|
VĂN PHÒNG CHÍNH
PHỦ
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 599/TB-VPCP
|
Hà Nội, ngày 04
tháng 11 năm 2025
|
THÔNG BÁO
KẾT
LUẬN CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ PHẠM MINH CHÍNH, CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG TẠI HỘI NGHỊ LẦN
THỨ SÁU HỘI ĐỒNG ĐIỀU PHỐI VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG
Ngày 20 tháng 9 năm 2025, Thủ tướng Chính phủ Phạm
Minh Chính, Chủ tịch Hội đồng điều phối vùng đồng bằng sông Hồng đã chủ trì Hội
nghị lần thứ sáu Hội đồng điều phối vùng đồng bằng sông Hồng tại trụ sở Chính
phủ. Cùng dự Hội nghị có Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Chí Dũng; lãnh đạo Ban
Chính sách, chiến lược Trung ương; lãnh đạo các bộ, cơ quan: Quốc phòng, Công
an, Khoa học và Công nghệ, Xây dựng, Tài chính, Nông nghiệp và Môi trường, Công
Thương, Y tế, Ngoại giao, Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Nội vụ, Dân tộc và Tôn
giáo, Giáo dục và Đào tạo, Văn phòng Chính phủ, Đại học Quốc gia Hà Nội; các đồng
chí Bí thư tỉnh ủy/thành ủy, Chủ tịch, lãnh đạo các tỉnh, thành phố vùng đồng bằng
sông Hồng và đại diện các Tổ điều phối cấp bộ, cấp tỉnh trong vùng đồng bằng
sông Hồng.
Sau khi nghe báo cáo của Bộ Tài chính về tình hình
kinh tế - xã hội 8 tháng đầu năm, dự kiến cả năm 2025 của vùng đồng bằng sông Hồng,
kết quả hoạt động của Hội đồng điều phối vùng trong thời gian vừa qua; ý kiến
phát biểu của đại diện các bộ, ngành, các địa phương về động lực tăng trưởng của
vùng để đạt mức tăng trưởng 02 con số; vướng mắc, khó khăn của địa phương nói
chung và khi thực hiện chính quyền địa phương 2 cấp nói riêng; định hướng phát
triển của các ngành, lĩnh vực trong không gian mới giai đoạn 2026-2030 và các
nhiệm vụ, giải pháp cụ thể, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính, Chủ tịch Hội đồng
điều phối vùng đồng bằng sông Hồng kết luận như sau:
1. Biểu dương và đánh giá cao sự chủ động, trách
nhiệm của Bộ Tài chính trong vai trò chủ trì, phối hợp với Văn phòng Chính phủ,
các bộ, ngành và các địa phương trong vùng chuẩn bị đầy đủ, chu đáo, kịp thời,
có chất lượng các nội dung Hội nghị.
2. Trong 8 tháng đầu năm 2025, vùng đồng bằng sông
Hồng đạt được nhiều kết quả tích cực về tăng trưởng kinh tế, thu ngân sách nhà
nước, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, du lịch lữ hành... Tuy nhiên vùng vẫn
đối mặt với một số thách thức cần tháo gỡ về mô hình tăng trưởng, sự phụ thuộc
vào các dự án FDI thâm dụng nhiều lao động, chưa hình thành được những chuỗi
giá trị và các cụm liên kết ngành đủ mạnh; tiến độ triển khai các dự án trọng
điểm, đặc biệt là các dự án liên kết vùng vẫn còn chậm do vướng mắc về giải
phóng mặt bằng, thiếu nguồn vật liệu. Trong quá trình triển khai mô hình chính
quyền địa phương 2 cấp, các địa phương trong vùng gặp một số khó khăn nhất định
như khối lượng công việc phát sinh lớn gây áp lực đáng kể lên công tác chỉ đạo,
điều hành và tổ chức triển khai thực hiện; năng lực cán bộ ở một số nơi, một số
thời điểm chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn và công việc.
3. Với vai trò, vị trí, tiềm năng khác biệt, cơ hội
nổi trội, lợi thế cạnh tranh, vùng đồng bằng sông Hồng cần đi tiên phong trong
(i) phát triển nhanh và bền vững, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của
nhân dân trong vùng; (ii) chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng xanh, số,
tuần hoàn, dựa vào khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, (iii) xây dựng, vận
hành chính quyền địa phương 2 cấp theo hướng kiến tạo phát triển, phục vụ nhân
dân, tăng cường hiệu quả đầu tư và củng cố niềm tin của các nhà đầu tư trong và
ngoài nước.
4. Một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm thời gian tới
- Các bộ, ngành, địa phương rà soát các điểm nghẽn
thể chế, xóa bỏ tư duy “không quản được thì cấm” trong tất cả các lĩnh vực, nhất
là đất đai, khoáng sản, tài nguyên, đấu thầu, đấu giá, đầu tư, liên kết vùng,
phát triển hạ tầng..., khẩn trương báo cáo cấp có thẩm quyền.
- Các địa phương phát triển hạ tàng giao thông, viễn
thông, năng lượng, văn hóa, giáo dục, thể thao, y tế... luôn phải quan tâm đến
yếu tố liên kết vùng.
- Về tài nguyên, nhất là nguyên vật liệu xây dựng
thông thường phục vụ các dự án trọng điểm: quán triệt quan điểm đất đai, khoáng
sản là sở hữu toàn dân, Nhà nước đại diện chủ sở hữu; việc sử dụng, phân bổ, định
giá đất phải do Nhà nước quản lý, điều hành bằng công cụ kinh tế phù hợp từng
giai đoạn, bảo đảm công bằng, bình đẳng giữa các thành phần kinh tế và các địa
phương; kiên quyết không để tình trạng giao mỏ nguyên vật liệu xây dựng thông
thường cho tư nhân dẫn đến găm hàng, đội giá, thao túng thị trường.
- Về công tác quy hoạch: giao Bộ Tài chính chủ động
tiếp thu ý kiến các địa phương để bổ sung, hoàn thiện các quy hoạch; bảo đảm thống
nhất giữa quy hoạch quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch ngành và quy hoạch địa
phương; xác định rõ trách nhiệm của từng cấp, từng ngành theo thẩm quyền, đồng
thời đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, đơn giản hóa thủ tục.
- Về nguồn lực: yêu cầu đẩy mạnh tăng thu, tiết kiệm
chi, cắt giảm khoản chi không cần thiết; giảm tỷ trọng chi thường xuyên, tăng
chi cho đầu tư phát triển; thúc đẩy hủy động tối đa nguồn lực hợp tác công tư,
phát triển kinh tế tư nhân; linh hoạt, sáng tạo vận dụng các cơ chế BT, BOT
trong phát triển hạ tầng; huy động mạnh mẽ tổng đầu tư toàn xã hội, bảo đảm tiếp
cận bình đẳng tài nguyên; thực hiện giải phóng mặt bằng theo đúng quy định, quy
hoạch, tiến độ, đồng thời tách giải phóng mặt bằng thành dự án riêng theo quy định
của Luật Đầu tư công. Đẩy mạnh huy động nguồn lực xã hội thông qua hình thức đối
tác công tư.
- Thúc đẩy mạnh mẽ phát triển khoa học công nghệ, đổi
mới sáng tạo, chuyển đổi số, thực hiện nghiêm túc và vận dụng sáng tạo Nghị quyết
số 57-NQ/TW ngày 22 tháng 12 năm 2024 của Bộ Chính trị, Nghị quyết số
193/2025/QH15 ngày 19 tháng 02 năm 2025 của Quốc hội và các Nghị quyết số
03/NQ-CP ngày 09 tháng 01 năm 2025, số 71/NQ-CP ngày 01 tháng 4 năm 2025 của Chính
phủ.
- Khẩn trương xử lý dứt điểm các dự án tồn đọng,
kéo dài để giải phóng nguồn lực; tích cực, chủ động tháo gỡ vướng mắc về thủ tục,
quy hoạch, đấu thầu, đấu giá và các vấn đề liên quan.
- Giải quyết hiệu quả các vấn đề môi trường, bảo đảm
an sinh xã hội, phát triển công nghiệp văn hóa, công nghiệp giải trí; kết nối,
khai thác hiệu quả các tuyến di sản trong vùng. Phát huy kết quả xóa nhà tạm,
nhà dột nát, tiếp tục tăng nguồn cung nhà ở, các dự án bất động sản, nhất là
nhà ở xã hội.
- Chủ động đẩy mạnh liên kết các địa phương trong
vùng và liên kết với các vùng khác, mở rộng kết nối quốc tế. Giao tỉnh Quảng
Ninh triển khai ngay Khu hợp tác kinh tế qua biên giới để kết nối với thị trường
Trung Quốc.
- Thúc đẩy quản trị và con người thông minh, đẩy mạnh
chuyển đổi số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo, xác định con người là yếu tố quyết định.
5. Các bộ, cơ quan trung ương theo chức năng, nhiệm
vụ được giao nghiên cứu, xử lý theo thẩm quyền hoặc báo cáo, đề xuất Chính phủ,
Thủ tướng Chính phủ những vấn đề vượt thẩm quyền đối với kiến nghị của các địa
phương trong vùng, trong đó có kiến nghị của Ủy ban nhân dân thành phố Hải
Phòng tại văn bản số 376/BC-UBND ngày 15 tháng 10 năm 2025 (phân công cụ thể tại
Phụ lục kèm theo).
6. Các đồng chí thành viên Hội đồng vùng đồng bằng
sông Hồng phát huy trách nhiệm cao nhất, chỉ đạo rà soát đẩy nhanh tiến độ các
nhiệm vụ, đề án đã quá thời hạn được giao tại Nghị quyết số 14/NQ-CP ngày 08
tháng 02 năm 2023 của Chính phủ và Quyết định số 90/QĐ-HĐĐPĐBSH ngày 07 tháng 8
năm 2024 của Chủ tịch Hội đồng điều phối vùng đồng bằng sông Hồng.
Văn phòng Chính phủ thông báo để các thành viên Hội
đồng điều phối vùng đồng bằng sông Hồng và các bộ, ngành, địa phương liên quan
biết, khẩn trương thực hiện.
|
Nơi nhận:
- Thủ tướng, các Phó Thủ tướng (để
b/c);
- Văn phòng Trung ương;
- Văn phòng Tổng Bí thư;
- Ban Chính sách, chiến lược Trung ương;
- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ;
- UBND các tỉnh/thành phố vùng ĐBSH;
- VPCP: BTCN, các PCN, Trợ lý TTg, các Vụ: CN, NN, KGVX, TCCV, QHĐP, ĐMDN,
TGĐ Cổng TTĐT;
- Lưu: VT, KTTH. 16b
|
KT. BỘ TRƯỞNG
CHỦ NHIỆM
PHÓ CHỦ NHIỆM
Mai Thị Thu Vân
|
PHỤ LỤC
XỬ LÝ KIẾN NGHỊ CỦA ĐỊA PHƯƠNG TẠI HỘI NGHỊ LẦN THỨ SÁU HỘI
ĐỒNG ĐIỀU PHỐI VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG
(Kèm theo Thông báo số 599/TB-VPCP ngày 04 tháng 11 năm 2025)
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các bộ chủ trì, phối hợp
với các cơ quan liên quan khẩn trương nghiên cứu, xử lý theo thẩm quyền hoặc
báo cáo, đề xuất cấp có thẩm quyền đối với kiến nghị của các địa phương trong
vùng, trong đó có các kiến nghị sau của Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng:
1. Bộ Tài chính:
a) Sớm xem xét, ban hành Nghị định riêng cho mô
hình chính quyền 2 cấp để tháo gỡ các điểm nghẽn về thẩm quyền, quy trình đấu
thầu khi không có bộ phận chuyên trách đấu thầu.
b) Sớm ban hành Nghị định về cơ cấu lại vốn nhà nước
đầu tư tại doanh nghiệp; Nghị định quy định một số nội dung về quản lý và đầu
tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp; Nghị định về giám sát, kiểm tra, đánh giá, xếp
loại, báo cáo và công khai thông tin trong quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh
nghiệp.
c) Điều chỉnh, bổ sung quy định về thời gian thực
hiện hợp đồng cung ứng sản phẩm dịch vụ công ích trong Nghị định 32/2019/NĐ-CP
ngày 10/4/2019 tối thiểu từ 03 năm trở lên, để công tác cung cấp sản phẩm dịch
vụ công lĩnh vực hạ tầng kỹ thuật được đảm bảo ổn định, góp phần đảm bảo an
sinh xã hội, đảm bảo cảnh quan, mỹ quan thành phố, đủ thời gian để doanh nghiệp
đầu tư máy móc thiết bị cải tiến kỹ thuật bảo trì.
d) Ban hành Nghị định quy định cụ thể về việc quản
lý, sử dụng và khai thác tài sản kết cấu hạ tầng như công trình xử lý, thoát nước
thải, cây xanh, đèn trang trí...
đ) Nghiên cứu, trình Chính phủ ban hành một nghị định
riêng về quản lý tài sản kết cấu hạ tầng chợ do Nhà nước đầu tư, thay thế quy định
tại Chương IV của Nghị định số 60/2024/NĐ-CP ngày 05/6/2024
và các nghị định có liên quan, tương tự như các lĩnh vực tài sản công khác
(giao thông, thủy lợi, cấp nước sạch...) đã được ban hành nghị định riêng để quản
lý.
e) Ban hành văn bản hướng dẫn trình tự, thủ tục khi
thực hiện chuyển đổi công năng các trụ sở dôi dư sau sáp nhập, trong đó quy định
rõ việc chuyển đổi công năng thực hiện trước hay sau khi điều chỉnh quy hoạch của
thành phố.
g) Sớm cho phép và có hướng dẫn các địa phương kết
nối liên thông xử lý hồ sơ đối với các thủ tục đăng ký hộ kinh doanh cấp xã.
h) Sửa đổi, thay thế Thông tư số 86/2020/TT-BTC
ngày 26/10/2020 của Bộ Tài chính quy định chi tiết chế độ dinh dưỡng đặc thù đối
với huấn luyện viên, thể thao thành tích cao.
2. Bộ Khoa học và Công nghệ:
Sớm ban hành Nghị định về hoạt động đổi mới sáng tạo,
trọng đó có các quy định về nhiệm vụ đổi mới sáng tạo, việc công nhận/chứng nhận
các chủ thể đổi mới sáng tạo, chỉ tiêu định lượng đánh giá hoạt động đổi mới
sáng tạo trong doanh nghiệp.
3. Bộ Công Thương:
a) Tham mưu Chính phủ sửa đổi Nghị định số
32/2024/NĐ-CP ngày 15/3/2024 theo hướng linh hoạt hơn về quy định tỷ lệ lấp đầy,
phù hợp với mô hình hành chính 2 cấp và điều kiện thực tế của từng địa phương.
Ngoài ra, cần có cơ chế hỗ trợ tài chính hoặc ưu đãi thuế cho các doanh nghiệp
nhỏ lẻ di dời vào cụm công nghiệp.
b) Trình Chính phủ ban hành nghị định sửa đổi, bổ
sung hoặc thay thế các nghị định hiện hành, nhằm thống nhất quy định về thẩm
quyền đăng ký dấu nghiệp vụ của thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định thương
mại tại các địa phương.
c) Tham mưu Chính phủ sửa đổi, bổ sung Nghị định số
83/2014/NĐ-CP ngày 03/9/2014 về kinh doanh xăng dầu, trong đó: bãi bỏ yêu cầu
chứng chỉ đào tạo nghiệp vụ bảo vệ môi trường trong hồ sơ cấp Giấy chứng nhận cửa
hàng đủ điều kiện bán lẻ xăng dầu; quy định rõ điều kiện, hồ sơ đối với cửa
hàng xăng dầu trên mặt nước; nâng mức dung tích của cửa hàng cấp 1 phù hợp với
thực tế; đồng thời bổ sung quy định về thời hạn Giấy chứng nhận trong một số
trường hợp đặc biệt do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định (ví dụ trường hợp thời
gian thuê đất còn dưới 5 năm).
d) Hướng dẫn cụ thể thành phần hồ sơ và quy trình
thẩm định cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh; đồng thời nghiên cứu sửa
đổi, bổ sung khoản 3 Điều 38 Nghị định số 87/2018/NĐ-CP ngày
15/6/2018 về kinh doanh khí theo hướng quy định “bản sao Giấy chứng nhận kết quả
kiểm định kỹ thuật an toàn lao động bồn chứa (nếu có)”, để phù hợp hơn với thực
tiễn.
đ) Sớm ban hành văn bản thay thế Quyết định số
1371/2004/QĐ-BTM để phù hợp với thực tiễn phát triển mạng lưới thương mại hiện
nay, cập nhật các quy chuẩn, tiêu chuẩn mới về mô hình siêu thị, trung tâm
thương mại, đảm bảo yếu tố công nghệ, an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường, quản
lý vận hành hiện đại. Hướng dẫn cụ thể về trình tự, hồ sơ phân hạng và phê duyệt
nội quy hoạt động của siêu thị, trung tâm thương mại.
e) Có những cơ chế, chính sách, giải pháp cụ thể để
chủ động giảm thiểu các ảnh hưởng của việc áp thuế nhập khẩu vào Hoa Kỳ; thúc đẩy
phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ và thúc đẩy mạnh mẽ liên kết, phối hợp
giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước nhằm tăng cường khả năng cạnh
tranh của các doanh nghiệp trong nước.
4. Bộ Xây dựng:
Sớm trình cấp có thẩm quyền ban hành quy định mỗi
vùng phục vụ cấp nước có thể do nhiều đơn vị có đủ năng lực, điều kiện thực hiện
dịch vụ cung cấp nước.
5. Bộ Nông nghiệp và Môi trường:
a) Xem xét, trình Quốc hội sửa đổi Luật Đất đai để:
- Bổ sung cơ chế linh hoạt cho phép Ủy ban nhân dân
cấp xã lựa chọn hình thức cho thuê trực tiếp đối với đất nông nghiệp sử dụng
vào mục đích công ích cho cá nhân tại địa phương có nhu cầu sản xuất nông nghiệp
(ưu tiên các trường hợp đã đầu tư tài sản trên đất, đang sử dụng đất và tiếp tục
có nhu cầu thuê đất), giá thuê được xác định dựa trên Bảng giá đất do Ủy ban
nhân dân cấp tỉnh ban hành;
- Cho phép giải quyết chi phí đầu tư còn lại (chi
phí hợp lý mà người sử dụng đất đã đầu tư trực tiếp vào đất phù hợp với mục
đích sử dụng đất nhưng chưa thu hồi hết) trực tiếp trong phương án cho thuê đất
và được tính vào chi phí sản xuất của người thuê mới hoặc người đang sử dụng (nếu
được gia hạn), nhằm khuyến khích việc sử dụng đất và tránh xung đột với người
dân đã đầu tư canh tác;
- Xem xét tính mốc thời điểm cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất “Theo thời điểm giao không đúng thẩm quyền”
b) Ban hành Nghị định quy định về bồi thường giải
phóng mặt bằng đối với các công trình trên biển để phục vụ các dự án phát triển
kinh tế - xã hội phải giao khu vực biển, đảm bảo quyền lợi đồng thời nâng cao
trách nhiệm của tổ chức, cá nhân được giao khu vực biển.
c) Xem xét điều chỉnh, thay thế:
- Quyết định số 17/2002/QĐ-BNN ngày 12/3/2002 của Bộ
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành quy định quản lý và sử dụng vật tư
dự trữ phòng chống lụt bão;
- Thông tư số 26/2009/TT-BNN ngày 11/5/2009 của Bộ
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn về cơ cấu tổ chức, nguồn kinh phí
và chế độ thù lao đối với lực lượng quản lý đê nhân dân.
d) Ban hành Thông tư quy định, hướng dẫn việc kiểm
tra, giám sát trong quá trình nhận chìm ở biển.
đ) Sớm có hướng dẫn để thực hiện phân vùng sử dụng
không gian biển của các địa phương để triển khai quy hoạch không gian biển quốc
gia và quy hoạch tổng thể khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên vùng bờ thời kỳ
2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
6. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch:
a) Chỉ đạo các bộ, ban, ngành liên quan nghiên cứu
ban hành quy định tiêu chí về thiết chế thể thao đối với các xã, phường sau sáp
nhập.
b) Sớm nghiên cứu ban hành nghị định thay thế Nghị
định số 152/2018/NĐ-CP ngày 07/11/2018 quy định một số chế độ đối với huấn luyện
viên, vận động viên thể thao trong thời gian tập trung tập huấn, thi đấu.
c) Sửa đổi, bổ sung Thông tư liên tịch số 200/2011/TTLT-BTC-BVHTTDL
ngày 30/12/2011 của Bộ Tài chính và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định chế
độ chi tiêu tài chính đối với các giải thi đấu thể thao.
d) Nghiên cứu bổ sung, điều chỉnh loại hình du lịch
farmstay (du lịch nông nghiệp); bổ sung thủ tục hành chính đối với việc công nhận
xếp hạng lưu trú du lịch (homestay).
7. Bộ Quốc phòng:
Sớm sửa đổi, bổ sung Quyết định số 3717/QĐ-BQP ngày
01/8/2025 về công bố thủ tục hành chính trong lĩnh vực ứng phó sự cố tràn dầu để
phù hợp với Quyết định số 24/2025/QĐ-TTg ngày 16/7/2025 của Thủ tướng Chính phủ
(theo hướng công bố thủ tục hành chính phê duyệt Kế hoạch ứng phó sự cố trần dầu
cơ sở kinh doanh xăng dầu cho tất cả các cửa hàng kinh doanh xăng dầu).
8. Bộ Nội vụ
a) Sớm ban hành quy định về thành lập, tổ chức lại
đơn vị sự nghiệp trực thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã để có căn cứ pháp lý triển
khai các nội dung liên quan đến thành lập mới đơn vị sự nghiệp cấp xã khi tổ chức
chính quyền địa phương 02 cấp (thay thế Nghị định số 120/2020/NĐ-CP ngày
07/10/2020 và Nghị định số 83/2024/NĐ-CP ngày 10/7/2024).
b) Sớm ban hành các quy định hướng dẫn cụ thể về chức
trách, nhiệm vụ, quyền hạn và vị trí việc làm của công chức chuyên môn, nghiệp
vụ xã, phường, đặc khu.