|
VĂN
PHÒNG CHÍNH PHỦ
-------
|
CỘNG
HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 472/TB-VPCP
|
Hà Nội, ngày 11 tháng 9 năm 2026
|
THÔNG BÁO
KẾT LUẬN CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ LÊ
MINH HƯNG TẠI BUỔI LÀM VIỆC VỚI CÁC DOANH NGHIỆP NHẬT BẢN TẠI VIỆT NAM
Ngày
06 tháng 9 năm 2026, tại thành phố Huế, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng chủ
trì buổi làm việc với các doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam. Tham dự buổi làm
việc, về phía Việt Nam có Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn
phòng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, Lãnh đạo các Bộ, cơ quan:
Văn phòng Chính phủ, Tài chính, Ngoại giao, Xây dựng, Công Thương, Nông nghiệp
và Môi trường, Giáo dục và Đào tạo, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt
Nam (VCCI); Lãnh đạo các thành phố: Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Huế; Lãnh đạo
Tổng Công ty Đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam (VEC); về phía Nhật Bản
có: Đại sứ Đặc mệnh Toàn quyền Nhật Bản tại Việt Nam, Tổng Lãnh sự Nhật Bản tại
Đà Nẵng; Lãnh đạo các tổ chức: Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA); Hiệp hội
doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam (JCCI); Tổ chức Xúc tiến Thương mại Nhật Bản
(JETRO); Ngân hàng Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JBIC); Hiệp hội doanh nghiệp Nhật
Bản tại Thành phố Hồ Chí Minh và Lãnh đạo các doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt
Nam.
Sau
khi nghe phát biểu của Đại sứ Nhật Bản, các tổ chức, doanh nghiệp Nhật Bản và ý
kiến các Bộ, ngành, địa phương, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng kết luận như
sau:
1. Ghi nhận và đánh giá cao các ý kiến trao đổi thẳng thắn, tâm
huyết của Đại sứ Nhật Bản, các tổ chức kinh tế và cộng đồng doanh nghiệp Nhật Bản
tại Việt Nam; cũng như sự cầu thị và trách nhiệm của các Bộ, ngành, địa phương
Việt Nam trong việc phản hồi các đề xuất của phía Nhật Bản. Những trao đổi tại
buổi làm việc thể hiện sự tin cậy và tinh thần đồng hành giữa Chính phủ Việt
Nam với cộng đồng doanh nghiệp Nhật Bản.
Việt
Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu tăng trưởng nhanh, bền vững,
lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và
nâng cao năng suất làm nền tảng. Để góp phần thực hiện thắng lợi hai mục tiêu
100 năm, phấn đấu tăng trưởng “2 con số” trong giai đoạn 2026 - 2030, Việt Nam
chủ trương phát huy đồng bộ, hiệu quả vai trò của các khu vực kinh tế, trong đó
khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận quan trọng của nền kinh
tế quốc gia.
Nghị
quyết số 10-NQ/TW ngày 08 tháng 6 năm 2026 của Bộ Chính trị đặt ra định hướng về
việc thu hút có chọn lọc các dự án FDI có chất lượng cao, công nghệ tiên tiến,
giá trị gia tăng cao, có khả năng lan tỏa và kết nối chặt chẽ với khu vực doanh
nghiệp trong nước. Việt Nam mong muốn cùng với thu hút vốn đầu tư là thu hút
công nghệ tiên tiến, tri thức, quản trị hiện đại, đầu tư nghiên cứu và phát triển
(R&D), nhân lực chất lượng cao và liên kết thực chất với doanh nghiệp trong
nước.
2. Từ khi nâng cấp quan hệ lên Đối tác Chiến lược toàn diện vì
hòa bình và thịnh vượng tại châu Á và trên thế giới vào năm 2023, quan hệ Việt
Nam - Nhật Bản đang bước vào một giai đoạn phát triển mới, ngày càng sâu rộng,
thực chất và hiệu quả, trong đó hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư tiếp tục
là một trong những trụ cột quan trọng nhất. Cơ cấu thương mại giữa hai nước có
sự cân bằng, ổn định và có tính bổ trợ cao. Nhật Bản nhiều năm qua luôn nằm
trong nhóm các nhà đầu tư nước ngoài hàng đầu tại Việt Nam, đồng thời là nhà
tài trợ ODA lớn nhất cho Việt Nam.
3. Để tiếp tục phát huy tốt tiềm năng, dư địa hợp tác, lợi thế bổ
trợ giữa hai nước, trong thời gian tới, đề nghị các tổ chức, doanh nghiệp tập
trung một số nội dung sau:
- Bám
sát các định hướng hợp tác lớn mà Lãnh đạo cấp cao hai nước đã thống nhất,
trong đó đề nghị Nhật Bản tiếp tục đồng hành, thúc đẩy ODA thế hệ mới với quy mô
và hiệu quả cao hơn, thủ tục thuận lợi hơn, tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên
như nông nghiệp công nghệ cao, hạ tầng chiến lược, đường sắt đô thị và đường sắt
tốc độ cao, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, chuyển đổi số, khoa học -
công nghệ, đổi mới sáng tạo, công nghiệp bán dẫn và đào tạo nguồn nhân lực chất
lượng cao.
-
Doanh nghiệp Nhật Bản tăng cường liên kết với doanh nghiệp Việt Nam, hỗ trợ
doanh nghiệp trong nước nâng cao năng lực quản trị, công nghệ và tiêu chuẩn sản
xuất; tạo điều kiện để doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng
của các tập đoàn Nhật Bản.
- Thúc
đẩy quan hệ đầu tư Việt Nam - Nhật Bản chuyển mạnh từ quan hệ giữa “nhà đầu tư
và địa điểm đầu tư” sang quan hệ đối tác cùng phát triển và kiến tạo, cùng
nghiên cứu, cùng đổi mới sáng tạo, cùng sản xuất và cùng tham gia hiệu quả, khẳng
định vị trí, vai trò trong chuỗi giá trị toàn cầu.
- Đẩy
mạnh hợp tác trong khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, hỗ trợ
đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao nhằm xây dựng hệ sinh thái toàn diện, hỗ
trợ doanh nghiệp trong nâng cao năng lực cạnh tranh, chuyển giao công nghệ.
- Thúc
đẩy hợp tác, mua bán và sáp nhập giữa các doanh nghiệp nhỏ và vừa hai nước để
cùng tham gia sâu vào chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng toàn cầu.
4. Về 09 nhóm vấn đề liên quan đến các lĩnh vực giao thông, giáo
dục, năng lượng, thuế, khoa học công nghệ, bán lẻ, nhiều vấn đề đã được Lãnh đạo
Chính phủ trực tiếp chỉ đạo và được các bộ, ngành tích cực triển khai, tuy
nhiên vẫn còn một số vướng mắc chưa được giải quyết triệt để, cần có sự trao đổi
trực tiếp, thực chất và thiện chí giữa các cơ quan, doanh nghiệp hai nước.
Đề nghị
các Bộ, ngành, địa phương khẩn trương rà soát tiến độ, tập trung chủ động xử lý
dứt điểm những vấn đề thuộc thẩm quyền; không để những vấn đề đã được Chính phủ
giao tiếp tục kéo dài thời gian xử lý hoặc để doanh nghiệp phải kiến nghị nhiều
lần, trong đó tập trung các nhiệm vụ sau:
(1) Đối
với lĩnh vực giao thông, yêu cầu các cơ quan khẩn trương làm việc chặt chẽ với
phía Nhật Bản để thống nhất quan điểm và xử lý, giải quyết dứt điểm các vướng mắc
chậm nhất trong Quý IV năm 2026, cụ thể:
- Về Dự án đường cao tốc Bắc – Nam (đoạn Bến Lức – Long
Thành), Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính chỉ đạo VEC tiếp tục
tích cực trao đổi, làm việc trực tiếp, thúc đẩy phía Nhật Bản cung cấp đầy đủ
các thông tin, số liệu cần thiết để thống nhất phương án thanh toán cho các nhà
thầu; báo cáo Thủ tướng Chính phủ nếu có vấn đề vượt thẩm quyền.
- Về Dự
án tuyến đường sắt đô thị số 2 thành phố Hà Nội (đoạn Nam Thăng Long – Trần
Hưng Đạo), Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội khẩn trương làm việc với phía Chính
phủ Nhật Bản và nhà tài trợ JICA để tìm ra giải pháp hài hoà, bảo đảm cơ cấu
phân bổ nguồn vốn cho Dự án phù hợp với quy định, đáp ứng mục tiêu hoàn thành Dự
án trong giai đoạn 2026 – 2030.
- Về Dự
án tuyến đường sắt đô thị số 1 Thành phố Hồ Chí Minh (đoạn Bến Thành – Suối
Tiên), ghi nhận và đánh giá cao việc Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã
tích cực đàm phán và thanh toán một số hợp đồng với nhà thầu Nhật Bản. Đối với
các vấn đề còn vướng mắc, Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tập trung triển
khai các thủ tục cần thiết để xử lý dứt điểm trong năm 2026.
(2) Đối
với lĩnh vực giáo dục, Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với các cơ quan
liên quan: (i) Rà soát quy hoạch nhằm bố trí đủ diện tích đất cho Dự án đầu tư
xây dựng Đại học Việt – Nhật; (ii) Khẩn trương hoàn thiện hồ sơ dự thảo Hiệp định
hai Chính phủ về Đại học Việt - Nhật theo chỉ đạo của Lãnh đạo Chính phủ tại
các văn bản số 2010/VPCP-QHQT ngày 13 tháng 5 năm 2026 và số 6201/VPCP-KGVX
ngày 29 tháng 6 năm 2026, trình Chính phủ trước ngày 10 tháng 10 năm 2026;
(iii) Phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ cùng các địa phương làm việc với
phía Nhật Bản về việc triển khai các chương trình đào tạo nhân lực chất lượng
cao.
(3) Đối
với lĩnh vực năng lượng:
- Về
cơ chế phát triển lĩnh vực điện, Bộ Công Thương khẩn trương: (i) Rà soát và phối
hợp với các cơ quan liên quan hoàn thiện cơ chế phát triển các dự án điện khí
trong nước, LNG tại Luật sửa đổi, bổ sung Luật Điện lực để trình Quốc hội; hoàn
thiện các dự thảo văn bản quy định chi tiết trình cấp có thẩm quyền ban hành để
bảo đảm có hiệu lực cùng thời điểm với Luật; (ii) Khẩn trương rà soát, báo cáo
về việc điều chỉnh Quy hoạch điện VIII theo chỉ đạo của Lãnh đạo Chính phủ tại
văn bản số 8175/VPCP-CN ngày 14 tháng 8 năm 2026.
- Về
thúc đẩy thảo luận Cơ chế tín chỉ chung (JCM), Bộ Nông nghiệp và Môi trường khẩn
trương phối hợp với các cơ quan liên quan và phía Nhật Bản và phía Nhật Bản
hoàn thiện khuôn khổ triển khai JCM nhằm thúc đẩy thu hút đầu tư trong lĩnh vực
năng lượng xanh từ doanh nghiệp Nhật Bản.
(4) Đối
với hợp tác ODA và chính sách thuế, Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các cơ
quan liên quan:
- Trao
đổi, làm việc với các đối tác Nhật Bản, trong đó có JICA để nghiên cứu, đề xuất
các khoản vay vốn với các tiêu chí, điều kiện (thuận lợi, ít ràng buộc, thủ tục
nhanh chóng, linh hoạt) và lĩnh vực vay mới (hạ tầng kinh tế - xã hội, ứng phó
biến đổi khí hậu, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, khoa học công nghệ, đổi mới
sáng tạo, AI, bán dẫn...) đáp ứng nhu cầu phát triển của Việt Nam;
- Tiếp
tục nghiên cứu đề xuất về chính sách ưu đãi thuế đối với các dòng xe thân thiện
với môi trường, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong tháng 10 năm 2026.
(5) Về
khoa học và công nghệ, Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với các Bộ:
Công Thương, Xây dựng, Tài chính, Tư pháp khẩn trương nghiên cứu, đánh giá tác
động để báo cáo cấp có thẩm quyền về khả năng miễn áp dụng Nghị định
101/2026/NĐ-CP đối với các sản phẩm xuất khẩu, báo cáo Thủ tướng Chính phủ
trong tháng 10 năm 2026.
(6) Về
bán lẻ, Bộ Công Thương khẩn trương hướng dẫn các doanh nghiệp Nhật Bản về việc
áp dụng quy định liên quan đến việc bãi bỏ yêu cầu Kiểm tra nhu cầu kinh tế
(ENT) đối với các nhà đầu tư đến từ các quốc gia thành viên CPTPP, trong đó có
Nghị định số 342/2026/NĐ-CP ngày 03 tháng 9 năm 2026 của Chính phủ quy định chi
tiết Luật Thương mại và Luật Quản lý ngoại thương về hoạt động mua bán hàng hóa
và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa của nhà đầu tư nước
ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
5. Về các nội dung đã trao đổi tại buổi làm việc:
- Các
Bộ, ngành, địa phương theo chức năng, nhiệm vụ được giao khẩn trương triển khai
các nhiệm vụ nêu tại Thông báo này, đồng thời tiếp tục rà soát, xử lý các kiến
nghị cụ thể của doanh nghiệp Nhật Bản. Trong quá trình xử lý, phải chủ động giải
quyết các vấn đề thuộc thẩm quyền; đảm bảo hướng dẫn rõ ràng các quy định đã
có. Trường hợp quy định không còn phù hợp với thực tiễn, yêu cầu các Bộ, ngành,
địa phương nghiên cứu sửa đổi. Trường hợp vượt thẩm quyền, kịp thời báo cáo cấp
có thẩm quyền xem xét, quyết định.
- Bộ
Tài chính chủ trì, phối hợp với VCCI và các cơ quan liên quan: (i) Tiếp tục làm
việc trực tiếp với các doanh nghiệp, nhà đầu tư Nhật Bản để thúc đẩy tháo gỡ
các khó khăn, tránh để vướng mắc kéo dài, đồng thời tạo cơ hội để các bên trao
đổi, chia sẻ thông tin về chính sách, quy định của Việt Nam, bảo đảm thực hiện
đồng bộ, thống nhất; (ii) Tổng hợp, hoàn thiện nội dung trả lời và tình hình xử
lý các kiến nghị của các doanh nghiệp Nhật Bản, gửi VCCI để phối hợp với Hiệp hội
Doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam và các doanh nghiệp liên quan rà soát, đánh
giá việc xử lý; tiếp tục tổng hợp, gửi cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải quyết
các kiến nghị chưa được xử lý.
- Văn
phòng Chính phủ, Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương tổng
hợp, công khai kết quả xử lý kiến nghị của doanh nghiệp trên Cổng Thông tin điện
tử Chính phủ, Cổng/Trang Thông tin điện tử liên quan, bảo đảm minh bạch, rõ
ràng, dễ theo dõi.
Văn
phòng Chính phủ thông báo để các Bộ, cơ quan, địa phương biết, thực hiện./.
|
Nơi nhận:
- TTgCP, các
PTTgCP (để b/c);
- Các Bộ: TC, NG, CT, GDĐT, XD, KHCN, NNMT;
- UBND các thành phố: Hà Nội, Hồ Chí Minh, Huế;
- Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam;
- Tổng công ty Đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam;
- VPCP: BTCN, các PCN, các Vụ: CN, NN, KTTH, KGVX, TH, CTTCP;
- Lưu: VT, QHQT.
|
KT. BỘ TRƯỞNG, CHỦ NHIỆM
PHÓ CHỦ NHIỆM
Đôn Tuấn Phong
|