|
ỦY BAN NHÂN DÂN
TỈNH LÂM ĐỒNG
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 4877/QĐ-UBND
|
Lâm Đồng, ngày 07
tháng 10 năm 2026
|
QUYẾT ĐỊNH
VỀ VIỆC
BAN HÀNH ĐỀ ÁN AN NINH NGUỒN NƯỚC VÀ AN TOÀN ĐẬP, HỒ CHỨA NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH LÂM ĐỒNG
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
Căn cứ Luật Tổ chức chính
quyền địa phương ngày 16 tháng 6 năm 2025;
Căn cứ Luật Khí tượng
thủy văn ngày 23 tháng 11 năm 2015;
Căn cứ Luật Thủy lợi ngày
19 tháng 6 năm 2017;
Căn cứ Luật Bảo vệ môi trường
ngày 17 tháng 11 năm 2020;
Căn cứ Luật Tài nguyên nước
ngày 27 tháng 11 năm 2023;
Căn cứ Luật Điện lực ngày 30
tháng 11 năm 2024;
Căn cứ Luật sửa đổi, bổ sung
một số điều của 15 Luật trong lĩnh vực Nông nghiệp và Môi trường ngày 11 tháng
12 năm 2025;
Căn cứ Luật Phòng chống thiên
tai ngày 19 tháng 6 năm 2013; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng,
chống thiên tai và Luật Đê điều;
Căn cứ Nghị định số 114/2018/NĐ-CP
ngày 04 tháng 9 năm 2018 của Chính phủ về quản lý an toàn đập, hồ chứa nước;
Căn cứ Nghị định số
53/2024/NĐ-CP ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành
một số điều của Luật Tài nguyên nước;
Căn cứ Nghị định số 43/2022/NĐ-CP
ngày 24 tháng 6 năm 2022 của Chính phủ quy định việc quản lý, sử dụng và khai
thác tài sản kết cấu hạ tầng cấp nước sạch;
Căn cứ Nghị quyết số 01-NQ/ĐH
ngày 11 tháng 10 năm 2025 của Đại hội Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lần thứ nhất, nhiệm
kỳ 2025-2030;
Căn cứ Quyết định số
2786/QĐ-UBND ngày 06 tháng 6 năm 2026 của UBND tỉnh về việc phê duyệt Điều
chỉnh quy hoạch tỉnh Lâm Đồng thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050;
Theo đề nghị của Giám đốc Sở Nông
nghiệp và Môi trường tại Tờ trình số 779/TTr-NNMT ngày 23 tháng 9 năm 2026 và
Báo cáo số 877/BC-SNNMT ngày 15 tháng 9 năm 2026.
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này Đề án an ninh nguồn
nước và an toàn đập, hồ chứa nước trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng. Chi tiết tại phụ
lục đính kèm Quyết định.
Điều 2.
Tổ chức thực hiện
1. Thời kỳ thực hiện từ thời điểm ban
hành quyết định này đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
2. Sở Nông nghiệp và Môi trường
chủ trì, phối hợp cùng các sở, ngành, địa phương, đơn vị liên quan tổ chức
triển khai Đề án. Định kỳ hàng năm hoặc đột xuất tổ chức rà soát, báo cáo kết
quả thực hiện, đề xuất cập nhật, điều chỉnh về UBND tỉnh; chịu trách nhiệm toàn
diện trước pháp luật và trước UBND tỉnh về nội dung, tính chính xác và tính phù
hợp tại Tờ trình số 779/TTr-NNMT ngày 23 tháng 9 năm 2026.
3. Giao các sở, ngành, địa phương,
đơn vị liên quan căn cứ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền được giao chủ động
triển khai thực hiện, quá trình thực hiện nếu cần cập nhật, điều chỉnh nội dung
Đề án thì gửi về Sở Nông nghiệp và Môi trường để tổng hợp, báo cáo UBND tỉnh
xem xét.
Điều 3. Quyết
định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.
Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân
tỉnh; Giám đốc các Sở: Nông nghiệp và Môi trường, Xây dựng, Công Thương, Tài
chính, Khoa học và Công nghệ, Tư pháp, Ngoại vụ, Y tế; Giám đốc Công an tỉnh;
Giám đốc Đài Khí tượng, thủy văn tỉnh; Giám đốc Báo và Phát thanh, truyền hình
tỉnh; Chủ tịch UBND các xã, phường, đặc khu Phú Quý; Giám đốc các Ban Quản lý
dự án đầu tư xây dựng số 1, số 2, số 3; Giám đốc Công ty TNHH MTV Khai thác
công trình thủy lợi Bình Thuận; Giám đốc Công ty TNHH MTV Khai thác công trình
thủy lợi Đắk Nông; Giám đốc Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn
tỉnh, thủ trưởng các đơn vị quản lý, vận hành công trình thủy lợi, cấp nước
sinh hoạt khác trên địa bàn tỉnh; Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị và các tổ
chức, cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.
|
Nơi nhận:
- Như Điều 3;
- Bộ Nông nghiệp và Môi trường (b/c);
- Thường trực Tỉnh ủy (b/c);
- Thường trực HĐND tỉnh (b/c);
- CT, các PCT UBND tỉnh;
- Các PCVP UBND tỉnh;
- Lưu: VT, NNMT (LTT).
|
TM. ỦY BAN NHÂN
DÂN
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH
Nguyễn Ngọc Phúc
|
ĐỀ ÁN
AN NINH
NGUỒN NƯỚC VÀ AN TOÀN ĐẬP, HỒ CHỨA NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LÂM ĐỒNG
(Ban hành kèm theo Quyết định số 4877/QĐ-UBND ngày 07/10/2026 của UBND tỉnh
Lâm Đồng)
I. SỰ CẦN THIẾT
XÂY DỰNG ĐỀ ÁN
1. Cơ sở pháp lý
Luật Tổ chức chính quyền địa
phương ngày 16 tháng 6 năm 2025;
Luật Khí tượng thủy văn
ngày 23 tháng 11 năm 2015;
Luật Thủy lợi ngày 19 tháng 6
năm 2017;
Luật Bảo vệ môi trường ngày 17
tháng 11 năm 2020;
Luật Tài nguyên nước ngày 27
tháng 11 năm 2023;
Luật sửa đổi, bổ sung một số
điều của 15 Luật trong lĩnh vực Nông nghiệp và Môi trường ngày 11 tháng 12 năm
2025;
Luật Phòng chống thiên tai ngày
19 tháng 6 năm 2013; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống
thiên tai và Luật Đê điều;
Kết luận số 36-KL/TW ngày 23
tháng 6 năm 2022 của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh nguồn nước và an toàn đập,
hồ chứa nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045;
Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 06
tháng 10 năm 2022 và số 26-NQ/TW ngày 03 tháng 11 năm 2022 của Bộ Chính trị về
phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Tây Nguyên và
vùng Bắc Trung Bộ, duyên hải Trung Bộ;
Nghị định số 114/2018/NĐ-CP ngày
04 tháng 9 năm 2018 của Chính phủ về quản lý an toàn đập, hồ chứa nước;
Nghị định số 53/2024/NĐ-CP ngày
16 tháng 5 năm 2024 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của
Luật Tài nguyên nước;
Nghị định số 43/2022/NĐ-CP ngày
24 tháng 6 năm 2022 của Chính phủ quy định việc quản lý, sử dụng và khai thác
tài sản kết cấu hạ tầng cấp nước sạch;
Quyết định số 1595/QĐ-TTg ngày
23 tháng 12 năm 2022 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch hành động thực
hiện Kết luận số 36-KL/TW ngày 23 tháng 6 năm 2022 của Bộ Chính trị về bảo đảm
an ninh nguồn nước và an toàn đập, hồ chứa nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm
2045
Nghị quyết số 01-NQ/ĐH ngày 11
tháng 10 năm 2025 của Đại hội Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lần thứ nhất nhiệm kỳ
2025-2030;
Báo cáo chính trị số 106-BC/TU
ngày 10 tháng 10 năm 2025 của Tỉnh ủy Lâm Đồng về Xây dựng Đảng và hệ thống
chính trị trong sạch, vững mạnh; phát huy khối đại đoàn kết toàn dân, bản sắc
văn hóa đa dạng, tiềm năng, lợi thế và đổi mới sáng tạo; tăng cường quốc phòng
- an ninh; kiến thiết tỉnh Lâm Đồng phát triển nhanh, bền vững, trở thành cực
tăng trưởng năng động trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc;
Quyết định số 2786/QĐ-UBND ngày
06 tháng 6 năm 2026 của UBND tỉnh về việc phê duyệt Điều chỉnh quy hoạch tỉnh
Lâm Đồng thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.
2. Yêu cầu thực tiễn
- Sau khi thực hiện sắp xếp đơn
vị hành chính, tỉnh Lâm Đồng có diện tích lớn nhất cả nước, địa hình chuyển
tiếp phức tạp, đa dạng từ núi cao, đồng bằng đến dải ven biển, hải đảo và đô
thị. Thường xuyên phải đối mặt với nhiều loại hình thiên tai cực đoan, diễn
biến thời tiết, thủy văn trên địa bàn tỉnh ngày càng bất thường, phi quy luật
như mưa lũ năm 2025. Do đó trong công tác quản lý ngành cần tăng cường tính chủ
động, gắn khai thác với bảo vệ nguồn nước, bảo đảm an toàn công trình và vùng
hạ du, chủ động ứng phó biến đổi khí hậu.
- Việc hợp nhất tỉnh và vận hành
mô hình chính quyền địa phương hai cấp đặt ra yêu cầu thống nhất quản lý tài
nguyên nước, tăng cường liên kết giữa các vùng, các lưu vực sông và phối hợp
giữa các ngành, địa phương.
- Quá trình đô thị hóa, phát
triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, công nghiệp, du lịch và dịch vụ đặt
ra yêu cầu ngày càng cao về số lượng, chất lượng và mức độ ổn định của nguồn
cấp nước. Bảo đảm an ninh nguồn nước và an toàn đập, hồ chứa nước trở thành
điều kiện quan trọng để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, bảo
đảm an sinh và bảo vệ môi trường của tỉnh.
Trước những yêu cầu ngày càng
cao trong công tác quản lý tài nguyên nước, bảo đảm an toàn đập, hồ chứa nước
và an ninh nguồn nước phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt trong bối
cảnh tỉnh Lâm Đồng được mở rộng địa giới hành chính và tổ chức thực hiện mô
hình chính quyền địa phương hai cấp, việc xây dựng Đề án là hết sức cần thiết.
Đây sẽ là cơ sở để đánh giá toàn diện hiện trạng nguồn nước và công trình thủy
lợi trên địa bàn tỉnh, phục vụ công tác quản lý, điều phối, khai thác và bảo vệ
tài nguyên nước theo hướng thống nhất, hiệu quả, thích ứng với biến đổi khí hậu
và đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững trong giai đoạn mới.
II. HIỆN TRẠNG VỀ AN NINH NGUỒN
NƯỚC VÀ AN TOÀN ĐẬP, HỒ CHỨA TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LÂM ĐỒNG
1. Tổng quan về kinh tế, xã hội
Sau khi thực hiện nghị quyết của Trung
ương về sắp xếp đơn vị hành chính, tỉnh Lâm Đồng hiện có diện tích tự nhiên là
24.239,1 km2. Quy mô dân số toàn tỉnh đạt khoảng 3.356.375 người với
nền văn hóa đa dạng, phong phú của nhiều đồng bào dân tộc anh em, tạo tiền đề
vững chắc cho phát triển kinh tế - xã hội, du lịch văn hóa và sinh thái cộng
đồng. Toàn tỉnh được tổ chức theo mô hình chính quyền địa phương 2 cấp với 124
đơn vị hành chính cấp xã.
2. Hiện trạng an ninh nguồn
nước
Hiện nay, toàn tỉnh Lâm Đồng có
124 xã, phường, đặc khu; qua tính toán cân bằng nước đối với các xã, phường
(ứng với các tiểu lưu vực) nhận định hiện trạng năm 2025 trên địa bàn tỉnh có
tổng lượng nước cung cấp đến từ các nguồn khác nhau như nước mặt từ sông suối,
nước ngầm, nước mưa, hồ chứa, ao trữ nhỏ, … là 35.710 triệu m3; tổng
lượng nhu cầu sử dụng nước từ các ngành nghề như sản xuất nông nghiệp, sinh
hoạt, công nghiệp, du lịch, dịch vụ, cảnh quan… là 5.065,984 triệu m3.
Do đó, tình hình an ninh nguồn nước còn đối mặt với nguy cơ thiếu nước và mất
cân đối nguồn nước đáng lưu ý tại nhiều khu vực (có 30/124 xã, phường thuộc
nhóm rủi ro lớn và rất lớn, chiếm 24,19%); trong đó: 43 địa phương có mức độ
bảo đảm an ninh nguồn nước, mức độ rủi ro thấp có 16 địa phương, mức độ rủi ro
trung bình có 35 địa phương, mức độ rủi ro lớn có 24 địa phương và mức độ rủi
ro rất lớn có 6 địa phương.
Chi tiết xem tại Phụ lục số 5
của Báo cáo tổng hợp Đề án kèm theo.
Chi tiết hiện trạng các nguồn
sinh thủy và nhu cầu sử dụng nước đến năm 2025 như sau:
a) Đối với nguồn cung cấp nước
chủ yếu:
- Tài nguyên nước mặt: Tổng
lượng nước mặt tự nhiên của tỉnh khoảng 17,5 tỷ m³/năm; khả năng khai thác, sử
dụng hiệu quả thực tế ước đạt 6,5 tỷ m³/năm.
- Tài nguyên nước ngầm: Tổng trữ
lượng tiềm năng có thể khai thác, sử dụng khoảng 6.248 triệu m³/năm (phân bố tại
khu vực Ven biển: 4.400 triệu m³, Tây Bắc: 1.063 triệu m³, Trung tâm: 785 triệu
m³); nguồn nước dưới đất hiện chiếm khoảng 35% tổng nguồn nước khai thác cấp
cho các nhà máy nước.
- Tài nguyên rừng: Tổng diện
tích có rừng đạt 1.112.836,23 ha (khoảng 1,11 triệu ha, bao gồm 930.156,36 ha
rừng tự nhiên và 182.679,87 ha rừng trồng), tỷ lệ che phủ rừng đạt 45,91%, giữ
vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ nguồn sinh thủy và điều tiết dòng
chảy.
- Hệ thống công trình thủy lợi: Toàn
tỉnh hiện nay có 961 công trình thủy lợi và hệ thống công trình thủy lợi các
loại đang được quản lý, khai thác, sử dụng[1]. Như vậy, hồ chứa và đập dâng là hai loại công
trình chủ yếu, với tổng cộng 777 công trình, chiếm khoảng 80,85% tổng số công
trình thủy lợi toàn tỉnh. Hệ thống công trình phân bố rộng trên nhiều lưu vực,
tiểu lưu vực; hồ chứa và đập dâng chiếm tỷ trọng chủ yếu, phục vụ tích trữ, điều
tiết và cấp nước cho sản xuất, sinh hoạt và các nhu cầu sử dụng nước khác.
Chi tiết xem tại Phụ lục số
1: Danh mục công trình thủy lợi của Báo cáo tổng hợp Đề án kèm theo.
- Hệ thống công trình cấp nước
sinh hoạt gồm nông thôn và đô thị:
+ Đối với cấp nước sinh hoạt
nông thôn tập trung trên địa bàn tỉnh đến hết năm 2025 hiện có 627 công trình
cấp nước cho 232.385 hộ dân, tương đương 37,79% hộ dân nông thôn; hiện nay công
tác quản lý do nhiều chủ thể thực hiện như đơn vị sự nghiệp công lập, doanh
nghiệp, hợp tác xã, cộng đồng dân cư và chính quyền cơ sở. Mô hình quản lý phân
tán, thiếu thống nhất đã ảnh hưởng đến hiệu quả vận hành, duy tu bảo dưỡng,
kiểm soát chất lượng nước và huy động nguồn lực đầu tư[2]. Tỷ lệ hộ dân khu vực nông thôn được sử dụng
nước sạch đạt quy chuẩn là 58,7%, cơ bản tiệm cận mục tiêu 60% đề ra tại Kết
luận số 36-KL/TW.
Chi tiết xem tại Phụ lục 2:
Danh mục công trình cấp nước sạch nông thôn tập trung của Báo cáo tổng
hợp.
+ Đối với cấp nước sinh hoạt đô thị có tổng số 40
nhà máy cấp nước với tổng công suất khai thác thực tế khoảng 210.440 m3/ngày
đêm, bảo đảm nguồn nước sạch cho khoảng 293.000 hộ dân. Theo quy định quản lý chuyên
ngành, chỉ tiêu hằng năm của ngành xây dựng được theo dõi và báo cáo dưới hình
thức "Tỷ lệ dân số đô thị được sử dụng nước sạch qua hệ thống cấp nước tập
trung", năm 2025 chỉ tiêu này đạt 82,23% và dự kiến năm 2026 đạt 83,12%.
- Hệ thống công trình thủy điện: Toàn tỉnh hiện có 65
hồ chứa thủy điện có tổng dung tích khoảng 5.177,61 triệu m3. Với quy
mô rất đa dạng, từ các công trình thủy điện lớn trên các hệ thống sông chính đến
các công trình thủy điện vừa và nhỏ trên các sông, suối nhánh. Trong đó có các
hồ chứa thủy điện lớn như: Hàm Thuận - Đa Mi, Đơn Dương, Đại Ninh, Bắc Bình,
Đồng Nai 2, 3, 4 và 5, Buôn Tua Shar, Buôn Kuốp, Đắk R’Tih,... Các hồ chứa này
giữ vai trò quan trọng trong việc điều tiết dòng chảy, cắt giảm lũ cho vùng hạ
du trong mùa mưa và bổ sung nguồn nước chống hạn hiệu quả trong mùa khô.
Chi tiết xem tại Phụ lục 3: Danh mục hồ chứa
thủy điện của Báo cáo tổng hợp Đề án kèm theo.
b) Đối với nhu cầu sử dụng nước
chủ yếu:
- Nhu cầu sử dụng nước cho sản
xuất nông nghiệp khoảng 4.863,71 triệu m³/năm (trồng trọt khoảng 4761,77 triệu
m³/năm).
- Nhu cầu sử dụng nước cho nuôi trồng
thủy sản khoảng 55,91 triệu m³/năm, chăn nuôi khoảng 46,03 triệu m³/năm).
- Nhu cầu sử dụng nước cho sinh
hoạt khoảng 202,14 triệu m³/năm.
- Nhu cầu sử dụng nước cho công
nghiệp khoảng 1,604 triệu m³/năm.
3. Hiện trạng an toàn đập, hồ
chứa nước
a) Đối với công trình thủy lợi:
Qua rà soát, toàn tỉnh hiện có 270 đập, hồ chứa thủy lợi bị hư
hỏng, xuống cấp hoặc còn tồn tại về an toàn công trình. Trong đó 158/540 công
trình đập, hồ chứa nước bị hư hỏng tại các hạng mục công trình đầu mối tiềm ẩn
nguy cơ mất an toàn và 112/540 công trình có lòng hồ bị bồi lắng ảnh hưởng đến
khả năng khai thác, vận hành.
Chi tiết xem tại Phụ lục 4:
Hiện trạng các công trình đập, hồ chứa nước bị hư hỏng, xuống cấp của Báo
cáo tổng hợp Đề án kèm theo.
Hư hỏng xuất hiện tại nhiều hạng
mục như bồi lắng lòng hồ, đập đất, tràn xả lũ, cống lấy nước, thiết bị vận hành
và đường quản lý. Nhiều đập xuất hiện tình trạng thấm, rò rỉ, sạt trượt, xói
lở, lún sụt; một số tràn xả lũ, cống lấy nước và thiết bị cơ khí bị hư hỏng,
xuống cấp ảnh hưởng đến khả năng vận hành và tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn công
trình. Vì vậy, cần ưu tiên đầu tư sửa chữa các công trình có nguy cơ mất an
toàn cao, nạo vét các hồ bị bồi lắng lớn để khôi phục dung tích trữ, nâng cao
hiệu quả khai thác và khả năng bảo đảm an ninh nguồn nước. Mặc dù trong thời
gian qua các đơn vị quản lý công trình và các cấp chính quyền đã triển khai
nhiều dự án nhằm nâng cấp, sửa chữa các công trình này bằng các nguồn vốn như
Đầu tư công, dự án WB8, Cải thiện cơ sở hạ tầng nhằm phát triển nông
nghiệp…;tuy nhiên do nguồn ngân sách địa phương còn hạn hẹp, dòng vốn đầu tư
công phải ưu tiên dàn trải cho nhiều mục tiêu, kinh phí bố trí chủ yếu tập
trung cho công tác duy tu, sửa chữa thường xuyên; việc nâng cấp các hạng mục
lớn hằng năm mới đáp ứng được khoảng 25% - 30% tổng số công trình có nhu cầu.
Vì vậy công tác bảo đảm an toàn công trình thủy lợi hiện còn gặp nhiều khó
khăn, ảnh hưởng đến công tác quản lý, vận hành và nguy cơ mất an toàn cho khu
vực hạ du.
b) Đối với công trình thủy điện:
Nhờ thực hiện tốt cơ chế xã hội hóa, các doanh nghiệp chủ sở hữu, đơn vị quản
lý vận hành đã chủ động bố trí nguồn vốn, kịp thời thực hiện công tác duy tu,
bảo dưỡng nâng cấp định kỳ, bảo đảm vận hành an toàn tuyệt đối công trình gắn
với hoạt động phát điện thương mại.
4. Kết quả đạt được, bài học
kinh nghiệm
a) Kết quả đạt được
- Các cấp ủy đảng, chính quyền
đã thể hiện tinh thần trách nhiệm cao, bám sát các mục tiêu của Kết luận số
36-KL/TW để cụ thể hóa thành văn bản lãnh đạo phù hợp với thực tiễn địa phương;
công tác tuyên truyền được triển khai sâu rộng, tạo chuyển biến rõ nét trong
nhận thức của toàn xã hội.
- Các chỉ tiêu về tỷ lệ dùng
nước sạch nông thôn và đô thị cơ bản đạt lộ trình đề ra; công tác duy tu, bảo
dưỡng hồ đập được duy trì thường xuyên, bảo đảm vận hành an toàn trong mùa lũ.
- Các nhiệm vụ về thể chế, quy
hoạch, tích trữ nước và bảo vệ nguồn sinh thủy được triển khai toàn diện. Việc
ứng dụng công nghệ số, quan trắc tự động và tận dụng nguồn lực quốc tế (WB8,
ADB8, ODA) đã nâng cao đáng kể năng lực quản trị hạ tầng ngành nước của tỉnh.
b) Bài học kinh nghiệm
- Một là, phải giữ vững và tăng
cường sự lãnh đạo tuyệt đối, toàn diện của các cấp ủy đảng, sự quản lý điều
hành tập trung của chính quyền; nêu cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu
các cấp, các ngành; coi các chỉ tiêu về an ninh nguồn nước, an toàn hồ đập là
tiêu chí quan trọng trong quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội
hằng năm.
- Hai là, công tác tuyên truyền,
vận động phải mang tính thường xuyên, liên tục, đi vào chiều sâu; phải gắn
quyền lợi thiết thân của người dân với trách nhiệm bảo vệ hành lang an toàn
công trình thủy lợi và chủ động phòng chống thiên tai.
- Ba là, đổi mới phương thức huy
động nguồn lực, thực hiện hiệu quả phương châm lồng ghép các Chương trình mục
tiêu quốc gia với nguồn vốn đầu tư công, dòng vốn ODA quốc tế và đẩy mạnh xã
hội hóa, khuyến khích khu vực tư nhân tham gia đầu tư, quản lý.
- Bốn là, chủ động đẩy mạnh
chuyển đổi số, ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến và công nghệ viễn thám
trong dự báo, cảnh báo sớm; chuyển đổi căn bản tư duy quản lý từ "ứng phó
thụ động" sang "chủ động phòng ngừa rủi ro".
5. Tồn tại, hạn chế và nguyên
nhân
a) Tồn tại, hạn chế
- Hệ thống công trình tích trữ,
điều tiết, điều hòa phân phối nước liên vùng chưa đồng bộ; một số công trình
xây dựng từ lâu nay đã xuống cấp, chưa đáp ứng kịp nhu cầu dùng nước ngày càng
tăng cao của các ngành kinh tế.
- Công tác nâng cấp sửa chữa lớn
hồ đập còn chậm, chưa đáp ứng đủ nhu cầu thực tế. Hệ thống quan trắc tự động
theo thời gian thực chưa đồng bộ, mới bao phủ ở các hồ lớn có cửa van điều
tiết. Cơ sở dữ liệu ngành nước còn phân tán, mức độ số hóa để phục vụ điều hành
trực tuyến chưa cao.
- Năng lực chuyên môn của đội ngũ quản
lý, vận hành tại một số đơn vị cơ sở, nhất là mô hình quản lý thủy lợi nhỏ chưa
đồng đều; việc lập phương án ứng phó tình huống khẩn cấp tại một số xã còn mang
tính hình thức.
- Công tác kiểm soát ô nhiễm, bảo
vệ nguồn sinh thủy và quản lý nước dưới đất dù có tiến bộ nhưng hiệu quả trên
thực tế chưa cao, thiếu giải pháp mang tính căn cơ, đồng bộ.
- Công tác ứng phó với thiên tai
cực đoan tại một số khu vực còn bị động; nguồn lực bố trí xử lý dứt điểm các
điểm có nguy cơ sạt lở cao còn hạn chế.
b) Nguyên nhân của những hạn chế:
- Nguyên nhân khách quan: Địa bàn
tỉnh rộng, địa hình chia cắt phức tạp dẫn đến nguồn nước phân bố không đồng
đều, gây khó khăn lớn cho việc đầu tư mạng lưới kết nối liên kết vùng. Diễn
biến thời tiết cực đoan do biến đổi khí hậu (lũ lịch sử, hiện tượng El Nino)
tạo áp lực quá tải lên hệ thống hạ tầng hiện có. Các công trình được đầu tư qua
nhiều thời kỳ, bằng nhiều nguồn vốn khác nhau dẫn đến hồ sơ kỹ thuật thiếu đồng
nhất, gây khó khăn cho việc số hóa dữ liệu. Bên cạnh đó, sau khi thực hiện sáp
nhập tỉnh và chuyển đổi mô hình chính quyền 2 cấp, công tác kiện toàn chủ thể
quản lý cần phải có lộ trình thời gian nhất định để hoàn thiện.
- Nguyên nhân chủ quan: Nguồn lực ngân
sách địa phương dành cho đầu tư công trình thủy lợi, an toàn hồ đập và chuyển
đổi số còn rất hạn chế so với nhu cầu thực tế, trong khi suất đầu tư công nghệ
giám sát tự động rất lớn. Nhận thức và ý thức trách nhiệm của một bộ phận nhỏ
người dân vùng nông thôn về bảo vệ công trình và hành lang nguồn nước chưa cao.
III. DỰ BÁO, PHÂN VÙNG CẤP
ĐỘ AN NINH NGUỒN NƯỚC TỈNH LÂM ĐỒNG ĐẾN NĂM 2030, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2045
1. Nhận định xu hướng, nguyên
nhân làm tăng nhu cầu sử dụng nước
Tình trạng thiếu nước phân bố
không đồng đều trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng, tập trung nghiêm trọng nhất ở hai
khu vực là dải phía Nam - ven biển (thuộc tỉnh Bình Thuận cũ như La Gi, Hàm
Tân, Tánh Linh, Tân Minh, Sơn Mỹ - Phước Hội, Mũi Né...) và khu vực phía Bắc
(thuộc tỉnh Đắk Nông cũ như Bắc Gia Nghĩa, Trường Xuân, Đam Rông 1, Đam Rông 2,
Kiến Đức, Quảng Tín, ...). Xuất phát từ sự cộng hưởng của nhiều nguyên nhân khác
nhau giữa hai vùng; Đối với khu vực phía Nam - ven biển, nguyên nhân trước hết
đến từ điều kiện tự nhiên vốn kém thuận lợi, đây là vùng có khí hậu khô hạn,
lượng mưa thấp và phân bố không đều trong năm, mùa khô kéo dài, trong khi hệ
thống sông suối lại nhỏ, ngắn, dốc, lưu vực hẹp, khả năng sinh thủy và trữ nước
tự nhiên kém, nguồn nước ngầm cũng hạn chế và một số nơi ven biển còn có nguy
cơ nhiễm mặn khi khai thác quá mức, khiến tiềm năng nguồn nước tại chỗ của khu
vực này vốn dĩ đã hạn chế. Trong khi tiềm năng cung cấp thấp như vậy, khu vực
này lại chịu thêm áp lực nhu cầu sử dụng nước ngày càng lớn từ hoạt động du
lịch biển - nghỉ dưỡng đang phát triển sôi động tại các điểm đến như: Mũi Né,
Phan Thiết, La Gi, với hàng loạt khu resort, khách sạn, hồ bơi, sân golf và
lượng khách du lịch tăng nhanh, kéo theo nhu cầu nước sinh hoạt và dịch vụ
tăng, đặc biệt vào mùa cao điểm du lịch lại thường trùng với mùa khô hạn nhất
trong năm; cùng với đó là cơ cấu nông nghiệp tại đây chủ yếu trồng thanh long
và các cây công nghiệp cần tưới tiêu nhiều, càng làm trầm trọng thêm tình trạng
mất cân đối cung - cầu nước. Đối với khu vực phía Bắc (thuộc tỉnh Đắk Nông cũ),
nguyên nhân thiếu nước chủ yếu xuất phát từ đặc thù cơ cấu cây trồng, khi đây
là vùng chuyên canh cây công nghiệp lâu năm, đặc biệt là cà phê cùng với hồ
tiêu, cao su..., đây là những loại cây có nhu cầu tưới nước lớn, thường xuyên,
nhất là vào mùa khô để duy trì năng suất và chất lượng, trong khi địa hình đồi
núi chia cắt, gây khó khăn cho việc đầu tư xây dựng các công trình hồ chứa quy
mô lớn, khiến hệ thống thủy lợi tại nhiều nơi chưa đáp ứng đủ nhu cầu dùng
nước, tưới tiêu thực tế. Ngược lại, khu vực trung tâm và phía Đông tỉnh, đặc
biệt là cao nguyên Đà Lạt, Lạc Dương, Đơn Dương lại có mức thiếu nước thấp nhờ
khí hậu mát mẻ quanh năm, lượng mưa dồi dào, thảm thực vật rừng che phủ tốt
giúp duy trì nguồn sinh thủy ổn định, đồng thời cơ cấu cây trồng chủ yếu là
rau, hoa xứ lạnh có nhu cầu nước tưới thấp hơn nhiều so với cây công nghiệp hay
cây ăn quả ở các vùng thấp.
Như vậy, có thể thấy tình trạng
thiếu nước ở Lâm Đồng là kết quả tổng hợp của nhiều nguyên nhân đan xen giữa
các vùng: vùng ven biển phía Nam chịu tác động kép từ tiềm năng nguồn nước tự
nhiên hạn chế và áp lực nhu cầu từ du lịch cùng nông nghiệp cây trồng cần tưới
nhiều, còn vùng phía Bắc thiếu nước chủ yếu do đặc thù canh tác cây công nghiệp
lâu năm tiêu thụ nước lớn, từ đó đặt ra yêu cầu cấp thiết phải có các giải pháp
đồng bộ như đầu tư xây dựng thêm hồ chứa, hệ thống chuyển nước liên vùng từ khu
vực cao nguyên dồi dào nước sang các vùng thiếu nước, quản lý khai thác nước
ngầm hợp lý để tránh xâm nhập mặn, đồng thời khuyến khích chuyển đổi cơ cấu cây
trồng và áp dụng các mô hình tưới tiết kiệm nước nhằm bảo đảm an ninh nguồn
nước bền vững cho toàn tỉnh đến năm 2045.
2. Tính toán cân bằng nước và
phân vùng cấp độ an ninh nguồn nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045
Qua tính toán cân bằng nước đối
với các xã, phường (ứng với các tiểu lưu vực) nhận định dự báo đến năm 2030,
tầm nhìn đến năm 2045 trên địa bàn tỉnh có tổng lượng nước cung cấp đến từ các
nguồn khác nhau như nước mặt từ sông suối, nước ngầm, nước mưa, hồ chứa, ao trữ
nhỏ… khoảng 37.390 triệu m³/năm vào năm 2030 và 38.470 triệu m³/năm vào năm
2045; tổng lượng nhu cầu sử dụng nước từ các ngành nghề như sản xuất nông
nghiệp, sinh hoạt, công nghiệp, du lịch, dịch vụ, cảnh quan...là 4.760,48 triệu
m³/năm vào năm 2030 và 4.997,92 triệu m³/năm vào năm 2045. Như vậy đánh giá
tổng quan chung trên địa bàn tỉnh hiện nay tình hình an ninh nguồn nước có xu
hướng được cải thiện về dài hạn nhưng nguy cơ mất an ninh nguồn nước vẫn còn
cao và có sự phân hóa mạnh giữa các khu vực (nhóm rủi ro lớn và rất lớn là 26
xã, phường chiếm 20,97% năm 2030 và 27 xã, phường chiếm 21,77% năm 2045); trong
đó phân loại theo nhóm xã, phường như sau:
a) Đến năm 2030: Phân loại nhóm
các địa phương có mức độ bảo đảm an ninh nguồn nước là 54 địa phương, mức độ
rủi ro thấp có 16 địa phương, mức độ rủi ro trung bình có 28 địa phương, mức độ
rủi ro lớn có 19 địa phương và mức độ rủi ro rất lớn có 7 địa phương.
b) Tầm nhìn đến năm 2045: Phân
loại nhóm các địa phương có mức độ bảo đảm an ninh nguồn nước là 48 địa phương,
mức độ rủi ro thấp có 19 địa phương, mức độ rủi ro trung bình có 30 địa phương,
mức độ rủi ro lớn có 20 địa phương và mức độ rủi ro rất lớn có 7 địa phương[3].
Chi tiết xem tại Phụ lục 5:
Mức độ đảm bảo an ninh nguồn nước trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng của
Báo cáo tổng hợp Đề án kèm theo.
Kết quả dự báo nhu cầu sử dụng
nước và phân vùng cấp độ an ninh nguồn nước là cơ sở xác định địa bàn ưu tiên,
lựa chọn giải pháp tích trữ, điều hòa, phân phối và sử dụng nước tiết kiệm,
hiệu quả.
IV. QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU TRONG
GIAI ĐOẠN TỚI
1. Thách thức và nguy cơ
a) Địa bàn quản lý rộng lớn, địa
hình chia cắt phức tạp khiến suất đầu tư và chi phí vận hành hạ tầng ngành nước
rất cao. Để đáp ứng yêu cầu thích ứng biến đổi khí hậu, bảo đảm tuyệt đối an
toàn hồ đập cần nguồn lực tài chính vô cùng lớn. Mặc dù chính quyền cấp xã và
các đơn vị quản lý, vận hành đã chủ động cân đối ngân sách, song nguồn kinh phí
bố trí còn rất eo hẹp, dẫn đến việc đầu tư sửa chữa, nâng cấp ở một số nơi chưa
thực sự đồng bộ, dứt điểm. Ngoài ra, nhận thức của một bộ phận người dân tại
vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn hạn chế, chưa chủ động ý
thức được tầm quan trọng của việc bảo vệ nguồn nước và công trình đối với đời
sống, an sinh của chính mình.
b) Nguồn nước phân bố không đồng
đều theo không gian và thời gian; khả năng tích trữ, kết nối, điều hòa và phân
phối nước tại một số khu vực còn hạn chế, dẫn đến nguy cơ thiếu nước cục bộ,
nhất là trong mùa khô. Biến đổi khí hậu, hạn hán, mưa cực đoan, lũ, ngập lụt,
xâm nhập mặn và nước biển dâng làm gia tăng tính bất định của nguồn nước, gây
áp lực đối với an toàn đập, hồ chứa và vùng hạ du, đặc biệt tại các công trình
đã khai thác lâu năm, xuống cấp.
c) Nguy cơ suy thoái, ô nhiễm
nguồn nước còn hiện hữu tại các khu vực đô thị hóa nhanh, sản xuất tập trung,
khai thác khoáng sản và những nơi hệ thống thu gom, xử lý nước thải chưa hoàn
thiện. Yêu cầu cấp nước sạch, an toàn, ổn định cho dân sinh ngày càng cao,
trong khi tỷ lệ sử dụng nước sạch đạt quy chuẩn và tính bền vững của một số
công trình cấp nước còn hạn chế.
d) Việc hợp nhất tỉnh đặt ra yêu
cầu quản lý thống nhất nguồn nước trên địa bàn rộng, đa dạng và liên lưu vực,
trong khi cơ sở dữ liệu, mô hình quản lý công trình và phương thức vận hành
trước đây được xây dựng riêng biệt theo từng địa phương, cần tiếp tục được rà
soát, đồng bộ và hoàn thiện.
đ) Các công trình thủy lợi, cấp
nước sinh hoạt nông thôn xuống cấp, hư hỏng nhưng thiếu kinh phí nâng cấp, sửa
chữa, công tác quản lý an toàn đập chưa triển khai đồng bộ, thiếu các thiết bị
quan trắc, giám sát vận hành theo thời gian thực.
2. Quan điểm
a) Bảo đảm an ninh nguồn nước và
an toàn đập, hồ chứa nước là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, lâu dài, là
trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, các tổ chức, doanh nghiệp và người dân.
Nước phải được xem là nguồn tài nguyên thiết yếu, là yếu tố đầu vào quan trọng
đối với phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, an sinh xã
hội và bảo vệ môi trường. Công tác bảo đảm an ninh nguồn nước và an toàn đập,
hồ chứa nước phải được chủ động lồng ghép trong quá trình hoạch định, tổ chức
thực hiện các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chương trình phát triển của
tỉnh.
b) Bảo đảm an ninh nguồn nước
phải được thực hiện theo hướng quản lý tổng hợp tài nguyên nước, chủ động từ
tạo nguồn, tích trữ, điều hòa, phân phối, khai thác, sử dụng đến bảo vệ và phục
hồi nguồn nước; lấy khả năng đáp ứng nhu cầu nước cho dân sinh, sản xuất và các
hoạt động kinh tế - xã hội làm trọng tâm. Ưu tiên khai thác, sử dụng hiệu quả
nguồn nước tại chỗ; bảo vệ và phát triển nguồn sinh thủy; nâng cao khả năng giữ
nước trong mùa mưa để sử dụng trong mùa khô; tăng cường kết nối, điều hòa và
phân phối nguồn nước giữa các công trình, khu vực và lưu vực khi có điều kiện.
Việc khai thác, sử dụng nước phải gắn với tiết kiệm nước, nâng cao hiệu quả sử
dụng và phòng, chống ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt nguồn nước.
c) Bảo đảm an ninh nguồn nước
phải gắn chặt với bảo đảm an toàn đập, hồ chứa nước và an toàn vùng hạ du; kết
hợp hài hòa giữa yêu cầu an toàn công trình với khai thác tổng hợp, đa mục tiêu
và phát huy tối đa khả năng tích trữ, điều hòa nguồn nước của hệ thống hồ chứa.
Chủ động phòng ngừa, kiểm soát và giảm thiểu rủi ro do sự cố công trình, mưa lũ
cực đoan và các tình huống bất thường; đồng thời nghiên cứu nâng cao năng lực
tích trữ, điều tiết, vận hành liên hồ, liên công trình nhằm phục vụ hiệu quả
cấp nước, tưới, phát điện, phòng, chống lũ và các nhu cầu sử dụng nước khác.
d) Bảo đảm an ninh nguồn nước
của tỉnh phải được xem xét tổng thể theo không gian nguồn nước và lưu vực sông,
đồng thời phù hợp với đặc điểm phân hóa mạnh về điều kiện tự nhiên và nguồn
nước giữa các khu vực của tỉnh Lâm Đồng. Việc quản lý, khai thác và điều hòa
nguồn nước cần khắc phục tư duy chia cắt theo địa giới hành chính trước sắp
xếp; từng bước hình thành hệ thống quản lý, cơ sở dữ liệu và phương án điều
phối nguồn nước thống nhất trên phạm vi toàn tỉnh. Đối với khu vực có nguồn
nước tương đối dồi dào cần chú trọng bảo vệ nguồn sinh thủy, tích trữ và sử
dụng hiệu quả; đối với các khu vực thường xuyên hạn hán, thiếu nước cần ưu tiên
tăng khả năng trữ nước, kết nối nguồn nước, sử dụng nước tiết kiệm và chủ động
nguồn nước dự phòng.
đ) Bảo đảm an ninh nguồn nước và
an toàn đập, hồ chứa nước phải chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, phòng,
chống thiên tai và các tình huống cực đoan liên quan đến nước. Các giải pháp
của Đề án phải được xem xét trong điều kiện biến động về lượng mưa, dòng chảy,
hạn hán, thiếu nước, lũ, ngập lụt, xâm nhập mặn và các hiện tượng thời tiết cực
đoan; chuyển dần từ ứng phó bị động sang chủ động phòng ngừa, dự báo, cảnh báo
và quản trị rủi ro.
e) Kết hợp đồng bộ các giải pháp
công trình và phi công trình, đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển
đổi số; đồng thời ưu tiên nguồn lực có trọng tâm, trọng điểm, tập trung giải
quyết các vấn đề cấp bách về thiếu nước và mất an toàn đập, hồ chứa nước. Ưu
tiên nâng cao hiệu quả, năng lực và mức độ an toàn của hệ thống công trình hiện
có trước khi đầu tư mới; tăng cường quan trắc, giám sát, dự báo, cảnh báo; xây
dựng cơ sở dữ liệu dùng chung; ứng dụng GIS, mô hình thủy văn, mô hình cân bằng
nước và các công cụ hỗ trợ ra quyết định. Nguồn lực nhà nước giữ vai trò chủ
đạo đối với các nhiệm vụ thiết yếu, phòng chống thiên tai và bảo đảm an sinh xã
hội; đồng thời tăng cường huy động nguồn lực xã hội phù hợp với tính chất từng
nhiệm vụ. Việc lựa chọn chương trình, dự án đầu tư phải dựa trên mức độ cấp
thiết, hiệu quả tổng hợp, khả năng bảo đảm nguồn nước, mức độ giảm thiểu rủi ro
và khả năng cân đối nguồn lực, bảo đảm đầu tư có trọng tâm, tránh dàn trải.
3. Mục tiêu
3.1. Mục tiêu tổng quát
a) Bảo đảm an ninh nguồn nước và
an toàn đập, hồ chứa nước trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng một cách chủ động, bền
vững, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh,
an sinh xã hội và bảo vệ môi trường; bảo đảm nguồn nước cơ bản đáp ứng đủ về số
lượng, phù hợp về chất lượng cho sinh hoạt, sản xuất và các ngành, lĩnh vực,
trong đó ưu tiên nước cho sinh hoạt và các nhu cầu thiết yếu.
b) Chủ động tạo nguồn, tích trữ,
điều hòa, phân phối, khai thác và sử dụng nguồn nước tiết kiệm, hiệu quả; nâng
cao khả năng điều tiết, kết nối và sử dụng tổng hợp, đa mục tiêu hệ thống công
trình thủy lợi, thủy điện và cấp nước; từng bước khắc phục tình trạng thiếu
nước cục bộ, nhất là tại các khu vực thường xuyên xảy ra hạn hán, thiếu nước và
xâm nhập mặn; bảo vệ, phục hồi nguồn sinh thủy, phòng ngừa ô nhiễm, suy thoái,
cạn kiệt nguồn nước.
c) Bảo đảm an toàn đập, hồ chứa
nước và vùng hạ du, nâng cao năng lực quản lý, khai thác, vận hành và phòng
ngừa, ứng phó sự cố công trình; chủ động phòng, chống và giảm thiểu thiệt hại
do hạn hán, thiếu nước, lũ, ngập lụt và các thiên tai liên quan đến nước; nâng
cao khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu và các tình huống cực đoan.
d) Từng bước hiện đại hóa công
tác quản lý, giám sát và điều hành nguồn nước; xây dựng hệ thống thông tin, cơ
sở dữ liệu phục vụ quản lý an ninh nguồn nước và an toàn đập, hồ chứa nước
thống nhất trên phạm vi toàn tỉnh; làm cơ sở xác định các nhiệm vụ, giải pháp
và danh mục công trình ưu tiên đầu tư, góp phần bảo đảm an ninh nguồn nước, an
toàn công trình và phát triển bền vững tỉnh Lâm Đồng đến năm 2030, định hướng
đến năm 2045.
3.2. Mục tiêu cụ thể
Căn cứ theo điều chỉnh quy hoạch
tỉnh, Báo cáo chính trị Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ I nhiệm kỳ 2025-2030 và
các căn cứ pháp lý có liên quan khác để xác định các mục tiêu cụ thể.
a) Mục tiêu cụ thể đến năm 2030
- Bảo đảm nguồn nước và quản trị
rủi ro thiếu nước:
+ Hoàn thành đánh giá nhu cầu
nước, lượng nước đến và cân bằng nước trên các lưu vực, hệ thống cấp nước; tổng
hợp kết quả cho 100% đơn vị hành chính cấp xã theo hiện trạng và các kịch bản
đến năm 2030.
+ Phân loại mức độ an ninh nguồn
nước trên toàn tỉnh; xác định nguồn cấp chính, nguồn dự phòng và giải pháp ưu
tiên cho các địa bàn có mức rủi ro lớn, rất lớn.
+ Cơ bản bảo đảm nguồn nước phục
vụ sinh hoạt và sản xuất trong điều kiện bình thường; 100% địa bàn thường xuyên
thiếu nước sinh hoạt có phương án cấp nước mùa khô và ứng phó với hạn hán, xâm
nhập mặn, sự cố nguồn nước.
- Tỷ lệ người dân đô thị sử dụng
nước sạch đạt trên 87% (tỷ lệ dân số đô thị được cấp nước sạch qua hệ thống cấp
nước tập trung đạt 100%), tỷ lệ sử dụng nước hợp vệ sinh đạt 100%. Tỷ lệ hộ dân
nông thôn được sử dụng nước sạch đạt 65%, sử dụng nước hợp vệ sinh đạt 99%.
- Nâng cao hiệu quả cấp nước cho
nông nghiệp:
+ Bảo đảm cấp nước tưới chủ động
cho 70-75% diện tích đất sản xuất nông nghiệp; tỷ lệ diện tích tưới tiên tiến,
tiết kiệm nước đạt 30-35%; tăng cường ứng dụng công nghệ quản lý nước thông
minh.
+ Bảo đảm 100% vùng sản xuất tập
trung có nguy cơ thiếu nước được rà soát khả năng cấp nước, cơ cấu cây trồng và
mùa vụ để bố trí sản xuất phù hợp với nguồn nước.
- Nâng cao năng lực tích trữ,
điều hòa và kết nối nguồn nước:
+ Tăng cường năng lực tích trữ,
điều hòa và phân phối nước giữa các vùng; ưu tiên công trình phục vụ địa bàn
thường xuyên thiếu nước, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng ven biển và hải
đảo.
+ Hoàn thành rà soát, chuẩn hóa
danh mục công trình xây mới, sửa chữa, nâng cấp và kết nối nguồn nước; xác định
quy mô, nhiệm vụ, nguồn cấp, nhu cầu vốn và tiến độ thực hiện đối với các công
trình ưu tiên đầu tư đến năm 2030.
- Bảo đảm an toàn đập, hồ chứa
và vùng hạ du
+ Cơ bản hoàn thành sửa chữa,
nâng cấp các đập, hồ chứa nước hư hỏng, xuống cấp, thiếu năng lực phòng, chống
lũ theo kế hoạch; ưu tiên công trình có nguy cơ mất an toàn cao. Bảo đảm các
công trình có nguy cơ mất an toàn được kiểm tra và thực hiện biện pháp bảo đảm
an toàn trước mùa mưa lũ.
+ Bảo đảm 100% đập, hồ chứa nước
thuộc đối tượng phải thực hiện các nội dung quản lý an toàn hồ đập theo quy
định.
+ Hoàn thành việc trang bị, tổ
chức quan trắc, giám sát vận hành, thông tin và cảnh báo đối với các công trình
thuộc diện bắt buộc; xây dựng, cập nhật bản đồ ngập lụt và phương án ứng phó
cho vùng hạ du theo quy định.
+ Bảo đảm 100% đập, hồ chứa nước
quan trọng đặc biệt, lớn và vừa có hồ sơ điện tử được cập nhật vào cơ sở dữ
liệu quản lý; ưu tiên giám sát, cảnh báo theo thời gian thực đối với công trình
có nguy cơ cao.
- Bảo vệ nguồn nước, nguồn sinh
thủy và môi trường nước:
+ Bảo đảm 100% nước thải từ các
khu công nghiệp, cụm công nghiệp và bệnh viện được xử lý đạt tiêu chuẩn kỹ
thuật về môi trường; tỷ lệ tái sử dụng nước thải ra môi trường đạt khoảng
65-70%.
+ Bảo đảm 100% nguồn nước thuộc
danh mục ưu tiên bảo vệ của Đề án được xác định biện pháp bảo vệ, kiểm soát
nguồn thải và theo dõi chất lượng nước; các nguồn nước bị ô nhiễm, suy thoái,
cạn kiệt nghiêm trọng được lập danh mục và xác định giải pháp phục hồi.
+ Tỷ lệ che phủ rừng đạt trên
46,2%; bảo vệ rừng đầu nguồn, vùng sinh thủy và khu vực bổ cập nước dưới đất.
b) Định hướng đến năm 2045
- Bảo đảm gần 100% dân cư đô thị
và trên 90% dân cư nông thôn được sử dụng nước sạch đạt quy chuẩn; chủ động
nguồn nước phục vụ sinh hoạt, sản xuất và phát triển kinh tế - xã hội.
- Hoàn thiện hệ thống thủy lợi
đa mục tiêu, bảo đảm cấp nước tưới chủ động cho gần 80-85% diện tích đất sản
xuất nông nghiệp; tỷ lệ diện tích tưới tiên tiến, tiết kiệm nước đạt trên 50%;
nâng cao hiệu quả và giá trị kinh tế trên một đơn vị nước sử dụng.
- Bảo đảm chủ động về kinh phí
nâng cấp, sửa chữa nhằm bảo đảm an toàn đập, hồ chứa nước và vùng hạ du; 100%
đập, hồ chứa nước quan trọng đặc biệt, lớn và các công trình có nguy cơ mất an
toàn cao được quản lý trên nền tảng số, tích hợp quan trắc, giám sát và cảnh
báo theo thời gian thực.
- Hoàn thiện hệ thống giám sát,
kết nối và chia sẻ dữ liệu về nguồn nước, khai thác, sử dụng nước và xả nước
thải theo quy định; ưu tiên các nguồn nước quan trọng, nguồn cấp nước sinh
hoạt. Kiểm soát ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt nguồn nước; từng bước phục hồi các
nguồn nước bị ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt nghiêm trọng; bảo vệ bền vững nguồn
sinh thủy.
- Hoàn thiện hệ thống tích trữ,
điều hòa và phân phối nước liên vùng, kết nối nguồn nước giữa các lưu vực phù
hợp với khả năng nguồn nước và yêu cầu bảo vệ hệ sinh thái; chủ động đáp ứng
nhu cầu sử dụng nước, phòng, chống hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn và thích
ứng với biến đổi khí hậu.
V. NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP TRỌNG
TÂM
1. Nhóm giải pháp phi công trình
a) Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo
của các cấp ủy, tổ chức Đảng; nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà
nước đối với công tác bảo đảm an ninh nguồn nước
- Bảo đảm an
ninh nguồn nước và an toàn đập, hồ chứa nước là yêu cầu tất yếu khách quan, là
trách nhiệm, nghĩa vụ của cả hệ thống chính trị và toàn dân; là nhiệm vụ trung
tâm, cấp bách, lâu dài, xuyên suốt từ chính quyền đến doanh nghiệp và người
dân. Quán triệt, tổ chức thực hiện nghiêm các nghị quyết, chiến lược, quy hoạch
của Trung ương, Chính phủ và của tỉnh có liên quan.
- Gắn trách
nhiệm người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp; phân công cấp ủy viên trực
tiếp phụ trách, cụ thể hóa vào kế hoạch công tác hằng năm. Nhất quán chủ trương
"không thu hút đầu tư bằng mọi giá, không đánh đổi môi trường vì lợi ích
kinh tế"; nguyên tắc "người gây ô nhiễm môi trường, người hưởng lợi
từ môi trường trong sạch phải trả tiền".
- Tăng cường
thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm vi phạm về nguồn nước, lấn chiếm phạm vi bảo
vệ công trình thủy lợi. Rà soát, tích hợp nhiệm vụ của ba tỉnh trước sáp nhập;
cập nhật đầu mối, cơ chế phối hợp phù hợp chính quyền địa phương hai cấp, bảo
đảm quản lý thống nhất, liên tục toàn tỉnh.
b) Xây dựng,
hoàn thiện, điều chỉnh, bổ sung các cơ chế, chính sách
- Rà soát, hoàn
thiện cơ chế, chính sách bảo đảm thống nhất quản lý, khắc phục chồng chéo giữa
các sở, ngành, địa phương, giảm thủ tục hành chính; khuyến khích đầu tư, quản
lý, vận hành hạ tầng ngành nước. Tiếp tục xây dựng, ban hành mức hỗ trợ đầu tư
thủy lợi nhỏ, tưới tiên tiến, tiết kiệm nước; giá dịch vụ thủy lợi theo cơ chế
thị trường, có lộ trình hỗ trợ hợp lý cho nông dân, hộ nghèo. Rà soát chính
sách hỗ trợ thủy lợi, cấp nước sạch của ba tỉnh trước sáp nhập, thống nhất,
điều chỉnh phù hợp từng địa bàn, ưu tiên vùng thiếu nước, đồng bào dân tộc
thiểu số và đặc khu Phú Quý. Hoàn thiện chính sách bảo vệ, trồng rừng đầu nguồn
tại các lưu vực hồ chứa lớn, đa chức năng. Kiện toàn bộ máy quản lý ngành nước
theo hướng thống nhất, tinh gọn; xây dựng tiêu chí lựa chọn nhà đầu tư công
nghệ cao, sử dụng hiệu quả tài nguyên nước.
c) Hoàn thiện
cơ chế quản lý, điều phối nguồn nước
- Tổ chức quản
lý tài nguyên nước thống nhất trên phạm vi toàn tỉnh, theo lưu vực sông, tiểu
lưu vực; khắc phục quản lý phân tán theo địa giới hành chính. Làm rõ trách
nhiệm, cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý tài nguyên nước, thủy lợi, thủy
điện, cấp nước và chính quyền địa phương. Đối với lưu vực liên tỉnh, tăng cường
phối hợp vận hành, điều hòa, phân phối nguồn nước, bảo đảm hài hòa lợi ích
thượng lưu - hạ lưu, giữa phát điện, cấp nước, tưới và phòng chống lũ. Xây dựng
cơ chế điều hành nguồn nước theo thứ tự ưu tiên, cao nhất cho nước sinh hoạt và
an sinh xã hội khi hạn hán, thiếu nước nghiêm trọng. Tăng cường điều phối nguồn
nước giữa vùng cao nguyên và ven biển; xác định nguồn cấp, vùng phục vụ và
trách nhiệm phối hợp theo từng hệ thống công trình.
d) Bảo vệ
và phát triển nguồn sinh thủy
- Tăng cường
bảo vệ rừng đầu nguồn, vùng sinh thủy, thực hiện có hiệu quả các dự án trồng
cây gây rừng, khu vực bổ cập nước dưới đất, hành lang bảo vệ nguồn nước. Kiểm
soát chặt chẽ các hoạt động gây suy giảm khả năng giữ nước tự nhiên, xói mòn,
bồi lắng hồ chứa. Rà soát các nguồn nước suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm để xây
dựng phương án bảo vệ, phục hồi; kiểm soát khai thác nước dưới đất tập trung
phù hợp khả năng bổ cập, hạn chế xâm nhập mặn, đặc biệt tại Phú Quý. Bảo đảm an
ninh nguồn nước phải được thực hiện đồng thời từ hai phía: bảo vệ, duy trì khả
năng cung cấp của nguồn nước và quản lý nhu cầu sử dụng nước. Cắm mốc, quản lý
hành lang bảo vệ nguồn nước; kiểm soát nguồn thải, ưu tiên nguồn cấp nước sinh
hoạt và các khu vực có nguy cơ ô nhiễm cao.
đ) Nâng
cao hiệu quả sử dụng nước
- Chuyển dần từ
tư duy chủ yếu tìm kiếm, bổ sung nguồn nước sang kết hợp chặt chẽ giữa phát
triển nguồn nước và quản lý nhu cầu sử dụng nước. Đẩy mạnh tưới tiên tiến, tiết
kiệm; điều chỉnh cơ cấu cây trồng, mùa vụ phù hợp khả năng nguồn nước từng khu
vực.
- Rà soát, giảm
thất thoát nước trên hệ thống kênh mương, mạng lưới cấp nước sinh hoạt. Hướng
dẫn, kiểm tra, đôn đốc các đơn vị cấp nước rà soát, lập và thực hiện nghiêm kế
hoạch cấp nước an toàn; bảo vệ nguồn cấp, kiểm soát chất lượng nước, xác định
nguồn cấp dự phòng và phương án duy trì cấp nước liên tục tại các hệ thống đô
thị và nông thôn khi xảy ra sự cố.
- Đổi mới mô
hình quản lý hạ tầng nước sạch nông thôn; định kỳ đánh giá, phân loại hiệu quả
hoạt động của các công trình tập trung; rà soát, lập phương án chuyển giao các
công trình hoạt động kém hiệu quả hoặc ngừng hoạt động cho Trung tâm Nước sạch
và Vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh hoặc các doanh nghiệp có đủ năng lực
chuyên môn để quản lý, vận hành bền vững.
- Khuyến khích
tuần hoàn, tái sử dụng nước; thực hiện kế hoạch cấp nước an toàn, kiểm soát
chất lượng và bảo đảm cấp nước liên tục tại các hệ thống đô thị, nông thôn.
Thúc đẩy sử dụng nước tiết kiệm, tuần hoàn và tái sử dụng nước sau xử lý trong
các khu công nghiệp; kiểm soát chất lượng nước theo mục đích sử dụng, giảm nhu
cầu khai thác nước và lượng nước thải ra môi trường.
e) Chủ động
phòng, chống hạn hán, thiếu nước và xâm nhập mặn: Xây dựng
phương án bảo đảm nguồn nước cho từng vùng, từng xã phường theo các cấp độ thiếu
nước; xác định trước nguồn chính, nguồn dự phòng, đối tượng ưu tiên. Hằng năm,
căn cứ dự báo khí tượng thủy văn, dung tích hồ chứa, xây dựng kế hoạch sử dụng
nước mùa khô và phương án ứng phó hạn hán. Chủ động bố trí nguồn dự phòng, tăng
khả năng trữ nước tại chỗ cho khu vực thường xuyên khô hạn, ven biển. Đối với
đặc khu Phú Quý, bảo đảm nước sinh hoạt và sản xuất khi hạn kéo dài; quản lý
chặt chẽ khai thác nước dưới đất, hướng dẫn thu trữ, sử dụng nước mưa an toàn.
g) Nâng cao
hiệu quả quản lý, vận hành hồ chứa:
- Lập, rà soát
cập nhật quy trình vận hành các hồ chứa thủy lợi, thủy điện nhằm bảo đảm an
toàn công trình, vùng hạ du, vừa nâng cao khả năng tích trữ, điều tiết, cấp
nước; tăng cường phối hợp vận hành giữa các hồ cùng hệ thống sông và giữa hồ
thủy lợi với hồ thủy điện. Đẩy nhanh tiến độ và bảo đảm chất lượng thực hiện
các nội dung quản lý an toàn đập, hồ chứa nước
- An ninh nguồn
nước và an toàn đập, hồ chứa phải được xem xét trong một hệ thống thống nhất;
việc nâng cao khả năng trữ, điều tiết phải đồng thời bảo đảm an toàn công
trình, khai thác tổng hợp, đa mục tiêu. Rà soát nhiệm vụ bảo đảm an toàn đến
từng đập, hồ chứa, chú trọng hồ nhỏ, công trình có khu dân cư ở hạ du.
h) Chú trọng
nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ
- Điều tra,
kiểm kê, cập nhật nguồn nước, nhu cầu sử dụng nước, cân bằng nước và phân vùng
cấp độ an ninh nguồn nước làm cơ sở điều hành, xác định ưu tiên đầu tư. Xây
dựng hệ thống cơ sở dữ liệu thống nhất toàn tỉnh, kế thừa dữ liệu ba tỉnh trước
sáp nhập; phát triển bản đồ trực tuyến phục vụ cảnh báo rủi ro. Phân công trách
nhiệm cập nhật, chia sẻ và vận hành cơ sở dữ liệu.
- Tăng cường
phát triển mạng lưới quan trắc khí tượng thủy văn, tài nguyên nước; ứng dụng
GIS, mô hình thủy văn, mô hình cân bằng nước, hệ thống hỗ trợ ra quyết định.
Nghiên cứu công nghệ tưới tiết kiệm, tưới thông minh; hiện đại hóa quan trắc,
giám sát, cảnh báo an toàn đối với đập, hồ chứa quan trọng.
i) Đẩy mạnh
hợp tác khu vực và quốc tế: Chủ động mở rộng hợp tác quốc tế
về an ninh nguồn nước, an toàn đập, hồ chứa, tập trung phòng chống thiên tai liên
quan đến nước, dự báo, giám sát, đào tạo, chuyển giao công nghệ. Huy động, sử
dụng hiệu quả nguồn tài trợ quốc tế; kêu gọi vốn vay ưu đãi để đầu tư, nâng cấp
công trình cấp nước. Tăng cường hội nhập quốc tế về lâm nghiệp, thu hút vốn FDI
và thương mại các-bon rừng (REDD+).
k) Nâng cao
chất lượng và đa dạng hóa các hoạt động truyền thông, giáo dục; phát huy vai
trò giám sát, phản biện của Mặt trận Tổ quốc và các Tổ chức
chính trị - xã hội:
- Tuyên truyền,
phổ biến, giáo dục pháp luật nâng cao nhận thức, sự tham gia của các cấp lãnh
đạo và người dân về bảo đảm an ninh nguồn nước; khuyến khích người dân sử dụng
nước tiết kiệm, hiệu quả. Đổi mới nội dung, phương thức tuyên truyền, kết hợp
truyền thống với mạng xã hội; lồng ghép an ninh nguồn nước vào chương trình
giảng dạy; coi trọng cảnh báo thường xuyên nguy cơ mất an ninh nguồn nước đến
từng hộ gia đình.
- Phát huy sức
mạnh của cả hệ thống chính trị trong công tác truyền thông và vai trò giám sát,
phản biện của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, lấy người dân,
doanh nghiệp làm trọng tâm.
l) Về giám sát, đánh giá kết quả
thực hiện Đề án và tiếp tục làm rõ nội hàm an ninh nguồn nước trong tình hình
mới: Tiếp tục nghiên cứu, cập nhật nội hàm, khái niệm an ninh nguồn nước, an
toàn đập, hồ chứa nước phù hợp thực tiễn qua từng giai đoạn. Xây dựng bộ chỉ số
nền, khung chỉ tiêu giám sát; thực hiện báo cáo thường niên; sơ kết giữa kỳ năm
2028, tổng kết giai đoạn năm 2030, sơ kết các năm 2035, 2040 và tổng kết toàn
Đề án năm 2045.
Chi tiết xem tại Phụ lục 6
Báo cáo tổng hợp Đề án kèm theo.
2. Nhóm giải pháp công trình
a) Sửa chữa, nâng cấp công trình hiện có: Hằng năm,
tổ chức rà soát, đánh giá hiện trạng, mức độ an toàn và nhu cầu sửa chữa, nâng
cấp các công trình thủy lợi. Trên cơ sở kết quả đánh giá, các công trình được
phân thành 03 mức độ ưu tiên để lập danh mục, xác định tiến độ và bố trí nguồn
vốn đầu tư. Thứ tự ưu tiên được xem xét theo mức độ nguy hiểm của hư hỏng, quy
mô công trình, khả năng bảo đảm an toàn vận hành, phạm vi ảnh hưởng đối với
vùng hạ du và vai trò của công trình trong cấp nước, phòng, chống hạn, cắt giảm
lũ. Việc sửa chữa, nâng cấp phải bảo đảm xử lý đồng bộ các hạng mục hư hỏng,
khôi phục năng lực thiết kế và nâng cao hiệu quả khai thác; thực hiện nạo vét,
khôi phục hoặc nâng dung tích hữu ích khi đáp ứng yêu cầu kỹ thuật, môi trường
và hiệu quả đầu tư.
- Ưu tiên 1: Các công trình có nguy cơ mất an toàn
cao, nhất là công trình quy mô lớn hoặc có khu dân cư, cơ sở hạ tầng quan trọng
ở vùng hạ du; công trình bị hư hỏng nghiêm trọng tại các hạng mục đầu mối như
đập, tràn xả lũ, cống lấy nước và thiết bị vận hành. Tập trung xử lý sớm các
hiện tượng thấm mạnh, rò rỉ, sạt trượt, xói lở, lún sụt, nứt, biến dạng hoặc
thiết bị không vận hành được.
- Ưu tiên 2: Các công trình có hư hỏng, xuống cấp
ảnh hưởng đến mức độ an toàn, năng lực tích trữ, điều tiết và khả năng vận hành
nhưng chưa ở mức nghiêm trọng như nhóm Ưu tiên 1. Các công trình thuộc nhóm này
cần tiếp tục được theo dõi, kiểm tra và bố trí sửa chữa, nâng cấp trong giai
đoạn tiếp theo, tránh để hư hỏng phát triển thành nguy cơ mất an toàn.
- Ưu tiên 3: Các công trình có hư hỏng nhẹ, cục bộ;
chủ yếu bị bồi lắng lòng hồ, bong tróc bề mặt, xuống cấp đường quản lý hoặc hư
hỏng các hạng mục phụ trợ, chưa ảnh hưởng đáng kể đến an toàn tổng thể và khả
năng vận hành. Việc sửa chữa, nạo vét, bảo trì và duy tu được thực hiện theo kế
hoạch hằng năm, phù hợp với mức độ hư hỏng và khả năng cân đối nguồn lực.
- Nguồn vốn thực hiện: Ngân sách trung ương, ngân
sách địa phương và các nguồn vốn hợp pháp khác. Trong quá trình triển khai, căn
cứ mức độ cấp thiết, thứ tự ưu tiên, cơ cấu nguồn vốn, khả năng cân đối và điều
kiện thực tế để bố trí vốn phù hợp cho từng công trình; bảo đảm đầu tư tập
trung, đồng bộ, đúng mục tiêu và phát huy hiệu quả sau đầu tư.
Chi tiết xem tại các Phụ lục 7, Phụ lục
8, Phụ lục 9 của Báo cáo tổng hợp Đề án kèm theo.
b) Hoàn thiện
hệ thống dẫn và phân phối nước: Đầu tư khép kín, hoàn chỉnh hệ thống kênh
mương, đường ống, công trình điều tiết và đo đếm; ưu tiên hệ thống chưa phát
huy hết năng lực, giảm tổn thất, nâng cao khả năng điều hòa, phân phối nước.
c) Đầu tư công
trình tạo nguồn, bảo vệ và trữ nước nhằm đảm bảo ANNN: Rà soát, nghiên cứu
xây dựng mới đập, hồ chứa, trạm bơm và công trình điều tiết tại vùng thường
xuyên hạn hán, thiếu nước, ngập lụt để tích trữ, cấp nước, cắt giảm lũ; kết hợp
tạo nguồn cấp nước cho các khu công nghiệp theo quy hoạch. Ưu tiên công trình
bảo vệ, kiểm soát nguồn nước và trữ nước phân tán quy mô nhỏ, hộ gia đình tại vùng
đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, ven biển, hải đảo; lựa chọn hình thức phù hợp
địa hình, bảo đảm an toàn, hiệu quả và chi phí hợp lý.
Chi tiết xem tại Phụ lục 10 của Báo cáo
tổng hợp Đề án kèm theo.
d) Kết nối và
chuyển nước: Hoàn thiện các hệ thống kết nối nguồn nước hiện có; nghiên cứu đầu
tư tuyến chuyển nước giữa các hồ chứa, hệ thống công trình và vùng thiếu nước,
bảo đảm khả năng nguồn nước, dòng chảy tối thiểu và nhu cầu sử dụng nước hạ du.
Kết nối nguồn nước với các nhà máy nước và hệ thống cấp nước khu công nghiệp,
nâng cao khả năng hỗ trợ cấp nước khi xảy ra thiếu hụt hoặc sự cố.
đ) Khai thác,
chuyển và trữ nước từ công trình thủy điện: Nghiên cứu đầu tư công trình lấy
nước từ hồ chứa thủy điện hoặc nguồn nước xả sau đập, sau nhà máy; kết hợp trạm
bơm động lực, đường ống dẫn nước và hồ chứa xây mới để tích trữ, cấp nước phục
vụ sinh hoạt, sản xuất trong mùa kiệt. Lựa chọn phương án phù hợp khả năng
nguồn nước, điều kiện địa hình, bảo đảm an toàn công trình, dòng chảy tối
thiểu, nhu cầu sử dụng nước hạ du và hiệu quả đầu tư, vận hành.
e) Đầu tư, nâng
cấp công trình cấp, thoát nước phục vụ sinh hoạt và sản xuất: Xây dựng, sửa
chữa, nâng cấp công trình cấp, thoát nước đô thị, nông thôn; ưu tiên khu vực
chịu ảnh hưởng thiên tai, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và đặc khu Phú Quý. Bổ
sung nguồn nước thô dự phòng, kết nối liên thông các hệ thống cấp nước, giảm
thất thoát nước sạch. Rà soát toàn bộ các công trình cấp nước sinh hoạt nông
thôn hoạt động kém hiệu quả hoặc không hoạt động để bố trí kinh phí sửa chữa,
nâng cấp, kết nối mở rộng tuyến ống từ các nhà máy nước lớn tập trung hoặc thay
thế bằng giải pháp cấp nước phù hợp. Đối với các khu công nghiệp, đầu tư đồng
bộ công trình khai thác, xử lý, truyền dẫn và dự trữ nước, ưu tiên nguồn nước
mặt; kết nối với hệ thống cấp nước khu vực, bố trí nguồn dự phòng phù hợp nhu
cầu và tiến độ phát triển từng khu công nghiệp. Đầu tư hạ tầng thu gom, xử lý,
tuần hoàn và tái sử dụng nước trong khu công nghiệp, bảo đảm chất lượng nước
phù hợp mục đích sử dụng.
Chi tiết xem tại Phụ lục 11, Phụ lục 12,
Phụ lục 13, Phụ lục 14 của Báo cáo tổng hợp Đề án kèm theo.
VI. DỰ KIẾN KINH PHÍ THỰC HIỆN
Nguồn vốn thực hiện Đề án được huy động từ nhiều
nguồn: Ngân sách Trung ương, ngân sách địa phương, vốn của các thành phần kinh
tế trong nước, vốn đầu tư và tài trợ từ nước ngoài như sau:
1. Nguồn ngân sách nhà nước (Trung
ương và địa phương) cấp hằng năm theo phân cấp ngân sách nhà nước hiện hành, là
nguồn lực nòng cốt cho hạ tầng chiến lược, công trình có nguy cơ mất an toàn cao,
điều tra cơ bản, quy hoạch, cảnh báo thiên tai và chính sách hỗ trợ giá nước
cho vùng khó khăn; bố trí riêng kinh phí cho nhiệm vụ bảo đảm an ninh, trật tự,
an ninh kinh tế.
2. Nguồn vốn lồng ghép trong các chương trình mục
tiêu quốc gia, chương trình, kế hoạch, đề án, dự án khác có liên quan; đối với
nhiệm vụ đã rõ chủ trương, lồng ghép ngay vào kế hoạch đầu tư công hằng năm và
trung hạn, không chờ chương trình, đề án liên quan được phê duyệt.
3. Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức, vốn vay
ưu đãi nước ngoài và hỗ trợ kỹ thuật quốc tế, ưu tiên cho chương trình, dự án
quy mô lớn, kỹ thuật phức tạp, nhất là thích ứng biến đổi khí hậu và phục hồi
sinh thái lưu vực sông.
4. Nguồn vốn huy động của các thành phần kinh tế trong
và ngoài nước theo phương thức đối tác công tư, xã hội hóa; nguồn thu từ khai
thác tài sản kết cấu hạ tầng thủy lợi và giá dịch vụ ngành nước theo nguyên tắc
tính đúng, tính đủ chi phí; khuyến khích tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước
tham gia đầu tư kết cấu hạ tầng, nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ;
nghiên cứu, thí điểm trước khi nhân rộng các công cụ tài chính mới.
Khi triển khai thực hiện tùy thuộc vào cơ cấu nguồn
vốn, khả năng phân bổ vốn... sẽ bố trí phù hợp để triển khai thực hiện.
Tổng nhu cầu vốn dự kiến để thực hiện
các chương trình, nhiệm vụ và công trình bảo đảm an ninh nguồn nước và an toàn
đập, hồ chứa nước xem chi tiết tại các phụ lục đính kèm có liên quan.
VII.
TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1. Phân công trách nhiệm
a) Sở Nông nghiệp và Môi trường
- Chủ trì, phối hợp với các
sở, ngành và địa phương tổ chức thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp tại Đề án;
định kỳ sơ kết, tổng kết, báo cáo và tổng hợp đề xuất, kiến nghị điều chỉnh Đề
án về UBND tỉnh.
- Tổ chức điều
tra, kiểm kê, quan trắc, giám sát, cập nhật cơ sở dữ liệu tài nguyên nước; thực hiện phương án điều hòa, phân phối nguồn nước,
chủ động ứng phó hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn.
- Tăng cường quản
lý an toàn đập, hồ chứa thủy lợi; kiểm tra vận hành, bảo vệ công trình và cấp
nước sạch nông thôn theo phân cấp.
- Triển khai các quy
hoạch liên quan đến phòng, chống thiên tai, thủy lợi, tài nguyên nước, lưu vực sông
và các quy hoạch chuyên ngành liên quan theo chức năng, nhiệm vụ.
- Thực hiện cấp
phép tài nguyên nước, giấy phép môi trường theo thẩm quyền; kiểm soát nguồn
thải, bảo vệ, phục hồi nguồn nước và rừng đầu nguồn; xử lý vi phạm theo quy
định. Tổng hợp danh mục nhiệm vụ, dự án, nhu cầu kinh phí thực hiện Đề án, gửi
Sở Tài chính tham mưu cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.
- Thực hiện tốt
nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với công trình cấp nước sinh hoạt nông thôn, bảo
đảm các công trình hoạt động ổn định, hiệu quả; tăng cường thực hiện công tác
quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.
b) Công an tỉnh
- Chủ trì, phối
hợp với các cơ quan, đơn vị, địa phương có liên quan nắm tình hình, nhận diện,
đánh giá, cảnh báo các nguy cơ ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội
liên quan đến an ninh nguồn nước, an toàn đập, hồ chứa nước; kịp thời tham mưu
xử lý các vấn đề phức tạp phát sinh.
- Phối hợp kiểm
tra, phát hiện, xử lý theo thẩm quyền các hành vi vi phạm pháp luật có nguy cơ
gây mất an ninh, trật tự, an toàn công trình hoặc có dấu hiệu tội phạm; tập
trung vào các hành vi phá hoại, xâm phạm công trình, khai thác tài nguyên trái
phép, gây ô nhiễm nguồn nước, lấn chiếm hành lang bảo vệ công trình và các hành
vi khác theo quy định của pháp luật.
- Phối hợp xây
dựng, triển khai phương án bảo đảm an ninh, trật tự, bảo vệ người và tài sản,
bảo vệ hiện trường, hỗ trợ sơ tán dân và xử lý các tình huống phát sinh khi xảy
ra sự cố đập, hồ chứa, nguồn nước.
c) Sở Xây dựng:
Rà soát, lồng ghép các yêu cầu về cấp nước sạch, cấp nước an
toàn, thoát nước, xử lý nước thải và giảm ngập trong quá trình thẩm định quy hoạch
đô thị, nông thôn và quy hoạch hạ tầng kỹ thuật thuộc thẩm quyền. Chủ trì tham
mưu, hướng dẫn, kiểm tra theo thẩm quyền các chương trình, kế hoạch, nhiệm vụ
về cấp nước sạch (trừ cấp nước sạch nông thôn), thoát nước và xử lý nước thải
(trừ xử lý nước thải tại chỗ; thoát nước phục vụ sản xuất nông nghiệp, sản xuất
muối). Phối hợp với Sở Nông nghiệp và Môi trường, UBND cấp xã và các cơ quan, đơn
vị liên quan rà soát tính đồng bộ, khả năng kết nối tiêu thoát giữa hệ thống
thoát nước thuộc phạm vi quản lý với công trình thủy lợi, sông, suối. Kiểm tra,
xử lý theo thẩm quyền các bất cập của công trình giao thông gây cản trở dòng
chảy, thoát lũ; phối hợp bảo đảm đồng bộ hạ tầng giao thông, thủy lợi và thoát
nước.
d) Sở Tài
chính: Chủ trì, phối hợp Sở Nông nghiệp và Môi trường tham mưu cấp
có thẩm quyền cân đối, bố trí vốn đầu tư công và kinh phí chi thường xuyên thực
hiện Đề án theo quy định; ưu tiên các nhiệm vụ, công trình cấp bách, trong đó
có xử lý đập, hồ chứa thủy lợi xung yếu và bảo đảm an toàn đập, hồ chứa, phù hợp
khả năng cân đối ngân sách, đúng quy định của Luật Đầu tư công, Luật Ngân sách
nhà nước và pháp luật liên quan. Rà soát sự phù hợp của các nhiệm vụ, dự án với
Quy hoạch tỉnh và kế hoạch đầu tư công, kịp thời tham mưu cập nhật, điều chỉnh
theo quy định. Phối hợp huy động các nguồn vốn hợp pháp; hướng dẫn, kiểm tra
việc quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí thực hiện Đề án theo quy định.
đ) Sở Công Thương: Chủ trì kiểm tra, đôn đốc quản lý an toàn đập,
hồ chứa thủy điện, quy trình vận hành hồ chứa, phương án bảo vệ đập, hồ chứa
thuỷ điện và phương án ứng phó với tình huống khẩn cấp theo thẩm quyền. Phối
hợp Sở Nông nghiệp và Môi trường trong việc điều tiết nguồn nước từ hồ thủy
điện phục vụ sản xuất, sinh hoạt, bảo đảm an toàn hạ du. Phối hợp, hướng dẫn,
kiểm tra sử dụng nước tiết kiệm, tuần hoàn, tái sử dụng nước và bảo vệ môi trường
trong sản xuất công nghiệp, cụm công nghiệp theo phân công, phân cấp.
e) Sở Khoa học
và Công nghệ: Chủ trì, phối hợp các sở, ngành liên quan xây dựng
giải pháp và tổ chức thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ phục vụ bảo đảm an
ninh nguồn nước và an toàn đập, hồ chứa nước. Đẩy mạnh ứng dụng, chuyển giao
công nghệ, chuyển đổi số, chia sẻ dữ liệu phục vụ quan trắc, dự báo, sử dụng
nước tiết kiệm, xử lý nước và vận hành an toàn công trình.
g) Sở Ngoại vụ:
Chủ trì thực hiện công tác ngoại giao, hợp tác về nguồn nước với các quốc gia,
các tổ chức quốc tế. Huy động nguồn vốn đầu tư quốc tế thực hiện các nhiệm vụ
của Đề án.
h) Ban Quản lý
các khu công nghiệp: Rà soát nhu cầu, phối hợp bảo đảm nguồn cấp
nước cho các khu công nghiệp thuộc phạm vi quản lý. Tăng cường giám sát hoạt
động xử lý, xả nước thải sau xử lý vào nguồn nước; đôn đốc chủ đầu tư hạ tầng khu
công nghiệp khẩn trương xây dựng, vận hành hiệu quả công trình xử lý nước thải
tập trung.
i) Đài Khí tượng
thủy văn tỉnh: Tăng cường quan trắc, dự báo, cảnh báo mưa, lũ,
hạn hán; cung cấp kịp thời thông tin, số liệu khí tượng thủy văn phục vụ điều
hòa, phân phối nước, vận hành hồ chứa và phòng, chống thiên tai theo chức năng,
nhiệm vụ được giao.
k) Ban Quản lý dự
án đầu tư xây dựng số 1, số 2, số 3: Thực hiện công tác quản lý dự án bảo đảm
tiến độ, chất lượng theo quy định. Đề xuất bổ sung, loại bỏ danh mục dự án đầu
tư phù hợp với thực tế quá trình triển khai Đề án.
l) Trung tâm
Thông tin và Hội nghị, các cơ quan thông tấn, báo chí: Tăng cường
tuyên truyền thực hiện Đề án, bảo vệ nguồn nước, sử dụng nước tiết kiệm, bảo
đảm an toàn đập, hồ chứa nước; truyền tải kịp thời thông tin dự báo, cảnh báo
thiên tai, thiếu nước và sự cố công trình.
m) Các sở,
ban, ngành khác có liên quan: Thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ
theo thẩm quyền được giao, phối hợp với Sở Nông nghiệp và Môi trường trong tổ
chức thực hiện Đề án, kịp thời tham mưu, đề xuất báo cáo UBND tỉnh về những vấn
đề liên quan chuyên ngành của mình, giải quyết các vướng mắc để thực hiện Đề án
có hiệu quả.
n) Các đơn vị quản
lý, khai thác, vận hành công trình cấp nước: Tăng cường kiểm tra hiện trạng,
xây dựng kế hoạch, chủ động bố trí kinh phí thực hiện nâng cấp, sửa chữa bảo
đảm các công trình hoạt động bền vững, hiệu quả. Xử lý trong thẩm quyền các
hành vi vi phạm hành lang an toàn, ảnh hưởng công tác vận hành các công trình
theo quy định hiện hành.
o) Tổ chức, cá
nhân khai thác, sử dụng nước và xả nước thải vào nguồn nước: Xây dựng
kế hoạch khai thác, sử dụng nước hàng năm; sử dụng nước đúng mục đích, tiết
kiệm, an toàn, hiệu quả; bảo vệ tài nguyên nước, phòng, chống và khắc phục hậu
quả tác hại do nước gây ra theo quy định của pháp luật; cung cấp thông tin, số
liệu liên quan đến khai thác, sử dụng tài nguyên nước theo yêu cầu của cơ quan
nhà nước có thẩm quyền; tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động nghiên cứu
khoa học được Nhà nước cho phép; áp dụng khoa học công nghệ trong khai thác, sử
dụng nước tiết kiệm, hiệu quả, giảm thất thoát tài nguyên nước; xử lý nước thải
đạt tiêu chuẩn theo mục tiêu chất lượng nước trước khi xả vào nguồn nước, tái
sử dụng nguồn nước sau xử lý.
p) Ủy ban
nhân dân các xã, phường, đặc khu Phú Quý
- Trong phạm vi
nhiệm vụ, quyền hạn có trách nhiệm thực hiện các biện pháp bảo vệ tài nguyên
nước tại địa phương
- Chủ động xây
dựng kế hoạch, lộ trình đầu tư, nâng cấp công trình theo nhiệm vụ Đề án; lồng
ghép các nguồn vốn đầu tư phát triển và các nguồn vốn hợp pháp khác do xã,
phường quản lý phù hợp với khả năng cân đối của địa phương.
- Lồng ghép, tích hợp các nhiệm vụ
thực hiện Đề án vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; tổ
chức thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật về quản lý an toàn đập, hồ
chứa nước; bố trí đủ nguồn lực cho sửa chữa, nâng cấp các đập, hồ chứa hư hỏng,
xuống cấp và thực hiện quản lý an toàn đập, hồ chứa thủy lợi theo thẩm quyền.
- Bố trí kinh phí hàng năm cho kiểm
tra, đánh giá an toàn đập, hồ chứa nước, kiểm tra, giám sát chất lượng nước
sinh hoạt và bảo vệ hành lang công trình thủy lợi trên địa bàn theo quy định;
kịp thời phát hiện và đề xuất giải pháp xử lý các nguy cơ gây mất an ninh nguồn
nước và an toàn đập, hồ chứa nước theo thẩm quyền.
- Tăng cường tuyên truyền, nâng cao
nhận thức của người dân về sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả, bảo vệ an ninh
nguồn nước và chủ động ứng phó với thiên tai liên quan đến nước.
2. Chế độ báo cáo
a) Các Sở, ban, ngành; UBND các
xã, phường, đặc khu Phú Quý và các đơn vị có liên quan căn cứ chức năng, nhiệm
vụ được giao triển khai thực hiện các nhiệm vụ, nội dung của Đề án đã được phân
công. Định kỳ đến trước ngày 15 tháng 12 hàng năm, gửi báo cáo kết quả thực
hiện về Sở Nông nghiệp và Môi trường để tổng hợp, báo cáo UBND tỉnh theo quy
định.
b) Giao Sở Nông nghiệp và Môi
trường định kỳ tổng hợp, đánh giá kết quả thực hiện và xây dựng báo cáo gửi
UBND tỉnh, Bộ Nông nghiệp và Môi trường về tình hình, kết quả, triển khai thực
hiện Đề án hàng năm và sơ kết, tổng kết theo từng giai đoạn và cấp có thẩm
quyền./.