|
ỦY BAN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 63/KH-UBND
|
Thành phố Hồ Chí
Minh, ngày 27 tháng 8 năm 2025
|
KẾ HOẠCH
THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT SỐ 66-NQ/TW NGÀY 30 THÁNG 4 NĂM 2025 CỦA
BỘ CHÍNH TRỊ VỀ ĐỔI MỚI CÔNG TÁC XÂY DỰNG VÀ THI HÀNH PHÁP LUẬT ĐÁP ỨNG YÊU CẦU
PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC TRONG KỶ NGUYÊN MỚI VÀ NGHỊ QUYẾT SỐ 140/NQ-CP NGÀY 17
THÁNG 5 NĂM 2025 CỦA CHÍNH PHỦ VỀ CHƯƠNG TRÌNH HÀNH ĐỘNG CỦA CHÍNH PHỦ THỰC HIỆN
NGHỊ QUYẾT SỐ 66-NQ/TW NGÀY 30 THÁNG 4 NĂM 2025 CỦA BỘ CHÍNH TRỊ
Căn cứ Nghị quyết số 66-NQ/TW
ngày 30 tháng 4 năm 2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi
hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Căn cứ Nghị quyết số 140/NQ-CP
ngày 17 tháng 5 năm 2025 của Chính phủ về Chương trình hành động của Chính phủ
thực hiện Nghị quyết số 66- NQ/TW ngày 30 tháng 4 năm 2025 của Bộ Chính trị.
Căn cứ Chương trình hành động số
01-CTrHĐ/TU ngày 07 tháng 8 năm 2025 của Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện
Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30 tháng 4 năm 2025 của Bộ Chính trị về đổi mới
công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước
trong kỷ nguyên mới.
Ủy ban nhân dân Thành phố ban
hành Kế hoạch thực hiện Nghị quyết số 66-NQ/TW của Bộ Chính trị, Nghị quyết số
140/NQ-CP của Chính phủ và Chương trình hành động số 01-CTrHĐ/TU của Thành ủy với
những nội dung sau:
I. MỤC ĐÍCH,
YÊU CẦU
1. Tổ chức thể chế hóa và thực
hiện đầy đủ các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp đã đề ra trong Nghị
quyết số 66-NQ/TW của Bộ Chính trị, Nghị quyết số 140/NQ-CP của Chính phủ và
Chương trình hành động số 01- CTrHĐ/TU của Thành ủy Thành phố.
2. Xây dựng hệ thống văn bản
quy phạm pháp luật của Thành phố đến năm 2030 đồng bộ, thống nhất, công khai,
minh bạch, khả thi với cơ chế tổ chức thực hiện nghiêm minh, nhất quán, bảo đảm
cơ sở pháp lý cho hoạt động bình thường, liên tục, thông suốt của các cơ quan
sau sắp xếp tổ chức bộ máy, tháo gỡ vướng mắc phát sinh từ thực tiễn, mở đường
cho kiến tạo phát triển, huy động mọi người dân và doanh nghiệp để góp phần
phát triển kinh tế - xã hội. Đến năm 2027, hoàn thành việc sửa đổi, bổ sung,
ban hành mới văn bản quy phạm pháp luật đảm bảo cơ sở pháp lý đồng bộ cho hoạt
động của bộ máy nhà nước theo mô hình chính quyền hai cấp tại địa phương.
3. Việc cụ thể hóa mục tiêu xây
dựng hệ thống pháp luật phải đảm bảo dân chủ, công bằng, đồng bộ, thống nhất,
công khai, minh bạch, khả thi với cơ chế tổ chức thực hiện nghiêm minh, nhất
quán, bảo đảm cơ sở pháp lý cho hoạt động bình thường, liên tục, thông suốt của
các cơ quan sau sắp xếp tổ chức bộ máy và tháo gỡ vướng mắc phát sinh từ thực
tiễn.
II. NHIỆM VỤ
CỤ THỂ
1. Bảo đảm
sự lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng trong công tác xây dựng pháp luật,
phát huy cao độ tính Đảng trong xây dựng và thi hành pháp luật
a) Tham dự Hội nghị toàn quốc
nghiên cứu, quán triệt Nghị quyết số 66- NQ/TW theo chỉ đạo của
cấp có thẩm quyền.
b) Tuyên truyền thường xuyên,
sâu rộng về nội dung Nghị quyết số 66- NQ/TW theo hướng: đa
dạng hóa các hình thức truyền thông qua báo chí, phát thanh, truyền hình, các nền
tảng số, mạng xã hội và các phương tiện điện tử khác; cụ thể hóa nội dung tuyên
truyền cho từng nhóm đối tượng người dân, doanh nghiệp, chính quyền các cấp.
c) Xây dựng, ban hành và chỉ đạo
thực hiện Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 66-NQ/TW; Nghị quyết số
140/NQ-CP và Kế hoạch này; thực hiện các quy định bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện,
trực tiếp của các cấp ủy đảng đối với việc thể chế hoá chủ trương, đường lối của
Đảng thành pháp luật và tăng cường kiểm tra, giám sát công tác này; lãnh đạo,
chỉ đạo đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức gương mẫu, đi đầu trong
chấp hành và tuân thủ pháp luật, lan tỏa tinh thần thượng tôn Hiến pháp, pháp luật.
d) Xác định xây dựng, hoàn thiện
thể chế, pháp luật và kiểm tra, giám sát việc tổ chức thi hành pháp luật là nhiệm
vụ trọng tâm, xuyên suốt, thường xuyên.
đ) Thực hiện nghiêm kỷ cương, kỷ
luật, các quy định về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, lãng phí,
tiêu cực, “lợi ích nhóm” trong xây dựng và thi hành pháp luật.
e) Trong phân công nhiệm vụ,
người đứng đầu cơ quan đơn vị phải trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo công tác xây dựng
pháp luật, chịu trách nhiệm chính về chất lượng chính sách, pháp luật thuộc
lĩnh vực quản lý của đơn vị mình; gắn với công tác đánh giá, khen thưởng, sử dụng
cán bộ, công chức và có chế tài, biện pháp xử lý đối với người không thực hiện
đầy đủ trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo công tác xây dựng pháp luật.
g) Chủ động rà soát quy hoạch
và kiện toàn cơ cấu lãnh đạo, bảo đảm các sở, ban, ngành Thành phố có ít nhất một
lãnh đạo có chuyên môn pháp luật; điều động, luân chuyển cán bộ, công chức của
ngành Tư pháp đi địa phương và làm việc ở sở, ban, ngành Thành phố để bổ sung
kinh nghiệm thực tiễn.
2. Đổi mới
tư duy, định hướng xây dựng pháp luật theo hướng vừa bảo đảm yêu cầu quản lý
nhà nước, vừa khuyến khích sáng tạo, giải phóng toàn bộ sức sản xuất, khơi
thông mọi nguồn lực phát triển
a) Bảo đảm công tác xây dựng
pháp luật phải thể chế hóa đầy đủ, đúng đắn, kịp thời chủ trương, đường lối của
Đảng; xuất phát từ lợi ích toàn cục của đất nước; đưa thể chế, pháp luật trở
thành lợi thế cạnh tranh; dứt khoát từ bỏ tư duy “không quản được thì cấm”;
phát huy dân chủ, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ hiệu quả quyền con người, quyền
công dân; bảo đảm sự cân đối, hợp lý giữa mức độ hạn chế quyền với lợi ích
chính đáng đạt được. Khi thực hiện nhiệm vụ xây dựng pháp luật, phải có giải
pháp để bảo đảm các quy định của luật mang tính ổn định, đơn giản, dễ thực hiện,
lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm. Phát huy đúng mức vai trò của đạo đức
xã hội, các quy tắc đạo đức nghề nghiệp, quy tắc tự quản cộng đồng trong điều
chỉnh các quan hệ xã hội.
b) Coi trọng, chủ động nghiên cứu
chiến lược, chính sách từ sớm, từ thực tiễn, từ kinh nghiệm của của bộ, ngành
Trung ương, các tỉnh, thành phố khác, góp phần tăng cường tính dự báo và nâng
cao chất lượng công tác xây dựng chính sách, pháp luật.
c) Thực hiện nghiêm quy định của
Luật Ban hành văn bản quy phạm
pháp luật; từng bước thực
hiện soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật tập trung, chuyên nghiệp. Các hoạt động
tổng kết, khảo sát thực tiễn, nghiên cứu kinh nghiệm, đánh giá tác động chính
sách, lựa chọn chính sách phải được thực hiện kỹ lưỡng, thực chất, khoa học. Chủ
động đẩy mạnh truyền thông chính sách, nhất là các chính sách có tác động lớn đến
xã hội, người dân, doanh nghiệp. Thực hiện nghiêm túc cơ chế tiếp thu, giải
trình ý kiến góp ý của các đối tượng chịu sự tác động; không đẩy khó khăn cho
người dân, doanh nghiệp trong thiết kế chính sách và xây dựng pháp luật.
d) Trong phạm vi chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn của mình, xây dựng hoặc tham gia xây dựng và hoàn thiện pháp luật
về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa theo hướng xây dựng môi trường
pháp lý thuận lợi, thông thoáng, minh bạch, an toàn, chi phí tuân thủ thấp; triệt
để cắt giảm, đơn giản hoá điều kiện đầu tư, kinh doanh, hành nghề, thủ tục hành
chính bất hợp lý; thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo, cải thiện môi trường đầu tư,
kinh doanh ổn định; triển khai hiệu quả nhiệm vụ, giải pháp đẩy mạnh cải cách,
hoàn thiện, nâng cao chất lượng thể chế, chính sách, bảo đảm và bảo vệ hữu hiệu
quyền sở hữu, quyền tài sản, quyền tự do kinh doanh, quyền cạnh tranh bình đẳng
của kinh tế tư nhân và bảo đảm quyền thực thi hợp đồng của kinh tế tư nhân theo
yêu cầu của Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04 tháng 5 năm 2025 của Bộ Chính trị về
phát triển kinh tế tư nhân, bảo đảm kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng
nhất của nền kinh tế quốc gia.
Tập trung xây dựng hoặc tham
gia xây dựng pháp luật về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số,
tạo hành lang pháp lý cho những vấn đề mới, phi truyền thống (trí tuệ nhân tạo,
chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, khai thác nguồn lực dữ liệu, tài sản mã hoá...)
để hình thành các động lực tăng trưởng mới, thúc đẩy phát triển lực lượng sản
xuất mới, các ngành công nghiệp mới của Thành phố...
Khẩn trương sửa đổi, bổ sung
các văn bản pháp luật của Thành phố đáp ứng yêu cầu thực hiện chủ trương tinh gọn
tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, sắp xếp đơn vị hành chính, gắn với phân
cấp, phân quyền tối đa theo phương châm “địa phương quyết, địa phương làm, địa
phương chịu trách nhiệm” và việc cơ cấu lại không gian phát triển mới ở từng địa
bàn.
Tham gia phối hợp cơ quan chủ
trì xây dựng và hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư
pháp, bổ trợ tư pháp phù hợp với mục tiêu, định hướng cải cách tư pháp...
3. Tạo đột
phá trong công tác thi hành pháp luật, bảo đảm pháp luật được thực hiện công bằng,
nghiêm minh, nhất quán, kịp thời, hiệu lực và hiệu quả; gắn kết chặt chẽ giữa
xây dựng và thi hành pháp luật
a) Có giải pháp phát huy cao độ
tinh thần phục vụ Nhân dân, tư duy kiến tạo phát triển, hành động vì lợi ích
chung của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; thực hiện nhất quán quan điểm
người dân và doanh nghiệp được làm những gì luật không cấm. Phát huy vai trò của
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp trong
giám sát thi hành pháp luật.
b) Ưu tiên bảo đảm hiệu quả thi
hành pháp luật nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, khoa học, công nghệ,
đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và trong các lĩnh vực dân sinh quan trọng khác
(an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường, bảo đảm an ninh, an toàn trên không gian
mạng...).
c) Tập trung xây dựng văn hóa
tuân thủ pháp luật, bảo đảm thượng tôn Hiến pháp và pháp luật
trở thành chuẩn mực ứng xử của mọi chủ thể trong xã hội. Đa dạng hóa phương thức
truyền thông chính sách, phổ biến, giáo dục pháp luật, nhất là thông qua ứng dụng
công nghệ số; ưu tiên những nội dung quan trọng được phát trên khung giờ thu
hút đông đảo khán, thính giả trên hệ thống phát thanh, truyền hình Thành phố.
d) Chú trọng công tác giải
thích pháp luật và hướng dẫn áp dụng pháp luật để bảo đảm sức sống của văn bản
quy phạm pháp luật.
đ) Thực hiện thường xuyên việc
kiểm tra, rà soát, hợp nhất, hệ thống hoá văn bản quy phạm pháp luật.
e) Tăng cường đối thoại, tiếp
nhận, lắng nghe phản ánh, kiến nghị, giải quyết kịp thời khó khăn, vướng mắc về
pháp lý của cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp, địa phương. Thường xuyên đánh giá
hiệu quả của pháp luật sau ban hành, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ và xây dựng cơ
chế kịp thời nhận diện, xử lý tổng thể, đồng bộ, tháo gỡ nhanh nhất những “điểm
nghẽn” có nguyên nhân từ quy định của pháp luật.
g) Đề cao công tác phòng ngừa,
cảnh báo vi phạm pháp luật đi đôi với việc tăng cường giám sát, kiểm tra, thanh
tra, phát hiện và xử lý nghiêm minh, kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật, nhất
là các hành vi tham nhũng, tiêu cực, lạm quyền, thiếu trách nhiệm; đồng thời,
góp phần khắc phục bệnh đùn đẩy, né tránh trách nhiệm. Nghiêm cấm việc lợi dụng
phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực để trục lợi hoặc can thiệp, cản trở
hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
h) Không “hình sự hoá” các mối
quan hệ kinh tế, hành chính, dân sự; không dùng biện pháp hành chính để can thiệp,
giải quyết các tranh chấp dân sự, kinh tế.
4. Nâng cao
hiệu quả công tác hợp tác quốc tế, pháp luật quốc tế
a) Phối hợp xây dựng, hoàn thiện
cơ chế, nâng cao năng lực của các cơ quan, tổ chức Việt Nam để bảo đảm thực hiện
đầy đủ các nghĩa vụ pháp lý quốc tế, định hình trật tự pháp lý quốc tế; tham
gia tích cực vào việc xây dựng thể chế và pháp luật quốc tế trên cơ sở tận dụng
hiệu quả, linh hoạt các lợi thế từ cam kết của các điều ước quốc tế mà Việt Nam
là thành viên.
b) Tiếp tục xử lý tốt các vấn đề
pháp lý quốc tế phát sinh trên địa bàn Thành phố, nhất là tranh chấp đầu tư,
thương mại quốc tế nhằm kịp thời bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc, quyền và lợi
ích hợp pháp, chính đáng của cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp, cơ quan nhà nước
Việt Nam.
c) Nghiên cứu, đề xuất thực hiện
cơ chế đặc biệt thu hút, xét tuyển, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực có trình
độ cao, có kinh nghiệm thực tiễn về pháp luật quốc tế và hợp tác quốc tế về
pháp luật, giải quyết tranh chấp quốc tế; xây dựng chiến lược tăng cường sự hiện
diện của các chuyên gia Thành phố trong các tổ chức pháp lý quốc tế và cơ quan
tài phán quốc tế.
d) Tiếp tục chủ động mở rộng hợp
tác quốc tế về pháp luật và tư pháp theo hướng hiệu quả, thực chất, góp phần
phát triển kinh tế - xã hội Thành phố; quan tâm hợp tác các nội dung để hoàn
thiện hệ thống pháp luật phục vụ tăng trưởng kinh tế, bảo đảm quyền con người,
hướng đến hệ thống pháp luật đồng bộ, khả thi và bảo đảm pháp luật được thực hiện
nghiêm, chú ý thúc đẩy hình thành, phát triển quan hệ hợp tác dài hạn, bền vững
về pháp luật trên địa bàn Thành phố;
đ) Phối hợp xây dựng, phát triển
mạng lưới chuyên gia pháp lý nước ngoài, bao gồm cả người Việt Nam ở nước ngoài
để hỗ trợ nghiên cứu, tư vấn các vấn đề mới trong phát triển kinh tế - xã hội,
khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trên địa bàn Thành phố.
5. Xây dựng
giải pháp đột phá nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật
a) Thực hiện chính sách đặc
thù, vượt trội, áp dụng chế độ thù lao, thuê khoán tương xứng để thu hút, nâng
cao chất lượng nguồn nhân lực tham gia các nhiệm vụ, hoạt động xây dựng pháp luật,
thi hành pháp luật.
b) Thực hiện cơ chế, chính sách
kéo dài thời gian công tác, không giữ chức vụ cho một số cán bộ, công chức đã đủ
tuổi nghỉ hưu theo quy định nhưng có trình độ chuyên môn cao, kinh nghiệm thực
tiễn sâu sắc về xây dựng pháp luật.
c) Thực hiện việc thu hút, tiếp
nhận chuyên gia, nhà khoa học pháp lý, luật gia, luật sư giỏi vào khu vực công
theo quy định.
6. Tăng cường
chuyển đổi số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn trong công tác xây dựng
và thi hành pháp luật
a) Ưu tiên nguồn lực xây dựng,
phát triển hạ tầng công nghệ thông tin, cơ sở dữ liệu lớn, ứng dụng công nghệ số,
trí tuệ nhân tạo phục vụ đổi mới, hiện đại hóa công tác xây dựng, tổ chức thi
hành pháp luật, bảo đảm “đúng, đủ, sạch, sống”, liên thông, dễ khai thác, dễ sử
dụng, an toàn thông tin và bí mật nhà nước.
b) Ứng dụng công nghệ số, chuyển
đổi số đồng bộ trong phổ biến, giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lý, đăng ký biện
pháp bảo đảm; lồng ghép nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật vào phong trào “học
tập số”.
c) Thúc đẩy doanh nghiệp công
nghệ số phát triển, cung cấp các dịch vụ, tiện ích số trong lĩnh vực pháp luật.
d) Áp dụng các cơ chế, chính
sách đặc biệt tạo đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và
chuyển đổi số quốc gia đối với hoạt động chuyển đổi số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo,
dữ liệu lớn trong công tác xây dựng và thi hành pháp luật.
7. Thực hiện
cơ chế tài chính đặc biệt cho công tác xây dựng và thi hành pháp luật
a) Đổi mới cơ chế phân bổ, quản
lý, sử dụng ngân sách dành cho công tác xây dựng pháp luật trên nguyên tắc kịp
thời, đúng, đủ và gắn với khoán chi theo kết quả, sản phẩm của từng nhiệm vụ,
hoạt động. Người đứng đầu cơ quan được giao nhiệm vụ, hoạt động xây dựng pháp
luật được quyền chủ động và chịu trách nhiệm trước pháp luật trong việc phân bổ,
quản lý, sử dụng kinh phí được giao.
b) Bố trí nguồn ngân sách phù hợp,
tương xứng cho công tác tổ chức thi hành pháp luật. Ưu tiên nguồn lực tương xứng
cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lý cho đối tượng đặc
thù, yếu thế, đồng bào dân tộc thiểu số.
c) Bảo đảm chi cho công tác xây
dựng pháp luật không thấp hơn 0,5% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm và tăng
dần theo yêu cầu phát triển theo Nghị quyết số 197/2025/QH15 của Quốc hội.
III. TỔ CHỨC
THỰC HIỆN
1. Các sở, ban, ngành, địa
phương rà soát các nhiệm vụ đã thực hiện theo Phụ lục đính kèm Kế hoạch
4401/KH-UBND để kế thừa và tiếp tục xây dựng Kế hoạch chỉ đạo thực hiện tại đơn
vị các nội dung nhiệm vụ được giao trong Kế hoạch này và Phụ lục đính kèm; tăng
cường kiểm tra, đôn đốc việc triển khai thực hiện Kế hoạch, định kỳ 6 tháng báo
cáo kết quả thực hiện về Sở Tư pháp trước ngày 10 tháng 6 và báo
cáo năm trước ngày 25 tháng 11 để tổng hợp, báo cáo Bộ Tư pháp.
2. Sở Tư pháp chủ trì, phối hợp
với các sở, ban, ngành, địa phương theo dõi, đôn đốc việc triển khai thực hiện
Kế hoạch này, kịp thời báo cáo định kỳ hoặc theo yêu cầu của Bộ Tư pháp.
3. Sở Tài chính chủ trì, phối hợp
với các bộ, ngành, địa phương bảo đảm nguồn kinh phí thực hiện hằng năm theo
Nghị quyết số 66-NQ/TW.
Trong quá trình tổ chức thực hiện,
nếu thấy cần sửa đổi, bổ sung những nội dung cụ thể thuộc Chương trình hành động
của Chính phủ và Kế hoạch này các sở, ban, ngành, địa phương chủ động đề xuất gửi
Sở Tư pháp để tổng hợp báo cáo Bộ Tư pháp xem xét, quyết định./.
(Kế hoạch này thay thế Kế hoạch
số 4401/KH-UBND ngày 16/ tháng năm 2025 của Ủy ban nhân dân
Thành phố về thực hiện Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30 tháng 4 năm 2025 của Bộ
Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu
phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới và Nghị quyết số 140/NQ-CP ngày 17
tháng 5 năm 2025 của Chính phủ về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện
Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30 tháng 4 năm 2025 của Bộ Chính trị)
|
Nơi nhận:
- Bộ Tư pháp;
- Thường trực Thành ủy;
- Thường trực HĐND Thành phố;
- Đảng ủy UBND Thành phố;
- TTUB: CT, các PCT;
- Các sở, ban, ngành Thành phố;
- UBND các phường, xã, đặc khu;
- VPUB: CVP, các PCVP;
- Phòng NCPC;
- Lưu: VT, (NCPC/Kh).
|
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH
Nguyễn Văn Thọ
|