|
ỦY BAN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 3109/QĐ-UBND
|
Cần Thơ, ngày 18
tháng 12 năm 2025
|
QUYẾT ĐỊNH
VỀ VIỆC GIAO CHỈ TIÊU KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
THÀNH PHỐ CẦN THƠ NĂM 2026
ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Căn cứ Luật Tổ chức chính
quyền địa phương ngày 16 tháng 6 năm 2025;
Căn cứ Quyết định số
2638/QĐ-TTg ngày 03 tháng 12 năm 2025 của Thủ tướng Chính phủ về việc giao dự
toán ngân sách nhà nước năm 2026;
Căn cứ Quyết định số
2691/QĐ-TTg ngày 10 tháng 12 năm 2025 của Thủ tướng Chính phủ về việc giao kế
hoạch đầu tư công nguồn ngân sách nhà nước năm 2026 cho các bộ, cơ quan trung
ương và địa phương;
Căn cứ Nghị quyết số
269/NQ-HĐND ngày 09 tháng 12 năm 2025 của Hội đồng nhân dân thành phố về Kế hoạch
tài chính 05 năm giai đoạn 2026 - 2030 của thành phố Cần Thơ;
Căn cứ Nghị quyết số
270/NQ-HĐND ngày 09 tháng 12 năm 2025 của Hội đồng nhân dân thành phố về việc
quyết định dự toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn, thu, chi ngân sách địa
phương năm 2026 của thành phố Cần Thơ;
Căn cứ Nghị quyết số
271/NQ-HĐND ngày 09 tháng 12 năm 2025 của Hội đồng nhân dân thành phố về phân bổ
dự toán ngân sách năm 2026 của thành phố Cần Thơ;
Căn cứ Nghị quyết số
274/NQ-HĐND ngày 10 tháng 12 năm 2025 của Hội đồng nhân dân thành phố về Kế hoạch
phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh giai đoạn 2026 - 2030;
Căn cứ Nghị quyết số 275/NQ-HĐND
ngày 10 tháng 12 năm 2025 của Hội đồng nhân dân thành phố về Kế hoạch phát triển
kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh năm 2026;
Căn cứ Nghị quyết số
276/NQ-HĐND ngày 10 tháng 12 năm 2025 của Hội đồng nhân dân thành phố về việc
giao, cho ý kiến kế hoạch vốn đầu tư công năm 2026 thành phố Cần Thơ các nguồn
vốn thuộc ngân sách nhà nước;
Theo đề nghị của Giám đốc Sở
Tài chính tại Tờ trình số 579/TTr-STC ngày 17 tháng 12 năm 2025.
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1.
Giao chỉ tiêu Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội
thành phố Cần Thơ năm 2026 cho các sở, ban ngành thành phố, Ủy ban nhân dân xã,
phường (đính kèm Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội thành phố Cần Thơ năm
2026 và các Phụ lục).
Điều 2.
Giao Giám đốc sở, Thủ trưởng cơ quan, ban ngành thành
phố căn cứ Điều 1 Quyết định này và theo chức năng, nhiệm vụ được giao khẩn
trương tổ chức triển khai quyết định phân bổ và giao chỉ tiêu kế hoạch cho Ủy
ban nhân dân xã, phường, các đơn vị, bộ phận trực thuộc về nhiệm vụ, chỉ tiêu kế
hoạch trước ngày 31 tháng 12 năm 2025; báo cáo kết quả về Sở Tài chính tổng hợp,
tham mưu Ủy ban nhân dân thành phố báo cáo Thường trực Hội đồng nhân dân thành
phố giám sát, kiểm tra theo quy định; thường xuyên hướng dẫn, hỗ trợ, kiểm tra,
đôn đốc việc tổ chức thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ và kế hoạch được giao; kịp
thời phân tích, đánh giá, báo cáo tình hình và đề xuất các giải pháp nhằm thực
hiện đạt và vượt Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội thành phố Cần Thơ năm
2026, góp phần thực hiện đạt cao nhất các chỉ tiêu Kế hoạch phát triển kinh tế
- xã hội thành phố Cần Thơ giai đoạn 2026 - 2030.
Điều 3.
Giám đốc sở, Thủ trưởng cơ quan, ban ngành thành phố;
Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường và các cơ quan, đơn vị có liên quan chịu
trách nhiệm thi hành Quyết định này kể từ ngày ký./.
|
Nơi nhận:
- VP Chính phủ (HN, TP.HCM);
- Bộ Tài chính;
- TT. Thành ủy;
- TT. HĐND thành phố;
- TT. UBMTTQVN thành phố và các đoàn thể;
- TT. Đảng ủy UBND thành phố;
- TT. UBND thành phố (1);
- Đoàn ĐBQH thành phố;
- Như Điều 3;
- Các cơ quan được tổ chức theo ngành dọc đóng trên địa bàn thành phố;
- Các cơ quan tham mưu, giúp việc Thành ủy;
- Các Ban thuộc HĐND thành phố;
- VP. Đoàn ĐBQH và HĐND thành phố;
- Các DNNN và đơn vị thuộc UBND thành phố;
- HĐND và UBND xã, phường;
- VP. UBND thành phố (2,3);
- Cổng TTĐT thành phố;
- Lưu: VT, QTP.
|
TM. ỦY BAN NHÂN
DÂN
CHỦ TỊCH
Trương Cảnh Tuyên
|
KẾ HOẠCH
PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI THÀNH PHỐ CẦN THƠ NĂM 2026
(Kèm theo Quyết định số 3109/QĐ-UBND ngày 18 tháng 12 năm 2025 của Ủy ban
nhân dân thành phố)
Phần thứ nhất
TÌNH HÌNH THỰC HIỆN KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI,
QUỐC PHÒNG, AN NINH NĂM 2025
I. ĐÁNH
GIÁ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI, QUỐC PHÒNG - AN
NINH NĂM 2025
Năm 2025, trong bối cảnh tình
hình kinh tế, an ninh, chính trị thế giới và khu vực tiếp tục diễn biến nhanh,
phức tạp, khó lường; các xung đột quân sự, bất ổn chính trị tại một số khu vực,
sự điều chỉnh chính sách thuế đối ứng của Hoa Kỳ, căng thẳng thương mại và cạnh
tranh chiến lược giữa các nước lớn gia tăng đã tác động trực tiếp đến môi trường
đầu tư, kinh doanh và thương mại toàn cầu. Kinh tế thế giới tăng trưởng chậm lại,
thị trường toàn cầu biến động và thu hẹp; các xu hướng mới về chuyển đổi số,
chuyển đổi xanh, công nghệ trí tuệ nhân tạo phát triển nhanh, tạo sức ép lớn đối
với các quốc gia đang phát triển phải cơ cấu lại mạnh mẽ hơn, nâng cao năng lực
cạnh tranh và khả năng thích ứng để không tụt hậu. Thiên tai, bão lũ, biến đổi
khí hậu diễn ra cực đoan và khó lường hơn, ảnh hưởng sâu rộng đến chuỗi cung ứng
và sản xuất, kinh doanh.
Trong nước, mặc dù ngay từ đầu
năm đã dự báo nhiều khó khăn, thách thức, nhưng phạm vi và mức độ tác động của
các diễn biến bất lợi từ bên ngoài và trong nước lớn hơn dự báo, nhất là thiên
tai liên tục vào những tháng cuối năm. Trong khi phải xử lý khối lượng công việc
thường xuyên lớn, các bộ, ngành, địa phương đồng thời triển khai nhiều quyết
sách quan trọng về cơ cấu lại nền kinh tế, hoàn thiện thể chế, phát triển khoa
học công nghệ, cải thiện môi trường đầu tư, thúc đẩy tăng trưởng. Đặc biệt, cả
nước thực hiện thành công cuộc cải cách hành chính quy mô lớn, sắp xếp đơn vị
hành chính cấp tỉnh, tổ chức bộ máy Chính quyền địa phương hai cấp đi vào vận
hành từ ngày 01/7/2025 là một nhiệm vụ mang tính lịch sử, có tác động sâu rộng tới
Chính quyền địa phương và không gian phát triển mới của các vùng, trong đó có Đồng
bằng sông Cửu Long (ĐBSCL).
Trước sắp xếp, sáp nhập đơn vị
hành chính cấp tỉnh, căn cứ Kết luận số 97-KL/TW ngày 05/10/2024 của Ban Chấp
hành Trung ương Đảng về kinh tế - xã hội năm 2024 - 2025; Kết luận số 123-KL/TW
ngày 24/01/2025 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về Đề án bổ sung về phát triển
kinh tế - xã hội năm 2025 với mục tiêu tăng trưởng đạt 8% trở lên; Nghị quyết số
158/2024/QH15 ngày 12/11/2024 của Quốc hội về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã
hội năm 2025; Nghị quyết số 192/2025/QH15 ngày 19/02/2025 của Quốc hội về bổ
sung Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2025 với mục tiêu tăng trưởng đạt
8% trở lên; Ủy ban nhân dân (UBND) thành phố/UBND tỉnh đã tham mưu đề xuất
Thành ủy/Tỉnh ủy lồng ghép vào Nghị quyết nhiệm vụ năm 2025, trình Hội đồng
nhân dân (HĐND) thành phố/ HĐND tỉnh thông qua nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã
hội năm 2025 tại kỳ họp thường lệ cuối năm 2024; giao chỉ tiêu Kế hoạch phát
triển kinh tế - xã hội năm 2025 kịp thời, đúng thời gian quy định.
Sau sắp xếp, sáp nhập, dựa trên
kết quả thực hiện các nhiệm vụ và kết quả tăng trưởng kinh tế thành phố 6 tháng
đầu năm 2025 do Cục Thống kê công bố, UBND thành phố tham mưu Đảng ủy UBND
thành phố đề xuất với Ban Thường vụ Thành ủy thống nhất kịch bản tăng trưởng
kinh tế 6 tháng cuối năm 2025 làm cơ sở để tổ chức thực hiện. Đồng thời, UBND
thành phố trình HĐND thành phố thông qua Nghị quyết số 164/NQ-HĐND ngày
31/7/2025 về nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc
phòng, an ninh 6 tháng cuối năm 2025.
Ngày 05/8/2025, Chính phủ ban
hành Nghị quyết số 226/NQ-CP về mục tiêu tăng trưởng các ngành, lĩnh vực, địa
phương và các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm để bảo đảm tăng trưởng cả nước năm 2025
đạt 8,3 - 8,5%; nhằm đảm bảo tính thống nhất trong triển khai thực hiện các nhiệm
vụ, giải pháp trong 6 tháng cuối năm 2025, UBND thành phố trình HĐND thành phố
thông qua Nghị quyết số 189/NQ-HĐND ngày 29/8/2025 sửa đổi, bổ sung Nghị quyết
số 164/NQ-HĐND ngày 31/7/2025 của HĐND thành phố về nhiệm vụ, giải pháp phát
triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh 6 tháng cuối năm 2025;
trong đó, phấn đấu hoàn thành kịch bản tăng trưởng kinh tế theo chỉ tiêu Chính
phủ giao (cả năm tăng từ 10,0% trở lên, 6 tháng cuối năm tăng 11,9% trở lên).
Thể chế hóa các Nghị quyết của
HĐND thành phố, UBND thành phố đã ban hành Kế hoạch số 34/KH-UBND ngày
19/8/2025 triển khai nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội, quốc
phòng, an ninh 6 tháng cuối năm 2025 đề ra cụ thể các nội dung công việc, nhiệm
vụ cho từng sở, ban ngành cần triển khai trong 6 tháng cuối năm 2025; Công văn
số 1114/UBND-TH ngày 09/9/2025 về triển khai thực hiện kết luận của Ban Thường
vụ Thành ủy tại cuộc họp ngày 22/8/2025, Nghị quyết số 189/NQ-HĐND của HĐND
thành phố và Kế hoạch số 34/KH-UBND của UBND thành phố giao cụ thể mức tăng trưởng
cho các ngành phấn đấu thực hiện theo từng quý, 9 tháng và cả năm. Bên cạnh đó,
UBND thành phố thường xuyên chỉ đạo, đôn đốc triển khai đồng bộ, toàn diện, hiệu
quả các nhiệm vụ, giải pháp thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của thành phố.
Cùng với đó là sự đồng thuận, ủng
hộ, tham gia tích cực của Nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp trên địa bàn là yếu
tố quyết định góp phần cho kinh tế - xã hội thành phố giữ được ổn định, từng bước
phục hồi ở nhiều lĩnh vực; đời sống người dân được quan tâm chăm lo; quốc
phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo; các nhiệm vụ lớn, phức tạp
trong năm được triển khai cơ bản đúng tiến độ, tạo nền tảng quan trọng cho giai
đoạn phát triển mới của thành phố Cần Thơ trong năm 2026 và giai đoạn tiếp
theo.
1. Ước kết
quả thực hiện các chỉ tiêu chủ yếu
1.1. Các chỉ tiêu kinh tế
(1) Tốc độ tăng tổng sản phẩm
trên địa bàn ước đạt 7,23%[1] (khu
vực nông, lâm nghiệp, thủy sản ước tăng 3,79%; khu vực công nghiệp - xây dựng ước
tăng 8,01% (trong đó: công nghiệp ước tăng 6,79%); khu vực dịch vụ ước tăng
8,79%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 4,99%) (Kế hoạch giao tốc độ
tăng tổng sản phẩm trên địa bàn 10%, tương ứng từng khu vực: 3,53%; 12,6%;
12,1% và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 6,5%).
Tổng sản phẩm trên địa bàn bình
quân đầu người ước đạt 94,94 triệu đồng/người/năm (Kế hoạch 96,9 triệu đồng/người/năm).
(2) Cơ cấu kinh tế: Nông, lâm
nghiệp, thủy sản chiếm 20,97%, công nghiệp - xây dựng chiếm 28,05%, dịch vụ chiếm
45,67% và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 5,31% (Kế hoạch tương ứng
từng khu vực: 20,95%; 28,37%; 45,36% và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm
5,32%).
(3) Tổng vốn đầu tư phát triển
toàn xã hội ước đạt 84.680 tỷ đồng, tăng 10,45% so với năm 2024 (Kế hoạch
tăng 15%).
(4) Tổng thu ngân sách Nhà nước
tăng 4,82% so với dự toán Bộ Tài chính giao. Phấn đấu thực hiện tỷ lệ giải ngân
vốn đầu tư công năm 2025 đạt 100% (Kế hoạch: Phấn đấu tổng thu ngân sách Nhà
nước tăng 20% so với dự toán. Tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công năm 2025 phấn đấu
đạt 100%).
(5) Tỷ lệ đô thị hóa đạt 47,6%[2] (Kế hoạch 50,31%).
(6) Thực hiện 1.397 căn nhà ở
xã hội[3] (Kế hoạch 1.397 căn).
1.2. Các chỉ tiêu xã hội
(7) Tỷ lệ học sinh đi học đúng
độ tuổi: Trẻ vào học mẫu giáo đạt 95%, bậc tiểu học đạt 99,5%, bậc trung học cơ
sở đạt 95%, có 75% học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở vào học trung học phổ
thông và giáo dục nghề nghiệp (Kế hoạch tương ứng từng cấp học 95%, 99,5%,
95%, ít nhất 75%).
(8) Tỷ lệ lao động qua đào tạo
đạt 73,67%[4] (Kế hoạch 73,67%).
(9) Giá trị năng suất lao động
đạt 182,93 triệu đồng/lao động (Kế hoạch: đạt tối thiểu từ 189 triệu đồng/lao
động trở lên).
(10) Tỷ lệ hộ nghèo giảm còn
0,59% (Kế hoạch: 0,63%).
(11) Tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế
đạt 95% (Kế hoạch: 95%).
(12) Duy trì và nâng chất xã đạt
chuẩn nông thôn mới nâng cao, kiểu mẫu (Kế hoạch: Duy trì và nâng chất xã đạt
chuẩn nông thôn mới nâng cao, kiểu mẫu).
1.3. Các chỉ tiêu môi trường
(13) Tỷ lệ hộ dân được cung cấp
nước sạch khu vực đô thị đạt 95% (Kế hoạch: 100%); tỷ lệ hộ dân nông
thôn được cung cấp nước sạch từ các nguồn theo quy chuẩn đạt 82,74% (Kế hoạch:
82,66%).
(14) Tỷ lệ thu gom, xử lý chất
thải rắn ở đô thị đạt 96,76%[5] (Kế
hoạch: 96,76%).
1.4. Chỉ tiêu quốc phòng, an
ninh
(15) Tỷ lệ xã, phường đạt tiêu
chuẩn an toàn về an ninh trật tự đạt 75% trở lên (Kế hoạch: 75% trở lên).
2. Kết quả
đạt được của các nhóm nhiệm vụ, giải pháp
2.1. Đẩy
mạnh việc rà soát, đề xuất bổ sung, hoàn thiện thể chế gắn với nâng cao hiệu lực,
hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật; tiếp tục tập trung cắt giảm, đơn giản hóa
thủ tục hành chính, quy định kinh doanh, tháo gỡ các điểm nghẽn, tạo thuận lợi
cho người dân và doanh nghiệp
a) Công tác xây dựng, hoàn thiện
thể chế, rà soát bổ sung, hoàn thiện các quy định pháp luật không còn phù hợp,
chồng chéo:
Công tác xây dựng, kiểm tra, rà
soát văn bản quy phạm pháp luật được thực hiện đúng quy định, trong năm đã thực
hiện kiểm tra 166 Quyết định quy phạm pháp luật do UBND thành phố ban hành. Kịp
thời cụ thể hóa, ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế, chính sách
thuộc thẩm quyền, cụ thể: HĐND, UBND thành phố Cần Thơ, tỉnh Sóc Trăng, tỉnh Hậu
Giang (trước ngày 01/7/2025) đã ban hành 193 văn bản quy phạm pháp luật (27 Nghị
quyết và 166 Quyết định); sau sắp xếp, đã chủ động tham mưu cơ quan có thẩm quyền
xử lý hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của thành phố Cần Thơ, tỉnh Sóc
Trăng, tỉnh Hậu Giang ban hành trước sáp nhập, đáp ứng yêu cầu thực hiện Chính
quyền hai cấp; kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn, bảo đảm
quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, tạo môi trường thuận lợi cho đầu tư, sản
xuất, kinh doanh, khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, phục hồi và phát triển kinh tế
- xã hội[6]. Qua rà soát đến thời
điểm hiện tại, tổng số văn bản quy phạm pháp luật của 03 địa phương (thành phố
Cần Thơ, tỉnh Sóc Trăng, tỉnh Hậu Giang cũ) ban hành còn hiệu lực khoảng 1.310
văn bản (481 Nghị quyết, 829 Quyết định). Hiện thành phố đang tiếp tục rà soát,
lập danh mục và đề xuất thời gian, hình thức xử lý cụ thể đối với từng văn bản;
đã xử lý xong 399 văn bản (135 Nghị quyết, 264 Quyết định).
Triển khai thực hiện đúng quy định
pháp luật về hộ tịch; giải quyết kịp thời các yêu cầu về quốc tịch cho công
dân. Vận hành Phần mềm hộ tịch điện tử, thực hiện liên thông 02 nhóm thủ tục
hành chính (lĩnh vực hộ tịch) trên địa bàn thành phố. Kết quả triển khai thực
hiện Đề án 06 của Chính phủ về phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh
và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm
nhìn đến năm 2030: Đến nay, đã hoàn thành các mục tiêu phục vụ 05 nhóm tiện ích
của Đề án 06; triển khai 31/44 mô hình điểm thúc đẩy Đề án 06 tại địa phương;
hoàn thành 21/21 chỉ tiêu làm sạch dữ liệu dân cư; thu nhận 139.222/141.360 hồ
sơ cấp đổi Thẻ đảng viên, đạt tỷ lệ 98,48%; tiếp nhận trực tuyến 15.336/18.537
hồ sơ cấp phiếu lý lịch tư pháp từ các nguồn trên VNeID, đạt tỷ lệ 83,9%; cấp
trên 3,4 triệu thẻ Căn cước/Căn cước công dân; thu nhận 16.367 hồ sơ định danh
tổ chức (đạt 94,76%); kích hoạt 2.472.719 tài khoản định danh điện tử mức 2, đạt
99,05%
Thực hiện công tác quản lý Nhà
nước về công tác luật sư và công tác tư vấn pháp luật theo quy định. Công tác
phổ biến, giáo dục pháp luật, hòa giải ở cơ sở; xây dựng xã, phường đạt chuẩn
tiếp cận pháp luật phục vụ tốt nhu cầu của cá nhân và tổ chức. Thực hiện tốt
công tác quản lý Nhà nước về công tác giám định tư pháp; đấu giá tài sản, trọng
tài thương mại, quản tài viên và hành nghề thanh lý tài sản, trợ giúp pháp lý,
thừa phát lại, hòa giải thương mại theo quy định. Tổ chức Hội nghị triển khai,
phổ biến các Luật, Nghị quyết được Quốc hội Khóa XV, Kỳ họp thứ 7, 8, 9 thông
qua. Triển khai đồng bộ, hiệu quả[7]
Chương trình số 02-CTr/TU ngày 26/9/2025 của Thành ủy về thực hiện Nghị quyết số
66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi
hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
b) Cải cách hành chính (CCHC):
Công tác CCHC tiếp tục được
quan tâm triển khai. UBND thành phố đã ban hành Kế hoạch CCHC, Kế hoạch tuyên
truyền CCHC, Kế hoạch kiểm tra công tác CCHC. Đến ngày 30/6/2025, thành phố
(sau sáp nhập) đã hoàn thành công bố, công khai danh mục thủ tục hành chính
(TTHC) áp dụng trên địa bàn; đóng giao diện Cổng dịch vụ công cấp tỉnh; đồng thời,
đã đồng bộ thông tin hồ sơ TTHC từ Hệ thống thông tin giải quyết TTHC cấp tỉnh
lên Cổng Dịch vụ công quốc gia; thực hiện kiểm thử lại toàn bộ dịch vụ công trực
tuyến cung cấp trên Cổng Dịch vụ công quốc gia… Qua rà soát, đến nay tổng số
TTHC thuộc thẩm quyền giải quyết tại địa phương là 2.685 thủ tục, gồm 2.089
TTHC cấp thành phố; 596 TTHC cấp xã. Thực hiện số hóa 100% hồ sơ, giấy tờ, kết
quả giải quyết thủ tục hành chính đang còn hiệu lực và có giá trị sử dụng thuộc
thẩm quyền giải quyết của thành phố, cấp xã. Có 100% thủ tục hành chính trên địa
bàn thành phố, có đủ điều kiện, được cung cấp trực tuyến toàn trình; trong đó
có 80% TTHC được tích hợp, cung cấp trên Cổng Dịch vụ công quốc gia. Tỷ lệ hồ
sơ giải quyết trực tuyến toàn trình trên tổng số hồ sơ đạt 50%. Hồ sơ thủ tục
hành chính các cơ quan, đơn vị được giải quyết đúng và trước hạn đạt trên 90%.
Triển khai thực hiện đảm bảo về
tiến độ Kế hoạch số 56/KH-UBND ngày 03/9/2025 của UBND thành phố về thực hiện
Nghị quyết số 66/NQ-CP ngày 26/3/2025 của Chính phủ về Chương trình cắt giảm,
đơn giản hóa thủ tục hành chính liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh
năm 2025 và 2026; kết quả đến cuối năm 2025, thành phố đã chủ động giảm ít nhất
30% thời gian giải quyết của các TTHC, 30% chi phí tuân thủ TTHC; 100% TTHC
liên quan đến doanh nghiệp được cung cấp, thực hiện trực tuyến, thông suốt, liền
mạch, hiệu quả, bảo đảm minh bạch, giảm tối đa giấy tờ; 100% TTHC được thực hiện
không phụ thuộc vào địa giới hành chính trong phạm vi thành phố; 100% TTHC nội
bộ giữa các cơ quan hành chính Nhà nước và trong từng cơ quan hành chính Nhà nước
được rà soát, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục, thời gian giải quyết, chi phí thực
hiện và sửa đổi, hoàn thiện để phù hợp với việc thực hiện tinh gọn, sắp xếp bộ
máy, đồng thời bảo đảm thông suốt, hiệu quả.
2.2. Ưu
tiên thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, hỗ trợ sản xuất kinh doanh, góp phần giữ vững
ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn
a) Về tăng trưởng kinh tế:
Tốc độ tăng tổng sản phẩm trên
địa bàn ước tăng 7,23%, thấp hơn 2,77 điểm phần trăm so với Nghị quyết số
226/NQ-CP ngày 05/8/2025 của Chính phủ và Nghị quyết của HĐND thành phố giao
(Nghị quyết số 164/NQ-HĐND ngày 31/7/2025; Nghị quyết số 189/NQ-HĐND ngày
29/8/2025); trong đó:
- Khu vực nông, lâm nghiệp, thủy
sản (KVI) ước tăng 3,79%; cao hơn 0,26 điểm phần trăm so với Nghị quyết HĐND
thành phố giao.
- Khu vực công nghiệp - xây dựng
(KVII) ước tăng 8,01%; thấp hơn 4,60 điểm phần trăm so với Nghị quyết HĐND
thành phố giao (trong đó công nghiệp ước tăng 6,79%; thấp hơn 5,39 điểm phần
trăm).
- Khu vực dịch vụ (KVIII) ước
tăng 8,79%; thấp hơn 3,34 điểm phần trăm so với Nghị quyết HĐND thành phố giao.
- Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản
phẩm ước tăng 4,99%; thấp hơn 1,45 điểm phần trăm so với Nghị quyết HĐND thành
phố giao.
Quy mô nền kinh tế cả năm 2025
ước đạt 306.170 tỷ đồng; GRDP bình quân đầu người ước đạt 94,94 triệu đồng/người/năm
(thấp hơn mục tiêu Nghị quyết HĐND thành phố giao khoảng 1,96 triệu đồng/người
và tăng 8,39 triệu đồng/người so với năm 2024). Thu nhập bình quân đầu người
trên tháng ước đạt 5,50 triệu đồng/người/tháng (tăng 0,45 triệu đồng/người so với
năm 2024). Giá trị năng suất lao động ước đạt 182,93 triệu đồng/lao động (thấp
hơn mục tiêu Nghị quyết HĐND thành phố giao khoảng 6,07 triệu đồng/lao động và
tăng 11,95 triệu đồng/ lao động so với năm 2024).
b) Thu, chi ngân sách:
Thu ngân sách Nhà nước trên địa
bàn ước thực hiện đạt 25.947 tỷ đồng, vượt 4,82% dự toán Trung ương giao, hụt
3,48% dự toán HĐND thành phố giao; trong đó, thu nội địa 25.130 tỷ đồng, vượt
4,98% dự toán Trung ương giao, hụt 1,45% dự toán HĐND thành phố giao; thu từ hoạt
động xuất, nhập khẩu ước thực hiện 817 tỷ đồng, vượt 0,07% dự toán Trung ương
giao và hụt 40,83% dự toán HĐND thành phố giao. Các chính sách miễn, giảm thuế
đã hỗ trợ, tạo nguồn lực cho cá nhân, tổ chức khôi phục và tái đầu tư, sản xuất
kinh doanh tuy nhiên cũng tác động giảm nguồn thu ngân sách Nhà nước trên địa
bàn thành phố trong năm 2025 khoảng 1.680 tỷ đồng.
Tổng chi ngân sách địa phương ước
thực hiện năm 2025 đạt 73.372 tỷ đồng, đạt 94,28% dự toán HĐND thành phố giao.
Trong đó, tổng chi đầu tư phát triển là 28.959 tỷ đồng, đạt 96,02% dự toán HĐND
thành phố giao và chi thường xuyên là 22.981 tỷ đồng, đạt 91,78% dự toán HĐND
thành phố giao.
c) Về giá cả thị trường:
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình
quân 11 tháng năm 2025[8] tăng 3%,
cả năm ước duy trì dưới 4%, thấp hơn mục tiêu đề ra[9]. Tình hình thị trường cơ bản ổn định, không xảy ra hiện
tượng thiếu hàng, sốt hàng, tăng giá đột biến. Lượng hàng hóa trên thị trường
tương đối dồi dào, đáp ứng đầy đủ nhu cầu tiêu dùng của người dân trên địa bàn.
Tình hình nguồn cung khan hiếm do ảnh hưởng bởi thiên tai, đồng thời chi phí đầu
vào tăng cao đã tác động mạnh đến giá cả mặt hàng rau, củ, quả; dự báo giá cả mặt
hàng, rau củ quả trên thị trường vẫn còn giữ ở mức cao vào thời điểm cuối năm.
Giá vàng và giá đô la Mỹ biến động do ảnh hưởng của thị trường thế giới. UBND
thành phố đã ban hành Quyết định số 2198/QĐ-UBND ngày 04/11/2025 ban hành
Chương trình bình ổn thị trường các mặt hàng thiết yếu, thúc đẩy hoạt động
thương mại năm 2025, Tết Nguyên đán năm 2026 trên địa bàn thành phố Cần Thơ[10].
Công tác quản lý thị trường được
chủ động triển khai nhiều giải pháp nhằm đấu tranh chống buôn lậu, gian lận
thương mại và hàng giả trên địa bàn, mở các đợt cao điểm ngăn chặn hành vi vi
phạm và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ; tăng cường kiểm tra đối với nhiều mặt
hàng, đặc biệt là thực phẩm, dược phẩm, thuốc lá và xăng dầu, kết quả có 490 vụ
kiểm tra, vi phạm 401 vụ, xử lý 419 vụ[11].
d) Về xuất khẩu:
Hoạt động xuất khẩu duy trì đà
tăng trưởng tích cực với các mặt hàng xuất khẩu chủ lực như thủy sản, gạo, nông
sản, dệt may…; Thành phố tổ chức nhiều hội nghị kết nối cung - cầu, giao thương
quốc tế, hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu tham gia hội chợ, xúc tiến thương mại điện
tử xuyên biên giới; làm việc với các đối tác, các tập đoàn phân phối quốc tế để
mở rộng thị trường và thúc đẩy hợp tác xuất khẩu với các thị trường chủ lực
như: Trung Quốc, Singapore, Malaysia, Hàn Quốc, Đức, Australia… Thành phố chủ động
đánh giá tác động chính sách thuế đối ứng từ thị trường Hoa Kỳ, hướng dẫn doanh
nghiệp ứng phó và kiến nghị cấp thẩm quyền tháo gỡ khó khăn. Kim ngạch xuất khẩu,
dịch vụ và thu ngoại tệ ước đạt 5.508 triệu USD, đạt kế hoạch năm và tăng 10,8%
so với năm 2024. Kim ngạch nhập khẩu ước đạt 1.313 triệu USD, tăng 17,1% so với
năm 2024; hàng hóa nhập khẩu của thành phố chủ yếu là hàng hóa phục vụ loại
hình gia công, sản xuất xuất khẩu, chế xuất…
đ) Huy động các nguồn lực:
Tổng số vốn đầu tư toàn xã hội
ước năm 2025 đạt 84.680 tỷ đồng, tăng từ 10,45% so với năm 2024; trong đó, vốn
Nhà nước đạt 33.980 tỷ đồng, chiếm 40,12% trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội,
tăng 6,74%; vốn ngoài Nhà nước đạt 48.750 tỷ đồng, chiếm 57,57%, tăng 13,32%; vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 1.950 tỷ đồng, chiếm 2,30%, tăng 7,61%.
Tổng số vốn kế hoạch đầu tư
công năm 2025 của thành phố được Thủ tướng Chính phủ giao là 28.958.933 triệu đồng.
Ước giá trị giải ngân đến hết niên độ ngân sách năm 2025 đạt 100% kế hoạch vốn
Thủ tướng Chính phủ giao, đạt 96,02% kế hoạch HĐND thành phố giao.
Đăng ký kinh doanh: Năm 2025,
có 4.500 doanh nghiệp đăng ký mới, với tổng vốn đăng ký là 26.280 tỷ đồng, tăng
32,76% về số lượng doanh nghiệp và giảm 3,16% về vốn so cùng kỳ. Số lượng doanh
nghiệp giải thể tự nguyện 450 doanh nghiệp các loại hình, tăng 30% về số lượng
doanh nghiệp so với cùng kỳ; 800 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng
23,12% về số lượng doanh nghiệp so với cùng kỳ, có 1.440 doanh nghiệp đăng ký tạm
ngừng kinh doanh, tăng 7,5% so với cùng kỳ. Lũy kế toàn thành phố có khoảng
25.000 doanh nghiệp đang hoạt động. Ước hồ sơ đăng ký qua mạng đạt tỷ lệ 90%.
Thu hút đầu tư ngoài ngân sách[12]: Trong năm 2025, thành phố thu
hút 22 dự án đầu tư mới; trong đó, có 01 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài
(FDI)[13] với vốn đầu tư 100 triệu
USD và 21 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đầu tư đăng ký là 20.215,636 tỷ
đồng[14]. Hiện nay, trên địa bàn
thành phố có 124 dự án FDI, tổng vốn đầu tư đăng ký khoảng 7.451,8 triệu USD
(trong khu công nghiệp 46 dự án; ngoài khu công nghiệp 78 dự án); có 1.031 dự
án đầu tư trong nước được cấp đăng ký đầu tư với tổng vốn đầu tư hơn 451.542,23
tỷ đồng[15].
Kinh tế tập thể: Năm 2025,
thành phố đã ban hành nhiều giải pháp nhằm tạo điều kiện cho các hợp tác xã
(HTX) tham gia các chương trình dự án hỗ trợ HTX về vốn, công nghệ, thị trường,
đào tạo nhân lực; từng bước hình thành mô hình HTX hoạt động hiệu quả, góp phần
xây dựng chuỗi sản xuất - tiêu thụ bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu và
có tính nhân rộng cao, giúp cho thành viên có đầu ra ổn định thông qua các hợp
đồng liên kết với các doanh nghiệp, nhà máy chế biến, công ty, siêu thị. Ước
năm 2025, thành lập mới 48 HTX, giải thể 21 HTX; lũy kế đến nay thành phố có
735 HTX đang hoạt động, 155 HTX tạm ngừng và ngừng hoạt động. Doanh thu bình
quân của HTX: 6,19 tỷ đồng/năm (tăng 846 triệu đồng với năm 2024); có 51.050
thành viên, tổng số lao trong động trong HTX là 36.274 người, trong đó có
10.360 lao động là thành viên HTX. Thành lập mới 02 liên hiệp HTX, nâng tổng số
thành phố có 08 liên hiệp HTX. Toàn thành phố hiện có có 3.760 tổ hợp tác,
trong đó có 3.600 tổ hợp tác hoạt động trong lĩnh vực nông, lâm, ngư - diêm
nghiệp.
e) Hoạt động ngân hàng:
Chấp hành tốt các quy định về
tín dụng, lãi suất, tỷ giá, ngoại hối, bảo đảm hoạt động ngân ngân hàng ổn định
và an toàn. Mặt bằng lãi suất huy động và cho vay ổn định so với thời điểm cuối
năm 2024. Ước cuối năm 2025, dư nợ toàn địa bàn đạt 335.000 tỷ đồng, tăng 16%
so với năm 2024. Mạng lưới ngân hàng tiếp tục được mở rộng và hoạt động ổn định,
toàn thành phố có 105 tổ chức tín dụng (20 Quỹ tín dụng nhân dân), 30 chi nhánh
cấp 2, các điểm giao dịch phân phối đều ở các xã, phường trong thành phố tạo điều
kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế và người dân tiếp cận dịch vụ ngân
hàng.
2.3. Đẩy
mạnh phân cấp, phân quyền trong quản lý Nhà nước, nâng cao trách nhiệm người đứng
đầu; thực hiện tốt hơn nữa công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực,
lợi ích nhóm; siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính gắn với kiểm tra, giám
sát, kiểm soát quyền lực và phân bổ nguồn lực, nâng cao năng lực thực thi
a) Công tác phân cấp, phân quyền
giữa các cấp Chính quyền được đẩy mạnh, nhất là trong lĩnh vực đầu tư, quy hoạch,
quản lý đất đai, tài chính - ngân sách, bảo vệ môi trường, giao thông. Sau sáp
nhập đơn vị hành chính cấp tỉnh, vận hành Chính quyền địa phương hai cấp, UBND
thành phố đã chỉ đạo cơ quan chuyên môn và UBND xã, phường nghiêm túc quán triệt,
triển khai thực hiện đầy đủ các quy định pháp luật về phân cấp, phân quyền,
phân định thẩm quyền; chủ động rà soát, đánh giá khả năng thực hiện tại cơ
quan, đơn vị, địa phương mình để kịp thời đề xuất điều chỉnh, hướng dẫn, sửa đổi
hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản mới phù hợp với yêu cầu,
lộ trình và tình hình thực tiễn. UBND thành phố đã trình HĐND thành phố thông
qua việc thành lập 14 cơ quan chuyên môn; tham mưu trình Thủ tướng Chính phủ
quyết định thành lập Ban Quản lý các khu chế xuất và công nghiệp Cần Thơ[16]; hiện tại, thành phố Cần Thơ có
14 cơ quan chuyên môn[17] và 01 tổ
chức hành chính[18]. Chính quyền
địa phương xã, phường đã hoàn thành việc thành lập 299 phòng chuyên môn cấp xã
và 103 Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp xã. 100% cơ quan cấp thành phố và
cấp xã đã ban hành quy định chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức. Thành phố hiện
có 1.440 đơn vị sự nghiệp công lập (354 đơn vị sự nghiệp công lập cấp thành phố,
1.086 đơn vị sự nghiệp công lập cấp xã); UBND thành phố đã ban hành Phương án sắp
xếp cơ cấu tổ chức bên trong các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập
và doanh nghiệp Nhà nước trên địa bàn thành phố Cần Thơ.
Đồng thời, khẩn trương triển
khai các quy định, hướng dẫn của Trung ương về xây dựng Đề án vị trí việc làm
công chức, viên chức; cơ cấu ngạch công chức, cơ cấu viên chức theo chức danh
nghề nghiệp trong cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp công lập sau sắp xếp,
sáp nhập. Thực hiện giao biên chế, phê duyệt số lượng người làm việc năm 2025[19] với tổng số là 62.355[20]. Triển khai Nghị định số
154/2025/NĐ-CP ngày 15/6/2025 của Chính phủ quy định về tinh giản biên chế,
UBND thành phố đã ban hành Công văn số 3015/UBND-NC ngày 26/6/2025 để triển
khai, thực hiện; đã tiếp nhận là 1.241 trường hợp (trong đó, đã phê duyệt đối với
857 trường hợp)[21]. Thực hiện điều
động 968 công chức từ sở ngành, quận huyện (cũ) về cơ quan, đơn vị mới do sắp xếp
đơn vị hành chính, tổ chức bộ máy Chính quyền địa phương hai cấp. Bố trí 480
cán bộ, công chức, viên chức có trình độ, năng lực thuộc cấp thành phố về xã,
phường công tác tại các vị trí đang khuyết, đang thiếu để giúp các xã, phường
hoạt động thông suốt, hiệu lực, hiệu quả. Kiện toàn và bố trí đủ 100% số lượng
Phó Chủ tịch HĐND, Phó Chủ tịch UBND xã, phường, trong đó: 103/103 Phó Chủ tịch
HĐND, 207/207 Phó Chủ tịch UBND (có 01 xã không thành lập Phòng chuyên môn thuộc
UBND xã nên được bố trí 03 Phó Chủ tịch UBND xã).
Thực hiện Nghị định số
178/2024/NĐ-CP và 67/2025/NĐ-CP của Chính phủ, thành phố đã ban hành Hướng dẫn
số 01/HD-UBND về tiêu chí đánh giá, rà soát đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức;
kết quả đến nay, đã giải quyết nghỉ việc cho 2.719 trường hợp theo chính sách,
chế độ quy định. Triển khai Nghị quyết của HĐND thành phố quy định chế độ hỗ trợ
đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động sau khi sắp xếp đơn vị
hành chính với mức 5.000.000 đồng/người/tháng, bao gồm: chi phí xăng xe đi lại;
hỗ trợ tiền ăn; hỗ trợ tiền thuê chỗ nghỉ.
b) Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo
tăng cường, nâng cao hiệu quả công tác thanh tra. Trong kỳ báo cáo, đã triển
khai 335 cuộc thanh tra, kiểm tra (trong đó có 77 cuộc thanh tra hành chính và
258 cuộc thanh tra, kiểm tra chuyên ngành). Qua thanh tra, kiến nghị sửa đổi, bổ
sung, hoàn thiện nhiều quy định, cơ chế, chính sách pháp luật trên nhiều lĩnh vực,
phát hiện vi phạm 10,55 tỷ đồng, kiến nghị thu hồi 5,46 tỷ đồng; kiến nghị xử
lý khác 5,09 tỷ đồng; kiến nghị kiểm điểm trách nhiệm đối với 15 tập thể, 143
cá nhân và chuyển cơ quan điều tra 02 vụ; ban hành 107 quyết định xử phạt vi phạm
hành chính với số tiền 11,3 tỷ đồng, đã thu nộp ngân sách Nhà nước 11,1 tỷ đồng.
Công tác tiếp công dân, xử lý
đơn thư, giải quyết khiếu nại, tố cáo luôn được các cấp, các ngành tập trung
quan tâm, chỉ đạo thực hiện theo quy định, chú trọng phối hợp giải quyết dứt điểm,
kịp thời, đúng pháp luật các vụ việc khiếu nại, tố cáo. Các cơ quan hành chính
đã tiếp 4.536 lượt với 4.868 người (có 15 lượt đoàn đông người); tiếp nhận và xử
lý kịp thời đơn thư; cấp có thẩm quyền đã thụ lý 2.395 vụ việc khiếu nại, tố
cáo, kiến nghị, phản ánh và đã giải quyết 2.069/2.395 vụ, đạt 86,38%; các vụ việc
khiếu nại, tố cáo, phức tạp kéo dài được tập trung xem xét, chỉ đạo giải quyết
dứt điểm, tránh phát sinh điểm nóng, gây bức xúc, dư luận trong dân.
Công tác phòng, chống tham
nhũng, lãng phí, tiêu cực được quan tâm chỉ đạo, triển khai thực hiện có trọng
tâm, trọng điểm, đặc biệt đã quán triệt thực hiện đồng bộ, có hiệu quả các giải
pháp phòng, ngừa tham nhũng, lãng phí, tiêu cực với sự tham gia của cả hệ thống
chính trị, phù hợp với điều kiện thực tế của cơ quan, tổ chức, địa phương; từng
bước ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, góp phần giữ vững kỷ
cương hành chính, ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn
thành phố. Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về phòng, chống
tham nhũng, lãng phí, tiêu cực được quan tâm triển khai thực hiện tích cực bằng
nhiều kênh thông tin, với nhiều hình thức phong phú. Kết quả đã tổ chức 683 lớp/cuộc
với 31.050 lượt cán bộ, công chức viên chức, người lao động và Nhân dân tham
gia; tuyên truyền qua Đài Truyền thanh 1.407 lượt với tổng thời lượng 9.971
phút.
2.4. Đẩy
nhanh tiến độ xây dựng kết cấu hạ tầng chiến lược đồng bộ, nhất là các công
trình, dự án hạ tầng cấp bách, trọng điểm
Tiếp tục phát huy hiệu quả hoạt
động của các Ban chỉ đạo các công trình, dự án trọng điểm, các Tổ công tác của
Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ để kiểm tra, đôn đốc, kịp thời
tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ các công trình hạ tầng trọng điểm,
dự án quan trọng quốc gia, hạ tầng đô thị lớn. Phối hợp với Trung ương cơ bản
hoàn thành Dự án thành phần đoạn Cần Thơ - Hậu Giang và Dự án thành phần đoạn Hậu
Giang - Cà Mau thuộc Dự án xây dựng công trình đường bộ cao tốc Bắc - Nam phía
Đông; chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ Dự án thành phần 2; Dự án thành phần 3; Dự án
thành phần 4 thuộc Dự án đầu tư xây dựng đường bộ cao tốc Châu Đốc - Cần Thơ -
Sóc Trăng giai đoạn 1 (đã bàn giao mặt bằng cho đơn vị thi công đạt tỷ lệ 100%;
khối lượng thi công đạt 47,2%; hoàn thành 100% các khu tái định cư và bàn giao
cho địa phương để bố trí cho người dân; tổ chức di dời xong các công trình hạ tầng
kỹ thuật); cơ bản hoàn thành tuyến đường trục phát triển kinh tế Đông Tây tỉnh
Sóc Trăng (khối lượng thi công đạt 98%). Hệ thống hạ tầng văn hóa, y tế, giáo dục,
thủy lợi... tiếp tục được cải thiện, đảm bảo về tiến độ thực hiện. Thành phố
đăng ký 02 công trình khởi công chào mừng kỷ niệm 80 năm Ngày Cách mạng tháng
Tám thành công và Quốc khánh; dự kiến khởi công, khánh thành 18 công trình chào
mừng Đại hội Đại biểu Đảng bộ thành phố Cần Thơ lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 -
2030; 07 công trình chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng
(gồm vốn ngân sách Nhà nước, vốn đầu tư tư nhân).
UBND thành phố đã kiến nghị Thủ
tướng Chính phủ xem xét, chấp thuận triển khai thủ tục đầu tư, nâng cấp các hạng
mục Cảng hàng không quốc tế Cần Thơ theo Quy hoạch. Theo đó, UBND thành phố tiếp
tục chỉ đạo các cơ quan chuyên môn phối hợp với Cục Hàng không Việt Nam rà soát
Quy hoạch, đảm bảo phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội của thành
phố và khu vực, làm cơ sở đầu tư. Về đầu tư phát triển, đối với đường cất hạ
cánh và đường lăn: trong kế hoạch đầu tư công trung hạn 2026 - 2030, Bộ Xây dựng
đã đề xuất nhu cầu khoảng 2.661 tỷ đồng cho Cảng hàng không quốc tế Cần Thơ để
cải tạo đường cất hạ cánh hiện hữu, xây dựng đường lăn song song, hệ thống đường
lăn nối đồng bộ để nâng cao năng lực khai thác. Trên cơ sở nguồn vốn được Quốc
hội, Chính phủ phân bổ, Bộ Xây dựng sẽ quyết định danh mục các dự án đầu tư
giai đoạn 2026 - 2030 phù hợp với nguồn vốn và tiêu chí được cấp có thẩm quyền
quyết định. Doanh nghiệp cảng hàng không có trách nhiệm đầu tư các hạ tầng thiết
yếu còn lại.
Thúc đẩy phát triển hạ tầng số
trên 04 thành phần chính gồm : Hạ tầng viễn thông và Internet; Hạ tầng dữ liệu;
Hạ tầng vật lý - số; Hạ tầng tiện ích số và Công nghệ số. Các doanh nghiệp viễn
thông trên địa bàn đã mở rộng vùng phủ sóng đến nông thôn, nâng cao năng lực
cung cấp dịch vụ; tổng số có 3.774.110 thuê bao di động, 70.913 thuê bao cố định,
3.220.558 thuê bao internet, với 82,95% hộ gia đình kết nối cáp quang. Tỷ lệ phủ
sóng 3G, 4G đạt 100%, 5G đạt 25%; mạng băng rộng phủ 100% xã, phường, cơ sở
giáo dục và y tế. Hạ tầng viễn thông gồm 5.839 trạm BTS, trong đó 912 trạm 5G.
Mạng bưu chính thành phố có 608 điểm phục vụ, đảm bảo mỗi xã, phường tối thiểu
một điểm, phục vụ cả khu vực thành thị và nông thôn, 100% điểm có kết nối
internet băng rộng, bán kính phục vụ là 2,07 km/điểm. Khu công nghệ thông tin tập
trung Cần Thơ đã giải phóng mặt bằng được 5,3 ha (đạt khoảng 26%) và đang hoàn
tất thủ tục điều chỉnh quy hoạch chi tiết 1/500 để triển khai xây dựng hạ tầng
giai đoạn tiếp theo. Khu Công nghệ số tỉnh Hậu Giang (28,5 ha, tổng mức đầu tư
450 tỷ đồng) đã hoàn thành 3 khối nhà phục vụ điều hành, đào tạo, ươm tạo doanh
nghiệp và văn phòng doanh nghiệp BPO, có 09 doanh nghiệp đăng ký hoạt động.
2.5. Tập
trung thực hiện cơ cấu lại các ngành, lĩnh vực và trong nội ngành gắn với đổi mới
mô hình tăng trưởng theo hướng tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ, đẩy mạnh
đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh,
tính tự chủ, khả năng thích ứng và sức chống chịu của nền kinh tế
a) Cơ cấu kinh tế:
Khu vực nông, lâm nghiệp, thủy
sản chiếm 20,97%; Khu vực công nghiệp - xây dựng chiếm 28,05%; Khu vực dịch vụ
chiếm 45,67% và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 5,31% (Cơ cấu kinh tế
năm 2024 tương ứng là 22,36%; 27,78%; 44,41%; 5,45%).
b) Sản xuất công nghiệp - xây dựng:
Sản xuất công nghiệp tiếp tục
đà phục hồi tích cực, nhất là trong lĩnh vực chế biến, chế tạo với một số ngành
chủ lực như: chế biến lương thực, thực phẩm, sản xuất hàng tiêu dùng, dược phẩm,
vật liệu xây dựng... Ước cả năm, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 10% so với
năm 2024.
Sản lượng điện thương phẩm năm
2025 ước đạt 6,383 tỷ kWh, tăng 3,23% so với cùng kỳ và đạt 100,32% so với kế
hoạch (6,363 tỷ kWh). Sản lượng điện tiết kiệm năm 2025 ước đạt 155,8 triệu
kWh, tăng 2,85% so với năm 2024, tương ứng tiết kiệm 2,44% sản lượng điện
thương phẩm.
Lĩnh vực xây dựng: thành phố
triển khai nhiều công trình, dự án lớn thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước và vốn
ngoài Nhà nước: Tuyến cao tốc Châu Đốc - Cần Thơ - Sóc Trăng giai đoạn 1, đoạn
qua địa bàn thành phố Cần Thơ, đang được tập trung thi công, đẩy nhanh tiến độ,
sớm hoàn thành tuyến cao tốc trục ngang quan trọng của vùng đồng bằng sông Cửu
Long (ĐBSCL); 02 công trình khởi công chào mừng kỷ niệm 80 năm Ngày Cách mạng
tháng Tám thành công và Quốc khánh; 18 công trình dự kiến khởi công, khánh
thành chào mừng Đại hội Đại biểu Đảng bộ thành phố Cần Thơ lần thứ I, nhiệm kỳ
2025 - 2030. Bên cạnh đó, nhiều công trình nâng cấp các tuyến đường giao thông,
xây dựng nhà máy, trụ sở làm việc, khách sạn, sửa chữa trường học đã hoàn thành
và đưa vào sử dụng.
c) Lĩnh vực thương mại - dịch vụ:
Hoạt động thương mại và dịch vụ
trên địa bàn tiếp tục duy trì tăng trưởng ổn định, hầu hết doanh thu của các
lĩnh vực đều tăng so với cùng kỳ năm 2024.
Các doanh nghiệp kinh doanh
thương mại tổ chức nhiều chương trình kích cầu tiêu dùng, hàng hóa tại các chợ
truyền thống, siêu thị, trung tâm thương mại và chuỗi cửa hàng tiện ích phong
phú, đa dạng, đáp ứng đầy đủ nhu cầu tiêu dùng của người dân. Giá cả thị trường
được kiểm soát tốt, không xảy ra tình trạng đầu cơ, găm hàng hay tăng giá bất hợp
lý; các cơ sở kinh doanh thực hiện nghiêm quy định về niêm yết và bán hàng theo
giá niêm yết. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ năm 2025 thực hiện
được 360.072 tỷ đồng, đạt kế hoạch năm và tăng 20,02% so với năm 2024.
Hoạt động xuất khẩu duy trì đà
tăng trưởng tích cực với các mặt hàng xuất khẩu chủ lực như thủy sản, gạo, nông
sản, dệt may…; kim ngạch xuất khẩu, dịch vụ và thu ngoại tệ ước đạt 5.508 triệu
USD, đạt kế hoạch năm và tăng 10,8% so với năm 2024. Kim ngạch nhập khẩu ước đạt
1.313 triệu USD, tăng 17,1% so với năm 2024; hàng hóa nhập khẩu của thành phố
chủ yếu là hàng hóa phục vụ loại hình gia công, sản xuất xuất khẩu, chế xuất…
Hoạt động du lịch: Tổ chức các
hoạt động tạo điểm nhấn, xúc tiến, quảng bá du lịch, thu hút khách du lịch đến
thành phố[22]. Ước năm 2025,
thành phố đón gần 11 triệu lượt khách, đạt kế hoạch năm và tăng 16% so với năm
2024; trong đó, khách lưu trú ước đạt hơn 4,9 triệu lượt khách (430.000 nghìn
lượt khách quốc tế), tăng khoảng 23%; doanh thu đạt 9.979 tỷ đồng, tăng khoảng
20% so với năm 2024.
d) Lĩnh vực nông nghiệp:
Tổng diện tích gieo trồng lúa
718.461 ha, vượt 0,97% kế hoạch, giảm 1,01% so với cùng kỳ. Sản lượng 4.710.308
tấn, vượt 0,81% kế hoạch, tăng 0,44% so với cùng kỳ; các giống lúa đặc sản,
thơm (ST, Đài thơm 8, RVT,…) chiếm gần 40%, chất lượng cao (Giống OM5451, OM18,
OM380,...) chiếm gần 60%, chất lượng trung bình (IR50404) chiếm tỷ lệ 1%. Diện
tích cây ăn trái toàn thành phố đạt 102.194 ha với một số loại chủ lực như cam,
xoài, mãng cầu, sầu riêng, vú sữa...; sản lượng thu hoạch đạt 1.154.000 tấn, đạt
100% kế hoạch, tăng 8,66% so với cùng kỳ.
Triển khai Kế hoạch thực hiện
Chiến lược phát triển trồng trọt đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050; Kế hoạch
thực hiện Đề án “Phát triển bền vững một triệu héc-ta chuyên canh lúa chất lượng
cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng ĐBSCL đến năm 2030” trên địa
bàn thành phố; đã chuyển đổi đất canh tác kém hiệu quả sang trồng rau, cây ăn
quả, cây công nghiệp lâu năm, nuôi trồng thủy sản có hiệu quả kinh tế cao hơn với
diện tích 5.169 ha[23]; hình
thành vùng sản xuất tập trung với diện tích cánh đồng lúa lớn 84.819 ha[24], cây ăn trái trên 40.000
ha/500.000 tấn[25], rau màu trên
10.000 ha/160.000 tấn[26]; hỗ trợ
xây dựng và kiểm tra, giám sát mã số vùng trồng trên lúa, cây ăn trái, rau màu
với 601 mã số vùng trồng với tổng diện tích 9.835 ha[27]; 26 mã số cơ sở đóng gói với 16 doanh nghiệp tham gia[28]; khuyến khích phát triển nông
nghiệp sạch, nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp tuần hoàn,… Đến nay, hộ nông dân
trồng lúa, rau màu, cây ăn trái được hướng dẫn đạt chứng nhận sản xuất theo quy
trình VietGAP, GlobalGAP với diện tích 3.897 ha/2.730 hộ[29]; nông dân sản xuất lúa hữu cơ với diện tích 20.759 ha.
Tình hình chăn nuôi gia súc,
gia cầm ổn định với số lượng tổng đàn và sản lượng xuất chuồng. Tổng đàn chăn
nuôi gia súc, gia cầm 16.674.353 con, đạt 100% kế hoạch[30]; sản lượng thịt hơi các loại 171.304 tấn[31], đạt 100% kế hoạch, tăng 8,49%
so với cùng kỳ. Thành phố hiện có 1.110 trang trại chăn nuôi gia súc, gia cầm[32] và khoảng 90.000 nông hộ chăn
nuôi gia súc, gia cầm; 35 cơ sở chăn nuôi theo tiêu chuẩn VietGAHP[33]; 35 cơ sở/vùng (cấp xã) chăn
nuôi được chứng nhận an toàn dịch bệnh còn hiệu lực[34]. Phát triển chuỗi liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm
chăn nuôi với 04 chuỗi[35]; 30
trang trại chăn nuôi heo, gia cầm quy mô lớn[36]. Dịch bệnh xảy ra ở diện hẹp, được kịp thời phát hiện,
khoanh vùng xử lý, không để lây lan, công tác giám sát được thực hiện chặt chẽ[37].
Diện tích nuôi 97.078 ha, vượt
0,6% kế hoạch, tăng 0,51% so với cùng kỳ. Tổng sản lượng thủy, hải sản đạt
782.958 tấn[38], đạt 100% kế hoạch,
tăng 2,81% so với cùng kỳ (sản lượng nuôi một số loại chủ yếu như cá tra
250.000 tấn, tôm thẻ chân trắng 205.200 tấn, tôm sú 24.500 tấn, ca thát lát
13.500 tấn). Chú trọng quy hoạch vùng nuôi, trồng thủy sản, chú trọng phát triển
nuôi các đối tượng chủ lực tôm nước lợ, cá tra, cá rô phi, cá thát lát, từng bước
áp dụng các mô hình nuôi công nghệ cao, nuôi tuần hoàn nước, kiểm soát môi trường
tự động, cá lồng bè trên sông kết hợp du lịch sinh thái.
2.6. Chú
trọng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với đẩy mạnh nghiên cứu khoa
học, phát triển và ứng dụng công nghệ, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp
a) Giáo dục - đào tạo:
Triển khai thực hiện tốt Chương
trình, đề án, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện; giáo dục mầm non
tiếp tục được củng cố, 100% cơ sở thực hiện tốt chương trình và chuyên đề “Lấy
trẻ làm trung tâm”, đảm bảo an toàn, dinh dưỡng, sức khỏe cho trẻ; đội ngũ giáo
viên, cán bộ quản lý được bồi dưỡng, nâng cao năng lực chuyên môn. Giáo dục phổ
thông triển khai đồng bộ Chương trình giáo dục phổ thông mới, đẩy mạnh giáo dục
STEM, kỹ năng công dân số, ngoại ngữ; tăng cường kiểm tra, chấn chỉnh dạy thêm,
học thêm; phối hợp nhiều tổ chức quốc tế hỗ trợ hoạt động giáo dục và thư viện
thân thiện; công tác lựa chọn sách giáo khoa, bồi dưỡng giáo viên được thực hiện
nghiêm túc. Giáo dục thường xuyên đẩy mạnh triển khai chương trình “Đơn vị học
tập”, “Cộng đồng học tập”, “Công dân học tập”, góp phần hoàn thành các mục tiêu
của Phong trào thi đua về công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học
tập. Tổng số trường đạt chuẩn quốc gia còn thời hạn 05 năm[39] là 743/1.149 trường, đạt 64,66%; trong đó: mầm non
263/334 trường, đạt 78,70%; tiểu học: 287/486 trường, đạt 59,05%; trung học cơ
sở: 151/238 trường, đạt 63,45%; trung học phổ thông: 42/91 trường, đạt 46,15%.
Tổ chức thành công các kỳ thi,
hội thi; trong đó, Kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2025 của toàn
thành phố đạt 30.872/31.083 học sinh, tỷ lệ tốt nghiệp đạt 99,32%; Kỳ thi chọn
học sinh giỏi quốc gia trung học phổ thông năm học 2024 - 2025 đoạt 112 giải
(01 giải Nhất, 08 giải Nhì, 32 giải Ba và 71 giải Khuyến khích); Cuộc thi Khoa
học kỹ thuật cấp quốc gia học sinh trung học năm học 2024 - 2025 đoạt 01 giải
Khuyến khích, 01 giải Tư và 01 giải triển vọng; 20 học sinh đoạt giải tại Cuộc
thi Toán Trí tuệ PAMA quốc tế năm 2025; Kỳ thi Đình cấp quốc gia “Trạng nguyên
tiếng Việt” năm 2025 đoạt 01 giải Nhất, 03 giải Ba và 08 giải Khuyến khích;
Ngày hội khởi nghiệp Quốc gia của học sinh, sinh viên lần thứ VII năm 2025 đạt
giải Ba và 01 tập thể, 01 cá nhân được tặng Bằng khen Bộ Giáo dục và Đào tạo
giai đoạn 2017 - 2025; Cuộc thi “Bác Hồ với thiếu nhi - Thiếu nhi với Bác Hồ”
năm 2025 do Hội đồng Đội Trung ương tổ chức đoạt 01 giải Nhì; 01 giải Nhì, 02
giải Tư; Cuộc thi “Ngôi nhà mơ ước” 2025 do Hội Bảo vệ quyền trẻ em Việt Nam tổ
chức đạt 21 giải triển vọng; tham gia Trại hè Phương Nam lần thứ VIII năm 2025
(tại tỉnh Tây Ninh) đoạt 64 giải (08 huy chương vàng, 23 huy chương bạc, 33 huy
chương đồng).
Giáo dục nghề nghiệp đạt kết quả
tích cực, tuyển sinh đào tạo nghề cho 43.108 người ở các trình độ (gồm cao đẳng:
9.932 người; trung cấp: 1.999 người; sơ cấp và dưới 03 tháng 31.177 người). Củng
cố hoạt động của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, đáp ứng nhu cầu nhân lực của địa
phương. Chất lượng và hiệu quả giáo dục nghề nghiệp đáp ứng ngày càng tốt hơn
nhu cầu sử dụng lao động của thị trường lao động. Trên 80% người tốt nghiệp đã
có việc làm, trong đó 70-75% người tốt nghiệp có việc làm đúng ngành, nghề đào
tạo.
b) Phát triển khoa học và công
nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số:
Hoạt động nghiên cứu, thực hiện
các nhiệm vụ khoa học và công nghệ của thành phố được quan tâm[40]. Duy trì tốt các hoạt động sở hữu
trí tuệ[41], kiểm tra chất lượng
sản phẩm hàng hóa[42]; hoạt động
thử nghiệm, kiểm định và hiệu chuẩn đã hỗ trợ tốt cho các cơ quan, doanh nghiệp
của thành phố và các tỉnh ĐBSCL[43].
Hoàn thành công tác tham mưu thể
chế hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá
phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia nhất
là rà soát, cập nhật nhiệm vụ, giải pháp triển khai để áp dụng cho thành phố Cần
Thơ sau sáp nhập[44].
Tiến độ triển khai các Dự án trọng
điểm về hạ tầng khoa học, công nghệ như: (1) Khu Công nghệ thông tin tập trung
đang tiếp tục thực hiện điều chỉnh quy hoạch chi tiết, chi trả bồi thường, hỗ
trợ tái định cư, thu hồi đất sạch và điều chỉnh dự án đầu tư hạ tầng kỹ thuật
trong khu; tổ chức giới thiệu tiềm năng lợi thế, thông tin, cơ hội đầu tư vào
Khu Công nghệ thông tin tập trung; xem xét việc triển khai Khu Công nghệ thông
tin tập trung thành phố Cần Thơ và Khu Công nghệ số tỉnh Hậu Giang sau khi sắp
xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh; (2) Đề án thành lập Khu Công nghệ cao Cần Thơ
trình Bộ Khoa học và Công nghệ lấy ý kiến thẩm định; (3) Triển khai Quyết định
số 1603/QĐ-UBND ngày 25/6/2025 của UBND thành phố thành lập Trung tâm Khởi nghiệp
và Đổi mới sáng tạo thành phố Cần Thơ trực thuộc Sở Khoa học và Công nghệ trên
cơ sở hợp nhất Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ và Trung tâm Công nghệ
thông tin và Truyền thông; (4) UBND thành phố đã ban hành Kế hoạch hành động số
97/KH-UBND ngày 02/10/2025 về phát triển đô thị thông minh trên địa bàn thành
phố Cần Thơ đến năm 2030, tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ được giao tại Đề án
Xây dựng thành phố Cần Thơ phát triển thành đô thị thông minh giai đoạn 2021 -
2025, tầm nhìn đến năm 2030 và đề xuất mở rộng triển khai các nhiệm vụ, dự án
phát triển đô thông minh trên địa bàn thành phố Cần Thơ giai đoạn 2025 - 2030.
Về chuyển đổi số: Trước sáp nhập,
các địa phương đã ban hành các kế hoạch năm và triển khai quyết liệt các nhiệm
vụ về chuyển đổi số, với nhiều chuyển biến tích cực trên cả 3 trụ cột Chính quyền
số, kinh tế số và xã hội số. Sau sáp nhập, thành phố đã nhanh chóng rà soát các
nhiệm vụ, hoàn thiện hạ tầng số cấp cơ sở, chuẩn hóa và liên thông cơ sở dữ liệu
giữa các ngành, đẩy mạnh hỗ trợ doanh nghiệp và người dân ứng dụng số trong sản
xuất, quản lý và giao tiếp xã hội; toàn thành phố hiện có 93 xã, phường quyết định
thành lập 93 Đội phản ứng nhanh (1.443 thành viên) và 1.725 Tổ công nghệ số cộng
đồng (11.025 thành viên) hỗ trợ người dân giải quyết thủ tục hành chính và thực
hiện các nhiệm vụ chuyển đổi số tại địa phương. Ước năm 2025, tỷ trọng giá trị
tăng thêm của kinh tế số trong GRDP đạt 7,4%.
2.7. Phát
triển toàn diện các lĩnh vực văn hóa, xã hội, bảo đảm gắn kết hài hòa với phát
triển kinh tế; bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của
Nhân dân
a) Y tế và chăm sóc sức khỏe cộng
đồng:
Theo dõi chặt chẽ và ứng phó kịp
thời với các tình huống dịch bệnh trên địa bàn nhất là diễn biến bất thường của
sốt xuất huyết, tay chân miệng và sởi. Hệ thống các bệnh viện chuyên sâu, đa
khoa, trung tâm y tế, trạm y tế tiếp tục được quan tâm đầu tư xây dựng, nâng cấp;
chất lượng nguồn nhân lực tiếp tục được nâng cao; triển khai áp dụng kỹ thuật mới,
kỹ thuật cao trong khám, chẩn đoán và điều trị bệnh; xã hội hóa hoạt động y tế
ngày càng đa dạng, y tế tư nhân tiếp tục phát triển, góp phần đáp ứng tốt hơn
nhu cầu chăm sóc và nâng cao sức khỏe người dân trên địa bàn và khu vực. Ước thực
hiện năm 2025, thành phố đạt 14,83 bác sĩ/vạn dân và 43,90 giường bệnh/vạn dân.
Các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dân số tiếp tục được triển khai đồng bộ,
công tác bảo trợ xã hội và phòng, chống tệ nạn xã hội được quan tâm, đẩy mạnh;
công tác đảm bảo an toàn thực phẩm được triển khai hiệu quả. Công tác chuyển đổi
số y tế tiếp tục được tăng cường, đến nay 100% cơ sở y tế có giường bệnh trên địa
bàn đã triển khai hồ sơ bệnh án điện tử.
b) Giải quyết việc làm, giảm
nghèo và các chính sách an sinh xã hội:
Công tác giới thiệu việc làm được
triển khai thực hiện hiệu quả. Năm 2025, thành phố đã giới thiệu việc làm cho
115.084 lao động (cung ứng lao động đi làm việc ở nước ngoài là 2.377 người). Tổ
chức thu thập và nhập thông tin để thực hiện xây dựng cơ sở dữ liệu được 11.050
lượt người tìm việc; tư vấn chính sách lao động, việc làm, học nghề cho 242.139
lượt người. Tổ chức nhiều hoạt động giao dịch việc làm, đã thu hút được 28.104 người
lao động tham dự, có 1.327 lượt nhà tuyển dụng tham gia.
UBND thành phố ban hành Kế hoạch
số 77/KH-UBND ngày 17/9/2025 về thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm
nghèo bền vững trên địa bàn thành phố Cần Thơ năm 2025; Kế hoạch số 90/KH-UBND
ngày 29/9/2025 về rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo, xác định hộ làm nông nghiệp,
lâm nghiệp, ngư nghiệp và diêm nghiệp có mức sống trung bình và người lao động
có thu nhập thấp năm 2025 trên địa bàn thành phố; thực hiện rà soát phân bổ
kinh phí, trách nhiệm triển khai các dự án thuộc nguồn vốn Chương trình mục
tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững; tỷ lệ hộ nghèo năm 2025 giảm còn 0,59%; hộ cận
nghèo giảm còn 2,61%.
Quan tâm, chăm lo cho Người có
công với cách mạng, thực hiện trợ cấp ưu đãi hàng tháng cho 18.200 lượt người
có công với cách mạng và thân nhân, với tổng kinh phí khoảng 51 tỷ đồng/tháng;
thực hiện điều dưỡng năm 2025 cho 7.772 người có công với cách mạng và thân
nhân liệt sĩ trên địa bàn thành phố. Ngoài ra, công tác quản lý, cải tạo và
nâng cấp các công trình ghi công liệt sĩ; công tác tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt
sĩ, xác định danh tính liệt sĩ được quan tâm thực hiện thường xuyên; thực hiện
chế độ phụ cấp, bảo hiểm y tế, điều dưỡng phục hồi sức khỏe cho người có công với
cách mạng và thân nhân họ được triển khai đầy đủ, kịp thời; thành phố thường
xuyên tổ chức thăm hỏi người có công với cách mạng nhân các dịp lễ, tết; thực
hiện các chính sách, chế độ ưu đãi trong giáo dục, đào tạo,...theo đúng quy định
.
Chi tiền Tết độc lập cho
3.867.719 lượt công dân; hưởng ứng Phong trào thi đua “Chung tay xóa nhà tạm,
nhà dột nát trên phạm vi cả nước” do Thủ tướng Chính phủ phát động, thành phố
rà soát có 11.462 căn phải xây dựng và sửa chữa, trong đó: người có công với
cách mạng, thân nhân liệt sĩ: 1.860 căn; hộ nghèo, hộ cận nghèo: 9.132 căn; hộ
nghèo hỗ trợ nhà ở thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã
hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số: 470 căn; với tổng nguồn lực kinh phí thực
hiện trên 312,47 tỷ đồng. Đến ngày 29/6/2025, thành phố đã hoàn thành 100% số
lượng nhà ở phải xây dựng và sửa chữa.
Thực hiện đầy đủ, kịp thời
chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế (BHXH, BHTN,
BHYT); triển khai đồng bộ các nhóm giải pháp phát triển người tham gia; giao cơ
quan BHXH các cấp rà soát danh sách, cập nhật, báo cáo Ban chỉ đạo xã, phường
hàng tháng để đôn đốc, kiểm tra; đôn đốc thu, giảm số tiền chậm đóng, không để
phát sinh số tiền chậm đóng BHXH, BHYT, BHTN; thường xuyên rà soát, hoàn thiện
cơ sở dữ liệu người chưa tham gia để xây dựng kế hoạch tuyên truyền, vận động
tham gia BHXH tự nguyện; BHYT hộ gia đình; giải quyết chi trả kịp thời, đầy
đủ các quyền lợi về BHXH, BHYT, BHTN cho người tham gia. Kết quả năm 2025, tỷ lệ
bao phủ BHYT của thành phố đạt 95%; Tỷ lệ tham gia BHXH của lực lượng lao động
trong độ tuổi là 45% (trong đó tỷ lệ người tham gia BHXH bắt buộc là 39%, BHXH
tự nguyện là 6%). Tỷ lệ tham gia BHTN là 35%.
c) Văn hóa, thể dục và thể
thao:
Tổ chức đa dạng các hoạt động
văn hóa, thể thao, du lịch nhân dịp kỷ niệm các ngày lễ, sự kiện của đất nước
và thành phố tạo không khí phấn khởi, vui tươi cho Nhân dân[45]. Quan tâm xây dựng đời sống văn hóa và xây dựng người Cần
Thơ; phát triển văn hóa đọc trong cộng đồng.
Thể dục thể thao cho mọi người
được duy trì[46]; ước đến cuối
năm 2025, tổ chức, phối hợp tổ chức 10 giải, hội thao trên địa bàn thành phố,
có khoảng 28.000 vận động viên (VĐV) tham dự, 92.000 lượt xem và cổ vũ[47]. Đăng cai tổ chức, phối hợp tổ
chức 09 giải thể thao quốc gia, có 1.004 VĐV tham dự, ước khoảng 35.000 lượt
người xem và cổ vũ[48]. Kiểm tra,
giám sát việc tập luyện của các đội thể thao; rà soát, tuyển chọn, nâng tuyến
và đào thải huấn luyện viên, vận động viên (VĐV) các môn thể thao thành tích
cao theo quy định. Quyết định cử đoàn VĐV tham dự giải thể thao theo lịch thi đấu
của Cục Thể dục Thể thao, các giải thể thao khu vực và quốc tế. Tham dự 105 giải
thể thao quốc gia ước đạt 779 huy chương (211 huy chương vàng, 210 huy chương bạc,
358 huy chương đồng).
đ) Công tác dân tộc - tôn giáo:
Công tác dân tộc - tôn giáo
luôn được chú trọng, tình hình triển khai chính sách dân tộc được các ngành,
các cấp quan tâm thực hiện và hỗ trợ kịp thời, cùng với các chính sách an sinh
xã hội khác đã tạo cơ hội cho hộ nghèo, hộ cận nghèo có điều kiện đầu tư, phát
triển sản xuất tăng thu nhập để thoát nghèo và vươn lên trung bình, khá góp phần
giảm tỷ lệ hộ nghèo và hộ cận nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số trên địa
bàn. Tình hình tín ngưỡng, tôn giáo trên địa bàn cơ bản ổn định, hoạt động đạo
sự theo đúng Hiến chương, giáo lý, giáo luật được Nhà nước công nhận và tuân thủ
quy định pháp luật Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo.
e) Công tác thanh niên:
Công tác tuyên truyền, quán triệt
và phổ biến Luật Thanh niên, Nghị định của Chính phủ và các Thông tư đã được
thành phố triển khai, thực hiện tốt; hình thức triển khai phong phú và đa dạng
phù hợp với tình hình thực tế của địa phương. Nhận thức của các cấp ủy đảng,
Chính quyền và Nhân dân về thanh niên và công tác thanh niên đã được nâng lên
và có nhiều chuyển biến tích cực; gia đình và xã hội đã có sự quan tâm hơn đối
với việc chăm lo cho thế hệ trẻ; nhiều chính sách đối với thanh niên đã được
các ngành, địa phương tham mưu UBND thành phố Cần Thơ ban hành lồng ghép vào chức
năng, nhiệm vụ của từng ngành, địa phương để tạo mọi điều kiện cho thanh niên
phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần.
g) Công tác bình đẳng giới:
Thành phố đã triển khai đồng bộ
Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021 - 2025, gắn với các nghị
quyết, chỉ thị của Trung ương và địa phương. Nhận thức của các cấp, ngành và cộng
đồng về bình đẳng giới được nâng cao, phụ nữ ngày càng khẳng định vai trò trong
các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội. Tỷ lệ nữ giữ vị trí lãnh đạo chủ chốt
trong cơ quan Nhà nước đạt 68,61%[49];
tỷ lệ nữ chủ doanh nghiệp đạt 32%. Công tác phòng, chống bạo lực gia đình được
chú trọng, 100% nạn nhân bị bạo lực giới được hỗ trợ, tư vấn. Trong lĩnh vực
giáo dục - đào tạo, tỷ lệ hoàn thành cấp học của học sinh nữ dân tộc thiểu số
và tỷ lệ nữ học viên nghề đạt mục tiêu đề ra. Thành phố đảm bảo nam, nữ được
bình đẳng trong tham gia và thụ hưởng các hoạt động văn hóa, thể thao, thông
tin. Nhiều hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể thao, bảo tồn di sản được tổ chức
với sự tham gia đông đảo của phụ nữ.
2.8. Triển
khai các giải pháp nâng cao chất lượng đô thị; chủ động ứng phó với biến đổi
khí hậu, phòng, chống thiên tai, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi
trường; giải quyết hài hoà mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi
trường
Công tác quản lý tài nguyên và bảo
vệ môi trường được triển khai có hiệu quả, chủ động xây dựng các chương trình,
kế hoạch về bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu. Từ đó, triển khai
nhiều hoạt động bảo vệ môi trường như trồng cây xanh, ra quân dọn dẹp vệ sinh
môi trường, mít-tinh tập huấn, lắp đặt pano tuyên truyền, truyền thông đa
phương tiện góp phần cải thiện chất lượng môi trường và nâng cao nhận thức của
cộng đồng. Hoạt động thu gom, xử lý chất thải được chú trọng; tỷ lệ thu gom, xử
lý chất thải rắn ở đô thị đạt 96,76%[50];
tỷ lệ chất thải nguy hại được thu gom, xử lý 98%. Tăng cường công tác phòng ngừa
và kiểm soát ô nhiễm, giám sát chặt chẽ việc thực thi quy định pháp luật về bảo
vệ môi trường của doanh nghiệp trên địa bàn. Duy trì việc cấp nước liên tục, đủ
áp lực, chất lượng nước; mở rộng mạng lưới cung cấp nước sạch; ước đến cuối năm
2025, tỷ lệ hộ gia đình nông thôn được cung cấp nước sạch từ các nguồn theo quy
chuẩn đạt 82,74%.
Thực hiện quan trắc và phân
tích chất lượng không khí xung quanh thành phố, chất lượng nước mặt, thủy sinh,
trầm tích. Hệ thống quan trắc được duy trì, nâng cao chất lượng dữ liệu, phục vụ
hiệu quả công tác giám sát môi trường; hoàn thành công tác quan trắc môi trường
với 57 đợt (gồm quan trắc không khí xung quanh, nước mặt, nước dưới đất và đất,
thủy sinh, trầm tích); vận hành 17 trạm quan trắc xâm nhập mặn tự động, liên tục
và quản lý 24 trạm quan trắc tự động, liên tục.
Công tác quản lý đất đai được
triển khai đồng bộ, đảm bảo quy trình, quy định bám sát yêu cầu phát triển đô
thị và triển khai các dự án trọng điểm[51];
đẩy nhanh tiến độ thu hồi đất, bồi thường, tái định cư triển khai các dự án trọng
điểm; trình phê duyệt Danh mục dự án phải chuyển mục đích sử dụng đất có diện
tích đất trồng lúa trên địa bàn thành phố Cần Thơ năm 2025.
Công tác phòng, chống thiên
tai: Xảy ra 114 điểm sạt lở bờ sông, bờ biển với tổng chiều dài 2.982 m, thiệt
hại ước tính trên 26 tỷ đồng. Mưa kèm theo giông lốc xảy ra 76 đợt, ước tổng
thiệt hại khoảng 10,8 tỷ đồng. Ngập lụt do triều cường xảy ra 05 đợt, làm hơn
700 nhà hộ dân bị ngập và hơn 1.600 ha diện tích nông nghiệp và nuôi trồng thủy
sản bị ảnh hưởng. Hạn hán, xâm nhập mặn mùa khô xuất hiện 13 đợt xâm nhập mặn
trên các sông, kênh, rạch: sông Hậu tại Trần Đề; sông Cái Lớn; sông Cái Côn;
sông Mỹ Thanh tại Dù Tho; kênh Quản lộ Phụng Hiệp; ghi nhận 14 cơn bão xuất hiện
trên Biển Đông. Theo dõi tình hình thiệt hại, tổng hợp nhu cầu hỗ trợ, xem xét
bố trí nguồn kinh phí từ Quỹ phòng chống thiên tai để hỗ trợ cho các hộ dân bị ảnh
hưởng bởi thiên tai kịp thời và hiệu quả. Tổng số tiền đã hỗ trợ khắc phục thiệt
hại do thiên tai gây ra trên địa bàn thành phố từ đầu năm 2025 đến nay là
1.402,5 triệu đồng, trong đó, UBND thành phố đã phê duyệt hỗ trợ 937 triệu đồng
và 411,5 triệu đồng tạm ứng từ Quỹ phòng chống thiên tai thành phố.
2.9.
Tăng cường liên kết vùng, thực hiện hiệu quả quy hoạch cấp quốc gia, quy hoạch
vùng, quy hoạch thành phố; đẩy nhanh tốc độ, nâng cao chất lượng đô thị hóa và
kinh tế đô thị
a) Công tác quy hoạch, kiến
trúc, quản lý xây dựng, phát triển đô thị:
Hoàn thành công tác rà soát, thống
nhất nội dung điều chỉnh Quy hoạch thành phố Cần Thơ thời kỳ 2021 - 2030, tầm
nhìn đến năm 2050. Triển khai công tác lập quy hoạch chung thành phố Cần Thơ đến
năm 2050, tầm nhìn đến năm 2075. Tiếp tục đẩy nhanh tiến độ lập, điều chỉnh các
quy hoạch xây dựng, dự án quy hoạch đô thị. Qua rà soát, trên địa bàn thành phố
có 992 đồ án (Cần Thơ cũ 268 đồ án; Hậu Giang cũ 409 đồ án; Sóc Trăng cũ 315 đồ
án) quy hoạch xây dựng, quy hoạch đô thị đã được duyệt; tiếp tục tổ chức quản
lý, phân công quản lý để đảm bảo tính xuyên suốt trong quản lý trật tự xây dựng,
quy hoạch đô thị và nông thôn. Hoàn thiện cơ sở pháp lý về Quy chế quản lý kiến
trúc, Chương trình phát triển đô thị nhằm bảo đảm tính minh bạch, đồng bộ, tạo
điều kiện thuận lợi cho thu hút đầu tư và phát triển bền vững; tỷ lệ đô thị hóa
năm 2025 ước đạt 47,6%[52].
Thực hiện rà soát, tháo gỡ các
vướng mắc pháp lý và đôn đốc tiến độ các dự án nhà ở, khu đô thị, nhất là các dự
án chậm triển khai, đã có quyết định chủ trương đầu tư; trong đó phân loại nhóm
dự án cần xử lý, tái khởi động hoặc điều chỉnh quy hoạch; góp phần thúc đẩy thị
trường bất động sản phát triển minh bạch, bền vững. Kết quả rà soát trên địa
bàn hiện có 171 dự án nhà ở thương mại (Cần Thơ cũ 97 dự án (gồm 30 dự án đã
bàn giao về địa phương quản lý, 67 dự án đang triển khai); Sóc Trăng cũ có 36 dự
án đang triển khai, Hậu Giang cũ có 26 dự án đang triển khai).
Triển khai các chương trình
phát triển nhà ở xã hội theo quy hoạch và chỉ tiêu được giao tại Quyết định số
444/QĐ-TTg ngày 27/02/2025 của Thủ tướng Chính phủ. Lũy kế kết quả thực hiện
trong giai đoạn từ năm 2021 - 2024, thành phố Cần Thơ đã hoàn thành 2.252 căn
nhà ở xã hội. Năm 2025, thực hiện 1.397 căn, đạt chỉ tiêu Thủ tướng Chính phủ
giao[53].
Công tác cấp phép xây dựng, quản
lý các công trình xây dựng trên địa bàn được thực hiện chặt chẽ, lũy kế đến thời
điểm báo cáo đã cấp 04 giấy phép xây dựng; cấp 171 chứng chỉ hành nghề hoạt động
xây dựng, 02 chứng chỉ hành nghề kiến trúc; cấp 32 chứng chỉ năng lực hoạt động
xây dựng ; cấp 01 giấy phép hoạt động xây dựng cho nhà thầu nước ngoài; thông
báo hợp quy sản phẩm, hàng hóa vật liệu xây dựng cho 03 đơn vị; tổ chức kiểm
tra công tác nghiệm thu và ra thông báo kết quả kiểm tra 266 công trình; triển
khai thẩm định và trả kết quả thông báo thẩm định 110 hồ sơ[54].
Tăng cường quản lý và sử dụng
lòng đường, vỉa hè trên địa bàn, không gian dành cho giao thông công cộng, bãi
giữ xe. Thực hiện kiểm tra an toàn điện trang trí, điện chiếu sáng công cộng,
cây xanh trong dịp lễ, Tết, ngày kỷ niệm và trong mùa mưa.
b) Xây dựng nông thôn mới:
Thực hiện rà soát, đánh giá mức
độ hoàn thành các chỉ tiêu nông thôn mới ở cấp xã sau sáp nhập; dự kiến cuối
năm 2025, thành phố duy trì và nâng chất 59/72 xã đạt chuẩn nông thôn mới, đạt
tỷ lệ 81,94%; trong đó, 15 xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao và 02 xã đạt chuẩn
nông thôn mới kiểu mẫu. Thành phố hiện có 895 sản phẩm OCOP trong đó có 04 sản
phẩm OCOP đạt 5 sao, 242 sản phẩm OCOP 4 sao và 649 sản phẩm OCOP 3 sao.
c) Liên kết vùng, liên kết hợp
tác:
Tiếp tục phối hợp chặt chẽ các
địa phương trong vùng thực hiện các hoạt động liên kết phát triển, tạo sự gắn kết
giữa các địa phương. Tiếp tục triển khai thực hiện Thông báo Kết luận của Chủ tịch
Hội đồng điều phối vùng ĐBSCL tại Hội nghị Hội đồng điều phối vùng lần thứ năm.
Triển khai kế hoạch hợp tác phát triển kinh tế - xã hội giữa Thành phố Hồ Chí
Minh với các tỉnh, thành vùng ĐBSCL; tăng cường ký kết hợp tác với các tỉnh,
thành trên cả nước.
Tổng kết Chương trình hợp tác
giữa UBND thành phố và Trường Đại học Cần Thơ giai đoạn 2020 - 2025; ký kết
Chương trình hợp tác giữa UBND thành phố với Đại học Cần Thơ, Đại học Kinh tế
Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Tây đô, Đại học Y Dược Cần Thơ, Đại học Nam Cần
Thơ, Đại học Võ Trường Toản.
2.10.
Tăng cường, củng cố tiềm lực quốc phòng, an ninh; bảo đảm an ninh chính trị, trật
tự an toàn xã hội
Công tác bảo đảm quốc phòng, an
ninh tiếp tục được triển khai quyết liệt, toàn diện, kết hợp chặt chẽ giữa phát
triển kinh tế - xã hội với củng cố quốc phòng, an ninh. Tập trung sắp xếp tổ chức
quân sự địa phương theo mô hình tổ chức Chính quyền địa phương hai cấp, xây dựng
lực lượng, thế trận và tiềm lực quốc phòng trong khu vực phòng thủ. Thực hiện tốt
công tác quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền, an ninh biên giới vùng biển, công
tác tuần tra, kiểm soát, phòng chống xuất, nhập cảnh trái phép bằng đường biển;
quản lý tốt người, phương tiện ra, vào, hoạt động tại khu vực biên giới biển,
khai thác, vận chuyển cát thuộc vùng biển.
Công tác tuyển quân, tuyển sinh
quân sự được thực hiện nghiêm túc, chặt chẽ, đúng kế hoạch; trong đó, đã tổ chức
thành công lễ giao nhận quân, kết quả đã giao 4.794 công dân cho Bộ Quốc phòng
và Bộ Công an, đạt 100% chỉ tiêu; tiếp nhận 392 chiến sĩ cho 03 Trung đoàn; tổng
kết công tác tuyển chọn và gọi công nhân nhập ngũ năm 2025 đúng quy định. Triển
khai kế hoạch tuyển chọn và gọi công nhân nhập ngũ năm 2026, đã đăng ký nghĩa vụ
quân sự lần đầu cho 26.345 công dân tuổi 17 tuổi; tổ chức xét duyệt nghĩa vụ
quân sự lần một được 75.701 công nhân đủ điều kiện sơ tuyển sức khỏe nghĩa vụ
quân sự. Giải quyết cho 177 quân nhân xuất ngũ và đón 3.177 quân nhân hoàn
thành nghĩa vụ quân sự tại ngũ trở về địa phương đăng ký vào ngạch dự bị.
Các lực lượng vũ trang đã tổ chức
quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm công tác sẵn sàng chiến đấu, thực hiện
tuần tra, kiểm soát, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Tình
hình tội phạm được kiềm chế, phát hiện 2.009 vụ, giảm 446 vụ so với cùng kỳ; điều
tra khám phá 1.548 vụ, bắt xử lý 2.863 đối tượng, tỷ lệ điều tra khám phá tội
phạm đạt 77,05%; trong đó, phát hiện 150 vụ vi phạm quản lý kinh tế, khởi tố 38
vụ, 77 bị can, xử lý hành chính 56 vụ; 106 vụ sử dụng công nghệ cao phạm tội,
khởi tố 60 vụ; 200 vụ vi phạm môi trường, khởi tố 03; phát hiện 350 vụ, bắt xử
lý 855 đối tượng, thu giữ 4 kg ma túy các loại và 1.019 viên ma túy tổng hợp,
khởi tố mới 397 vụ với 764 bị can. Năm 2025, trên địa bàn thành phố có 25 xã,
phường không ma túy (chiếm tỷ lệ 20% trên tổng số xã, phường).
Sẵn sàng lực lượng, phương tiện
tham gia phòng, chống thiên tai, cứu hộ, cứu nạn; trong năm 2025 đã đều đặn
1.697 lượng bộ đội thường trực, bộ đội biên phòng, dân quân tự vệ tham gia cứu
nạn thành công 03 vụ tàu cá ngư dân gặp nạn, khắc phục 75 vụ thiên tai, hỏa hoạn
và 02 đợt triều cường, giúp nhân dân di dời tài sản đến nơi an toàn, ổn định cuộc
sống.
Tăng cường công tác tuần tra,
kiểm soát, bảo đảm trật tự, an toàn giao thông, xử lý các hành vi vi phạm về an
toàn giao thông. Triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp bảo đảm trật tự an
toàn giao thông, xây dựng phương án phân luồng, phân tuyến giao thông, hạn chế
xảy ra ùn tắc giao thông tại các tuyến đường trọng điểm, các điểm vui chơi giải
trí công cộng, các sự kiện chính trị, văn hóa quan trọng diễn ra trên địa bàn.
Lũy kế đến thời điểm báo cáo[55]:
xảy ra 563 vụ tai nạn giao thông, làm chết 357 người, bị thương 340 người, thiệt
hại tài sản khoảng 2,917 tỷ đồng; so với cùng kỳ: giảm 105 vụ; tăng 32 người chết;
giảm 164 người bị thương. Trên địa bàn xảy ra 16 vụ cháy, không gây thiệt hại về
người, tài sản thiệt hại ước tính 3,163 tỷ đồng; so với cùng kỳ, giảm 09 vụ
cháy, giảm 02 người chết và giảm 03 người bị thương; nguyên nhân chủ yếu do sự
cố về điện; không xảy ra các vụ cháy cấp III, IV, V; nổ không xảy ra
2.11. Hoạt
động đối ngoại, hội nhập quốc tế
Hoạt động đối ngoại được triển
khai đồng bộ, hiệu quả bằng nhiều hình thức đa dạng, phong phú, phù hợp với điều
kiện thực tế; triển khai thực hiện Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/01/2025 của Bộ
Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới[56]. Hoạt động giao lưu quốc tế, xúc tiến đầu tư, quảng bá
địa phương ở nước ngoài được đẩy mạnh. Thành phố đã ký kết 04 bản ghi nhớ hợp
tác và các hình thức thỏa thuận quốc tế khác với đối tác từ các quốc gia: Nhật
Bản, Senegal, Hàn Quốc; tiếp và làm việc với 510 đoàn với 3.483 lượt khách nước
ngoài; có 07 đoàn với 33 lượt phóng viên báo chí nước ngoài đến tác nghiệp; 42
hội nghị, hội thảo quốc tế được tổ chức trên địa bàn; tổ chức thành công Hội
nghị Ban Chấp hành Liên minh Nghị viện Pháp ngữ (APF) và Diễn đàn nghị viện hợp
tác Pháp ngữ về Nông nghiệp bền vững, An ninh lương thực và Ứng phó Biến đ ổi
khí hậu tại thành phố Cần Thơ; Hội nghị Gặp gỡ Nhật Bản - Khu vực ĐBSCL và đón
tiếp Đoàn đại biểu Liên minh Nghị sĩ Hữu nghị Nhật - Việt tại thành phố Cần Thơ;
giải quyết 45 vụ việc liên quan đến công tác lãnh sự và bảo hộ công dân.
2.12. Đẩy
mạnh thông tin, tuyên truyền, nhất là công tác truyền thông chính sách, nâng
cao hiệu quả công tác dân vận Chính quyền, tạo đồng thuận xã hội
Cung cấp thông tin tuyên truyền
cho các cơ quan báo chí Trung ương, địa phương, thực hiện tuyên truyền đầy đủ,
chính xác, kịp thời. Hạ tầng viễn thông trên địa bàn thành phố đã được chú trọng
đầu tư, phát triển. Hệ thống máy chủ Hội nghị truyền hình vận hành ổn định và
phục vụ hiệu quả các cuộc họp trực tuyến . Tiếp tục duy trì hệ thống quản lý
văn bản, điều hành triển khai từ cơ quan hành chính Nhà nước, đơn vị sự nghiệp
từ cấp thành phố đến cấp xã, liên thông Trục liên thông văn bản của thành phố với
Trục liên thông văn bản Quốc gia bảo đảm việc gửi, nhận văn bản điện tử liên
thông từ Trung ương đến cấp xã. Triển khai Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục
hành chính đảm bảo yêu cầu triển khai Cổng Dịch vụ công quốc gia trở thành “điểm
một cửa số” tập trung, duy nhất của quốc gia; triển khai thống nhất một hệ thống
dùng chung cho thành phố Cần Thơ sau khi sáp nhập với tỉnh Hậu Giang và Sóc
Trăng, chính thức vận hành từ ngày 01/7/2025.
II. ĐÁNH
GIÁ CHUNG
1. Kết quả
đạt được
Tăng trưởng kinh tế đạt khá, các
khu vực đều có mức tăng tích cực so với cùng kỳ năm trước. Sản xuất công nghiệp
phục hồi, duy trì chỉ số sản xuất tăng 10%; nhiều dự án hạ tầng giao thông và
đô thị lớn được đẩy nhanh tiến độ (cao tốc Châu Đốc - Cần Thơ - Sóc Trăng; các
tuyến đường tỉnh; các nút giao thông trọng điểm, hạ tầng khu công nghiệp, các dự
án hạ tầng năng lượng…). Thương mại - dịch vụ tăng trưởng tốt đúng kịch bản phấn
đấu. Sản xuất nông nghiệp ổn định, sản lượng lúa 4,7 triệu tấn, thủy sản 783
nghìn tấn; nhiều vùng sản xuất tập trung, VietGAP, GlobalGAP được mở rộng; ứng
dụng công nghệ cao, chuyển đổi cơ cấu cây trồng hiệu quả.
Triển khai đồng bộ, quyết liệt
các giải pháp huy động, quản lý và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, từng bước tạo
thành nền tảng tốt cho tăng trưởng kinh tế, duy trì ổn định ngân sách.
Thành phố chủ động triển khai
các nhiệm vụ về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số;
nhiều nhiệm vụ, phần việc đã thực hiện hoàn thành vượt tiến độ.
Chính sách an sinh xã hội được
quan tâm thực hiện; thực hiện tốt công tác giải quyết việc làm, đào tạo nghề,
chú trọng chăm sóc sức khỏe cộng đồng. Các chính sách hỗ trợ người nghèo, đối
tượng yếu thế, vùng dân tộc thiểu số được triển khai đồng bộ, kịp thời. Phong
trào “Chung tay xóa nhà tạm, nhà dột nát trên địa bàn thành phố” hoàn thành vượt
tiến độ.
Hoạt động văn hóa, thể thao,
thông tin - truyền thông, chuyển đổi số và công tác dân tộc, tôn giáo đạt nhiều
kết quả tích cực, góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân.
Bộ máy chính quyền hai cấp được
kiện toàn, vận hành ổn định sau sáp nhập.Công tác cải cách hành chính, xây dựng
Chính quyền số được đẩy mạnh.
Tình hình quốc phòng, an ninh
tiếp tục được giữ vững, trật tự an toàn xã hội cơ bản được đảm bảo.
2. Hạn
chế, khó khăn
Tốc độ tăng trưởng kinh tế chưa
mục tiêu đề ra, tăng trưởng chưa đồng đều trong nội bộ ngành: Lĩnh vực công
nghiệp chế biến, chế tạo chiếm tỷ trọng cao trong lĩnh vực công nghiệp nhưng hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vẫn còn đối mặt với nhiều khó khăn từ
thị trường, lượng hàng tồn kho tại các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp khá
cao, công suất, năng lực đầu tư mới, đầu tư mở rộng tăng chậm. Bên cạnh đó, sản
lượng ngành sản xuất và phân phối điện giảm do lượng mưa lớn, các nhà máy thủy
điện vận hành tối đa, dẫn đến Nhà máy Nhiệt điện Sông Hậu 1 giảm công suất h uy
động; là yếu tố tác động đáng kể đến giá trị tăng thêm trong năm của toàn ngành
công nghiệp và toàn nền kinh tế. Một số công trình trọng điểm tiến độ còn chậm,
chưa đóng góp vào tăng trưởng. Dịch vụ chất lượng cao phát triển chưa đồng đều;
du lịch chưa khai thác hết tiềm năng của địa phương, chưa xây dựng được sản phẩm
du lịch đặc thù, liên kết trong hoạt động du lịch lữ hành gắn với cơ sở lưu trú
trên địa bàn chưa phát huy hiệu quả; hoạt động xuất khẩu dễ bị ảnh hưởng bởi
các chính sách thuế, rào cản kỹ thuật; phát triển thương mại điện tử chưa thật
sự bền vững.
Kết quả giải ngân vốn Kế hoạch
đầu tư công năm 2025 vẫn chưa đáp ứng yêu cầu tiến độ.
Thu hút đầu tư ngoài ngân sách,
nhất là đầu tư trực tiếp nước ngoài chưa đạt kỳ vọng. Một số chương trình tín dụng
chưa phát sinh dư nợ hoặc dư nợ còn thấp như: chương trình cho vay nhà ở xã hội,
cho vay lúa gạo chất lượng cao, phát thải thấp.
Hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị
tuy được quan tâm nhưng thiếu tính đồng bộ, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển
nhanh của đô thị sau sáp nhập. Tình trạng tình trạng ứ đọng rác thải trên kênh
rạch, ao hồ vẫn còn xảy ra, làm ảnh hưởng đến mỹ quan đô thị, đường thoát nước,…
Cơ sở hạ tầng giao thông mặc dù
được thành phố quan tâm đầu tư, nâng cấp, duy tu, sửa chữa định kỳ nhưng vẫn
chưa đáp ứng nhu cầu thực tế của địa phương; thường xuyên xảy ra tình trạng ùn
tắc giao thông cục bộ vào giờ cao điểm tại một số vị trí nút giao thông khu vực
nội ô.
Các điều kiện về giáo dục, y tế,
chuyển đổi số còn chênh lệch về mức độ phát triển tại vùng nông thôn, đồng bào
dân tộc thiểu số.
Quá trình sắp xếp tổ chức bộ
máy sau sáp nhập vẫn còn khó khăn, lúng túng trong quản lý, triển khai thực hiện,
nhất là trong công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, giải phóng mặt bằng
phục vụ thi công các công trình, dự án; công tác đồng bộ các cơ sở dữ liệu, phần
mềm giải quyết thủ tục hành chính trong các cơ quan đơn vị, nhất là cơ sở dữ liệu
về đất đai,…
Tội phạm sử dụng công nghệ cao
có chiều hướng gia tăng, tai nạn giao thông giảm về số vụ nhưng tăng số người tử
vong.
3. Nguyên
nhân hạn chế, khó khăn
3.1. Nguyên nhân khách quan
Tình hình kinh tế thế giới có
nhiều diễn biến khó lường, gây tác động đến kinh tế trong nước, từ đó ảnh hưởng
đến tình hình tăng trưởng các ngành, lĩnh vực của các địa phương.
Chi phí sản xuất trong các
ngành đều tăng, sản xuất công nghiệp phụ thuộc nhiều vào sự phục hồi kinh tế và
sức mua của thị trường. Nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu ảnh hưởng đến
tiêu thụ hàng hóa. Sức mua thị trường thương mại truyền thống sụt giảm, người
tiêu dùng có xu hướng mua sắm trên các trang thương mại điện tử.
Cơ sở pháp lý để thực hiện các
nhiệm vụ sau sắp xếp tổ chức bộ máy chưa được hoàn thiện đồng bộ, ảnh hướng đến
công tác triển khai ở cấp địa phương. Việc vận hành đồng bộ cơ sở dữ liệu trên
các ứng dụng phần mềm trong thời gian đầu sau sáp nhập còn nhiều lỗi kỹ thuật
(cụ thể như: phần mềm quản lý cơ sở dữ liệu đất đai và phần mềm một cửa chưa đồng
bộ thống nhất; việc kê khai, biên tập và xử lý trên phần mềm còn chậm…).
Tác động của thời tiết bất thường,
xâm nhập mặn, sạt lở bờ sông, giông lốc diễn biến phức tạp ảnh hưởng trực tiếp
đến sản xuất nông nghiệp và hạ tầng dân sinh.
3.2. Nguyên nhân chủ quan
Công tác phối hợp giữa các sở,
ngành, địa phương chưa thật sự chặt chẽ; Công tác dự báo và xây dựng kịch bản
tăng trưởng kinh tế chưa linh hoạt, một số ngành chưa chủ động trong đề xuất
nhiệm vụ.
Công tác giải ngân còn nhiều
khó khăn do việc khảo sát, thu thập số liệu để lập chủ trương đầu tư, dự án đầu
tư chưa chuẩn xác, đặc biệt là việc khái toán kinh phí hỗ trợ, bồi thường và
tái định cư còn thấp so với giá thị trường, dẫn đến khi triển khai thực hiện rất
nhiều dự án có kinh phí bồi thường thực tế tăng nhiều so với quyết định đầu tư
đã được cấp thẩm quyền phê duyệt và làm vượt tổng mức đầu tư được duyệt, từ đó
phải thực hiện các thủ tục điều chỉnh chủ trương đầu tư, điều chỉnh dự án, mất
nhiều thời gian; Một số xã, phường chưa ban hành chính sách hỗ trợ khác, giá đất
cụ thể; thiếu nền tái định cư, người dân còn khiếu kiện về giá bồi thường và
chính sách tái định cư nhất là các dự án giao thông, kè chống sạt lở có quy mô
đầu tư trải dài; Năng lực của một số Chủ đầu tư còn hạn chế; Tình trạng khan hiếm
nguồn vật liệu xây dựng như cát, đá... làm ảnh hưởng đến tiến độ thi công; Công
tác bàn giao tài khoản, mã đơn vị quan hệ ngân sách , dữ liệu dự toán ngân sách
giữa đơn vị cũ và đơn vị mới phải thực hiện thủ công, mất nhiều thời gian trong
công tác đối chiếu và xác nhận.
Một bộ phận cán bộ, công chức
còn lúng túng trong triển khai cơ chế mới sau sáp nhập, tinh giản biên chế lớn
nên thiếu hụt nhân lực ở một số vị trí, vào một số thời điểm nhất định.
Cải cách hành chính tuy có chuyển
biến nhưng chưa thực sự đột phá; ứng dụng chuyển đổi số còn thiếu đồng bộ giữa
các hệ thống.
Phần thứ hai
KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI, ĐẢM BẢO QUỐC
PHÒNG, AN NINH NĂM 2026
I. BỐI CẢNH
THỰC HIỆN
Tình hình thế giới tiếp tục diễn
biến nhanh, phức tạp, khó lường; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gia
tăng; kinh tế toàn cầu tăng trưởng chậm, xu hướng bảo hộ, tái cấu trúc chuỗi
cung ứng và phân cực công nghệ diễn ra mạnh mẽ. Biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch
bệnh, khủng hoảng tài nguyên và an ninh phi truyền thống ngày càng nghiêm trọng,
đặc biệt ảnh hưởng đến các quốc gia đang phát triển. Cùng với đó, các xu hướng
lớn như chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, phát triển bền vững và đổi mới sáng tạo
đang trở thành động lực chính cho tăng trưởng. Sự phát triển nhanh chóng của
các công nghệ mới đặt ra cả cơ hội và thách thức trong điều chỉnh mô hình phát
triển, cơ cấu lao động và quản trị xã hội.
Trong nước, tình hình chính trị
- xã hội ổn định, kinh tế vĩ mô cơ bản được giữ vững, hội nhập quốc tế ngày
càng sâu rộng. Quy mô, tiềm lực và vị thế quốc gia được nâng cao; môi trường đầu
tư, kết cấu hạ tầng, đời sống Nhân dân có nhiều chuyển biến tích cực. Tuy
nhiên, nền kinh tế vẫn đối mặt với nhiều thách thức như nguy cơ tụt hậu, năng lực
tự chủ và sức cạnh tranh còn hạn chế, tình trạng già hóa dân số gia tăng, biến
đổi khí hậu, thiên tai ngày càng gay gắt.
Việc sáp nhập đơn vị hành chính
cấp tỉnh tạo ra không gian phát triển rộng hơn, nguồn lực lớn hơn, đồng thời đặt
ra yêu cầu cấp thiết về tái cấu trúc mô hình phát triển, phân bổ lại nguồn lực,
nâng cao năng lực quản trị vùng, phát huy vai trò trung tâm động lực, dẫn dắt
vùng ĐBSCL. Đồng thời, năm 2026 là năm có ý nghĩa quan trọng, là năm đầu triển
khai Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026 - 2030. Thành phố cần chủ
động thích ứng với mô hình quản lý mới, bảo đảm ổn định chính trị - xã hội,
phát huy tiềm năng tổng hợp của các địa phương sau sáp nhập, đồng thời giải quyết
hài hòa các vấn đề đặt ra như chênh lệch phát triển, liên kết hạ tầng, bảo vệ
môi trường và an ninh nguồn nước. Chủ động nâng cao năng lực nội tại, đẩy mạnh
đổi mới sáng tạo, phát triển kinh tế số, kinh tế xanh và tăng cường hội nhập quốc
tế để tận dụng cơ hội, vượt qua thách thức, lấy năm 2026 là năm nền tảng vững
chắc thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững, từng bước khẳng định
vai trò trung tâm, động lực vùng ĐBSCl, cực tăng trưởng quan trọng của quốc
gia.
II. MỤC
TIÊU, CÁC CHỈ TIÊU CHỦ YẾU
1. Mục
tiêu
Tập trung ổn định tổ chức bộ
máy sau sáp nhập đơn vị hành chính cấp tỉnh, bảo đảm hoạt động thông suốt của
mô hình Chính quyền địa phương hai cấp; đẩy mạnh cải cách hành chính, cải thiện
môi trường đầu tư kinh doanh, phát triển kinh tế tư nhân. Tập trung tháo gỡ khó
khăn, khơi thông các động lực tăng trưởng kinh tế. Thực hiện hiệu quả các giải
pháp đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Chú trọng phát triển lĩnh vực văn hóa, an sinh xã hội, nâng cao đời sống vật chất
và tinh thần của Nhân dân. Quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, thích ứng biến
đổi khí hậu. Giữ vững quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội, tạo nền tảng
vững chắc cho phát triển nhanh và bền vững những năm tiếp theo.
2. Các
chỉ tiêu chủ yếu
2.1. Chỉ
tiêu về kinh tế
(1) Tổng sản phẩm trên địa bàn
(GRDP) tính theo giá hiện hành đạt tối thiểu 360.821 tỷ đồng; tổng sản phẩm
trên địa bàn bình quân đầu người (GRDP/người) đạt tối thiểu 111,04 triệu đồng/người/năm;
tốc độ tăng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) đạt từ 10 - 10,5% trở lên; kim ngạch
xuất khẩu, dịch vụ và thu ngoại tệ tăng 11% so với năm 2025; thu nhập bình quân
đầu người đạt tối thiểu 5.928.000 đồng/người/tháng.
(2) Tổng thu ngân sách phấn đấu
tăng khoảng 15% so với năm 2025.
(3) Cơ cấu tổng sản phẩm trên địa
bàn (GRDP): Tỷ trọng nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 19,94%; công nghiệp -
xây dựng chiếm 28,49% (trong đó, công nghiệp chiếm 23,03%); dịch vụ chiếm
46,45% và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 5,12%.
(4) Tổng vốn đầu tư thực hiện
trên địa bàn theo giá hiện hành đạt tối thiểu 117.740 tỷ đồng; chiếm tỷ trọng
32,63% GRDP.
(5) Nâng cao các chỉ số: cải
cách hành chính (PAR INDEX); sự hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục
vụ của cơ quan hành chính Nhà nước (SIPAS), hiệu quả quản trị và hành chính
công cấp tỉnh (PAPI), năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI); phấn đấu đạt kết quả
xếp hạng trong “Nhóm 15 địa phương có chất lượng điều hành tốt”.
(6) Phát triển khoa học công
nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số:
- Đóng góp của năng suất nhân tố
tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế thành phố ở mức trên 25%.
- Tỷ trọng giá trị tăng thêm của
kinh tế số trong GRDP đạt tối thiểu 8,3%.
- Tỷ lệ sử dụng dịch vụ công trực
tuyến của người dân và doanh nghiệp đạt tối thiểu 65%.
- Phấn đấu bố trí 3% tổng chi
ngân sách cho phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
- Số lượng công bố khoa học quốc
tế tăng trung bình 10 - 15% so với năm 2025.
- Tỷ lệ doanh nghiệp có hoạt động
đổi mới sáng tạo tăng 11,5%.
- Nguồn nhân lực nghiên cứu
khoa học, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo đạt 10 người trên một vạn dân;
số lượng đơn vị đăng ký sáng chế, văn bằng bảo hộ sáng chế tăng trung bình 16 -
18%, tỷ lệ khai thác thương mại đạt 8 - 10% so với năm 2025.
(7) Tốc độ tăng trưởng bình
quân của kinh tế tư nhân đạt từ 10%/năm trở lên.
(8) Tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư
công phấn đấu đạt 100% tổng kế hoạch vốn đầu tư công được Chính phủ giao.
2.2. Chỉ
tiêu về xã hội
(9) Dân số trung bình đến năm
2026 là 3.249.504 người.
(10) Chỉ số phát triển con người
(HDI) đạt tối thiểu 0,73.
(11) Giá trị năng suất lao động
theo giá hiện hành đạt trên 214,94 triệu đồng/lao động; tỷ lệ lao động qua đào
tạo có bằng cấp, chứng chỉ 29,5%; số lao động có việc làm trong nền kinh tế phấn
đấu đạt 1.678.712 người; tỷ lệ lao động có việc làm trong nền kinh tế khu vực
nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt 38,73%, khu vực công nghiệp và xây dựng đạt
25,29%, khu vực dịch vụ đạt 35,98%; duy trì tỷ lệ thất nghiệp dưới 3,16%.
(12) Tuổi thọ trung bình tính từ
lúc sinh đạt khoảng 76,21 tuổi, trong đó thời gian sống khỏe mạnh đạt tối thiểu
66 năm.
(13) Phấn đấu đạt 15,66 bác sỹ/vạn
dân; 43,92 giường bệnh/vạn dân; tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân đạt 95,4%[57]; tỷ lệ người dân được khám sức
khỏe định kỳ hoặc khám sàng lọc miễn phí ít nhất mỗi năm 1 lần đạt 100%.
(14) Tỷ lệ trường học các cấp đạt
chuẩn quốc gia phấn đấu đạt 68,6%. Trong đó: Mầm non đạt 81,1%; tiểu học đạt
63,4%; trung học cơ sở đạt 67,2%; trung học phổ thông đạt 51,7%. Hoàn thành phổ
cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi và giáo dục bắt buộc hết trung học cơ sở.
(15) Tỷ lệ nghèo đa chiều duy
trì mức giảm 1 - 1,5%.
2.3. Chỉ
tiêu về môi trường
(16) Tỷ lệ cụm công nghiệp đang
hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường phấn
đấu đạt 100%.
(17) Tỷ lệ thu gom và xử lý chất
thải rắn sinh hoạt đô thị bảo đảm tiêu chuẩn, quy chuẩn đạt trên 95%; tỷ lệ chất
thải nguy hại được thu gom, xử lý đạt tối thiểu 98%; tỷ lệ chất thải y tế được
xử lý đạt 100%.
(18) Tập trung rà soát, nâng
cao chất lượng xây dựng nông thôn mới trên địa bàn các xã; phấn đấu có ít nhất
06 xã đạt chuẩn xã nông thôn mới theo Bộ tiêu chí xã nông thôn mới giai đoạn
2026 - 2030; tỷ lệ hộ gia đình nông thôn được sử dụng nước sạch từ các nguồn
theo quy chuẩn phấn đấu đạt 83,13%.
(19) Tỷ lệ che phủ rừng đạt
1,8%.
2.4. Chỉ
tiêu về phát triển kết cấu hạ tầng
(20) Tỷ lệ đô thị hóa đạt 48,2%
trở lên.
(21) Triển khai các nhiệm vụ về
phát triển đô thị thông minh.
(22) Hoàn thành 1.897 căn nhà ở
xã hội.
2.5. Chỉ
tiêu về quốc phòng, an ninh, đối ngoại
(23) Công tác tuyển chọn và gọi
công dân nhập ngũ; công tác huấn luyện, diễn tập, giáo dục quốc phòng, an ninh
hoàn thành 100% chỉ tiêu hàng năm.
(24) Đảm bảo tỷ lệ xã, phường đạt
tiêu chuẩn “An toàn về an ninh, trật tự” từ 75% trở lên; tiếp tục xây dựng thêm
20% xã, phường không ma túy trong tổng số xã, phường chưa được công nhận.
(25) Ký kết ít nhất 01 thỏa thuận
cấp thành phố với các địa phương, đối tác quốc tế; tham gia ít nhất 01 tổ chức
quốc tế/diễn đàn đa phương có tôn chỉ, mục đích hoạt động phù hợp với mục tiêu
phát triển của thành phố; phấn đấu 100% trường hợp được hỗ trợ hiệu quả qua
công tác bảo hộ công dân ở nước ngoài.
III. DỰ
BÁO CÁC CÂN ĐỐI LỚN
1. Lao động
và việc làm
Tăng cường kết nối cung - cầu
lao động; hoàn thiện hệ thống thông tin thị trường lao động gắn với ứng dụng
công nghệ thông tin và chuyển đổi số. Nâng cao năng lực dự báo nhu cầu sử dụng
lao động, nhu cầu đào tạo của doanh nghiệp theo hướng sát thực về số lượng, chất
lượng, cơ cấu ngành nghề và trình độ. Phát triển hệ thống giáo dục nghề nghiệp
mở, hiện đại; đẩy mạnh đào tạo, đào tạo lại và bồi dưỡng kỹ năng cho người lao
động, nhất là tại các khu, cụm công nghiệp và các ngành kinh tế trọng điểm, đáp
ứng yêu cầu thị trường lao động trong bối cảnh mới, góp phần nâng cao năng suất
lao động và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế - lao động. Dự kiến năm 2026,
giải quyết việc làm cho 120.000 lao động; tuyển sinh đào tạo nghề 45.000 người;
góp phần nâng cao tỷ lệ lao động được đào tạo so với tổng số lao động đạt
74,67%, trong đó: tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ đạt 29,5%;
tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị 3,16%.
2. Cân đối
thu chi ngân sách
Tập trung chỉ đạo thực hiện
nghiêm các quy định của pháp luật về quản lý tài chính - ngân sách; tổ chức triển
khai kịp thời dự toán ngân sách Nhà nước được giao; tăng cường kỷ luật, kỷ
cương tài chính; bảo đảm cân đối ngân sách địa phương, sử dụng ngân sách Nhà nước
tiết kiệm, hiệu quả, góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội
của thành phố.
Tiếp tục đẩy mạnh CCHC, hiện đại
hóa công tác quản lý thu; tăng cường phối hợp giữa các ngành, các cấp trong quản
lý nguồn thu; triển khai đồng bộ các giải pháp chống thất thu, xử lý nợ đọng
thuế, mở rộng và khai thác hiệu quả các nguồn thu mới, nhất là từ đất đai, tài
sản công, hoạt động kinh tế số, thương mại điện tử. Đẩy mạnh thanh tra, kiểm
tra thuế, chống chuyển giá, gian lận thuế; bảo đảm thu đúng, thu đủ, thu kịp thời
theo quy định pháp luật. Dự kiến năm 2026, thu ngân sách theo dự toán giao là
26.878 tỷ đồng (trong đó: thu nội địa 26.217 tỷ đồng, thu từ hoạt động xuất nhập
khẩu 661 tỷ đồng); phấn đấu tăng thu ngân sách tăng khoảng 15% so với năm 2025[58] (mục tiêu phấn đấu theo Nghị
quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030).
Điều hành chi ngân sách chặt chẽ
theo dự toán và thứ tự ưu tiên; tập trung nguồn lực cho chi đầu tư phát triển,
các công trình trọng điểm và nhiệm vụ có tính lan tỏa, tạo động lực tăng trưởng;
quản lý chặt chẽ chi thường xuyên, triệt để tiết kiệm các khoản chi chưa thật sự
cần thiết. Bảo đảm đầy đủ, kịp thời các khoản chi tiền lương, an sinh xã hội,
quốc phòng, an ninh và các nhiệm vụ cấp bách; tăng cường kiểm tra, giám sát,
công khai, minh bạch trong quản lý, sử dụng ngân sách Nhà nước, kiên quyết
phòng, chống thất thoát, lãng phí. Dự kiến năm 2026, tổng chi ngân sách địa
phương 48.738,805 tỷ đồng (trong đó: chi cân đối ngân sách địa phương
28.588,292 tỷ đồng, chi từ nguồn bổ sung có mục tiêu từ ngân sách Trung ương
10.150,513 tỷ đồng).
3. Lĩnh vực
ngân hàng
Bảo đảm cân đối hài hòa giữa
tăng trưởng tín dụng và an toàn hệ thống, đóng góp tích cực vào sự ổn định và phát
triển bền vững của địa phương; trong đó, tăng trưởng huy động vốn đảm bảo đáp ứng
ít nhất 70% hoạt động tín dụng; tăng trưởng tín dụng phải đáp ứng được các tiêu
chí: (1) Phù hợp với sức hấp thụ của nền kinh tế nhưng vẫn phải đảm bảo mức
tăng trưởng đủ mạnh để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế - xã hội của địa phương; (2)
Không đánh đổi tăng trưởng ngắn hạn với chất lượng tín dụng (nợ xấu), phấn đấu
duy trì tỷ lệ nợ xấu nội bảng ở mức an toàn (dưới 3%); (3) Hướng nguồn vốn tín
dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, các lĩnh vực ưu tiên và các động lực
tăng trưởng nền kinh tế theo chủ trương của Chính phủ; chủ động cân đối nguồn vốn
tín dụng hỗ trợ thực hiện các Chương trình, Đề án trọng tâm phục vụ phát triển
kinh tế - xã hội của thành phố.
4. Vốn đầu
tư toàn xã hội
Dự kiến năm 2026, tổng vốn đầu
tư toàn xã hội chiếm tỷ trọng tối thiểu 32,63% GRDP. Quản lý, phân bổ và sử dụng
vốn đầu tư công thống nhất, chặt chẽ, bảo đảm phù hợp với mục tiêu, định hướng
phát triển trong chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và các quy hoạch
đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt; tuân thủ nghiêm các nguyên tắc, tiêu chí
và định mức phân bổ vốn đầu tư công theo quy định của pháp luật. Phát huy vai
trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước trong ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm các cân
đối lớn của nền kinh tế; đồng thời đẩy mạnh hợp tác công - tư, tạo điều kiện
thu hút và dẫn dắt các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển. Thực sự coi kinh
tế tư nhân là một động lực quan trọng của tăng trưởng, tập trung cải thiện môi
trường đầu tư, kinh doanh để khơi thông dòng vốn trong nước; thu hút có chọn lọc
các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài gắn với chuyển giao công nghệ, nâng cao
giá trị gia tăng và tăng cường liên kết giữa các khu vực kinh tế. Ưu tiên huy động
nguồn lực đầu tư cho các lĩnh vực kinh tế số, kinh tế xanh, công nghệ cao, công
nghệ bán dẫn, trí tuệ nhân tạo và chuyển đổi năng lượng; đồng thời tập trung
tháo gỡ dứt điểm các khó khăn, vướng mắc đối với các dự án tồn đọng kéo dài nhằm
sớm đưa nguồn lực đầu tư vào nền kinh tế. Tiếp tục phát triển đa dạng mô hình
kinh tế tập thể, HTX thu hút ngày càng đông hộ gia đình và cá nhân tham gia;
góp phần nâng cao thu nhập và chất lượng cuộc sống của các thành viên, hộ gia
đình.
4.1. Đầu tư công
Kế hoạch vốn đầu tư công năm
2026 thành phố Cần Thơ các nguồn vốn ngân sách Nhà nước địa phương phân bổ chi
tiết như sau:
- Nguồn vốn ngân sách địa
phương: 12.325.900 triệu đồng.
- Nguồn vốn ngân sách Trung
ương: 5.606.650 triệu đồng.
- Số vốn còn lại 1.334.000 triệu
đồng vốn ngân sách Trung ương sẽ được giao chi tiết cho dự án Bệnh viện Ung bướu
thành phố Cần Thơ, quy mô 500 giường sau khi đảm bảo các điều kiện bố trí vốn
theo quy định tại Điều 56 Luật Đầu tư công.
4.2. Huy động nguồn lực
ngoài ngân sách
Dự kiến có tối thiểu 4.700
doanh nghiệp thành lập mới, với tổng vốn 32.900 tỷ đồng, tăng 4% về số lượng
doanh nghiệp và tăng 25% về vốn so với năm 2025; thu hút tối thiểu 06 dự án đầu
tư trực tiếp nước ngoài (FDI) với tổng vốn đăng ký 130 triệu USD. Phấn đấu
thành lập mới 55 HTX, trong đó tập trung xây dựng từ ít nhất 03 HTX có quy mô lớn
trong lĩnh vực nông nghiệp; dự kiến đạt doanh thu bình quân HTX 3,3 tỷ đồng.
4.3. Tiếp tục đẩy nhanh
tiến độ công tác thoái vốn tại các doanh nghiệp đã được Thủ tướng Chính phủ phê
duyệt. Tăng cường công tác chỉ đạo, giám sát, kiểm tra, thanh tra hoạt động của
doanh nghiệp Nhà nước và doanh nghiệp có vốn Nhà nước, kiểm soát quyền lực, kịp
thời phát hiện, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm theo quy định.
5. Xuất nhập
khẩu
Thường xuyên theo dõi tình hình
khôi phục hoạt động của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu và tuyên truyền thực hiện
các Hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam đã ký kết và có hiệu lực. Tăng cường
công tác xúc tiến, thúc đẩy việc mở rộng thị trường xuất khẩu, đa dạng hóa thị
trường, sản phẩm, các chuỗi cung ứng. Dự kiến năm 2026, tổng kim ngạch xuất khẩu
hàng hóa, dịch vụ và thu ngoại tệ ước thực hiện 6.060 triệu USD, tổng kim ngạch
nhập khẩu hàng hóa 1.450 triệu USD.
6. Khoa học
công nghệ và chuyển đổi số
Tập trung chỉ đạo triển khai
quyết liệt, hiệu quả Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của
Bộ Chính trị; rà soát, hoàn thiện cơ chế, chính sách và ưu tiên nguồn lực tạo đột
phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đẩy mạnh
xây dựng các chương trình, đề án nghiên cứu trọng điểm gắn với các ngành công
nghệ chiến lược; phát triển đồng bộ cơ sở dữ liệu, đưa dữ liệu trở thành tài
nguyên phục vụ quản lý và phát triển. Tăng cường đầu tư hạ tầng nghiên cứu,
phát triển công nghệ cao; đẩy mạnh liên kết hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong
và ngoài nước, thu hút đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học tham gia nghiên cứu, ứng
dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trên địa bàn. Dự kiến năm 2026, tỷ trọng
giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GRDP đạt tối thiểu 8,3%.
IV. ĐỊNH
HƯỚNG, NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN NGÀNH, LĨNH VỰC
1. Về
phát triển kinh tế
1.1. Phát
triển công nghiệp - xây dựng
Duy trì đà phục hồi cho các hoạt
động sản xuất, kinh doanh. Tập trung phát triển các ngành công nghiệp chủ lực,
công nghiệp chế biến các sản phẩm nông, lâm, thủy sản hướng vào xuất khẩu, mở rộng
sản xuất những sản phẩm tinh chế, đa dạng hóa các mặt hàng, nâng cao giá trị xuất
khẩu gắn với mở rộng thị trường tiêu thụ đẩy mạnh phát triển công nghiệp hỗ trợ;
từng bước phát triển ngành công nghiệp xanh, sạch, theo hướng hiện đại. Chỉ số
phát triển sản xuất công nghiệp năm 2026 dự kiến tăng 11 - 13%.
Tập trung phát triển các khu
công nghiệp (KCN), tạo điều kiện thuận lợi thu hút đầu tư và phát triển các dự
án công nghiệp kỹ thuật cao, công nghiệp chế biến chuyên sâu; dự kiến hình
thành 03 dự án kinh doanh kết cấu hạ tầng KCN Đại Ngãi, KCN Đông Phú, KCN Tân
Hòa; điều chỉnh chủ trương đầu tư KCN Hưng Phú 1 (Cụm A); khuyến khích các cơ sở
công nghiệp đổi mới công nghệ sản xuất theo hướng hiện đại, phấn đấu đến năm
2026 trên 80% doanh nghiệp trong KCN ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ số,
giải pháp số vào hoạt động sản xuất kinh doanh; trên 30% doanh nghiệp trong KCN
có hoạt động đổi mới sáng tạo. Đầu tư và hoàn chỉnh đồng bộ hạ tầng kỹ thuật chủ
yếu cho các KCN đang hoạt động. Hỗ trợ các doanh nghiệp trong KCN trong kết nối
cung cầu lao động, giới thiệu việc làm, nhất là nguồn lao động đã qua đào tạo.
Chú trọng công tác xử lý môi trường theo đúng các tiêu chuẩn hiện hành của pháp
luật trong quá trình hoạt động và sản xuất của các doanh nghiệp KCN. Tiếp tục
kêu gọi đầu tư hạ tầng các Cụm công nghiệp theo quy hoạch được duyệt.
Triển khai các giải pháp nhằm đảm
bảo nguồn điện đáp ứng nhu cầu năng lượng và an toàn cho sản xuất, sinh hoạt;
tăng cường kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về hoạt động điện
lực, bảo đảm an toàn công trình lưới điện cao áp và chấp hành các quy định của
pháp luật trong sử dụng điện an toàn, tiết kiệm và hiệu quả; dự kiến sản lượng
điện tiêu thụ năm 2026 tăng 10% so với cùng kỳ; điện năng tiết kiệm khoảng 168
triệu kWh.
Đẩy mạnh đầu tư phát triển kết
cấu hạ tầng theo hướng đồng bộ, hiện đại, thông minh, bảo đảm tiến độ và chất
lượng các công trình hạ tầng chiến lược, nhất là các dự án giao thông trọng điểm,
hạ tầng kết nối vùng; phát triển hệ thống hạ tầng đô thị, năng lượng và hạ tầng
phục vụ chuyển đổi số. Đồng thời, rà soát, điều chỉnh quy hoạch xây dựng, quy
hoạch đô thị theo hướng đồng bộ, khả thi, phù hợp với bối cảnh phát triển mới;
tăng cường quản lý trật tự xây dựng, nâng cao chất lượng công tác thẩm định,
giám sát đầu tư xây dựng, bảo đảm phát triển đô thị bền vững, thích ứng biến đổi
khí hậu. Theo dõi diễn biến thị trường vật liệu xây dựng, bảo đảm cân đối cung
cầu, bình ổn thị trưởng, đặc biệt là các vật liệu chủ yếu.
1.2. Phát
triển thương mại, dịch vụ
Tập trung phát triển một số
ngành dịch vụ có lợi thế, hàm lượng tri thức và công nghệ cao như công nghệ
thông tin, viễn thông, logistics, hàng không, phát triển các loại hình dịch vụ
phục vụ cho sản xuất và cho các khu, cụm công nghiệp; nâng cao chất lượng và đa
dạng hóa các loại hình dịch vụ vui chơi giải trí, mua sắm, văn hóa - thể thao,
công nghệ thông tin...
Xây dựng chương trình xúc tiến
có trọng tâm, trọng điểm; lồng ghép các hoạt động xúc tiến thương mại phát triển
thị trường vào các chương trình kích cầu tiêu dùng, kết nối cung cầu hàng hóa;
đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại ra nước ngoài nhằm kết nối, hỗ trợ phát
triển thị trường xuất khẩu các mặt hàng chủ lực của thành phố tạo thuận lợi cho
sản xuất nông nghiệp và công nghiệp chế biến phát triển; hướng dẫn các cơ sở sản
xuất, kinh doanh thiết lập mô hình mua bán, phân phối hàng hóa để kết nối cung
cầu, liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm phù hợp với quy mô thị trường của từng
địa bàn; thúc đẩy ứng dụng rộng rãi thương mại điện tử trong doanh nghiệp và
người tiêu dùng nhằm mở rộng thị trường tiêu thụ cho doanh nghiệp thành phố.
Khuyến khích, hỗ trợ các cơ sở sản xuất, kinh doanh xây dựng mô hình điểm bán sản
phẩm OCOP, sản phẩm đặc sản, đặc trưng vùng miền trên địa bàn thành phố nhằm giới
thiệu, quảng bá và kết nối tiêu thụ sản phẩm OCOP, sản phẩm đặc sản, đặc trưng
vùng miền của thành phố và các tỉnh, thành phố trong cả nước; tăng cường kết nối
tiêu thụ sản phẩm thông qua các hệ thống siêu thị, cửa hàng tiện ích và chợ, nhất
là chợ đầu mối. Tổng mức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ năm 2026 ước đạt
tối thiểu 400.000 tỷ đồng. Hoàn thiện các quy định về quản lý hàng hóa lưu
thông trên thị trường: quy định về nhãn mác hàng hóa, nguồn gốc xuất xứ, truyền
thông quảng cáo, thông tin thị trường, tăng cường công tác bình ổn thị trường,
chủ động tổ chức thực thi chặt chẽ các quy định của pháp luật đối với lĩnh vực
chống bán phá giá, kiểm soát tình trạng buôn lậu, gian lận thương mại, hạn chế
cạnh tranh và cạnh tranh không lành mạnh, vi phạm lợi ích của người tiêu dùng.
Định hướng phát triển du lịch
theo hướng bền vững, chuyên nghiệp và hiện đại; tập trung triển khai hiệu quả
các đề án, chương trình phát triển du lịch, phát triển sản phẩm du lịch đặc
trưng, du lịch nông nghiệp, du lịch đường sông và kinh tế ban đêm nhằm đa dạng
hóa sản phẩm, thu hút khách và kéo dài thời gian lưu trú. Đẩy mạnh chuyển đổi số,
xây dựng du lịch thông minh, tăng cường quảng bá, xúc tiến và xây dựng thương
hiệu du lịch thành phố; chú trọng phát triển nguồn nhân lực du lịch có chất lượng,
đồng thời tăng cường quản lý Nhà nước, bảo đảm an ninh, an toàn và nâng cao chất
lượng dịch vụ, tạo môi trường du lịch văn minh, thân thiện và hấp dẫn. Dự kiến
năm 2026, phấn đấu tiếp đón 12,3 triệu lượt khách, phục vụ lưu trú khoảng 5,43
triệu lượt khách, trong đó khách quốc tế khoảng 490.000 lượt; dự kiến doanh thu
ngành du lịch đạt 11.400 tỷ đồng.
Chú trọng phát triển vận tải đa
phương thức và dịch vụ logistics trên cơ sở ứng dụng khoa học công nghệ, nâng
cao năng lực, hiệu quả, chất lượng dịch vụ vận tải, giảm chi phí logistics; chủ
động đề xuất với cấp thẩm quyền về các chính sách, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền
cho địa phương tham gia quản lý trực tiếp hoạt động vận tải, đề xuất tăng cường
các đường bay quốc tế tại Cảng hàng không quốc tế Cần Thơ; cải thiện khả năng kết
nối giao thông đường thủy; kêu gọi đầu tư xây dựng cảng tàu khách theo quy hoạch
để phục vụ việc đón các tàu khách du lịch trọng tải lớn và cao cấp, thúc đẩy
phát triển du lịch đường thủy.
1.3.
Nông nghiệp phát triển nhanh, bền vững, hiệu quả,
trách nhiệm theo hướng “Nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại, nông dân văn
minh”. Phát triển sản xuất nông lâm thủy sản hàng hóa tích hợp đa giá trị, dựa
trên lợi thế địa phương, theo hướng hiện đại có năng suất, chất lượng, hiệu quả,
bền vững và sức cạnh tranh cao, bảo đảm vững chắc an ninh lương thực, an ninh
dinh dưỡng. Nâng cao thu nhập, chất lượng cuộc sống, vai trò và vị thế của người
tham gia sản xuất nông nghiệp; tạo việc làm phi nông nghiệp để phát triển sinh
kế đa dạng, giảm nghèo bền vững cho người dân nông thôn. Phát triển nông nghiệp,
kinh tế nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới theo hướng nông nghiệp sinh
thái, nông thôn hiện đại và nông dân văn minh. Chủ động phối hợp với các viện,
trường để tăng cường hướng dẫn nông dân ứng dụng công nghệ tiên tiến vào sản xuất,
góp phần tăng năng suất, chất lượng nông sản.
Dự kiến năm 2026, diện tích lúa
cả năm 661.195 ha với tổng sản lượng đạt trên 4.396.165 tấn; cây hàng năm khác
96.876 ha với sản lượng đạt trên 1.551.844 tấn. Cây ăn quả 102.194 ha với sản
lượng trên 1.158.783 tấn. Tổng đàn gia súc, gia cầm 16.729.983 con, sản lượng
thịt các loại 171.489 tấn. Diện tích nuôi thủy sản 96.500 ha với tổng sản lượng
809.991 tấn (sản lượng nuôi 736.491 tấn; sản lượng khai thác 73.500 tấn).
2. Về
phát triển xã hội
2.1.
Giáo dục và Đào tạo
Phát triển giáo dục và đào tạo
theo hướng đồng bộ, hiện đại, công bằng và hội nhập; bảo đảm mọi người dân được
tiếp cận giáo dục có chất lượng, từng bước thu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa
các vùng, khu vực, xây dựng thành phố Cần Thơ trở thành trung tâm giáo dục -
đào tạo của vùng ĐBSCL. Phát triển hài hòa giữa giáo dục công lập và ngoài công
lập; ưu tiên đầu tư cho vùng còn khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và
các đối tượng chính sách, bảo đảm công bằng trong tiếp cận giáo dục và thúc đẩy
cơ hội học tập suốt đời; từng bước xây dựng xã hội học tập với hệ thống giáo dục
đa dạng, linh hoạt, liên thông, hiện đại, đáp ứng yêu cầu phát triển thành phố.
Phấn đấu nâng cao tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia năm 2026 đạt 68,6%.
2.2. Y tế
Tập trung chỉ đạo phát triển
ngành y tế theo hướng đồng bộ, hiện đại, lấy người dân làm trung tâm; nâng cao
năng lực y tế dự phòng, chủ động phòng, chống dịch bệnh; củng cố y tế cơ sở,
nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh và bảo đảm quyền lợi người tham gia bảo hiểm
y tế. Đẩy mạnh đầu tư hạ tầng y tế, hoàn thành các công trình y tế trọng điểm;
bảo đảm đủ thuốc, vật tư, trang thiết bị phục vụ điều trị. Tăng cường chuyển đổi
số y tế, triển khai bệnh án điện tử, sổ sức khỏe điện tử và dịch vụ y tế thông
minh; đồng thời nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước, bảo đảm an toàn thực phẩm,
vệ sinh môi trường y tế và chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em, góp phần nâng cao
chất lượng cuộc sống Nhân dân ; góp phần nâng cao tỷ lệ người dân hài lòng với
dịch vụ y tế trên 90%, đáp ứng lộ trình bảo hiểm y tế toàn dân đến năm 2026 đạt
95,4%.
2.3. An
sinh - xã hội
Triển khai đầy đủ, kịp thời các
chính sách an sinh xã hội, ưu đãi người có công, trợ giúp xã hội đối với nhóm yếu
thế, bảo vệ và chăm lo toàn diện cho các đối tượng cần hỗ trợ. Tăng cường các
hoạt động phát triển thanh niên, thúc đẩy bình đẳng giới, nâng cao đời sống vật
chất và tinh thần của Nhân dân. Tiếp tục phối hợp triển khai đồng bộ các chương
trình văn hóa - xã hội, bảo đảm môi trường sống an toàn, lành mạnh, hướng đến mục
tiêu phát triển con người Cần Thơ toàn diện. Triển khai đồng bộ, hiệu quả các
chủ trương, chính sách của Trung ương và thành phố về giảm nghèo bền vững; thực
hiện các giải pháp hỗ trợ sinh kế, tạo việc làm, tăng thu nhập cho hộ nghèo, cận
nghèo; ưu tiên các nhóm yếu thế, vùng khó khăn, khu vực nông thôn. Đẩy mạnh lồng
ghép các chương trình, dự án giảm nghèo với phát triển kinh tế - xã hội, đào tạo
nghề, tín dụng chính sách, nhà ở, y tế, giáo dục. Triển khai thực hiện tốt
Phong trào thi đua “Chung tay xóa nhà tạm, nhà dột nát”, dự kiến năm 2026 thực
hiện đạt tỷ lệ nghèo đa chiều theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2026 - 2030
là 6,42%; tỷ lệ tham gia bảo hiểm xã hội của lực lượng lao động trong độ tuổi
là 48% (trong đó bắt buộc là 41,8%; tự nguyện 6,2%); tỷ lệ tham gia bảo hiểm thất
nghiệp là 39%. Giải quyết tốt các vấn đề an sinh, xã hội, nâng cao chất lượng
cuộc sống đồng bào dân tộc thiểu số, thực hiện công tác giảm nghèo, thu hẹp khoảng
cách chênh lệch về mức sống giữa các dân tộc trong cộng đồng. Hỗ trợ và tạo điều
kiện thuận lợi để các tôn giáo hoạt động tôn giáo theo truyền thống, trong
khuôn khổ của pháp luật quy định cho phép, theo quan điểm của Đảng, Nhà nước về
tín ngưỡng, tôn giáo.
2.4.
Phát triển văn hóa, thể dục thể thao
Phát triển lĩnh vực văn hóa
theo hướng xây dựng đời sống văn hóa cơ sở, phát huy giá trị con người Cần Thơ
trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa; triển khai hiệu quả Phong trào
“Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” và. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền,
cổ động trực quan. Tăng cường bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị di sản văn
hóa gắn với giáo dục truyền thống, số hóa di sản và phát triển du lịch văn hóa;
nâng cao chất lượng hoạt động nghệ thuật, tổ chức các sự kiện, liên hoan, biểu
diễn phục vụ nhiệm vụ chính trị và nhu cầu hưởng thụ văn hóa của Nhân dân. Đồng
thời, chú trọng xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc; phòng, chống bạo lực
gia đình.
Phát triển lĩnh vực thể dục, thể
thao theo hướng toàn diện, bền vững, nâng cao thể lực, tầm vóc và đời sống tinh
thần của Nhân dân; đẩy mạnh phong trào thể dục thể thao quần chúng gắn với Cuộc
vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”, phát triển thể
thao trường học, thể thao trong lực lượng vũ trang. Mở rộng và đa dạng các hoạt
động thể thao quần chúng, duy trì sử dụng thường xuyên 100% công trình thể thao
với 1.658.930 người tập thể dục thể thao thường xuyên và 256.494 gia đình thể
thao. Đồng thời, tập trung đầu tư có trọng tâm, trọng điểm cho thể thao thành
tích cao và từng bước phát triển thể thao chuyên nghiệp; ưu tiên các môn mũi nhọn,
tăng cường đào tạo, tuyển chọn, quản lý huấn luyện viên, vận động viên; tham
gia, đăng cai các giải thể thao quốc gia, quốc tế; dự kiến phát triển thêm 20
môn thể thao cấp quốc gia với 155 vận động viên đẳng cấp quốc gia.
2.5.
Thông tin và truyền thông
Bảo đảm thông tin, truyền thông
kịp thời, chính xác, phục vụ nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế - xã hội và
nhu cầu tiếp cận thông tin của Nhân dân. Tăng cường công tác chỉ đạo, định hướng
báo chí; xử lý thông tin báo chí, mạng xã hội sai sự thật liên quan đến thành
phố. Đẩy mạnh thông tin cơ sở, thông tin đối ngoại, nâng cao chất lượng tuyên
truyền trên hệ thống truyền thanh và các nền tảng số. Đồng thời, thúc đẩy phát
triển văn hóa đọc, đổi mới và chuyển đổi số hoạt động thư viện; tổ chức các hoạt
động, sự kiện sách và thông tin chuyên đề; tăng cường phối hợp liên ngành nhằm
lan tỏa tri thức, phục vụ học tập suốt đời, góp phần xây dựng xã hội học tập và
nâng cao dân trí trên địa bàn thành phố.
V. GIẢI
PHÁP CHỦ YẾU
1. Thực
hiện quyết liệt, hiệu quả, thực chất các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà
nước; các chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; các chỉ đạo của Thành ủy,
Hội đồng nhân dân thành phố về nhiệm vụ năm 2026
Triển khai thực hiện đầy đủ các
nhiệm vụ giải pháp tại Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về
đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất
nước trong kỷ nguyên mới.
Siết chặt kỷ luật, kỷ cương, đề
cao trách nhiệm, nhất là người đứng đầu trong công tác xây dựng văn bản quy phạm
pháp luật, bám sát quy trình xây dựng, ban hành nghị quyết, quyết định quy phạm
pháp luật của HĐND, UBND thành phố theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật,
các văn bản hướng dẫn thi hành.
Hoàn thành việc ban hành văn bản
quy phạm pháp luật thay thế các văn bản quy phạm pháp luật của tỉnh Hậu Giang,
tỉnh Sóc Trăng và thành phố Cần Thơ trước sáp nhập đang được áp dụng sau sắp xếp
đơn vị hành chính cấp tỉnh. Đảm bảo cơ sở pháp lý đồng bộ cho hoạt động của bộ
máy Nhà nước theo mô hình Chính quyền hai cấp đạt hiệu quả.
Thường xuyên rà soát, sửa đổi/đề
xuất sửa đổi góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến đầu tư kinh
doanh, đặc biệt trong lĩnh vực đất đai, quy hoạch, khoáng sản, sở hữu trí tuệ,
phá sản, xây dựng… Tiếp tục thực hiện phân cấp, phân quyền rõ ràng, đồng bộ
trong các lĩnh vực tài chính, đầu tư, xây dựng, đất đai và các lĩnh vực khác.
Bám sát các quy định Trung
ương, thể chế hiệu quả các cơ chế, chính sách cho địa phương trong triển khai
các mô hình kinh tế mới như: kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, trung
tâm logistics, khu kinh tế; khuyến khích phát triển trí tuệ nhân tạo (AI) và
các công nghệ tiên tiến ứng dụng trong điều hành, sản xuất và quản lý xã hội.
Tiếp tục rà soát, hoàn thiện cơ
chế phân cấp, phân quyền, phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách
nhiệm giữa các cấp Chính quyền địa phương với các sở, ban, ngành; bảo đảm thống
nhất quản lý Nhà nước, đồng thời phát huy tính chủ động, sáng tạo của cấp cơ sở.
Thực hiện nghiêm phương châm “địa phương quyết - địa phương làm - địa phương chịu
trách nhiệm”; tăng cường kiểm tra, giám sát, hậu kiểm, gắn phân quyền với kiểm
soát quyền lực và trách nhiệm người đứng đầu.
Tổ chức thực hiện đồng bộ, hiệu
quả các nhiệm vụ, giải pháp CCHC nhằm đạt các mục tiêu đề ra trong Chương trình
tổng thể CCHC Nhà nước giai đoạn 2021 - 2030 (theo Nghị quyết số 76/NQ-CP) và
Chương trình CCHC thành phố Cần Thơ giai đoạn 2026 - 2030. Tiếp tục tinh gọn bộ
máy, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; đẩy mạnh chuyển
đổi số toàn diện trong quản lý, điều hành; xây dựng Chính quyền thành phố Cần
Thơ hiện đại, chuyên nghiệp, kỷ cương, trách nhiệm, nâng cao năng lực điều
hành, hiệu quả quản trị và chất lượng dịch vụ hành chính công của Chính quyền
hai cấp.
Triển khai Nghị quyết số
66/NQ-CP ngày 26/3/2025 của Chính phủ về Chương trình cắt giảm, đơn giản hóa thủ
tục hành chính (TTHC) liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh năm 2025 và
2026, trong đó chủ động giảm ít nhất 50% thời gian giải quyết của các TTHC, 50%
chi phí tuân thủ TTHC so với năm 2024; 100% thủ tục quy định tại quy chuẩn kỹ
thuật, tiêu chuẩn bắt buộc áp dụng phải được công bố, rà soát, cắt giảm, đơn giản
hóa; 100% chế độ báo cáo của doanh nghiệp được thực hiện điện tử; 100% TTHC nội
bộ trong từng cơ quan hành chính Nhà nước được thực hiện quản trị nội bộ trên
môi trường điện tử; 100% thông tin, giấy tờ, tài liệu trong các TTHC liên quan
đến hoạt động sản xuất, kinh doanh chỉ cung cấp một lần cho cơ quan hành chính
Nhà nước; 100% TTHC đủ điều kiện được thực hiện trực tuyến toàn trình.
Tập trung chuẩn bị điều kiện cần
thiết để chủ động triển khai thực hiện, tổ chức thành công cuộc bầu cử đại biểu
Quốc hội khóa XVI và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031.
Tiếp tục quán triệt, đẩy nhanh
tiến độ thể chế hóa Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 05/8/2020 của Bộ Chính trị về
xây dựng và phát triển thành phố Cần Thơ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045;
Nghị quyết số 98/NQ-CP ngày 30/8/2021 của Chính phủ về việc ban hành Chương
trình hành động thực hiện Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 05/8/2020 của Bộ Chính trị;
Nghị quyết số 45/2022/QH15 ngày 11/01/2022 của Quốc hội về thí điểm một số cơ
chế, chính sách đặc thù phát triển thành phố Cần Thơ; tranh thủ hỗ trợ của Bộ,
ngành Trung ương kịp thời tham mưu Chính phủ đề xuất Quốc hội sửa đổi, điều chỉnh
Nghị quyết số 45/2022/QH15 ngày 11/02/2022 của Quốc hội, nhằm tạo thêm nguồn lực
cho thành phố phát triển nhanh và bền vững trong tình hình mới.
2. Ưu
tiên thúc đẩy tăng trưởng gắn với ổn định kinh tế vƿ mô, kiểm soát lạm phát, bảo
đảm các cân đối lớn; cơ cấu lại nền kinh tế, xác lập mô hình tăng trưởng mới
2.1. Ưu
tiên thúc đẩy tăng trưởng góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo
đảm các cân đối lớn
Tổ chức thực hiện nghiêm Luật
Thuế, Luật Quản lý thuế và các nhiệm vụ thu ngân sách Nhà nước ngay từ đầu năm
2026. Bám sát chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Bộ Tài chính và Nghị quyết của
HĐND thành phố để triển khai đồng bộ các giải pháp tăng thu, phấn đấu thu vượt
dự toán được giao, bảo đảm nguồn lực thực hiện các nhiệm vụ chi và xử lý các
nhiệm vụ phát sinh.
Quản lý chặt chẽ các nguồn thu,
người nộp thuế; đẩy mạnh công tác thu hồi nợ đọng thuế, hạn chế phát sinh nợ
thuế mới; thanh tra, kiểm tra chống thất thu ngân sách; tăng cường rà soát, kiểm
tra việc sử dụng hóa đơn điện tử; tập trung vào các lĩnh vực, ngành nghề có rủi
ro cao, hoạt động liên kết, chuyển giá, thương mại điện tử, kinh doanh trên nền
tảng số, chuyển nhượng vốn. Phối hợp chặt chẽ trong quản lý thu thuế đối với hoạt
động khai thác tài nguyên, khoáng sản trên địa bàn. Thực hiện thu hồi kịp thời
các khoản thuế, tiền phạt và các khoản phải thu theo kiến nghị của cơ quan kiểm
toán, kết luận thanh tra và cơ quan có thẩm quyền.
Điều hành chi ngân sách chặt chẽ,
đúng dự toán, chế độ, tiêu chuẩn, định mức; thực hành tiết kiệm, chống lãng
phí; cắt giảm các khoản chi chưa thật sự cần thiết; chỉ ban hành chính sách làm
tăng chi khi có nguồn bảo đảm.
Chủ động quản lý nợ công và nợ
Chính quyền địa phương, bảo đảm an toàn nợ; thực hiện nghiêm các kết luận thanh
tra, kiểm toán; tăng cường công khai, minh bạch và kỷ luật tài chính - ngân
sách, đề cao trách nhiệm người đứng đầu.
Rà soát, khai thác hiệu quả nguồn
lực tài chính từ tài sản công, nhất là đất đai, tài nguyên, tài sản kết cấu hạ
tầng; kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án có thu tiền sử dụng đất
nhằm huy động nguồn lực cho đầu tư phát triển.
Tiếp tục thực hiện đấu giá nhà,
đất dôi dư sau sắp xếp; đấu giá quyền sử dụng đất theo kế hoạch, bảo đảm hoàn
thành dự toán thu tiền sử dụng đất do HĐND thành phố giao.
Thực hiện nghiêm các nguyên tắc
quản lý, phân bổ và sử dụng kế hoạch vốn đầu tư công năm 2026 theo quy định của
pháp luật; bố trí vốn đúng thứ tự ưu tiên, bảo đảm công khai, minh bạch, hiệu
quả. Đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công; tăng cường phối
hợp, phân công rõ trách nhiệm giữa các sở, ngành, UBND xã, phường và chủ đầu
tư, bảo đảm triển khai dự án đúng tiến độ, không để phát sinh nợ đọng xây dựng
cơ bản. Phát huy vai trò của Ban Chỉ đạo, Tổ công tác thúc đẩy tiến độ giải
ngân vốn đầu tư công; tăng cường kiểm tra hiện trường, kịp thời tháo gỡ khó
khăn, vướng mắc, nhất là đối với các dự án, công trình trọng điểm của thành phố.
Tập trung tháo gỡ vướng mắc về bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng và tái định
cư; tăng cường đối thoại với người dân, bảo đảm thực hiện đúng quy định pháp luật.
Chủ động phối hợp với các bộ, ngành Trung ương trong quá trình kiểm tra, hướng
dẫn, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc đối với các dự án đầu tư công trên địa bàn.
Phối hợp chặt chẽ với Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam chi nhánh khu vực 14 tăng cường quản lý Nhà nước về tiền tệ,
tín dụng, ngoại hối và hoạt động ngân hàng trên địa bàn; triển khai kịp thời
các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và chỉ đạo điều hành của Ngân
hàng Nhà nước; thúc đẩy tăng trưởng tín dụng hiệu quả, tập trung vào lĩnh vực sản
xuất, kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và thế mạnh của địa phương gắn với kiểm soát
chất lượng tín dụng đối với lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro, nợ xấu; đẩy mạnh thanh
tra, giám sát bảo đảm hệ thống ngân hàng hoạt động an toàn, lành mạnh; triển
khai hiệu quả thanh toán không dùng tiền mặt, chuyển đổi số và bảo đảm an ninh,
an toàn thông tin; ổn định thị trường ngoại hối, vàng, bảo đảm cung ứng tiền mặt
kịp thời phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.
Theo dõi sát diễn biến thị trường
và tình hình cung - cầu hàng hóa để kịp thời thực hiện biện pháp bình ổn thị
trường. Công bố danh sách những điểm bán lẻ bình ổn, các mặt hàng bình ổn cho
các ngành, đơn vị chức năng liên quan, UBND các xã, phường và cơ quan báo, đài
cho người dân trên địa bàn thành phố biết, tham gia mua sắm. Tập trung lực lượng
kiểm tra, kiểm soát đối với những mặt hàng thiết yếu, có nhu cầu tiêu dùng lớn
trong dịp lễ, tết, sự kiện lớn của thành phố; tăng cường kiểm tra, xử lý hoạt động
sản xuất, kinh doanh, buôn bán, vận chuyển hàng cấm, hàng giả, hàng kém chất lượng;
hành vi vi phạm trong lĩnh vực thương mại; không để xảy ra tình trạng đầu cơ,
tăng giá bất hợp lý đảm bảo ổn định thị trường để phục vụ nhu cầu cho Nhân dân.
Chủ động nắm bắt các tồn tại,
khó khăn, vướng mắc trong hoạt động sản xuất, xuất khẩu của doanh nghiệp trên địa
bàn để kịp thời có giải pháp tháo gỡ, thúc đẩy xuất khẩu theo thẩm quyền, quy định
pháp luật. Thường xuyên cập nhật thông tin, tình hình từ các tỉnh biên giới để
khuyến cáo các hộ nông dân, cơ sở sản xuất, doanh nghiệp chế biến xuất khẩu
nông sản và trái cây trên địa bàn chủ động kế hoạch sản xuất, đóng gói, giao nhận,
xuất khẩu hàng hóa, tránh để phát sinh ùn ứ và các tác động bất lợi khác. Đẩy mạnh
xúc tiến thương mại, kết nối giao thương, hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu mở rộng
thị trường, nhất là các thị trường trọng điểm và tiềm năng như: Trung Quốc, Hoa
Kỳ, EU, Đông Bắc Á, ASEAN, Trung Đông và châu Phi; tận dụng hiệu quả các Hiệp định
thương mại tự do (FTA) đã ký kết.
Đẩy mạnh thực hiện Chương trình
sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; triển khai các giải pháp điều chỉnh
phụ tải điện, tiết kiệm điện trong sản xuất, kinh doanh và sinh hoạt, nhất là
trong các tháng cao điểm. Chủ động xây dựng kế hoạch cụ thể triển khai các giải
pháp đảm bảo tiến độ và chất lượng các công trình nguồn điện, lưới điện theo Điều
chỉnh Quy hoạch điện VIII và Kế hoạch thực hiện Quy hoạch điện VIII điều chỉnh;
Nghị quyết số 70-NQ/TW ngày 20/8/2025 của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng
lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Tăng cường công tác quản lý
an toàn điện, phòng chống cháy nổ; tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người
dân, doanh nghiệp trong việc sử dụng điện an toàn, tiết kiệm, hiệu quả. Khuyến
khích phát triển các loại hình năng lượng tái tạo, năng lượng sạch (điện mặt trời
mái nhà, điện gió, điện sinh khối, điện rác) theo cơ chế phù hợp.
2.2. Cơ
cấu lại nền kinh tế, xác lập mô hình tăng trưởng mới
Thực hiện hiệu quả các đề án,
chương trình phát triển công nghiệp đã được phê duyệt; ưu tiên phát triển công
nghiệp chế biến, chế tạo, nhất là chế biến nông sản, thủy sản, thực phẩm. Hỗ trợ
doanh nghiệp công nghiệp đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất, chất lượng và
khả năng tham gia chuỗi giá trị; thúc đẩy chuyển đổi số trong quản trị, sản xuất,
logistics và tiêu thụ sản phẩm. Tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp công nghiệp
với khu vực nông nghiệp, thương mại, dịch vụ và logistics mở rộng hợp tác liên
vùng, kết nối với các trung tâm công nghiệp, thị trường lớn trong và ngoài nước;
từng bước hình thành các chuỗi sản xuất - chế biến - tiêu thụ gắn với vùng nguyên
liệu. Tiếp tục xây dựng và phát triển nhóm ngành công nghiệp mới, công nghệ
cao, công nghệ xanh, tuần hoàn như năng lượng tái tạo, thông minh, kỹ thuật số…
Đẩy nhanh hoàn thành các khu
công nghiệp Vĩnh Thạnh (VSIP, Phú Mỹ 3), An Nghiệp, Trần Đề, Sông Hậu 2, Đông
Phú 2… nhằm đẩy nhanh tiến độ thu hút, lấp đầy các khu công nghiệp; đưa vào vận
hành hệ thống các nhà máy nhiệt điện than Long Phú I (Sóc Trăng), Sông Hậu I (Hậu
Giang).
Tiếp tục kêu gọi đầu tư theo
quy hoạch các khu công nghiệp Thới Lai - Cờ Đỏ; đô thị - công nghiệp - cảng -
logistics Thốt Nốt; trung tâm năng lượng - công nghiệp - công nghệ cao Ô Môn;
thúc đẩy liên kết và hội nhập hành lang kinh tế đô thị - công nghiệp từ Cần Thơ
đến các tỉnh miền Đông Nam Bộ.
Phát triển mạnh hệ thống phân
phối, bán lẻ hiện đại; nâng cao hiệu quả kết nối cung - cầu giữa sản xuất và
tiêu dùng, giữa thành phố với các địa phương trong và ngoài vùng; phát huy vai
trò đầu mối thương mại của thành phố. Đẩy mạnh phát triển thương mại điện tử,
kinh tế số trong lĩnh vực thương mại; hỗ trợ doanh nghiệp, hộ kinh doanh tham
gia sàn thương mại điện tử, bán hàng trực tuyến, ứng dụng thanh toán không dùng
tiền mặt.
Đẩy mạnh phát triển các ngành dịch
vụ chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu của thị trường trong nước và quốc tế với các
dịch vụ được ưu tiên phát triển như logistics, du lịch, y tế, giáo dục, tài
chính, ngân hàng, khoa học công nghệ, công nghệ thông tin, giao thông vận tải,
vui chơi giải trí, mua sắm, văn hóa - thể thao… Nâng cao chất lượng và đa dạng
hóa các loại hình dịch vụ vui chơi giải trí, mua sắm, văn hóa - thể thao, dịch
vụ công nghệ thông tin tại các khu vực đô thị và điểm dân cư nông thôn.
Tổ chức hiệu quả các sự kiện, lễ
hội du lịch trọng điểm, gắn với quảng bá văn hóa, ẩm thực, thu hút khách du lịch
và kích cầu tiêu dùng. Tổ chức khảo sát, xây dựng sản phẩm cho các điểm vườn, hộ
dân, khu, điểm du lịch; thúc đẩy phát triển du lịch cộng đồng, du lịch sinh
thái, du lịch nông nghiệp gắn với bản sắc địa phương. Đẩy mạnh xây dựng thương
hiệu điểm đến du lịch Cần Thơ; xây dựng, chuyển giao bộ nhận diện thương hiệu
du lịch cho các tổ chức, cá nhân hoạt động du lịch; nâng cao hiệu quả công tác
quảng bá, truyền thông, khẳng định hình ảnh điểm đến an toàn, thân thiện,
chuyên nghiệp. Đẩy mạnh chuyển đổi số trong công tác xúc tiến, quảng bá du lịch;
tăng cường quảng bá du lịch Cần Thơ trên các nền tảng số, mạng xã hội; tiếp tục
hoàn thiện, nâng cấp Hệ thống du lịch thông minh thành phố phù hợp với tình
hình thực tế và nhu cầu của du khách. Tăng cường công tác quản lý Nhà nước về
du lịch; triển khai kiểm tra điều kiện tối thiểu về cơ sở vật chất kỹ thuật, dịch
vụ của cơ sở lưu trú du lịch; điểm tham quan trên địa bàn thành phố. Triển khai
đồng bộ các giải pháp nhằm tăng số lượt lưu trú của khách du lịch đến Cần Thơ.
Thực hiện hiệu quả cơ cấu lại
ngành nông nghiệp gắn với phát triển nông thôn và kinh tế nông thôn; phát triển
sản xuất nông nghiệp theo hướng hiện đại, bền vững, thích ứng biến đổi khí hậu,
nâng cao giá trị gia tăng và thu nhập cho người dân; trong đó: Triển khai thực
hiện Kế hoạch thực hiện Chiến lược phát triển trồng trọt đến năm 2030, tầm nhìn
đến năm 2050 trên địa bàn thành phố Cần Thơ; Kế hoạch thực hiện Đề án “Phát triển
bền vững một triệu héc-ta chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn
với tăng trưởng xanh vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030” trên địa bàn
thành phố Cần Thơ, các chương trình, kế hoạch đã được UBND thành phố phê duyệt.
Sử dụng linh hoạt đất trồng lúa chuyển sang phát triển các loại cây ăn trái có
giá trị, phát triển chuỗi giá trị nông nghiệp gắn với các loại hình du lịch
nông nghiệp. Phát triển các vùng sản xuất hàng hóa tập trung, quy mô lớn, chất
lượng cao; đẩy mạnh liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị; xây dựng mã số vùng
trồng, truy xuất nguồn gốc, chỉ dẫn địa lý và thương hiệu nông sản. Đẩy mạnh ứng
dụng nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp thông minh, tuần hoàn; cơ giới hóa
đồng bộ từ sản xuất đến thu hoạch, bảo quản, chế biến; tăng cường dự báo và
phòng, chống sinh vật gây hại, thúc đẩy sử dụng vật tư nông nghiệp sinh học, thân
thiện môi trường.
Phát triển chăn nuôi theo hướng
công nghiệp, công nghệ cao, an toàn sinh học, gắn với thị trường và xây dựng
thương hiệu sản phẩm; mở rộng áp dụng VietGAP, mô hình chăn nuôi sinh thái, hữu
cơ. Tập trung nguồn lực triển khai các dự án ưu tiên theo quy hoạch, nhất là
phát triển giống, hạ tầng vùng chăn nuôi tập trung, cơ sở giết mổ tập trung và
chuyển giao khoa học công nghệ. Nâng cao năng lực phòng, chống dịch bệnh, an
toàn thực phẩm và bảo vệ môi trường; xây dựng chuỗi thịt, trứng an toàn từ sản
xuất đến tiêu dùng; thúc đẩy xử lý chất thải chăn nuôi gắn với sản xuất phân
bón hữu cơ, phát triển kinh tế tuần hoàn.
Tổ chức nuôi trồng, khai thác
thủy sản phù hợp yêu cầu thị trường; đẩy mạnh nuôi thâm canh, siêu thâm canh, ứng
dụng công nghệ cao; phát triển hiệu quả các đối tượng thủy sản chủ lực, có giá
trị kinh tế cao. Phát triển đồng bộ cả khai thác và nuôi trồng; chuyển đổi các
nghề xâm hại lớn đến nguồn lợi, sử dụng nhiên liệu sang các nghề thân thiện với
môi trường; phát triển nuôi hiệu quả các đối tượng chủ lực và các loài thủy sản
có giá trị kinh tế cao gắn với lợi thế của địa phương, chủ động thích ứng với
biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường; áp dụng quy trình, kỹ thuật nuôi, khai
thác hiện đại gắn với chế biến, bảo quản giảm tổn thất sau thu hoạch, đa dạng
hóa sản phẩm thủy sản chế biến. Đồng thời, đáp ứng tiêu chuẩn, quy định về nuôi
trồng và khai thác thủy sản; cấp mã số vùng nuôi, truy xuất nguồn gốc; hướng dẫn,
quản lý việc đánh bắt thủy sản theo đúng các quy định, duy trì ổn định vùng
nguyên liệu xuất khẩu.
Giữ ổn định diện tích đất lâm
nghiệp, tiếp tục triển khai thực hiện Chiến lược phát triển lâm nghiệp trên địa
bàn thành phố. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong việc theo dõi, đánh giá trữ lượng
rừng, trồng và bảo vệ rừng. Phát triển mô hình nông lâm kết hợp; tiếp tục hoàn
thiện và thực thi hiệu quả chính sách về chi trả dịch vụ môi trường rừng và
thúc đẩy phát triển kinh tế rừng.
3. Phát
triển kinh tế tư nhân nhanh, bền vững, hiệu quả, chất lượng cao, trở thành một
động lực quan trọng nhất của nền kinh tế
Tổ chức thể chế hóa và thực hiện
đầy đủ, đồng bộ, nhất quán các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp đã đề
ra tại Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển
kinh tế tư nhân. Căn cứ vào tình hình thực tế của địa phương, triển khai đầy đủ
các cơ chế chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân tại Nghị quyết số
139/NQ-CP ngày 17/5/2025 của Chính phủ.
Quyết liệt thực hiện cải cách
TTHC, cắt giảm điều kiện kinh doanh theo đúng lộ trình Nghị quyết số 66/NQ-CP của
Chính phủ; kiên quyết loại bỏ các quy định chồng chéo, không cần thiết, cản trở
sự phát triển của doanh nghiệp. Ứng dụng triệt để chuyển đổi số nhằm cắt giảm tối
đa thời gian xử lý TTHC, chi phí tuân thủ pháp luật và điều kiện kinh doanh
trong các quy định về gia nhập, rút lui khỏi thị trường, đất đai, quy hoạch, đầu
tư, xây dựng, thuế, hải quan, bảo hiểm, sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn, quy chuẩn...
Triển khai cung cấp dịch vụ công cho hộ kinh doanh không phụ thuộc vào địa giới
hành chính.
Khẩn trương rà soát điều kiện đầu
tư kinh doanh để sửa đổi hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền sửa đổi nhằm chuyển
căn bản các điều kiện kinh doanh dưới hình thức giấy phép, chứng nhận sang thực
hiện công bố điều kiện kinh doanh và nâng cao hiệu quả công tác hậu kiểm, trừ một
số ít lĩnh vực bắt buộc phải thực hiện thủ tục cấp phép theo quy định và thông
lệ quốc tế, hoàn thành trong năm 2026.
Khẩn trương rà soát, thống nhất
với Bộ, ngành Trung ương về phương án xử lý đối với nhà, đất là tài sản công
chưa sử dụng hoặc không sử dụng tại địa phương để cho doanh nghiệp nhỏ và vừa,
doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo thuê phục vụ sản
xuất, kinh doanh. Ban hành danh mục tài sản công cho thuê và quy định về tiêu
chí, mức hỗ trợ, hình thức hỗ trợ, trình tự, thủ tục cho thuê đối với từng loại
tài sản và thực hiện công bố công khai trên trang thông tin điện tử của địa
phương.
Vận hành hiệu quả chuyên mục
riêng về phát triển kinh tế tư nhân tại trang, cổng thông tin điện tử của đơn vị
để tiếp thu, kịp thời giải quyết các vướng mắc, phản ánh, kiến nghị của người
dân, doanh nghiệp, hộ kinh doanh. Công bố công khai kế hoạch kiểm tra trên cổng
thông tin để cộng đồng doanh nghiệp, hộ kinh doanh biết, phối hợp thực hiện. Đẩy
mạnh hoạt động kiểm tra trực tuyến, từ xa; ưu tiên kiểm tra dựa trên các dữ liệu
điện tử, giảm tối đa kiểm tra trực tiếp. Xây dựng, công bố tại trang, cổng
thông tin của đơn vị công cụ, giải pháp cảnh báo sớm cho doanh nghiệp, hộ kinh
doanh về các nguy cơ vi phạm pháp luật trên cơ sở tích hợp dữ liệu quản lý, cảnh
báo từ các cơ quan quản lý Nhà nước.
Rà soát, phân loại đối tượng kiểm
tra, chấm dứt tình trạng kiểm tra chồng chéo, trùng lắp, kéo dài về cùng một nội
dung, lĩnh vực; số lần kiểm tra tại doanh nghiệp, hộ kinh doanh, cá nhân kinh
doanh bao gồm cả kiểm tra liên ngành không được quá một lần một năm, trừ trường
hợp cần kiểm tra đột xuất khi có dấu hiệu vi phạm rõ ràng. Đối với cùng một nội
dung quản lý Nhà nước, trường hợp đã tiến hành hoạt động thanh tra thì không thực
hiện hoạt động kiểm tra hoặc đã tiến hành hoạt động kiểm tra thì không thực hiện
hoạt động thanh tra doanh nghiệp, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh trong cùng
một năm, trừ trường hợp có dấu hiệu vi phạm rõ ràng. Xử lý nghiêm các hành vi lạm
dụng kiểm tra để nhũng nhiễu, gây khó khăn cho doanh nghiệp, hộ kinh doanh.
Kịp thời công khai quy hoạch, kế
hoạch sử dụng đất trên địa bàn, danh mục kêu gọi đầu tư trong từng giai đoạn, tạo
mọi điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp tham gia đầu tư, sản xuất, kinh doanh
trên địa bàn thành phố.Tích cực phối hợp với tổ chức chính trị, xã hội hỗ trợ
doanh nghiệp trong công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, tạo sự ủng hộ, đồng
thuận của nhân dân trong vùng dự án.
4. Phát
triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số
Triển khai đầy đủ, hiệu quả các
mục tiêu, nhiệm vụ tại Nghị quyết số 71/NQ-CP ngày 01/4/2025 của Chính phủ sửa
đổi, bổ sung cập nhật Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết
số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học,
công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Ưu tiên công tác xây dựng
danh mục các nhiệm vụ, dự án khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số,
nhất là trong lĩnh vực khoa học cơ bản, công nghệ chip bán dẫn, vi mạch, công
nghệ chiến lược, công nghệ lõi…, ưu tiên bố trí vốn ngân sách Nhà nước theo mục
tiêu tại Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị bảo đảm hiệu
quả, trọng tâm, trọng điểm.
Tổ chức tuyển chọn, xét giao trực
tiếp tổ chức, cá nhân chủ trì thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ năm
2026. Triển khai hiệu quả các nhiệm vụ khoa học và công nghệ đã được UBND thành
phố phê duyệt. Hướng dẫn, hỗ trợ các xã, phường triển khai hiệu quả nhiệm vụ
khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo sử dụng ngân sách Nhà nước cấp xã. Đồng thời,
phối hợp với các Viện, Trường, tổ chức khoa học và công nghệ giới thiệu, tư vấn
các kết quả nghiên cứu, các công nghệ mới phù hợp với tiềm năng, nhu cầu của
xã, phường để thực hiện ứng dụng, chuyển giao.
Triển khai các giải pháp nhằm cải
thiện và nâng cao Chỉ số đổi mới sáng tạo cấp địa phương (PII), phấn đấu Cần
Thơ có chỉ số xếp hạng thuộc nhóm 7 tỉnh/thành phố dẫn đầu cả nước.
Triển khai chính sách, chương
trình hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa thực hiện đổi mới công nghệ, thiết bị,
thúc đẩy khả năng tiếp cận, ứng dụng công nghệ mới, công nghệ tiên tiến, các tiến
bộ khoa học công nghệ phù hợp và mang lại hiệu quả, giúp doanh nghiệp, tổ chức,
hợp tác xã phát triển, mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh và nâng cao năng lực
cạnh tranh trên thị trường. Tiếp tục hỗ trợ phát triển doanh nghiệp khoa học,
công nghệ và triển khai thực hiện Đề án thành lập Quỹ Phát triển khoa học, công
nghệ và đổi mới sáng tạo thành phố.
Triển khai hiệu quả Chiến lược
sở hữu trí tuệ, Chương trình phát triển tài sản trí tuệ, Nghị quyết Quy định mức
hỗ trợ đăng ký bảo hộ tài sản trí tuệ; áp dụng và quản lý hệ thống truy xuất
nguồn gốc; hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng
hóa; tăng cường, đổi mới hoạt động đo lường hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam nâng
cao năng lực cạnh tranh và hội nhập quốc tế.
Tăng cường hiệu quả công tác quản
lý về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng sản phẩm, hàng hóa lưu thông trên thị
trường, kịp thời phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trong lĩnh vực tiêu chuẩn
đo lường chất lượng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng.
Tăng cường quản lý an toàn bức
xạ và hạt nhân; sử dụng thiết bị bức xạ đúng quy định; chủ động kiểm tra, giám
sát và xây dựng phương án ứng phó sự cố bức xạ, hạt nhân trên địa bàn.
Đẩy mạnh đầu tư, hoàn thiện hạ
tầng số, hạ tầng công nghệ thông tin, bảo đảm đồng bộ, liên thông giữa các
ngành, lĩnh vực; tổ chức triển khai các nền tảng số quốc gia, nền tảng số dùng
chung của thành phố theo lộ trình, bảo đảm hoạt động thống nhất, hiệu quả.
Trong năm 2026, tập trung hoàn thành và đưa vào khai thác hiệu quả các cơ sở dữ
liệu dùng chung, phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành và phát triển kinh tế - xã
hội; hoàn thành kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan Nhà nước, triển khai
các sáng kiến mở dữ liệu, từng bước hình thành nền tảng phát triển kinh tế số,
xã hội số. Phát triển Chuyên trang cơ sở dữ liệu về khoa học và công nghệ của
thành phố, phục vụ kết nối, khai thác thông tin khoa học, công nghệ trong nước
và quốc tế.
Thúc đẩy ứng dụng trí tuệ nhân
tạo, dữ liệu lớn, các công nghệ số mới trong hoạt động quản lý Nhà nước và các
lĩnh vực trọng điểm như: đô thị, nông nghiệp, công nghiệp, thương mại, y tế,
giáo dục, tài nguyên và môi trường, giao thông, logistics. Khuyến khích doanh
nghiệp tham gia nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và
chuyển đổi số; tăng cường kết nối hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp
sáng tạo thông qua các chương trình, sự kiện trong nước và quốc tế.
Thực hiện Chuyển đổi giao thức
Internet của toàn bộ các hệ thống ứng dụng công nghệ thành phố từ phiên bản
IPv4 sang giao thức phiên bản IPv6. Phát triển hạ tầng Internet vạn vật (IoT);
xây dựng lộ trình và triển khai tích hợp cảm biến và ứng dụng công nghệ số đối
với các hạ tầng thiết yếu như: Giao thông, môi trường, quản lý đô thị, an ninh
trật tự…; Phát triển hạ tầng băng rộng di động chất lượng cao (4G/5G) trên phạm
vi toàn thành phố; thực hiện lộ trình dừng công nghệ di động cũ (2G/3G). Triển
khai ngầm hóa hạ tầng thông tin trên các tuyến đường trung tâm xã, phường đạt
ít nhất 70% các tuyến đường. Mở rộng triển khai hệ thống Wifi công cộng tại các
cụm, khu công nghiệp, bệnh viện, trường học, điểm du lịch,... trên địa bàn
thành phố để đáp ứng nhu cầu tiếp cận thông tin, tương tác với Chính quyền của
người dân và doanh nghiệp. Tăng cường phối hợp, chia sẻ, sử dụng chung cơ sở hạ
tầng kỹ thuật viễn thông thụ động để tăng hiệu quả đầu tư, phát triển, xây dựng
hạ tầng của doanh nghiệp bảo đảm mỹ quan và an toàn cho người dân.
Phát huy hiệu quả đầu tư Khu
công nghệ số (đang trình chính phủ phê duyệt thành Khu công nghệ thông tin tập
trung); Đề án thành lập Khu Công nghệ cao Cần Thơ; Đề án tổ chức lại Trung tâm
Thông tin Khoa học và Công nghệ và Trung tâm Công nghệ thông tin và Truyền
thông thành Trung tâm Khởi nghiệp và Đổi mới sáng tạo thành phố Cần Thơ.
5. Phát
triển nguồn nhân lực chất lượng cao; đẩy nhanh quá trình đổi mới căn bản, toàn
diện giáo dục và đào tạo
Triển khai có hiệu quả Nghị quyết
số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và
đào tạo; cụ thể hóa chủ trương, chính sách của Trung ương thành các kế hoạch,
chương trình, đề án phát triển giáo dục - đào tạo cấp địa phương, gắn với điều
kiện thực tế của từng địa bàn (đô thị, nông thôn, dân tộc thiểu số...).
Khẩn trương hoàn thiện cơ chế,
chính sách, nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước về giáo dục và đào tạo, ưu tiên
rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung, ban hành các cơ chế, chính sách thuộc thẩm
quyền của địa phương nhằm bảo đảm đồng bộ, liên thông, phù hợp thực tiễn và yêu
cầu đổi mới giáo dục. Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với tăng cường kiểm
tra, giám sát, nâng cao trách nhiệm giải trình trong quản lý giáo dục và đào tạo.
Triển khai thực hiện hiệu quả các quy định về tự chủ đối với cơ sở giáo dục
công lập; nghiên cứu áp dụng cơ chế đặt hàng, giao nhiệm vụ, đấu thầu cung ứng
dịch vụ sự nghiệp công trong lĩnh vực giáo dục.
Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất
lượng giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên: Tổ chức
nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ đáp ứng yêu cầu của Chương trình giáo dục mầm
non; tiếp tục thực hiện Chương trình Làm quen với tiếng Anh cho trẻ mẫu giáo ở
những đơn vị đủ điều kiện. Tăng cường các điều kiện đảm bảo triển khai thực hiện
hiệu quả Chương trình giáo dục phổ thông 2018 về đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục
và nhà giáo, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học; tổ chức kế hoạch giáo dục nhà
trường, kế hoạch dạy học các môn học, hoạt động giáo dục và kế hoạch bài dạy
theo hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo phù hợp với điều kiện cụ thể của từng
đơn vị; tăng cường đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá tích cực
theo định hướng phát triển phẩm chất năng lực học sinh; thúc đẩy và nâng cao chất
lượng giáo dục STEM/STEAM, giáo dục phát triển năng lực số, giáo dục sử dụng
trí tuệ nhân tạo, giáo dục hướng nghiệp; chú trọng nâng cao chất lượng dạy và học
ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh ở các cấp học, từng bước đưa tiếng Anh trở
thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học; chuẩn bị tốt các điều kiện tổ chức Kỳ
thi tốt nghiệp THPT năm 2026; bồi dưỡng đội tuyển tham dự Kỳ thi chọn học sinh
giỏi THPT cấp quốc gia năm học 2025 - 2026. Triển khai thực hiện Chương trình
giáo dục thường xuyên cấp THCS và cấp THPT chất lượng, hiệu quả; triển khai kế
hoạch về giáo dục hướng nghiệp và định hướng phân luồng học sinh trong giáo dục
phổ thông theo hướng mở; đổi mới nội dung, hình thức giáo dục hướng nghiệp gắn
với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội và nhu cầu của thị trường lao động;
triển khai thực hiện hiệu quả Đề án “Xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2021 -
2030”; Phong trào “Cả nước thi đua xây dựng xã hội học tập, đẩy mạnh học tập suốt
đời giai đoạn 2023 - 2030”; Chương trình nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động
của trung tâm học tập cộng đồng các xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi
đến năm 2030 trên địa bàn thành phố Cần Thơ.
Đẩy mạnh phát triển giáo dục
nghề nghiệp, giáo dục đại học gắn với thị trường lao động: Tiếp tục quan tâm đầu
tư, cải tạo, nâng cấp các cơ sở GDNN công lập; đảm bảo đủ cơ sở vật chất, trang
thiết bị dạy và học; nâng cấp, cải tạo, xây dựng cơ sở GDNN. Theo dõi việc triển
khai thực hiện nhiệm vụ năm học; công tác tuyển sinh năm học 2025 - 2026 của
các cơ sở GDNN. Đổi mới chương trình, giáo trình đối với các ngành, nghề đã được
cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy đăng ký hoạt hoạt động GDNN. Phát triển mới
chương trình, giáo trình đào tạo đối với các ngành, nghề xã hội có nhu cầu và
có xu hướng phát triển mạnh trong thời gian tới, đặc biệt là các ngành, nghề
thuộc tiềm năng, lợi thế như logistics, vận tải biển, thương mại điện tử, kỹ
thuật may mặc, quản lý công nghiệp, điện - điện tử, chế biến thủy sản, nông
nghiệp công nghệ cao,... Đào tạo nghề cho lao động nông thôn gắn với đào tạo, bồi
dưỡng nâng cao kỹ năng số cho người dân góp phần phát triển kinh tế số, xã hội
số khu vực nông thôn và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Tiếp tục thực
hiện đào tạo nghề cho người dân tộc thiểu số theo Chương trình mục tiêu quốc
gia và các đối tượng đặc thù.
Tập trung phát triển giáo dục đại
học theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và hội nhập quốc tế; gắn đào tạo với
nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của
thành phố và vùng. Ưu tiên phát triển các cơ sở giáo dục đại học trọng điểm,
các ngành, lĩnh vực mũi nhọn; đẩy mạnh tự chủ đại học gắn với nâng cao năng lực
quản trị và trách nhiệm giải trình. Tăng cường liên kết giữa nhà trường với
doanh nghiệp, viện nghiên cứu. Mở rộng hợp tác quốc tế, thu hút nguồn nhân lực
chất lượng cao, từng bước nâng cao năng lực ngoại ngữ và vị thế giáo dục đại học
của thành phố .
Đảm bảo công bằng trong cơ hội
tiếp cận giáo dục có chất lượng cho người học, đẩy mạnh triển khai thực hiện
chương trình xóa mù chữ; ti ếp tục giữ vững và nâng cao chất lượng phổ cập giáo
dục mầm non cho trẻ 5 tuổi, phổ cập giáo dục tiểu học mức độ 3, phổ cập THCS mức
độ 2 tiến tới đạt chuẩn phổ cập giáo dục THCS mức độ 3, xóa mù chữ mức độ 2. Ưu
tiên bố trí nguồn lực đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị dạy học cho các cơ sở
giáo dục phổ thông ở vùng ven, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Phát
triển các phương thức giáo dục hòa nhập, chuyên biệt và bán chuyên biệt để đáp ứng
quyền được học tập của người học là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, người khuyết
tật.
Phát triển đội ngũ giáo viên,
cán bộ quản lý cơ sở giáo dục đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo. Thúc
đẩy chuyển đổi số, phát triển giáo dục mở và giáo dục thông minh. Bảo đảm nguồn
lực tài chính và cơ sở vật chất cho giáo dục và đào tạo, thực hiện tốt công tác
kiểm định chất lượng và công nhận trường đạt chuẩn quốc gia. Mở rộng hợp tác quốc
tế trong giáo dục và đào tạo; khuyến khích liên kết đào tạo, nghiên cứu với các
cơ sở giáo dục uy tín trong và ngoài nước.
6. Đẩy mạnh
công tác xây dựng quy hoạch, đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng; tăng cường quản
lý, sử dụng hiệu quả nguồn lực tài nguyên; liên kết vùng
Đẩy nhanh tiến độ lập, thẩm định
và phê duyệt Dự án điều chỉnh Quy hoạch thành phố Cần Thơ thời kỳ 2021 - 2030,
tầm nhìn đến năm 2050 và Quy hoạch chung thành phố sau khi sắp xếp đơn vị hành
chính; đồng thời, tập trung rà soát, lập, điều chỉnh quy hoạch chung, quy hoạch
phân khu, quy hoạch chi tiết, quy hoạch kỹ thuật, quy hoạch chuyên ngành theo
hướng tích hợp, đồng bộ, thống nhất với hệ thống quy hoạch cấp trên. Tiếp tục
rà soát, cập nhật, quản lý chặt chẽ hệ thống các đồ án quy hoạch xây dựng, quy
hoạch đô thị đã được phê duyệt, bảo đảm tính thống nhất trong quản lý trật tự
xây dựng và phát triển đô thị.
Tập trung huy động và phân bổ
hiệu quả các nguồn lực để tổ chức triển khai thực hiện quy hoạch sau khi được
phê duyệt, gắn với đầu tư xây dựng đồng bộ hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng
xã hội đô thị, trong đó ưu tiên đầu tư phát triển hệ thống giao thông, cấp
thoát nước, xử lý nước thải, chiếu sáng công cộng, cây xanh và các công trình hạ
tầng xã hội thiết yếu; cụ thể hóa các chương trình, đề án, dự án phát triển đô
thị theo đúng định hướng quy hoạch, bảo đảm sự đồng bộ giữa quy hoạch và kế hoạch
đầu tư công trung hạn, hằng năm của thành phố.
Nâng cao chất lượng công tác lập
và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất làm cơ sở để thực hiện
nhanh chóng, đúng quy định các thủ tục giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích
sử dụng đất; hoàn thiện và liên thông cơ sở dữ liệu đất đai giữa các cơ quan quản
lý Nhà nước. Chủ động tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong công tác bồi thường, hỗ
trợ, tái định cư; chuẩn bị đầy đủ quỹ đất, quỹ nền tái định cư phục vụ các dự
án, công trình trọng điểm. Tăng cường công khai, minh bạch trong quản lý, khai
thác và bố trí sử dụng đất công; kiên quyết ngăn chặn và xử lý nghiêm các hành
vi lấn chiếm, sử dụng đất sai mục đích, sai quy hoạch.
Tập trung hoàn thiện và ban
hành Quy chế quản lý kiến trúc đô thị trên toàn địa bàn thành phố sau sắp xếp
đơn vị hành chính, bảo đảm tính thống nhất trong quản lý không gian, kiến trúc
và cảnh quan đô thị; thực hiện phân cấp, phân quyền rõ ràng trong công tác quản
lý kiến trúc; tăng cường kiểm soát trật tự xây dựng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả
công tác cấp phép xây dựng; xử lý nghiêm các trường hợp xây dựng không phép,
sai phép, lấn chiếm hè phố, lòng đường, hành lang kênh rạch. Tăng cường kỷ luật,
kỷ cương trong quản lý trật tự đô thị; tổ chức kiểm tra, giám sát thường xuyên
việc chấp hành các quy định về trật tự xây dựng, trật tự đô thị; xử lý nghiêm
các hành vi vi phạm, góp phần xây dựng môi trường đô thị văn minh, sạch đẹp,
đáp ứng yêu cầu phát triển của thành phố trong giai đoạn mới. Rà soát, triển
khai các phương án sắp xếp, tổ chức giao thông, nâng cấp, cải tạo các nút giao,
các tuyến đường trọng điểm nhằm hạn chế ùn tắc giao thông cục bộ, nhất là trong
khu vực nội ô vào giờ cao điểm.
Triển khai hiệu quả Chương
trình phát triển nhà ở, phấn đấu hoàn thành chỉ tiêu nhà ở xã hội đã được Thủ
tướng Chính phủ giao theo tiến độ hàng năm (trong đó năm 2026 phấn đấu hoàn thành
chỉ tiêu 1.897 căn nhà ở xã hội) . Đồng thời, vận dụng hiệu quả các cơ chế,
chính sách đặc thù về phát triển nhà ở xã hội; xây dựng và hoàn thiện các chính
sách hỗ trợ nhà đầu tư thực hiện dự án nhà ở xã hội; kịp thời tháo gỡ các khó
khăn, vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ các dự án đã được phê duyệt.
Tập trung triển khai thực hiện
các dự án đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, nhất là các dự án trọng điểm; đảm bảo
đúng tiến độ, chất lượng. Đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án: cao tốc Bắc -
Nam phía Đông (đoạn Cần Thơ - Hậu Giang), cao tốc Châu Đốc - Cần Thơ - Sóc
Trăng; đường vành đai phía Tây, đường Nam Sông Hậu; Dự án Tuyến đường trục phát
triển kinh tế Đông Tây tỉnh Sóc Trăng; Đường Vành đai I và II, thành phố Sóc
Trăng; các Chương trình mục tiêu Quốc gia; các tuyến đường tỉnh...); Dự án nâng
cấp, mở rộng Quốc lộ 91 (đoạn từ Km0- Km7); Dự án cải tạo, mở rộng 5 nút giao
thông trọng điểm; Dự án Xây dựng cầu vượt tại Nút giao số 1 (Mậu Thân - 3 Tháng
2 - Trần Hưng Đạo) và nút giao số 4 (Nguyễn Văn Linh - Ba Tháng Hai); Dự án Đường
vành đai phía Tây thành phố Cần Thơ (nối Quốc lộ 91 và Quốc lộ 61C).
Quán triệt nghiêm túc, triển
khai có hiệu quả Nghị quyết 13-NQ/TW ngày 02/4/2022 của Bộ Chính trị về phương
hướng phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng đồng bằng
sông Cửu Long đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; Quy hoạch vùng đồng bằng
sông Cửu Long thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã được Thủ tướng
Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 287/QĐ-TTg ngày 28/02/2022; trong đó ưu
tiên dành nguồn lực tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả các chương trình,
dự án liên kết vùng sau sáp nhập; đề xuất các cơ chế chính sách đặc thù của
vùng; xây dựng cơ sở dữ liệu về thông tin của bộ, ngành, địa phương và thông
tin vùng; tích cực đối thoại, trao đổi để kịp thời nắm bắt tình hình nhằm huy động
mọi nguồn lực triển khai thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm, gắn với lộ
trình phù hợp, đạt hiệu quả cao nhất trong phát triển kinh tế - xã hội vùng bền
vững. Triển khai thực hiện tốt các bản thỏa thuận liên kết hợp tác giữa thành
phố Cần Thơ và các tỉnh/thành, trường đại học.
7. Phát triển
văn hóa, xã hội, thực hiện hiệu quả, kịp thời chính sách an sinh xã hội, nâng
cao đời sống vật chất, tinh thần và sức khỏe của Nhân dân
7.1. Lĩnh
vực y tế
Thực hiện hiệu quả Nghị quyết số
72-NQ/TW ngày 09/9/2025 của Bộ Chính trị về một số giải pháp đột phá, tăng cường
bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân. Tập trung rà soát, xây dựng kế
hoạch, lộ trình đầu tư nâng cấp, hoàn thiện cơ sở vật chất hệ thống y tế tuyến
cơ sở đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới; tiếp tục đẩy nhanh tiến độ
thực hiện thủ tục, triển khai đầu tư mới, nâng cấp, mở rộng các bệnh viện đa
khoa, chuyên khoa thành phố quản lý phục vụ hiệu quả, kịp thời nhu cầu khám, điều
trị bệnh của người dân thành phố, của vùng và quốc tế.
Tiếp tục chủ động bám sát diễn
biến tình hình dịch bệnh trên địa bàn, nhất là diễn biến bất thường của cúm, sốt
xuất huyết, tay chân miệng và sởi. Duy trì Trạm Y tế đạt chuẩn quốc gia về y tế
theo quy định tại Quyết định số 1300/QĐ-BYT ngày 09/3/2023 của Bộ Y tế. Tiếp tục
mở rộng triển khai mô hình Bác sĩ gia đình tại tuyến y tế cơ sở.
Đảm bảo công tác khám chữa bệnh,
cấp cứu cho Nhân dân; nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, nâng cao hiệu quả các
phương pháp điều trị, thực hiện tốt quy chế bệnh viện, quy chế chuyên môn. Duy
trì thực hiện “Đổi mới phong cách, thái độ phục vụ của cán bộ y tế hướng tới sự
hài lòng của người bệnh”. Triển khai các dịch vụ kỹ thuật mới và chuyên sâu tại
các bệnh viện; tăng cường chuyển giao kỹ thuật từ tuyến trên xuống tuyến dưới.
Thực hiện tốt công tác khám, chữa bệnh BHYT trên địa bàn thành phố; tăng cường
hoạt động nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế toàn ngành y tế.
Hướng dẫn và đôn đốc công tác đấu
thầu thuốc, hóa chất, vật tư xét nghiệm và thiết bị y tế phục vụ nhu cầu điều
trị tại các cơ sở y tế trực thuộc; bảo đảm đủ thuốc thiết yếu phục vụ công tác
điều trị. Khẩn trương thực hiện hoàn thành dự án đầu tư xây dựng Bệnh viện Ung
bướu thành phố Cần Thơ (quy mô 500 giường) trong năm 2026 theo chỉ đạo của Thủ
tướng Chính phủ. Tập trung thực hiện quyết toán các dự án công trình tồn đọng;
thực hiện nhiệm vụ chuẩn bị đầu tư, đầu tư các dự án đầu tư công năm 2026 và
giai đoạn 2026 - 2030 lĩnh vực y tế. Triển khai đấu thầu thuốc tập trung 2025 -
2027.
Duy trì các hoạt động dân số,
chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em, cung cấp dịch vụ kế hoạch hóa gia đình, sàng lọc
trước sinh và sơ sinh; chiến dịch truyền thông lồng ghép cung cấp dịch vụ sức
khỏe sinh sản - kế hoạch hóa gia đình; triển khai thực hiện các hoạt động, sự
kiện hưởng ứng Tháng hành động vì trẻ em như: Lễ phát động, Diễn đàn trẻ em, Tập
huấn, truyền thông công tác trẻ em. Đẩy mạnh các biện pháp đảm bảo chất lượng vệ
sinh an toàn thực phẩm. Tăng cường hoạt động kiểm tra công tác quản lý chất thải
y tế của các cơ sở khám chữa bệnh, vệ sinh môi trường lao động trên địa bàn.
7.2. An
sinh - xã hội
Thực hiện đầy đủ, kịp thời, hiệu
quả, bảo đảm công khai, minh bạch chính sách ưu đãi người có công với cách mạng,
triển khai hiệu quả các phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”, “Uống nước nhớ nguồn”.
Tiếp tục lồng ghép công tác bình đẳng giới vào các chương trình, đề án phát triển
văn hóa - xã hội, tăng cường truyền thông và hỗ trợ nhóm yếu thế. Tiếp tục triển
khai thực hiện các Chương trình, Kế hoạch phát triển thanh niên của Trung ương
giai đoạn 2026 - 2030 phù hợp thời kỳ mới; lồng ghép các chỉ tiêu, mục tiêu
phát triển thanh niên khi xây dựng chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế -
xã hội của địa phương hằng năm và từng giai đoạn.
Tiếp tục triển khai hiệu quả
Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2026 - 2035, triển
khai thực hiện tốt Phong trào thi đua “Chung tay xóa nhà tạm, nhà dột nát”. Thực
hiện đồng bộ, đầy đủ, kịp thời, đúng quy định các chương trình, đề án, chính sách
về trợ giúp xã hội. Đẩy mạnh chi trả trợ cấp ưu đãi không dùng tiền mặt. Tổ chức
thực hiện tốt chính sách hỗ trợ người cao tuổi, người khuyết tật, phục hồi chức
năng cho người tâm thần .
Thực hiện có hiệu quả các chính
sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp; triển khai các giải
pháp mở rộng độ bao phủ và phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội, bảo
hiểm thất nghiệp.
7.3. Dân
tộc, tôn giáo
Quán triệt, triển khai đầy đủ,
hiệu quả các chủ trương, chính sách của Trung ương và Thành ủy về công tác dân
tộc, tôn giáo; tăng cường phối hợp các sở, ngành và địa phương tổ chức thực hiện
đồng bộ các chương trình, dự án, chính sách dân tộc, nhất là Chương trình mục
tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số; theo
dõi sát tình hình đời sống, sản xuất của đồng bào để kịp thời hỗ trợ, tháo gỡ
khó khăn, nâng cao thu nhập và chất lượng cuộc sống. Tổ chức tốt các hoạt động
lễ hội truyền thống trong đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là tổ chức các hoạt động
mừng Chôl Chnăm Thmây, lễ Sene Đôlta và lễ hội Oóc Om Bóc - Đua ghe Ngo thành
phố Cần Thơ năm 2026.
Thực hiện tốt công tác vận động,
tuyên truyền đồng bào tham gia thực hiện tốt nền quốc phòng toàn dân và an ninh
nhân dân; thường xuyên công tác cơ sở để chủ động nắm bắt tình hình diễn biến
tư tưởng, đời sống và nhu cầu phát sinh mới trong đồng bào dân tộc thiểu số, giải
quyết thỏa đáng các nhu cầu chính đáng phát sinh mới trong đồng bào dân tộc thiểu
số. Tăng cường nối kết, phát huy hiệu quả lực lượng cốt cán người có uy tín tại
cơ sở nhằm nắm bắt thông tin chính xác, kịp thời tình hình thực tế địa phương.
7.4. Phát
triển văn hóa, thể dục thể thao
Tiếp tục triển khai hiệu quả
các đề án, chương trình, kế hoạch phát triển văn hóa, thể thao giai đoạn 2021 -
2030; rà soát, cập nhật, bổ sung các nội dung phù hợp với tình hình thực tiễn;
xây dựng và triển khai Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, góp
phần khai thác hiệu quả giá trị văn hóa phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.
Tăng cường bảo tồn, tu bổ, tôn
tạo và phát huy giá trị di tích, di sản văn hóa; tổ chức các hoạt động văn hóa,
lễ hội truyền thống tiêu biểu; đẩy mạnh số hóa dữ liệu di sản, nâng cao hiệu quả
quản lý, khai thác di tích gắn với giáo dục truyền thống và phát triển du lịch
bền vững.
Xây dựng môi trường văn hóa
lành mạnh từ cơ sở; tiếp tục nâng cao chất lượng Phong trào “Toàn dân đoàn kết
xây dựng đời sống văn hóa”, gắn với xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh và
mô hình Chính quyền địa phương hai cấp; chú trọng bồi dưỡng, lan tỏa các giá trị
văn hóa, hình mẫu con người Cần Thơ “Trí tuệ - Năng động - Nhân ái - Hào hiệp -
Thanh lịch”.
Quan tâm đầu tư, nâng cấp, quản
lý và khai thác hiệu quả hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao cơ sở sau sáp nhập
đơn vị hành chính; duy trì, nâng cao chất lượng hoạt động văn hóa - văn nghệ,
thể dục - thể thao quần chúng; tăng cường đào tạo, tập huấn nâng cao năng lực đội
ngũ cán bộ làm công tác văn hóa ở cơ sở.
Triển khai Chương trình mục
tiêu quốc gia về phát triển văn hóa giai đoạn 2025 - 2035; sử dụng hiệu quả việc
phân bổ và sử dụng nguồn lực, bảo đảm tiến độ và hiệu quả thực hiện các mục
tiêu đề ra.
Tổ chức Đại hội Thể dục thể
thao thành phố Cần Thơ lần thứ X năm 2026. Đẩy mạnh phát triển thể dục thể thao
quần chúng gắn với nâng cao sức khỏe Nhân dân; tăng cường tuyên truyền, tổ chức
các hoạt động thể thao phong trào, giáo dục thể chất và thể thao học đường;
phát triển phong trào thể dục thể thao trong lực lượng vũ trang, góp phần xây dựng
lối sống lành mạnh, củng cố quốc phòng, an ninh.
Tập trung đầu tư phát triển thể
thao thành tích cao và thể thao trọng điểm của thành phố; nâng cao chất lượng
công tác huấn luyện, đào tạo vận động viên; tham gia đầy đủ các giải thể thao cấp
quốc gia, khu vực và quốc tế; đăng cai tổ chức một số giải thể thao lớn nhằm
nâng cao vị thế, hình ảnh thể thao thành phố.
8. Quản lý,
sử dụng hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu
Triển khai thực hiện có hiệu quả
các chủ trương, chính sách của Trung ương, của thành phố về bảo vệ môi trường
và ứng phó với biến đổi khí hậu; chủ động xây dựng kế hoạch, quy hoạch, huy động,
sử dụng nguồn vốn đầu tư các công trình kết cấu hạ tầng giao thông, phòng, chống
và khắc phục sạt lở bờ sông, bờ biển và ứng phó với biến đổi khí hậu. Thực hiện
tốt công tác thông tin, tuyên truyền và bảo vệ môi trường, nâng cao nhận thức
cho người dân và các tổ chức, doanh nghiệp về bảo vệ môi trường. Tích cực hợp
tác với các địa phương trong nước và quốc tế về bảo vệ môi trường.
Tăng cường đầu tư, nâng cấp và
mở rộng hệ thống cấp nước sạch đô thị, bảo đảm chất lượng và phạm vi phục vụ,
phấn đấu nâng tỷ lệ hộ dân khu vực đô thị được cung cấp nước sạch đạt 100%; từng
bước hạn chế việc khai thác, sử dụng nguồn nước ngầm, ưu tiên sử dụng nước từ hệ
thống cấp nước tập trung. Đồng thời, đẩy mạnh đầu tư xây dựng hệ thống thu gom,
vận chuyển và xử lý nước thải sinh hoạt tập trung tại các khu đô thị, khu dân
cư; hoàn thiện đồng bộ hệ thống thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt, chất thải
nguy hại và chất thải y tế; từng bước xử lý dứt điểm các điểm ngập úng trọng yếu,
nâng cao năng lực tiêu - thoát nước đô thị, góp phần bảo vệ môi trường và phát
triển đô thị bền vững.
Tập trung đầu tư xây dựng, hoàn
thiện hạ tầng các khu công nghiệp, cụm công nghiệp trọng điểm theo hướng hiện đại,
đồng bộ; bảo đảm các cụm công nghiệp đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải
tập trung đạt quy chuẩn môi trường; lồng ghép các yêu cầu về bảo vệ môi trường,
phát triển kinh tế tuần hoàn, tiết kiệm năng lượng và sử dụng năng lượng tái tạo
trong quy hoạch và đầu tư phát triển khu, cụm công nghiệp. Từng bước hình thành
và phát triển khu công nghiệp công nghệ cao nhằm thu hút các dòng vốn đầu tư chất
lượng, tạo động lực mới cho tăng trưởng các ngành công nghiệp chủ lực của thành
phố.
9. Tăng cường
quốc phòng, an ninh, xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, chính quy, tinh nhuệ,
hiện đại
Tập trung chỉ đạo quán triệt và
tổ chức thực hiện nghiêm các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, Nhà nước, Chính phủ,
Bộ Quốc phòng, Quân khu và Thành ủy, HĐND thành phố về nhiệm vụ quốc phòng,
quân sự địa phương và xây dựng khu vực phòng thủ. Chủ động nghiên cứu, dự báo
sát tình hình, kịp thời xử lý hiệu quả các tình huống phát sinh ngay từ cơ sở,
không để bị động, bất ngờ; giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội
trên địa bàn.
Nâng cao hiệu quả phối hợp giữa
các cấp, các ngành trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an
ninh nhân dân vững chắc. Tổ chức triển khai Đề án “Bảo đảm quốc phòng giai đoạn
2026 - 2030, định hướng đến năm 2050”; đẩy nhanh tiến độ xây dựng các công
trình quốc phòng theo quy hoạch, quản lý chặt chẽ đất quốc phòng, bảo đảm sử dụng
đúng mục đích, hiệu quả.
Xây dựng lực lượng dân quân tự
vệ, dự bị động viên bảo đảm số lượng, chất lượng theo chỉ tiêu nghị quyết đề
ra; triển khai hiệu quả công tác giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an
ninh cho các đối tượng đạt 100% kế hoạch; nâng cao chất lượng tuyển sinh quân sự
và công tác quân sự cơ sở. Tổ chức huấn luyện, diễn tập, hội thi, hội thao theo
kế hoạch, bảo đảm an toàn, hiệu quả; duy trì nghiêm chế độ trực sẵn sàng chiến
đấu, phòng, chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn.
Chỉ đạo triển khai đồng bộ công
tác phòng thủ dân sự; nâng cao hiệu quả ứng phó sự cố, thiên tai, tìm kiếm cứu
nạn; duy trì hiệu quả hoạt động Tổng đài 112; bảo đảm an ninh, trật tự, quản lý
vùng trời, tàu bay không người lái, chống khai thác IUU; tổ chức rà soát, thu
gom bom mìn, vật liệu nổ.
Thực hiện có hiệu quả các cao
điểm tấn công trấn áp các loại tội phạm; hoạt động tệ nạn xã hội, “tín dụng
đen”; tội phạm liên quan đến thanh, thiếu niên; tội phạm mua bán người; các đường
dây mua bán, vận chuyển ma túy, các tụ điểm phức tạp về ma túy; xử lý nghiêm tội
phạm và các vi phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu, môi trường, tội phạm sử dụng
công nghệ cao, lừa đảo trên không gian mạng, các lĩnh vực dễ phát sinh tham
nhũng, tiêu cực. Triển khai thực hiện hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia
phòng, chống ma túy đến năm 2030. Tăng cường đảm bảo an ninh tôn giáo, giải quyết
dứt điểm các vụ tranh chấp, khiếu kiện, nhất là vụ việc liên quan đến đất đai,
tôn giáo, dân tộc, không để kẻ địch lợi dụng chống phá, không để hình thành “điểm
nóng” về an ninh, trật tự.
Nâng cao hiệu quả công tác quản
lý Nhà nước về an ninh, trật tự nhất là quản lý cư trú, quản lý người nước
ngoài, làm tốt công tác nắm hộ, nắm người. Triển khai đồng bộ các biện pháp bảo
đảm trật tự an toàn giao thông, trật tự đô thị, trật tự công cộng, hạn chế tình
trạng ùn tắc giao thông tại các tuyến giao thông trọng điểm; tuần tra, kiểm
soát và xử lý nghiêm hành vi vi phạm về nồng độ cồn, sử dụng ma túy khi điều
khiển phương tiện giao thông. Tăng cường thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm về
phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, triển khai đồng bộ các biện pháp kiềm
chế cháy, nổ gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng làm chết người do nguyên nhân chủ
quan, hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại về người và tài sản.
10. Đẩy mạnh
triển khai đồng bộ, hiệu quả hoạt động đối ngoại
Đổi mới nội dung, phương thức
hoạt động đối ngoại theo hướng thiết thực, hiệu quả; nâng cao chất lượng đối ngoại
trong tình hình mới, gắn đối ngoại với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của
thành phố. Đẩy mạnh đối ngoại nhân dân, ngoại giao văn hóa; tăng cường giao
lưu, củng cố tình hữu nghị với Nhân dân các nước; chủ động, tích cực hội nhập
quốc tế, mở rộng và làm sâu sắc quan hệ hợp tác với các đối tác phù hợp định hướng
phát triển của thành phố.
Tập trung triển khai ngoại giao
kinh tế, tổ chức các hoạt động xúc tiến đầu tư, thương mại có trọng tâm, trọng
điểm đối với doanh nghiệp, nhà đầu tư nước ngoài. Ưu tiên xúc tiến tại các thị
trường là đối tác chiến lược của thành phố, các ngành, lĩnh vực khuyến khích đầu
tư; phối hợp với các Bộ, ngành Trung ương thúc đẩy triển khai các dự án động lực,
có tính lan tỏa. Tăng cường hợp tác phát triển hạ tầng thương mại, logistics,
năng lượng mới, năng lượng tái tạo; thúc đẩy thương mại hài hòa, bền vững với
Hoa Kỳ và các đối tác quan trọng.
Đẩy mạnh công tác thông tin đối
ngoại, bảo đảm kết nối, trao đổi thông tin thường xuyên, hai chiều với Bộ Ngoại
giao, các cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự trong và ngoài nước. Tiếp tục
triển khai hiệu quả các thỏa thuận quốc tế đã ký kết với các địa phương, đối
tác nước ngoài; gắn với quảng bá hình ảnh, thương hiệu thành phố Cần Thơ, nâng
cao vị thế, uy tín của địa phương trong hợp tác quốc tế.
Chủ động hội nhập, liên kết hợp
tác với các doanh nghiệp trong nước và quốc tế; mở rộng quan hệ đối ngoại trong
việc vận động các nguồn vốn, nguồn viện trợ các tổ chức quốc tế và các tổ chức
phi chính phủ, nguồn lực của các tổ chức, cá nhân người Việt Nam ở nước ngoài;
tổ chức các hoạt động hướng tới việc kết nối, thu hút, vận động kiều bào tham
gia đầu tư, đóng góp, xây dựng và phát triển thành phố Cần Thơ trong quá trình
hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.
VI. TỔ CHỨC
THỰC HIỆN
1. Căn cứ mục tiêu, các
chỉ tiêu và nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế - xã hội năm 2026 và
theo chức năng, nhiệm vụ được giao; Giám đốc sở, Thủ trưởng cơ quan, ban ngành
thành phố, Chủ tịch UBND xã, phường và cơ quan, đơn vị có liên quan:
1.1. Xây dựng kế hoạch triển
khai cụ thể, sát với tình hình thực tế của cơ quan, đơn vị, địa phương và khẩn
trương giao chỉ tiêu, nhiệm vụ cho các đơn vị trực thuộc.
1.2. Chủ trì, tham mưu đề xuất
giải pháp thực hiện đạt và vượt các chỉ tiêu được giao tại khoản 2 mục II Phần
thứ hai Kế hoạch này; thường xuyên theo dõi tiến độ, đề xuất giải pháp thực hiện
phù hợp, kịp thời và hiệu quả, phấn đấu hoàn thành đạt và vượt các chỉ tiêu đề
ra, cụ thể:
a) Sở Tài chính chủ trì, phối hợp
với Thống kê thành phố và các cơ quan liên quan theo dõi thực hiện nhóm các chỉ
tiêu số (1), (2), (3), (4), (7), (8), (10);
b) Sở Nội vụ chủ trì, phối hợp
với Sở Tài chính và các cơ quan liên quan theo dõi thực hiện nhóm chỉ tiêu số
(5), (11);
c) Sở Khoa học và Công nghệ chủ
trì, phối hợp với các cơ quan liên quan theo dõi thực hiện nhóm chỉ tiêu số
(6);
d) Sở Y tế chủ trì, phối hợp với
Thống kê thành phố và các cơ quan liên quan theo dõi thực hiện nhóm các chỉ
tiêu số (9), (12), (13);
đ) Sở Giáo dục và Đào tạo chủ
trì, phối hợp với các cơ quan liên quan theo dõi thực hiện nhóm chỉ tiêu số
(14);
e) Sở Nông nghiệp và Môi trường
chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan theo dõi thực hiện nhóm chỉ tiêu số
(15), (16), (17), (18), (19);
g) Sở Xây dựng chủ trì, phối hợp
với các cơ quan liên quan theo dõi thực hiện nhóm chỉ tiêu số (20), (21), (22);
h) Bộ Chỉ huy quân sự thành phố
chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan theo dõi thực hiện nhóm chỉ tiêu số
(23);
i) Công an thành phố chủ trì,
phối hợp với các cơ quan liên quan theo dõi thực hiện nhóm chỉ tiêu số (24);
k) Sở Ngoại vụ chủ trì, phối hợp
với các cơ quan liên quan theo dõi thực hiện nhóm chỉ tiêu số (25).
2. Đề nghị Thủ trưởng cơ
quan được tổ chức đóng trên địa bàn thành phố có liên quan theo chức năng, nhiệm
vụ được phân công khẩn trương giao chỉ tiêu, nhiệm vụ cho các đơn vị trực thuộc;
thường xuyên theo dõi tình hình thực hiện kế hoạch của đơn vị, địa phương; tiến
độ thực hiện các chỉ tiêu được giao, đề ra giải pháp thực hiện hiệu quả, phấn đấu
hoàn thành đạt và vượt các chỉ tiêu Kế hoạch giao; thực hiện chế độ thông tin
báo cáo hàng tháng tình hình thực hiện gửi về Sở Tài chính tổng hợp, báo cáo
UBND thành phố theo quy định.
Trên đây là Kế hoạch phát triển
kinh tế - xã hội thành phố Cần Thơ năm 2026. Trong quá trình triển khai thực hiện,
nếu có khó khăn, vướng mắc vượt thẩm quyền, các cơ quan, đơn vị phản ánh về Sở
Tài chính để tổng hợp, tham mưu UBND thành phố xem xét, chỉ đạo./.
(Đính kèm các Phụ lục)
[1] Tại
thời điểm Cục Thống kê công bố số liệu ước tính lần 2 vào tháng 12/2025.
[2] Do
sắp xếp địa giới hành chính, Chính phủ đang chỉ đạo xây dựng các quy định về
tiêu chuẩn đơn vị hành chính, phân loại đơn vị hành chính và phân loại đô thị,
số liệu trên là số ước tính do Bộ Xây dựng và Bộ Tài chính rà soát thông qua tỷ
lệ dân số thành thị.
[3]
Trong đó có 324 căn ghi nhận trong năm 2025 nhưng thi công hoàn thành trong quý
I/2026 (đã được Đoàn Công tác Bộ Xây dựng thống nhất ghi nhận tại buổi làm việc
với thành phố Cần Thơ ngày 17/9/2025).
[4]
Giai đoạn 2026 - 2030, chỉ tiêu được lấy theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành
phố lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030 là “Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp,
chứng chỉ”. Qua rà soát kết quả năm 2025, tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp,
chứng chỉ đạt 18,98%.
[5] Qua
rà soát, chỉ tiêu theo quy định mới giai đoạn 2026 - 2030, tương đương kết quả
năm 2025 “Tỷ lệ thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị bảo đảm tiêu
chuẩn, quy chuẩn” đạt 95%.
[6] Nghị
quyết số 171/NQ-HĐND ngày 31/7/2025 về việc thông qua Danh mục văn bản quy phạm
pháp luật do Hội đồng nhân dân thành phố Cần Thơ, tỉnh Sóc Trăng, tỉnh Hậu
Giang ban hành, lựa chọn tiếp tục áp dụng; Nghị quyết số 172/NQ- HĐND ngày
31/7/2025 về việc bãi bỏ các Nghị quyết do Hội đồng nhân dân thành phố Cần Thơ,
tỉnh Sóc Trăng, tỉnh Hậu Giang ban hành; Quyết định số 932/QĐ-UBND ngày
22/8/2025 về việc ban hành Danh mục văn bản quy phạm pháp luật do Ủy ban nhân
dân thành phố Cần Thơ, tỉnh Sóc Trăng, tỉnh Hậu Giang ban hành, lựa chọn tiếp tục
áp dụng; Quyết định số 933/QĐ-UBND ngày 22/8/2025 về việc bãi bỏ các Quyết định
do UBND thành phố Cần Thơ, tỉnh Sóc Trăng, tỉnh Hậu Giang ban hành.
[7]
UBND thành phố ban hành Kế hoạch số 115/KH-UBND ngày 14/10/2025 để triển khai
thực hiện.
[8] Số
liệu thu thập tại thời điểm xây dựng báo cáo.
[9] Mục
tiêu của Trung ương, Quốc hội là 4-4,5%.
[10]
Chương trình nhận được đăng ký tham gia của 16 doanh nghiệp (đến tháng 10/2025)
với tổng giá trị dự trữ hàng hóa hơn 4.108 tỷ đồng (trong đó: Nhóm hàng lương
thực thực phẩm hơn 327 tỷ đồng; Nhóm hàng nhiên liệu hơn 3.781 tỷ đồng).
[11]
Tổng số tiền thu nộp ngân sách 4.511.200.461 đồng; trị giá hàng hóa tịch thu
798.302.000 đồng; trị giá hàng hóa buộc tiêu hủy: 1.328.719.500 đồng.
[12]
Trong khu công nghiệp và ngoài khu công nghiệp.
[13]
Dự án Nhà máy Công nghệ thể thao Bestway Cần Thơ (Khu Công nghiệp VSIP).
[14]
Trong đó: Thu hút đầu tư trong nước (ngoài khu công nghiệp) có 16 dự án đầu tư
được cấp mới đăng ký đầu tư với tổng vốn đăng ký 2.458,956 tỷ đồng; thu hút đầu
tư trong nước (trong khu công nghiệp) có 05 dự án đầu tư được cấp mới đăng ký đầu
tư với tổng vốn đăng ký 17.756,68 tỷ đồng (701,914 triệu USD).
[15]
Trong đó, ngoài khu công nghiệp có 697 dự án, tổng vốn đầu tư 316.645,457 tỷ đồng;
trong khu công nghiệp có 334 dự án, tổng vốn đầu tư 134.896,773 tỷ đồng.
[16]
Trên cơ sở hợp nhất Ban Quản lý các khu chế xuất và công nghiệp Cần Thơ, Ban Quản
lý khu công nghiệp tỉnh Hậu Giang và Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh Sóc
Trăng (Quyết định số 1496/QĐ-TTg ngày 08/7/2025 của Thủ tướng Chính phủ).
[17]
Sở Công Thương; Sở Y tế; Sở Khoa học và Công nghệ; Sở Nội vụ; Sở Ngoại vụ; Sở
Tài chính; Sở Xây dựng; Sở Nông nghiệp và Môi trường; Sở Văn hóa, Thể thao và
Du lịch; Sở Tư pháp; Sở Giáo dục và Đào tạo; Sở Dân tộc và Tôn giáo; Văn phòng
UBND thành phố; Thanh tra thành phố.
[18]
Ban Quản lý các khu chế xuất và công nghiệp Cần Thơ.
[19]
Nghị quyết số 87/NQ-HĐND ngày 01/7/2025 của HĐND thành phố về việc giao biên chế
công chức trong cơ quan hành chính năm 2025; Nghị quyết số 88/NQ-HĐND ngày
01/7/2025 của HĐND thành phố về việc phê duyệt số lượng người làm việc hưởng
lương từ ngân sách Nhà nước trong đơn vị sự nghiệp công lập do ngân sách Nhà nước
bảo đảm chi thường xuyên, tự bảo đảm một phần chi thường xuyên năm 2025.
[20]
Biên chế công chức trong cơ quan, tổ chức hành chính: 9.951 biên chế; Số lượng
người làm việc hưởng lương từ ngân sách nhà nước đối với đơn vị sự nghiệp công
lập do ngân sách nhà nước bảo đảm chi thường xuyên, tự bảo đảm một phần chi thường
xuyên năm 2025 là 52.404 người làm việc.
[21]
Tính đến ngày 31/10/2025.
[22]
Tổ chức các chuỗi sự kiện chào năm mới 2025, mừng Ðảng quang vinh - mừng Xuân Ất
Tỵ; Lễ hội Kỳ Yên Thượng Điền Đình Bình Thủy năm 2025; Chương trình giao lưu hữu
nghị Việt Nam - Hoa Kỳ tại thành phố Cần Thơ; tổ chức thành công Lễ kỷ niệm 50
năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2025);
Chương trình nghệ thuật, bắn pháo hoa chào mừng kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng
miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2025), kỷ niệm 80 năm Ngày Cách
mạng tháng Tám thành công (19/8/1945 - 19/8/2025) và Quốc khánh nước Cộng hòa
Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (02/9/1945 - 02/9/2025); Lễ hội Bánh dân gian Nam Bộ;
Lễ hội Óc Om Bóc; Lễ hội Văn hóa sông nước; Hội nghị các doanh nghiệp du lịch
và trưng bày sản phẩm du lịch hưởng ứng kỷ niệm 65 năm Ngày Du lịch Việt Nam; tổ
chức Giải đua xe mô tô cúp vô địch quốc gia “Tranh Cúp Caltex Havoline Cub
Prix” lần thứ I năm 2025; Giải Marathon Quốc tế “Vietcombank Mekong Delta” lần
thứ VI năm 2025; Hội nghị gặp gỡ các Lãnh đạo thành phố với Doanh nghiệp du lịch
thành phố Cần thơ năm 2025; tham gia Hội chợ Mùa thu 2025 tại Hà Nội…
[23]
Chuyển đổi sang trồng cây hàng năm là 726 ha, chuyển đổi sang trồng cây lâu năm
là 419 ha và chuyển sang nuôi trồng thuỷ sản kết hợp với trồng lúa là 4.023 ha.
[24]
Có trên 30% diện tích (tương đương 215.236 ha) được Công ty/DN/HTX/THT liên kết
tiêu thụ.
[25]
Gồm các loại cây trồng như: Dâu Hạ Châu Phong Điền, sầu riêng, xoài cát Hòa Lộc
Sông Hậu, nhãn, vú sữa, khóm,...với sản lượng gần 500 ngàn tấn.
[26]
Gồm có cây mía, hành tím và rau màu các loại với sản lượng trên 160 ngàn tấn.
[27]
Trong đó, mã số còn hoạt động: 523 mã số với tổng diện tích 8.437 ha; mã số bị
thu hồi: 58 mã số.
[28]
Trong đó, mã số còn hoạt động: 20 mã số (11 doanh nghiệp); mã số bị thu hồi: 05
mã số (05 doanh nghiệp).
[29] Lúa:
2.583 ha/1.587 hộ; Cây ăn trái: 1.272 ha/ 1.053 hộ; Rau màu: 42 ha/90 hộ.
[30]
Đàn trâu 4.116 con; đàn bò 62.847 con; đàn dê 20.148 con; đàn heo 498.759 con;
đàn gia cầm 16.088.483 con; chim yến 1.171 cơ sở/1.285 nhà yến.
[31]
Thịt gia súc 105.544 tấn, thịt gia cầm 99.649 tấn; trứng 720.351.000 quả.
[32]
46 trang trại chăn nuôi quy mô lớn, 169 trang trại chăn nuôi quy mô vừa, 895
trang trại chăn nuôi quy mô nhỏ. Trong đó, 23 trang trại chăn nuôi (18 trang
trai chăn nuôi heo và 05 trang trại chăn nuôi gà) hợp đồng chăn nuôi gia công,
bao tiêu sản phẩm với Công ty Cổ phần chăn nuôi CP, Công ty TNHH De Heus, Công
Ty TNHH Japfa Comfeed.
[33]
15 cơ sở chăn nuôi bò, 13 cơ sở chăn nuôi heo, 01 cơ sở chăn nuôi gà và 06 cơ sở
chăn nuôi vịt
[34]
17 cơ sở an toàn với bệnh Dịch tả heo Châu Phi; 01 cơ sở an toàn với bệnh
Dịch tả heo cổ điển và bệnh Lở mồm long móng; 11 cơ sở an toàn với bệnh Lở mồm
long móng gia súc; 02 cơ sở an toàn với bệnh Cúm gia cầm; 02 vùng an
toàn với bệnh Dại (cấp xã) và 02 cơ sở nuôi tôm giống an toàn với các bệnh Đốm
trắng, Hoại tử gan tụy cấp tính, bệnh Hoại tử cơ quan tạo máu và cơ quan biểu
mô.
[35]
(1) Chuỗi liên kết sản xuất, tiêu thụ sữa bò tươi của HTX Chăn nuôi bò sữa Long
Hòa và khoảng 26 hộ chăn nuôi liên kết sản xuất với Công ty CP sữa Vinamilk Việt
Nam - Nhà máy sữa Cần Thơ, sản lượng tiêu thụ bình quân 2.000 tấn/năm; (2) Chuỗi
liên kết sản xuất và tiêu thụ thịt heo của Xí nghiệp chế biến thực phẩm I liên
kết sản xuất với Công ty TNHH MTV Nông nghiệp Cờ Đỏ và khoảng 10 hộ chăn nuôi
heo, sản lượng tiêu thụ bình quân 50 tấn/tháng; (3) Chuỗi cung ứng trứng vịt muối
của Công ty TNHH Vân Anh Nguyễn, sản lượng tiêu thụ 9,6 - 9,8 triệu quả/năm;
(4) Chuỗi liên kết sản xuất và tiêu thụ thịt heo của Công ty TNHH Tường An liên
kết tiêu thụ với Công ty CP Bách hóa xanh và siêu thị MM Mega market Hưng Lợi sản
lượng bình quân 9,0 tấn/tháng.
[36]
Liên kết nuôi gia công, bao tiêu sản phẩm với Công ty Cổ phần Chăn nuôi CP,
Công ty TNHH De Heus, Công Ty TNHH Japfa Comfeed.
[37]
Từ đầu năm đến nay toàn thành phố đã xảy ra dịch tả heo Châu Phi tại 06 xã: An
Thạnh, Thạnh Thới An, Trần Đề, Tài Văn, Cù Lao Dung và Long Phú chưa qua 21
ngày, tiến hành tiêu hủy 2.321 con heo mắc bệnh và chết với khối lượng là 139.103,2
kg.
[38]
Sản lượng nuôi 705.958 tấn, khai thác 77.000 tấn.
[39]
Tính đến ngày 15/9/2025.
[40]
Từ đầu năm đến nay Tổ chức 04 Hội đồng tư vấn xác định nhiệm vụ khoa học và
công nghệ (KH&CN). Tuyển chọn tổ chức và cá nhân thực hiện 31 nhiệm vụ
KH&CN. Thẩm định nội dung và kinh phí kinh phí 25 nhiệm vụ KH&CN. Tổ chức
Hội đồng tư vấn đánh giá giữa kỳ 10 nhiệm vụ KH&CN. Ký kết hợp đồng thực hiện
13 nhiệm vụ KH&CN và nghiệm thu 25 nhiệm vụ KH&CN.
[41]
Hướng dẫn 50 lượt tổ chức, cá nhân về thủ tục bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ (nhãn
hiệu, kiểu dáng công nghiệp, sáng chế, quyền tác giả). Thống kê số đơn và văn bằng
bảo hộ sở hữu công nghiệp từ tháng 01 đến tháng 9/2025, thành phố có 810 đơn
đăng ký bảo hộ (754 nhãn hiệu, 13 sáng chế và 43 kiểu dáng công nghiệp) và 652
văn bằng (634 nhãn hiệu, 12 kiểu dáng công nghiệp và 06 sáng chế) được Cục Sở hữu
trí tuệ cấp mới.
[42]
Thực hiện 01 cuộc kiểm tra chuyên ngành theo kế hoạch về TCĐLCL và nhãn hàng
hóa lưu thông trên thị trường đối với 15 cơ sở sản xuất, kinh doanh xăng, dầu,
dầu nhờn động cơ đốt trong và khí dầu mỏ hóa lỏng (LPG) trên địa bàn thành phố;
Tổ chức 03 Đoàn kiểm tra về đo lường, chất lượng và nhãn hàng hóa sản phẩm điện
- điện tử, đồ chơi trẻ em, khí dầu mỏ hóa lỏng và hàng đóng gói sẵn lưu thông
trên thị trường tại 83 cơ sở.
[43]
Hoạt động thử nghiệm, kiểm định và hiệu chuẩn đã hỗ trợ 992 cơ quan, doanh nghiệp
của thành phố và các tỉnh ĐBSCL với số phương tiện đo được kiểm định là 7.844
phương tiện, hiệu chuẩn 4.995 phương tiện; thử nghiệm 28.492 mẫu với 143.176 chỉ
tiêu về các lĩnh vực: môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm và chất lượng xăng
dầu. Ngoài ra, kiểm định, thử nghiệm cho 323 thiết bị yêu cầu nghiêm ngặt về an
toàn lao động.
[44]
Ban hành Quyết định số 698/QĐ-UBND ngày 30/7/2025 của Chủ tịch UBND thành phố
thành lập Ban Chỉ đạo phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển
đổi số và Đề án 06; Kế hoạch số 46/KH-UBND ngày 25/8/2025 của UBND thành phố về
thực hiện Nghị quyết số 71/NQ-CP; Kế hoạch số 83/KH-UBND ngày 23/9/2025 của
UBND thành phố thực hiện Kế hoạch số 426-KH/TU ngày 28/6/2025 của Thành ủy thực
hiện Kế hoạch số 02-KH/BCĐTW ngày 19/6/2025 của Ban Chỉ đạo Trung ương về thúc
đẩy chuyển đổi số liên thông, đồng bộ, nhanh, hiệu quả đáp ứng yêu cầu sắp xếp
tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị; Quyết định số 31/QĐ-BCĐ ngày 24/9/2025 của
Trưởng ban Ban Chỉ đạo thành phố phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo,
chuyển đổi số và Đề án 06 về việc ban hành Quy chế làm việc của Ban Chỉ đạo;
Chương trình số 33/CTr-BCĐ ngày 25/9/2025 của Ban Chỉ đạo phát triển khoa học,
công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06 về Chương trình công tác
năm 2025 của Ban Chỉ đạo.
[45]
Các chương trình nghệ thuật chào năm mới, Mừng Đảng - Mừng Xuân Ất Tỵ 2025; Đường
hoa nghệ thuật; Kỷ niệm 95 năm Ngày thành lập Đảng cộng sản Việt Nam; Giỗ Tổ
Hùng Vương; Lễ hội Bánh dân gian Nam bộ; Lễ kỷ niệm 50 năm giải phóng miền Nam,
thống nhất đất nước; Ngày Quốc tế Lao động (01/5) và 135 năm Ngày sinh Chủ tịch
Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2025); Các hoạt động chào mừng Tết cổ truyền Chôl
Chnăm Thmây; Chương trình họp mặt và Chương trình nghệ thuật chào mừng kỷ niệm
80 năm Ngày Cách mạng Tháng Tám thành công (19/8/1945 - 19/8/2025) và Quốc
khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2/9/1945 - 2/9/2025);…
[46]
Ước thực hiện chỉ tiêu năm 2025: số người tập luyện thể dục thể thao (TDTT) thường
xuyên: 1.420.878 người, đạt 100% kế hoạch; số gia đình thể thao: 235.158 hộ, đạt
100 % kế hoạch năm, số câu lạc bộ TDTT: 3.495 câu lạc bộ, đạt 100% kế hoạch.
[47]
(1) Giải vô địch Xe đạp thể thao thành phố Cần Thơ mở rộng “Mừng Đảng quang
vinh - Mừng Xuân Ất Tỵ 2025”, có 266 VĐV của 21 đội Xe đạp đến từ thành phố Cần
Thơ (cũ) và 07 tỉnh, thành, ước khoảng 3.000 lượt xem và cổ vũ; (2) Giải vô địch
Lân - Sư - Rồng thành phố Cần Thơ mở rộng “Mừng Đảng quang vinh - Mừng Xuân Ất
Tỵ 2025” có 240 VĐV của thành phố Cần Thơ (cũ) và 03 tỉnh (An Giang, Tây Ninh,
Vĩnh Long), ước khoảng 6.000 lượt xem và cổ vũ; (3) Phối hợp tổ chức vòng loại
khu vực Tây Nam Bộ Giải Bóng đá Thanh Niên Sinh viên Việt Nam lần III - năm
2025 Cúp THACO tại sân vận động Cần Thơ; (4) Giải Việt dã thành phố Cần Thơ lần
thứ IV năm 2025 tại Đền thờ Vua Hùng, có 4.200 VĐV tham dự, ước khoảng 1000 lượt
xem và cổ vũ; (5) Giải vô địch các nhóm tuổi Vovinam thành phố Cần Thơ năm
2025, có 317 VĐV tham dự, ước khoảng 3.000 lượt xem và cổ vũ; (6) Giải vô địch
Bóng đá nhi đồng thành phố Cần Thơ mở rộng năm 2025 “tranh cúp Hưng Thịnh” có
120 VĐV 08 câu lạc bộ đến từ 04 tỉnh, thành, ước khoảng 2000 lượt xem và cổ vũ;
(7) Giải Đua thuyền ván Sup thành phố Cần Thơ năm 2025, có 500 VĐV tham dự, ước
khoảng 4.200 lượt xem và cổ vũ; (8) Phối hợp Báo VnExpress tổ chức Giải chạy
VnExpress Marathon Can Tho 2025, có 9.084 VĐV tham dự, ước khoảng 20.000 lượt
xem và cổ vũ; (9) Giải Đua ghe Ngo thành phố Cần Thơ năm 2025, ước khoảng 5.000
VĐV tham dự, 20.000 lượt xem và cổ vũ; (10) Giải chạy Can Tho Heritage Marathon
2025, ước khoảng 8.000 - 8.500 VĐV tham dự, 20.000 lượt xem và cổ vũ.
[48]
(03) Giải đua xe mô tô sân tròn Cúp vô địch quốc gia lần thứ I năm 2025 (chặng
I, II, III) tại sân vận động Cần Thơ; (04) Giải Vô địch Bóng rổ 5x5 quốc gia
năm 2025; (05) Giải Vô địch Bóng rổ 3x3 quốc gia năm 2025; (06) Giải Vô địch Cờ
vua đồng đội quốc gia năm 2025; (07) Hỗ trợ tổ chức Cuộc đua Xe đạp toàn quốc
tranh Cúp Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ 37-2025 “Non sông liền một
dải”, trong đó có lộ trình qua thành phố Cần Thơ (từ ngày 27/4 đến ngày
28/4/2025); (08) Giải vô địch trẻ và vô địch các nhóm tuổi Thể dục dụng cụ quốc
gia năm 2025; (9) Giải vô địch trẻ và vô địch quốc gia môn Bóng chuyền bãi biển
2x2 đồng đội năm 2025, có 132 VĐV tham dự, ước khoảng 4.800 lượt xem và cổ vũ.
[49]
Tổng cộng: 94/137, tỷ lệ 68,61%. Trong đó, cấp xã 72/103, tỷ lệ 69,90%; sở,
ngành thành phố và các đơn vị sự nghiệp thuộc UBND thành phố 22/34, tỷ lệ
54,71%.
[50]
Qua rà soát, chỉ tiêu theo quy định mới giai đoạn 2026 - 2030, tương đương kết
quả năm 2025 “Tỷ lệ thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị bảo đảm
tiêu chuẩn, quy chuẩn” đạt 95%.
[51]
Lập hợp đồng thuê đất đối với 06 trường hợp; ban hành Quyết định: Thu hồi Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
01 trường hợp; thu hồi đất 03 trường hợp; giao đất 02 trường hợp; điều chỉnh
Quyết định giao đất, chuyển mục đích sử dụng đất 07 trường hợp.
[52]
Kết quả thực hiện sau khi rà soát các quy định mới về khu vực đô thị
[53]
Còn lại 324 căn sẽ ghi nhận hoàn thành trong kỳ kế hoạch năm 2026 (đã được Đoàn
công tác của Bộ Xây dựng ghi nhận tại buổi làm việc với thành phố Cần Thơ ngày
17/9/2025).
[54]
42 hồ sơ Thẩm định báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng, 41 hồ sơ thiết kế
xây dựng triển khai sau thiết kế cơ sở, 27 hồ sơ báo cáo kinh tế kỹ thuật.
[55]
Số liệu 11 tháng đầu năm.
[56]
Ban hành Kế hoạch số 35/KH-UBND ngày 20/8/2025 của UBND thành phố triển khai
Chương trình hành động của Chính phủ triển khai Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày
24/01/2025 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới.
[57]
Căn cứ theo Quyết định số 38/QĐ-TTg ngày 11/01/2024 của Thủ tướng Chính phủ phê
duyệt Chiến lược phát triển ngành Bảo hiểm xã hội Việt Nam đến năm 2030:
[58]
Phấn đấu thực hiện chỉ tiêu thu ngân sách của địa phương đạt 29.839 tỷ đồng.