|
VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
TỐI CAO
-------
|
CỘNG
HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 328/QĐ-VKSTC
|
Hà Nội, ngày 08 tháng 10 năm 2026
|
QUYẾT ĐỊNH
VỀ VIỆC BAN HÀNH QUY CHẾ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG
CỦA BỘ PHẬN NGHIÊN CỨU CHUYÊN ĐỀ Ở VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO
VIỆN TRƯỞNG VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO
Căn cứ
Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân ngày 24 tháng 11 năm 2014; Luật sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân ngày 24 tháng 6 năm
2025;
Căn cứ
Kết luận số 41-KL/TW ngày 03 tháng 6 năm 2026 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về
chủ trương thành lập Bộ phận nghiên cứu chuyên đề ở Trung ương và địa phương;
Căn cứ
Nghị quyết số 223-NQ/ĐU ngày 07 tháng 8 năm 2026 của Ban Thường vụ Đảng ủy Viện
kiểm sát nhân dân tối cao về chủ trương thành lập Bộ phận nghiên cứu chuyên đề ở
Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
Căn cứ
Quyết định số 361/QĐ-VKSTC ngày 10 tháng 8 năm 2026 của Viện trưởng Viện kiểm
sát nhân dân tối cao về việc thành lập Bộ phận nghiên cứu chuyên đề ở Viện kiểm
sát nhân dân tối cao;
Xét đề
nghị của Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này Quy chế tổ chức và
hoạt động của Bộ phận nghiên cứu chuyên đề ở Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Điều 2. Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.
Thủ trưởng
đơn vị thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân
tỉnh, thành phố, Bộ phận nghiên cứu chuyên đề ở Viện kiểm sát nhân dân tối cao
và các đơn vị, cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.
|
Nơi nhận:
- Như Điều 2;
- Lãnh đạo VKSND tối cao (để chỉ đạo thực hiện);
- Văn phòng VKSND tối cao (để đăng tải);
- Lưu: V15, VT.
|
VIỆN TRƯỞNG
Nguyễn Huy Tiến
|
QUY CHẾ
TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA BỘ PHẬN NGHIÊN CỨU
CHUYÊN ĐỀ Ở VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO
(Ban hành kèm theo Quyết định số 328/QĐ-VKSTC ngày 08/10/2026
của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao)
Chương I
QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
1. Quy chế
này quy định về mục đích, yêu cầu, nguyên tắc hoạt động; vị trí, chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy, quy trình phân công, bố trí cán bộ tham gia Bộ
phận nghiên cứu chuyên đề; chế độ làm việc, quy trình xử lý công việc, mối quan
hệ công tác và các nội dung liên quan đến hoạt động của Bộ phận nghiên cứu
chuyên đề ở Viện kiểm sát nhân dân tối cao (sau đây gọi tắt là Bộ phận
nghiên cứu chuyên đề).
2. Quy chế
này áp dụng đối với Bộ phận nghiên cứu chuyên đề; Trưởng Bộ phận, Phó Trưởng Bộ
phận, các thành viên Bộ phận nghiên cứu chuyên đề; các đơn vị thuộc Viện kiểm
sát nhân dân tối cao; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố và các tổ chức, cá
nhân có quan hệ công tác với Bộ phận nghiên cứu chuyên đề.
Điều 2. Mục đích, yêu cầu
1. Đổi mới
mạnh mẽ công tác cán bộ; đánh giá, bố trí, sử dụng hợp lý đội ngũ cán bộ hiện
có theo quy định phân cấp quản lý cán bộ để nghiên cứu chuyên đề phục vụ sự
lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Thường vụ Đảng ủy, lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tối
cao; góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả tổ chức thực hiện đường lối của Đảng,
pháp luật của Nhà nước; xây dựng ngành Kiểm sát nhân dân phát triển vững mạnh,
phù hợp với thực tiễn, yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền và cải
cách tư pháp trong giai đoạn mới.
2. Tạo môi
trường công tác chuyên sâu để rèn luyện, thử thách và đánh giá cán bộ thông qua
sản phẩm cụ thể; đồng thời, chuẩn bị, dự nguồn, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ
các cấp, nhất là cán bộ cấp chiến lược của ngành Kiểm sát nhân dân phục vụ sự
lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Thường vụ Đảng ủy, lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tối
cao.
3. Việc
thành lập Bộ phận nghiên cứu chuyên đề không làm tăng thêm đầu mối tổ chức và
biên chế của Viện kiểm sát nhân dân tối cao; phải tiến hành chặt chẽ, dân chủ,
công bằng, công tâm, khách quan, minh bạch, làm thận trọng, từng bước, “làm đến
đâu chắc đến đó” và có lộ trình, định hướng phân công, bố trí cụ thể; tuân thủ
và thực hiện nghiêm các nguyên tắc, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước
trong công tác điều động, phân công, bố trí cán bộ.
4. Thường
xuyên chú trọng, làm tốt công tác chính trị, tư tưởng, tạo sự đoàn kết, thống
nhất cao trong cơ quan, đơn vị, nhất là cán bộ trong diện điều động, phân công,
bố trí công tác; đồng thời, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và đề ra các
biện pháp hiệu quả để chủ động kiểm soát quyền lực, chống chạy chức, chạy quyền,
tiêu cực trong công tác điều động, phân công bố trí cán bộ hoặc lợi dụng chủ
trương của Bộ Chính trị, Ban Bí thư để thực hiện mục đích cá nhân với động cơ
không trong sáng, tạo dư luận không tốt trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, làm ảnh
hưởng đến uy tín của Đảng.
Điều 3. Nguyên tắc hoạt động
1. Bộ phận
nghiên cứu chuyên đề chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo, phân công, điều động, bố trí
công tác của Ban Thường vụ Đảng ủy và đồng chí Bí thư Đảng ủy, Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân tối cao; không xử lý công việc hành chính thường xuyên; không
làm phát sinh đầu mối trung gian trong quy trình xử lý công việc; không thay thế
chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và quy trình tham mưu, giúp việc chính thức của
các đơn vị thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
2. Hoạt động
của Bộ phận nghiên cứu chuyên đề phải bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng; tuân thủ
các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các quy định, quy chế của ngành
Kiểm sát nhân dân.
3. Bộ phận
nghiên cứu chuyên đề hoạt động theo chuyên đề; chủ động về chuyên môn trong phạm
vi nhiệm vụ được giao; đề cao trách nhiệm cá nhân, phát huy tính chủ động, đổi
mới sáng tạo, nhất là trách nhiệm của người chủ trì tham mưu từng nhiệm vụ, từng
sản phẩm bảo đảm khách quan, khoa học, thận trọng, kịp thời, chính xác, thiết
thực và hiệu quả. Việc phân công nhiệm vụ, công việc phải bảo đảm rõ người, rõ
việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, rõ kết quả; mỗi việc có một
đầu mối chịu trách nhiệm xuyên suốt từ tham mưu, tổ chức thực hiện, kiểm tra,
nghiệm thu đến vận hành.
4. Thực hiện
nghiêm quy định về bảo vệ bí mật của Đảng, bí mật nhà nước, chế độ quản lý tài
liệu, dữ liệu, hồ sơ công việc và kỷ luật phát ngôn; không cung cấp, trao đổi,
phát tán thông tin ngoài phạm vi cho phép.
Chương II
VỊ TRÍ, CHỨC
NĂNG, NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN, TỔ CHỨC BỘ MÁY CỦA BỘ PHẬN NGHIÊN CỨU CHUYÊN ĐỀ
Điều 4. Vị trí, chức năng
1. Bộ phận
nghiên cứu chuyên đề là bộ phận tham mưu, giúp việc đặc thù của Đảng ủy Viện kiểm
sát nhân dân tối cao; chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện của Ban Thường vụ Đảng
ủy Viện kiểm sát nhân dân tối cao; trực tiếp, thường xuyên là đồng chí Bí thư Đảng
ủy, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
2. Bộ phận
nghiên cứu chuyên đề đặt tại Văn phòng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, không phải
là đơn vị tổ chức độc lập trong cơ cấu tổ chức bộ máy của Viện kiểm sát nhân
dân tối cao.
3. Bộ phận
nghiên cứu chuyên đề thực hiện chức năng nghiên cứu, tư vấn, phản biện và tham
mưu chuyên sâu, trực tiếp giúp cho Ban Thường vụ Đảng ủy; đồng chí Bí thư Đảng ủy,
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành
công việc; nghiên cứu chiến lược và đề xuất giải pháp thí điểm, đột phá về các
lĩnh vực công tác trong ngành Kiểm sát nhân dân, phù hợp với thực tiễn, yêu cầu
xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền và cải cách tư pháp trong giai đoạn mới.
Điều 5. Nhiệm vụ, quyền hạn
1. Bộ phận
nghiên cứu chuyên đề thực hiện các nhiệm vụ sau:
a) Nghiên cứu,
phân tích, tổng hợp, tham mưu đối với những vấn đề lớn, mới, khó, phức tạp, nhạy
cảm hoặc phát sinh đột xuất thuộc phạm vi lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Thường vụ Đảng
ủy, lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
b) Tham gia ý kiến,
phản biện, góp ý, thẩm định chuyên sâu đối với các đề tài nghiên cứu, đề án, dự
án, chương trình, kế hoạch chuyên đề và văn bản chỉ đạo quan trọng trước khi
trình cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định, theo yêu cầu của Ban Thường vụ Đảng
ủy, lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
c) Nghiên cứu,
khảo sát, tổng kết thực tiễn; tham mưu, đề xuất mô hình mới, sáng kiến cải
cách, giải pháp đột phá, cơ chế thí điểm phù hợp với đặc điểm, tình hình thực
tiễn và yêu cầu phát triển của ngành Kiểm sát nhân dân;
d) Chủ trì
hoặc tham gia thực hiện các đề tài nghiên cứu, đề án, dự án, chuyên đề theo
phân công của Ban Thường vụ Đảng ủy, lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Chủ trì hoặc tham gia biên soạn tài liệu, hướng dẫn chuyên môn; tổ chức hoặc
tham gia tọa đàm, tập huấn, bồi dưỡng, giảng dạy, trao đổi chuyên môn; giải đáp
vướng mắc pháp luật và nghiệp vụ theo yêu cầu nhiệm vụ;
đ) Phối hợp
với các cơ quan, đơn vị trong công tác nghiên cứu, tổng hợp, phản biện, thẩm định,
tham mưu, hoàn thiện các nội dung liên quan theo yêu cầu của Ban Thường vụ Đảng
ủy, lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
e) Thực hiện
các nhiệm vụ khác do Ban Thường vụ Đảng ủy, lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tối
cao hoặc Ủy ban kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tối cao giao.
2. Bộ phận
nghiên cứu chuyên đề có các quyền hạn sau:
a) Được đề
nghị các đơn vị cung cấp thông tin, tài liệu, dữ liệu, số liệu, báo cáo, giải
trình cần thiết để làm rõ các nội dung liên quan đến nhiệm vụ được giao; phục vụ
nhiệm vụ nghiên cứu, tư vấn, phản biện, tham mưu theo phân công của Ban Thường
vụ Đảng ủy, lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tối cao và theo quy định của Đảng,
pháp luật của Nhà nước, nội quy, quy chế, quy định của ngành Kiểm sát nhân dân.
Việc đề nghị cung cấp thông tin phải thông qua Trưởng Bộ phận hoặc người được
Trưởng Bộ phận phân công;
b) Được
tham dự các hội nghị, cuộc họp, buổi làm việc khi có nội dung liên quan đến nhiệm
vụ được giao và theo chỉ đạo của cấp có thẩm quyền; được đề nghị làm việc với
cơ quan, đơn vị liên quan để triển khai thực hiện nhiệm vụ cụ thể được giao;
c) Được đề
xuất tổ chức khảo sát thực tế, hội thảo, tọa đàm, xin ý kiến chuyên gia, lấy ý
kiến cơ quan liên quan để hoàn thiện sản phẩm nghiên cứu, tham mưu theo phân
công;
d) Được ủy
quyền trưng tập công chức, viên chức của các đơn vị thuộc Viện kiểm sát nhân
dân tối cao hoặc Viện kiểm sát nhân dân địa phương (bao gồm công chức, viên
chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý và công chức, viên chức không giữ chức vụ
lãnh đạo, quản lý) để thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao.
Điều 6. Cơ cấu tổ chức, biên chế của Bộ phận nghiên cứu chuyên đề
1. Bộ phận
nghiên cứu chuyên đề được cơ cấu gồm Trưởng Bộ phận, các Phó Trưởng Bộ phận và
các thành viên do Ban Thường vụ Đảng ủy Viện kiểm sát nhân dân tối cao quyết định.
Trong đó:
a) Trưởng
Bộ phận kiêm nhiệm: Đồng chí Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy, Phó Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân tối cao;
b) Các Phó Trưởng
Bộ phận: Do Ban Thường vụ Đảng ủy Viện kiểm sát nhân dân tối cao quyết định số
lượng, trong đó có 01 Phó Trưởng Bộ phận chuyên trách làm thường trực.
2. Thành viên Bộ
phận nghiên cứu chuyên đề là công chức, viên chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý
tại các cơ quan tham mưu, giúp việc Đảng ủy Viện kiểm sát nhân dân tối cao, đơn
vị thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao; công chức giữ chức danh Kiểm sát viên
Viện kiểm sát nhân dân tối cao; công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý tại Viện
kiểm sát cấp tỉnh, thành phố và Viện kiểm sát nhân dân khu vực; công chức, viên
chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý tại các đơn vị, Viện kiểm sát nhân dân
các cấp được Ban Thường vụ Đảng ủy Viện kiểm sát nhân dân tối cao quyết định điều
động, phân công, bố trí tham gia Bộ phận nghiên cứu chuyên đề, gồm 02 nhóm sau
đây:
a) Nhóm thứ
nhất: (i) Công chức, viên chức có phẩm chất, năng lực nổi trội, đáp ứng tiêu
chuẩn, điều kiện bổ nhiệm nhưng chưa được bổ nhiệm do sắp xếp, kiện toàn tổ chức
bộ máy hoặc các trường hợp khác chưa có vị trí bổ nhiệm hoặc chờ xem xét, phân
công công tác theo yêu cầu công tác cán bộ của cấp có thẩm quyền; (ii) Công chức,
viên chức hiện đảm nhiệm chức danh, chức vụ chưa phù hợp với năng lực, sở trường,
kinh nghiệm công tác, chuyên môn đào tạo và yêu cầu lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ
ở cơ quan, đơn vị mà chưa được bố trí công tác khác; (iii) Công chức, viên chức
không đủ tuổi tái cử, hết tuổi công tác nhưng có phẩm chất, năng lực thực tiễn;
có trình độ chuyên môn kinh nghiệm và khả năng nghiên cứu, tổng kết thực tiễn (đối
tượng này được kéo dài thời gian công tác không quá 65 tuổi đối với nam, 63 tuổi
đối với nữ);
b) Nhóm thứ
hai: (i) Công chức, viên chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý theo nhận xét, đánh
giá của cấp có thẩm quyền và cơ quan tham mưu về công tác cán bộ có năng lực
lãnh đạo nhưng chưa đáp ứng yêu cầu, thiếu đổi mới, sáng tạo, sợ sai, đùn đẩy,
né tránh trách nhiệm; chất lượng, hiệu quả công việc được giao còn nhiều hạn chế
hoặc không bảo đảm theo kế hoạch, chỉ tiêu được giao nhưng chưa đến mức đánh
giá, xếp loại không hoàn thành nhiệm vụ 2 quý liên tiếp trở lên theo Kết luận của
lãnh đạo cơ quan, đơn vị. (ii) Là người đứng đầu đơn vị, Viện kiểm sát nhân dân
các cấp để xảy ra: Vụ án, vụ việc tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, vi phạm
nghiêm trọng ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, Nhà nước, ngành Kiểm sát nhân dân
và cơ quan, đơn vị; không kịp thời chỉ đạo giải quyết hoặc phối hợp giải quyết
không hiệu quả tình trạng nội bộ mâu thuẫn, mất đoàn kết; để cán bộ, đảng viên
thuộc thẩm quyền quản lý trực tiếp vi phạm nghiêm trọng quy định của Đảng, pháp
luật của Nhà nước...; những cán bộ này chưa xem xét xử lý trách nhiệm hoặc đã
xem xét nhưng chưa đến mức bị thi hành kỷ luật theo đề nghị của cấp có thẩm quyền
và cơ quan tham mưu chức năng.
3. Số lượng
thành viên Bộ phận nghiên cứu chuyên đề (không bao gồm thành viên kiêm nhiệm)
do Ban Thường vụ Đảng ủy Viện kiểm sát nhân dân tối cao quyết định, nằm trong tổng
số biên chế được giao hằng năm của Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc theo quyết
định của cấp có thẩm quyền.
Điều 7. Trách nhiệm của Trưởng Bộ phận, Phó Trưởng Bộ phận và
thành viên Bộ phận nghiên cứu chuyên đề
1. Trách nhiệm
của Trưởng Bộ phận nghiên cứu chuyên đề:
a) Chịu
trách nhiệm trước Ban Thường vụ Đảng ủy và đồng chí Bí thư Đảng ủy, Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân tối cao về toàn bộ hoạt động của Bộ phận nghiên cứu
chuyên đề;
b) Tiếp nhận
nhiệm vụ; căn cứ yêu cầu nhiệm vụ, phân công các Phó Trưởng Bộ phận, thành viên
Bộ phận nghiên cứu chuyên đề chủ trì, phối hợp thực hiện các nhóm chuyên đề,
lĩnh vực công tác phù hợp với năng lực, sở trường, kinh nghiệm thực tiễn; chỉ đạo,
điều hành hoạt động của Bộ phận nghiên cứu chuyên đề; bảo đảm đúng chức năng,
đúng phạm vi, không chồng chéo, không làm thay chức năng của các đơn vị tham
mưu khác;
c) Tổ chức
trao đổi, thảo luận chuyên môn; rà soát, kiểm soát chất lượng sản phẩm; chịu
trách nhiệm về tiến độ, chất lượng, tính chặt chẽ và tính bảo mật của hồ sơ,
tài liệu do Bộ phận nghiên cứu chuyên đề trình Ban Thường vụ Đảng ủy, lãnh đạo
Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
d) Được
Ban Thường vụ Đảng ủy; đồng chí Bí thư Đảng ủy, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân tối cao ủy quyền quyết định trưng tập công chức, viên chức của các đơn vị
thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc Viện kiểm sát nhân dân địa phương đến
làm việc tại Bộ phận nghiên cứu chuyên đề (trường hợp trưng tập công chức,
viên chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý cấp Vụ và tương đương thì phải có ý kiến
đồng ý của đồng chí Bí thư Đảng ủy, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao);
đ) Phân công 01
Phó Trưởng Bộ phận thường trực trong số các Phó Trưởng Bộ phận của Bộ phận
nghiên cứu chuyên đề để thay mặt và giúp Trưởng Bộ phận điều phối hoạt động thường
xuyên của Bộ phận nghiên cứu chuyên đề theo quy định;
e) Định kỳ
hoặc đột xuất báo cáo đồng chí Bí thư Đảng ủy, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân tối cao về tình hình hoạt động, kết quả thực hiện nhiệm vụ và những vấn đề
phát sinh cần chỉ đạo;
g) Chỉ đạo
việc đánh giá, nhận xét, xếp loại thành viên Bộ phận Nghiên cứu chuyên đề và ký
các văn bản hành chính của Bộ phận nghiên cứu chuyên đề theo quy định.
2. Trách nhiệm
của Phó Trưởng Bộ phận thường trực Bộ phận nghiên cứu chuyên đề:
a) Thực hiện
nhiệm vụ thường trực, thay mặt và giúp đồng chí Trưởng Bộ phận điều phối hoạt động
và xử lý các công việc hằng ngày của Bộ phận nghiên cứu chuyên đề; được đồng
chí Trưởng Bộ phận nghiên cứu chuyên đề ủy quyền thực hiện các nhiệm vụ cụ thể
như sau:
- Tiếp nhận
nhiệm vụ, trực tiếp phân công công việc cụ thể đối với thành viên Bộ phận
nghiên cứu chuyên đề (trường hợp cần thiết, xin ý kiến đồng chí Trưởng Bộ phận
nghiên cứu chuyên đề trước khi thực hiện).
- Theo dõi kết
quả thực hiện nhiệm vụ của thành viên Bộ phận nghiên cứu chuyên đề; báo cáo, đề
xuất Trưởng Bộ phận nghiên cứu chuyên đề về đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ
của thành viên Bộ phận nghiên cứu chuyên đề.
- Điều
hành, tổ chức trao đổi, thảo luận chuyên môn; giúp Trưởng Bộ phận nghiên cứu
chuyên đề rà soát, kiểm soát tiến độ, chất lượng sản phẩm trước khi trình.
b) Ký các văn bản
hành chính của Bộ phận nghiên cứu chuyên đề theo phân công, ủy quyền của Trưởng
Bộ phận;
c) Kịp thời
báo cáo Trưởng Bộ phận nghiên cứu chuyên đề những vấn đề phát sinh, cần chỉ đạo
liên quan đến tổ chức và hoạt động của Bộ phận nghiên cứu chuyên đề;
d) Giúp đồng
chí Trưởng Bộ phận nghiên cứu chuyên đề phê duyệt, quản lý, theo dõi chế độ nghỉ
hằng năm, nghỉ việc riêng ở trong nước theo quy định đối với thành viên Bộ phận.
Phối hợp với các đồng chí Phó Trưởng Bộ phận khác trong việc báo cáo, đề nghị cấp
có thẩm quyền thực hiện chế độ, chính sách đối với thành viên Bộ phận nghiên cứu
chuyên đề theo quy định;
đ) Thực hiện
các nhiệm vụ khác do Trưởng Bộ phận nghiên cứu chuyên đề hoặc Ban Thường vụ Đảng
ủy, lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tối cao phân công.
3. Trách nhiệm
của Phó Trưởng Bộ phận nghiên cứu chuyên đề:
a) Tham gia công
tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý tổ chức và hoạt động của Bộ phận nghiên cứu
chuyên đề theo phân công của Ban Thường vụ Đảng ủy, Bí thư Đảng ủy, Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Trưởng Bộ phận nghiên cứu chuyên đề;
b) Trực tiếp
thực hiện nhiệm vụ tham mưu, giúp việc đồng chí Trưởng Bộ phận nghiên cứu
chuyên đề về công tác chính trị tư tưởng, tổ chức, cán bộ của Bộ phận nghiên cứu
chuyên đề theo thẩm quyền được giao và theo chức năng, nhiệm vụ của đơn vị được
phân công phụ trách;
c) Thực hiện
các nhiệm vụ khác do Trưởng Bộ phận nghiên cứu chuyên đề hoặc Ban Thường vụ Đảng
ủy, lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tối cao phân công.
4. Trách nhiệm
của thành viên Bộ phận nghiên cứu chuyên đề:
a) Chủ động
nghiên cứu, đề xuất ý kiến, giải pháp, sáng kiến đổi mới trong phạm vi nhiệm vụ
được phân công; báo cáo kịp thời cấp có thẩm quyền những khó khăn, vướng mắc, vấn
đề phát sinh trong quá trình thực hiện nhiệm vụ;
b) Chấp
hành sự phân công của Trưởng Bộ phận, Phó Trưởng Bộ phận nghiên cứu chuyên đề;
bảo đảm chất lượng, tiến độ, tính khoa học, tính khả thi và trách nhiệm cá nhân
về kết quả thực hiện nhiệm vụ, sản phẩm được giao chủ trì hoặc tham gia thực hiện;
c) Chủ động
phát hiện lựa chọn nội dung, vấn đề nghiên cứu để đề xuất Trưởng Bộ phận nghiên
cứu chuyên đề tổng hợp, báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét đưa vào chương trình
nghiên cứu;
d) Chủ động
phối hợp với các cơ quan, đơn vị, địa phương, cá nhân liên quan để hoàn thiện nội
dung nghiên cứu, tham mưu và các nhiệm vụ được phân công theo quy định;
Thành viên Bộ
phận nghiên cứu chuyên đề được đề nghị các cơ quan, đơn vị trong ngành Kiểm sát
nhân dân và các cá nhân có liên quan cung cấp thông tin, tài liệu, số liệu, báo
cáo, làm rõ các nội dung liên quan đến nhiệm vụ được giao; việc đề nghị phải
thông qua Trưởng Bộ phận nghiên cứu chuyên đề (hoặc người được Trưởng Bộ phận
phân công) và được thực hiện bằng văn bản hành chính chính thức của Bộ phận
theo quy định tại Quy chế này;
đ) Chấp
hành nghiêm quy định của Đảng, pháp luật, Quy chế làm việc của Đảng ủy Viện kiểm
sát nhân dân tối cao, của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Quy chế này và các quy
định, quy chế khác có liên quan; thực hiện chế độ bảo vệ bí mật, bảo vệ chính
trị nội bộ và kỷ luật phát ngôn theo quy định. Quản lý hồ sơ, tài liệu, dữ liệu,
công việc, tài sản công theo quy định của pháp luật và của ngành Kiểm sát nhân
dân;
e) Thực hiện
đánh giá định kỳ theo quy định và đột xuất theo yêu cầu;
g) Không được
yêu cầu, tiếp cận, sử dụng thông tin, tài liệu ngoài phạm vi nhiệm vụ được
giao; không lợi dụng vị trí thành viên Bộ phận nghiên cứu chuyên đề để can thiệp,
tác động, yêu cầu trái quy định; không được sử dụng thông tin, tài liệu được tiếp
cận phục vụ mục đích cá nhân hoặc mục đích khác trái quy định;
h) Thực hiện
các nhiệm vụ khác do Trưởng Bộ phận nghiên cứu chuyên đề hoặc Ban Thường vụ Đảng
ủy, lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tối cao phân công.
Điều 8. Quy trình, thủ tục phân công, bố trí cán bộ tham gia Bộ
phận nghiên cứu chuyên đề
1. Căn cứ
yêu cầu, nhiệm vụ công tác, Vụ Tổ chức cán bộ tham mưu Ban Thường vụ Đảng ủy Viện
kiểm sát nhân dân tối cao cho chủ trương và triển khai việc rà soát để đề xuất
phân công, bố trí cán bộ tham gia Bộ phận nghiên cứu chuyên đề.
2. Việc đề
xuất bố trí cán bộ tham gia Bộ phận nghiên cứu chuyên đề thực hiện theo nguyên
tắc đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, gắn trách nhiệm của người đứng đầu đơn vị.
Theo đó, Thủ trưởng đơn vị thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân cấp tỉnh trên cơ sở kết quả đánh giá cán bộ; căn cứ tình hình
công tác thực tiễn và tiêu chuẩn của thành viên Bộ phận nghiên cứu chuyên đề;
có trách nhiệm đề xuất, kiến nghị cấp có thẩm quyền xem xét phân công, bố trí
cán bộ thuộc thẩm quyền quản lý tham gia Bộ phận nghiên cứu; đồng thời phải chịu
trách nhiệm về đề xuất của mình.
3. Vụ Tổ
chức cán bộ chủ trì, phối hợp với Ban Tổ chức Đảng ủy và các đơn vị liên quan tổng
hợp, thẩm định, báo cáo Ban Thường vụ Đảng ủy, lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân
tối cao xem xét, quyết định.
4. Trường
hợp cán bộ được Ban Thường vụ Đảng ủy, lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tối cao
trực tiếp chỉ định, phân công tham gia Bộ phận nghiên cứu chuyên đề hoặc cán bộ
có nguyện vọng tham gia, Vụ Tổ chức cán bộ phối hợp với Ban Tổ chức Đảng ủy rà
soát, đánh giá, tổng hợp, báo cáo Ban Thường vụ Đảng ủy Viện kiểm sát nhân dân
tối cao xem xét, quyết định.
Chương III
CHẾ ĐỘ LÀM VIỆC,
QUY TRÌNH XỬ LÝ CÔNG VIỆC VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA BỘ PHẬN NGHIÊN CỨU
CHUYÊN ĐỀ
Điều 9. Chế độ làm việc
1. Thành viên Bộ
phận nghiên cứu chuyên đề làm việc theo chế độ chuyên trách hoặc kiêm nhiệm
theo quyết định của cấp có thẩm quyền.
2. Bộ phận
nghiên cứu chuyên đề làm việc theo chương trình công tác tháng, quý, năm và
theo nhiệm vụ đột xuất do Ban Thường vụ Đảng ủy, lãnh đạo Viện kiểm sát nhân
dân tối cao giao. Chương trình công tác phải xác định rõ các chuyên đề nghiên cứu
trọng tâm, các nội dung phản biện, thẩm định chuyên sâu, tiến độ thực hiện,
thành viên chủ trì và sản phẩm đầu ra dự kiến.
3. Bộ phận
nghiên cứu chuyên đề họp định kỳ hoặc đột xuất để thảo luận chuyên môn, đánh
giá tiến độ, chất lượng sản phẩm, xử lý các vấn đề phát sinh; được áp dụng linh
hoạt hình thức họp trực tiếp, trực tuyến, phòng họp không giấy và quản lý hồ sơ
công việc trên môi trường số theo quy định.
4. Bộ phận
nghiên cứu chuyên đề thực hiện chế độ báo cáo định kỳ theo quy định và báo cáo
đột xuất theo yêu cầu của Ban Thường vụ Đảng ủy và đồng chí Bí thư Đảng ủy, Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc báo cáo khi phát sinh vấn đề phức tạp,
vượt thẩm quyền.
5. Trong quá
trình thực hiện nhiệm vụ, Bộ phận nghiên cứu chuyên đề ban hành văn bản
hành chính và được sử dụng con dấu của Viện kiểm sát nhân dân tối cao theo quy
định. Văn bản của Bộ phận nghiên cứu chuyên đề do Trưởng Bộ phận ký hoặc ủy quyền
cho Phó Trưởng Bộ phận ký thay mặt Trưởng Bộ phận.
Điều 10. Quy trình xử lý công việc
1. Tiếp nhận,
chuyển xử lý nhiệm vụ, công việc: Văn phòng Viện kiểm sát nhân dân tối cao là đầu
mối tiếp nhận, chuyển giao, theo dõi văn bản, ý kiến chỉ đạo, nhiệm vụ được Ban
Thường vụ Đảng ủy, lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tối cao giao cho Bộ phận
nghiên cứu chuyên đề và chuyển nhiệm vụ đến Bộ phận nghiên cứu chuyên đề để tổ
chức thực hiện.
2. Phân công,
theo dõi kết quả xử lý nhiệm vụ: Căn cứ tính chất, nội dung, yêu cầu, tiến
độ và mức độ bảo mật của nhiệm vụ, Trưởng Bộ phận nghiên cứu chuyên đề phân
công thành viên chủ trì, thành viên phối hợp và xác định rõ thời gian, sản phẩm
đầu ra. Phó Trưởng Bộ phận thường trực giúp Trưởng Bộ phận nghiên cứu chuyên đề
tiếp nhận nhiệm vụ từ Văn phòng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, theo dõi, đôn đốc
và báo cáo Trưởng Bộ phận việc thực hiện nhiệm vụ, công việc cụ thể của các
thành viên Bộ phận nghiên cứu chuyên đề.
3. Đối với
nhiệm vụ quan trọng, phức tạp, liên quan đến nhiều địa bàn, lĩnh vực hoặc vấn đề
nhạy cảm hoặc có nhiều ý kiến khác nhau, Phó Trưởng Bộ phận thường trực báo cáo
Trưởng Bộ phận nghiên cứu chuyên đề quyết định hình thức tổ chức thảo luận tập
thể hoặc phối hợp với các cơ quan có liên quan để bảo đảm chất lượng tham mưu.
4. Tổ chức
nghiên cứu, tham mưu: Thành viên Bộ phận nghiên cứu chuyên đề được phân công chủ
trì có trách nhiệm xây dựng kế hoạch thực hiện, chủ động nghiên cứu, rà soát, tổng
hợp, khảo sát thực tiễn, thu thập thông tin, tài liệu, phối hợp với các cơ
quan, đơn vị có liên quan theo quy định. Việc triển khai thực hiện phải bảo đảm
khách quan, khoa học, đúng định hướng, đúng phạm vi, đúng tiến độ và đúng quy định
về bảo mật.
5. Hoàn thiện,
báo cáo trình cấp có thẩm quyền: Sau khi hoàn thành dự thảo sản phẩm, công việc,
thành viên Bộ phận nghiên cứu chuyên đề được phân công chủ trì báo cáo Phó Trưởng
Bộ phận thường trực để báo cáo Trưởng Bộ phận nghiên cứu chuyên đề xem xét, cho
ý kiến, chỉ đạo hoàn thiện trước khi trình cấp có thẩm quyền theo quy định.
6. Theo dõi, lưu
trữ hồ sơ công việc và đánh giá: Hồ sơ, tài liệu, sản phẩm nghiên cứu,
tham mưu của Bộ phận nghiên cứu chuyên đề được quản lý, lưu trữ theo quy định tại
Văn phòng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; được khai thác sử dụng theo quy định;
kết quả thực hiện từng nhiệm vụ là căn cứ quan trọng để đánh giá chất lượng hoạt
động của Bộ phận nghiên cứu chuyên đề và từng thành viên Bộ phận nghiên cứu
chuyên đề.
Điều 11. Sản phẩm nghiên cứu, tham mưu
1. Sản phẩm
của Bộ phận nghiên cứu chuyên đề bao gồm một hoặc nhiều loại sau đây: Báo cáo
nghiên cứu chuyên đề; báo cáo phân tích, dự báo, cảnh báo rủi ro; báo cáo phản biện,
góp ý, thẩm định chuyên sâu; đề án, đề tài, dự án; tài liệu hướng dẫn chuyên
môn, tài liệu tập huấn, bồi dưỡng; mô hình mới, sáng kiến cải cách, cơ chế thí
điểm được đề xuất hoặc được chấp thuận và các công việc, nhiệm vụ khác được
giao.
2. Sản phẩm
nghiên cứu, tham mưu phải bảo đảm yêu cầu về chất lượng chuyên môn, tính chính
xác, tính khoa học, tính khả thi, tính kịp thời, tính bảo mật và khả năng áp dụng
trong thực tiễn.
Điều 12. Đánh giá kết quả hoạt động và đánh giá thành viên
1. Việc
đánh giá kết quả hoạt động của Bộ phận nghiên cứu chuyên đề và đánh giá các
thành viên Bộ phận nghiên cứu chuyên đề thực hiện theo quy định của Trung ương,
của ngành Kiểm sát nhân dân về đánh giá, xếp loại chất lượng đối với tập thể,
cá nhân trong hệ thống chính trị.
2. Nội
dung đánh giá chủ yếu gồm: kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao; chất lượng, số
lượng, tiến độ và hiệu quả của sản phẩm nghiên cứu, tham mưu; mức độ sáng tạo,
tính chủ động, khả năng đề xuất giải pháp mới; ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần
trách nhiệm, chấp hành quy định về bảo mật, phối hợp công tác và kỷ luật phát
ngôn.
3. Căn cứ
tình hình thực tế và yêu cầu nhiệm vụ, trên cơ sở số lượng, chất lượng, tiến độ,
hiệu quả công việc, sản phẩm cụ thể, cấp có thẩm quyền quyết định đánh giá, xếp
loại mức độ hoàn thành nhiệm vụ và việc phân công, điều động, bố trí công tác đối
với thành viên Bộ phận nghiên cứu chuyên đề theo quy định.
Điều 13. Điều kiện bảo đảm hoạt động và chế độ, chính sách
1. Bộ phận
nghiên cứu chuyên đề và thành viên Bộ phận nghiên cứu chuyên đề được bố trí các
điều kiện để bảo đảm hoạt động theo quy định. Văn phòng Viện kiểm sát nhân dân
tối cao chịu trách nhiệm bảo đảm cơ sở vật chất, trang thiết bị, hạ tầng công
nghệ thông tin, điều kiện bảo mật, kinh phí, công tác văn thư, lưu trữ và các
điều kiện cần thiết khác phục vụ cho hoạt động của Bộ phận nghiên cứu chuyên đề.
Trường hợp cần ban hành văn bản, hồ sơ thuộc phạm vi nhiệm vụ được giao thì Trưởng
Bộ phận nghiên cứu chuyên đề sử dụng con dấu của Viện kiểm sát nhân dân tối cao
theo quy định.
2. Thành viên
chuyên trách của Bộ phận nghiên cứu chuyên đề sinh hoạt Đảng và sinh hoạt
hành chính theo quy định tại Văn phòng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
3. Thành viên Bộ
phận nghiên cứu chuyên đề được bảo lưu chế độ, chính sách, phụ cấp theo chức
danh, chức vụ được hưởng trước khi được điều động, phân công, bố trí tham gia Bộ
phận nghiên cứu chuyên đề theo quy định hiện hành; tham gia sinh hoạt Đảng và
được hưởng chế độ, chính sách khác theo quy định của Đảng, pháp luật và Viện kiểm
sát nhân dân tối cao. Cấp có thẩm quyền căn cứ từng trường hợp cụ thể để xem
xét, quyết định.
4. Trong thời
gian công tác tại Bộ phận nghiên cứu chuyên đề, thành viên Bộ phận được Ban Thường
vụ Đảng ủy Viện kiểm sát nhân dân tối cao xem xét quy hoạch, bổ nhiệm, bố trí,
phân công đảm nhiệm chức vụ công tác phù hợp với tình hình, yêu cầu cụ thể;
tiêu chuẩn, điều kiện, phẩm chất, năng lực, sở trường, kinh nghiệm công tác và
mức độ hoàn thành nhiệm vụ được giao theo quy định.
5. Việc
xem xét bố trí, sử dụng cán bộ sau thời gian công tác tại Bộ phận nghiên cứu
chuyên đề được thực hiện trên cơ sở nhu cầu công tác, tiêu chuẩn, điều kiện, kết
quả đánh giá sản phẩm cụ thể và quy định về công tác cán bộ.
Chương IV
QUAN HỆ CÔNG TÁC
CỦA BỘ PHẬN NGHIÊN CỨU CHUYÊN ĐỀ
Điều 14. Quan hệ với Ban Thường vụ Đảng ủy, Ủy ban kiểm sát Viện
kiểm sát nhân dân tối cao và đồng chí Bí thư Đảng ủy, Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân tối cao
1. Bộ phận
nghiên cứu chuyên đề chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, toàn diện và thực hiện
nhiệm vụ theo phân công, chỉ đạo của Ban Thường vụ Đảng ủy và đồng chí Bí thư Đảng
ủy, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Ngoài ra, Bộ phận nghiên cứu
chuyên đề có thể được giao nghiên cứu, tham mưu những vấn đề thuộc phạm vi có
liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của Ủy ban kiểm sát Viện kiểm sát
nhân dân tối cao.
2. Căn cứ
nhiệm vụ, lĩnh vực công tác và đơn vị được phân công phụ trách, các đồng chí
thành viên Ban Thường vụ Đảng ủy Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Ủy ban kiểm
sát Viện kiểm sát nhân dân tối cao chủ động đề xuất Ban Thường vụ Đảng ủy và đồng
chí Bí thư Đảng ủy, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao về việc giao nhiệm
vụ nghiên cứu chuyên đề và các nhiệm vụ khác có liên quan đối với thành viên Bộ
phận nghiên cứu chuyên đề.
3. Bộ phận
nghiên cứu chuyên đề thực hiện nghiêm túc chế độ thông tin, báo cáo theo yêu cầu;
kịp thời báo cáo Ban Thường vụ Đảng ủy và đồng chí Bí thư Đảng ủy, Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân tối cao về kết quả thực hiện nhiệm vụ, những vấn đề phát
sinh và các nội dung cần xin ý kiến chỉ đạo.
4. Đại diện
Ban Thường vụ Đảng ủy Viện kiểm sát nhân dân tối cao định kỳ làm việc với Bộ phận
nghiên cứu chuyên đề để định hướng hoạt động, đánh giá hiệu quả công tác nghiên
cứu.
Điều 15. Quan hệ với Văn phòng Viện kiểm sát nhân dân tối cao
1. Văn phòng Viện
kiểm sát nhân dân tối cao là đơn vị theo dõi, tiếp nhận văn bản, tổng hợp kết
quả thực hiện nhiệm vụ của Bộ phận nghiên cứu chuyên đề do cấp có thẩm quyền
giao; tham mưu sơ kết, tổng kết công tác của Bộ phận nghiên cứu chuyên đề theo
chỉ đạo của cấp có thẩm quyền. Văn phòng Viện kiểm sát nhân dân tối cao không
can thiệp vào nội dung chuyên môn, quan điểm nghiên cứu, phản biện, tư vấn độc
lập của Bộ phận nghiên cứu chuyên đề.
2. Văn phòng Viện
kiểm sát nhân dân tối cao thực hiện chi trả chế độ, chính sách; phân công, bố
trí bộ phận hoặc công chức kiêm nhiệm giúp việc cho một số hoạt động của Bộ phận
nghiên cứu chuyên đề và bảo đảm các điều kiện cần thiết phục vụ hoạt động của Bộ
phận nghiên cứu chuyên đề theo quy định.
3. Văn phòng Viện
kiểm sát nhân dân tối cao có trách nhiệm quản lý, lưu trữ hồ sơ, tài liệu, dữ
liệu, sản phẩm nghiên cứu của Bộ phận nghiên cứu chuyên đề, bảo đảm chế độ bảo
mật thông tin, tài liệu theo quy định.
Điều 16. Quan hệ với các đơn vị thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối
cao và Viện kiểm sát nhân dân địa phương, cơ quan, đơn vị liên quan
1. Các đơn vị
thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các Viện kiểm sát nhân dân địa phương,
cơ quan, đơn vị liên quan có trách nhiệm phối hợp, cung cấp đầy đủ, kịp thời thông
tin, tài liệu, số liệu, báo cáo, giải trình theo đề nghị của Bộ phận nghiên cứu
chuyên đề thông qua Trưởng Bộ phận hoặc người được Trưởng Bộ phận phân công.
2. Các đơn vị
thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các Viện kiểm sát nhân dân địa phương,
cơ quan, đơn vị liên quan có trách nhiệm phối hợp với Bộ phận nghiên cứu chuyên
đề trong quản lý tổ chức, hoạt động và việc thực hiện công tác cán bộ, chế độ,
chính sách đối với thành viên của Bộ phận nghiên cứu chuyên đề; phối hợp với
Ban Tổ chức Đảng ủy, Vụ Tổ chức cán bộ trong việc thực hiện trưng tập công chức,
viên chức đến làm việc tại Bộ phận nghiên cứu chuyên đề theo quy định.
3. Bộ phận
nghiên cứu chuyên đề có trách nhiệm trao đổi thông tin, phối hợp công tác và
tham khảo ý kiến các cơ quan, đơn vị chuyên môn có liên quan nhằm bảo đảm tính
đúng đắn, tính khả thi và tính đồng bộ của các báo cáo nghiên cứu, đề xuất, kiến
nghị.
Điều 17. Khen thưởng và xử lý trách nhiệm
1. Khen thưởng:
Tổ chức, cá nhân có thành tích trong hoạt động của Bộ phận nghiên cứu chuyên đề,
có sản phẩm nghiên cứu, tham mưu chất lượng, hiệu quả, đóng góp thiết thực cho
công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng ủy, Ban Thường vụ Đảng ủy, Lãnh đạo Viện kiểm
sát nhân dân tối cao thì được xem xét biểu dương, khen thưởng theo quy định.
2. Xử lý
trách nhiệm:
a) Thành viên Bộ
phận nghiên cứu chuyên đề vi phạm Quy chế làm việc của Đảng ủy Viện kiểm sát
nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Quy chế này và các quy chế,
quy định khác có liên quan hoặc không hoàn thành nhiệm vụ được giao, chậm tiến
độ không có lý do chính đáng, chất lượng sản phẩm không đáp ứng yêu cầu, đùn đẩy
công việc, thiếu trách nhiệm, vi phạm quy định về bảo vệ bí mật, kỷ luật phát
ngôn hoặc lợi dụng nhiệm vụ được giao vì mục đích cá nhân thì tùy tính chất, mức
độ vi phạm phải bị xem xét, xử lý theo quy định.
b) Đơn vị,
cá nhân có trách nhiệm phối hợp nhưng không phối hợp, chậm phối hợp, cung cấp
thông tin không đầy đủ, không chính xác, làm ảnh hưởng đến tiến độ, chất lượng
nhiệm vụ của Bộ phận nghiên cứu chuyên đề và kết quả công tác lãnh đạo, chỉ đạo
của Đảng ủy, Ban Thường vụ Đảng ủy, lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tối cao thì
bị xem xét trách nhiệm theo quy định.
Chương V
ĐIỀU KHOẢN THI
HÀNH
Điều 18. Tổ chức thực hiện
1. Trưởng
Bộ phận, Phó Trưởng Bộ phận, các thành viên Bộ phận nghiên cứu chuyên đề; người
đứng đầu các đơn vị thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân
dân tỉnh, thành phố và các đơn vị, tổ chức, cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm
thực hiện nghiêm túc quy định tại Quy chế này.
2. Các đơn vị
thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố
có trách nhiệm quán triệt, phổ biến Quy chế này đến công chức, viên chức của
đơn vị; thường xuyên chú trọng, làm tốt công tác chính trị, tư tưởng, tạo sự
đoàn kết, thống nhất cao trong đơn vị và Bộ phận nghiên cứu chuyên đề.
3. Vụ Tổ
chức cán bộ Viện kiểm sát nhân dân tối cao căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao
chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan nghiên cứu, tham mưu Ban
Thường vụ Đảng ủy và đồng chí Bí thư Đảng ủy, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân tối cao xem xét, quyết định việc bố trí nhân sự và việc thực hiện chế độ,
chính sách đối với thành viên Bộ phận nghiên cứu chuyên đề theo quy định. Trường
hợp cần thiết, báo cáo cấp có thẩm quyền theo phân cấp quản lý cán bộ.
4. Viện
Khoa học Kiểm sát, Vụ Pháp chế, Trường Đại học Kiểm sát và các đơn vị có liên
quan, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao có trách nhiệm phối hợp công tác,
hỗ trợ Bộ phận nghiên cứu chuyên đề trong nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn,
xây dựng tài liệu, tổ chức hội thảo, tọa đàm, tham gia bồi dưỡng, giảng dạy, tập
huấn và các hoạt động chuyên môn khác khi có yêu cầu của cấp có thẩm quyền.
5. Trong quá
trình thực hiện, nếu có khó khăn, vướng mắc hoặc phát sinh vấn đề mới,
Trưởng Bộ phận nghiên cứu chuyên đề chủ trì, làm việc với Văn phòng Viện kiểm
sát nhân dân tối cao và các cơ quan, đơn vị liên quan tổng hợp, báo cáo Ban Thường
vụ Đảng ủy, lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tối cao (qua Vụ Tổ chức cán bộ)
xem xét, quyết định việc sửa đổi, bổ sung Quy chế cho phù hợp với yêu cầu, nhiệm
vụ công tác.
Điều 19. Điều khoản thi hành
1. Quy chế
này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký Quyết định ban hành.
2. Trường
hợp quy định của Đảng, quy định của pháp luật được sửa đổi, bổ sung hoặc ban
hành mới có nội dung khác với quy định tại Quy chế này thì thực hiện theo quy định
của Đảng và quy định của pháp luật có liên quan./.