải
cách hành chính (PAR INDEX); sự hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục
vụ của cơ quan hành chính Nhà nước (SIPAS), hiệu quả quản trị và hành chính
công cấp tỉnh (PAPI), năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI); phấn đấu đạt kết quả
xếp hạng trong “Nhóm 15 địa phương có chất lượng điều hành tốt”.
(6) Phát triển khoa học công
nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số:
- Đóng góp của năng suất nhân tố
tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế thành phố ở mức trên 55%.
- Tỷ trọng giá trị tăng thêm của
kinh tế số trong GRDP đạt tối thiểu 30%.
- Tỷ lệ sử dụng dịch vụ công trực
tuyến của người dân và doanh nghiệp đạt trên 80%.
- Phấn đấu bố trí 3% tổng chi
ngân sách cho phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
- Số lượng công bố khoa học quốc
tế tăng trung bình 10 - 15%/năm.
- Tỷ lệ doanh nghiệp có hoạt động
đổi mới sáng tạo đạt trên 40% trong tổng số doanh nghiệp.
- Nguồn nhân lực nghiên cứu
khoa học, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo đạt 12 người trên một vạn dân;
số lượng đơn vị đăng ký sáng chế, văn bằng bảo hộ sáng chế tăng trung bình 16 -
18% năm, tỷ lệ khai thác thương mại đạt 8 - 10%.
(7) Tốc độ tăng trưởng bình
quân của kinh tế tư nhân đạt từ 10%/năm trở lên.
(8) Tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư
công phấn đấu đạt 100% tổng kế hoạch vốn đầu tư công được Chính phủ giao.
b) Chỉ tiêu về xã hội:
(9) Dân số trung bình đến năm
2030 là 3.335.000 người.
(10) Chỉ số phát triển con người
(HDI) đến năm 2030 đạt tối thiểu 0,78.
(11) Đến năm 2030, giá trị năng
suất lao động theo giá hiện hành đạt trên 358 triệu đồng/lao động/năm; tốc độ
tăng năng suất lao động theo giá so sánh bình quân giai đoạn 2026 - 2030 đạt
trên 10%; tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ đạt 35 - 40%; số
lao động có việc làm trong nền kinh tế đến năm 2030 phấn đấu đạt 1.700.000 người;
tỷ lệ lao động có việc làm trong nền kinh tế khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản
đạt dưới 38%, khu vực công nghiệp và xây dựng đạt trên 27%, khu vực dịch vụ đạt
trên 35%; duy trì tỷ lệ thất nghiệp dưới 3,5%.
(12) Đến năm 2030, tuổi thọ
trung bình tính từ lúc sinh đạt khoảng 77,12 tuổi, trong đó thời gian sống khỏe
mạnh đạt tối thiểu 68 năm.
(13) Đến năm 2030: phấn đấu đạt
19 bác sỹ/vạn dân; số giường bệnh đến cuối năm 2030 đạt trên 44 giường bệnh/vạn
dân; đạt tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân; 100% người dân được hưởng chính
sách khám sức khỏe hằng năm.
(14) Tỷ lệ trường học các cấp đạt
chuẩn quốc gia đến năm 2030 phấn đấu đạt 85%. Trong đó: Mầm non đạt 90,5%; tiểu
học đạt 83,9%; trung học cơ sở đạt 83,6%; trung học phổ thông đạt 73,5%. Hoàn
thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em từ 3 đến 5 tuổi và giáo dục bắt buộc
hết trung học cơ sở.
(15) Tỷ lệ nghèo đa chiều đến
2030 là 2,42%, duy trì mức giảm tỷ lệ nghèo đa chiều 1%.
c) Chỉ tiêu về môi trường:
(16) Tỷ lệ cụm công nghiệp đang
hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường phấn
đấu đạt 100%.
(17) Tỷ lệ thu gom và xử lý chất
thải rắn sinh hoạt đô thị bảo đảm tiêu chuẩn, quy chuẩn đạt trên 95,8%; tỷ lệ
chất thải nguy hại được thu gom, xử lý đạt tối thiểu 98%; tỷ lệ chất thải y tế
được xử lý đạt 100%.
(18) Phấn đấu đến năm 2030 đạt
90,3% xã (65/72 xã) đạt chuẩn nông thôn mới; tỷ lệ hộ gia đình nông thôn được sử
dụng nước sạch từ các nguồn theo quy chuẩn phấn đấu đạt 85%.
(19) Tỷ lệ che phủ rừng đến
2030 đạt 2%.
d) Chỉ tiêu về phát triển kết cấu
hạ tầng:
(20) Đến năm 2030, tỷ lệ đô thị
hóa đạt 50% trở lên.
(21) Phấn đấu hoàn thành các
nhiệm vụ phát triển đô thị thông minh.
(22) Phấn đấu đến năm 2030,
hoàn thành 16.900 căn nhà ở xã hội.
đ) Chỉ tiêu về quốc phòng, an
ninh, đối ngoại:
(23) Công tác tuyển chọn và gọi
công dân nhập ngũ; công tác huấn luyện, diễn tập, giáo dục quốc phòng, an ninh
hoàn thành 100% chỉ tiêu hàng năm.
(24) Đảm bảo hằng năm số xã,
phường đạt tiêu chuẩn “An toàn về an ninh, trật tự” từ 75% trở lên; đến năm
2030 ít nhất 50% xã, phường trên địa bàn thành phố không có ma túy.
(25) Ký kết ít nhất 05 thỏa thuận
cấp thành phố với các địa phương, đối tác quốc tế; tham gia ít nhất 03 tổ chức
quốc tế/diễn đàn đa phương có tôn chỉ, mục đích hoạt động phù hợp với mục tiêu
phát triển của thành phố; phấn đấu 100% trường hợp được hỗ trợ hiệu quả qua
công tác bảo hộ công dân ở nước ngoài.
III. DỰ
BÁO CÁC CÂN ĐỐI LỚN
1. Cân đối
thu chi ngân sách
Huy động, phân phối, quản lý, sử
dụng có hiệu quả các nguồn lực tài chính, đáp ứng yêu cầu và mục tiêu phát triển
kinh tế - xã hội của thành phố theo Nghị quyết 59-NQ/TW ngày 05 tháng 8 năm
2020 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố Cần Thơ đến năm 2030,
tầm nhìn đến năm 2045; Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ I, nhiệm kỳ
2025 - 2030; từng bước cơ cấu lại thu, chi ngân sách nhà nước; triệt để tiết kiệm,
chống lãng phí, sử dụng hiệu quả vốn đầu tư công, đầu tư hợp lý cho con người
và giải quyết tốt các vấn đề an sinh xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh; siết
chặt kỷ luật, kỷ cương tài chính đi đôi với đẩy mạnh cải cách hành chính, hiện
đại hóa và tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát tài chính; kiểm
soát chặt chẽ nợ công theo đúng quy định của Luật Ngân sách nhà nước. Phấn đấu
tổng thu ngân sách nhà nước cả giai đoạn 2026 - 2030 khoảng 197 nghìn tỷ đồng,
tăng khoảng 1,70 lần so với ước thực hiện giai đoạn 2021-2025; trong đó thu nội
địa là 192 nghìn tỷ đồng. Tổng chi cân đối ngân sách nhà nước cả giai đoạn 2026
- 2030 khoảng 302 nghìn tỷ đồng; trong đó, tỷ trọng chi đầu tư phát triển chiếm
bình quân khoảng 50,48% tổng chi ngân sách nhà nước; tỷ trọng chi thường xuyên
bình quân khoảng 48,95% tổng chi ngân sách nhà nước; ưu tiên bảo đảm chi trả nợ.
Bảo đảm cân đối ngân sách tích cực, quản lý nợ công trong giới hạn cho phép và
theo đúng quy định của Luật Ngân sách nhà nước.
2. Lĩnh vực
ngân hàng
Bám sát các mục tiêu, định hướng
tăng trưởng toàn ngành và mục tiêu tăng trưởng của thành phố, hoạt động ngân
hàng trên địa bàn trong từng năm tiếp tục tăng trưởng vốn huy động, tăng trưởng
dư nợ tín dụng, duy trì tỷ lệ nợ xấu nội bảng ở mức an toàn (dưới 3%). Trong
đó, tăng trưởng huy động vốn đảm bảo đáp ứng ít nhất 70% hoạt động tín dụng;
tăng trưởng tín dụng phải đáp ứng được các tiêu chí: (1) Phù hợp với sức hấp thụ
của nền kinh tế nhưng vẫn phải đảm bảo mức tăng trưởng đủ mạnh để hỗ trợ tăng
trưởng kinh tế - xã hội của địa phương; (2) Không đánh đổi tăng trưởng ngắn hạn
với chất lượng tín dụng (nợ xấu); (3) Hướng nguồn vốn tín dụng vào các lĩnh vực
sản xuất kinh doanh, các lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng nền kinh
tế theo chủ trương của Chính phủ; chủ động cân đối nguồn vốn tín dụng hỗ trợ thực
hiện các Chương trình, Đề án trọng tâm phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của
thành phố.
3. Huy động
vốn đầu tư toàn xã hội
Tổng vốn đầu tư phát triển toàn
xã hội giai đoạn 2026 - 2030 chiếm tỷ trọng 40% trên tổng sản phẩm trên địa bàn
(GRDP giá hiện hành). Trong đó:
a) Dự kiến tổng vốn đầu tư thuộc
kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026 - 2030 là 145.446,701 tỷ đồng,
tăng 42.778,028 tỷ đồng so với số vốn được giao của giai đoạn 2021 - 2025.
Trong đó:
- Ngân sách trung ương:
72.878,391 tỷ đồng (cao hơn 46.640,871 tỷ đồng so với số thông báo đợt 1 của Bộ
Tài chính tại Công văn số 8636/BTC-TH ngày 17 tháng 6 năm 2025);
- Ngân sách địa phương:
72.568,310 tỷ đồng.
Vốn đầu tư công giai đoạn 2026
- 2030 của thành phố tập trung bố trí trọng tâm, trọng điểm để triển khai những
nhiệm vụ lớn, đẩy nhanh tiến độ, hoàn thiện cơ sở hạ tầng đồng bộ, hiện đại. Ưu
tiên bố trí vốn cho các Chương trình mục tiêu quốc gia, dự án đường cao tốc, dự
án kết nối, có tác động liên vùng, dự án có ý nghĩa thúc đẩy phát triển kinh tế
- xã hội nhanh, bền vững, trong đó ưu tiên sử dụng nguồn vốn xổ số kiến thiết đầu
tư các dự án thuộc lĩnh vực y tế, giáo dục đào tạo và dạy nghề; ưu tiên các nguồn
vốn đầu tư công từ ngân sách thành phố xây dựng các khu tái định cư, nhằm thực
hiện tốt công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho các dự án trên địa bàn
thành phố, bàn giao sớm mặt bằng cho chủ đầu tư, góp phần vào đẩy nhanh tiến độ
thi công ngoài công trình. Chỉ bố trí vốn đầu tư công nguồn ngân sách nhà nước
cho các chương trình, nhiệm vụ, dự án thuộc ngành, lĩnh vực đầu tư công theo
quy định của Luật Đầu tư công, Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Quyết
định của Thủ tướng Chính phủ và Nghị quyết của Hội đồng nhân dân thành phố.
Quán triệt nguyên tắc, thứ tự ưu tiên bố trí, sử dụng vốn ngân sách nhà nước để
dẫn dắt, khai thác tối đa các nguồn lực của các thành phần kinh tế khác.
b) Phát triển kinh tế tư nhân:
Xây dựng môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng
giữa các thành phần kinh tế; phát triển tư nhân trở thành một động lực quan trọng
nhằm thúc đẩy kinh tế phát triển nhanh, bền vững, toàn diện, bao trùm, nâng cao
đời sống nhân dân, đưa thành phố Cần Thơ là đô thị hạt nhân của đồng bằng sông
Cửu Long, dẫn dắt và tạo hiệu ứng lan tỏa tích cực đến sự phát triển kinh tế -
xã hội, thương mại - dịch vụ và khoa học - công nghệ của các địa phương khác
trong vùng. Dự kiến đến năm 2030, phấn đấu có từ 40.000 doanh nghiệp trở lên hoạt
động trên địa bàn thành phố, mật độ doanh nghiệp hoạt động đạt 12 doanh nghiệp
trở lên/nghìn dân; trình độ, năng lực công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số
được cải thiện và được xếp vào nhóm dẫn đầu khu vực đồng bằng sông Cửu Long.
4. Khoa học
công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số
Ưu tiên phát triển khoa học,
công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ, y tế,
giáo dục, nông nghiệp và du lịch,...Thúc đẩy hoạt động đổi mới sáng tạo, hình
thành hệ sinh thái khởi nghiệp, trung tâm nghiên cứu - phát triển, kết nối chặt
chẽ cơ sở nghiên cứu với cơ sở đào tạo và doanh nghiệp; khơi dậy tinh thần sáng
tạo và thu hút nguồn lực chất lượng cao từ trong và ngoài nước. Xây dựng chính
quyền số, kinh tế số, xã hội số hiện đại, minh bạch, hiệu quả, đưa hoạt động quản
lý, chỉ đạo, điều hành của tổ chức, cơ quan đảng, nhà nước lên môi trường số, dựa
trên dữ liệu; cung cấp dịch vụ công trực tuyến toàn trình, tiện ích số thuận lợi
cho người dân, doanh nghiệp, tạo đột phá trong cải cách hành chính, quản trị
công, và phát triển bền vững. - Tái cấu trúc, xây dựng hạ tầng số thống nhất, ổn
định, linh hoạt, ưu tiên áp dụng công nghệ điện toán đám mây, bảo đảm an toàn
thông tin, an ninh mạng, từng bước nâng cao chất lượng sống của người dân, góp
phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Dự kiến
đến năm 2030, thành phố có trên 35 doanh nghiệp khoa học và công nghệ; 100
doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo và đổi mới sáng tạo; tỷ lệ doanh nghiệp có hoạt
động đổi mới sáng tạo đạt trên 40% trong tổng số doanh nghiệp; chỉ số chuyển đổi
số cấp tỉnh đạt tối thiểu 0,75; thuộc nhóm 5 địa phương dẫn đầu về chỉ số đổi mới
sáng tạo cấp địa phương (PІI).
IV. ĐỊNH
HƯỚNG, NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN NGÀNH, LĨNH VỰC
1. Về
phát triển kinh tế
a) Phát triển công nghiệp:
Phát triển công nghiệp theo hướng
xanh, hiện đại, công nghệ cao, lấy công nghiệp chế biến, chế tạo làm trụ cột, gắn
với chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng giá trị gia tăng cao và phát triển bền
vững. Ưu tiên phát triển công nghiệp chế biến nông - thủy sản theo hướng chế biến
sâu, gắn với vùng nguyên liệu Sóc Trăng - Hậu Giang; đẩy mạnh liên kết chuỗi
giá trị, ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và truy xuất nguồn gốc.
Phát triển công nghiệp hỗ trợ, cơ khí - chế tạo, thiết bị điện, điện tử phục vụ
nông nghiệp, công nghiệp chế biến, logistics và đô thị; từng bước tham gia chuỗi
cung ứng trong nước và khu vực. Phát triển có chọn lọc các ngành hóa chất, vật
liệu, hóa dược, dệt may, nhựa, cao su theo hướng công nghệ sạch, thân thiện môi
trường. Duy trì chỉ số sản xuất công nghiệp tăng khoảng 13-15%/năm.
Thúc đẩy phát triển năng lượng
sạch, năng lượng tái tạo (điện gió, điện mặt trời, điện sinh khối, điện rác), gắn
với mô hình công nghiệp - năng lượng sinh thái; nghiên cứu, thu hút đầu tư các
nguồn năng lượng mới nhằm bảo đảm an ninh năng lượng và giảm phát thải.
Tập trung hình thành mô hình
phát triển công nghiệp - đô thị - dịch vụ; gắn phát triển công nghiệp với hoàn
thiện hạ tầng khu công nghiệp, cụm công nghiệp, logistics và dịch vụ hỗ trợ sản
xuất; tạo quỹ đất sạch, cải thiện môi trường đầu tư, thu hút dự án công nghệ
cao. Đồng thời, chú trọng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu
cầu tự động hóa, chuyển đổi công nghệ và nhu cầu của doanh nghiệp.
Phát triển ngành xây dựng theo
hướng bền vững, nâng cao chất lượng và năng lực cạnh tranh, đáp ứng yêu cầu
phát triển công nghiệp, đô thị và hạ tầng kinh tế - xã hội của thành phố. Tập
trung xây dựng đồng bộ hạ tầng khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu kinh tế,
logistics và đô thị, phục vụ thu hút đầu tư và mở rộng sản xuất. Khuyến khích ứng
dụng vật liệu xây dựng mới, vật liệu xanh, công nghệ thi công tiên tiến, đẩy mạnh
chuyển đổi số trong quản lý và thi công xây dựng. Phát triển đội ngũ doanh nghiệp
xây dựng có năng lực, tham gia các dự án trọng điểm và liên vùng. Gắn phát triển
xây dựng với quản lý quy hoạch, trật tự xây dựng, bảo vệ môi trường và thích ứng
biến đổi khí hậu.
b) Phát triển thương mại, dịch
vụ:
Phát triển thương mại - dịch vụ
của thành phố theo hướng đồng bộ, hiện đại, tăng trưởng nhanh và bền vững, phù
hợp với định hướng phát triển thương mại của cả nước và Vùng ĐBSCL, phát huy
vai trò trung tâm thương mại - logistics của vùng. Tập trung nâng cao năng lực
cạnh tranh, mở rộng thị trường tiêu thụ trong và ngoài nước, thúc đẩy chuyển dịch
cơ cấu kinh tế theo hướng dịch vụ - công nghiệp - nông nghiệp công nghệ cao. Đẩy
mạnh phát triển các loại hình thương mại hiện đại, thương mại điện tử và kinh tế
số, gắn với chuyển đổi số trong doanh nghiệp và tiêu dùng. Phát triển hệ thống
phân phối hàng hóa theo chuỗi, bảo đảm cân đối cung - cầu, ổn định thị trường,
đáp ứng nhu cầu sản xuất và đời sống Nhân dân. Đầu tư nâng cấp kết cấu hạ tầng
thương mại, logistics, kết hợp hài hòa giữa thương mại truyền thống và hiện đại,
phù hợp đặc trưng sông nước ĐBSCL. Tăng cường liên kết vùng, phát huy hiệu quả
hệ thống cảng biển, cảng thủy và logistics, đẩy mạnh xuất, nhập khẩu, tham gia
sâu vào chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị trong nước và quốc tế. Phấn đấu tổng mức
bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tăng trưởng 11-15%/năm; kim ngạch xuất khẩu
tăng trưởng khoảng 11%/năm; đến năm 2030 Cần Thơ nằm trong 10 địa phương dẫn đầu
xếp hạng về chỉ số thương mại điện tử của cả nước; doanh thu du lịch tăng khoảng
15%/năm.
c) Phát triển nông nghiệp
nhanh, bền vững, hiệu quả, trách nhiệm theo hướng “Nông nghiệp sinh thái, nông
thôn hiện đại, nông dân văn minh”. Phát triển sản xuất nông, lâm, thủy sản hàng
hóa tích hợp đa giá trị, dựa trên lợi thế địa phương, theo hướng hiện đại có
năng suất, chất lượng, hiệu quả, bền vững và sức cạnh tranh cao, bảo đảm vững
chắc an ninh lương thực, an ninh dinh dưỡng. Nâng cao thu nhập, chất lượng cuộc
sống, vai trò và vị thế của người tham gia sản xuất nông nghiệp; tạo việc làm
phi nông nghiệp để phát triển sinh kế đa dạng, giảm nghèo bền vững cho người
dân nông thôn. Phát triển nông nghiệp, kinh tế nông thôn gắn với xây dựng nông
thôn mới theo hướng nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại và nông dân văn
minh. Phát triển nông nghiệp gắn với du lịch, nông nghiệp đô thị, phát huy vai
trò Cần Thơ là một trong những trung tâm phát triển nông nghiệp của vùng ĐBSCL;
chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, thân thiện môi trường, hướng tới phát
triển bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Giai đoạn 2026 - 2030, duy trì
diện tích lúa hàng năm trên 660.000 ha với tổng sản lượng là 21.739 nghìn tấn;
cây ăn quả 5.866 nghìn tấn; sản lượng thịt hơi các loại 864 nghìn tấn; sản lượng
thủy sản nuôi 3.979 nghìn tấn; sản lượng khai thác 385 nghìn tấn. Phấn đấu đến
năm 2030 đạt 90,3% xã (65/72 xã) đạt chuẩn nông thôn mới theo Bộ tiêu chí xã
nông thôn mới giai đoạn 2026 - 2030. Có ít nhất 10% số xã đạt chuẩn nông thôn mới
được công nhận xã đạt nông thôn mới hiện đại theo khung thí điểm của trung ương
và các tiêu chí cụ thể do Ủy ban nhân dân thành phố ban hành.
d) Phát triển kinh tế biển:
Khai thác hiệu quả lợi thế bờ
biển dài 72 km và vùng bãi bồi ven biển trên 50.000 ha, gắn với bảo vệ môi trường,
thích ứng biến đổi khí hậu và phát triển bền vững. Ưu tiên khai thác và sử dụng
bền vững nguồn lợi hải sản; phát triển nuôi trồng thủy sản công nghệ cao, gắn với
chế biến sâu và xây dựng chuỗi giá trị. Đẩy mạnh phát triển năng lượng tái tạo
ven biển (điện gió, điện mặt trời) gắn với bảo vệ hệ sinh thái và phát triển dịch
vụ biển. Thu hút đầu tư vào công nghiệp ven biển, cảng biển và logistics, trọng
tâm là Khu công nghiệp Mỹ Thanh, Trần Đề và hệ thống cảng Trần Đề, từng bước
hình thành trung tâm logistics biển của vùng. Phát triển du lịch biển, du lịch
sinh thái ven biển gắn với bảo tồn tài nguyên, phát huy giá trị cảnh quan rừng
ngập mặn, góp phần tạo sinh kế bền vững cho người dân ven biển.
2. Về
phát triển xã hội
a) Giáo dục và Đào tạo:
Tập trung cụ thể hóa cơ chế
chính sách pháp luật về giáo dục và đào tạo theo hướng khoa học hiện đại đồng bộ
liên thông phù hợp với quá trình hội nhập quốc tế và điều kiện phát triển kinh
tế - xã hội, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo; đẩy mạnh phân cấp,
phân quyền đảm bảo sự, đồng bộ, liên thông giữa các cấp học và trình độ đào tạo.
Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện ở các cấp học (mầm non, phổ
thông và giáo dục thường xuyên); tăng cường giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức,
giáo dục quốc phòng và an ninh, giáo dục thể chất cho học sinh, sinh viên, học
viên. Tập trung đầu tư hiện đại hóa giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học và
nâng cao tiềm lực nghiên cứu khoa học trong các cơ sở giáo dục, đào tạo. Tiếp tục
hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng mở, linh hoạt, liên thông,
thúc đẩy, xã hội học tập và học tập suốt đời; đẩy mạnh chuyển số trong giáo dục
và đào tạo. Phát triển đội nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục. Tiếp tục đổi mới
cơ chế quản lý đảm bảo đủ điều kiện cơ sở vật chất cho phát triển giáo dục và
đào tạo. Đẩy mạnh hội nhập quốc tế trong giáo dục và đào tạo tập trung nâng cao
năng lực, ngoại ngữ của học sinh, sinh viên, học viên từng bước đưa tiếng Anh trở
thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học, tăng cường đưa tiếng Việt và văn hóa
Việt Nam ra nước ngoài.
b) Phát triển y tế và chăm sóc
sức khỏe Nhân dân:
Phát triển y tế và chăm sóc sức
khỏe Nhân dân theo hướng toàn diện, công bằng, chất lượng, hiệu quả và bền vững,
lấy người dân làm trung tâm; chủ động phòng bệnh, nâng cao sức khỏe, bảo đảm mọi
người dân được tiếp cận các dịch vụ y tế cơ bản, thiết yếu. Tập trung nâng cao
năng lực hệ thống y tế dự phòng, y tế cơ sở, phát triển y tế chuyên sâu, các bệnh
viện đảm nhiệm chức năng vùng; chú trọng chăm sóc sức khỏe người cao tuổi, trẻ
em và các nhóm yếu thế. Đẩy mạnh chuyển đổi số y tế, triển khai đồng bộ hồ sơ sức
khỏe điện tử, bệnh án điện tử, khám chữa bệnh từ xa; tăng cường ứng dụng khoa học
- công nghệ, đổi mới quản trị ngành y tế. Khuyến khích xã hội hóa, hợp tác công
- tư, phát triển công nghiệp dược, du lịch y tế; gắn phát triển y tế với bảo đảm
an sinh xã hội, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và thúc đẩy phát triển kinh
tế - xã hội của thành phố.
c) An sinh - xã hội:
Triển khai đầy đủ, kịp thời các
chính sách an sinh xã hội, ưu đãi người có công, trợ giúp xã hội đối với nhóm yếu
thế, bảo vệ và chăm lo toàn diện cho các đối tượng cần hỗ trợ. Tăng cường các
hoạt động phát triển thanh niên, thúc đẩy bình đẳng giới, nâng cao đời sống vật
chất và tinh thần của Nhân dân. Tiếp tục phối hợp triển khai đồng bộ các chương
trình văn hóa - xã hội, bảo đảm môi trường sống an toàn, lành mạnh, hướng đến mục
tiêu phát triển con người Cần Thơ toàn diện. Triển khai đồng bộ, hiệu quả các
chủ trương, chính sách của Trung ương và thành phố về giảm nghèo bền vững; thực
hiện các giải pháp hỗ trợ sinh kế, tạo việc làm, tăng thu nhập cho hộ nghèo, cận
nghèo; ưu tiên các nhóm yếu thế, vùng khó khăn, khu vực nông thôn. Đẩy mạnh lồng
ghép các chương trình, dự án giảm nghèo với phát triển kinh tế - xã hội, đào tạo
nghề, tín dụng chính sách, nhà ở, y tế, giáo dục. Triển khai thực hiện tốt
Phong trào thi đua “Chung tay xóa nhà tạm, nhà dột nát”. Giải quyết tốt các vấn
đề an sinh, xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống đồng bào dân tộc thiểu số, thực
hiện công tác giảm nghèo, thu hẹp khoảng cách chênh lệch về mức sống giữa các
dân tộc trong cộng đồng. Hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi để các tôn giáo hoạt
động tôn giáo theo truyền thống, trong khuôn khổ của pháp luật quy định cho
phép, theo quan điểm của Đảng, Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo.
d) Phát triển văn hóa, gia đình
và thể dục thể thao theo hướng toàn diện, bền vững, gắn với xây dựng con người
Cần Thơ phát triển hài hòa về trí tuệ, đạo đức, thể chất và lối sống. Tập trung
xây dựng đời sống văn hóa cơ sở, triển khai hiệu quả Phong trào “Toàn dân đoàn
kết xây dựng đời sống văn hóa”. Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa, đẩy
mạnh số hóa di sản, nâng cao chất lượng hoạt động văn hóa - nghệ thuật phục vụ
nhiệm vụ chính trị và nhu cầu hưởng thụ của Nhân dân. Tăng cường quản lý nhà nước
về gia đình, phòng, chống bạo lực gia đình, xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh
phúc. Phát triển mạnh phong trào thể dục thể thao quần chúng, nâng cao tỷ lệ
người dân tập luyện thường xuyên, gắn với giáo dục thể chất và chăm sóc sức khỏe
cộng đồng. Đồng thời, tập trung đầu tư các môn thể thao trọng điểm, thể thao
thành tích cao, từng bước hướng đến thể thao chuyên nghiệp; đẩy mạnh xã hội
hóa, khai thác hiệu quả hệ thống thiết chế văn hóa - thể thao, góp phần phát
triển kinh tế - xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống Nhân dân.
đ) Thông tin và truyền thông:
Bảo đảm thông tin, truyền thông
kịp thời, chính xác, phục vụ nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế - xã hội và
nhu cầu tiếp cận thông tin của Nhân dân. Tăng cường công tác chỉ đạo, định hướng
báo chí; xử lý thông tin báo chí, mạng xã hội sai sự thật liên quan đến thành
phố. Đẩy mạnh thông tin cơ sở, thông tin đối ngoại, nâng cao chất lượng tuyên truyền
trên hệ thống truyền thanh và các nền tảng số. Đồng thời, thúc đẩy phát triển
văn hóa đọc, đổi mới và chuyển đổi số hoạt động thư viện; tổ chức các hoạt động,
sự kiện sách và thông tin chuyên đề; tăng cường phối hợp liên ngành nhằm lan tỏa
tri thức, phục vụ học tập suốt đời, góp phần xây dựng xã hội học tập và nâng
cao dân trí trên địa bàn thành phố.
V. GIẢI
PHÁP CHỦ YẾU
1. Tập
trung tiếp tục hoàn thiện thể chế phát triển, giải phóng sức sản xuất, huy động
mọi nguồn lực và tạo động lực mới cho phát triển
a) Tập trung ổn định tổ chức bộ
máy hành chính Nhà nước, nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành của Chính quyền địa
phương hai cấp:
Tổ chức thực hiện quyết liệt,
thực chất việc đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị theo hướng
tinh gọn, hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả. Rà soát, kiện toàn chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức các sở, ban, ngành, Ủy ban nhân dân
cấp xã; khắc phục chồng chéo, trùng lặp, bảo đảm phù hợp với mô hình tổ chức
Chính quyền địa phương hai cấp. Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền giữa thành phố và
các cấp Chính quyền, bảo đảm đi đôi với nâng cao trách nhiệm, nguồn lực và năng
lực thực thi; tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện nhiệm vụ được giao.
Thiết lập cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, đơn vị và giữa thành phố với
các Bộ, ngành Trung ương; bảo đảm sự quản lý thống nhất của Trung ương, đồng thời
phát huy tính chủ động, sáng tạo và tự chịu trách nhiệm của địa phương. Tiếp tục
sắp xếp, đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động đơn vị sự nghiệp công
lập gắn với đẩy mạnh tự chủ, xã hội hóa đơn vị sự nghiệp bảo đảm đáp ứng nhu cầu
dịch vụ công cơ bản, thiết yếu phục vụ người dân và doanh nghiệp.
Đổi mới mạnh mẽ hoạt động công
vụ, xây dựng nền công vụ chuyên nghiệp, hiện đại, phục vụ Nhân dân; lấy mức độ
hài lòng của người dân, doanh nghiệp làm thước đo đánh giá cán bộ và hiệu quả
công việc. Cơ cấu lại, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức
theo vị trí việc làm; xây dựng đội ngũ cán bộ có phẩm chất, năng lực, đáp ứng yêu
cầu nhiệm vụ.
Đẩy mạnh hiện đại hóa nền hành
chính và năng lực quản trị Nhà nước trên nền tảng công nghệ số, dữ liệu số; xây
dựng Chính quyền số; hoàn thành kết nối đồng bộ các cơ sở dữ liệu quốc gia,
chuyên ngành và tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu phục vụ chỉ đạo, điều hành.
Đẩy mạnh cải cách hành chính,
trọng tâm là cải cách thủ tục hành chính gắn với chuyển đổi số. Phát huy hiệu
quả hoạt động của Trung tâm Phục vụ hành chính công các cấp, đảm bảo “một cửa,
một cửa liên thông” hiện đại, thân thiện. Đẩy mạnh triển khai dịch vụ công giải
quyết thủ tục hành chính phi địa giới hành chính để tạo điều kiện thuận lợi cho
người dân và doanh nghiệp. 100% thủ tục hành chính đủ điều kiện phải được cung
cấp dịch vụ công trực tuyến, kết nối liên thông với Cổng Dịch vụ công quốc gia;
nâng tỷ lệ hồ sơ trực tuyến toàn trình. Ứng dụng mạnh mẽ chữ ký số, số hóa hồ
sơ, dữ liệu dùng chung, hạn chế tối đa giấy tờ, rút ngắn thời gian xử lý, tiết
kiệm chi phí cho người dân và doanh nghiệp; mở rộng danh mục thủ tục thanh toán
không dùng tiền mặt trong toàn bộ quy trình giải quyết.
b) Tiếp tục hoàn thiện cơ chế,
chính sách tạo đột phá cho phát triển thành phố: Tổ chức triển khai thực hiện
có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp, nhất là các khâu đột phá tại các Nghị quyết
Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ XIV, Nghị quyết Đại hội Đại hội đại biểu
Đảng bộ thành phố lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030.
Phối hợp với các cơ quan Trung
ương hoàn thành công tác tham mưu sơ kết Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 05 tháng 8
năm 2020 của Bộ Chính trị khóa XIII về xây dựng và phát triển thành phố Cần Thơ
đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Tổng hợp đánh giá, đề xuất sửa đổi, bổ
sung Nghị quyết số 45/2022/QH15 ngày 11 tháng 01 năm 2022 của Quốc hội về thí
điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển thành phố Cần Thơ đáp ứng yêu
cầu khai thác tối đa tiềm năng, lợi thế sau sáp nhập huy động triệt để các nguồn
lực phục vụ phát triển; phối hợp đẩy nhanh tiến độ xây dựng và ban hành mới các
quy định thuộc thẩm quyền Ủy ban nhân dân thành phố, đặc biệt trong lĩnh vực
quy hoạch, xây dựng, đất đai, phát triển đô thị ven biển, hành lang kinh tế biển,
khu công nghiệp, khu công nghệ cao và logistics.
Quán triệt và thực hiện nghiêm
túc, đầy đủ, hiệu quả Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30 tháng 4 năm 2025 của Bộ
Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu
phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Tổ chức rà soát toàn bộ các văn bản
quy phạm pháp luật, quy chế, quy định để sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế nhằm bảo
đảm sự thống nhất, đồng bộ đáp ứng yêu cầu thực hiện chủ trương tinh gọn tổ chức
bộ máy của hệ thống chính trị, sắp xếp đơn vị hành chính, gắn với phân cấp, ủy
quyền tối đa theo phương châm “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu
trách nhiệm”; tháo gỡ “điểm nghẽn” thể chế, pháp luật của địa phương để phục vụ
phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; tháo gỡ khó
khăn, vướng mắc đối với các dự án tồn đọng, vướng thủ tục, chậm tiến độ.
Nghiên cứu tham mưu xây dựng,
ban hành các văn bản theo đúng thẩm quyền; kịp thời thể chế hóa đầy đủ các chủ
trương, đường lối của Đảng, các quy định của cấp có thẩm quyền giao địa phương
quy định chi tiết nhằm tạo điều kiện, cơ sở pháp lý huy động các nguồn lực tài
chính, đất đai, nhân lực, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số
và các nguồn lực xã hội khác để thực hiện các dự án/chương trình trọng điểm,
phát triển các vùng kinh tế, mô hình kinh tế mới, kinh tế số, kinh tế xanh,
kinh tế tuần hoàn thúc đẩy thành phố phát triển nhanh và bền vững. Hoàn thiện
cơ chế, chính sách để khu vực kinh tế tư nhân tiếp cận bình đẳng mọi cơ hội,
nguồn lực góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội địa phương phát triển vượt trội
trong thời gian tới.
Tăng cường đối thoại, tiếp nhận,
lắng nghe phản ánh, kiến nghị, giải quyết kịp thời khó khăn, vướng mắc về pháp
lý của cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp. Thường xuyên đánh giá hiệu quả của văn bản
quy phạm pháp luật sau ban hành, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ và xây dựng cơ chế
kịp thời nhận diện, xử lý tổng thể, đồng bộ, tháo gỡ nhanh nhất những “điểm nghẽn”
có nguyên nhân từ quy định của địa phương và kiến nghị kịp thời đối với văn bản
do Trung ương ban hành (nếu có).
Hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền
lực; đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí; nâng cao hiệu quả kiểm
tra, thanh tra, giám sát, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án;
nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản tham nhũng (nếu có). Thực hiện nghiêm các quy
định về công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình trong hoạt động của các cơ
quan, tổ chức, đơn vị.
2. Xác lập
mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực
chính
a) Tăng cường huy động và phân
bổ nguồn lực tài chính, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo các cân đối lớn
của nền kinh tế:
Thực hiện cân đối thu - chi
ngân sách địa phương, tăng cường khai thác nguồn thu bền vững, chống thất thu,
chuyển giá; đồng thời, cơ cấu lại chi ngân sách theo hướng tiết kiệm, hiệu quả,
ưu tiên cho đầu tư phát triển, an sinh xã hội và các lĩnh vực then chốt trong từng
thời điểm. Phấn đấu thành phố Cần Thơ trở thành địa phương tự chủ về ngân sách
và có điều tiết về ngân sách Trung ương.
Tăng cường công tác điều hành
thị trường, kiểm soát giá cả, góp phần đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm
soát lạm phát trong giới hạn cho phép; kiểm soát chặt chẽ nợ công, nợ Chính quyền
địa phương trong giới hạn an toàn.
Triển khai hiệu quả kế hoạch đầu
tư công hàng năm và trung hạn 05 năm 2026 - 2030; cập nhật kịp thời các biến động
về nguồn vốn đầu tư công theo quy định của Luật Đầu tư công, bảo đảm việc phân
bổ, điều chỉnh kế hoạch vốn phù hợp với khả năng cân đối thu - chi ngân sách địa
phương. Thúc đẩy nhanh hơn mạnh mẽ hơn giải ngân vốn đầu tư công nhất là các dự
án trọng điểm quan trọng của quốc gia, các dự án trọng điểm của thành phố, các
công trình mục tiêu quốc gia. Theo dõi, kiểm tra, đánh giá, thanh tra, giám sát
kế hoạch, chương trình, dự án đầu tư công; kiên quyết loại bỏ tình trạng đầu tư
dàn trải, lãng phí, kém hiệu quả.
Về cơ cấu lại các tổ chức tín dụng:
hiện đại hóa hoạt động ngân hàng trên địa bàn; nâng cao năng lực tài chính, quản
trị, điều hành và tính minh bạch của các tổ chức tín dụng gắn với bảo đảm an
toàn hoạt động. Khuyến khích đa dạng hóa và nâng cao chất lượng tín dụng, tập
trung tín dụng cho sản xuất - kinh doanh, ưu tiên tín dụng xanh, ngân hàng xanh
và các dự án giảm phát thải. Đẩy mạnh phát triển thanh toán không dùng tiền mặt,
chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng và mở rộng các dịch vụ tài chính số.
Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát các tổ chức tín dụng; kiên
quyết xử lý tín dụng đen, vi phạm an toàn hệ thống, sở hữu chéo và tổ chức yếu
kém. Thực hiện xử lý nợ xấu theo đúng quy định pháp luật và phù hợp chuẩn mực,
thông lệ quốc tế.
Về phát triển và nâng cao hiệu
quả hoạt động của doanh nghiệp Nhà nước: tập trung nâng cao hiệu quả hoạt động
của doanh nghiệp Nhà nước trên địa bàn; đẩy mạnh chuyển đổi số, đổi mới phương
thức đánh giá và quản trị doanh nghiệp theo chuẩn mực tiên tiến, bảo đảm công
khai, minh bạch và hiệu quả. Thực hiện đầu tư vốn Nhà nước có trọng tâm, trọng
điểm vào các lĩnh vực thiết yếu, then chốt, các ngành mà khu vực kinh tế khác
không thể hoặc không muốn tham gia, gắn với nhiệm vụ cung ứng dịch vụ công và bảo
đảm quốc phòng, an ninh. Khuyến khích doanh nghiệp tư nhân tham gia đầu tư xây
dựng các công trình kết cấu hạ tầng quan trọng của thành phố thông qua các hình
thức hợp tác phù hợp. Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền trong quản lý doanh nghiệp
Nhà nước; cá thể hóa trách nhiệm người đứng đầu và người đại diện vốn Nhà nước,
đi đôi với tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và đánh giá kết quả thực hiện
nhiệm vụ.
Về hợp tác đầu tư nước ngoài:
nâng cao hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài theo hướng có trọng tâm, trọng điểm
và chọn lọc; ưu tiên thu hút các dự án sử dụng công nghệ tiên tiến, công nghệ mới,
công nghệ cao, mô hình quản trị hiện đại và có khả năng lan tỏa, đổi mới sáng tạo.
Chủ động xây dựng và triển khai cơ chế, chính sách đặc thù để thu hút dòng vốn
FDI chất lượng cao, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, viễn
thông, chíp bán dẫn, trí tuệ nhân tạo và các ngành kinh tế số, kinh tế xanh.
Tăng cường yêu cầu và có chính sách khuyến khích chuyển giao công nghệ, quản trị
và kỹ năng chuyên môn từ nhà đầu tư nước ngoài cho doanh nghiệp trong nước;
thúc đẩy hình thành các chuỗi liên kết sản xuất - cung ứng. Đẩy mạnh xúc tiến đầu
tư có trọng điểm, mở rộng thu hút hiệu quả các quỹ đầu tư quốc tế vào các lĩnh
vực ưu tiên của thành phố.
b) Phát triển các ngành, lĩnh vực
kinh tế:
Phát triển công nghiệp theo hướng
hiện đại, xanh và bền vững; đẩy nhanh đầu tư, hoàn thiện hạ tầng các khu, cụm
công nghiệp trên toàn địa bàn, nhất là các khu công nghiệp Vĩnh Thạnh (VSIP -
Phú Mỹ 3), An Nghiệp, Trần Đề, Sông Hậu 2, Đông Phú 2 và các cụm công nghiệp dự
kiến hình thành trong giai đoạn mới. Tăng cường thu hút đầu tư vào các lĩnh vực
công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ, chế biến - chế tạo, công nghiệp
sinh học; ưu tiên dự án sử dụng công nghệ sạch, tiết kiệm năng lượng và thân
thiện môi trường.
Rà soát và phát triển các cụm
ngành, chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng công nghiệp; xây dựng các chương trình hỗ
trợ phát triển công nghiệp hỗ trợ, chế biến nông sản, thực phẩm, cơ khí - điện
tử, công nghiệp sáng tạo và sản xuất vật liệu mới. Đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng
dụng khoa học - công nghệ vào sản xuất công nghiệp; khuyến khích doanh nghiệp đổi
mới công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất và chất lượng sản phẩm.
Tăng cường quản lý Nhà nước đối
với hoạt động sản xuất công nghiệp; bảo đảm tuân thủ các yêu cầu về bảo vệ môi
trường, an toàn hóa chất, phòng cháy chữa cháy, an toàn thực phẩm trong ngành
công thương. Tổ chức nắm bắt tình hình hoạt động của doanh nghiệp công nghiệp,
kịp thời tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ doanh nghiệp phát triển ổn định và bền vững.
Phát triển hệ thống năng lượng
theo hướng hiện đại, bền vững, bảo đảm an ninh năng lượng và đáp ứng nhu cầu
phát triển kinh tế - xã hội của thành phố sau sáp nhập. Đẩy nhanh tiến độ đầu
tư và đưa vào vận hành các dự án trọng điểm trong lĩnh vực năng lượng, nhất là
các nhà máy nhiệt điện Sông Hậu I, Long Phú I; thúc đẩy triển khai Trung tâm
năng lượng - công nghiệp - công nghệ cao Ô Môn. Tăng cường thu hút các dự án
năng lượng tái tạo (điện gió, điện mặt trời, sinh khối), các mô hình năng lượng
phân tán và năng lượng sạch; khuyến khích ứng dụng công nghệ tiết kiệm năng lượng
trong sản xuất và sinh hoạt.
Phát triển hạ tầng truyền tải,
phân phối điện theo hướng đồng bộ, an toàn, linh hoạt; ưu tiên đầu tư hệ thống trạm
biến áp, lưới điện thông minh, hệ thống đo đếm tự động, đảm bảo đáp ứng nhu cầu
sử dụng điện cho công nghiệp, nông nghiệp đô thị và dịch vụ. Tăng cường quản
lý, giám sát việc sử dụng năng lượng; thực hiện các chương trình tiết kiệm điện
và sử dụng năng lượng hiệu quả trong cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp và cộng đồng.
Đẩy mạnh ứng dụng chuyển đổi số
trong quản lý vận hành hệ thống năng lượng; phát triển cơ sở dữ liệu ngành năng
lượng phục vụ điều hành, giám sát, dự báo nhu cầu. Tăng cường phối hợp liên kết
vùng trong phát triển hạ tầng năng lượng và cung ứng điện; tạo điều kiện để các
nhà đầu tư lớn tham gia phát triển năng lượng sạch, năng lượng mới, công nghệ
lưu trữ năng lượng và lưới điện thông minh.
Phát triển mạnh thị trường
trong nước, mở rộng mạng lưới phân phối hiện đại, tổ chức các hoạt động kết nối
cung - cầu, hội chợ thương mại quy mô vùng và quốc gia; triển khai hiệu quả Cuộc
vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” gắn với phát triển sản phẩm
OCOP. Đẩy mạnh thương mại điện tử, số hóa các hoạt động giao dịch và thanh toán
trực tuyến; tăng cường quản lý thị trường, phòng chống buôn lậu, gian lận
thương mại, hàng giả; thực hiện tốt các chương trình bình ổn giá và điều tiết
thị trường trong các thời điểm cao điểm.
Phát triển mạnh các ngành dịch
vụ có giá trị gia tăng cao như logistics, thương mại - dịch vụ hàng không, tài
chính, du lịch; thu hút đầu tư hình thành các trung tâm logistics cấp vùng gắn
với cảng biển, cảng hàng không và hệ thống kho lạnh, bến bãi, trung chuyển hàng
hóa; phát triển các trung tâm tài chính, khu thương mại tự do đủ sức cạnh tranh
khu vực và quốc tế. Khai thác hiệu quả các đường bay quốc tế và nội địa, khôi
phục và mở mới các đường bay trọng điểm nhằm phát triển dịch vụ hàng không và
thu hút đầu tư. Đẩy mạnh phát triển du lịch đô thị, du lịch văn hóa và du lịch
liên kết vùng; xây dựng sản phẩm du lịch đặc trưng gắn với hệ thống đô thị và
nông nghiệp sinh thái vùng ĐBSCL. Đẩy mạnh xã hội hóa dịch vụ văn hóa, giáo dục,
y tế, thể thao, việc làm, môi trường…
Đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa,
khai thác hiệu quả các thị trường truyền thống và mở rộng thị trường mới tại
Trung Đông, Châu Phi, Nam Á; tận dụng các FTA để mở rộng thị trường. Hỗ trợ
doanh nghiệp tham gia chuỗi phân phối quốc tế, kết nối với các tập đoàn bán lẻ
và logistics lớn; đẩy mạnh xúc tiến thương mại, hội chợ quốc tế, khảo sát thị
trường và khai thác hiệu quả thương mại điện tử xuyên biên giới. Tăng cường phối
hợp với các Thương vụ Việt Nam ở nước ngoài trong thông tin thị trường, hỗ trợ
xử lý rào cản kỹ thuật, thủ tục C/O và thanh toán quốc tế.
Phát triển kinh tế biển theo hướng
toàn diện, bền vững, gắn với nhiệm vụ bảo đảm quốc phòng, an ninh và thích ứng
với biến đổi khí hậu. Tập trung phối hợp với các Bộ, ngành và địa phương trong
vùng để hình thành các khu kinh tế ven biển, khu đô thị sinh thái, hành lang
kinh tế ven biển; phát triển các trung tâm hậu cần nghề cá, khu nuôi trồng hải
sản ứng dụng công nghệ cao và các cơ sở chế biến sâu gắn với chuỗi giá trị thủy
sản. Ưu tiên đầu tư kết cấu hạ tầng chiến lược tại các cồn, cù lao trọng điểm
nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng kinh tế, phát triển du lịch sinh thái, dịch vụ
logistics và bảo đảm sinh kế bền vững cho người dân.
Phát triển nông nghiệp theo hướng
hiện đại, sinh thái, bền vững; đẩy mạnh tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với
phát triển nông nghiệp đô thị, nông nghiệp thông minh và nông nghiệp hữu cơ. Tập
trung phát triển các vùng sản xuất tập trung quy mô lớn đối với lúa chất lượng
cao, trái cây, thủy sản, chăn nuôi an toàn sinh học; tăng cường áp dụng khoa học
- công nghệ, chuyển đổi số trong quản lý và sản xuất nông nghiệp. Tiếp tục triển
khai hiệu quả hiện Đề án “Phát triển bền vững một triệu héc-ta chuyên canh lúa
chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng đồng bằng sông Cửu
Long đến năm 2030” trên địa bàn thành phố Cần Thơ.
Phát triển chuỗi giá trị nông sản
gắn với chế biến sâu và thị trường tiêu thụ; thu hút doanh nghiệp đầu tư vào chế
biến nông sản, bảo quản sau thu hoạch và logistics nông nghiệp; xây dựng và mở
rộng các mã số vùng trồng, vùng nuôi để đáp ứng yêu cầu xuất khẩu. Thúc đẩy xây
dựng thương hiệu nông sản chủ lực của thành phố; nhân rộng mô hình liên kết sản
xuất - tiêu thụ theo hợp đồng; phát triển các hợp tác xã nông nghiệp hoạt động
hiệu quả.
Tăng cường quản lý vật tư nông
nghiệp, giống cây trồng - vật nuôi, chất lượng sản phẩm, an toàn thực phẩm và
truy xuất nguồn gốc; chủ động triển khai các giải pháp phòng, chống dịch bệnh
trên cây trồng, vật nuôi và thủy sản. Quan tâm phát triển hạ tầng nông nghiệp -
nông thôn, nhất là hệ thống thủy lợi, giao thông nội đồng, hạ tầng phục vụ vùng
sản xuất tập trung và hệ thống quan trắc, cảnh báo môi trường phục vụ nuôi trồng
thủy sản.
Tiếp tục thực hiện Chương trình
mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới; phát triển kinh tế nông thôn gắn với
OCOP, du lịch nông nghiệp, làng nghề; nâng cao thu nhập và đời sống người dân
nông thôn. Tăng cường năng lực quản lý Nhà nước về nông nghiệp, đẩy mạnh công
tác tuyên truyền, chuyển giao kỹ thuật, đào tạo - tập huấn, nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực và đội ngũ khuyến nông.
3. Phát
triển mạnh kinh tế tư nhân - một động lực quan trọng của nền kinh tế giai đoạn
2026 - 2030
Đẩy mạnh cải cách thể chế, bảo
đảm quyền tự do kinh doanh, cạnh tranh bình đẳng: rà soát toàn diện các cơ chế,
chính sách, văn bản quy phạm pháp luật do địa phương ban hành, kịp thời sửa đổi,
bãi bỏ các quy định không cần thiết, chồng chéo, gây cản trở hoạt động sản xuất,
kinh doanh; chủ động đề xuất các chính sách hỗ trợ đặc thù, vượt trội, phù hợp
khả năng cân đối ngân sách. Tổ chức thực thi chính sách, pháp luật công khai,
minh bạch, nhất quán, giữa các loại hình doanh nghiệp trong tiếp cận đất đai, vốn,
tài nguyên, dữ liệu, nhân lực và các nguồn lực phát triển khác. Đẩy mạnh cải
cách thủ tục hành chính, cắt giảm mạnh thời gian, chi phí tuân thủ, triển khai
cung cấp dịch vụ công trực tuyến toàn trình, không phụ thuộc địa giới hành
chính; kiên quyết chấm dứt cơ chế “xin - cho”, hành vi nhũng nhiễu, gây khó
khăn cho doanh nghiệp. Nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra theo hướng
quản lý rủi ro, không chồng chéo, bảo đảm mỗi doanh nghiệp không bị kiểm tra
quá một lần/năm (trừ trường hợp đột xuất theo quy định); công khai kế hoạch kiểm
tra, tăng cường kiểm tra trực tuyến, ứng dụng dữ liệu số.
Tập trung hoàn thiện quy hoạch,
kế hoạch sử dụng đất các cấp; bố trí quỹ đất hợp lý cho sản xuất, kinh doanh,
công khai thông tin quy hoạch, danh mục kêu gọi đầu tư; hỗ trợ hiệu quả công
tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư. Rà soát, khai thác hiệu quả
nhà, đất là tài sản công chưa sử dụng hoặc sử dụng kém hiệu quả để hỗ trợ doanh
nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, công nghiệp hỗ trợ.
Đa dạng hóa các kênh tiếp cận vốn
cho kinh tế tư nhân; triển khai hiệu quả các chính sách tín dụng, quỹ hỗ trợ, ủy
thác từ ngân sách nhà nước; tăng cường kết nối doanh nghiệp với hệ thống ngân
hàng thương mại, chú trọng doanh nghiệp nhỏ và vừa. Nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực cho khu vực tư nhân thông qua đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng quản trị,
chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo; huy động doanh nhân thành đạt tham gia đào tạo,
truyền cảm hứng và hỗ trợ khởi nghiệp.
Tập trung triển khai đồng bộ
các cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp tư nhân đầu tư nghiên cứu, ứng
dụng, chuyển giao khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; phát
triển trung tâm đổi mới sáng tạo, hỗ trợ khởi nghiệp, thử nghiệm chính sách mới.
Tăng cường liên kết giữa doanh
nghiệp tư nhân với doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp FDI, đẩy mạnh xúc tiến
đầu tư, hợp tác quốc tế; thúc đẩy liên kết chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị, kết nối
doanh nghiệp tư nhân với doanh nghiệp đầu chuỗi, doanh nghiệp FDI; hỗ trợ doanh
nghiệp nhỏ và vừa tham gia sâu vào chuỗi giá trị trong nước và toàn cầu. Triển
khai hiệu quả Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa; khuyến khích các doanh nghiệp
lớn, doanh nghiệp dẫn dắt tham gia chương trình tín dụng theo chuỗi cung ứng, sử
dụng sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp trong nước.
Hình thành và phát triển doanh
nghiệp vừa, lớn và tập đoàn kinh tế tư nhân, tập trung hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ
và vừa nâng cao năng lực quản trị, mở rộng quy mô, từng bước phát triển thành
doanh nghiệp vừa và lớn; lồng ghép các nguồn lực để triển khai các chương trình
doanh nghiệp tiêu biểu, tiên phong, chương trình hỗ trợ doanh nghiệp vươn ra thị
trường quốc tế (Go Global).
Hỗ trợ thực chất, hiệu quả
doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ và hộ kinh doanh, triển khai đồng bộ các chính sách
hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa; cung cấp miễn phí nền tảng số, phần mềm kế
toán, dịch vụ tư vấn pháp lý, đào tạo quản trị, ưu tiên doanh nghiệp do thanh
niên, phụ nữ, nhóm yếu thế làm chủ.
Đề cao đạo đức kinh doanh, phát
huy trách nhiệm xã hội của doanh nhân thông qua việc tăng cường vai trò của các
tổ chức đại diện doanh nghiệp trong bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của doanh
nhân, doanh nghiệp, tham gia phản biện, giám sát chính sách; khuyến khích doanh
nhân tham gia quản trị, xây dựng chính sách phát triển địa phương. Đẩy mạnh
truyền thông về đạo đức, văn hóa kinh doanh; vinh danh doanh nhân, doanh nghiệp,
hộ kinh doanh tiêu biểu, đóng góp tích cực cho phát triển kinh tế - xã hội và
an sinh xã hội của thành phố.
4. Phát
triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số
Thường xuyên rà soát, sửa đổi,
đề xuất sửa đổi, hoàn thiện các cơ chế, chính sách, quy định về khoa học, công
nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, đầu tư công, mua sắm công,... giải phóng
các nguồn lực, đẩy nhanh phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển
đổi số. Chú trọng xây dựng các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân
chuyển đổi số, đổi mới công nghệ, thiết bị, bảo hộ và phát triển tài sản trí tuệ,
khởi nghiệp sáng tạo và đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất chất lượng sản phẩm
hàng hóa để nâng cao năng lực cạnh tranh.
Đẩy mạnh phân cấp, ủy quyền
trong công tác quản lý nhà nước về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và
chuyển đổi số. Xây dựng cơ chế, chính sách hỗ trợ, phát triển các tổ chức
nghiên cứu khoa học và công nghệ công lập hoạt động hiệu quả. Xây dựng, công bố
danh mục các lĩnh vực, công nghệ chiến lược, các dự án trọng điểm, các khu vực
có tiềm năng để thu hút, sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực đầu tư ứng dụng khoa học,
công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Tăng cường đầu tư, hoàn thiện hạ
tầng cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số: Phát triển mạng
lưới kết nối các trung tâm đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp sáng tạo, tập trung
vào các công nghệ chiến lược và chuyển đổi số. Triển khai có hiệu quả chương
trình, dự án thúc đẩy các lĩnh vực công nghệ, đổi mới sáng tạo trọng tâm của
thành phố. Phát triển hạ tầng viễn thông, Internet đáp ứng yêu cầu dự phòng, kết
nối, an toàn, bền vững, mạng cáp quang băng thông rộng tốc độ cao, mạng thông
tin di động 5G, 6G và các thế hệ tiếp theo phủ sóng toàn thành phố. Phát triển
hạ tầng tiện ích số và công nghệ số như dịch vụ cho chuyển đổi số, trọng tâm là
các nền tảng số dùng chung cho nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội, phục vụ các hoạt
động thiết yếu của xã hội trên môi trường số. Khai thác hiệu quả các cơ sở dữ
liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu của bộ, ngành, các địa phương để phát triển kinh tế
- xã hội; kết nối, khai thác, chia sẻ hiệu quả dữ liệu giữa các cơ quan trong hệ
thống chính trị; triển khai các sáng kiến mở dữ liệu để người dân, doanh nghiệp
khai thác, tạo giá trị mới, đổi mới sáng tạo. Triển khai ứng dụng trí tuệ nhân
tạo dựa trên dữ liệu lớn đối với một số ngành, lĩnh vực quan trọng. Phát triển
hệ sinh thái số về nguồn tin khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo thành phố
Cần Thơ, hướng đến phát triển thành hệ sinh thái số về nguồn tin khoa học và
công nghệ vùng ĐBSCL kết nối với trong nước và quốc tế góp phần phát triển xã hội
học tập số.
Đẩy nhanh xây dựng Khu Công nghệ
cao, Khu công nghệ thông tin tập trung; phát triển Khu công nghệ số, Trung tâm
Khởi nghiệp và Đổi mới sáng tạo. Nghiên cứu, đề xuất các cơ chế, chính sách đặc
thù, vượt trội cho hoạt động của Trung tâm Khởi nghiệp và Đổi mới sáng tạo, Vườn
ươm Công nghệ Công nghiệp Việt Nam - Hàn Quốc (KVIP) và các tổ chức trung gian
hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo phát sinh trên địa bàn thành phố; xây dựng và triển
khai hiệu quả Đề án phát triển thành phố Cần Thơ trở thành trung tâm khởi nghiệp
sáng tạo của khu vực Đông Nam Á.
Đẩy mạnh hợp tác quốc tế với
các viện, trường, địa phương của các quốc gia có trình độ khoa học, công nghệ,
đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phát triển; thúc đẩy chuyển giao, ứng dụng
các thành tựu khoa học và công nghệ phù hợp với thực tiễn và điều kiện của địa
phương, nhanh chóng rút ngắn khoảng cách về trình độ, năng lực công nghệ và
nâng cao tự chủ về công nghệ. Tạo điều kiện để cán bộ khoa học và công nghệ hợp
tác, giao lưu, tham quan, khảo sát và tham gia các hội nghị khoa học quốc tế có
liên quan đến các vấn đề đặt ra cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và
chuyển đổi số của thành phố; tiếp cận với tiến bộ khoa học, kỹ thuật của các nước
tiên tiến, phát triển.
5. Phát
triển kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, khai thác hiệu quả không gian phát triển
mới, phát triển đô thị và đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới
- Về hạ tầng giao thông:
Tiếp tục đầu tư xây dựng kết cấu
hạ tầng giao thông theo hướng đồng bộ hiện đại, kết nối liên vùng theo định hướng
của Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 05 tháng 8 năm 2020 của Bộ Chính trị về xây dựng
và phát triển thành phố Cần Thơ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, đảm bảo
phù hợp định hướng phát triển của thành phố sau sáp nhập. Thực hiện các cơ chế,
chính sách phù hợp để thu hút các nguồn vốn đầu tư trong nước và quốc tế; tăng
cường áp dụng các hình thức PPP, huy động vốn ODA trong đầu tư, xây dựng kết cấu
hạ tầng giao thông. Tập trung nguồn lực, đẩy nhanh tiến độ các công trình, dự
án trọng điểm theo phương án phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật hạ tầng - xã hội
tại Quy hoạch thành phố Cần Thơ thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Tập trung hoàn thành các tuyến
đường bộ cao tốc trong khu vực như: Châu Đốc - Cần Thơ - Sóc Trăng; Hà Tiên - Rạch
Giá - Bạc Liêu; Trà Vinh - Sóc Trăng; mở rộng các tuyến quốc lộ trọng yếu trên
địa bàn như: Quốc lộ 1, Quốc lộ 60, Quốc lộ 61, Quốc lộ 61B, Quốc lộ 61C, Quốc
lộ 80, Quốc lộ 91B; xây dựng đường vành đai, các tuyến tránh đi qua các trung
tâm đô thị; đường bộ ven biển, đường trục liên kết vùng; các tuyến đường tỉnh kết
nối cao tốc, quốc lộ, kết nối các dự án khu đô thị, khu công nghiệp thành phố;
nâng cấp các trục đường nội ô, giải quyết tình trạng ùn tắc giao thông, nâng tải
trọng các cầu đồng bộ với hệ thống đường.
Phát huy lợi thế hệ thống sông
Hậu, sông Cần Thơ, kênh Xà No, kênh Quản Lộ - Phụng Hiệp,… để phát triển vận tải
thủy kết hợp với logistics. Hoàn thiện và mở rộng Cảng Cái Cui, Cảng Trần Đề
(Sóc Trăng) trở thành cảng cửa ngõ quốc tế của vùng; phát triển các bến cảng tổng
hợp và chuyên dụng gắn với khu, cụm công nghiệp. Nâng cấp luồng tàu biển trọng
tải lớn vào sông Hậu, khai thác hiệu quả cảng nước sâu Trần Đề; nghiên cứu triển
khai nạo vét, cải tạo kênh Mương Khai - Đốc Phủ Hiền kết nối giữa Sông Tiền và
Sông Hậu. Mở rộng nhà ga, đường băng, kho xăng dầu và các dịch vụ liên quan Cảng
hàng không quốc tế Cần Thơ, tăng cường kết nối với các thành phố lớn trong nước
và quốc tế, thúc đẩy du lịch và thương mại. Phát triển hệ thống logistics, xây
dựng các trung tâm logistics gắn với cảng biển, cảng sông và cảng hàng không quốc
tế Cần Thơ, tối ưu hóa chuỗi cung ứng và giảm chi phí vận tải, tạo tiền đề quan
trọng để hình thành hệ thống logistics đồng bộ liên hoàn với cả nước.
Xây dựng hệ thống giao thông
công cộng hiện đại, từng bước phát triển BRT (Bus Rapid Transit) và nghiên cứu
tàu điện nhẹ (LRT) tại đô thị trung tâm và các đô thị vệ tinh. Phát triển hạ tầng
giao thông thông minh (ITS), đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý vận tải và điều
hành giao thông.
- Về phát triển hạ tầng kinh tế
- xã hội khác:
Tiếp tục hoàn thiện hạ tầng các
khu công nghiệp (KCN), cụm công nghiệp (CCN) theo quy hoạch, bao gồm cả hạ tầng
kỹ thuật và hạ tầng xã hội; bảo đảm kết nối thuận tiện với quốc lộ và cao tốc.
Ưu tiên huy động vốn ngoài ngân sách, kết hợp ngân sách Nhà nước để đầu tư hạ tầng
khu công nghiệp trọng điểm; áp dụng mô hình quản lý, khai thác KCN, CCN hiện đại.
Lồng ghép yêu cầu bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế tuần hoàn, tiết kiệm
năng lượng và sử dụng năng lượng tái tạo trong quy hoạch, đầu tư KCN, CCN.
Xây dựng hệ thống thủy lợi đa mục
tiêu phù hợp với phương án phân vùng thủy lợi, quy hoạch phòng, chống thiên tai
và quy hoạch thủy lợi. Củng cố hệ thống thủy lợi bảo đảm kiểm soát lũ, phòng chống
hạn mặn và vận hành linh hoạt để ổn định sản xuất và phòng, chống thiên tai; ưu
tiên hệ thống đê, kè, cống đầu mối, di dời dân cư ra khỏi khu vực có nguy cơ sạt
lở.
Thu hút đầu tư vào các cơ sở
văn hóa, nhà hát, bảo tàng và các trung tâm giải trí hiện đại; tôn tạo, nâng cấp,
khai thác hiệu quả các di tích lịch sử - văn hóa. Hoàn thiện hệ thống thiết chế
văn hóa các cấp, bảo đảm về quy mô, chất lượng; nâng cấp, hoàn thiện một số thiết
chế văn hóa của Thành phố để đáp ứng được yêu cầu về phát triển kinh tế - xã hội,
đồng bộ phát triển hạ tầng du lịch. Hình thành các tổ hợp thương mại, thể thao,
vui chơi giải trí phục vụ thể thao, dịch vụ và du lịch. Đầu tư cơ sở hạ tầng,
trang thiết bị tập luyện thi đấu, đẩy mạnh thu hút nguồn lực xã hội hóa đầu tư
trong lĩnh vực thể thao, các công trình thể thao.
Đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất
và trang thiết bị cho các đơn vị, tổ chức nghiên cứu khoa học, công nghệ bảo đảm
đồng bộ, hiện đại. Tiếp tục xây dựng, hỗ trợ phát triển trung tâm ươm tạo công
nghệ, ươm tạo doanh nghiệp khoa học và công nghệ; nâng cao năng lực các trung
tâm ứng dụng, trung tâm kỹ thuật tiêu chuẩn đo lường chất lượng, các viện
nghiên cứu chuyên ngành.
Nâng cấp, hiện đại hóa thiết bị
các bệnh viện, đầu tư trang thiết bị cho các trung tâm y tế, nhất là các trung
tâm y tế chuyên sâu. Phát triển cụm ngành y tế theo định hướng trở thành trung
tâm y tế của vùng ĐBSCL. Thu hút nguồn lực xã hội hóa đầu tư, hình thành hệ thống
y tế tư nhân chất lượng cao; khuyến khích đầu tư các cơ sở dưỡng lão, các cơ sở
bảo trợ xã hội, nhà ở xã hội.
Phát triển quy mô, mạng lưới
các trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông đáp ứng chỉ
tiêu phát triển giáo dục của từng cấp học Nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết
bị và chất lượng các trường đại học để nâng cao chất lượng đáp ứng nhu cầu nhân
lực của vùng. Mở rộng và nâng cao chất lượng các trường cao đẳng, trung cấp nghề,
trung cấp chuyên nghiệp; trường dạy nghề; trung tâm giáo dục thường xuyên.
Quản lý xây dựng và đảm bảo chất
lượng xây dựng các công trình viễn thông theo quy định; phát triển hạ tầng viễn
thông theo hướng trở thành hạ tầng số, phục vụ phát triển đô thị thông minh,
chuyển đổi số thương mại điện tử. Thực hiện lộ trình số hóa hạ tầng thiết yếu
khác phục vụ đô thị thông minh, Chính quyền số, kinh tế số và xã hội số; phát
triển hạ tầng, dịch vụ bưu chính theo hướng chuyển sang bưu chính số.
Mở rộng và phát triển mới các
khu du lịch theo quy hoạch; đầu tư phát triển hạ tầng thương mại, xây dựng hệ
thống các trung tâm thương mại, siêu thị, chợ, các cửa hàng tiện lợi; xây dựng
chợ đầu mối nông, thủy sản; trung tâm logistics và trung tâm hội chợ triển lãm
quốc tế cấp vùng. Tăng cường nguồn lực đầu tư cho xây dựng, hoàn thiện hạ tầng
kỹ thuật về bảo vệ môi trường, đặc biệt là hệ thống thu gom, xử lý nước thải
sinh hoạt tập trung tại các khu đô thị, khu dân cư tập trung và hạ tầng thu
gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn sinh hoạt, đáp ứng các yêu cầu về bảo vệ
môi trường theo quy định.
- Về nông thôn mới:
Chủ động rà soát, hoàn thiện cơ
chế, chính sách đặc thù phù hợp thực tiễn địa phương, bảo đảm vừa kế thừa kết
quả thực hiện của Chương trình mục tiêu quốc gia 03 địa phương trước sáp nhập ở
giai đoạn trước, vừa thúc đẩy mục tiêu giảm nghèo bền vững, phát triển vùng đồng
bào dân tộc thiểu số và xây dựng nông thôn mới theo hướng thực chất, toàn diện
và bền vững; bên cạnh việc đầu tư xây dựng, tu bổ, nâng cấp, kiên cố hóa bảo vệ,
sử dụng đê điều, kè đảm bảo phòng, chống sạt lở bờ sông, bờ biển; ưu tiên nguồn
lực đầu tư xây dựng, nâng cấp, cải tạo mở rộng các công trình cấp nước tập
trung đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội theo các chủ trương đã được cấp
thẩm quyền phê duyệt.
6. Phát
triển mạnh mẽ, toàn diện văn hóa và con người Cần Thơ
Triển khai thực hiện hiệu quả
Nghị quyết số 162/2024/QH15 ngày 27 tháng 11 năm 2024 của Quốc hội phê duyệt chủ
trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa giai đoạn
2025 - 2035; cụ thể hóa các mục tiêu, nhiệm vụ, dự án thành các chương trình, kế
hoạch hành động phù hợp với điều kiện của thành phố; ưu tiên đầu tư cho sự nghiệp
văn hóa, tiếp tục đưa văn hóa về cơ sở, xây dựng đời sống văn hóa cơ sở, kích
thích các hoạt động văn hóa phát triển, đảm bảo quyền hưởng thụ văn hóa của Nhân
dân, nhất là ở vùng nông thôn. Tiếp tục triển khai thực hiện Phong trào “Toàn
dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” trên địa bàn. Nâng cao chất lượng danh
hiệu “Gia đình văn hóa”, “Ấp, khu vực hóa”; xây dựng xã, phường đạt chuẩn “Phát
triển văn hóa toàn diện”, góp phần nâng cao chất lượng xây dựng nông thôn mới,
đô thị văn minh. Phát huy vai trò của các tổ chức tự quản ở cộng đồng, các cá
nhân tiêu biểu, người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số để thực hiện tốt
công tác vận động quần chúng nhân dân, đồng bào dân tộc, tôn giáo cùng xây dựng
nếp sống văn hóa nông thôn mới, đô thị văn minh tại cơ sở.
Tổ chức bảo tồn, phát huy lễ hội
truyền thống tiêu biểu các dân tộc thiểu số gắn với khai thác, xây dựng sản phẩm
phục vụ phát triển du lịch đặc thù của thành phố. Hỗ trợ nghiên cứu, phục hồi,
bảo tồn, phát huy văn hóa phi vật thể các dân tộc thiểu số có nguy cơ mai một.
Xây dựng mô hình văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số. Xây dựng câu lạc bộ
sinh hoạt văn hóa dân gian tại các thôn ấp vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu
số sinh sống.
Tăng cường công tác quản lý Nhà
nước trên các lĩnh vực văn hóa, đặc biệt là sản phẩm văn hóa độc hại, gây hủy
hoại đạo đức xã hội; nâng cao chất lượng hiệu quả cuộc vận động xây dựng môi
trường văn hóa ở các công sở và khu dân cư. Tập trung giữ gìn, bảo tồn, phát
huy các loại hình nghệ thuật truyền thống, các giá trị văn hóa vật thể và phi vật
thể của cộng đồng các dân tộc; phát triển văn hóa đọc của hệ thống thư viện, đa
dạng thể loại sách, đáp ứng nhu cầu đọc, nghiên cứu, phục vụ phát triển kinh tế
- xã hội và nhu cầu học tập suốt đời của Nhân dân; nâng cao chất lượng hoạt động
của các đơn vị nghệ thuật chuyên nghiệp công lập, các đội, câu lạc bộ văn hóa,
nghệ thuật quần chúng ở cơ sở; hỗ trợ hoạt động sáng tác, tạo điều kiện công bố,
sưu tầm, lưu giữ các tác phẩm nghệ thuật; chú trọng bồi dưỡng nguồn nhân lực, tổ
chức các cuộc thi, triển lãm các tác phẩm mỹ thuật, nhiếp ảnh; tiếp thu tinh
hoa lý luận văn học, nghệ thuật của các thế hệ tiền nhân và của thế giới, vận dụng
sáng tạo, phát triển và làm phong phú thêm nền lý luận văn học, nghệ thuật của
thành phố.
Đẩy mạnh phát triển thể dục, thể
thao và nâng cao đời sống tinh thần Nhân dân, khuyến khích phát triển phong
trào thể dục, thể thao quần chúng, đa dạng hóa các hoạt động văn hóa, văn nghệ,
thể thao cơ sở; nâng cao thể chất, tầm vóc, sức khỏe Nhân dân. Quan tâm đầu tư,
nâng cấp cơ sở vật chất, thiết chế thể thao; phát triển thể thao thành tích
cao, thể thao chuyên nghiệp gắn với lợi thế của thành phố; tổ chức các sự kiện
văn hóa - thể thao quy mô vùng, quốc gia.
7. Tiếp tục
đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân
lực
Kịp thời quán triệt và thực hiện
nghiêm túc, đầy đủ, hiệu quả Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22 tháng 8 năm 2025 của
Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo. Đổi mới mạnh mẽ thể chế,
tạo cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội cho phát triển giáo dục và đào tạo;
triển khai chính sách học phí, miễn, giảm, hỗ trợ học phí, hỗ trợ chi phí học tập
và giá dịch vụ trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo; điều kiện về đầu tư và hoạt
động trong lĩnh vực giáo dục; chính sách khuyến khích xã hội hóa và đa dạng hóa
nguồn lực đầu tư cho giáo dục và đào tạo; hợp tác và đầu tư với nước ngoài
trong giáo dục và đào tạo. Tranh thủ nguồn lực từ các Quỹ học bổng có nguồn
ngân sách Nhà nước và các nguồn hợp pháp khác; phát huy hiệu quả các quỹ khuyến
tài, khuyến học khác để khuyến khích học tập và phát triển sự nghiệp giáo dục.
Rà soát, điều chỉnh các quy hoạch
để ưu tiên dành quỹ đất sạch, tập trung giải phóng mặt bằng, giao đất sạch cho
các dự án giáo dục và đào tạo bảo đảm đủ diện tích theo các tiêu chuẩn quy định;
ưu tiên bố trí trụ sở cơ quan Nhà nước dôi dư sau sắp xếp cho các cơ sở giáo dục,
đào tạo. Thực hiện đúng quy định nâng chuẩn cơ sở giáo dục ở tất cả cấp học,
quy định diện tích tối thiểu, quy chuẩn, tiêu chuẩn để từng bước tiệm cận khu vực,
quốc tế.
Tăng cường công tác giáo dục
chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, kỹ năng sống, văn hóa học đường trong
các nhà trường; xây dựng và triển khai hiệu quả các mô hình giáo dục đạo đức, lối
sống, các thiết chế, mô hình văn hóa học đường góp phần giáo dục toàn diện đức,
trí, thể, mỹ, hình thành hệ giá trị con người Việt Nam thời đại mới.
Triển khai thực hiện Chương
trình giáo dục mầm non mới, tăng cường phương pháp giáo dục thực hành, trải
nghiệm STEM/STEAM, không gian vui chơi, môi trường rèn luyện thể chất, kỹ năng
phát triển toàn diện cho trẻ em mầm non; chuẩn bị đủ điều kiện thực hiện phổ cập
giáo dục mầm non cho trẻ em từ 3 đến 5 tuổi; bảo đảm cơ hội tiếp cận giáo dục
và nâng cao chất lượng giáo dục tại các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc
biệt khó khăn, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Rà soát, đề xuất hoàn thiện
Chương trình giáo dục phổ thông, tăng thời lượng các môn khoa học, công nghệ,
tin học, nghệ thuật; triển khai việc cung cấp một bộ sách giáo khoa thống nhất
toàn quốc khi có hướng dẫn thực hiện từ năm học 2026 - 2027; thực hiện lộ trình
đến năm 2030 cung cấp miễn phí sách giáo khoa cho tất cả học sinh. Triển khai
thực hiện quy định về tổ chức và hoạt động của mô hình trường chuyên, trường
năng khiếu để tập trung ươm tạo nhân tài quốc gia, mở rộng các lớp chuyên khối
STEM/STEAM. Tổ chức thực hiện hiệu quả việc tăng cường dạy và học ngoại ngữ, từng
bước đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học; dạy ngôn ngữ của
các nước láng giềng và giảng dạy các môn học bằng tiếng Anh tại các đơn vị có
điều kiện.
Đa dạng hình thức triển khai hướng
nghiệp và phân luồng trong giáo dục theo từng giai đoạn phù hợp với yêu cầu
phát triển kinh tế - xã hội; tự chủ của các cơ sở đào tạo, trong đó bảo đảm quyền
tự chủ đầy đủ, toàn diện cho các cơ sở giáo dục đại học, cơ sở giáo dục nghề
nghiệp, không phụ thuộc vào mức độ tự chủ tài chính; cơ chế tự chủ đặc thù cho
một số cơ sở đào tạo trọng điểm quốc gia; quy định về giảng viên đồng cơ hữu
cho những người giỏi đang công tác tại các đơn vị sự nghiệp công lập; quy định
về cơ chế hợp tác “Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp” trong giáo dục và đào
tạo, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Thực hiện chuyển đổi số toàn diện,
phổ cập và ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số, trí tuệ nhân tạo trong giáo dục và
đào tạo; hoàn thiện cơ sở dữ liệu toàn ngành phục vụ cho chuyển đổi số và phát
triển nền tảng giáo dục quốc gia ứng dụng trí tuệ nhân tạo có kiểm soát. Triển
khai các ứng dụng và công cụ giáo dục số thông minh như sách giáo khoa thông
minh, giáo trình thông minh, kho học liệu dùng chung, nền tảng học tập trực tuyến
mở đại trà, phòng thí nghiệm và thực hành ảo, hệ thống kiểm tra, đánh giá trực
tuyến hiện đại hướng tới lớp học thông minh, trường học thông minh. Tập trung
xây dựng đội ngũ nhà giáo, triển khai các chính sách về tuyển dụng, sử dụng,
đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục và các chính sách tiền
lương, phụ cấp, chính sách ưu đãi đặc thù, vượt trội cho nhà giáo. Đẩy mạnh hợp
tác và hội nhập quốc tế sâu rộng trong giáo dục và đào tạo.
Cải cách, hiện đại hóa giáo dục
nghề nghiệp, tạo đột phá phát triển nguồn nhân lực có kỹ năng nghề cao. Sắp xếp,
tổ chức lại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp bảo đảm tinh gọn, hiệu quả, tăng về
quy mô, cơ cấu và hợp lý về ngành, nghề, trình độ đào tạo, chuẩn hóa, hiện đại
hóa đáp ứng nhu cầu nhân lực của thị trường lao động.
Hiện đại hóa, nâng tầm giáo dục
đại học, tạo đột phá phát triển nhân lực trình độ cao và nhân tài, dẫn dắt
nghiên cứu, đổi mới sáng tạo. Thực hiện đổi mới chương trình đào tạo đại học,
sau đại học theo chuẩn quốc tế; tích hợp nội dung về phân tích dữ liệu và trí
tuệ nhân tạo, tinh thần doanh nhân và khởi nghiệp. Có các cơ chế, chính sách đặc
biệt để hỗ trợ mở rộng triển khai các chương trình đào tạo tài năng, đào tạo
sau đại học gắn kết với nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo trong các ngành
khoa học cơ bản, kỹ thuật và công nghệ, phục vụ phát triển các công nghệ chiến
lược, công nghệ ưu tiên của công nghiệp 4.0, các dự án trọng điểm quốc gia. Gắn
kết các hoạt động đào tạo với nghiên cứu, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới
sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia.
8. Quản
lý phát triển xã hội bền vững, đảm bảo tiến bộ, công bằng xã hội
- Về y tế và chăm sóc sức khỏe
nhân dân: Tổ chức thực hiện đầy đủ các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp tại Nghị
quyết số 72-NQ/TW ngày 09 tháng 9 năm 2025 của Bộ Chính trị về một số giải pháp
đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân. Trong đó:
Tập trung nâng cao năng lực hệ
thống y tế, nhất là y tế dự phòng, y tế cơ sở, phát huy thế mạnh của y học cổ
truyền; huy động nguồn lực triển khai thực hiện hiệu quả chương trình mục tiêu
Quốc gia về chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển trên địa bàn thành phố giai
đoạn 2026 - 2035; tập trung hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của
trạm y tế cấp xã theo mô hình đơn vị sự nghiệp công lập, bảo đảm cung ứng dịch
vụ cơ bản, thiết yếu về phòng bệnh, chăm sóc sức khỏe ban đầu và các dịch vụ
chăm sóc xã hội. Triển khai hiệu quả mô hình chăm sóc sức khỏe theo nguyên lý y
học gia đình trên địa bàn thành phố. Phát triển Bệnh viện Đa khoa thành phố Cần
Thơ, Bệnh viện Đa khoa Hậu Giang, Bệnh viện Đa khoa Sóc Trăng đạt chuẩn cấp
chuyên sâu. Xây dựng và triển khai Đề án thành lập Bệnh viện Lão khoa Cần Thơ.
Tiếp tục củng cố, hoàn thiện hệ thống phục hồi chức năng; kết hợp hiệu quả giữa
các cơ sở y tế và các cơ sở chăm sóc người cao tuổi. Ưu tiên đầu tư các bệnh viện
chuyên khoa đảm nhiệm chức năng vùng theo Quyết định số 201/QĐ-TTg ngày 27
tháng 02 năm 2024 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch mạng lưới cơ sở y
tế thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050; cụ thể: Bệnh viện Ung bướu thành
phố Cần Thơ, Bệnh viện Nhi đồng thành phố Cần Thơ, Bệnh viện Phụ sản thành phố
Cần Thơ, Bệnh viện Huyết học - Truyền máu Cần Thơ, Bệnh viện Tim mạch thành phố
Cần Thơ, Trung tâm Kiểm nghiệm Thuốc, Mỹ phẩm và Thực phẩm thành phố Cần Thơ,
Trung tâm Sàng lọc chẩn đoán trước sinh và sơ sinh thuộc Bệnh viện Phụ sản
thành phố Cần Thơ, Bệnh viện Lão khoa Cần Thơ. Đầu tư nâng cao năng lực hệ thống
y học cổ truyền, kết hợp y học cổ truyền và y học hiện đại; tiếp tục nghiên cứu
và phát huy giá trị đa dụng của dược liệu, các bài thuốc, phương pháp truyền thống,
ứng dụng kiến thức, di sản y học cổ truyền để phát triển các dịch vụ và các sản
phẩm chăm sóc sức khỏe gắn với phát triển du lịch chữa bệnh trên địa bàn thành
phố. Khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động đầu tư của tư nhân
vào lĩnh vực y tế; triển khai các mô hình hợp tác công - tư trong sản xuất thuốc,
vắc xin, sinh phẩm, thiết bị y tế.
Thực hiện công tác chăm sóc,
giáo dục và bảo vệ trẻ em; thực hiện đầy đủ các quyền của trẻ em; bảo đảm cho
trẻ em, nhất là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được bình đẳng tiếp cận với các dịch
vụ bảo vệ, chăm sóc phù hợp theo độ tuổi; tạo mọi điều kiện để mọi trẻ em đều
có cơ hội phát triển toàn diện cả về thể chất, trí tuệ và tinh thần.
Xây dựng Kế hoạch triển khai Đề
án phát triển nhân lực y tế chất lượng cao; Đề án phát triển nhân lực y tế cho
trạm y tế cấp xã. Duy trì và phát triển đội ngũ cộng tác viên dân số; bồi dưỡng
kiến thức để nâng cao năng lực chuyên môn về công tác dân số. Thúc đẩy mạnh mẽ
chuyển đổi số y tế toàn diện, hướng dẫn quy định triển khai và vận hành hiệu quả
sổ sức khỏe điện tử; hoàn thành, vận hành hiệu quả sổ sức khỏe điện tử, bệnh án
điện tử, đơn thuốc điện tử; kết nối đồng bộ, quản lý dữ liệu sức khỏe người dân
theo vòng đời; xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về y tế, cơ sở dữ liệu chuyên
ngành y tế; kết nối, liên thông với cơ sở dữ liệu quốc gia.
- Về an sinh xã hội:
Tiếp tục hoàn thiện và tổ chức
thực hiện hiệu quả hệ thống an sinh xã hội, trợ giúp xã hội toàn diện với các đối
tượng (người nghèo, người yếu thế), phù hợp ở từng giai đoạn vòng đời (từ trẻ
em, người trong độ tuổi lao động đến người cao tuổi), thông qua nhiều chính
sách kết hợp như bảo hiểm, việc làm, nhà ở và các dịch vụ xã hội cơ bản.
Thực hiện đầy đủ, kịp thời và
hiệu quả các chính sách ưu đãi người có công với cách mạng. Đẩy mạnh cải cách
hành chính, số hóa quy trình, hồ sơ, cơ sở dữ liệu người có công; tăng cường
liên thông dữ liệu giữa các sở, ngành và địa phương nhằm rút ngắn thời gian giải
quyết chế độ, khắc phục tình trạng chồng chéo, kéo dài thủ tục. Tăng cường đầu
tư, quản lý và khai thác hiệu quả hệ thống cơ sở an sinh và công trình ghi công
liệt sĩ; tiếp tục triển khai các chương trình hỗ trợ nhà ở cho người có công và
thân nhân liệt sĩ theo quy định; quan tâm nghiên cứu, đề xuất đầu tư các cơ sở
nuôi dưỡng, điều dưỡng người có công phù hợp với điều kiện thực tiễn của thành
phố; bảo đảm quản lý thống nhất, trang nghiêm và bền vững các nghĩa trang liệt
sĩ, công trình tưởng niệm.
Đẩy mạnh thực hiện bình đẳng giới
và phòng, chống bạo lực trên cơ sở giới; lồng ghép mục tiêu bình đẳng giới
trong xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình, kế hoạch phát triển kinh
tế - xã hội. Tăng cường truyền thông, giáo dục, nâng cao nhận thức của cộng đồng
về bình đẳng giới, phòng ngừa và ứng phó bạo lực trên cơ sở giới; chú trọng các
nhóm dễ bị tổn thương như phụ nữ, trẻ em, người dân tộc thiểu số; phát huy vai
trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội trong giám sát và vận
động thực hiện bình đẳng giới.
Phát triển thị trường lao động
linh hoạt, hiện đại, hội nhập; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực gắn với tạo
việc làm bền vững. Đẩy mạnh thu thập, kết nối, chia sẻ dữ liệu thị trường lao động;
phát triển sàn giao dịch việc làm số, tăng cường liên thông thông tin cung - cầu
lao động trong vùng ĐBSCL; nâng cao hiệu quả hoạt động của các trung tâm dịch vụ
việc làm, đa dạng hóa hình thức tư vấn, giới thiệu việc làm, nhất là đối với
lao động yếu thế, lao động khu vực phi chính thức. Thực hiện đồng bộ các chính
sách về lao động, việc làm, tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp.
- Về dân tộc, tôn giáo:
Tiếp tục triển khai các nội
dung của Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng
bào dân tộc thiểu số (DTTS) và miền núi giai đoạn 2026 - 2035. Thực hiện tốt
chính sách an sinh xã hội và giảm nghèo trong vùng đồng bào DTTS thông qua các
chính sách ưu đãi trong tín dụng, tạo điều kiện cho các đối tượng thuộc hộ
nghèo, hộ cận nghèo, hộ DTTS được tiếp cận các nguồn vốn để phát triển sản xuất,
kinh doanh, tạo sinh kế cho đồng bào DTTS, bảo đảm công khai, minh bạch, đúng đối
tượng, phát huy hiệu quả. Chú trọng, quan tâm chăm lo phát triển giáo dục và
đào tạo, nâng cao trình độ dân trí; nâng cao chất lượng dạy và học vùng đồng
bào DTTS kết hợp thực hiện tốt chính sách đặc thù dạy chữ và tiếng DTTS trên địa
bàn thành phố. Thực hiện tốt công tác thăm khám, điều trị bệnh cho người dân ở
vùng đồng bào DTTS, đảm bảo người nghèo, cận nghèo được tiếp cận các dịch vụ y
tế cơ bản và các trang thiết bị y tế cần thiết phục vụ chăm sóc sức khỏe cộng đồng.
Thực hiện bảo tồn và phát huy
giá trị di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của các DTTS trên địa bàn thành
phố; phát huy giá trị văn hoá truyền thống tốt đẹp, đời sống sinh hoạt của các
dân tộc DTTS trên địa bàn thành phố; hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi để các tổ
chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, các cơ sở thờ tự tôn giáo hoạt động
tôn giáo theo đúng Hiến chương, giáo lý, giáo luật được Nhà nước công nhận và
tuân thủ các quy định pháp luật Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo. Tăng cường
công tác vận động chức sắc, chức việc, người có uy tín trong các tôn giáo và
người đại diện cơ sở thờ tự tín ngưỡng tham gia vận động tín đồ, nhân dân thực
hiện tốt các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về tín ngưỡng,
tôn giáo.
Nắm chắc tình hình về dân tộc,
vùng đồng bào DTTS khó khăn, các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo; rà soát các vụ
việc phức tạp, nổi cộm liên quan đến dân tộc, tôn giáo; chủ động đấu tranh làm
thất bại mọi âm mưu, hoạt động kích động và các hoạt động lợi dụng vấn đề dân tộc,
tôn giáo, dân chủ, nhân quyền nhằm gây mất ổn định chính trị, trật tự, an toàn
xã hội, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên địa bàn thành phố.
9. Tăng
cường quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, chủ động thích ứng với biến đổi
khí hậu, bảo đảm an ninh nguồn nước, giảm thiểu tác động tiêu cực của hạn hán,
xâm nhập mặn
Lập kế hoạch sử dụng đất thành
phố, kế hoạch sử dụng đất cấp xã giai đoạn 2026 - 2030; thực hiện điều tra,
đánh giá đất đai, bảo vệ, cải tạo, phục hồi đất; triển khai đo đạc, lập hồ sơ địa
chính; thống kê đất đai; thực hiện tốt công tác thu hồi đất, giao đất, cho thuê
đất, đấu giá quyền sử dụng đất, chuyển nhượng và chuyển mục đích sử dụng đất,
chuyển mục đích sử dụng đất, chuyển từ hình thức thuê đất sang giao đất có thu
tiền sử dụng đất, chuyển hình thức từ giao đất sang thuê đất đúng quy định; thực
hiện xác định giá đất cụ thể, thực hiện các thủ tục triển khai xây dựng Bảng
giá đất giá đất; điều chỉnh, bổ sung bảng giá đất (nếu có).
Theo dõi chặt chẽ diễn biến,
tình hình hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn, kịp thời thông tin, dự báo, cảnh
báo đến các cơ quan, đơn vị có liên quan và người dân biết để chủ động phòng,
tránh, ứng phó với hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn. Xác định từng vùng, từng
khu vực có khả năng bị ảnh hưởng bởi hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn để triển
khai các biện pháp cụ thể, bảo đảm giảm thiểu ảnh hưởng đến sản xuất và dân
sinh. Rà soát, kịp thời duy tu, sửa chữa các công trình thủy lợi bị hư hỏng, xuống
cấp; thực hiện việc nạo vét khu vực cửa cống lấy nước, hệ thống kênh mương, đắp
đập ngăn mặn,... đảm bảo an toàn, hiệu quả trong việc ngăn mặn, trữ ngọt, tận dụng
tối đa nguồn nước, triệt để, chống thất thoát lãng phí nước. Đẩy nhanh tiến độ
thi công và phát huy hiệu quả sử dụng của các công trình thủy lợi, đê kè, kịp
thời ngăn mặn, trữ ngọt phục vụ sản xuất và dân sinh vào mùa khô hàng năm.
Tổ chức triển khai việc khai
thác khoáng sản để cung cấp vật liệu cho các công trình, dự án, nhiệm vụ; cấp
giấy phép, gia hạn (nếu còn trữ lượng theo giấy phép), điều chỉnh giấy phép
khai thác khoáng sản,… theo cơ chế, chính sách đặc thù được quy định tại Nghị
quyết số 66.4/2025/NQ-CP của Chính phủ. Tăng cường kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ
hoạt động khai thác khoáng sản, bảo đảm công bằng, công khai, minh bạch, chống
tiêu cực, lãng phí tài nguyên khoáng sản, tăng nguồn thu cho ngân sách. Kịp thời
xử lý các hoạt động khai thác khoáng sản trái phép, bảo vệ môi trường sinh
thái, đảm bảo an ninh trật tự trong khu vực có khoáng sản.
Tổ chức thực hiện chiến lược
khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên, bảo vệ môi trường biển; quy hoạch tổng
thể khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên vùng bờ; thiết lập và quản lý hành
lang bảo vệ bờ biển. Phối hợp với các tỉnh vùng ven biển trong vùng ĐBSCL có điều
kiện tự nhiên tương đồng với điều kiện tự nhiên của thành phố để lồng ghép đề
xuất và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học và
công nghệ phục vụ phát triển sản xuất vùng biển, ven biển theo hướng thích ứng
với biến đổi khí hậu mang tính liên vùng, góp phần phát triển kinh tế biển và
vùng ven biển.
Thực hiện tốt công tác kiểm
soát ô nhiễm, quản lý chất thải, tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền và
bảo vệ môi trường, nâng cao nhận thức cho người dân và các tổ chức, doanh nghiệp
về bảo vệ môi trường. Chủ động phòng ngừa và hạn chế mức độ gia tăng ô nhiễm do
chất thải từ các khu vực đô thị, khu công nghiệp và khu dân cư tập trung. Tiếp
tục theo dõi, đôn đốc đầu tư hoàn thiện hạ tầng thu gom, xử lý chất thải tại
các khu, cụm công nghiệp. Vận hành các công trình xử lý nước thải tập trung các
khu, cụm công nghiệp đã được đầu tư bảo đảm hiệu quả.
Tích cực hợp tác với các địa
phương trong nước và quốc tế về bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu;
chia sẻ tri thức, công nghệ, dữ liệu khí hậu - đa dạng sinh học; huy động tài
chính xanh và phát triển thị trường carbon khu vực; đề xuất sáng kiến chung về
bảo tồn rừng, biển, đa dạng sinh học.
10. Tăng
cường liên kết vùng, hợp tác phát triển
Tăng cường công tác huy động,
quản lý và phân bổ các nguồn lực đầu tư, ngân sách nhà nước và ngoài nhà nước
theo các ưu tiên chiến lược và cơ chế đầu tư về hạ tầng giao thông, cảng biển,
sân bay, logistics, năng lượng tái tạo, ứng phó biến đổi khí hậu và các công
trình, dự án trọng điểm có tính chất liên vùng; bảo đảm phù hợp với Nghị quyết
số 13-NQ/TW ngày 02 tháng 4 năm 2022 của Bộ Chính trị và Quy hoạch vùng ĐBSCL
thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050; tăng cường phối hợp giữa các địa
phương trong chuẩn bị đầu tư, giải phóng mặt bằng, tổ chức thực hiện và khai
thác hiệu quả các dự án liên vùng theo quy hoạch vùng ĐBSCL.
Nâng cao vai trò, trách nhiệm
và tính pháp lý của cơ chế điều phối vùng; phát huy hiệu quả hoạt động của Hội
đồng điều phối vùng thông qua việc thiết lập cơ chế cam kết trách nhiệm, lộ
trình hành động và phân công nhiệm vụ cụ thể đối với từng địa phương; bảo đảm
các quyết định về quy hoạch, kế hoạch, phân bổ nguồn lực và đầu tư các công
trình hạ tầng liên vùng được thực hiện công khai, minh bạch, khả thi và có tính
ràng buộc cao; từng bước cụ thể hóa các mục tiêu, nhiệm vụ liên kết vùng trong
chương trình, kế hoạch phát triển của từng ngành, lĩnh vực và địa phương; phát
huy vai trò của các hành lang kinh tế, vùng động lực, cực tăng trưởng nhằm khai
thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế so sánh của từng địa phương và tăng cường lan
tỏa phát triển trong toàn vùng.
Thực hiện các thỏa thuận hợp
tác với trường đại học, viện nghiên cứu triển khai nghiên cứu, ứng dụng khoa học
công nghệ trong phát triển kinh tế - xã hội, phát triển các ngành, lĩnh vực của
thành phố. Hỗ trợ triển khai các dự án thí điểm đổi mới sáng tạo, mô hình sản
xuất sạch, công nghiệp công nghệ cao tại các tỉnh trong vùng, tạo hiệu ứng lan
tỏa ra toàn vùng. Khuyến khích các doanh nghiệp hợp tác với viện, trường trong
đào tạo nhân lực, nghiên cứu ứng dụng, chuyển giao công nghệ, tham gia chuỗi
giá trị toàn cầu. Thành lập các mạng lưới liên kết vùng giữa địa phương - doanh
nghiệp - viện, trường, nhằm chia sẻ dữ liệu, thông tin thị trường, kết quả
nghiên cứu và dự báo nhu cầu phát triển.
11. Tăng
cường quốc phòng, an ninh, xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, chính quy,
tinh nhuệ, hiện đại
Tập trung chỉ đạo quán triệt và
tổ chức thực hiện nghiêm các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, Nhà nước, Chính phủ,
Bộ Quốc phòng, Quân khu và Thành ủy, HĐND thành phố về nhiệm vụ quốc phòng,
quân sự địa phương và xây dựng khu vực phòng thủ. Chủ động nghiên cứu, dự báo
sát tình hình, kịp thời xử lý hiệu quả các tình huống phát sinh ngay từ cơ sở,
không để bị động, bất ngờ; giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội
trên địa bàn.
Nâng cao hiệu quả phối hợp giữa
các cấp, các ngành trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an
ninh nhân dân vững chắc. Tổ chức triển khai Đề án “Bảo đảm quốc phòng giai đoạn
2026 - 2030, định hướng đến năm 2050”; khai thác hiệu quả các công trình quốc
phòng theo quy hoạch, quản lý chặt chẽ đất quốc phòng, bảo đảm sử dụng đúng mục
đích, hiệu quả.
Xây dựng lực lượng dân quân tự
vệ, dự bị động viên bảo đảm số lượng, chất lượng theo chỉ tiêu nghị quyết đề
ra; triển khai hiệu quả công tác giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an
ninh cho các đối tượng đạt 100% kế hoạch hàng năm; nâng cao chất lượng tuyển
sinh quân sự và công tác quân sự cơ sở. Tổ chức huấn luyện, diễn tập, hội thi,
hội thao theo kế hoạch, bảo đảm an toàn, hiệu quả; duy trì nghiêm chế độ trực sẵn
sàng chiến đấu, phòng, chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn.
Tiếp tục đẩy mạnh công tác đấu
tranh, trấn áp quyết liệt các loại tội phạm. Chủ động phát hiện và xử lý nghiêm
các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực kinh tế, môi trường, vệ sinh an
toàn thực phẩm; sản xuất kinh doanh hàng giả, hàng kém chất lượng không rõ nguồn
gốc, xuất xứ. Đẩy nhanh tiến độ điêu tra, xử lý các vụ án, vụ việc, nhất là các
vụ án, vụ việc thuộc diện theo dõi, chỉ đạo của Ban Thường vụ Thành ủy, Ban Chỉ
đạo thành phố về phòng, chống tham nhũng, Ban Nội chính Thành ủy. Tăng cường
công tác đấu tranh, phòng với tội phạm về ma túy; triển khai Chương trình mục
tiêu quốc gia phòng, chống ma túy đến năm 2030; phấn đấu đến năm 2030 có 50%
xã, phường trên địa bàn thành phố không ma túy.
Tiếp tục triển khai, thực hiện
hiệu quả Đề án 06/CP của Chính phủ về phát triển ứng dụng dữ liệu dân cư, định
danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025,
tầm nhìn đến năm 2030. Quản lý chặt chẽ các cơ sở kinh doanh ngành nghề có điều
kiện về an ninh, trật tự. Nâng cao hiệu quả ứng phó sự cố, thiên tai, tìm kiếm
cứu nạn; duy trì hiệu quả hoạt động Tổng đài 112; bảo đảm an ninh, trật tự, quản
lý vùng trời, tàu bay không người lái, chống khai thác IUU; tổ chức rà soát,
thu gom bom mìn, vật liệu nổ.
12. Đẩy
mạnh triển khai đồng bộ, hiệu quả hoạt động đối ngoại
Đẩy mạnh triển khai đồng bộ, hiệu
quả chủ trương hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng trong tình hình mới theo
tinh thần Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24 tháng 01 năm 2025 của Bộ Chính trị
trên cả ba trụ cột: đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại Nhân dân;
phát huy vai trò tiên phong, trọng yếu, thường xuyên của công tác đối ngoại
trong phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, góp phần nâng cao vị thế của thành
phố Cần Thơ là trung tâm động lực, trung tâm hợp tác quốc tế của vùng ĐBSCL.
Đẩy mạnh ngoại giao kinh tế,
ngoại giao khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo theo hướng bài bản, chuyên
nghiệp, sáng tạo và thực chất; chủ động nghiên cứu, dự báo chiến lược, bám sát
mục tiêu phát triển của thành phố đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; tập
trung thu hút, huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực bên ngoài (ODA, FDI,
viện trợ phi Chính phủ nước ngoài) phục vụ chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo
hướng xanh, bền vững, chuyển đổi số và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Chủ động mở rộng, nâng tầm đối
ngoại đa phương và hợp tác quốc tế cấp địa phương; củng cố, làm sâu sắc quan hệ
hữu nghị, hợp tác với các đối tác truyền thống; đồng thời phát triển quan hệ với
các đối tác mới có tiềm năng; tận dụng hiệu quả các hiệp định, thỏa thuận hợp
tác quốc tế và các chương trình, sáng kiến trong khuôn khổ các cơ chế hợp tác
song phương, đa phương, các tổ chức quốc tế và hiệp hội mà thành phố tham gia;
tăng cường rà soát, theo dõi, đôn đốc và đánh giá hiệu quả việc thực hiện các
thỏa thuận quốc tế đã ký kết.
Đẩy mạnh công tác thông tin đối
ngoại, ngoại giao văn hóa gắn với quảng bá hình ảnh, tiềm năng, lợi thế và môi
trường đầu tư của thành phố; kết hợp chặt chẽ đối ngoại với hợp tác quốc phòng,
an ninh, bảo đảm ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội; tăng cường đoàn kết,
vận động người Việt Nam ở nước ngoài; đa dạng hóa các hoạt động giao lưu Nhân
dân, hữu nghị và hợp tác quốc tế của thành phố.
Tăng cường ứng dụng công nghệ
thông tin, công nghệ số và các nền tảng trực tuyến trong quản lý, điều hành,
thông tin, tuyên truyền đối ngoại và hội nhập quốc tế; đồng thời, chú trọng đào
tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ công chức làm công tác đối ngoại,
đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng; lồng ghép nhiệm vụ hội nhập
quốc tế vào các chương trình, kế hoạch công tác của các sở, ban, ngành và địa
phương.
VI. TỔ CHỨC
THỰC HIỆN
Trên cơ sở Nghị quyết Đại hội Đại
biểu Đảng bộ thành phố Cần Thơ lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030; Nghị quyết số
59-NQ/TW ngày 05 tháng 8 năm 2020 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển
thành phố Cần Thơ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; Nghị quyết số
274/NQ-HĐND ngày 10 tháng 12 năm 2025 của HĐND thành phố về Kế hoạch phát triển
kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh giai đoạn 2026 - 2030 và theo chức
năng, nhiệm vụ được giao; Giám đốc sở, Thủ trưởng cơ quan, ban, ngành thành phố,
Chủ tịch UBND xã, phường và cơ quan, đơn vị có liên quan:
1. Xây dựng kế hoạch triển
khai cụ thể, sát với tình hình thực tế của cơ quan, đơn vị, địa phương, đảm bảo
thực hiện đạt và vượt Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội thành phố giai đoạn
2026 - 2030.
2. Chủ trì, tham mưu đề
xuất giải pháp thực hiện đạt và vượt các chỉ tiêu được giao tại khoản 2 mục II
Phần thứ hai Kế hoạch này; thường xuyên theo dõi, kiểm tra tiến độ, đề xuất giải
pháp thực hiện phù hợp, kịp thời , hiệu quả và định hướng phát triển dài hạn của
ngành và địa phương, tạo tính chủ động, tạo điều kiện tốt nhất hoàn thành đạt
và vượt chỉ tiêu kế hoạch mang tính bền vững, cụ thể:
a) Sở Tài chính chủ trì, phối hợp
với Thống kê thành phố và các cơ quan liên quan theo dõi thực hiện nhóm các chỉ
tiêu số (1), (2), (3), (4), (7), (8), (10) ;
b) Sở Nội vụ chủ trì, phối hợp
với Sở Tài chính và các cơ quan liên quan theo dõi thực hiện nhóm chỉ tiêu số
(5), (11);
c) Sở Khoa học và Công nghệ chủ
trì, phối hợp với các cơ quan liên quan theo dõi thực hiện nhóm chỉ tiêu số
(6);
d) Sở Y tế chủ trì, phối hợp với
Thống kê thành phố và các cơ quan liên quan theo dõi thực hiện nhóm các chỉ
tiêu số (9), (12), (13);
đ) Sở Giáo dục và Đào tạo chủ
trì, phối hợp với các cơ quan liên quan theo dõi thực hiện nhóm chỉ tiêu số
(14);
e) Sở Nông nghiệp và Môi trường
chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan theo dõi thực hiện nhóm chỉ tiêu số
(15), (16), (17), (18), (19);
g) Sở Xây dựng chủ trì, phối hợp
với các cơ quan liên quan theo dõi thực hiện nhóm chỉ tiêu số (20), (21), (22);
h) Bộ Chỉ huy quân sự thành phố
chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan theo dõi thực hiện nhóm chỉ tiêu số
(23);
i) Công an thành phố chủ trì,
phối hợp với các cơ quan liên quan theo dõi thực hiện nhóm chỉ tiêu số (24);
k) Sở Ngoại vụ chủ trì, phối hợp
với các cơ quan liên quan theo dõi thực hiện nhóm chỉ tiêu số (25).
Trên đây là Kế hoạch phát triển
kinh tế - xã hội thành phố Cần Thơ giai đoạn 2026 - 2030. Trong quá trình triển
khai thực hiện, nếu có khó khăn, vướng mắc vượt thẩm quyền, các cơ quan, đơn vị
phản ánh về Sở Tài chính để tổng hợp, tham mưu UBND thành phố xem xét, chỉ đạo./.
(Đính kèm các Phụ lục)
[1]
Thành phố Cần Thơ (cũ) đã hỗ trợ cho 12.074 doanh nghiệp, số tiền 2.194,05 tỷ đồng;
tỉnh Sóc Trăng (cũ) đã hỗ trợ số tiền 31 tỷ đồng; tỉnh Hậu Giang (cũ) đã hỗ trợ
số tiền 576,287 tỷ đồng.
[2]
Thành phố Cần Thơ (cũ) đã hỗ trợ số tiền 701,504 tỷ đồng.
[3]
Thành phố Cần Thơ (cũ) chỉ tiêu kế hoạch tín dụng được giao năm 2022 - 2023 là
693.330 triệu đồng, giải ngân 710.521 triệu đồng; tỉnh Sóc Trăng (cũ) chỉ tiêu
kế hoạch tín dụng được giao năm 2022 - 2023 631.900 triệu đồng, giải ngân 600.801
triệu đồng; tỉnh Hậu Giang (cũ) giải ngân 19.230 triệu đồng.
[4]
Thành phố Cần Thơ (cũ) đã hỗ trợ cho 49.760 lao động, với tổng kinh phí 31,3 tỷ
đồng; tỉnh Sóc Trăng (cũ) đã hỗ trợ cho 1.952 lao động, với tổng kinh phí 2,85
tỷ đồng.
[5]
Thành phố Cần Thơ (cũ): bố trí 1.095 tỷ đồng để thực hiện 4 dự án, giải ngân
1.094,7 tỷ đồng, đạt 99,97%; tỉnh Sóc Trăng (cũ): bố trí 1.254 tỷ đồng để thực
hiện 4 dự án, giải ngân 1.214,675 tỷ đồng, đạt 96,86%; tỉnh Hậu Giang (cũ): bố
trí 1.257 tỷ đồng để thực hiện 5 dự án, giải ngân 1.235,895 tỷ đồng, đạt
98,32%.
[6] Quyết
định số 10/2022/QĐ-TTg ngày 06/4/2022 của Thủ tướng Chính phủ quy định trình tự,
thủ tục chấp thuận chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa nước từ 02 vụ trở lên
với quy mô dưới 500 ha; đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ đầu nguồn dưới 50
ha (thực hiện chung cho 04 địa phương có Nghị quyết của Quốc hội: thành phố Cần
Thơ, thành phố Hải Phòng, tỉnh Nghệ An, tỉnh Thanh Hóa); Quyết định số
15/2022/QĐ-TTg ngày 27/5/2022 của Thủ tướng Chính phủ quy định về thí điểm phân
cấp phê duyệt, trình tự, thủ tục phê duyệt điều chỉnh cục bộ Quy hoạch chung
xây dựng khu chức năng, điều chỉnh cục bộ quy hoạch chung đô thị thuộc thành phố
Hải Phòng, thành phố Cần Thơ, tỉnh Nghệ An và tỉnh Thanh Hóa.
[7] Năm
2021, thu ngân sách thực hiện chậm so dự toán giao, nguyên nhân chủ yếu do thực
hiện các chính sách miễn, giảm, giãn thuế theo Nghị định của Chính phủ và Thông
tư của Bộ Tài chính nhằm hỗ trợ cho các đối tượng chịu ảnh hưởng của dịch bệnh
COVID-19.
[8] Do
sắp xếp địa giới hành chính, Chính phủ đang chỉ đạo xây dựng các quy định về
tiêu chuẩn đơn vị hành chính, phân loại đơn vị hành chính và phân loại đô thị,
số liệu trên là số ước tính do Bộ Xây dựng và Bộ Tài chính rà soát thông qua tỷ
lệ dân số thành thị.
[9] Gồm
04 dự án nhiệt điện khí (công suất 4.010MW); 02 dự án nhiệt điện than (công suất
2.400 MW); 01 dự án đường ống dẫn khí Lô B-Ô Môn; 30 dự án điện gió (công suất
2.752 MW), trong đó có 19 dự án đã được cấp chủ trương đầu tư (07 dự án đưa vào
vận hành thương mại, 02 dự án đang hoàn thành thủ tục để đưa vào vận hành trong
năm 2025, 02 dự án dự kiến khởi công trong năm 2025, 07 dự án dự kiến khởi công
trong năm 2026, 11 dự án đang kêu gọi đầu tư); 05 dự án điện mặt trời nối lưới
(công suất 210MW); 03 dự án điện sinh khối (công suất 168 MW); 02 dự án điện
rác (công suất 31MW).
[10]
Nguồn vốn đầu tư công giai đoạn 2021 - 2025 bố trí cho các dự án giao thông của:
Cần Thơ (cũ) chiếm trên 45%; Hậu Giang (cũ) chiếm trên 47%; Sóc Trăng (cũ) chiếm
gần 62%.
[11]
Tháo gỡ khó khăn trong khâu chuẩn bị đầu tư cho dự án điện khí Ô Môn. Tập trung
khai thác hiệu quả nhà máy nhiệt điện Long Phú 1 và các nhà máy điện gió; Nhà
máy nhiệt điện Sông Hậu I.
[12]
Theo số liệu ngành Thống kê.
[13]
Theo kỳ rà soát, công nhận trường đạt chuẩn.
[14]
Ban hành Kế hoạch số 35/KH-UBND ngày 20 tháng 8 năm 2025 của Ủy ban nhân dân
thành phố triển khai Chương trình hành động của Chính phủ triển khai Nghị quyết
số 59-NQ/TW ngày 24 tháng 01 năm 2025 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế
trong tình hình mới.