|
ỦY BAN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 368/QĐ-UBND
|
Thành phố Hồ Chí
Minh, ngày 16 tháng 01 năm 2026
|
QUYẾT ĐỊNH
PHÊ DUYỆT ĐỀ ÁN “ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ AI VÀ DỮ LIỆU LỚN
TRONG ĐÀO TẠO: PHÁT TRIỂN CÁC NỀN TẢNG HỌC TẬP TRỰC TUYẾN DỰA TRÊN TRÍ TUỆ
NHÂN TẠO (AI) VÀ DỮ LIỆU LỚN ĐỂ CÁ NHÂN HÓA LỘ TRÌNH HỌC TẬP CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG,
GIÚP HỌ NHANH CHÓNG ĐẠT ĐƯỢC KỸ NĂNG PHÙ HỢP VỚI YÊU CẦU CỤ THỂ CỦA TỪNG NGÀNH”
ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Căn cứ Luật Tổ chức chính
quyền địa phương ngày 16 tháng 6 năm 2025;
Căn cứ Nghị quyết số
226/NQ-CP ngày 05 tháng 8 năm 2025 của Chính phủ về mục tiêu tăng trưởng các
ngành, lĩnh vực, địa phương và các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm để bảo đảm
tăng trưởng cả nước năm 2025 đạt 8,3% - 8,5%;
Căn cứ Chỉ thị số 06/CT-TTg
ngày 10 tháng 3 năm 2025 về các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm để chủ động thích
ứng linh hoạt, kịp thời, phù hợp, hiệu quả với tình hình thế giới, khu vực nhằm
đạt được các mục tiêu tăng trưởng, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm
phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế thị trường trong năm 2025 và những
năm tiếp theo;
Căn cứ Chỉ thị số 08/CT-TTg
ngày 17 tháng 3 năm 2025 về đẩy mạnh phòng, chống lãng phí, khơi thông nguồn lực,
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế;
Căn cứ Chương trình hành động
số 66-CTrHĐ/TU ngày 02 tháng 4 năm 2025 của Ban Thường vụ Thành ủy về thực hiện
Kết luận số 123-KL/TW ngày 24 tháng 01 năm 2025 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng
về tăng trưởng kinh tế đạt 8% trở lên;
Căn cứ Kế hoạch số
2523/KH-UBND ngày 14 tháng 4 năm 2025 của Ủy ban nhân dân Thành phố về việc
thúc đẩy tăng trưởng hai con số trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh năm 2025;
Theo đề nghị của Giám đốc Sở
Giáo dục và Đào tạo tại Tờ trình số 4240/TTr-SGDĐT ngày 06 tháng 11 năm 2025,
Công văn số 5583/SGDĐT- GDTXNNĐH ngày 10 tháng 12 năm 2025 và ý kiến thống nhất
của Thành viên Ủy ban nhân dân Thành phố.
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1.
Phê duyệt kèm theo Quyết định này Đề án “Ứng dụng
công nghệ AI và dữ liệu lớn trong đào tạo: Phát triển các nền tảng học tập trực
tuyến dựa trên trí tuệ nhân tạo (AI) và dữ liệu lớn để cá nhân hóa lộ trình học
tập cho người lao động, giúp họ nhanh chóng đạt được kỹ năng phù hợp với yêu cầu
cụ thể của từng ngành”.
Điều 2.
Giao Sở Giáo dục và Đào tạo, các sở, ban, ngành Thành
phố, Ủy ban nhân dân các phường, xã, đặc khu, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp
trên địa bàn Thành phố và các cơ quan, đơn vị có liên quan xây dựng Kế hoạch
triển khai thực hiện của đơn vị, đảm bảo thực hiện đúng quy định; định kỳ ngày
15 tháng 12 hằng năm báo cáo Ủy ban nhân dân Thành phố (thông qua Sở Giáo dục
và Đào tạo tổng hợp).
Điều 3.
Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký ban hành.
Điều 4.
Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí
Minh, Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo, Thủ trưởng các sở, ban, ngành Thành phố,
Chủ tịch Ủy ban nhân dân các phường, xã, đặc khu, Thủ trưởng các cơ sở giáo dục
nghề nghiệp trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh và Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị
có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.
|
Nơi nhận:
- Như Điều 4;
- Bộ Giáo dục và Đào tạo;
- Thường trực Thành ủy;
- Thường trực HĐND Thành phố;
- Đảng ủy UBND Thành phố;
- TTUB: CT, các PCT;
- Văn phòng Thành ủy;
- Các sở, ban, ngành Thành phố;
- Các cơ sở GDNN trên địa bàn Thành phố;
- UBND các phường, xã, đặc khu;
- Trung tâm Chuyển đổi số Thành phố;
- Trung tâm hành chính công Thành phố;
- VPUB: các PCVP;
- Các Phòng CV;
- Lưu: VT, (VX-HC).
|
TM. ỦY BAN NHÂN
DÂN
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH
Trần Thị Diệu Thúy
|
ĐỀ ÁN
“ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ AI VÀ DỮ LIỆU LỚN TRONG ĐÀO TẠO: PHÁT
TRIỂN CÁC NỀN TẢNG HỌC TẬP TRỰC TUYẾN DỰA TRÊN TRÍ TUỆ NHÂN TẠO (AI) VÀ DỮ
LIỆU LỚN ĐỂ CÁ NHÂN HÓA LỘ TRÌNH HỌC TẬP CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG, GIÚP HỌ NHANH
CHÓNG ĐẠT ĐƯỢC KỸ NĂNG PHÙ HỢP VỚI YÊU CẦU CỤ THỂ CỦA TỪNG NGÀNH”
(Ban hành kèm theo Quyết định số 368/QĐ-UBND ngày 16 tháng 01 năm 2026 của Ủy
ban nhân dân Thành phố)
I. SỰ CẦN
THIẾT, CƠ SỞ PHÁP LÝ
1. Sự cần
thiết xây dựng Đề án
Cuộc cách mạng chuyển đổi số
đang lan tỏa mạnh mẽ tới các ngành, nghề, lĩnh vực trong đó có giáo dục và trí
tuệ nhân tạo (AI) là nền tảng quan trọng trong sự chuyển đổi này. Trong giáo dục
hiện đại, việc áp dụng AI không chỉ là một công cụ hỗ trợ, mà còn là một yếu tố
làm thay đổi cơ bản cách thức giảng dạy, học tập, quản lý đào tạo… Việc sử dụng
các thuật toán AI để tăng tính tự động hóa, cá nhân hóa và tối ưu năng suất giảng
dạy, tối ưu hóa quá trình học tập của người học. AI có khả năng hỗ trợ giáo
viên trong việc lên kế hoạch giảng dạy, phân tích dữ liệu hành vi học sinh,
sinh viên và cá nhân hóa nội dung học tập dựa trên năng lực của từng cá nhân.
AI đang trở thành một phần không thể thiếu trong ngành giáo dục hiện đại, mang
đến những đột phá trong cách giảng dạy và học tập. AI tạo ra những phương thức
giảng dạy và học tập mới, giúp cá nhân hóa trải nghiệm cho từng học sinh, sinh
viên. AI trong giáo dục không chỉ cải thiện chất lượng giảng dạy mà còn giúp
các cơ sở giáo dục và tổ chức giáo dục hoạt động hiệu quả hơn, tập trung vào việc
cung cấp kiến thức chính xác và kịp thời đến người học.
AI được ứng dụng rộng rãi trong
nhiều lĩnh vực của giáo dục, từ phân tích hành vi học tập, cải thiện nội dung
giảng dạy, đến việc tự động hóa công tác hành chính. Đặc biệt, AI có thể hỗ trợ
phân tích kết quả học tập để từ đó đưa ra các đề xuất học tập phù hợp, đồng thời
giúp giáo viên giảm tải công việc hành chính và tập trung hơn vào việc giảng dạy.
Đây chính là những bước tiến lớn giúp giáo dục trở nên cá nhân hóa, hiệu quả và
công bằng hơn.
AI với vai trò là trợ lý đồng
hành trong các hoạt động giáo dục, cụ thể như AI có thể được ứng dụng trong việc
cung cấp các trải nghiệm học tập cá nhân hóa cho học sinh, sinh viên xác định
nhu cầu, sở thích và gợi ý các nội dung hữu ích cho người học và cơ sở giáo dục.
Không chỉ vậy, AI đóng vai trò như là một công cụ dùng để tìm kiếm tài liệu và
nghiên cứu cực kỳ hữu ích, từ đó làm tăng năng suất học tập và nghiên cứu. Các
nền tảng AI trong giáo dục cho phép giảng viên có thể tìm kiếm và ghi nhận các
gợi ý của AI, từ đó xây dựng các chương trình học tập mới, các bài giảng chất
lượng cao cho nhà trường, tăng tương tác với sinh viên, và khả năng tiếp thu kiến
thức cho sinh viên. Về mặt hiệu quả lâu dài: việc ứng dụng AI trong giáo dục
nghề nghiệp có thể giúp giảm chi phí đào tạo, cho phép các cơ sở giáo dục tiết
kiệm chi phí và đầu tư vào các hoạt động đào tạo. Ngoài ra, AI còn hỗ trợ chức
năng giám sát và đánh giá một cách tự động. Cụ thể, AI có thể hỗ trợ giáo viên
trong việc giám sát tiến độ học tập, tăng cường tương tác hiệu quả trên các nền
tảng công nghệ AI, cung cấp báo cáo chi tiết nhanh chóng để tối ưu hóa phương
pháp giảng dạy dựa trên nhu cầu thực tế.
Cách mạng công nghiệp lần thứ
tư đang diễn ra mạnh mẽ, tạo ra nhu cầu lớn về nguồn nhân lực chất lượng cao,
am hiểu công nghệ số, kỹ năng số. Xu hướng phát triển bền vững, bảo vệ môi trường
cũng đang được chú trọng, đòi hỏi người lao động phải có kiến thức và kỹ năng về
công nghệ xanh, sản xuất xanh. Trong khi đó, hệ thống giáo dục đào tạo tại Việt
Nam nói chung và Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, tuy đang phát triển đa dạng,
nhưng chất lượng giáo dục vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động.
Thực tế cho thấy, người lao động còn thiếu kỹ năng số và kỹ năng xanh, dẫn đến
khó khăn trong việc thích ứng với yêu cầu của thị trường lao động.
Nhằm triển khai thực hiện đồng
bộ, hiệu quả các giải pháp, chính sách khuyến khích, thúc đẩy đào tạo nhân lực
chất lượng cao cho các ngành, lĩnh vực ưu tiên, mới nổi; nghiên cứu, xây dựng
chính sách hỗ trợ đầu tư nguồn lực, đặt hàng, giao nhiệm vụ đào tạo cho các cơ
sở đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Thúc đẩy ứng dụng công nghệ AI và dữ
liệu lớn trong đào tạo; phát triển các nền tảng học tập trực tuyến dựa trên AI
và dữ liệu lớn để cá nhân hóa lộ trình học tập cho người lao động, giúp họ
nhanh chóng đạt được kỹ năng phù hợp với yêu cầu cụ thể của từng ngành là nhiệm
vụ quan trọng trong việc thực hiện thúc đẩy mạnh mẽ các động lực tăng trưởng mới,
đột phá; phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, nguồn
nhân lực chất lượng cao.
2. Căn cứ
pháp lý
Chỉ thị số 21-CT/TW ngày 04
tháng 5 năm 2023 của Ban Bí thư về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao chất
lượng giáo dục nghề nghiệp đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045;
Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22
tháng 8 năm 2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo;
Nghị quyết số 158/2024/QH15
ngày 12 tháng 11 năm 2024 của Quốc hội về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội
năm 2025;
Nghị quyết số 192/2025/QH15 ngày
19 tháng 02 năm 2025 của Quốc hội về bổ sung Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội
năm 2025 với mục tiêu tăng trưởng đạt 8% trở lên;
Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 08
tháng 01 năm 2025 của Chính phủ về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch
phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2025;
Quyết định số 131/QĐ-TTg ngày
25 tháng 01 năm 2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Tăng cường ứng dụng
công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo giai đoạn 2022 -
2025, định hướng đến năm 2030”;
Nghị quyết số 226/NQ-CP ngày 05
tháng 8 năm 2025 của Chính phủ về mục tiêu tăng trưởng các ngành, lĩnh vực, địa
phương và các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm để bảo đảm tăng trưởng cả nước năm
2025 đạt 8,3% - 8,5%;
Quyết định số 247/QĐ-TTg ngày
06 tháng 02 năm 2025 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thực
hiện Chỉ thị số 21-CT/TW ngày 04 tháng 5 năm 2023 của Ban Bí thư Trung ương Đảng
về đổi mới, phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp đến năm
2030, tầm nhìn đến năm 2045;
Chỉ thị số 06/CT-TTg ngày 10
tháng 3 năm 2025 của Thủ tướng Chính phủ về các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm để
chủ động thích ứng linh hoạt, kịp thời, phù hợp, hiệu quả với tình hình thế giới,
khu vực nhằm đạt được các mục tiêu tăng trưởng, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô,
kiềm chế lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế thị trường trong năm
2025 và những năm tiếp theo;
Chỉ thị số 08/CT-TTg ngày 17
tháng 3 năm 2025 của Thủ tướng Chính phủ về đẩy mạnh phòng, chống lãng phí,
khơi thông nguồn lực, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế;
Nghị quyết số 281/NQ-CP ngày 15
tháng 9 năm 2025 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực
hiện Nghị quyết số 71- NQ/TW ngày 22 tháng 8 năm 2025 của Bộ Chính trị về đột
phá phát triển giáo dục và đào tạo;
Thông tư số 02/2025/TT-BGDĐT
ngày 24 tháng 01 năm 2025 của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định Khung năng lực số
cho người học;
Công văn số 2250/BGDĐT-GDPT
ngày 12 tháng 5 năm 2025 về triển khai tài liệu Hướng dẫn sử dụng Ứng dụng trí
tuệ nhân tạo trong dạy và học;
Quyết định số 575/QĐ-UBND ngày
23 tháng 02 năm 2021 của Ủy ban nhân dân Thành phố về phê duyệt Chương trình
“Nghiên cứu và phát triển ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) tại Thành phố Hồ Chí
Minh giai đoạn 2020 - 2030”;
Kế hoạch số 1910/KH-UBND ngày
10 tháng 5 năm 2023 của Ủy ban nhân dân Thành phố về triển khai thực hiện Chiến
lược phát triển giáo dục nghề nghiệp giai đoạn 2023 - 2030, tầm nhìn đến năm
2045 trên địa bàn Thành phố;
Quyết định số 2250/QĐ-UBND ngày
22 tháng 6 năm 2023 của Ủy ban nhân dân Thành phố về ban hành Kế hoạch triển
khai Chương trình chuyển đổi số trong giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn Thành
phố Hồ Chí Minh đến năm 2025, định hướng đến năm 2030;
Quyết định số 2673/QĐ-UBND ngày
29 tháng 6 năm 2023 của Ủy ban nhân dân Thành phố về ban hành Kế hoạch đào tạo,
nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đảm bảo cung ứng, nhu cầu tái cơ cấu các
ngành, lĩnh vực kinh tế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2025, định
hướng đến năm 2030;
Kế hoạch số 267-KH/TU ngày 21
tháng 9 năm 2023 của Thành ủy Thành phố về tăng cường một số biện pháp thực hiện
Chỉ thị số 21-CT/TW của Ban Bí thư về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao
chất lượng giáo dục nghề nghiệp đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 trên địa
bàn Thành phố Hồ Chí Minh;
Kế hoạch số 6497/KH-UBND ngày
21 tháng 12 năm 2023 của Ủy ban nhân dân Thành phố về thúc đẩy nghiên cứu và
phát triển trí tuệ nhân tạo từ môi trường nghiên cứu đến thử nghiệm, ứng dụng
thí điểm đến ứng dụng rộng rãi trong xã hội trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
đến năm 2025, tầm nhìn năm 2030;
Quyết định số 82/QĐ-UBND ngày
08 tháng 01 năm 2024 của Ủy ban nhân dân Thành phố về ban hành Chương trình
hành động của Ủy ban nhân dân Thành phố về thực hiện Kế hoạch số 267-KH/TU ngày
21 tháng 9 năm 2023 của Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh về tăng cường một số biện
pháp thực hiện Chỉ thị số 21-CT/TW của Ban Bí thư về tiếp tục đổi mới, phát triển
và nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045
trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh;
Quyết định số 869/QĐ-UBND ngày
21 tháng 3 năm 2024 của Ủy ban nhân dân Thành phố về Đề án “Đào tạo, bồi dưỡng
nâng cao nhận thức, phát triển năng lực, kỹ năng số cho cán bộ quản lý, giáo
viên, nhân viên ngành Giáo dục thực hiện chương trình chuyển đổi số ngành Giáo
dục Thành phố giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030” trên địa bàn Thành
phố Hồ Chí Minh;
Nghị quyết số 122/NQ-HĐND ngày
11 tháng 12 năm 2024 của Hội đồng nhân dân Thành phố về nhiệm vụ kinh tế - xã hội
năm 2025;
Chương trình hành động số
66-CTrHĐ/TU ngày 02 tháng 4 năm 2025 của Ban Thường vụ Thành ủy về thực hiện Kết
luận số 123-KL/TW ngày 24 tháng 01 năm 2025 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về
tăng trưởng kinh tế đạt 8% trở lên;
Kế hoạch số 634/KH-UBND ngày 25
tháng 01 năm 2025 của Ủy ban nhân dân Thành phố về thực hiện Chương trình nâng
cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh năm
2025;
Kế hoạch số 2523/KH-UBND ngày
14 tháng 4 năm 2025 của Ủy ban nhân dân Thành phố về thúc đẩy tăng trưởng hai
con số trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh năm 2025.
II. THỰC TRẠNG
VIỆC ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ AI VÀ DỮ LIỆU LỚN ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN CÁC NỀN TẢNG HỌC TẬP
TRỰC TUYẾN ĐỂ CÁ NHÂN HÓA LỘ TRÌNH HỌC TẬP CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG
1. Đặc điểm
tình hình các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
1.1. Về
số lượng các cơ sở giáo dục nghề nghiệp
Số lượng cơ sở giáo dục nghề
nghiệp trên địa bàn Thành phố (không bao gồm phân hiệu, địa điểm đào tạo của
các cơ sở giáo dục nghề nghiệp có trụ sở chính ngoài Thành phố Hồ Chí Minh) là
481 đơn vị, bao gồm:
+ Trường cao đẳng[1]: 77 đơn vị, gồm: 41 trường công lập,
36 trường tư thục.
+ Trường trung cấp[2]: 77 đơn vị, gồm: 26 trường công lập,
41 trường tư thục.
+ Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp:
74 đơn vị, gồm: 06 Trung tâm công lập, 68 trung tâm tư thục.
+ Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp
- Giáo dục thường xuyên: 29 đơn vị công lập.
Ngoài ra, còn có 224 doanh nghiệp
có đăng ký hoạt động giáo dục nghề nghiệp, gồm: 02 doanh nghiệp nhà nước, 222
doanh nghiệp tư nhân.
1.2. Về
ngành nghề đào tạo
Trên cơ sở tổng hợp thông tin
đăng ký hoạt động giáo dục nghề nghiệp tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên
địa bàn Thành phố, cơ cấu và tỷ trọng ngành nghề đào tạo như sau:
(1) Đối với trình độ cao đẳng
+ 04 nhóm ngành công nghiệp trọng
yếu (Cơ khí; Điện tử - Công nghệ thông tin; Hóa dược - cao su nhựa; Chế biến
lương thực - thực phẩm) chiếm 34,8%.
+ 09 nhóm ngành dịch vụ chủ yếu
(Thương mại; Vận tải kho bãi; Du lịch; Bưu chính viễn thông và Công nghệ
thông tin - Truyền thông; Tài chính
- Tín dụng - Ngân hàng - Bảo
hiểm; Kinh doanh tài sản - bất động sản; Thông tin tư vấn khoa học - Công nghệ;
Giáo dục - đào tạo; Y tế) chiếm 46,02%.
+ Các ngành còn lại chiếm
19,18%. (2) Đối với trình độ trung cấp
+ 04 nhóm ngành công nghiệp trọng
yếu (Cơ khí; Điện tử - Công nghệ thông tin; Hóa dược - cao su nhựa; Chế biến
lương thực - thực phẩm) chiếm 23,37%.
+ 09 nhóm ngành dịch vụ chủ yếu
(Thương mại; Vận tải kho bãi; Du lịch; Bưu chính viễn thông và Công nghệ
thông tin - Truyền thông; Tài chính
- Tín dụng - Ngân hàng - Bảo
hiểm; Kinh doanh tài sản - bất động sản; Thông tin tư vấn khoa học - Công nghệ;
Giáo dục - đào tạo; Y tế) chiếm 57,55%.
+ Các ngành còn lại chiếm
19,08%.
(3) Đối với đào tạo ngắn hạn (trình
độ sơ cấp, đào tạo dưới 03 tháng):
+ 04 nhóm ngành công nghiệp trọng
yếu (Cơ khí; Điện tử - Công nghệ thông tin; Hóa dược - cao su nhựa; Chế biến
lương thực - thực phẩm) chiếm 3,39%.
+ 09 nhóm ngành dịch vụ chủ yếu
(Thương mại; Vận tải kho bãi; Du lịch; Bưu chính viễn thông và Công nghệ
thông tin - Truyền thông; Tài chính
- Tín dụng - Ngân hàng - Bảo
hiểm; Kinh doanh tài sản - bất động sản; Thông tin tư vấn khoa học - Công nghệ;
Giáo dục - đào tạo; Y tế) chiếm 96,11%.
+ Các ngành còn lại chiếm 0,5%.
Có khoảng 1.102 nghề được tổ chức
đào tạo tại cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, các
ngành nghề thu hút nhiều cơ sở đào tạo và người học như: quản trị mạng máy
tính, thiết kế đồ họa, điều dưỡng, tin học ứng dụng, dược, tiếng Anh, hướng dẫn
du lịch, quản trị khách sạn, kế toán, công nghệ ô tô, điện công nghiệp, cắt gọt
kim loại, quản trị kinh doanh, quản trị doanh nghiệp vừa và nhỏ, kỹ thuật chế
biến món ăn, kỹ thuật máy lạnh và điều hòa không khí, công nghệ thông tin, điện
tử công nghiệp, tài chính - ngân hàng, logistics, quản lý doanh nghiệp, kỹ thuật
xây dựng, tiếng Nhật.
1.3. Về
đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý
Tổng số nhà giáo (cán bộ quản
lý, giảng viên, giáo viên) của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp là: 18.368
người, trong đó: có 5.916 cán bộ quản lý (chiếm tỷ lệ 32,2%), 12.452 nhà
giáo (chiếm tỷ lệ 67,8%).
Chất lượng đội ngũ cán bộ quản
lý, nhà giáo giáo dục nghề nghiệp gồm:
- Về trình độ chuyên môn:
29,53% có trình độ trên đại học, 38,75% có trình độ đại học và 31,72% dưới đại
học.
- Về năng lực ngoại ngữ: 13,08%
có trình độ từ bậc 4 (trình độ cử nhân hoặc tương đương trình độ B2 theo
khung năng lực ngoại ngữ quốc gia trở lên), 69,87% có trình độ từ bậc 1 đến
bậc 3 (trình độ B1, A2, A1 theo khung năng lực ngoại ngữ quốc gia).
- Về năng lực công nghệ thông
tin: 17,99% có trình độ ứng dụng công nghệ thông tin nâng cao, 68,38% có ứng dụng
công nghệ thông tin cơ bản.
Hiện nay, trình độ công nghệ thông
tin, ứng dụng AI của cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên tại các cơ sở giáo dục
nghề nghiệp vẫn còn chênh lệch, một số cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên có
kiến thức và kỹ năng vững vàng, khả năng sử dụng công nghệ để nâng cao chất lượng
giảng dạy và quản lý học tập hiệu quả. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều nhân sự thiếu
kiến thức ứng dụng AI cơ bản hoặc không tự tin trong việc sử dụng công nghệ mới.
Sự chênh lệch trong trình độ ứng dụng công nghệ thông tin của cán bộ quản lý,
giáo viên, nhân viên hiện nay có thể được quan sát và đánh giá từ nhiều khía cạnh
như:
+ Trong quá trình đào tạo kỹ
năng về công nghệ thông tin, không phải tất cả cán bộ quản lý, giáo viên, nhân
viên tham gia đào tạo đều được trang bị đủ kiến thức, kỹ năng để hiểu và sử dụng
các công nghệ mới.
+ Sự chênh lệch về hiệu quả khi
sử dụng công nghệ, các ứng dụng và công cụ kỹ thuật số trong việc chuẩn bị bài
giảng, tạo ra nội dung học tập, tương tác với học sinh.
+ Ý thức và thái độ cá nhân của
cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên, nhân viên trong việc ứng dụng công nghệ
thông tin vào các hoạt động quản lý và dạy học.
2. Về thực
trạng người lao động trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
2.1.
Đào tạo nghề và kỹ năng nghề nghiệp của người lao động
Theo các báo cáo tổng kết và
nghiên cứu về thị trường lao động tại Việt Nam nói chung và Thành phố Hồ Chí
Minh nói riêng, trình độ và kỹ năng nghề nghiệp của người lao động còn hạn chế.
Theo kết quả khảo sát của GSO và một số nghiên cứu của ILO[3], trình độ nghề nghiệp của người lao động Việt Nam còn hạn
chế. Số liệu GSO năm 2019 và 2020 cho thấy tỷ trọng lao động đã qua đào tạo ở
Việt Nam còn khá thấp và không đồng đều giữa các vùng.
Quyết định chuyển đổi kỹ năng
nghề nghiệp cho người lao động tại doanh nghiệp vừa góp phần nâng cao năng suất
lao động, tăng tính cạnh tranh cho doanh nghiệp trong tình hình mới vừa là
chính sách an sinh khi nỗ lực duy trì việc làm, hướng tới mục tiêu việc làm thỏa
đáng. Ngoài ra, những viễn cảnh chưa rõ ràng về tương lai công việc, xu thế chuyển
đổi số, nền kinh tế mới nổi dẫn đến sự thay đổi nhu cầu lao động, khiến cho người
lao động phải chọn lựa một công việc mới. Nghiên cứu của Tổ chức lao động quốc
tế ILO về chiến lược đào tạo G20 cho thấy, lực lượng lao động có kỹ năng nghề
đóng vai trò quan trọng mang tính quyết định đối với sự tăng trưởng bền vững của
nền kinh tế. Trong bối cảnh hiện nay, lực lượng lao động có kỹ năng có ý nghĩa
quyết định tới năng suất lao động của chính người lao động và doanh nghiệp,
đóng góp vào tăng trưởng GDP. Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, nếu số ngày
đào tạo tăng thêm 1% thì năng suất lao động bình quân mỗi công dân Châu Âu tăng
thêm 3%, tăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế tăng 16% nhờ vào đào tạo kỹ năng[4].
Ngoài ra, qua tổng quan các
nghiên cứu có liên quan về kỹ năng nghề nghiệp, về việc làm, về nhu cầu số lượng,
chất lượng lao động của thị trường lao động Thành phố Hồ Chí Minh nhận thấy
cách mạng công nghệ 4.0 tác động lớn đến thị trường lao động, tạo ra nguy cơ thất
nghiệp cho lao động kỹ năng thấp do tự động hóa. Tuy nhiên, cách mạng công nghệ
4.0 cũng tạo ra cơ hội việc làm mới, chủ yếu trong lĩnh vực công nghệ cao, đòi
hỏi kỹ năng cao. Tại Việt Nam, định hướng phát triển kinh tế số, chuyển đổi số
được xác định tại Quyết định số 749/QĐ-TTg phê duyệt “Chương trình Chuyển đổi số
quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030” với mục tiêu Việt Nam thuộc
nhóm 50 nước dẫn đầu về chính phủ điện tử, liên quan đến phát triển kinh tế số,
nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Tổng quan nghiên cứu phản ánh
nhu cầu số lượng và chất lượng lao động tại thị trường lao động Thành phố Hồ
Chí Minh phân hóa theo hai nhóm: kỹ năng thấp/lương thấp và kỹ năng cao/lương
cao. Nhu cầu lao động kỹ năng cao tăng, trong khi nhu cầu lao động kỹ năng thấp
giảm. Tỷ lệ lao động qua đào tạo tại Thành phố Hồ Chí Minh còn thấp, chất lượng
lao động chưa cao. Lao động trong các ngành thâm dụng lao động (dệt may, da
giày, lắp ráp) dễ bị ảnh hưởng bởi tự động hóa. Theo báo cáo đề án “Đào tạo,
đào tạo lại nâng cao kỹ năng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của Cách mạng công
nghiệp lần thứ tư”, ở Việt Nam vẫn đang tồn tại sự chênh lệch giữa kỹ năng của
người lao động có và các kỹ năng mà thị trường lao động cần, dẫn đến tỷ lệ sử dụng
lao động qua đào tạo còn thấp (22,3%) trong khi thị trường vẫn thiếu lao động
có trình độ, kỹ năng nghề. Nhiều tổ chức quốc tế cũng cho rằng kỹ năng nghề sẽ
là “đơn vị tiền tệ quốc tế mới” trong thị trường lao động tương lai, bởi vì nó
đem lại năng lực cạnh tranh tốt hơn, năng suất lao động cao hơn.
Chuyển đổi kỹ năng nghề nghiệp
là cần thiết để người lao động thích ứng với thị trường lao động. Các phương thức
chuyển đổi bao gồm đào tạo, đào tạo lại, nâng cao kỹ năng. Chuyển đổi công việc
thành công thường liên quan đến việc người lao động tận dụng các kỹ năng hiện
có và phát triển các kỹ năng mới để đáp ứng nhu cầu của nghề nghiệp.
2.2. Về
tỷ lệ lao động được đào tạo nghề
Tính theo quy định tại Nghị định
số 94/2022/NĐ-CP ngày 07 tháng 11 năm 2022 của Chính phủ quy định nội dung chỉ
tiêu thống kê thuộc hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia và quy trình biên soạn
chỉ tiêu tổng sản phẩm trong nước, chỉ tiêu tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương, cụ thể:
- Tổng dân số của thành phố Hồ
Chí Minh: 14.002.598 người; trong đó lực lượng lao động khoảng: 6.847.000 người.
- Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt
khoảng: 84,7% (tính trung bình của 03 đơn vị hành chính cấp tỉnh trước khi sáp
nhập tại thời điểm 31/12/2024; cụ thể: Bà Rịa - Vũng Tàu: 82%, Thành phố Hồ Chí
Minh: 88,1% và tỉnh Bình Dương: 84%).
- Tỷ lệ lao động qua đào tạo có
bằng cấp, chứng chỉ: đạt khoảng 35% (tính trung bình của 03 đơn vị hành chính cấp
tỉnh thời điểm 31/12/2024).
- Tỷ lệ thất nghiệp của lao động
trong độ tuổi khu vực thành thị: khoảng 3,8% (tính trung bình của 03 đơn vị
hành chính cấp tỉnh thời điểm 31/12/2024).
- Tỷ lệ tham gia lực lượng lao
động của nữ giới: khoảng 55,6% (tính trung bình của 03 đơn vị hành chính cấp tỉnh
thời điểm 31/12/2024).
2.3.
Các yếu tố tác động đến kỹ năng nghề nghiệp của người lao động hiện nay
Sự phát triển mạnh mẽ của công
nghệ cũng tạo ra yêu cầu chuyển đổi kỹ năng số ở mọi ngành nghề, từ kỹ năng cơ
bản đến các kỹ năng phức tạp hơn trong quản lý, điều hành máy móc và hệ thống
thông tin. Ngoài ra, sự xuất hiện của các khu công nghệ cao tại Thành phố Hồ
Chí Minh đã mở ra cơ hội việc làm mới nhưng đồng thời đòi hỏi người lao động phải
trang bị thêm kỹ năng chuyên môn về công nghệ, kỹ thuật số và khả năng học tập
suốt đời. Tuy nhiên, tâm lý bằng cấp và xu hướng lựa chọn học đại học thay vì học
nghề vẫn còn mạnh mẽ, dẫn đến tình trạng dư thừa lao động có bằng cấp nhưng thiếu
kỹ năng thực tế. Sự dư thừa này làm khó khăn cho quá trình chuyển đổi kỹ năng của
người lao động, đặc biệt là đối với các ngành kỹ thuật và sản xuất. Đồng thời,
với xu thế hội nhập quốc tế, doanh nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh đang phải đối
mặt với áp lực đáp ứng tiêu chuẩn lao động và chất lượng kỹ năng nghề nghiệp
theo yêu cầu quốc tế. Điều này đòi hỏi hệ thống đào tạo phải thay đổi linh hoạt,
hướng tới các tiêu chuẩn toàn cầu, tập trung vào kỹ năng ngoại ngữ và khả năng
làm việc trong môi trường đa văn hóa.
2.4. Một
số cơ chế chính sách liên quan đào tạo nghề cho người lao động
a) Chính sách tái đào tạo kỹ
năng nghề
Chương trình tái đào tạo nghề tại
Thành phố Hồ Chí Minh nhằm hỗ trợ những người lao động đã có kinh nghiệm trong
một ngành nghề nhưng cần chuyển đổi sang ngành nghề khác hoặc cập nhật kỹ năng
mới.
Theo quy định tại Quyết định số
2673/QĐ-UBND ngày 29 tháng 6 năm 2023 của Ủy ban nhân dân Thành phố về Kế hoạch
đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đảm bảo cung ứng, nhu cầu tái cơ cấu
các ngành, lĩnh vực kinh tế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2025, định
hướng đến năm 2030, 04 chính sách dành cho công tác giáo dục nghề nghiệp của
Thành phố gồm:
(1) Áp dụng các chính sách về hỗ
trợ đào tạo nghề
- Chính sách hỗ trợ đào tạo nghề
trình độ sơ cấp, đào tạo dưới 03 tháng theo Quyết định số 46/2015/QĐ-TTg ngày
28 tháng 9 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ;
- Chính sách hỗ trợ đào tạo nghề
đối với lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa theo Nghị định
số 80/2021/NĐ-CP ngày 26 tháng 8 năm 2021 của Chính phủ;
- Chính sách về miễn, giảm học
phí, hỗ trợ chi phí học tập, giá dịch vụ trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo theo
Nghị định số 238/2025/NĐ-CP ngày 03 tháng 9 năm 2025 của Chính phủ;
(2) Chế độ miễn, giảm tiền thuê
đất đối với các cơ sở thực hiện xã hội hóa trong các lĩnh vực giáo dục và đào tạo,
dạy nghề, y tế, văn hóa, thể dục, thể thao, môi trường, giám định tư pháp trên
địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh (ban hành kèm theo Quyết định số 39/2015/QĐ-UBND
ngày 11 tháng 8 năm 2015 của Ủy ban nhân dân Thành phố).
(3) Chương trình kích cầu đầu
tư của Thành phố Hồ Chí Minh (ban hành kèm theo Quyết định số 50/2015/QĐ-UBND
ngày 30 tháng 10 năm 2015 của Ủy ban nhân dân Thành phố).
(4) Đối với trường đạt chuẩn
trường chất lượng cao, trường được các tổ chức giáo dục có uy tín trên thế giới
xếp hạng, trường có ngành, nghề đào tạo được tổ chức kiểm định quốc tế đánh giá
đạt yêu cầu.
Đối với việc doanh nghiệp phải
tổ chức “đào tạo lại” nhân lực sau tuyển dụng, đặc biệt là nhân lực trình độ
cao đẳng, trung cấp thì hầu như sẽ không có hoạt động này Theo quy định tại điểm
c khoản 2 Điều 6 Bộ luật Lao động quy định:
“c) Đào tạo, đào tạo lại, bồi
dưỡng nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nhằm duy trì, chuyển đổi nghề nghiệp, việc
làm cho người lao động;”
Khi doanh nghiệp tuyển dụng, họ
căn cứ hồ sơ và duyệt ứng viên đủ điều kiện, tiếp đó là hướng dẫn, truyền đạt
các thông tin tại doanh nghiệp (văn hóa, quy định, kĩ năng đặc thù…), quá trình
này được doanh nghiệp hiểu là đào tạo bổ sung, không có đào tạo lại. Do đó,
doanh nghiệp không “đào tạo lại” cho người lao động ở kiến thức chuyên môn, kỹ
năng nghề đã học các Trường mà chỉ “đào tạo bổ sung” các kiến thức đặc thù của
doanh nghiệp để người lao động có thể thích ứng và làm việc tại doanh nghiệp.
b) Về hỗ trợ cho người lao động
nâng cao tay nghề
Kế hoạch số 187/KH-UBND ngày 19
tháng 01 năm 2022 của Ủy ban nhân dân Thành phố về hỗ trợ đào tạo nghề đối với
lao động đang làm việc trong doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn Thành phố Hồ
Chí Minh.
Trong giai đoạn 2022 - 2024,
chưa tổ chức được việc đào tạo nghề một phần do doanh nghiệp chưa sắp xếp được
thời gian cho người lao động tham gia học tập và nguyên nhân chính do chi phí hỗ
trợ đào tạo nghề thấp (2 triệu đồng/người/khóa học), người lao động không có khả
năng đóng phần học phí chênh lệch (phần chênh lệch thấp nhất là 3 triệu đồng đối
với các khóa đào tạo nghề dưới 03 tháng và cao nhất là 20 triệu đồng đối với
khóa đào tạo nghề lái xe ô tô hạng B).
Về hỗ trợ đào tạo nghề cho người
lao động thất nghiệp, thông qua chính sách bảo hiểm thất nghiệp, trong giai đoạn
2020 - 2024 đã hỗ trợ chi phí đào tạo nghề cho 10.178 người với tổng kinh phí
khoảng 37,4 tỷ đồng.
c) Về Chính sách đào tạo nghề
cho người khuyết tật
Tổ chức các hoạt động dạy nghề,
tạo việc làm cho người khuyết tật thông qua liên kết, hợp tác với các trường dạy
nghề, trung tâm dịch vụ việc làm; tổ chức phiên giao dịch việc làm cho người
khuyết tật; nắm bắt nhu cầu tìm việc làm, thông tin doanh nghiệp tiếp nhận lao
động khuyết tật làm việc; tạo điều kiện cho phụ nữ khuyết tật được vay vốn tạo
việc làm, cải thiện đời sống; thực hiện các hoạt động hỗ trợ sinh kế (xe lăn,
xe lắc, dự án làm nông nghiệp...).
d) Về Chính sách hỗ trợ cơ sở
giáo dục nghề nghiệp
Xây dựng cơ sở hạ tầng đào tạo
nghề cũng là một trọng tâm trong chính sách của Thành phố Hồ Chí Minh. Thành phố
đã đầu tư xây dựng nhiều trung tâm đào tạo nghề chất lượng cao, đặc biệt tập
trung vào các ngành nghề có nhu cầu lớn như công nghệ thông tin, cơ khí, điện tử,
và dịch vụ.
Ngoài ra, một số trường đã chủ
động đăng ký vay vốn của Chương trình kích cầu đầu tư để xây dựng, cải tạo cơ sở
vật chất, đầu tư các phương tiện kỹ thuật dạy học tiên tiến, đáp ứng các điều
kiện thực hành, thực tập cho học sinh, sinh viên theo các chương trình đào tạo
đã cập nhật theo nhu cầu của xã hội.
3. Về thực
trạng ứng dụng công nghệ thông tin, AI và dữ liệu lớn trong đào tạo nghề
Hầu hết các cơ sở giáo dục nghề
nghiệp đã triển khai thực hiện ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số và ứng
dụng AI, dữ liệu lớn trong công tác quản lý, đào tạo nghề. Nhiều trường đã sử dụng
phần mềm quản lý đào tạo, quản lý người học, điểm danh, hồ sơ điện tử, kết nối
dữ liệu với cơ quan quản lý. Bên cạnh đó, trong chiến lược chuyển đổi số gắn với
AI, dựa trên các nền tảng AI phổ biến như Google AI, Microsoft Azure AI
Services và IBM Watson các trường đã xây dựng và triển khai nhiều giải pháp
trong quản lý, đào tạo, giảng dạy như “Trợ lý đào tạo AI” nhằm hỗ trợ học sinh,
sinh viên trong việc giải đáp thắc mắc về quy chế, lịch học, đăng ký môn học và
các vấn đề liên quan đến đào tạo; ứng dụng AI để xây dựng, phát triển nền tảng
tuyển dụng thông minh ...
a) Ứng dụng AI trong cá nhân
hoá lộ trình học tập
Các nền tảng hay ứng dụng dựa
trên AI có khả năng thu thập và phân tích dữ liệu của học sinh, sinh viên về sự
tương tác với các bài giảng, về thời gian hoàn thành bài tập, kết quả bài kiểm
tra và thành tích tổng thể để hiểu được thái độ, hành vi và nhu cầu của mỗi học
sinh. Dựa trên những dữ liệu này, các công cụ AI sẽ tiến hành thiết kế và cá
nhân hoá lộ trình học cho học sinh, sinh viên đồng thời, điều chỉnh chúng dựa
trên thời gian thực (real-time) sao cho phù hợp với sự tiến bộ của người học.
b) Ứng dụng AI trong dự đoán kết
quả học tập
AI có thể được ứng dụng trong
giáo dục để phát huy khả năng dự đoán kết quả học tập. Giải pháp này được phát
triển dựa trên khả năng máy học (Machine Learning), xử lý dữ liệu được thu thập
trước đó về kết quả học tập của học sinh, sinh viên dựa trên các tiêu chí: hiệu
suất, thái độ, điều kiện xã hội và phân loại chúng thành các mẫu khác nhau. Sau
đó, các thuật toán sẽ đưa ra so sánh và xác định mối quan hệ giữa người học và
các đặc điểm điển hình liên quan tới kết quả học tập của học sinh, sinh viên. Từ
đó, mở ra cơ hội để giáo viên lựa chọn phương pháp và chương trình giảng dạy tốt
nhất dựa trên kỹ năng và nhu cầu của học sinh, sinh viên. Hoặc thậm chí xác định
trước học sinh, sinh viên có nguy cơ… bỏ học hoặc không có khả năng tốt nghiệp
đúng thời gian do điểm số thấp, thái độ học tập không tốt từ đó đưa ra các giải
pháp hỗ trợ người học trước khi quá muộn.
c) Ứng dụng AI hỗ trợ tự động
hoá các tác vụ của giảng viên
AI đã và đang thay thế giáo
viên thực hiện những công việc lặp đi lặp lại và tốn kém nhiều thời như đánh
giá bài kiểm tra bằng phần mềm chấm điểm, tiết kiệm thời gian tương tác với học
sinh, sinh viên. Ngoài ra, AI hiện nay đã có những bước tiến xa hơn nữa khi ứng
dụng mô hình ngôn ngữ lớn (LLM) cho phép xử lý ngôn ngữ một cách tự nhiên, áp dụng
hiệu quả trong việc kiểm tra, đánh giá các câu trả lời tự luận và bài luận ngắn
cũng như kỹ năng viết của học sinh, sinh viên.
d) Ứng dụng AI hỗ trợ tối ưu quản
trị hành chính trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp
Các tổ chức giáo dục nghề nghiệp
phát triển ứng dụng AI để tự động hóa nhiều hoạt động hành chính, bao gồm xử lý
đơn đăng ký của người học tuyển sinh, quản lý cơ sở, thủ tục nhân sự, tuyển dụng,…
Đây là một trong những yếu tố mang tính quyết định trong việc cắt giảm chi phí,
nâng cao hiệu quả quản lý và cải thiện khả năng đáp ứng nhu cầu của sinh viên.
e) Ứng dụng AI để hỗ trợ thiết
kế chương trình, biên soạn bài giảng, tài liệu học tập
AI không những được đánh giá
cao trong việc hoạch định các lộ trình học cá nhân hoá, mà còn hỗ trợ xử lý lượng
dữ liệu khổng lồ về sự tiến bộ, sở thích, năng lực và cả những rào cản trong học
tập của người học trong một năm nhất định, từ đó, tư vấn cho giáo viên hay các
nhà quản lý cách để nâng cao hiệu quả chương trình giảng dạy trên quy mô lớn.
Các thuật toán AI có thể xác định các mô hình và xu hướng, đánh giá tính hiệu
quả của các phương pháp sư phạm nhất định và dự đoán kết quả của các chiến lược
giáo dục khác nhau.
III. MỤC
TIÊU ĐỀ ÁN
1. Mục
tiêu chung
Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ AI
và dữ liệu lớn trong đào tạo nhằm phát triển các nền tảng học tập trực tuyến dựa
trên AI và dữ liệu lớn để cá nhân hóa lộ trình học tập cho người lao động, giúp
họ nhanh chóng đạt được kỹ năng phù hợp với yêu cầu cụ thể của từng ngành nghề
đào tạo; tập trung vào các ngành trọng điểm đáp ứng đào tạo nhân lực trình độ
cao, theo hướng hiện đại hóa và hội nhập quốc tế nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển
kinh tế - xã hội của Thành phố.
2. Mục
tiêu đến năm 2030
2.1.
Cơ sở vật chất, thiết bị phục vụ ứng dụng công nghệ AI và dữ liệu lớn trong đào
tạo
- Người học và nhà giáo của các
cơ sở giáo dục có đủ điều kiện (về phương tiện, đường truyền, phần mềm) tiếp cận
có hiệu quả công nghệ AI và các hoạt động dạy học:
+ 100% cơ sở giáo dục nghề nghiệp
đủ số lượng về phòng máy, máy tính và cấu hình đạt chuẩn theo quy định.
+ 100% cơ sở giáo dục nghề nghiệp
có đường truyền tốc độ cao, đáp ứng toàn bộ máy tính có thể truy cập Internet
trong cùng một thời điểm. Các phòng chức năng đảm bảo trang bị đầy đủ máy tính
có kết nối Internet và các trang thiết bị thu phát tín hiệu cần thiết.
- Mỗi trường cao đẳng có ít nhất
01 phòng học tương tác thông minh, hiện đại, trang bị máy chủ cấu hình, dữ liệu
đáp ứng mục tiêu Đề án.
- Trang bị các phòng lab AI tại
tối thiểu 10% các cơ sở giáo dục nghề nghiệp tạo điều kiện cho học sinh, sinh
viên thực hành xây dựng và huấn luyện mô hình AI, xây dựng các AI Agent, nắm vững
các nguyên lý của AI, phát triển kỹ năng lập trình AI, hiểu cách AI hoạt động
và ứng dụng trong thực tế, cũng như chuẩn bị cho các ngành nghề liên quan đến
khoa học dữ liệu, khoa học máy tính và robot thông minh trong tương lai.
2.2. Đổi
mới mạnh mẽ phương thức tổ chức giáo dục, đưa dạy và học trên môi trường số trở
thành hoạt động giáo dục thiết yếu, hàng ngày đối với mỗi nhà trường, mỗi nhà
giáo, mỗi người học
a) Về môi trường giáo dục trực
tuyến
- Hình thành một nền tảng tổ chức,
quản lý hoạt động dạy và học trực tuyến là sản phẩm trong nước, được trên 80%
người học sử dụng.
- Hình thành kho học liệu, nền
tảng quản lý và chia sẻ học liệu trực tuyến đáp ứng yêu cầu về tài liệu học tập
cho 100% nội dung chương trình đào tạo đối với các ngành nghề trọng điểm. Nền tảng
quản lý đáp ứng nhu cầu truy cập mọi lúc, mọi nơi của người học và có thể cung
cấp mở rộng các nội dung phát triển kỹ năng, năng lực cho người học.
- Xây dựng, hoàn thiện thư viện
số dùng chung cho các cơ sở giáo dục nghề nghiệp.
- Hình thành một nền tảng khảo
sát trực tuyến đáp ứng 80% nhu cầu tổ chức các đợt khảo sát tại đơn vị quản lý
và cơ sở giáo dục, khảo sát nhu cầu học tập nâng cao trình độ, kỹ năng nghề,
chuyển đổi nghề cho người lao động trên địa bàn Thành phố và khu vực.
- Hình thành một nền tảng dạy học
trực tuyến phục vụ các đào tạo nghề, đào tạo lại, đào tạo kỹ năng đáp ứng yêu cầu
hoạt động học tập suốt đời của người dân Thành phố.
- Xây dựng một hệ thống trợ lý ảo
AI toàn diện, có khả năng học hỏi và thích nghi, hỗ trợ cán bộ quản lý, giáo
viên trong việc ra quyết định chiến lược, quản lý điều hành và giải quyết các vấn
đề phát sinh.
- Phát triển và tích hợp các AI
Agent chuyên ngành có khả năng phân tích dữ liệu chuyên sâu để dự báo xu hướng,
đánh giá tác động của các chính sách, xác định các điểm yếu trong hệ thống giáo
dục và đề xuất giải pháp tối ưu.
- 100% các cơ sở giáo dục nghề
nghiệp xây dựng và triển khai rộng rãi giải pháp cá nhân hóa học tập để thiết kế
các lộ trình học tập cá nhân hóa cho từng học sinh, sinh viên dựa trên năng lực
riêng nhằm tối ưu hóa quá trình tiếp thu kiến thức; phát triển các giải pháp AI
để tự động hóa và nâng cao hiệu quả công tác đánh giá, bao gồm đánh giá năng lực,
đánh giá quá trình học tập và đánh giá kết quả, cung cấp phản hồi kịp thời và
chính xác cho học sinh, sinh viên và giáo viên.
- 100% các cơ sở giáo dục nghề
nghiệp ứng dụng AI để tạo ra các tài liệu học tập đa dạng, hấp dẫn, tương tác
cao và phù hợp với từng đối tượng học sinh, học viên.
- Phấn đấu 60% chương trình đào
tạo có tích hợp kiến thức và kỹ năng về AI vào để trang bị cho thế hệ tương lai
những năng lực cần thiết trong kỷ nguyên số.
- Đào tạo và phát triển đội ngũ
cán bộ, giáo viên có chuyên môn sâu về AI, có khả năng nghiên cứu, phát triển
và ứng dụng các giải pháp AI trong lĩnh vực giáo dục theo Đề án 869[5].
b) Về
quy mô hoạt động giáo dục trực tuyến
-
100% cán bộ quản lý, giáo viên, giảng viên các cơ sở giáo dục nghề nghiệp được
tham gia các khóa tập huấn về nhận thức, kỹ năng nghiệp vụ tăng cường ứng dụng
công nghệ thông tin, ứng dụng AI và chuyển đổi số.
- Tỷ
trọng lớp học trực tuyến trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp đạt trung bình
20%.
- Hơn
50% các trường cao đẳng cung cấp các chương trình đào tạo (cấp bằng) hình thức
từ xa, trực tuyến.
-
Trong số người học lấy các chứng chỉ, văn bằng thứ hai của các trường cao đẳng,
có ít nhất 50% theo học hình thức trực tuyến (với thời lượng trực tuyến chiếm
hơn 50%).
2.3. Đổi mới mạnh mẽ phương thức quản lý, điều hành dựa
trên công nghệ và dữ liệu, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và chất lượng
cung cấp dịch vụ hỗ trợ của cơ quan quản lý và các cơ sở giáo dục nghề nghiệp
a) Về
quản trị nhà trường
Đảm bảo
tất cả các cơ sở giáo dục nghề nghiệp áp dụng hệ thống quản trị nhà trường dựa
trên dữ liệu dùng chung và công nghệ số, trong đó:
- 100%
học sinh, sinh viên, nhà giáo được quản lý bằng hồ sơ số với định danh duy nhất
và thống nhất toàn quốc (mã số định danh theo Quyết định 06/QĐ-TTg ngày
06/01/2022).
-
100% cơ sở vật chất, thiết bị và các nguồn lực khác phục vụ giáo dục, đào tạo và
nghiên cứu được quản lý bằng hồ sơ số.
- Mở
rộng phạm vi áp dụng AI, phấn đấu 80% các thủ tục hành chính nội bộ của cơ sở
giáo dục nghề nghiệp được ứng dụng AI để nâng cao hiệu quả, minh bạch và giảm
thiểu thời gian xử lý.
b) Về
quản lý giáo dục
Kết nối
cơ sở dữ liệu của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp với Hệ thống thông tin quản lý
toàn ngành giáo dục, trong đó:
- Cơ
sở dữ liệu đào tạo nghề kết nối thông suốt đảm bảo cung cấp thông tin quản lý một
cách thống nhất, đầy đủ, tin cậy và kịp thời; được kết nối và chia sẻ hiệu quả
với các cơ sở dữ liệu Thành phố và quốc gia.
-
100% cơ sở giáo dục nghề nghiệp xây dựng lộ trình sử dụng hồ sơ điện tử đáp ứng
theo chuẩn kết nối và chuẩn dữ liệu của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
-
100% cán bộ, công chức, viên chức các cơ sở giáo dục nghề nghiệp sử dụng chữ ký
số trong các hoạt động quản lý và dạy học.
c) Về
dịch vụ hỗ trợ người học, người dân
- Tỷ
lệ người học hài lòng về chất lượng dịch vụ trực tuyến của các cơ sở giáo dục
nghề nghiệp đạt trung bình 80%.
- Triển
khai Trang thông tin Dịch vụ giáo dục cung ứng các dịch vụ giáo dục.
- Kết
nối và đưa vào sử dụng bản đồ Hệ thống Thông tin địa lý giáo dục (GIS) kết hợp
với hệ thống Tuyển sinh, đào tạo nghề nhằm cung cấp thông tin về cơ sở giáo dục
nghề nghiệp, khoảng cách, vị trí địa lý để người học lựa chọn học tập.
IV. CÁC NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP CỤ THỂ
1. Tuyên truyền, phổ biến, nâng cao nhận thức; đào tạo, bồi
dưỡng năng lực số, ứng dụng công nghệ mới, AI cho đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản
lý
a)
Tuyên truyền, phổ biến, quán triệt sâu rộng nhằm nâng cao nhận thức về chuyển đổi
số trong giáo dục và đào tạo đến toàn thể đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo
dục, nhân viên và người học trong ngành giáo dục và xã hội.
b)
Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực số, ứng dụng công nghệ mới, AI cho đội ngũ
nhà giáo, cán bộ quản lý, nhân viên và người học bảo đảm quản lý, làm việc hiệu
quả trên môi trường số; kiện toàn, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ phụ trách ứng
dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp; thí
điểm bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo về kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin theo chuẩn
quốc tế; triển khai bồi dưỡng nâng cao trình độ công nghệ thông tin, ứng dụng
AI, đảm bảo 100% nhà giáo có hồ sơ và tài khoản sử dụng để tự bồi dưỡng một
cách chủ động, thường xuyên theo nhu cầu.
c) Phổ
biến, cập nhật kiến thức về kỹ năng số và an toàn, an ninh mạng, các nền tảng mở,
phần mềm mã nguồn mở vào chương trình giảng dạy tiên tiến, hiện đại.
d)
Đánh giá nhu cầu về đào tạo bồi dưỡng, cập nhật kiến thức về AI. Phân tích các
kỹ năng, kiến thức và năng lực cần để thích ứng với sự thay đổi công nghệ để
xây dựng chương trình đào tạo cho phù hợp nhu cầu của người học trong học tập
nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng nghề. Thiết kế và xây dựng
chương trình đào tạo phù hợp với yêu cầu của công nghệ số, xây dựng một hệ thống
cung cấp hỗ trợ và tư vấn cho những đối tượng tham gia đào tạo, giúp họ áp dụng
kiến thức vào công việc thực tế.
e)
Theo dõi quá trình đào tạo và đánh giá hiệu quả triển khai của chương trình. Thực
hiện cải tiến và điều chỉnh chương trình để đảm bảo rằng nó phù hợp với nhu cầu
và điều kiện thực tế của Đề án.
g) Phối
hợp với các cơ sở giáo dục đại học, các đơn vị, tổ chức có uy tín trong nước và
quốc tế để xây dựng các chương trình đào tạo về kỹ năng số, ứng dụng công nghệ
mới, ứng dụng AI.
2. Tăng cường các điều kiện đảm bảo triển khai ứng dụng
công nghệ AI và dữ liệu lớn trong đào tạo
a) Đảm
bảo các điều kiện về hạ tầng số, trang thiết bị triển khai ứng dụng công nghệ
AI và dữ liệu lớn trong đào tạo; triển khai các biện pháp an toàn, an ninh
thông tin các hệ thống số hóa, an toàn trong các hoạt động dạy học và làm việc
trên môi trường số. Ưu tiên sử dụng các mô hình dịch vụ trên nền tảng điện toán
đám mây; cung cấp kết nối Internet có tốc độ và khả năng chịu tải cao đến các
trường triển khai thực hiện Đề án; có chính sách hỗ trợ dịch vụ Internet cho
người học và đội ngũ nhà giáo; có chính sách hỗ trợ máy tính phù hợp cho học
sinh, sinh viên.
b)
Hình thành, phát triển hệ thống phòng học tương tác thông minh, hiện đại, phòng
Lab mô phỏng, ứng dụng công nghệ thực tế ảo (VR) và thực tế tăng cường (AR),
công nghệ học máy, công nghệ phân tích dữ liệu lớn và AI vào các lĩnh vực
nghiên cứu, thực hành.
c) Đầu
tư cơ sở vật chất, trang bị các phòng lab AI tại các trường cao đẳng tạo điều
kiện cho học sinh, sinh viên thực hành xây dựng và huấn luyện mô hình AI, xây dựng
các AI Agent, nắm vững các nguyên lý của AI, phát triển kỹ năng lập trình AI,
hiểu cách AI hoạt động và ứng dụng trong thực tế, cũng như chuẩn bị cho các
ngành nghề liên quan đến khoa học dữ liệu, khoa học máy tính và robot thông
minh trong tương lai.
d) Đầu
tư xây dựng hệ thống lưu trữ dữ liệu, máy chủ cho các trường cao đẳng đảm bảo
triển khai thực hiện kho học liệu số, chương trình đào tạo (cấp bằng) hình thức
từ xa, trực tuyến.
3. Phát triển hệ sinh thái chuyển đổi số hoạt động dạy học,
kiểm tra, đánh giá và nghiên cứu khoa học
a) Đổi
mới mô hình dạy học; triển khai, thí điểm triển khai các mô hình dạy học tiên
tiến trên nền tảng số theo hướng dạy học kết hợp (lớp học thông minh, nhóm học
tương tác, tự học với trợ lý ảo) phù hợp với điều kiện, đặc thù, nhu cầu thực tế
của người học.
b)
Phát triển kho học liệu số chia sẻ dùng chung
-
Phát triển các kho học liệu số, học liệu mở chia sẻ dùng chung gồm bài giảng điện
tử, bài giảng dạy trên truyền hình, học liệu số đa phương tiện, sách giáo khoa
điện tử, phần mềm mô phỏng và các học liệu khác; phát triển hệ thống ngân hàng
câu hỏi trực tuyến. Nền tảng kết nối chia sẻ được thiết kế và phát triển trên
những chuẩn kết nối quốc tế, đảm bảo khả năng tích hợp liên nền tảng, nâng cao
khả năng chịu tải, năng lực đáp ứng truy cập của hệ thống.
- Tiếp
tục xây dựng và hoàn thiện thư viện số tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp; triển
khai hiệu quả mô hình “Đại học chia sẻ” trong công tác đào tạo tại các trường
cao đẳng theo nhóm ngành; phát huy vai trò của Hội đồng Hiệu trưởng các trường
trung cấp, cao đẳng trên địa bàn Thành phố.
c)
Phát triển, ứng dụng các nền tảng số phục vụ dạy học và triển khai thí điểm mô
hình giáo dục số
Phát
triển, ứng dụng nền tảng số dạy và học trực tuyến với các tính năng tiên tiến hỗ
trợ học tập cá thể hóa và tăng cường trải nghiệm; tăng cường kiểm tra, thi trên
máy tính và thi trực tuyến; kết nối nền tảng dạy học trực tuyến với nền tảng quản
trị nhà trường và mạng IoT, thiết lập hệ sinh thái chuyển đổi số trong các cơ sở
giáo dục. Hình thành mạng lưới các lớp học ảo liên nền tảng (cross-platform) ứng
dụng các công nghệ thực tế ảo biến lớp học ảo thành môi trường ba chiều.
d)
Xây dựng hệ thống khảo sát trực tuyến
- Xây
dựng hệ thống phục vụ công tác tổ chức các đợt khảo sát của người học, cán bộ,
đội ngũ nhà giáo với các tiêu chí: minh bạch, khách quan, chính xác, an toàn.
-
Tích hợp các tính năng giúp nâng cao hiệu quả khảo sát như: định danh người
dùng, giám sát hành vi người thực hiện khảo sát dựa trên AI, trình duyệt an
toàn, phân tích kết quả khảo sát và báo cáo chi tiết.
4. Kết nối, đồng bộ hệ thống thông tin quản lý giáo dục và
đào tạo và cơ sở dữ liệu ngành giáo dục
a) Đổi
mới mô hình, quy trình quản lý, cải cách mạnh mẽ thủ tục hành chính
- Rà
soát, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, quy trình nghiệp vụ theo hướng
giúp ứng dụng hiệu quả công nghệ số.
- Triển
khai Cổng dịch vụ công trực tuyến (tích hợp Hệ thống thông tin một cửa điện tử)
với các hệ thống nghiệp vụ chuyên ngành để cung cấp dịch vụ số, kết nối với Cổng
dịch vụ công Quốc gia; mở rộng các dịch vụ công trực tuyến theo 2 mức độ như
sau: (1) Dịch vụ công trực tuyến toàn trình, (2) Dịch vụ công trực tuyến một phần.
- Ứng
dụng mạnh mẽ công nghệ trí tuệ nhân tạo trong cung cấp dịch vụ (như trợ lý ảo,
trả lời tự động); thử nghiệm nền tảng dùng chung giải quyết một số thủ tục hành
chính không dùng giấy tờ trong ngành giáo dục dựa trên nền tảng cơ sở dữ liệu
ngành giáo dục.
b)
Xây dựng cơ sở dữ liệu và hệ thống thông tin quản lý đào tạo
- Xây
dựng, hoàn thiện cơ sở dữ liệu đảm bảo phục vụ tất cả cơ quan quản lý giáo dục;
hoàn thiện cơ sở dữ liệu lớn của ngành giáo dục tại Sở Giáo dục và Đào tạo (bao
gồm cơ sở dữ liệu về người học, đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục và
nhân viên, cơ sở vật chất, tài chính - đầu tư, kiểm định chất lượng giáo dục,
nghiên cứu khoa học và chương trình đào tạo, cơ sở giáo dục, trung tâm ngoại ngữ
tin học, tư vấn du học, kỹ năng sống, văn phòng đại diện, ...).
- Triển
khai hệ thống thông tin quản lý ngành giáo dục, kết nối đầy đủ, toàn diện dữ liệu
từ các cơ sở giáo dục, Sở Giáo dục và Đào tạo; kết nối dữ liệu giữa ngành giáo
dục với cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu thành phố, cơ sở dữ liệu chuyên
ngành phục vụ công tác báo cáo, theo dõi, giám sát, cảnh báo, dự báo, kiểm tra
và thanh tra của các cơ quan quản lý giáo dục.
-
Phát triển trung tâm điều hành, giám sát thông tin ở cơ quan quản lý giáo dục và
trường học, ứng dụng công nghệ trí tuệ nhân tạo, phân tích dữ liệu lớn hỗ trợ
hoạt động quản lý giáo dục, đưa ra các dự báo và xu hướng phát triển trong
tương lai.
- Cập
nhật Hệ thống GIS giáo dục nghề nghiệp, đào tạo nghề với các tính năng: cung cấp
thông tin cơ sở giáo dục trên bản đồ, tạo điều kiện tiếp cận, khai thác và sử dụng
hiệu quả cho người dân khi tìm kiếm thông tin các cơ sở đào tạo.
c)
Phát triển các ứng dụng, nền tảng số phục vụ quản trị các cơ sở giáo dục nghề
nghiệp
- Triển
khai nền tảng quản trị nhà trường tích hợp không gian làm việc số tới 100% cơ sở
giáo dục nhằm tạo môi trường làm việc và tương tác trực tuyến cho cán bộ quản
lý giáo dục, nhà giáo, nhân viên và người học; đảm bảo kết nối, báo cáo liên
thông dữ liệu từ cơ sở giáo dục với hệ thống cơ sở dữ liệu thành phố, cơ sở dữ
liệu toàn quốc của ngành giáo dục.
-
Trên nền tảng cơ sở dữ liệu, triển khai các ứng dụng hồ sơ điện tử, thanh toán
không dùng tiền mặt, truyền thông và kết nối với các nền tảng ứng dụng trong và
ngoài ngành giáo dục; triển khai các mô hình quản trị nhà trường tiên tiến trên
nền tảng số đảm bảo thiết thực và hiệu quả. Xây dựng hệ thống thông tin quản
lý, điều hành toàn diện đối với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp.
d)
Xây dựng môi trường số kết nối giữa các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, giữa cơ sở
đào tạo nghề với người học, người lao động
- Triển
khai nền tảng kết nối, chia sẻ dữ liệu của ngành giáo dục kết nối với trục tích
hợp, liên thông dữ liệu thành phố, quốc gia; triển khai nền tảng quản lý mã định
danh, xác thực người dùng trên môi trường số của ngành giáo dục.
- Ứng
dụng công nghệ Internet vạn vật (IoT) trong số hóa, giám sát, quản lý và khai
thác các nguồn lực, đối tượng và hoạt động giáo dục trong nhà trường, đảm bảo kết
nối thời gian thực với hệ thống thông tin quản trị nhà trường.
- Ứng
dụng toàn diện AI để nâng cao chất lượng quản lý hành chính, tối ưu hóa quy
trình dạy và học, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, và xây dựng môi trường
giáo dục thông minh, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số quốc gia và định hướng phát
triển của Thành phố.
- Xây
dựng hệ sinh thái nghiên cứu, phát triển và ứng dụng AI trong các cơ sở giáo dục
nghề nghiệp làm nền tảng cho sự đổi mới sáng tạo và ứng dụng thực tiễn trong
ngành, góp phần đưa AI trở thành một trong những công nghệ cốt lõi giúp học
sinh năng động, sáng tạo, có kiến thức và kỹ năng đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực
của Thành phố, cả nước và hội nhập quốc tế.
-
Hoàn thiện nền tảng cơ sở dữ liệu dùng chung ngành giáo dục, mở rộng kết nối,
tích hợp dữ liệu giáo dục với dữ liệu của các lĩnh vực khác nhằm đảm bảo tiêu
chí “đúng, đủ, sạch, sống”, sẵn sàng làm đầu vào cho các Tác nhân trí tuệ nhân
tạo (AI Agent) chuyên ngành trong công tác phân tích dữ liệu chuyên sâu hỗ trợ
ra quyết định. Xây dựng Trợ lý ảo AI (Virtual Assi stant - VA) hỗ trợ việc khai
thác dữ liệu trực quan thông qua ngôn ngữ tự nhiên.
-
Thúc đẩy việc triển khai các chương trình đào tạo nguồn nhân lực ngành AI đạt trình
độ quốc tế, đảm bảo sinh viên đầu ra được trang bị kiến thức chuyên sâu và kỹ
năng thực hành tiên tiến về AI, từ nghiên cứu đến ứng dụng, đáp ứng nhu cầu
phát triển của Thành phố.
5. Huy động các nguồn lực tham gia triển khai thực hiện ứng
dụng AI, dữ liệu lớn trong đào tạo
a) Đẩy
mạnh hợp tác với các doanh nghiệp, tổ chức và hiệp hội về công nghệ thông tin,
các chuyên gia trong và ngoài nước để giới thiệu các giải pháp công nghệ tiên
tiến về công nghệ giáo dục và chuyển đổi số.
b)
Thu hút nguồn vốn của doanh nghiệp để đầu tư xây dựng các nền tảng số và ứng dụng
công nghệ thông tin, AI trong đào tạo nghề, ưu tiên cho phát triển hệ thống
ngân hàng câu hỏi trực tuyến, hệ thống học tập trực tuyến, kho học liệu số dùng
chung, cơ sở dữ liệu.
c)
Tăng cường hợp tác với các doanh nghiệp sản xuất, phân phối trang thiết bị số để
hỗ trợ, ưu đãi cung cấp sản phẩm công nghệ thông tin cơ bản (máy tính, máy tính
xách tay, máy tính bảng) tích hợp các phần mềm ứng dụng và tính năng an toàn, bảo
mật cho đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý, nhân viên và người học phục vụ hoạt động
dạy học.
6. Đẩy mạnh công tác thông tin, hỗ trợ người lao động tại
các doanh nghiệp
a)
Tăng cường công tác phối hợp, cung cấp thông tin giúp người lao động chủ động
nâng cao nhận thức về quyền và nghĩa vụ của mình trong mối quan hệ lao động,
nâng cao khả năng tự định hướng và phát triển nghề nghiệp cho bản thân.
b)
Cung cấp thông tin để người lao động chủ động tham gia các khóa đào tạo và bồi
dưỡng nhằm chuyển đổi kỹ năng nghề nghiệp theo hướng phát triển của thị trường
lao động.
c)
Tăng cường các giải pháp trong việc nâng cao ý thức về chuyển đổi số và chủ động
học hỏi các kỹ năng số để thích ứng với môi trường làm việc hiện đại. Xác định
điểm mạnh và điểm yếu của bản thân để tìm kiếm công việc phù hợp, đồng thời
không ngừng cải thiện kỹ năng nghề nghiệp để đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp.
Nâng cao trình độ chuyên môn và đạt được các chứng chỉ nghề nghiệp nhằm tăng cường
khả năng cạnh tranh trên thị trường lao động. Tập trung cải thiện và nâng cao
các kỹ năng ngoại ngữ, tin học, giao tiếp và làm việc nhóm để phù hợp với những
yêu cầu ngày càng cao trong môi trường làm việc, đặc biệt là trong bối cảnh
kinh tế số.
7. Tăng cường hợp
tác giữa doanh nghiệp với cơ sở giáo dục nghề nghiệp
a)
Xây dựng chính sách cụ thể khuyến khích hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp.
Xây dựng chính sách cho nhà trường, doanh nghiệp, người dạy và người học khi
tham gia mô hình hợp tác. Thiết lập "ràng buộc" gắn trách nhiệm của
doanh nghiệp trong quá trình đào tạo nghề. Chuyển dịch tư duy và trách nhiệm
góp vốn lợi ích chính của doanh nghiệp về đào tạo, phát triển KNN cho người lao
động trong liên kết giữa 3 bên: Nhà nước - Nhà trường - Nhà doanh nghiệp.
b) Có
cơ chế, chính sách thúc đẩy doanh nghiệp liên kết đào tạo với các trường, tạo
điều kiện tốt nhất để nhà giáo, người học được thực tập, thực hành tại nơi sản
xuất của doanh nghiệp. Khuyến khích doanh nghiệp phối hợp cùng với nhà trường
xây dựng chương trình đào tạo nhằm kịp thời bổ sung, điều chỉnh những chương
trình mang tính thiết thực, gắn với nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệp.
c)
Khuyến khích các trường xây dựng mô hình đào tạo gần khu công nghiệp, khu chế
xuất sẽ giúp tăng cường năng lực của người lao động, đáp ứng các yêu cầu mới về
kỹ năng nghề nghiệp.
8. Xây dựng cơ chế, chính sách triển khai thực hiện Đề án
a) Rà
soát, xây dựng, hoàn thiện, tham mưu Ủy ban nhân dân Thành phố ban hành cơ chế,
chính sách hỗ trợ nhằm phát triển các nền tảng học tập trực tuyến dựa trên AI
và dữ liệu lớn để cá nhân hóa lộ trình học tập cho người lao động, giúp họ
nhanh chóng đạt được kỹ năng phù hợp với yêu cầu cụ thể của từng ngành.
b) Rà
soát và ban hành các quy định kỹ thuật về dữ liệu, hướng dẫn kết nối và chia sẻ
dữ liệu giữa các cơ sở giáo dục nghề nghiệp với các cơ sở dữ liệu thành phố, quốc
gia.
c)
Tham mưu Hội đồng nhân dân Thành phố ban hành chính sách đặc thù thúc đẩy các
hoạt động đổi mới sáng tạo, các mô hình giáo dục và đào tạo mới dựa trên nền tảng
và công nghệ số; chính sách huy động sự tham gia và đóng góp nguồn lực của các
tổ chức, cá nhân và chuyên gia người Việt Nam ở nước ngoài; chính sách thúc đẩy
phát triển công nghệ giáo dục (Edtech); chính sách hỗ trợ cho người học, người
lao động; chính sách đầu tư xây dựng trang thiết bị, cơ sở vật chất, thiết bị dạy
học đối với các trường được chọn triển khai Đề án.
d)
Xây dựng cơ chế, chính sách hỗ trợ riêng cho lao động lớn tuổi tham gia đào tạo,
như hỗ trợ học phí, chi phí đi lại, ăn ở, hỗ trợ tìm kiếm việc làm sau đào tạo…
Khuyến khích doanh nghiệp lập kế hoạch giữ và luân chuyển lao động lớn tuổi vào
vị trí phù hợp. Tìm hiểu về chính sách hỗ trợ và xu hướng thị trường. Phát triển
kỹ năng bằng cách xác định ưu điểm, nâng cao kiến thức chuyên môn, và học hỏi kỹ
năng mới. Phối hợp với tổ chức Công đoàn để bảo vệ quyền lợi và cập nhật kiến
thức pháp luật.
e)
Xây dựng cơ chế phối hợp các doanh nghiệp ưu tiên các phương thức đào tạo phù hợp
với tâm sinh lý và khả năng tiếp thu của người lao động có tuổi, chẳng hạn như
đào tạo trực tiếp với cường độ vừa phải, kết hợp lý thuyết và thực hành, sử dụng
hình ảnh, video minh họa sinh động… Phối hợp với cơ sở giáo dục nghề nghiệp để
đào tạo và nâng cao kỹ năng cho lao động lớn tuổi, đồng thời tạo điều kiện tham
gia các khóa đào tạo nội bộ.
g)
Thường xuyên kiểm tra, giám sát, đánh giá việc triển khai thực hiện Đề án. Xây
dựng hình thức khen thưởng đột xuất và kịp thời cho các cơ quan, tổ chức, cá
nhân có ý tưởng, sáng kiến, cách làm đột phá, sáng tạo.
V. KINH PHÍ THỰC HIỆN
Kinh
phí thực hiện từ nguồn ngân sách Thành phố và các nguồn khác theo quy định.
VI. TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1. Sở Giáo dục và Đào tạo
Chủ
trì, phối hợp với các sở, ban, ngành có liên quan xây dựng kế hoạch và tổ chức
thực hiện Đề án theo phân công và đúng quy định của pháp luật.
Phối
hợp với các đơn vị có liên quan hướng dẫn, theo dõi, kiểm tra, đôn đốc các cơ
quan, đơn vị tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ theo Kế hoạch; định kỳ hàng
năm (tháng 12), thực hiện tổng hợp, báo cáo Ủy ban nhân dân Thành phố về kết quả
triển khai thực hiện Đề án.
Xây dựng
kế hoạch truyền thông cho Đề án; phối hợp với Ủy ban nhân dân phường, xã, đặc
khu, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, doanh nghiệp tổ chức truyền thông và các nội
dung, nhiệm vụ liên quan đến người lao động.
Xây dựng
dự toán kinh phí để tổ chức triển khai thực hiện Đề án.
Phối hợp
Hội đồng Hiệu trưởng các Trường Đại học, Hội đồng Hiệu trưởng các trường trung
cấp, cao đẳng triển khai các nhiệm vụ theo kế hoạch được phê duyệt.
Tổng
hợp các khó khăn, vướng mắc và báo cáo Ủy ban nhân dân Thành phố, các cấp có thẩm
quyền để xử lý, giải quyết.
Phối
hợp với các đơn vị, đối tác trong đảm bảo hạ tầng số, hạ tầng dữ liệu và hạ tầng
tính toán hiệu năng cao phục vụ triển khai các nhiệm vụ AI.
Nghiên
cứu, xây dựng chương trình tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ cán bộ quản
lý, nhà giáo về AI.
2. Sở Tài chính
Căn cứ
khả năng ngân sách, phối hợp Sở Giáo dục và Đào tạo, các sở, ban, ngành có liên
quan tham mưu Ủy ban nhân dân Thành phố xem xét, bố trí kinh phí hàng năm để
triển khai thực hiện Đề án theo quy định của Luật ngân sách Nhà nước.
3. Sở Nội vụ
Phối
hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Khoa học và Công nghệ tổ chức các khóa đào tạo,
bồi dưỡng nâng cao năng lực số, kỹ năng ứng dụng AI và quản trị trên môi trường
số cho đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên, nhân viên hành chính và nhân
viên công nghệ thông tin theo đề nghị của Sở Giáo dục và Đào tạo.
Phối
hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo khảo sát, đánh giá nhu cầu đào tạo nghề, đào tạo
lại và cập nhật kiến thức, kỹ năng nghề của người lao động tại các đơn vị,
doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố; triển khai thông tin các khóa đào tạo, lớp
bồi dưỡng về kỹ năng nghề nghiệp của các trường đến người lao động; phối hợp thực
hiện xây dựng cơ chế, chính sách đối với các đối tượng đặc thù theo quy định hiện
hành.
4. Sở Khoa học và Công nghệ
Tiếp
tục triển khai thực hiện Chương trình “Nghiên cứu và phát triển ứng dụng AI tại
Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2020-2030”; Chương trình phổ cập trí tuệ nhân tạo
cho công dân (AI for Citizens) trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn
2025 – 2030.
Nghiên
cứu, xây dựng cơ chế, chính sách khuyến khích các tập đoàn công nghệ trong nước,
viện nghiên cứu, trường đại học, cao đẳng đề xuất các giải pháp giải quyết các
bài toán đặt ra của các sở, ngành tại thành phố, thử nghiệm và ứng dụng các sản
phẩm AI.
5. Các sở, ngành Thành phố, Liên đoàn Lao động Thành phố
Phối
hợp Sở Giáo dục và Đào tạo xây dựng, triển khai các nhiệm vụ, nội dung của Đề
án theo Kế hoạch của Ủy ban nhân dân Thành phố.
6. Ủy ban nhân dân phường, xã, đặc khu
Căn cứ
kế hoạch triển khai Đề án của Thành phố để xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện
tổng thể và kế hoạch triển khai thực hiện hàng năm; chủ động rà soát, đánh giá
nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng của người lao động trên địa bàn; phối hợp với các cơ
quan liên quan triển khai các nhiệm vụ theo chỉ đạo của Ủy ban nhân dân Thành
phố.
7. Hội đồng Hiệu trưởng các Trường Đại học, Hội đồng Hiệu
trưởng các trường trung cấp, cao đẳng trên địa bàn Thành phố, các cơ sở giáo dục
nghề nghiệp
Chủ
trì, phối hợp triển khai các nhiệm vụ theo Kế hoạch của Sở Giáo dục và Đào tạo;
tập trung đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, đảm bảo hạ tầng đáp ứng yêu cầu triển
khai thực hiện Đề án.
Triển
khai bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ quản lý, nhà giáo về ứng dụng AI; phát triển
các sản phẩm AI và thực hiện hiệu quả đối mới chương trình đào tạo, đẩy mạnh ứng
dụng AI trong quản trị, quản lý, hoạt động dạy học tại đơn vị.
Xây dựng
kế hoạch triển khai thực hiện hiệu quả các nội dung liên quan công tác xã hội
hóa, gắn kết doanh nghiệp trong triển khai các nền tảng học tập trực tuyến dựa
trên AI và dữ liệu lớn để cá nhân hóa lộ trình học tập cho người lao động, giúp
họ nhanh chóng đạt được kỹ năng phù hợp với yêu cầu cụ thể của từng ngành.
Phối
hợp Ủy ban nhân dân các phường, xã, đặc khu, các đơn vị có liên quan, các doanh
nghiệp triển khai đào tạo nghề, kỹ năng nghề theo nhu cầu của người lao động./.
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC NHIỆM VỤ
(Ban hành kèm theo Đề án “Ứng dụng công nghệ AI và dữ liệu lớn trong đào tạo:
Phát triển các nền tảng học tập trực tuyến dựa trên trí tuệ nhân tạo (AI) và dữ
liệu lớn để cá nhân hóa lộ trình học tập cho người lao động, giúp họ nhanh
chóng đạt được kỹ năng phù hợp với yêu cầu cụ thể của từng ngành”)
|
STT
|
Tên nhiệm vụ
|
Cơ quan chủ trì
|
Cơ quan phối hợp
|
Thời gian
|
|
1.
|
Xây dựng kế hoạch tổng thể
triển khai Đề án trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
|
Sở Giáo dục và Đào tạo
|
Sở Khoa học và Công nghệ; Sở Tài chính; UBND phường, xã, đặc khu; cơ sở
GDNN
|
Năm 2026
|
|
2.
|
Tuyên truyền, phổ biến nâng
cao nhận thức; đào tạo, bồi dưỡng năng lực số, ứng dụng công nghệ mới, AI cho
đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý
|
Sở Giáo dục và Đào tạo
|
Sở Khoa học và Công nghệ; Đài Truyền hình TPHCM; Báo SGGP;Tạp chí Giáo
dục; UBND phường, xã, đặc khu; Cơ sở GDNN
|
Năm 2026 - 2030
|
|
3.
|
Đào tạo, bồi dưỡng năng lực số,
ứng dụng công nghệ mới, AI cho đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý đối với các
cơ sở giáo dục nghề nghiệp
|
Sở Giáo dục và Đào tạo
|
Sở Nội vụ, Hội đồng Hiệu trưởng các Trường Đại học, Hội đồng Hiệu trưởng
các trường trung cấp, cao đẳng
|
Năm 2026- 2029
|
|
4.
|
Xây dựng kho học liệu số chia
sẻ, phần mềm và các ứng dụng AI, chuyển giao các sản phẩm AI
|
Sở Giáo dục và Đào tạo
|
Sở Khoa học và Công nghệ, các Trường, viện, trung tâm nghiên cứu và các
tổ chức khác có liên quan
|
Năm 2026- 2028
|
|
5.
|
Chương trình khoa học và công
nghệ về trí tuệ nhân tạo[6]
|
Sở Khoa học và Công nghệ
|
Đại học Quốc gia TP.HCM, Sở Giáo dục và Đào tạo, các sở, ban, ngành,
Trường, viện, trung tâm nghiên cứu có liên quan.
|
Năm 2026- 2029
|
|
6.
|
Công tác dự báo nhu cầu nguồn
nhân lực, kết nối cung - cầu lao động
|
Sở Nội vụ
|
Các sở, ban, ngành, Hiệp hội doanh nghiệp Thành phố, Ủy ban nhân dân
các phường, xã, đặc khu
|
Năm 2026 - 2027
|
|
7.
|
Khảo sát, đánh giá nhu cầu
đào tạo nghề, đào tạo lại và cập nhật kiến thức, kỹ năng nghề của người lao động
tại các đơn vị, doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố
|
Sở Giáo dục và Đào tạo
|
Các sở, ban, ngành, Hiệp hội doanh nghiệp Thành phố, Hội đồng Hiệu trưởng
các trường trung cấp, cao đẳng, Ủy ban nhân dân các phường, xã, đặc khu, Liên
đoàn Lao động Thành phố
|
Năm 2026 - 2027
|
|
8.
|
Xây dựng các chương trình đào
tạo nghề, kỹ năng nghề có ứng dụng kỹ năng số, ứng dụng công nghệ mới, ứng dụng
AI
|
Sở Giáo dục và Đào tạo
|
Sở Khoa học và Công nghệ, các trường trung cấp, cao đẳng
|
Năm 2026 - 2029
|
|
9.
|
Ban hành các quy định kỹ thuật
về dữ liệu, hướng dẫn kết nối và chia sẻ dữ liệu giữa các cơ sở giáo dục nghề
nghiệp với các cơ sở dữ liệu thành phố, quốc gia
|
Sở Giáo dục và Đào tạo
|
Sở Khoa học và Công nghệ, các trường trung cấp, cao đẳng
|
Năm 2026 - 2030
|
|
10.
|
Tổ chức các sàn giao dịch việc
làm, ngày hội việc làm theo các lĩnh vực đào tạo trọng điểm của Thành phố; kế
hoạch gắn kết giữa doanh nghiệp và cơ sở giáo dục nghề nghiệp để đào tạo,
cung ứng nguồn nhân lực kịp thời, có chất lượng, đáp ứng yêu cầu công việc
ngay khi tốt nghiệp
|
Sở Nội vụ
|
Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Du lịch, Sở Công Thương, Sở Y tế, Sở Xây dựng,
Sở Khoa học và Công nghệ, Hiệp hội Doanh nghiệp Thành phố, Hội đồng Hiệu trưởng
các trường Cao đẳng, trường Trung cấp trên địa bàn Thành phố, Liên đoàn Lao động
Thành phố
|
Năm 2026 - 2030
|
|
11.
|
Phát triển phần mềm, ứng dụng
dạy học đối với các Chương trình đào tạo gắn với nhu cầu xã hội, thị trường
lao động có sử dụng AI
|
Sở Giáo dục và Đào tạo
|
Các sở, ngành, các trường trung cấp, cao đẳng, Ủy ban nhân dân các phường,
xã, đặc khu
|
Năm 2026 - 2028
|
|
12.
|
Kiểm định chất lượng giáo dục
nghề nghiệp, trong đó quan tâm thực hiện việc kiểm định theo các chuẩn quốc tế,
khu vực ASEAN do các tổ chức quốc tế thực hiện
|
Sở Giáo dục và Đào tạo
|
Các trường trung cấp, cao đẳng
|
Năm 2026 - 2030
|
|
13.
|
Đầu tư cơ sở vật chất, thiết
bị, phương tiện và các điều kiện đảm bảo triển khai ứng dụng công nghệ AI và
dữ liệu lớn trong đào tạo tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp
|
Sở Giáo dục và Đào tạo
|
Sở Tài chính, Sở Khoa học và Công nghệ, các trường trung cấp, cao đẳng
|
Năm 2026- 2030
|
|
14.
|
Chương trình nâng cao năng lực
các cơ sở đào tạo, giáo dục nghề nghiệp để đào tạo, bồi dưỡng chuyển đổi nghề
nghiệp cho lao động
|
Sở Giáo dục và Đào tạo
|
Sở Tài chính, Sở Khoa học và Công nghệ, các trường trung cấp, cao đẳng
|
Năm 2026- 2029
|
|
15.
|
Kiểm tra, giám sát, tổng kết,
đánh giá hiệu quả Đề án
|
Sở Giáo dục và Đào tạo
|
Các sở, ngành, Hiệp hội doanh nghiệp Thành phố, Hội đồng Hiệu trưởng
các trường trung cấp, cao đẳng, Ủy ban nhân dân các phường, xã, đặc khu, Liên
đoàn Lao động Thành phố
|
Năm 2027- 2030
|
[1]
Ngoài ra còn có: 02 phân hiệu (trường Công lập do TW quản lý); 10
địa điểm đào tạo (trường Tư thục)
[2]
Ngoài ra còn có: 01 phân hiệu (trường Tư thục); 03 địa điểm
đào tạo (trường Tư thục)
[3] ILO:
A G20 Training Strategy - A Skilled Workforce for Strong, Sustainable and
Balanced Growth
[4] do
Chương trình Việc làm và Đổi mới Xã hội của Liên minh Châu Âu (EU) (EaSI) hợp
tác với Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) để thực hiện
[5] Quyết
định số 869/QĐ-SGDĐT ngày 21 tháng 3 năm 2024 của Ủy ban nhân dân Thành phố về
Đề án “Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao nhận thức, phát triển năng lực, kỹ năng số
cho cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên ngành Giáo dục thực hiện chương trình
chuyển đổi số ngành Giáo dục Thành phố giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm
2030” trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
[6]
Trong khuôn khổ MoU ký kết giữa Thành phố Hồ Chí Minh và Đại học Quốc gia Thành
phố Hồ Chí Minh