|
ỦY BAN NHÂN DÂN
TỈNH LAI CHÂU
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 53/2026/QĐ-UBND
|
Lai Châu, ngày 29
tháng 6 năm 2026
|
QUYẾT ĐỊNH
SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA QUYẾT ĐỊNH SỐ
42/2024/QĐ-UBND NGÀY 27 THÁNG 9 NĂM 2024 CỦA UBND TỈNH QUY ĐỊNH MỘT SỐ NỘI DUNG
VỀ BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH
LAI CHÂU
Căn cứ Luật Tổ chức chính
quyền địa phương số 72/2025/QH15;
Căn cứ Luật Ban hành văn bản
quy phạm pháp luật số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số
87/2025/QH15;
Căn cứ Luật Đất đai số
31/2024/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 43/2024/QH15;
Căn cứ Nghị quyết số
254/2025/QH15 của Quốc hội quy định một số cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn,
vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật Đất đai;
Căn cứ Nghị định số
78/2025/NĐ-CP ngày 01 tháng 4 năm 2025 của Chính phủ về quy định chi tiết một số
điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm
pháp luật;
Căn cứ Nghị định số
187/2025/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số
điều của Nghị định số 78/2025/NĐ-CP ngày 01 tháng 4 năm 2025 của Chính phủ quy
định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Ban
hành văn bản quy phạm pháp luật và Nghị định số 79/2025/NĐ-CP ngày 01 tháng 4
năm 2025 của Chính phủ về kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa và xử lý văn bản quy
phạm pháp luật;
Căn cứ Nghị định số
151/2025/NĐ-CP ngày 12 tháng 6 năm 2025 quy định về phân định thẩm quyền của
chính quyền địa phương 02 cấp, phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực đất đai;
Căn cứ Nghị định số
226/2025/NĐ-CP ngày 15 tháng 8 năm 2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của các
nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai;
Căn cứ Nghị định số
49/2026/NĐ-CP ngày 31 tháng 01 năm 2026 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng
dẫn một số điều của Nghị quyết số 254/2025/QH15 của Quốc hội quy định một số cơ
chế, chính sách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật Đất
đai;
Theo đề nghị của Giám đốc Sở
Nông nghiệp và Môi trường.
Ủy ban nhân dân tỉnh ban
hành Quyết định sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 42/2024/QĐ-UBND
ngày 27 tháng 9 năm 2024 của UBND tỉnh quy định một số nội dung về bồi thường,
hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Lai Châu.
Điều 1. Sửa
đổi, bổ sung một số điều của Quy định ban hành kèm theo Quyết định số
42/2024/QĐ-UBND
1. Sửa đổi, bổ sung một
số điểm, khoản của Điều 4 như sau:
a) Sửa đổi bổ sung điểm b khoản
2 như sau:
“b) Dự án có quỹ đất tái định
cư hoặc nhà ở để bồi thường cho người bị thu hồi đất và được xác định trong dự
án đầu tư được cấp có thẩm quyền phê duyệt.”.
b) Sửa đổi, bổ sung khoản 3 như
sau:
“3. Diện tích, tỷ lệ quy đổi được
xác định trong phạm vi địa giới đơn vị hành chính cấp xã nơi có đất thu hồi và
theo từng dự án, không cộng dồn diện tích thu hồi của các dự án khác để tính
quy đổi.”.
2. Bổ sung Điều 4a vào
sau Điều 4 như sau:
“Điều 4a. Bố trí tái định cư
ngoài địa bàn đơn vị hành chính cấp xã nơi có đất thu hồi
1. Trường hợp trong địa bàn đơn
vị hành chính cấp xã nơi có đất thu hồi không có quỹ đất để bố trí tái định cư
thì người có đất thu hồi được bố trí tái định cư ngoài đơn vị hành chính cấp xã
nơi có đất thu hồi. Việc lựa chọn vị trí bố trí tái định cư được thực hiện trên
cơ sở đánh giá các điều kiện thực tế và bảo đảm các tiêu chí sau:
a) Có vị trí phù hợp, thuận lợi
cho việc ổn định đời sống và sản xuất, ưu tiên khu tái định cư gần nơi có đất
thu hồi;
b) Phù hợp với phong tục, tập
quán, điều kiện sinh hoạt của cộng đồng dân cư nơi có đất thu hồi;
c) Có hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng
xã hội bảo đảm điều kiện sống bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ.
2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp
xã nơi có đất thu hồi có trách nhiệm trao đổi, thống nhất với Chủ tịch Ủy ban
nhân dân cấp xã nơi bố trí tái định cư về số lượng, vị trí khu tái định cư; phê
duyệt phương án bố trí tái định cư; chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc
xác định đối tượng, điều kiện được bố trí tái định cư của từng người sử dụng đất.
Trường hợp không thống nhất được thì báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh xem
xét, quyết định.
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã
nơi bố trí tái định cư căn cứ phương án bố trí tái định cư đã được phê duyệt chỉ
đạo thực hiện thủ tục giao đất tái định cư theo thẩm quyền.”.
3. Bổ sung khoản 3 vào
sau khoản 2 Điều 5 như sau:
“3. Nhà ở, công trình phục vụ đời
sống gắn liền với đất phải tháo dỡ hoặc phá dỡ toàn bộ hoặc một phần mà phần
còn lại không bảo đảm tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định pháp luật có liên quan
thì bồi thường bằng giá trị xây dựng mới của toàn bộ nhà ở, công trình đó với
tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương.
Trường hợp phần còn lại của nhà
ở, công trình phục vụ đời sống gắn liền với đất vẫn bảo đảm tiêu chuẩn kỹ thuật
theo quy định của pháp luật liên quan thì được bồi thường theo thiệt hại thực tế,
bao gồm:
- Chi phí bồi thường phần nhà ở,
công trình phải tháo dỡ hoặc phá dỡ được xác định theo diện tích và đơn giá xây
dựng mới của nhà ở, công trình đó với tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương.
- Chi phí cần thiết để gia cố,
sửa chữa, khắc phục, hoàn thiện phần còn lại nhằm bảo đảm tiếp tục sử dụng an
toàn, hợp lý theo công năng sử dụng trước khi bị tháo dỡ, phá dỡ; không bao gồm
chi phí cải tạo, nâng cấp hoặc làm tăng quy mô, tiêu chuẩn kỹ thuật, cấp công
trình so với hiện trạng trước khi bị tháo dỡ, phá dỡ. Phần chi phí này do đơn vị
tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư xác định hoặc thuê
đơn vị tư vấn để xác định theo thực tế của từng trường hợp cụ thể làm cơ sở để
đưa vào phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và trình cơ quan có thẩm quyền
thẩm định, phê duyệt theo quy định.”.
4. Sửa đổi, bổ sung một
số khoản của Điều 6 như sau:
a) Sửa đổi, bổ sung khoản 1 như
sau:
“1. Bồi thường di chuyển mồ mả
bao gồm các chi phí như: Đào, bốc, di chuyển, xây dựng lại và các chi phí hợp
lý khác có liên quan; mức bồi thường theo đơn giá do Uỷ ban nhân dân tỉnh ban
hành; trường hợp di chuyển mồ mả đến nơi quy định mà phải nộp tiền sử dụng đất
thì được tính bổ sung tiền sử dụng đất vào mức bồi thường. Trường hợp tự thu xếp
việc di chuyển mồ mả ngoài khu vực được bố trí thì ngoài việc được bồi thường
di chuyển mồ mả còn được hỗ trợ bằng tiền, mức hỗ trợ là 1.500.000 (Một triệu
năm trăm nghìn) đồng/01 mồ mả.”.
b) Sửa đổi khoản 4 như sau:
“4. Đối với nghĩa trang liệt sĩ
hoặc mồ mả của người nước ngoài thì hồ sơ dự toán gửi tới UBND cấp xã thẩm định
trước khi trình phê duyệt cùng với phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
UBND cấp xã chủ trì, phối hợp với Tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ,
tái định cư thực hiện di chuyển đến nơi quy định.”.
5. Sửa đổi khoản 2 Điều
10 như sau:
“2. Đối với máy móc, dây chuyền
sản xuất mà có thể tháo dời và di chuyển được thì Tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi
thường căn cứ biên bản điều tra hiện trạng (có xác nhận của Uỷ ban nhân dân
cấp xã nơi thu hồi đất) để thuê đơn vị tư vấn có tư cách pháp nhân, đủ năng
lực lập dự toán tháo dỡ di chuyển, lắp đặt lại (bao gồm cả mức thiệt hại khi
tháo dỡ, vận chuyển, lắp đặt), gửi phòng kinh tế hoặc phòng kinh tế hạ tầng
và đô thị thẩm định trước khi trình Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã phê duyệt
phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.”.
6. Sửa đổi bổ sung một số
điểm, khoản của Điều 11 như sau:
a) Sửa đổi điểm b khoản 4 như
sau:
“b) Số nhân khẩu trong hộ gia
đình được hỗ trợ là những nhân khẩu trực tiếp sản xuất nông nghiệp có chung quyền
sử dụng đất tại thời điểm phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
và nhân khẩu trực tiếp sản xuất nông nghiệp là thành viên hộ gia đình phát sinh
sau thời điểm giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình đó (nếu có); việc xác định số
nhân khẩu có chung quyền sử dụng đất do các thành viên trong hộ gia đình tự thỏa
thuận và chịu trách nhiệm trước pháp luật.”.
b) Bổ sung khoản 6 vào sau khoản
5 như sau:
“6. Trường hợp đặc biệt cần quy
định khác về mức hỗ trợ ổn định đời sống, về hình thức hỗ trợ ổn định đời sống
thì báo cáo UBND tỉnh xem xét, quyết định nhưng không thấp hơn so với quy định
tại khoản 1, khoản 2 Điều 19 Nghị định số 88/2024/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi
khoản 4 Điều 2 Nghị định số 226/2025/NĐ-CP ”
7. Sửa đổi điểm a khoản
3 Điều 14 như sau:
“a) Căn cứ cơ chế, chính sách
giải quyết việc làm đã được Thủ tướng Chính phủ quyết định, Ủy ban nhân dân cấp
xã lập phương án đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm cho người trong
độ tuổi lao động tại địa phương, trình cấp có thẩm quyền quyết định phù hợp với
từng hộ gia đình, cá nhân có đất bị thu hồi;”.
8. Bổ sung khoản 3 vào
sau khoản 2 Điều 15 như sau:
“3. Việc bố trí tạm cư trước
khi hoàn thành bố trí tái định cư đối với các dự án quy định tại điểm b khoản 3
Điều 3 của Nghị quyết số 254/2025/QH15 được thực hiện như sau:
a) Việc bố trí tạm cư được thực
hiện bằng một trong các hình thức sau:
- Bố trí vào quỹ nhà ở thuộc sở
hữu nhà nước (nếu có);
- Hỗ trợ tiền thuê nhà ở trong
thời gian chờ bố trí tái định cư.
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã
căn cứ điều kiện thực tế tại địa phương và quỹ nhà ở hiện có, quyết định hình
thức bố trí tạm cư theo quy định nêu trên; nội dung bố trí tạm cư được tổng hợp
trong phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư để phê duyệt theo thẩm quyền.
b) Thời gian bố trí tạm cư được
tính từ thời điểm người có đất bị thu hồi bàn giao đất thu hồi đến khi được nhận
bàn giao đất ở, nhà ở tái định cư. Trường hợp người có đất bị thu hồi đã được
cơ quan có thẩm quyền thông báo nhận đất ở, nhà ở tại khu tái định cư nhưng
không thực hiện nhận theo thời hạn ghi trong thông báo thì thời gian kéo dài kể
từ khi hết thời hạn nhận đất ở, nhà ở tái định cư đến khi thực hiện nhận đất ở,
nhà ở tái định cư không được tính hỗ trợ tiền thuê nhà.
Trường hợp việc chưa nhận đất ở,
nhà ở tái định cư do khu tái định cư chưa bảo đảm điều kiện bàn giao đưa vào sử
dụng thì người có đất bị thu hồi tiếp tục được xem xét hỗ trợ tiền thuê nhà đến
khi được nhận bàn giao đất ở, nhà ở tái định cư theo quy định.
c) Mức hỗ trợ tiền thuê nhà khi
bố trí tạm cư thực hiện theo quy định tại các điểm a, b, c khoản 1 Điều này.
d) Kinh phí bố trí tạm cư được
tính vào kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của dự án.”.
9. Sửa đổi, bổ sung khoản
2 Điều 16 như sau:
“2. Suất tái định cư tối thiểu
bằng đất ở hoặc nhà ở được quy định như sau:
a) Suất tái định cư tối thiểu
là đất ở: Căn cứ vào điều kiện quỹ đất ở thực tế tại địa phương để bố trí suất
tái định cư bằng đất ở được cơ quan hoặc cấp có thẩm quyền phê duyệt trong
phương án hoặc dự án tái định cư nhưng diện tích không nhỏ hơn diện tích tối
thiểu được tách thửa đối với đất ở theo quy định của Ủy ban nhân dân tỉnh.
b) Suất tái định cư tối thiểu
là nhà ở: Căn cứ quỹ nhà ở thực tế tại địa phương để bố trí suất nhà ở tái định
cư được cơ quan hoặc cấp có thẩm quyền phê duyệt trong phương án hoặc dự án tái
định cư nhưng diện tích nhà ở tái định cư không nhỏ hơn diện tích tối thiểu
theo quy định của pháp luật về nhà ở.”.
10. Sửa đổi, bổ sung Điều
17 như sau:
“Điều 17. Hỗ trợ khác (khoản
12 Điều 3 Nghị quyết số 254/2025/QH15)
1. Hỗ trợ gia đình chính sách
a) Hộ gia đình có người hoạt động
cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945; anh hùng lực lượng vũ trang; anh
hùng lao động; bà mẹ Việt Nam anh hùng; thương binh, bệnh binh, người hưởng
chính sách như thương binh, bệnh binh có tỷ lệ thương tật từ 81% trở lên; người
hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học có tỷ lệ suy giảm khả năng lao
động từ 81% trở lên; thân nhân liệt sỹ (được cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng
nhận gia đình liệt sĩ) đang hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng; người hoạt động
cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến trước tổng khởi nghĩa ngày 19 tháng
8 năm 1945, khi Nhà nước thu hồi đất mà phải phá dỡ, di chuyển toàn bộ nhà ở
thì ngoài mức bồi thường hỗ trợ theo quy định thì được hỗ trợ thêm tối đa không
quá 4.000.000 (Bốn triệu) đồng/hộ;
b) Hộ gia đình có người là
thương binh, bệnh binh và người hưởng chính sách như thương binh, bệnh binh mất
sức từ 21% - 80%, người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học, gia
đình có công với cách mạng đang hưởng trợ cấp hàng tháng, khi Nhà nước thu hồi
đất mà phải phá dỡ, di chuyển toàn bộ nhà ở thì ngoài mức bồi thường hỗ trợ
theo quy định thì được hỗ trợ thêm tối đa không quá 3.000.000 (Ba triệu) đồng/hộ;
c) Hộ gia đình có người được hưởng
trợ cấp xã hội khác của Nhà nước khi Nhà nước thu hồi đất mà phải phá dỡ, di
chuyển toàn bộ nhà ở thì ngoài mức bồi thường hỗ trợ theo quy định thì được hỗ
trợ thêm tối đa không quá 2.000.000 (Hai triệu) đồng/hộ;
d) Hộ gia đình có nhiều đối tượng
hưởng chính sách xã hội theo quy định tại điểm a, b và c khoản này thì được hưởng
một mức hỗ trợ cao nhất.
2. Người có đất ở bị thu hồi
thì ngoài việc được bồi thường theo quy định, còn được hỗ trợ kinh phí làm thủ
tục dời nhà cũ lên nhà mới một lần là tối đa không quá 1.000.000 (Một triệu) đồng/hộ.
3. Thưởng di chuyển đúng tiến độ
a) Người sử dụng đất nông nghiệp
đủ điều kiện bồi thường, khi Nhà nước thu hồi đất mà bàn giao toàn bộ diện tích
đất đã thu hồi cho Tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường (đất sạch) đúng thời hạn
phải bàn giao ghi trong thông báo của Tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường thì
được thưởng tối đa không quá 5.000 (Năm nghìn) đồng/m2 đối với toàn bộ diện
tích đất bị thu hồi;
b) Người có đất, tài sản trên đất
bị thu hồi phải phá dỡ, di chuyển toàn bộ nhà ở, công trình mà bàn giao mặt bằng
(đất sạch) cho Tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường đúng thời hạn phải bàn
giao ghi trong thông báo của Tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường thì được thưởng
tối đa không quá 7.000.000 (Bảy triệu) đồng/hộ;
c) Người sử dụng đất ở phải phá
dỡ một phần nhà chính (không phải di chuyển chỗ ở) bàn giao mặt bằng (đất sạch)
đúng hoặc trước thời hạn phải bàn giao ghi trong thông báo của Tổ chức thực hiện
nhiệm vụ bồi thường thì được thưởng tối đa không quá 1.000.000 (Một triệu) đồng/hộ;
d) Tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi
thường căn cứ vào thời gian, địa điểm chi trả tiền, thời gian bàn giao đất đã
thu hồi cho Tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường quy định tại điểm b khoản 4
Điều 87 của Luật Đất đai để lập phương án tiền thưởng di chuyển đúng tiến độ (nếu
có) trình cấp có thẩm quyền thẩm định, phê duyệt.
4. Đối với phần diện tích thu hồi
còn lại của thửa đất nhưng không được bồi thường về đất theo quy định tại khoản
1, 2, 3, 4 và 5 Điều 12 Nghị định số 88/2024/NĐ-CP thì được hỗ trợ tối đa bằng
50% giá đất của loại đất nông nghiệp bị thu hồi.
5. Hỗ trợ đối với trường hợp đặc
biệt
Trường hợp diện tích đất còn lại
của thửa đất sau khi bị thu hồi và các thửa đất, tài sản trên đất nằm ngoài phạm
vi thu hồi đất nhưng bị ảnh hưởng khi thực hiện dự án mà phải cải tạo thì mới sử
dụng được theo mục đích ban đầu thì được hỗ trợ công cải tạo đất và bằng tối đa
không quá 30% giá trị của phần diện tích đất thực tế bị ảnh hưởng để tiếp tục sử
dụng theo mục đích cũ. Trường hợp không thể cải tạo để tiếp tục sử dụng theo mục
đích cũ mà phải chuyển sang để sử dụng vào mục đích khác (việc chuyển mục đích
sử dụng đất thực hiện theo quy định của pháp luật về đất đai) có giá trị thấp
hơn thì được hỗ trợ tối đa không quá 100% giá trị chênh lệch của diện tích đất
thực tế bị ảnh hưởng của loại đất trước khi chuyển mục đích với loại đất sau
khi chuyển mục đích. Giá trị thu hồi, bồi thường nêu trên được tính theo diện
tích đất thực tế bị ảnh hưởng nhân với giá đất tại thời điểm phê duyệt phương
án bồi thường.
6. Hỗ trợ nhà, công trình không
đủ điều kiện bồi thường
a) Nhà, công trình khác xây dựng
trên đất không đủ điều kiện được bồi thường về đất theo quy định tại Điều 95 của
Luật Đất đai, nhưng tại thời điểm xây dựng phù hợp quy hoạch, kế hoạch sử dụng
đất, quy hoạch tỉnh, quy hoạch đô thị và nông thôn được cấp có thẩm quyền phê
duyệt, không vi phạm hành lang bảo vệ công trình thì được hỗ trợ tối đa bằng
80% mức bồi thường quy định tại khoản 1 Điều 5 của Quy định này;
b) Nhà, công trình khác xây dựng
trước ngày thông báo thu hồi đất không đủ điều kiện bồi thường theo quy định tại
Điều 95 của Luật Đất đai mà khi xây dựng vi phạm quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất,
quy hoạch tỉnh, quy hoạch đô thị và nông thôn được cấp có thẩm quyền phê duyệt
và cắm mốc hoặc vi phạm hành lang bảo vệ công trình đã được cắm mốc thì không
được bồi thường, không được hỗ trợ;
c) Nhà, công trình khác không
được phép xây dựng theo quy định của pháp luật về xây dựng, nhưng xây dựng trên
đất có đủ điều kiện bồi thường về đất và không bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền
lập biên bản xử lý vi phạm về xây dựng theo quy định của pháp luật thì được hỗ
trợ như sau:
Trường hợp xây dựng đúng mục
đích sử dụng đất và xây dựng trước thời điểm dự án đầu tư được cấp có thẩm quyền
phê duyệt thì được hỗ trợ tối đa bằng 100% mức bồi thường theo quy định tại khoản
1 Điều 5 của Quy định này.
Trường hợp xây dựng đúng mục
đích sử dụng đất và xây dựng sau thời điểm dự án đầu tư được cấp có thẩm quyền
phê duyệt nhưng trước thời điểm thông báo thu hồi đất thì được hỗ trợ tối đa bằng
70% mức bồi thường theo quy định tại khoản 1 Điều 5 của Quy định này.
Trường hợp xây dựng không đúng
mục đích sử dụng đất và xây dựng trước thời điểm dự án đầu tư được cấp có thẩm
quyền phê duyệt thì được hỗ trợ tối đa bằng 50% mức bồi thường theo quy định tại
khoản 1 Điều 5 của Quy định này.
Trường hợp xây dựng không đúng
mục đích và sau thời điểm dự án đầu tư được cấp có thẩm quyền phê duyệt thì
không được bồi thường, không được hỗ trợ. Trường hợp là công trình xây dựng thiết
yếu phục vụ nhu cầu sinh hoạt tối thiểu hàng ngày của hộ gia đình, cá nhân là đối
tượng chính sách, hộ đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn, hộ nghèo theo
chuẩn nghèo thì được hỗ trợ tối đa bằng 50% mức bồi thường theo quy định tại
khoản 1 Điều 5 của Quy định này.
d) Trường hợp các hộ gia đình,
cá nhân đồng bào dân tộc thiểu số có tập quán làm nhà nương (lán nương) xa nơi ở
để sử dụng làm nơi sinh hoạt ăn ở trên nương, làm kho chứa sản phẩm, chuồng trại
chăn nuôi thì được hỗ trợ như sau:
Trường hợp nhà nương (lán
nương) được hình thành từ trước ngày dự án đầu tư được cấp có thẩm quyền phê
duyệt và không vi phạm quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, quy hoạch tỉnh, quy hoạch
đô thị và nông thôn đã được công bố, công khai, hiện đang sử dụng đất ổn định
không tranh chấp và được Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi có đất thu hồi xác nhận thì
được hỗ trợ bằng 100% về giá trị tài sản theo quy định của Uỷ ban nhân dân tỉnh
tại thời điểm bồi thường.
Trường hợp nhà nương (lán
nương) được hình thành từ trước ngày dự án đầu tư được cấp có thẩm quyền phê
duyệt, nhưng hình thành vi phạm quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, quy hoạch tỉnh,
quy hoạch đô thị và nông thôn, vi phạm hành lang bảo vệ công trình đã được công
bố, công khai mà những vi phạm đó chưa có văn bản ngăn chặn của cấp có thẩm quyền
thì không được bồi thường nhưng được hỗ trợ; mức hỗ trợ tối đa bằng 50% đơn giá
bồi thường về tài sản theo quy định của Uỷ ban nhân dân tỉnh tại thời điểm bồi
thường.
Trường hợp nhà nương (lán
nương) được hình thành sau ngày thông báo thu hồi đất thì không được bồi thường,
không được hỗ trợ.
7. Trường hợp nhà ở, công trình
của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân xây dựng hợp pháp không bị thu hồi đất hoặc bị
thu hồi đất nhưng nhà ở, công trình không bị phá dỡ mà vẫn đang sử dụng nhưng
do Nhà nước thực hiện công trình, dự án mà cốt của công trình, dự án của Nhà nước
sau khi xây dựng xong cao hơn (đối với ta luy âm) hoặc thấp hơn (đối với ta luy
dương) so với cốt ban đầu trước khi thực hiện công trình, dự án do Nhà nước đầu
tư (theo hướng chính của nhà, công trình) thì được hỗ trợ như sau:
a) Cốt công trình, dự án của
Nhà nước sau khi xây dựng xong mà cao hoặc thấp hơn từ 0,75 m đến 1,5 m so với
cốt ban đầu của công trình, dự án đó thì được hỗ trợ, cụ thể:
- Nếu nhà ở, công trình của tổ
chức, hộ gia đình, cá nhân cách chỉ giới xây dựng công trình của Nhà nước nhỏ
hơn hoặc bằng 3,0 m thì mức hỗ trợ tối đa bằng 50% đơn giá bồi thường do Uỷ ban
nhân dân tỉnh quy định tại thời điểm bồi thường đối với toàn bộ diện tích nhà ở,
công trình liền khối hiện có bị ảnh hưởng.
- Nếu nhà ở, công trình của tổ
chức, hộ gia đình, cá nhân cách chỉ giới xây dựng công trình của Nhà nước từ
trên 3,0 m đến 5,0 m thì mức hỗ trợ tối đa bằng 30% đơn giá bồi thường về nhà,
công trình do Uỷ ban nhân dân tỉnh quy định tại thời điểm bồi thường đối với
toàn bộ diện tích nhà ở, công trình liền khối hiện có bị ảnh hưởng.
b) Cốt công trình, dự án của
Nhà nước sau khi xây dựng xong mà cao hoặc thấp hơn từ trên 1,5 m đến 2,5 m so
với cốt tự ban đầu của công trình đó thì được hỗ trợ, cụ thể:
- Nếu nhà ở, công trình của tổ
chức, hộ gia đình, cá nhân cách chỉ giới xây dựng công trình, dự án của Nhà nước
nhỏ hơn hoặc bằng 3,0 m thì mức hỗ trợ tối đa bằng 80% đơn giá bồi thường về
nhà, công trình do Uỷ ban nhân dân tỉnh quy định tại thời điểm bồi thường đối với
toàn bộ diện tích nhà ở, công trình liền khối hiện có bị ảnh hưởng.
- Nếu nhà ở, công trình của tổ
chức, hộ gia đình, cá nhân cách chỉ giới xây dựng công trình, dự án của Nhà nước
từ trên 3,0 m đến 5,0 m thì mức hỗ trợ tối đa bằng 60% đơn giá bồi thường về
nhà, công trình do Uỷ ban nhân dân tỉnh quy định tại thời điểm bồi thường đối với
toàn bộ diện tích nhà ở, công trình liền khối hiện có bị ảnh hưởng.
c) Trường hợp cốt công trình, dự
án của Nhà nước sau khi xây dựng xong mà cao hoặc thấp hơn trên 2,5 m so với cốt
tự ban đầu của công trình, dự án đó và cách chỉ giới xây dựng công trình, dự án
của Nhà nước nhỏ hơn hoặc bằng 5,0 m thì được hỗ trợ tối đa bằng 100% đơn giá bồi
thường về nhà, công trình do Uỷ ban nhân dân tỉnh quy định tại thời điểm bồi
thường đối với toàn bộ diện tích nhà ở, công trình liền khối hiện có bị ảnh hưởng.
d) Đối với nhà ở, công trình của
tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có đất, tài sản trên đất bị thu hồi có thể tháo dời
và di chuyển đến chỗ ở mới thì chỉ được hỗ trợ các chi phí tháo dời, vận chuyển,
lắp đặt và vật liệu bị hao hụt, hư hỏng do tháo dời, vận chuyển, lắp đặt theo
quy mô tương đương với công trình cũ thì hỗ trợ tối đa bằng 30% đơn giá bồi thường
về nhà, công trình do Uỷ ban nhân dân tỉnh quy định tại thời điểm bồi thường đối
với toàn bộ diện tích nhà ở, công trình liền khối hiện có bị ảnh hưởng.
đ) Trường hợp tổ chức, hộ gia
đình, cá nhân bị ảnh hưởng theo quy định tại điểm b và điểm c khoản này nếu người
sử dụng đất có đơn đề nghị thu hồi đất thì Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền
xem xét, quyết định thu hồi đất. Trong trường hợp thu hồi đất thì thực hiện bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư theo quy định.
e) Đối với các trường hợp nhà ở,
công trình không đủ điều kiện hỗ trợ theo quy định tại các điểm a, b, c, d khoản
này nhưng bị ảnh hưởng bởi cốt công trình, dự án của Nhà nước sau khi xây dựng
xong dẫn đến mất an toàn, không thể khắc phục để tiếp tục sử dụng hoặc bị ảnh
hưởng dẫn đến mất an toàn do chủ sử dụng của các thửa đất liền kề thực hiện cải
tạo xây dựng theo quy hoạch thì Tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường chủ trì,
phối hợp với chủ đầu tư, Ủy ban nhân dân cấp xã và tổ chức có đủ điều kiện năng
lực hoạt động xây dựng thực hiện kiểm tra, khảo sát, đánh giá mức độ ảnh hưởng,
xác định nguyên nhân, khả năng sửa chữa, gia cố và tiếp tục sử dụng công trình.
Trên cơ sở kết quả đánh giá bằng văn bản của tổ chức có đủ điều kiện năng lực
hoạt động xây dựng, Tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường đề xuất mức hỗ trợ,
báo cáo cấp có thẩm quyền phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
xem xét, quyết định; mức hỗ trợ tối đa không vượt quá mức bồi thường đối với
nhà ở, công trình có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương theo đơn giá do Ủy ban
nhân dân tỉnh ban hành tại thời điểm phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ,
tái định cư. Kinh phí thực hiện được tính vào chi phí tổ chức thực hiện bồi thường,
hỗ trợ, tái định cư.
8. Người có đất, tài sản trên đất
bị thu hồi phải phá dỡ, di chuyển toàn bộ nhà ở ngoài mức bồi thường hỗ trợ
theo quy định còn được hỗ trợ làm đường nước tối đa không quá 2.000.000 (Hai
triệu) đồng/hộ; nơi không có công trình nước tập trung thì hỗ trợ đào giếng tối
đa không quá 3.000.000 (Ba triệu) đồng/hộ; hỗ trợ lắp điện chiếu sáng tối đa
không quá 2.000.000 (Hai triệu) đồng/hộ.
9. Hộ gia đình bị thu hồi đất
có khẩu thuộc đối tượng được hưởng trợ cấp xã hội theo quy định thì được hỗ trợ
tối đa không quá 3.000.000 (Ba triệu) đồng/hộ.
10. Hộ gia đình, cá nhân đang
thuê nhà ở không phải là nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước khi Nhà nước thu hồi đất
mà phải di chuyển chỗ ở thì được hỗ trợ chi phí di chuyển tài sản tối đa bằng
30% mức bồi thường quy định tại khoản 1 Điều 10 của Quy định này. Trường hợp hộ
sản xuất, kinh doanh có đăng ký kinh doanh và làm đầy đủ nghĩa vụ với Nhà nước,
phải di chuyển chỗ ở mà bị ngừng sản xuất, kinh doanh, thì được hỗ trợ ổn định
đời sống và ổn định sản xuất một lần tối đa bằng 30% một năm thu nhập sau thuế
theo mức thu nhập bình quân của 03 năm liền kề trước đó. Thu nhập sau thuế được
xác định căn cứ vào báo cáo tài chính đã được kiểm toán hoặc được cơ quan Thuế
tại địa phương xác nhận.
11. Người có đất thu hồi mà phải
di chuyển chỗ ở và được bồi thường bằng giao đất ở, được giao đất ở có thu tiền
sử dụng đất để tự xây dựng nhà ở thì được hỗ trợ tiền thuê nhà trong thời gian
xây dựng nhà ở nhưng tối đa không quá 05 tháng. Mức hỗ trợ theo quy định tại
các điểm a, b, c khoản 1 Điều 15 Quyết định này.
12. Căn cứ theo quy định tại Điều
này, Ủy ban nhân dân cấp xã Quyết định biện pháp, mức hỗ trợ khác để bảo đảm có
chỗ ở, ổn định đời sống, sản xuất đối với người có đất thu hồi, chủ sở hữu tài
sản gắn liền với đất đối với từng dự án cụ thể.”.
11. Sửa đổi, bổ sung một
số khoản của Điều 18 như sau:
a) Sửa đổi khoản 4 như sau:
“4. Ủy ban nhân dân cấp xã có
trách nhiệm chỉ đạo tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà
nước thu hồi đất trên địa bàn đảm bảo theo quy định này và các quy định của
pháp luật; cung cấp thông tin về đất đai, nhà, tài sản, vật kiến trúc; cư trú,
nhân khẩu, nghề nghiệp của hộ gia đình, cá nhân có đất bị thu hồi cho Tổ chức
thực hiện nhiệm vụ bồi thường. Phối hợp với Tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường
để tuyên truyền về mục đích thu hồi đất, chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định
cư, chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ và tái định cư trên địa bàn.”.
b) Sửa đổi khoản 6 như sau:
“6. Cơ quan có chức năng quản
lý đất đai có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan thẩm định
phương án, trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp phê duyệt.”.
Điều 2.
Thay thế, bãi bỏ các điểm, khoản, cụm từ của Quyết định số 42/2024/QĐ-UBND và của
Quy định ban hành kèm theo Quyết định số 42/2024/QĐ-UBND
1. Bãi bỏ cụm từ tại Quyết
định số 42/2024/QĐ-UBND
Bãi bỏ cụm từ “Chủ tịch Ủy ban
nhân dân các huyện, thành phố” và cụm từ “thị trấn” của Điều 3.
2. Thay thế, bãi bỏ các
điểm, khoản, cụm từ của Quy định ban hành kèm theo Quyết định số
42/2024/QĐ-UBND như sau:
a) Thay thế cụm từ “Tài nguyên
và Môi trường” bằng cụm từ “Nông nghiệp và Môi trường” tại khoản 3 Điều 18, khoản
2 Điều 19.
b) Thay thế cụm từ “cấp huyện”
bằng cụm từ “cấp xã” tại điểm a khoản 2 Điều 4, khoản 2 Điều 15, khoản 2 Điều
18.
c) Thay thế cụm từ “Uỷ ban nhân
dân cấp huyện” bằng cụm từ “Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã” tại khoản 4 Điều
16.
d) Bãi bỏ cụm từ “Trung tâm
Phát triển quỹ đất các huyện, thành phố” tại Điều 3.
đ) Bãi bỏ khoản 5 Điều 18.
Điều 3. Quy
định chuyển tiếp
1. Trường hợp đã có quyết định
thu hồi đất và quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
hoặc chưa có quyết định thu hồi đất nhưng đã có quyết định phê duyệt phương án
bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trước ngày Quyết định này có hiệu lực thi hành
thì tiếp tục thực hiện theo phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã phê
duyệt.
2. Trường hợp trước ngày Quyết
định này có hiệu lực thi hành mà chưa có quyết định phê duyệt phương án bồi thường,
hỗ trợ, tái định cư thì thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, thu hồi
đất theo quy định tại Quyết định này.
Điều 4. Điều
khoản thi hành
1. Quyết định này có hiệu lực
thi hành kể từ ngày 29 tháng 6 năm 2026.
2. Các nội dung không sửa đổi,
bổ sung tại Quyết định này thực hiện theo Quyết định số 42/2024/QĐ-UBND ngày 27
tháng 9 năm 2024 của UBND tỉnh quy định một số nội dung về bồi thường, hỗ trợ,
tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Lai Châu.
3. Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân
tỉnh; Thủ trưởng các sở, ban, ngành tỉnh; Chủ tịch Ủy ban nhân dân các xã, phường
và các cơ quan, đơn vị, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có liên quan chịu trách
nhiệm thi hành Quyết định này./.
|
Nơi nhận:
- Như Điều 4;
- Văn phòng Chính phủ; (B/c)
- Bộ Nông nghiệp và Môi trường; (B/c)
- Bộ Tư pháp; (B/c)
- TT. Tỉnh ủy; (B/c)
- TT. HĐND tỉnh; (B/c)
- Đoàn ĐBQH tỉnh; (B/c)
- Chủ tịch, các PCT UBND tỉnh;
- Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh;
- VP UBND tỉnh: V, C, CB;
- Lưu: VT, Kt4.
|
TM. ỦY BAN NHÂN
DÂN
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH
Hà Trọng Hải
|