|
BỘ TƯ PHÁP -
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO - VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 11/2026/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC
|
Hà Nội, ngày 24 tháng 8 năm 2026
|
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH
QUY ĐỊNH VỀ MỘT SỐ THỦ TỤC THI HÀNH ÁN
DÂN SỰ, MIỄN, GIẢM NGHĨA VỤ THI HÀNH ÁN ĐỐI VỚI KHOẢN THU NỘP NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
VÀ PHỐI HỢP LIÊN NGÀNH TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
Căn cứ Luật Tổ chức Viện
kiểm sát nhân dân số 63/2014/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số
82/2025/QH15;
Căn cứ Luật Tổ chức Tòa
án nhân dân số 34/2024/QH15 đã được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 81/2025/QH15,
Luật số 142/2025/QH15 và Luật số 150/2025/QH15;
Căn cứ Luật Thi hành án
dân sự số
106/2025/QH15;
Căn cứ Luật Ban hành
văn bản quy phạm pháp luật số 64/2025/QH15 đã được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15;
Căn cứ Nghị định số
09/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ
chức của Bộ Tư pháp;
Bộ trưởng Bộ Tư pháp,
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao liên tịch ban hành
quy định về một số thủ tục thi hành án dân sự, miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước và phối hợp liên ngành
trong thi hành án dân sự.
Chương
I
QUY ĐỊNH CHUNG
Điều
1. Phạm vi điều chỉnh
Thông tư liên tịch này hướng
dẫn thi hành Điều 42, khoản 4 Điều 115 và các nội dung khác
của Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15 về một số thủ tục thi hành án dân
sự; đối tượng, nguyên tắc, điều kiện, thủ tục xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành
án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước và phối hợp liên ngành trong thi
hành án dân sự.
Điều
2. Đối tượng áp dụng
Thông tư liên tịch này áp
dụng đối với:
1. Bộ Tư pháp, cơ quan quản
lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp; Bộ Quốc phòng, cơ quan quản lý thi hành
án thuộc Bộ Quốc phòng.
2. Tòa án nhân dân, Viện
kiểm sát nhân dân các cấp.
3. Cơ quan thi hành án dân
sự gồm: cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố; cơ quan thi hành án quân
khu và tương đương (sau đây gọi là cơ quan thi hành án cấp quân khu).
4. Cơ quan, tổ chức, cá
nhân có liên quan.
Điều
3. Nguyên tắc phối hợp
1. Tuân thủ quy định của
pháp luật.
2. Bảo đảm tính khách
quan, toàn diện, đúng thời hạn, đáp ứng yêu cầu phối hợp liên ngành trong thi
hành án dân sự.
3. Tuân thủ đúng chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi cơ quan; không làm thay đổi thẩm quyền, trình
tự, thủ tục và thời hạn do luật quy định; bảo đảm tính độc lập của hoạt động
xét xử, kiểm
sát và trách nhiệm tổ chức thi hành án.
4. Bảo đảm bí mật nhà nước,
bí mật công tác theo quy định của pháp luật và quy định của mỗi cơ quan.
Điều
4. Phương thức, yêu cầu và trách nhiệm phối hợp
1. Phương thức phối hợp
a) Trao đổi ý kiến hoặc
cung cấp văn bản, hồ sơ, tài liệu, thông tin liên quan đến thi hành án dân sự bằng
hình thức trực tiếp, qua dịch vụ bưu chính hoặc trên môi trường số theo quy định
của pháp luật;
b) Tổ chức họp liên ngành;
c) Tổ chức hội nghị;
d) Thành lập đoàn công tác
liên ngành. Thủ tục thành lập; ban hành kế hoạch; quy định nhiệm vụ, quyền hạn
của đoàn công tác liên ngành do cơ quan chủ trì thực hiện.
Trường hợp cần thiết, cơ
quan quản lý thi hành án dân sự chủ trì, phối hợp với đơn vị có liên quan thuộc
Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao kiểm tra công tác thi
hành án dân sự và công tác phối hợp liên ngành trong thi hành án dân sự; thống
nhất biện pháp giải quyết đối với những vụ việc thi hành án có khó khăn, vướng
mắc hoặc có quan điểm khác nhau;
đ) Các phương thức phù hợp
khác theo quy định
của pháp luật.
2. Yêu cầu và trách nhiệm
phối hợp
a) Yêu cầu phối hợp phải
xác định rõ căn cứ, nội dung, cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp và thời hạn trả
lời;
b) Cơ quan được yêu cầu phối
hợp có trách nhiệm trả lời đúng thời hạn, trường hợp chưa cung cấp đầy đủ thông
tin thì phải thông báo lý do, các nội dung có thể cung cấp và thời gian dự kiến
hoàn thành. Trường hợp khẩn cấp, các bên có thể trao đổi trực tiếp nhưng nội
dung thống nhất phải được thể hiện bằng văn bản, thông điệp dữ liệu hoặc hình
thức phù hợp khác.
Điều
5. Gửi, nhận văn bản, hồ sơ, tài liệu và trao đổi thông tin
1. Việc giao, nhận bản án,
quyết định thực hiện theo quy định tại Điều 5, Điều 33 của Luật
Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15; Điều 7 của Nghị định số
152/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi
hành Luật Thi hành án dân sự (sau đây gọi là Nghị định số 152/2026/NĐ-CP của
Chính phủ) và quy định pháp luật khác có liên quan.
2. Việc gửi, nhận văn bản,
hồ sơ, tài liệu và trao đổi thông tin trên môi trường số thực hiện theo quy định
tại Điều 5 của Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15, Điều 20 của Nghị định số 152/2026/NĐ-CP của Chính phủ và quy định
pháp luật khác có liên quan.
Thời điểm xác định đã nhận
văn bản, hồ sơ, tài liệu và thông tin trên môi trường số là thời điểm phương tiện
điện tử ghi nhận việc tiếp nhận thành công các dữ liệu đầy đủ và hợp lệ theo
quy định của pháp luật về giao dịch điện tử.
Chương
II
MỘT SỐ THỦ TỤC THI HÀNH
ÁN DÂN SỰ
Điều
6. Việc yêu cầu Tòa án sửa chữa, bổ sung, giải thích bản án, quyết định
1. Trường hợp phát hiện bản
án, quyết định của Tòa án có những điểm chưa rõ gây khó khăn cho việc thi hành
án hoặc xác định có lỗi về chính tả, số liệu do nhầm lẫn hoặc tính toán sai thì
Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có văn bản yêu cầu Tòa án đã ra bản án,
quyết định sửa chữa, bổ sung, giải thích bản án, quyết định. Văn bản yêu cầu
Tòa án đồng thời được gửi cho Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền. Việc sửa chữa,
bổ sung, giải thích bản án, quyết định của Tòa án nhân dân có thẩm quyền thực
hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng và Điều 11, Điều 13
của Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15.
2. Trong thời hạn 05 ngày
làm việc kể từ ngày nhận được văn bản sửa chữa, bổ sung, giải thích bản án, quyết
định, cơ quan thi hành án dân sự tiếp tục tổ chức
thi hành án hoặc ra quyết định thu hồi, sửa đổi,
bổ sung quyết định thi hành án đã ban hành, ra quyết định về thi hành án mới,
trong đó có nội dung tiếp tục duy trì kết quả thi hành án nếu quá trình tổ chức
thi hành án trước đó không có sai sót về trình tự, thủ tục thi hành án theo quy
định của pháp luật.
Trường hợp nhận thấy việc
sửa chữa, bổ sung, giải thích bản án, quyết định của Tòa án chưa rõ, chưa phù hợp
nội dung yêu cầu hoặc hết thời hạn theo quy định mà không nhận được văn bản của
Tòa án thi trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản sửa chữa,
bổ sung, giải thích hoặc kể từ ngày hết hạn, cơ quan thi hành án dân sự đề nghị
Tòa án nhân dân cấp trên trực tiếp của Tòa án đã ra bản án, quyết định yêu cầu
Tòa án đó giải quyết; đồng thời, đề nghị Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền kiểm sát việc sửa chữa, bổ
sung, giải thích bản án, quyết định. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày
nhận được đề nghị của cơ quan thi hành án dân sự, Tòa án nhân dân cấp trên trực
tiếp yêu cầu Tòa án đã ra bản án, quyết định giải quyết nội dung yêu cầu của cơ
quan thi hành án dân sự. Tòa án đã ra bản án, quyết định giải quyết trong thời
hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản của Tòa án cấp trên trực tiếp.
Trường hợp hết thời hạn giải
quyết mà Tòa án nhân dân cấp trên trực tiếp hoặc Tòa án đã ra bản án, quyết định
không xem xét giải quyết thì cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố báo cáo
cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp để báo cáo Bộ Tư pháp, cơ
quan thi hành án cấp quân khu báo cáo cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc
phòng để báo cáo Bộ Quốc phòng phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm
sát nhân dân tối cao thống nhất phương án giải quyết trong thời hạn 30 ngày kể
từ ngày nhận được báo cáo.
3. Trường hợp vụ việc phức
tạp có thể kéo dài thời hạn giải quyết nhưng không quá 45 ngày kể từ ngày nhận
được đề nghị, báo cáo thì cơ quan có thẩm quyền quy định tại Điều này thông báo
bằng văn bản, nêu rõ lý do, thời gian dự kiến giải quyết cho cơ quan thi hành
án dân sự.
Điều
7. Việc kiến nghị xem xét lại bản án, quyết định của Tòa án theo thủ tục giám đốc
thẩm, tái thẩm
1. Trường hợp phát hiện có
căn cứ xem xét lại bản án, quyết định của Tòa án theo thủ tục giám đốc thẩm,
tái thẩm thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có văn bản kiến nghị người
có thẩm quyền xem xét lại bản án, quyết định đó. Người có thẩm quyền phải trả lời
kiến nghị trong thời hạn 03 tháng, trường hợp vụ việc phức tạp thì không quá 04
tháng kể từ ngày nhận được kiến nghị. Văn bản trả lời kiến nghị gồm các nội
dung chủ yếu: căn cứ pháp lý, hướng xử lý, trường hợp không chấp nhận kiến nghị
thì phải nêu rõ lý do.
Trường hợp phải kéo dài thời
hạn giải quyết thì người có thẩm quyền giải quyết thông báo bằng văn bản, nêu
rõ lý do và thời gian dự kiến giải quyết cho cơ quan thi hành án dân sự.
2. Trường hợp chưa hết thời
hạn theo quy định mà nhận được văn bản trả lời của người có thẩm quyền về việc
không có cơ sở chấp nhận kiến nghị, không kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm,
tái thẩm thì cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành bản án, quyết định đã
có hiệu lực pháp luật.
Trường hợp đã hết thời hạn
theo quy định mà vẫn không nhận được văn bản trả lời của người có thẩm quyền
thì cơ quan thi hành án dân sự tiếp tục tổ chức thi hành bản án, quyết định; đồng
thời có văn bản thông báo cho người có thẩm quyền về việc không nhận được văn bản
trả lời và báo cáo cơ quan quản lý thi hành án dân sự để đề nghị Chánh án Tòa
án nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền xem xét giải quyết.
Văn bản thông báo được gửi đồng thời cho Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền.
3. Trường hợp có thiệt hại
do việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án thì việc giải quyết yêu cầu bồi
thường được thực hiện theo quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường của
Nhà nước.
Điều
8. Phối hợp cung cấp thông tin về kết quả thi hành án khi xem xét kháng nghị và xét xử
giám đốc thẩm, tái thẩm
1. Trường hợp cần thiết,
trước khi thực hiện việc kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực
pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm, người có thẩm quyền kháng nghị
có văn bản yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự cung cấp thông tin về kết quả tổ
chức thi hành bản án, quyết định đó. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày
nhận được văn bản yêu cầu của người có thẩm quyền kháng nghị, cơ quan thi hành
án dân sự phải có văn bản thông tin về kết quả tổ chức thi hành án.
2. Trường hợp nhận được
thông báo của cơ quan thi hành án dân sự về việc bản án, quyết định bị kháng
nghị đã thi hành được một phần hoặc đã thi hành xong thì người có thẩm quyền đã
kháng nghị có trách nhiệm gửi thông báo về kết quả thi hành án nêu trên cho Tòa
án nhân dân có thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm để giải quyết theo quy định của
pháp luật.
Trường hợp nhận được quyết
định kháng nghị bản án, quyết định đang thi hành nhưng trước đó cơ quan thi
hành án dân sự chưa nhận được văn bản yêu cầu cung cấp thông tin về kết quả tổ chức thi hành bản
án, quyết định của người có thẩm quyền kháng nghị thì cơ quan thi hành án dân sự
có trách nhiệm thông báo ngay cho người có thẩm quyền đã kháng nghị, Tòa án nhân dân
có thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm để giải quyết theo quy định của pháp luật.
Khi giải quyết lại, Tòa án
phải phán quyết rõ về quyền và nghĩa vụ của các bên đương sự, người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan trên cơ sở tính toán, đối trừ phù hợp với kết quả thi hành
án và các nội dung khác liên quan đến việc thi hành án.
Điều
9. Việc xác định giá tài sản kê biên do Chấp hành viên thực hiện và thông báo về
thi hành án
1. Trong thời hạn 03 ngày
làm việc kể từ ngày thực hiện xong việc kê biên đối với tài sản là hàng hóa, vật
phẩm dễ bị hư hỏng, tài sản có giá trị nhỏ quy định tại điểm b
khoản 1 Điều 82 của Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15 hoặc kể từ
ngày hết thời hạn quy định tại điểm a khoản 1 Điều 82 của Luật
Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15 mà không lựa chọn được doanh nghiệp thẩm
định giá thì Chấp hành viên thực hiện thủ tục xác định giá theo quy định tại Điều 60 của Nghị định số 152/2026/NĐ-CP của Chính phủ.
2. Sau khi xác định giá,
cơ quan thi hành án dân sự gửi quyết định, biên bản và tài liệu được sử dụng
làm căn cứ xác định giá cho Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền.
Viện kiểm sát nhân dân có
thẩm quyền kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xác định giá của Chấp
hành viên.
3. Trường hợp đương sự có
yêu cầu thì cơ quan thi hành án dân sự thực hiện thông báo quyết định thi hành
án trên môi trường số theo quy định tại Điều 15 của Nghị định số
152/2026/NĐ-CP của Chính phủ.
Ngoài trường hợp thông báo
quyết định thi hành án trên phương tiện thông tin đại chúng quy định tại Điều 18 của Nghị định số 152/2026/NĐ-CP của Chính phủ, Thủ trưởng
cơ quan thi hành án dân sự quyết định thông báo trên phương tiện thông tin đại
chúng đối với các văn bản khác về thi hành án có nội dung liên quan đến nhiều
đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Chương
III
MIỄN, GIẢM NGHĨA VỤ THI
HÀNH ÁN ĐỐI VỚI KHOẢN THU NỘP NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
Điều
10. Đối tượng và nguyên tắc xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án
1. Đối tượng được xét miễn,
giảm nghĩa vụ thi hành án gồm tổ chức, cá nhân phải thi hành án.
Các khoản thu nộp ngân
sách nhà nước thuộc diện được xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án theo quy định
tại Điều 42 của Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15 gồm
tiền phạt, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, án phí, lệ phí Tòa án, tịch
thu sung quỹ nhà nước, các khoản thu khác cho Nhà nước được xác định trong bản
án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
2. Việc xét miễn, giảm
nghĩa vụ thi hành án phải được thực hiện khách quan, công khai, minh bạch, đúng đối tượng, đúng thời hạn
và quy định của pháp luật về thi hành án dân sự, pháp luật khác có liên quan.
Người được xét miễn, giảm
nghĩa vụ thi hành án không phải nộp chi phí liên quan đến việc xét miễn, giảm.
Chi phí cho việc lập, xác minh và hoàn thiện hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm nghĩa
vụ thi hành án được bảo đảm từ nguồn kinh phí hoạt động của cơ quan thi hành án
dân sự; chi phí tổ chức phiên họp xét miễn, giảm do Tòa án nhân dân bảo đảm;
chi phí trong hoạt động kiểm sát xét miễn, giảm do Viện kiểm sát nhân dân bảo đảm.
3. Phần nghĩa vụ được xét
miễn, giảm quy định tại Điều 42 của Luật Thi hành án dân sự số
106/2025/QH15 không bao gồm lãi chậm thi hành án theo bản án, quyết định;
trường hợp số tiền phải thi hành theo bản án, quyết định được miễn hoặc giảm thì phần lãi chậm thi hành án
trên số tiền đó đương nhiên được miễn, giảm.
Trường hợp số tiền phải
thi hành theo bản án, quyết định đã có quyết định miễn, giảm trước ngày 01
tháng 7 năm 2026 thì phần lãi chậm thi hành án trên số tiền được miễn, giảm đó
đương nhiên được miễn, giảm. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định
đình chỉ thi hành án đối với phần lãi chậm đương nhiên được miễn, giảm đó.
Điều
11. Điều kiện xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án
1. Điều kiện xét miễn
nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước thực hiện theo
quy định tại khoản 1 Điều 42 của Luật Thi hành án dân sự số
106/2025/QH15.
2. Điều kiện xét giảm một
phần nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước thực hiện
theo quy định tại khoản 2 Điều 42 của Luật Thi hành án dân sự số
106/2025/QH15.
Trường hợp người đã được
giảm một phần hình phạt tiền mà lại phạm tội mới thì chỉ xét giảm tiếp khi đã
thi hành được một phần hình phạt tiền chung theo quy định của Bộ luật Hình sự về
giảm mức hình phạt tiền đã tuyên.
3. Người phải thi hành án
lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài quy định tại khoản
3 Điều 42 của Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15 được xác định theo một
trong các trường hợp sau đây:
a) Người phải thi hành án
là cá nhân bị giảm sút hoặc mất thu nhập, mất toàn bộ hoặc phần lớn tài sản do
tai nạn, ốm đau, thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn hoặc tình trạng khẩn cấp, sự kiện
bất khả kháng khác hoặc trường hợp kết quả xác minh cho thấy người phải thi
hành án không có thu nhập hoặc có thu nhập bình quân tháng trong năm từ tất cả
các nguồn thu nhập không vượt quá 01 lần mức lương tối thiểu tháng theo vùng
nơi người đó cư trú mà dẫn đến không bảo đảm hoặc chỉ bảo đảm được mức sống tối
thiểu cho bản thân người đó và người mà họ có trách nhiệm nuôi dưỡng (nếu có)
trong thời gian từ 12 tháng trở lên;
b) Người phải thi hành án
là tổ chức mất nguồn thu nhập, mất toàn bộ hoặc phần lớn tài sản do thiên tai,
dịch bệnh, hỏa hoạn hoặc tình trạng khẩn cấp, sự kiện bất khả kháng khác mà dẫn
đến mất khả năng thanh toán theo quy định của pháp luật về phục hồi, phá sản hoặc
không còn khả năng duy trì được hoạt động.
4. Người phải thi hành án
lập công lớn quy định tại khoản 3 Điều 42 của Luật Thi hành án
dân sự số 106/2025/QH15 là người phải thi hành án đã có hành động giúp cơ
quan nhà nước có thẩm quyền phát hiện, truy bắt, điều tra, xử lý tội phạm không
liên quan đến tội phạm mà người phải thi hành án bị buộc tội (nếu có); cứu được
người trong tình thế nguy hiểm đến tính mạng hoặc cứu được tài sản có giá trị từ
100.000.000 đồng trở lên của Nhà nước, của tập thể, của cá nhân trong thiên
tai, dịch bệnh, hỏa hoạn hoặc tình trạng khẩn cấp, sự kiện bất khả kháng khác
hoặc có phát minh, sáng chế, sáng kiến có giá trị lớn theo hướng dẫn hoặc xác
nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc được người có thẩm quyền tặng bằng
khen.
Căn cứ xác định người phải
thi hành án lập công lớn quy định tại khoản này chỉ được sử dụng để xét miễn,
giảm nghĩa vụ thi hành án nếu chưa được sử dụng để xem xét miễn, giảm trách nhiệm
khác trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án.
Điều
12. Xác minh điều kiện để xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án
1. Việc xác minh điều kiện
để xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án được thực hiện khi có một trong các căn
cứ sau đây:
a) Đủ điều kiện quy định tại
Điều 42 của Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15 và Điều 11 Thông tư liên tịch này;
b) Cơ quan thi hành án dân
sự nhận được yêu cầu lập hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án của
Viện kiểm sát
nhân dân có thẩm quyền.
Viện kiểm sát nhân dân yêu
cầu lập hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm khi có căn cứ xác định rõ người phải thi
hành án có đủ điều kiện để được xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án nhưng cơ quan
thi hành án dân sự không lập hồ sơ.
2. Trong thời hạn 10 ngày
kể từ ngày có căn cứ quy định tại khoản 1 Điều này, Chấp hành viên tiến hành
xác minh để lập hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án; trường hợp vụ
việc phức tạp, phải xác minh tại nhiều địa phương hoặc chờ cơ quan có thẩm quyền
cung cấp thông tin thì thời hạn tiến hành xác minh có thể kéo dài nhưng không
quá 20 ngày, đồng thời thông báo cho Viện kiểm sát nhân dân đã yêu cầu lập hồ
sơ, nêu rõ lý do.
3. Việc xác minh điều kiện
thi hành án để xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 37 của Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15 và Điều 21 của Nghị định số 152/2026/NĐ-CP của Chính phủ.
Đối với người phải thi
hành án đang chấp hành hình phạt tù, Chấp hành viên còn phải xác minh điều kiện
xét miễn, giảm tại trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự công
an cấp tỉnh hoặc cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi người phải thi
hành án đang chấp hành hình phạt tù (sau đây gọi chung là cơ quan, cơ sở quản
lý người đang chấp hành hình phạt tù). Nội dung xác minh bao gồm: lập công lớn;
tai nạn, ốm đau; kết quả thi hành khoản thu nộp ngân sách nhà nước do cơ quan,
cơ sở quản lý người đang chấp hành hình phạt tù thu và thông tin cần thiết khác
về điều kiện xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án (nếu có). Cơ quan thi hành án
dân sự có thể trực tiếp xác minh tại cơ quan, cơ sở quản lý người đang chấp
hành hình phạt tù hoặc gửi phiếu đề nghị xác nhận hoặc có văn bản đề nghị cung
cấp thông tin.
4. Trường hợp xác minh
theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều này, nếu người phải thi hành án không đủ
điều kiện xét miễn, giảm thì trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày có kết
quả xác minh, cơ quan thi hành án dân sự gửi kết quả xác minh, tài liệu có liên
quan và nêu rõ lý do cho Viện kiểm sát nhân dân đã yêu cầu lập hồ sơ biết. Trường
hợp không đồng ý với kết quả xác minh, Viện kiểm sát nhân dân thực hiện quyền
yêu cầu, kiến nghị theo quy định của Luật Thi hành án dân sự và Luật Tổ chức Viện
kiểm sát nhân dân.
Điều 13.
Lập hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án
1. Trong thời hạn 05 ngày
làm việc kể từ ngày có kết quả xác minh, nếu người phải thi hành án đủ điều kiện
xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự lập hồ sơ đề
nghị xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án.
2. Hồ sơ đề nghị xét miễn,
giảm nghĩa vụ thi hành án gồm các tài liệu quy định tại Điều 43
của Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15 và khoản 3 Điều này.
3. Tài liệu khác chứng
minh điều kiện được xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án của người phải thi hành
án quy định tại khoản 4 Điều 43 của Luật Thi hành án dân sự số
106/2025/QH15 gồm một trong các tài liệu sau đây:
a) Chứng từ thu - chi tiền
thi hành án (nếu có);
b) Giấy xác nhận của cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh từ cấp cơ bản trở lên trong trường hợp người phải thi hành
án bị tai nạn, ốm đau kéo dài;
c) Giấy xác nhận của Ủy
ban nhân dân cấp xã hoặc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khác trong các trường hợp:
xác định mức thu nhập của người phải thi hành án; bị thiệt hại tài sản do thiên
tai, dịch bệnh, hỏa hoạn hoặc tình trạng khẩn cấp, sự kiện bất khả kháng khác;
d) Giấy xác nhận hoặc bằng
khen của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trong trường hợp người phải thi
hành án lập công lớn;
đ) Phiếu xác nhận của cơ
quan, cơ sở quản lý người đang chấp hành hình phạt tù nơi người phải thi hành
án đang chấp hành án phạt tù đối với các thông tin được quy định tại khoản 3 Điều 12 Thông tư liên tịch này;
e) Quyết định của Thủ trưởng
cơ quan thi hành án dân sự về việc người phải thi hành án chưa có điều kiện thi
hành án quy định tại Điều 38 của Luật Thi hành án dân sự số
106/2025/QH15 (nếu có);
g) Tài liệu liên quan đến
điều kiện xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án (nếu có).
Điều
14. Kiểm sát hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án
1. Trong thời hạn 15 ngày
kể từ ngày lập đủ hồ sơ theo quy định tại khoản 2 Điều 13 Thông
tư liên tịch này, cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố có văn bản đề
nghị xét miễn, giảm và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân khu vực trên địa
bàn; cơ quan thi hành án cấp quân khu có văn bản đề nghị xét miễn, giảm và chuyển
hồ sơ cho Viện kiểm sát quân sự quân khu và tương đương trên địa bàn để kiểm
sát theo quy định của pháp luật.
2. Trong thời hạn 15 ngày
kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị xét miễn, giảm và hồ sơ do cơ quan thi
hành án dân sự chuyển, Viện kiểm sát nhân dân có trách nhiệm xem xét và thực hiện
như sau:
a) Trường hợp nhất trí thì
có văn bản ghi rõ ý kiến về việc đề nghị xét miễn, giảm, chuyển hồ sơ cho Tòa
án nhân dân có thẩm quyền và gửi văn bản đó cho cơ quan thi hành án dân sự biết;
b) Trường hợp không nhất
trí thì có văn bản nêu rõ lý do và trả lại hồ sơ cho cơ quan thi hành án dân sự;
c) Trường hợp Viện kiểm
sát nhân dân có yêu cầu bổ sung hồ sơ, tài liệu hoặc giải thích những điểm chưa
rõ thì trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu, cơ quan
thi hành án dân sự phải hoàn thiện và gửi Viện kiểm sát nhân dân đã yêu cầu. Hết thời hạn trên mà cơ quan
thi hành án dân sự không hoàn thiện hồ sơ theo yêu cầu thì Viện kiểm sát nhân
dân trả lại hồ sơ cho cơ quan thi hành án dân sự để đề nghị xem xét lại.
Thời hạn để Viện kiểm sát
nhân dân thực hiện nội dung quy định tại khoản này được tính từ ngày Viện kiểm
sát nhân dân nhận đủ hồ sơ, tài liệu do cơ quan thi hành án dân sự bổ sung theo
yêu cầu.
Điều
15. Thủ tục xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án
1. Trong thời hạn 05 ngày
làm việc kể từ ngày thụ lý hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án,
Chánh án Tòa án nhân dân có thẩm quyền phân công một Thẩm phán giải quyết việc
xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án. Thẩm phán được phân công mở phiên họp xét
miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án trong thời hạn quy định tại khoản
2 Điều 44 của Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15.
Thẩm phán được phân công
có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự làm rõ nội dung, bổ sung tài liệu cần
thiết. Cơ quan thi hành án dân sự có trách nhiệm làm rõ nội dung, bổ sung tài
liệu trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu. Quá thời hạn
nêu trên, nếu cơ quan thi hành án dân sự không thực hiện thì Thẩm phán trả lại
hồ sơ cho cơ quan thi hành án dân sự đã đề nghị.
Văn bản yêu cầu làm rõ nội
dung, bổ sung tài liệu hoặc trả lại hồ sơ của Tòa án nhân dân được gửi cho Viện
kiểm sát nhân dân đã chuyển hồ sơ.
2. Tổ chức phiên họp xét
miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án
Phiên họp xét miễn, giảm
nghĩa vụ thi hành án được tổ chức theo quy định tại khoản 3 Điều
44 của Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15.
Thẩm phán chủ trì phiên họp
xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án thông báo bằng văn bản về thời gian, địa điểm
phiên họp xét miễn, giảm cho Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án dân sự
đã đề nghị xét miễn, giảm ít nhất 05 ngày làm việc trước ngày mở phiên họp, trừ
trường hợp pháp luật có quy định khác.
3. Trường hợp Tòa án nhân
dân trả lại hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm do chưa đầy đủ hoặc thực hiện không đứng
thủ tục thì cơ quan thi hành án dân sự hoàn thiện hồ sơ, thủ tục và đề nghị Tòa
án nhân dân có thẩm quyền xem xét theo quy định.
4. Quyết định về miễn, giảm
nghĩa vụ thi hành án của Tòa án nhân dân có nội dung chính sau đây:
a) Ngày, tháng, năm ra quyết
định;
b) Tên Tòa án nhân dân ra
quyết định;
c) Họ, tên Thẩm phán và đại diện cơ
quan tham gia phiên họp;
d) Họ, tên, số định danh
cá nhân, số định danh tổ chức; mã số doanh nghiệp, hợp tác xã, địa chỉ, nơi cư
trú, làm việc, nơi đang chấp hành hình phạt tù của người phải thi hành án (nếu
có) và khoản nộp ngân sách nhà nước phải thi hành;
đ) Nhận định của Tòa án
nhân dân và những căn cứ để chấp nhận toàn bộ, chấp nhận một phần hoặc không chấp
nhận đề nghị xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án của Viện kiểm sát nhân dân hoặc
cơ quan thi hành án dân sự;
e) Quyết định miễn thi
hành khoản nộp ngân sách nhà nước, số tiền được miễn; quyết định giảm một phần
khoản nộp ngân sách nhà nước, số tiền được giảm, số tiền còn phải thi hành hoặc
quyết định không chấp nhận đề nghị xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án, lý do
không chấp nhận.
Điều
16. Kháng nghị quyết định của Tòa án về miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án
1. Kháng nghị quyết định của
Tòa án về miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 45 của Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15. Viện kiểm
sát nhân dân gửi quyết định kháng nghị cho Tòa án đã ra quyết định miễn, giảm
nghĩa vụ thi hành án và cơ quan thi hành án dân sự đã lập hồ sơ đề nghị xét miễn,
giảm trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ban hành quyết định kháng nghị.
Thẩm phán chủ trì phiên họp
xét kháng nghị quyết định của Tòa án nhân dân về miễn, giảm nghĩa vụ thi hành
án thông báo bằng văn bản về thời gian, địa điểm phiên họp xét kháng nghị cho
Viện kiểm sát nhân dân và cơ quan thi hành án dân sự đã lập hồ sơ đề nghị xét
miễn, giảm trong trường hợp Tòa án xét thấy cần thiết phải có sự tham gia của
cơ quan thi hành án dân sự.
2. Tại phiên họp xét kháng
nghị, đại diện Viện kiểm sát nhân dân trình bày nội dung kháng nghị, căn cứ của
việc kháng nghị; có quyền bổ sung hồ sơ, tài liệu làm cơ sở cho việc kháng nghị;
phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân về việc miễn, giảm nghĩa vụ thi
hành án. Trường hợp có sự tham gia của đại diện cơ quan thi hành án dân sự thì
cơ quan thi hành án dân sự trình bày ý kiến về quyết định kháng nghị. Trên cơ sở
xem xét hồ sơ, nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm
sát nhân dân, đại diện cơ quan thi hành án dân
sự (nếu có), Thẩm phán chủ trì phiên họp ra quyết định giải quyết kháng nghị.
3. Quyết định giải quyết
kháng nghị của Tòa án có nội dung chính sau đây:
a) Ngày, tháng, năm ra quyết
định;
b) Họ, tên, số định danh
cá nhân, số định danh tổ chức; mã số doanh nghiệp, hợp tác xã, địa chỉ, nơi cư
trú, làm việc, nơi đang chấp hành hình phạt tù (nếu có) của người phải thi hành
án và khoản nộp ngân sách nhà nước phải thi hành;
c) Tên Tòa án đã xét miễn,
giảm và nội dung quyết định miễn, giảm bị kháng nghị;
d) Nội dung kháng nghị của
Viện kiểm sát nhân dân;
đ) Nhận định của Tòa án
nhân dân có thẩm quyền xét kháng nghị và căn cứ để Tòa án ra quyết định;
e) Quyết định giữ nguyên,
sửa đổi một phần hoặc hủy toàn bộ quyết định của Tòa án về việc miễn, giảm
nghĩa vụ thi hành án.
Điều
17. Thi hành quyết định của Tòa án về việc miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án
1. Hết thời hạn kháng nghị
quy định tại khoản 1 Điều 45 của Luật Thi hành án dân sự số
106/2025/QH15 mà Viện kiểm sát không kháng nghị thì quyết định của Tòa án về
việc miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án có hiệu lực thi hành.
2. Trong thời hạn 05 ngày
làm việc kể từ ngày nhận được quyết định có hiệu lực của Tòa án về việc miễn,
giảm nghĩa vụ thi hành án, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định
đình chỉ đối với nghĩa vụ thi hành án được miễn, giảm. Quyết định đình chỉ thi
hành án phải được gửi cho Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền trong thời hạn
03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định.
3. Trường hợp Tòa án quyết
định giảm một phần nghĩa vụ thi hành án hoặc quyết định không miễn, giảm thì cơ
quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà
nước không được miễn, giảm.
Chương
IV
PHỐI HỢP LIÊN NGÀNH
TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
Điều
18. Phối hợp xây dựng, hoàn thiện và phổ biến pháp luật về thi hành án dân sự
1. Bộ Tư pháp, Tòa án nhân
dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao có trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ
xây dựng, hoàn thiện, phổ biến pháp luật về thi hành án dân sự theo chức năng,
nhiệm vụ được giao và quy định của pháp luật.
2. Bộ Tư pháp, Tòa án nhân
dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao cử đại diện tham gia Tổ soạn thảo văn bản quy phạm
pháp luật về thi hành án dân sự, có ý kiến góp ý bằng văn bản theo đề nghị của
cơ quan chủ trì.
3. Lãnh đạo Bộ Tư pháp,
Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao chỉ đạo các cơ quan,
đơn vị trực thuộc nghiên cứu, chuẩn bị văn bản tham gia ý kiến trả lời đối với
dự thảo văn bản quy phạm pháp luật về thi hành án dân sự hoặc tham gia họp Tổ
soạn thảo với cơ quan chủ trì, bảo đảm tiến độ, hiệu quả công tác xây dựng văn
bản quy phạm pháp luật.
4. Cơ quan chủ trì soạn thảo
nghiên cứu tiếp thu ý kiến góp ý của cơ quan phối hợp để hoàn thiện dự thảo văn bản
quy phạm pháp luật. Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm nghiên cứu, tiếp
thu, giải trình đầy đủ ý kiến góp ý; đối với những vấn đề chưa nhất trí thì
trao đổi để thống nhất; trường hợp không thống nhất thì giải trình rõ trong báo
cáo, Tờ trình về việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
5. Các cơ quan phối hợp
phát hiện những điểm chưa phù hợp trong các văn bản quy phạm pháp luật về thi
hành án dân sự thì có trách nhiệm phản ánh đến cơ quan có thẩm quyền để thực hiện thủ tục
hủy bỏ, sửa đổi hoặc bổ sung theo quy định.
Điều
19. Phối hợp chuyển giao bản án, quyết định và giải quyết yêu cầu phát sinh
trong thi hành án
1. Tòa án nhân dân tối cao
thực hiện và chỉ đạo Tòa án nhân dân cấp dưới thực hiện việc hướng dẫn quyền
yêu cầu thi hành án dân sự, cấp và chuyển giao bản án, quyết định theo quy định
của pháp luật.
2. Trường hợp bản án có hiệu lực
pháp luật, quyết định hình sự có phần tiền, tài sản hoặc nghĩa vụ dân sự khác
phải thi hành án thì trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày có quyết định thi hành
án hình sự, Tòa án nhân dân đã ra quyết định thi hành án thông báo đến cơ quan
thi hành án dân sự.
3. Khi gửi quyết định
tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản cho cơ quan thi hành án dân sự theo
quy định tại khoản 6 Điều 65 của Luật Phục hồi, phá sản số
142/2025/QH15, Tòa án phải gửi kèm theo danh sách chủ nợ, người mắc nợ,
danh sách tài sản phải xử lý (nếu có).
Điều
20. Phối hợp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong thi hành các vụ việc lớn, phức tạp,
khó thi hành
1. Việc phối hợp trong quản
lý, chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ về thi hành án dân sự thực hiện theo Quy chế
hoặc Quy trình hướng dẫn, chỉ đạo nghiệp vụ của các cơ quan (nếu có).
2. Cơ quan thi hành án dân
sự, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân kịp thời trả lời văn bản trao đổi ý
kiến; thống nhất biện pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong thi hành các vụ việc
lớn, phức tạp, khó thi hành; cử người tham gia họp, tham gia đoàn kiểm tra,
đoàn công tác liên ngành theo đề nghị của cơ quan chủ trì. Văn bản trao đổi ý
kiến, cử người hoặc không cử người tham gia đoàn kiểm tra, đoàn công tác liên
ngành gửi cho cơ quan chủ trì trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận
được đề nghị.
Cơ quan chủ trì cuộc họp
liên ngành gửi giấy mời và tài liệu liên quan ít nhất 03 ngày làm việc trước
ngày tổ chức cuộc họp, trừ trường hợp cần tổ chức họp ngay do yêu cầu cấp thiết
và phải nêu rõ lý do.
Cơ quan chủ trì và cơ quan
phối hợp có trách nhiệm chỉ đạo cơ quan, đơn vị trực thuộc thực hiện kết luận
liên ngành đã được thống nhất.
Điều
21. Phối hợp cung cấp, trao đổi thông tin, tài liệu về thi hành án dân sự
1. Khi tổ chức hội nghị,
cuộc họp liên ngành về thi hành án dân sự, cơ quan chủ trì trao đổi, cung cấp
thông tin để cơ quan phối hợp biết và tham dự.
2. Trường hợp cần thông
tin, tài liệu về thi hành án dân sự, các cơ quan trao đổi, cung cấp theo yêu cầu của
cơ quan đề nghị trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đề nghị;
trường hợp thông tin phức tạp, cần thu thập từ nhiều nguồn thì cơ quan được yêu
cầu thông báo lý do và thời gian dự kiến trả lời.
Điều
22. Phối hợp đối chiếu số liệu thống kê
1. Chế độ báo cáo thống kê
thi hành án dân sự và theo dõi thi hành án hành chính thực hiện theo quy định của
Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
2. Đến kỳ báo cáo thống kê theo
quy định hoặc khi cần thiết, cơ quan thi hành án dân sự, Viện kiểm sát nhân
dân, Tòa án nhân dân trên cùng địa bàn phối hợp đối chiếu số liệu thống kê thi
hành án dân sự, theo dõi thi hành án hành chính.
Trường hợp không thống nhất
được khi đối chiếu số liệu thống kê thì cơ quan thi hành án dân sự báo cáo cơ
quan quản lý thi hành án dân sự để phối hợp với các đơn vị chuyên môn thuộc Tòa
án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao thống nhất phương án giải
quyết.
3. Bộ Tư pháp, Bộ Quốc
phòng, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao phối hợp đối chiếu
số liệu thống kê trong trường hợp cần thiết để phục vụ xây dựng báo cáo về công
tác thi hành án dân sự, thi hành án hành chính theo quy định.
Điều
23. Phối hợp rà soát, giải quyết bản án, quyết định tuyên không rõ, khó thi hành
1. Cơ quan thi hành án dân
sự có trách nhiệm rà soát, lập và cung cấp danh sách bản án, quyết định tuyên
không rõ, khó thi hành; Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền kiểm sát việc giải
quyết bản án, quyết định tuyên không rõ, khó thi hành theo quy định của pháp luật;
Tòa án nhân dân có thẩm quyền sửa chữa, bổ sung, giải thích hoặc xem xét theo
thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đối với bản án, quyết định tuyên không rõ, khó
thi hành theo quy định của pháp luật.
2. Định kỳ hằng quý hoặc
khi cần thiết, Viện kiểm sát nhân dân chủ trì, phối hợp với Tòa án nhân dân và
cơ quan thi hành án dân sự trên địa bàn thực hiện kiểm tra, rà soát, thống kê,
xác định bản án, quyết định tuyên không rõ, khó thi hành do cơ quan thi hành án
dân sự cung cấp để thống nhất hướng giải quyết hoặc đề nghị Tòa án nhân dân có
thẩm quyền sửa chữa, bổ sung, giải thích theo quy định của pháp luật.
Trường hợp không thống nhất
hoặc Tòa án nhân dân có thẩm quyền không sửa chữa, bổ sung, giải thích thì cơ
quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố báo cáo Bộ Tư pháp, cơ quan thi hành án
cấp quân khu báo cáo Bộ Quốc phòng để chỉ đạo giải quyết theo quy định tại Điều 6 Thông tư liên tịch này. Bộ Tư pháp, Bộ Quốc phòng chỉ đạo
cơ quan quản lý thi hành án dân sự hướng dẫn, chỉ đạo cơ quan thi hành án dân sự
tổ chức thi hành án. Tòa án nhân dân tối cao yêu cầu Tòa án đã ra bản án, quyết
định giải thích bản án, quyết định tuyên không rõ, khó thi hành và phối hợp với
cơ quan thi hành án dân sự trong việc thi hành bản án, quyết định đó. Viện kiểm
sát nhân dân tối cao yêu cầu Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới thực hiện kiểm sát
việc thi hành bản án, quyết định đã được giải thích.
Đối với bản án, quyết định
tuyên không rõ, khó thi hành không thể khắc phục được theo quy định của pháp luật
và bản án, quyết định tuyên đã rõ nhưng không phù hợp với thực tế, không thể
thi hành được thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải thông báo ngay cho
Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền
kháng nghị theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm.
Điều
24. Trao đổi thông tin phục vụ kiểm sát thi hành án dân sự
1. Khi ban hành kế hoạch
kiểm sát, Viện kiểm sát nhân dân tối cao gửi kế hoạch kiểm sát cho Bộ Tư pháp;
Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền gửi kế hoạch kiểm sát cho cơ quan thi hành
án dân sự.
2. Viện kiểm sát nhân dân
tối cao gửi quyết định kháng nghị, kết luận kiểm sát, kiến nghị đối với Thủ trưởng
cơ quan thi hành án dân sự cho Bộ Tư pháp để chỉ đạo thực hiện theo quy định của
pháp luật.
Điều
25. Phối hợp xây dựng báo cáo về công tác thi hành án dân sự
1. Bộ Tư pháp phối hợp với
Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và bộ, ngành có liên
quan trong việc xây dựng báo cáo Quốc hội, báo cáo đột xuất, báo cáo chuyên đề
về công tác thi hành án dân sự.
2. Các cơ quan phối hợp
chuẩn bị nội dung báo cáo Quốc hội, báo cáo đột xuất, báo cáo chuyên đề về công
tác thi hành án dân sự theo chức năng, nhiệm vụ được pháp luật quy định.
3. Trường hợp các cơ quan
chưa thống nhất được nội dung thì báo cáo phải phản ánh đầy đủ ý kiến, số liệu,
kiến nghị của từng cơ quan và không làm thay đổi trách nhiệm báo cáo của cơ
quan chủ trì, cơ quan phối hợp.
Điều
26. Phối hợp kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu phục vụ thi hành án dân sự
1. Bộ Tư pháp, Tòa án nhân
dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao phối hợp tạo lập, kết nối, chia sẻ,
khai thác cơ sở dữ liệu; rà soát, thống nhất phạm vi, danh mục và cấu trúc các
trường dữ liệu cần kết nối, chia sẻ, dùng chung phục vụ công tác xét xử, kiểm sát và thi hành án dân
sự theo quy định của pháp luật.
Cơ quan thi hành án dân sự,
Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân phối hợp thực hiện kết nối, chia sẻ dữ
liệu phục vụ hoạt động thi hành án dân sự thông qua môi trường số theo quy định
của pháp luật.
2. Việc kết nối, chia sẻ dữ
liệu phải bảo đảm tuân thủ chuẩn dữ liệu thống nhất; phân quyền truy cập đúng
thẩm quyền; xác định rõ trách nhiệm cập nhật, quản lý và khai thác dữ liệu; bảo
đảm an toàn, bảo mật thông tin; thực hiện lưu vết đầy đủ mọi hoạt động truy cập, cập nhật và khai
thác dữ liệu; đồng thời kịp thời phát hiện, xử lý và khắc phục sự cố theo quy định
của pháp luật.
Điều
27. Trách nhiệm phối hợp liên ngành của các cơ quan trong thi hành án dân sự
1. Trách nhiệm của Bộ Tư
pháp:
a) Làm đầu mối công tác phối
hợp liên ngành trong thi hành án dân sự; đôn đốc, theo dõi, đánh giá, báo cáo
cơ quan có thẩm quyền về công tác phối hợp;
b) Thực hiện việc phối hợp
liên ngành trong thi hành án dân sự theo đề nghị của Tòa án nhân dân tối cao,
Viện kiểm sát nhân dân tối cao theo quy định của pháp luật;
c) Định kỳ hằng năm, Bộ Tư
pháp chủ trì phối hợp với Bộ Quốc phòng, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát
nhân dân tối cao đánh giá kết quả phối hợp liên ngành; kịp thời báo cáo cơ quan
có thẩm quyền, kiến nghị xử lý tồn tại, hạn chế.
2. Trách nhiệm của Tòa án
nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao:
Thực hiện và chỉ đạo, đôn
đốc, theo dõi, đánh giá cơ quan, đơn vị cấp dưới, trực thuộc thực hiện việc phối
hợp liên ngành trong thi hành án dân sự theo quy định của pháp luật.
3. Trách nhiệm của các đơn
vị chuyên môn thuộc Bộ Tư pháp, Bộ Quốc phòng, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm
sát nhân dân tối cao:
a) Các đơn vị chuyên môn
thuộc Bộ Tư pháp, Bộ Quốc phòng, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân
dân tối cao giúp lãnh đạo Bộ Tư pháp, Bộ Quốc phòng, Tòa án nhân dân tối cao,
Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực hiện việc phối hợp liên ngành trong thi
hành án dân sự;
b) Cục Quản lý Thi hành án
dân sự thuộc Bộ Tư pháp, Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học thuộc Tòa án nhân dân
tối cao, Vụ Kiểm sát thi hành án dân sự thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao
làm đầu mối giúp lãnh đạo Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát
nhân dân tối cao đôn đốc, theo dõi, đánh giá, báo cáo cơ quan có thẩm quyền về
công tác phối hợp liên ngành trong thi hành án dân sự.
4. Trách nhiệm của cơ quan
thi hành án dân sự, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền:
Cơ quan thi hành án dân sự,
Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền thực hiện nội dung phối hợp
liên ngành trong thi hành án dân sự theo quy định của pháp luật; kịp thời thực
hiện chỉ đạo của cơ quan cấp trên và những nội dung mà liên ngành đã thống nhất.
Định kỳ hằng năm, cơ quan thi hành án dân sự chủ trì phối hợp với Tòa án nhân
dân, Viện kiểm sát nhân dân đánh giá kết quả phối hợp liên ngành tại địa
phương; kịp thời báo cáo cơ quan có thẩm quyền, kiến nghị xử lý tồn tại, hạn chế.
5. Trách nhiệm của Trưởng
Đoàn công tác liên ngành:
Trưởng Đoàn công tác liên
ngành thực hiện kế hoạch công tác đã được ban hành; báo cáo kết quả công tác
cho cơ quan chủ trì và thông báo kết quả đến cơ quan phối hợp, địa phương, đơn
vị có liên quan để thực hiện kiến nghị của Đoàn công tác liên ngành.
Chương
V
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
Điều
28. Hiệu lực thi hành và điều khoản chuyển tiếp
1. Thông tư liên tịch này
có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 11 năm 2026.
2. Thông tư liên tịch này
thay thế Thông tư liên tịch số 12/2015/TTLT-BTP- BTC-TANDTC-VKSNDTC ngày 15
tháng 9 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Bộ trưởng Bộ Tài chính, Chánh án Tòa
án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn việc
miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu, nộp ngân sách nhà nước;
Thông tư liên tịch số 11/2016/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC ngày 01 tháng 8 năm 2016
của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm
sát nhân dân tối cao quy định một số vấn đề về thủ tục thi hành án dân sự và phối
hợp liên ngành trong thi hành án dân sự; Thông tư liên tịch số
12/2021/TTLT-BTP-VKSNDTC-TANDTC ngày 29 tháng 12 năm 2021 của Bộ trưởng Bộ Tư
pháp, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối
cao quy định về phối hợp trong thống kê thi hành án dân sự, theo dõi thi hành
án hành chính liên ngành.
3. Đối với việc thi hành
án chưa được thi hành hoặc chưa kết thúc trước ngày Thông tư liên tịch này có
hiệu lực mà đã thực hiện trình tự, thủ tục theo quy định của Luật Thi hành án
dân sự và văn bản hướng dẫn thi hành thì không phải thực hiện lại trình tự, thủ
tục theo quy định của Thông tư liên tịch này; trình tự, thủ tục thi hành án tiếp
theo được thực hiện theo quy định của Thông tư liên tịch này.
4. Trường hợp hồ sơ đề nghị
xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đã được cơ quan thi hành án dân sự lập,
đang được Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát hoặc đã được chuyển sang Tòa án nhưng
Tòa án chưa ra quyết định về việc miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án thì thủ tục
xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án được tiếp tục thực hiện theo quy định của
Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15 và Thông tư liên tịch này.
5. Trường hợp Tòa án đã ra
quyết định về việc miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án nhưng chưa có hiệu lực thi
hành trước ngày Thông tư liên tịch này có hiệu lực thi hành thì quyết định đó
có hiệu lực thi hành trừ trường hợp bị kháng nghị theo quy định của pháp luật.
Điều
29. Tổ chức thực hiện
Bộ Tư pháp, Tòa án nhân
dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện
Thông tư liên tịch này. Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc thì các cơ
quan, đơn vị phản ánh về Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát
nhân dân tối cao để xem xét, giải quyết./.
|
KT. VIỆN TRƯỞNG
VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
TỐI CAO
PHÓ VIỆN TRƯỞNG
Nguyễn Quang Dũng
|
KT. CHÁNH ÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỐI CAO
PHÓ CHÁNH ÁN
Nguyễn Văn Tiến
|
KT. BỘ TRƯỞNG
BỘ TƯ PHÁP
THỨ TRƯỞNG
Mai Lương Khôi
|
|
Nơi nhận:
- Ủy ban Thường
vụ Quốc hội (để báo cáo);
- Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội (để báo cáo);
- Ban Nội chính Trung ương;
- Ban Chỉ đạo Trung ương về hoàn thiện thể chế và thực thi pháp luật;
- Văn phòng Chủ tịch nước;
- Văn phòng Chính phủ (02 bản);
- Văn phòng Quốc hội;
- Bộ Tư pháp;
- Tòa án nhân dân tối cao;
- Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
- Công báo;
- Cổng thông tin điện tử của BTP, TANDTC, VKSNDTC;
- Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật, Bộ Tư pháp;
- Lưu: VT (BTP, TANDTC, VKSNDTC), CQLTHADS.
|