|
|
Bản dịch này thuộc quyền sở hữu của
THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Mọi hành vi sao chép, đăng tải lại mà không có sự đồng ý của
THƯ VIỆN PHÁP LUẬT là vi phạm pháp luật về Sở hữu trí tuệ.
THƯ VIỆN PHÁP LUẬT has the copyright on this translation. Copying or reposting it without the consent of
THƯ VIỆN PHÁP LUẬT is a violation against the Law on Intellectual Property.
X
CÁC NỘI DUNG ĐƯỢC SỬA ĐỔI, HƯỚNG DẪN
Các nội dung của VB này được VB khác thay đổi, hướng dẫn sẽ được làm nổi bật bằng
các màu sắc:
: Sửa đổi, thay thế,
hủy bỏ
Click vào phần bôi vàng để xem chi tiết.
|
|
|
|
Đang tải văn bản...
|
Số hiệu:
|
10-NQ/TW
|
|
Loại văn bản:
|
Nghị quyết
|
|
Nơi ban hành:
|
Ban Chấp hành Trung ương
|
|
Người ký:
|
Tô Lâm
|
|
Ngày ban hành:
|
08/06/2026
|
|
Ngày hiệu lực:
|
Đã biết
|
|
Ngày công báo:
|
Đang cập nhật
|
|
Số công báo:
|
Đang cập nhật
|
|
Tình trạng:
|
Đã biết
|
Đến năm 2030, Việt Nam thuộc nhóm dẫn đầu ASEAN về môi trường đầu tư kinh doanh
Ngày 8/6/2026, Ban Chấp hành Trung ương ban hành Nghị quyết 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Trong đó đặt ra yêu cầu đến năm 2030, Việt Nam thuộc nhóm dẫn đầu ASEAN về môi trường đầu tư kinh doanh.Đến năm 2030, Việt Nam thuộc nhóm dẫn đầu ASEAN về môi trường đầu tư kinh doanh
Theo đó, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế quốc gia, không chỉ góp phần bổ sung vốn trung và dài hạn cho đầu tư phát triển mà còn là kênh tiếp nhận công nghệ tiên tiến, phương thức quản trị hiện đại, đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, giúp mở rộng thị trường; được Nhà nước khuyến khích phát triển lâu dài, đối xử bình đẳng, cạnh tranh lành mạnh với các khu vực kinh tế khác theo quy định của pháp luật. Trong đó, đặt mục tiêu cụ thể đến năm 2030 như sau:
- Phấn đấu đưa Việt Nam thuộc nhóm dẫn đầu ASEAN về môi trường đầu tư kinh doanh, năng lực cạnh tranh, đổi mới sáng tạo, chất lượng dịch vụ công và năng lực tiếp nhận các dự án đầu tư nước ngoài chất lượng cao.
- Giai đoạn 2026-2030: Thu hút vốn đầu tư nước ngoài đăng ký khoảng 200 - 300 tỷ USD (40 - 50 tỷ USD/năm); vốn thực hiện khoảng 150 - 200 tỷ USD (30 - 40 tỷ USD/năm).
- 75% vốn đầu tư nước ngoài đến từ các nền kinh tế phát triển, có tiềm lực về công nghệ, vốn và quản trị hiện đại; số lượng tập đoàn đa quốc gia trong danh sách Fortune 500 có hoạt động đầu tư tại Việt Nam tăng 30%; thu hút các tập đoàn đa quốc gia đầu tư các trung tâm nghiên cứu, thiết kế, đổi mới sáng tạo, dữ liệu, trụ sở khu vực, trung tâm điều hành, trung tâm ngân quỹ, trung tâm mua sắm, trung tâm dịch vụ dùng chung, trong đó có ít nhất 3 tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới đặt trụ sở, văn phòng, trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D) tại Việt Nam; thu hút các doanh nghiệp nước ngoài, bao gồm cả doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhưng có công nghệ lõi, công nghệ chuyên biệt, có khả năng tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.
- Tỷ lệ nội địa hóa trung bình trong các ngành công nghiệp chủ lực đạt từ 45 - 50%; phấn đấu có khoảng 10.000 doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, trong đó có khoảng từ 500 - 1.000 nhà cung ứng cấp I.
- Tỷ trọng lao động qua đào tạo trong cơ cấu sử dụng lao động đạt khoảng 80%; nâng cao rõ rệt tỷ lệ người Việt Nam đảm nhiệm vị trí kỹ thuật, quản lý, nghiên cứu, thiết kế, vận hành, chuỗi cung ứng trong các dự án đầu tư nước ngoài chất lượng cao.
- Tỷ lệ khu công nghiệp sinh thái, bao gồm chuyển đổi và thành lập mới chiếm khoảng 10% tổng số khu công nghiệp trên cả nước.
- Phấn đấu trước năm 2030, thị trường chứng khoán được tổ chức xếp hạng thị trường MSCI nâng hạng.
Xem nội dung chi tiết tại Nghị quyết 10-NQ/TW ban hành ngày 8/6/2026.
|
BAN
CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG
*
|
ĐẢNG
CỘNG SẢN VIỆT NAM
---------------
|
|
Số 10-NQ/TW
|
Hà Nội, ngày 08 tháng 6 năm 2026
|
NGHỊ QUYẾT
CỦA BỘ CHÍNH TRỊ VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI
Sau gần 40 năm đổi mới và mở
cửa, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã không ngừng phát triển, không
chỉ bổ sung nguồn lực đầu tư quan trọng, mà còn góp phần thúc đẩy chuyển dịch
cơ cấu kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, hình thành một số ngành công nghiệp
chủ lực, mở rộng thị trường xuất khẩu, từng bước đưa Việt Nam tham gia sâu hơn
vào mạng lưới sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu, hỗ trợ phát triển nguồn nhân
lực, tiếp nhận công nghệ, phương thức quản trị tiên tiến.
Tuy nhiên, chất lượng và
hiệu quả thu hút, quản lý, sử dụng đầu tư nước ngoài chưa tương xứng với tiềm
năng, lợi thế và chưa đáp ứng được những yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới
của đất nước. Tỷ lệ dự án thâm dụng lao động, tài nguyên, đất đai, năng lượng,
gia công, lắp ráp còn cao; tỷ lệ nội địa hóa, giá trị tăng thêm hình thành ở Việt
Nam còn thấp; liên kết với khu vực doanh nghiệp trong nước chưa cao, chuyển
giao công nghệ còn hạn chế; còn hiện tượng cạnh tranh thu hút đầu tư theo số lượng
ở một số địa phương. Dòng vốn đầu tư gián tiếp còn nhỏ, chưa tương xứng với tiềm
năng thị trường. Hoạt động góp vốn, mua bán, sáp nhập doanh nghiệp của các quỹ
đầu tư, định chế tài chính toàn cầu, nhà đầu tư nước ngoài còn hạn chế, quản lý
thiếu chặt chẽ.
Trong bối cảnh Việt Nam
đang xác lập mô hình tăng trưởng mới trên cơ sở khoa học, công nghệ, đổi mới
sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, nâng cao năng lực tự chủ chiến lược,
việc thu hút và phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phải được đặt trong
tổng thể chiến lược phát triển đất nước.
Bộ Chính trị yêu cầu tập
trung quán triệt, thực hiện quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả các nội dung sau:
I- QUAN
ĐIỂM CHỈ ĐẠO
1. Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận quan trọng
của nền kinh tế quốc gia, không chỉ góp phần bổ sung vốn trung và dài hạn cho đầu
tư phát triển mà còn là kênh tiếp nhận công nghệ tiên tiến, phương thức quản trị
hiện đại, đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, giúp mở rộng thị trường;
được Nhà nước khuyến khích phát triển lâu dài, đối xử bình đẳng, cạnh tranh
lành mạnh với các khu vực kinh tế khác theo quy định của pháp luật.
2. Phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài gắn với yêu cầu
nâng cao hiệu quả, năng lực tự chủ chiến lược, sức cạnh tranh của nền kinh tế,
mở rộng mạng lưới thị trường, tham gia sâu vào các chuỗi cung ứng toàn cầu;
đóng góp tích cực vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, góp phần
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững, giữ vững ổn định chính trị, quốc
phòng, an ninh, nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.
3. Chuyển mạnh từ tư duy chủ yếu thu hút vốn sang tư duy phát
triển nền tảng đầu tư chiến lược quốc gia; từ thu hút đầu tư theo địa giới hành
chính sang thu hút theo cụm ngành, chuỗi giá trị và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo;
lấy chất lượng, hiệu quả, chuyển giao công nghệ, tham gia chuỗi cung ứng, giá
trị gia tăng,… làm tiêu chí chủ yếu; chuyển dần từ ưu đãi theo đầu vào sang hỗ
trợ gắn với kết quả thực hiện cam kết, bao gồm quản trị cả vòng đời dự án và kết
nối với doanh nghiệp trong nước.
4. Phát triển đồng bộ, thống nhất hệ sinh thái đầu tư nước
ngoài, gắn với chiến lược phát triển doanh nghiệp trong nước, phát triển thị
trường vốn, trung tâm tài chính quốc tế, khu thương mại tự do, các khu kinh tế,
khu công nghiệp, khu công nghệ cao, trung tâm đổi mới sáng tạo, hạ tầng logistics,
dữ liệu, năng lượng; khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài hình thành trụ sở
khu vực và các trung tâm điều hành, nghiên cứu, thiết kế, dịch vụ của khu vực.
5. Nhà nước công nhận và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, quyền sở
hữu về tài sản, vốn đầu tư, thu nhập và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của
nhà đầu tư nước ngoài; bảo đảm môi trường đầu tư, kinh doanh minh bạch, ổn định,
nhất quán, chi phí tuân thủ thấp, có khả năng dự báo cao, phù hợp với thông lệ
quốc tế, nâng cao năng lực cạnh tranh trong khu vực và toàn cầu. Bảo đảm
cơ chế đối thoại, tiếp nhận, xử lý kịp thời kiến nghị, khiếu nại trên nguyên tắc
hài hòa lợi ích giữa các bên; xử lý tranh chấp đầu tư theo quy định của pháp luật;
khuyến khích các bên tự hòa giải, thông qua cơ chế hòa giải thương mại và trọng
tài thương mại.
6. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, kiến tạo của Nhà nước;
nâng cao hiệu lực, hiệu quả điều phối quốc gia; phát huy tính chủ động, sáng tạo
của địa phương trên cơ sở thống nhất chiến lược, quy hoạch, tiêu chí, cơ chế
giám sát; lấy kết quả đóng góp thực chất làm thước đo chủ yếu trong thu hút, quản
lý và sử dụng đầu tư nước ngoài.
II- MỤC
TIÊU
1. Mục tiêu tổng quát
Đưa Việt Nam trở thành điểm
đến có sức cạnh tranh thu hút nguồn vốn nước ngoài trung và dài hạn chất lượng
cao cho đầu tư phát triển. Quản lý và sử dụng hiệu quả vốn đầu tư nước
ngoài nhằm nâng cao năng lực sản xuất, tạo sự liên kết, lan tỏa với các khu vực
kinh tế trong nước, thúc đẩy chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực và tham
gia sâu các chuỗi cung ứng toàn cầu; góp phần xác lập mô hình tăng trưởng mới
trên cơ sở khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, tăng cường
năng lực cạnh tranh và khả năng tự chủ chiến lược, nâng cao vị thế và uy tín quốc
gia; tạo động lực quan trọng thực hiện thành công các mục tiêu phát triển đất
nước đến năm 2030 và năm 2045.
2. Mục
tiêu cụ thể
a) Đến năm 2030
- Phấn đấu đưa Việt Nam thuộc nhóm
dẫn đầu ASEAN về môi trường đầu tư kinh doanh, năng lực cạnh tranh, đổi mới
sáng tạo, chất lượng dịch vụ công và năng lực tiếp nhận các dự án đầu tư nước
ngoài chất lượng cao.
- Giai đoạn 2026-2030: Thu hút
vốn đầu tư nước ngoài đăng ký khoảng 200 - 300 tỷ USD (40 - 50 tỷ USD/năm); vốn
thực hiện khoảng 150 - 200 tỷ USD (30 - 40 tỷ USD/năm).
- 75% vốn đầu tư nước ngoài đến từ
các nền kinh tế phát triển, có tiềm lực về công nghệ, vốn và quản trị hiện đại;
số lượng tập đoàn đa quốc gia trong danh sách Fortune 500 có hoạt động đầu tư tại
Việt Nam tăng 30%; thu hút các tập đoàn đa quốc gia đầu tư các trung tâm nghiên
cứu, thiết kế, đổi mới sáng tạo, dữ liệu, trụ sở khu vực, trung tâm điều hành,
trung tâm ngân quỹ, trung tâm mua sắm, trung tâm dịch vụ dùng chung, trong đó
có ít nhất 3 tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới đặt trụ sở, văn phòng, trung
tâm nghiên cứu và phát triển (R&D) tại Việt Nam; thu hút các doanh nghiệp
nước ngoài, bao gồm cả doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhưng có công nghệ lõi, công
nghệ chuyên biệt, có khả năng tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.
- Tỷ lệ nội địa hóa trung bình
trong các ngành công nghiệp chủ lực đạt từ 45 - 50%; phấn đấu có khoảng 10.000
doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng của doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài, trong đó có khoảng từ 500 - 1.000 nhà cung ứng cấp I.
- Tỷ trọng lao động qua đào tạo trong
cơ cấu sử dụng lao động đạt khoảng 80%; nâng cao rõ rệt tỷ lệ người Việt Nam đảm
nhiệm vị trí kỹ thuật, quản lý, nghiên cứu, thiết kế, vận hành, chuỗi cung ứng
trong các dự án đầu tư nước ngoài chất lượng cao.
- Tỷ lệ khu công nghiệp sinh thái,
bao gồm chuyển đổi và thành lập mới chiếm khoảng 10% tổng số khu công nghiệp
trên cả nước.
- Phấn đấu trước năm 2030, thị trường
chứng khoán được tổ chức xếp hạng thị trường MSCI nâng hạng.
b) Đến năm 2045
Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước
ngoài phát triển hiệu quả, bền vững, gắn kết chặt chẽ với kinh tế nhà nước,
kinh tế tư nhân, đưa Việt Nam trở thành một trong những trung tâm sản xuất, dịch
vụ, đổi mới sáng tạo, điều hành khu vực có sức cạnh tranh cao ở châu Á, tham
gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu; thị trường vốn phát triển hiện đại, minh bạch,
an toàn, tiệm cận thông lệ quốc tế.
Phấn đấu đến năm 2045, khu vực kinh
tế có vốn đầu tư nước ngoài chiếm khoảng 25% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, đóng
góp khoảng 30% GDP của đất nước; góp phần đưa Việt Nam trở thành nước phát triển,
thu nhập cao.
III- NHIỆM VỤ VÀ
GIẢI PHÁP
1. Nhóm nhiệm vụ
chung
1.1. Đổi mới tư duy, thống nhất
nhận thức về vị trí, vai trò của kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
- Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
là một bộ phận cấu thành không tách rời của nền kinh tế; là một động lực quan
trọng trong phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế; là nguồn cung ứng vốn chất
lượng cao, công nghệ tiên tiến, quản trị hiện đại, tiêu chuẩn quốc tế; là cầu nối
mở rộng thị trường và tham gia vào các chuỗi giá trị toàn cầu; là kênh truyền
thông, quảng bá hình ảnh, nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc
tế, góp phần tích cực vào gìn giữ môi trường hòa bình, ổn định trong khu vực và
trên thế giới.
- Chuyển mạnh từ tư duy quản lý
hành chính sang tư duy kiến tạo phát triển, quản trị hiện đại, điều hành theo kết
quả; khắc phục tình trạng các địa phương cạnh tranh thu hút đầu tư chạy theo số
lượng; kiên quyết không đánh đổi môi trường, tài nguyên, an sinh xã hội và an
ninh kinh tế để đổi lấy tăng trưởng kinh tế đơn thuần.
- Khuyến khích doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài nâng cao trách nhiệm, tăng cường liên kết, chia sẻ tri thức,
hỗ trợ phát triển doanh nghiệp trong nước, đồng hành lâu dài với nền kinh tế Việt
Nam.
1.2. Hoàn thiện thể chế, cải thiện
môi trường đầu tư kinh doanh
- Hoàn thiện đồng bộ, thống nhất hệ
thống pháp luật, bảo đảm công khai, minh bạch, ổn định, có khả năng dự báo cao,
đặc biệt trong các lĩnh vực đầu tư, doanh nghiệp, đất đai, quy hoạch, xây dựng,
thuế, hải quan, thương mại, cạnh tranh, ngoại hối, chứng khoán, sở hữu trí tuệ,
dữ liệu, lao động, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; kịp thời tháo gỡ chồng
chéo, mâu thuẫn, điểm nghẽn trong tổ chức thực hiện.
- Đổi mới cơ chế ưu đãi, hỗ trợ đầu
tư, chuyển dần từ ưu đãi truyền thống sang cơ chế hỗ trợ gắn với hiệu quả hoạt
động của dự án; xây dựng cơ chế hậu kiểm, thu hồi ưu đãi, hỗ trợ nếu không thực
hiện theo cam kết; ưu tiên các dự án có cam kết tự nguyện và triển khai thực hiện
tốt các cam kết về sử dụng công nghệ tiên tiến, thân thiện môi trường, đóng góp
lớn vào đổi mới sáng tạo, nghiên cứu và phát triển, đào tạo và sử dụng nhân lực
Việt Nam, phát triển nhà cung ứng trong nước, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số,
hiệu quả sử dụng đất, tài nguyên, năng lượng và tuân thủ pháp luật.
- Hình thành cơ chế lựa chọn, hỗ trợ,
quản lý nhà đầu tư chiến lược; xác định một số nhóm lĩnh vực, công nghệ chiến
lược ưu tiên thu hút trong từng giai đoạn và có danh mục mở được rà soát, cập
nhật định kỳ đối với các lĩnh vực công nghệ, công nghiệp, dịch vụ mới nổi có lợi
thế so sánh, lợi thế vị trí và khả năng lan tỏa cao. Áp dụng quy trình thủ
tục đầu tư đặc biệt và cơ chế ưu đãi cho các dự án công nghệ chiến lược có quy
mô lớn, tác động liên vùng, có tiềm năng dẫn dắt chuỗi cung ứng khu vực và toàn
cầu, dự án công nghệ cao có cam kết chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp Việt
Nam.
- Thí điểm mô hình thể chế vượt trội
tại một số khu vực như: Trung tâm tài chính quốc tế, khu thương mại tự do, khu
kinh tế, khu công nghệ cao, các mô hình đổi mới sáng tạo và các không gian phát
triển mới để thu hút dòng vốn chất lượng cao, thế hệ mới, đồng thời bảo đảm kiểm
soát rủi ro.
- Cải cách mạnh mẽ thủ tục hành
chính, điều kiện đầu tư kinh doanh và phối hợp liên thông giữa các cơ quan; thực
hiện quản trị đầu tư trên nền tảng số, dữ liệu số và trí tuệ nhân tạo; phân cấp,
phân quyền đi đôi với chuẩn hóa quy trình, công khai, minh bạch, hậu kiểm hiệu
quả; gắn trách nhiệm của cơ quan đầu mối, người đứng đầu về kết quả, hiệu quả
thu hút vốn đầu tư nước ngoài.
- Rà soát, mở rộng việc tiếp cận thị
trường đối với nhà đầu tư nước ngoài theo lộ trình phù hợp trên cơ sở đánh giá
đầy đủ, toàn diện các tác động, bảo đảm công khai, minh bạch, áp dụng thống nhất,
không phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư. Không áp dụng hồi tố theo hướng
xử lý bất lợi cho doanh nghiệp, trừ trường hợp vì lý do quốc phòng, an ninh quốc
gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng, bảo vệ môi
trường theo quy định của pháp luật.
1.3. Phát triển nhân lực chất lượng
cao, thu hút và trọng dụng nhân tài
- Xây dựng chương trình phát triển
nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với nhu cầu của các ngành, lĩnh vực ưu tiên,
các cụm liên kết ngành, khu công nghiệp, khu công nghệ cao và dự án chiến lược;
đẩy mạnh liên kết giữa Nhà nước, cơ sở đào tạo, doanh nghiệp trong nước và nhà
đầu tư nước ngoài.
- Có chính sách hỗ trợ cho các dự
án đào tạo nguồn nhân lực của doanh nghiệp đầu tư nước ngoài liên kết với các
viện, trường, cơ sở đào tạo nghề, doanh nghiệp trong nước, nhất là trong các
lĩnh vực công nghệ chiến lược.
- Có cơ chế hỗ trợ, khuyến khích
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng, nâng cấp và
từng bước giao nhiệm vụ kỹ thuật, quản lý, nghiên cứu, thiết kế, vận hành chuỗi
cung ứng cho người Việt Nam.
- Đổi mới giáo dục nghề nghiệp,
giáo dục đại học, đào tạo lại và nâng cao kỹ năng cho người lao động; ưu tiên
các ngành công nghệ, kỹ thuật, dữ liệu, tự động hóa, quản trị sản xuất,
logistics, tài chính và các lĩnh vực mới có nhu cầu cao. Tổ chức lại các
cơ sở đào tạo nghề hiện có tại các địa phương để hình thành các trung tâm đào tạo
nghề chất lượng cao tại các vùng kinh tế trọng điểm, đáp ứng yêu cầu thu hút
dòng vốn đầu tư nước ngoài thế hệ mới.
- Hoàn thiện chính sách thu hút
nhân tài, trọng dụng chuyên gia, nhà khoa học, doanh nhân, nhà sáng lập, người
Việt Nam ở nước ngoài và người nước ngoài có trình độ cao đến làm việc, nghiên
cứu, đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp, điều hành hoạt động tại Việt Nam; tạo điều
kiện thuận lợi về cư trú, việc làm, môi trường sống, dịch vụ công và kết nối hệ
sinh thái đổi mới sáng tạo; rà soát, cắt giảm tối đa các quy định về giấy phép
lao động đối với chuyên gia người nước ngoài, đặc biệt là các chuyên gia trong
lĩnh vực công nghệ cao, chuyên gia công tác ngắn ngày.
- Có cơ chế cho phép các địa phương
sử dụng ngân sách địa phương để hỗ trợ chi phí cho doanh nghiệp đầu tư nước
ngoài triển khai các hoạt động đào tạo lao động tại cơ sở đào tạo của doanh
nghiệp ở trong và ngoài nước.
1.4. Nâng cấp, hoàn thiện cơ sở
hạ tầng phục vụ thu hút đầu tư chiến lược
- Đầu tư phát triển hệ thống kết cấu
hạ tầng chiến lược đồng bộ, hiện đại gắn với quy hoạch phát triển quốc gia,
vùng và địa phương, mở ra các không gian, động lực phát triển mới; ưu tiên các
công trình hạ tầng kết nối và trung tâm logistics ở các cảng biển đầu mối, sân
bay quốc tế, đường bộ cao tốc, đường sắt cao tốc, đường thủy nội địa và các
vùng động lực nhằm đón đầu xu thế dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu, dòng vốn
đầu tư nước ngoài chất lượng cao.
- Bảo đảm cung ứng đủ và ổn định điện,
nước, hạ tầng số, đáp ứng đủ nhu cầu quỹ đất sạch, dịch vụ hỗ trợ cho các dự án
chất lượng cao, nhất là các dự án trung tâm nghiên cứu và phát triển, trụ sở
khu vực, trung tâm điều hành và các tổ hợp công nghiệp chiến lược.
- Đẩy nhanh chuyển đổi các khu công
nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao theo hướng sinh thái, thông minh, chuyên
ngành, tích hợp hạ tầng sản xuất với hạ tầng dịch vụ logistics, hạ tầng xã hội
phục vụ người lao động (nhà ở, y tế, giáo dục, văn hóa, thể thao). Phát triển hạ
tầng theo cụm, ngành chiến lược gắn với không gian phát triển, quy hoạch địa
phương, xử lý môi trường.
- Hoàn thiện hạ tầng số và cơ sở dữ
liệu quốc gia đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, cung cấp dịch vụ công và kết nối
nhà đầu tư; thúc đẩy dùng chung dữ liệu, chuẩn hóa quy trình, giảm giấy tờ, giảm
thời gian xử lý, giảm chi phí tuân thủ.
2. Đổi mới định
hướng thu hút đầu tư nước ngoài theo ngành, lĩnh vực, địa bàn
- Xác định một số lĩnh vực cốt lõi
cần ưu tiên thu hút đầu tư nước ngoài như: Công nghiệp điện tử, chip bán dẫn và
thiết bị số; trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, điện toán đám mây, Internet vạn vật
và chuỗi khối; công nghệ sinh học và y sinh tiên tiến; công nghệ năng lượng và
vật liệu tiên tiến, công nghiệp xanh; logistics hiện đại, dịch vụ chuỗi cung ứng,
dịch vụ tài chính, thương mại, đổi mới sáng tạo và các dịch vụ giá trị gia tăng
cao. Thường xuyên rà soát, cập nhật đối với các lĩnh vực ưu tiên thu hút đầu
tư nước ngoài, bảo đảm phù hợp với tình hình thực tiễn từng giai đoạn phát triển,
yêu cầu hội nhập quốc tế, bảo đảm quốc phòng, an ninh và lợi ích quốc gia - dân
tộc. Xây dựng cơ chế ưu đãi vượt trội, cạnh tranh, gắn với yêu cầu kết quả
thực hiện; quy trình thủ tục đầu tư đặc thù, riêng biệt; cơ chế xử lý các khó
khăn, vướng mắc tập trung, nhanh, linh hoạt.
- Ưu tiên thu hút các dự án, nhà đầu
tư có công nghệ nền tảng, công nghệ lõi, cam kết triển khai các hoạt động
nghiên cứu, thiết kế, hình thành trung tâm đổi mới sáng tạo, trung tâm dữ liệu,
đầu tư các kho dự trữ năng lượng, dự trữ hàng hóa cho khu vực và quốc tế, xây dựng
trụ sở khu vực, trung tâm điều hành, trung tâm ngân quỹ, trung tâm mua sắm,
trung tâm dịch vụ dùng chung có khả năng kết nối Việt Nam với mạng sản xuất, mạng
dịch vụ và thị trường tài chính khu vực, thế giới.
- Tập trung phát triển một số vùng
động lực, hành lang kinh tế, cụm liên kết ngành và các không gian phát triển mới
gắn với lợi thế vị trí, đầu mối giao thông, logistics, hạ tầng số, năng lượng,
đô thị lớn và liên kết vùng để thu hút đầu tư nước ngoài thế hệ mới. Đối với
các địa phương còn khó khăn, thu hút đầu tư phải phù hợp với điều kiện thực tế,
có lộ trình nâng dần chất lượng, không hình thành mặt bằng ưu đãi thấp để cạnh
tranh thu hút đầu tư.
3. Thúc đẩy
kinh tế xanh, kinh tế số, chuyển giao công nghệ, tăng tính lan tỏa, liên kết với
khu vực kinh tế trong nước
- Khuyến khích, yêu cầu doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài cam kết về công nghệ, nghiên cứu và phát triển, chuyển
giao công nghệ, phát triển, đào tạo người Việt Nam, tỷ lệ giá trị gia tăng
trong nước, phát triển nhà cung ứng nội địa, chuyển đổi xanh và chuyển đổi số để
được hưởng các ưu đãi đầu tư theo kết quả thực hiện; công bố nhu cầu mua sắm,
tiêu chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn quản trị và lộ trình nội địa hóa.
- Xây dựng và triển khai chương
trình quốc gia phát triển nhà cung ứng trong nước; hình thành cơ sở dữ liệu quốc
gia, nền tảng kết nối nhà cung ứng, cụm liên kết ngành và cơ chế hợp tác dài hạn
giữa nhà đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp trong nước; hỗ trợ doanh nghiệp Việt
Nam nâng cao năng lực quản trị, công nghệ, tiêu chuẩn, tài chính, truy xuất nguồn
gốc và khả năng tham gia chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng của doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài.
- Có cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp Việt
Nam liên doanh, liên kết, mua bán, sáp nhập, từng bước tăng tỷ lệ góp vốn, mua
cổ phần, mua công nghệ, tiếp nhận chuyển giao công nghệ từ các doanh nghiệp đầu
tư nước ngoài trong các ngành công nghệ chiến lược, các doanh nghiệp có công
nghệ truyền thống ở nước ngoài, bảo đảm cơ chế hỗ trợ tuân thủ các cam kết quốc
tế.
- Khuyến khích đầu tư của các quỹ đầu
tư, trung gian tài chính, nhà đầu tư nước ngoài vào liên doanh, liên kết, góp vốn,
mua cổ phần của các doanh nghiệp, dự án trong nước gắn với đầu tư nâng cao công
nghệ, quản trị, thị trường và đào tạo lao động Việt Nam; kiểm soát chặt chẽ,
không để phát sinh rủi ro đối với quốc phòng, an ninh, an ninh dữ liệu, an toàn
hệ thống tài chính và hạ tầng trọng yếu.
- Khuyến khích tổ chức tín dụng hỗ
trợ lãi suất, cấp tín dụng ưu đãi để triển khai các dự án có vốn đầu tư nước ngoài
xanh, tuần hoàn, tiết kiệm năng lượng, sử dụng tài nguyên bền vững và áp dụng
khung tiêu chuẩn môi trường, xã hội, quản trị (ESG). Cho phép doanh nghiệp khấu
hao nhanh đối với tài sản số và tài sản xanh.
- Có cơ chế khuyến khích chuyên
gia, cán bộ quản lý, người lao động Việt Nam đã làm việc trong doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài phát huy kinh nghiệm, kỹ năng, mạng lưới để hình thành
doanh nghiệp mới, dự án mới, hoạt động đổi mới sáng tạo, qua đó lan tỏa tri thức
và phương thức quản trị tiên tiến.
4. Đổi mới,
nâng cao hiệu quả công tác xúc tiến đầu tư
- Đổi mới căn bản công tác xúc tiến
đầu tư theo hướng chủ động, có trọng tâm, trọng điểm dựa trên dữ liệu, chuyên
nghiệp, thực chất, dài hạn; chuyển từ xúc tiến đầu tư dàn trải sang tiếp cận, vận
động, đàm phán và đồng hành với nhà đầu tư chiến lược, dự án chiến lược; coi việc
hỗ trợ sau cấp phép, tháo gỡ khó khăn cho dự án hiện hữu và khuyến khích mở rộng
dự án chất lượng cao là một trong những nội dung quan trọng của chính sách thu
hút đầu tư.
- Xây dựng cơ sở dữ liệu nhà đầu tư
chiến lược, đối tác chiến lược, tập đoàn hàng đầu, định chế tài chính, quỹ đầu
tư lớn, trung tâm đổi mới sáng tạo quan trọng và có phương án tiếp cận chuyên
biệt theo từng thị trường, từng nhóm ngành và từng địa bàn.
- Xây dựng hình ảnh quốc gia về môi
trường đầu tư kinh doanh ổn định, an toàn, minh bạch, cải cách, nhân lực có chất
lượng, vị trí chiến lược, hạ tầng ngày càng hoàn thiện và quyết tâm đồng hành
cùng nhà đầu tư.
5. Nâng cao hiệu
quả công tác quản lý nhà nước đối với kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
- Thực hiện phân cấp, phân quyền rõ
ràng đi đôi với tăng cường điều phối quốc gia, liên kết vùng, thanh tra, kiểm
tra, giám sát và trách nhiệm giải trình. Hoàn thiện cơ chế rà soát, phối hợp
thẩm định và quản trị rủi ro đầu tư với các dự án, giao dịch liên quan đến lĩnh
vực, địa bàn, doanh nghiệp, công trình, hạ tầng trọng yếu hoặc nhạy cảm; bảo đảm
tiêu chí rõ ràng, công khai, minh bạch, đúng thẩm quyền, đúng trình tự, không
làm phát sinh rào cản, ách tắc không cần thiết đối với hoạt động đầu tư, kinh
doanh hợp pháp.
- Xây dựng và vận hành Cổng một cửa
đầu tư quốc gia theo hướng số hóa toàn trình, liên thông dữ liệu giữa các bộ,
ngành, địa phương; thực hiện nguyên tắc khai một lần, dùng nhiều lần; nâng cao
chất lượng phục vụ nhà đầu tư, doanh nghiệp, chất lượng phân tích, dự báo và điều
hành chính sách.
- Tổ chức thực hiện Bộ tiêu chí
đánh giá hiệu quả kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đối với cả Trung ương và địa
phương; lấy chất lượng, hiệu quả, công nghệ, đổi mới sáng tạo, đào tạo người Việt
Nam, phát triển nhà cung ứng, đóng góp ngân sách nhà nước, bảo vệ môi trường,
tuân thủ pháp luật và an ninh kinh tế làm tiêu chí chủ yếu.
- Tăng cường các biện pháp phòng,
chống chuyển giá, gian lận thương mại, xuất xứ hàng hóa trên cơ sở kết hợp xác
minh kỹ nguồn gốc vốn, chủ sở hữu hưởng lợi cuối cùng và kiểm soát giao dịch có
rủi ro cao theo quy định của pháp luật; thực hiện giám định độc lập giá trị vốn
góp, máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ trong trường hợp cần thiết.
- Tăng cường giám sát việc thực hiện
cam kết của nhà đầu tư; kịp thời xử lý vi phạm, thu hồi ưu đãi hoặc áp dụng biện
pháp phù hợp đối với trường hợp không thực hiện đúng cam kết, sử dụng lãng phí
đất đai, tài nguyên, năng lượng hoặc gây ảnh hưởng xấu đến môi trường, trật tự,
an toàn xã hội.
- Tôn vinh, khen thưởng kịp thời
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, nhà đầu tư nước ngoài có đóng góp thực
chất, dài hạn, tích cực cho các mục tiêu phát triển của đất nước.
6. Hoàn thiện
cơ chế, chính sách liên quan đến đầu tư gián tiếp nước ngoài
- Phát triển thị trường vốn trung
và dài hạn theo hướng minh bạch, hiện đại, an toàn, bền vững, giảm sự phụ thuộc
vào thị trường tín dụng ngắn hạn; hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển thị trường
chứng khoán, thị trường trái phiếu, định chế trung gian; khẩn trương triển khai
xây dựng và đưa vào vận hành các Trung tâm tài chính quốc tế, khu vực; đẩy
nhanh lộ trình nâng hạng thị trường chứng khoán trên cơ sở cải cách thực chất về
khả năng tiếp cận thị trường, chất lượng và sự đa dạng nguồn cung hàng hóa minh
bạch thông tin, an toàn hệ thống và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nhà đầu
tư.
- Tăng nguồn cung hàng hóa cho thị
trường vốn thông qua đẩy mạnh cổ phần hóa gắn với niêm yết, thúc đẩy doanh nghiệp
tư nhân huy động vốn và niêm yết trên thị trường, nâng cao quản trị công ty và
minh bạch thông tin. Thí điểm có kiểm soát việc phát triển các sàn giao dịch
tài sản mã hóa.
- Phát triển cơ sở nhà đầu tư theo
hướng đa dạng hóa loại hình và nhóm các nhà đầu tư, tập trung nâng cao tỷ trọng
nhóm nhà đầu tư tổ chức, nhóm nhà đầu tư chuyên nghiệp, quỹ đầu tư, quỹ hưu trí
bổ sung, doanh nghiệp bảo hiểm, quỹ đầu tư tư nhân, quỹ đầu tư mạo hiểm, quỹ đầu
tư tăng trưởng; khuyến khích dòng vốn nước ngoài dài hạn, ổn định, có trách nhiệm.
- Nâng cao khả năng tiếp cận thị
trường của nhà đầu tư nước ngoài, hoàn thiện hạ tầng giao dịch, thanh toán, bù
trừ, lưu ký, các công cụ phòng ngừa rủi ro và cơ chế bảo vệ nhà đầu tư; tiếp tục
cải thiện chất lượng công bố thông tin, chuẩn mực kế toán, quản trị công ty và
giám sát thị trường theo hướng tiệm cận thông lệ quốc tế.
- Hoàn thiện cơ chế bảo vệ quyền, lợi
ích hợp pháp của nhà đầu tư trên thị trường vốn; nâng cao hiệu quả tiếp nhận, xử
lý khiếu nại, tranh chấp và thực thi nghĩa vụ công bố thông tin, quản trị công
ty; đồng thời tăng cường giám sát dòng vốn, ngoại hối, phòng, chống rửa tiền và
rủi ro hệ thống.
7. Nâng cao vai
trò lãnh đạo của Đảng, hiệu quả hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các
cơ quan có liên quan trong phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
- Đổi mới nội dung, phương thức
lãnh đạo của tổ chức đảng trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phù hợp
đặc thù; tăng cường phát triển Đảng, công tác tư tưởng, công tác dân vận, quan
hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ, nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ
chức đoàn thể tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
- Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ
làm công tác tham mưu, quản lý nhà nước, xúc tiến, hỗ trợ đầu tư; bố trí cán bộ
đủ năng lực, bản lĩnh, phẩm chất, tinh thần phục vụ và tư duy hội nhập.
- Phát huy vai trò giám sát, phản
biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, tổ
chức xã hội - nghề nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp, cộng đồng doanh nghiệp và người
lao động trong quá trình xây dựng, thực thi và giám sát chính sách về phát triển
kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
IV- TỔ CHỨC THỰC
HIỆN
1. Đảng ủy Quốc hội lãnh đạo, chỉ đạo rà
soát, hoàn thiện pháp luật về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài; tăng
cường giám sát việc thực hiện theo quy định.
2. Đảng ủy Chính phủ lãnh đạo, chỉ đạo: Xây dựng Chương trình
hành động triển khai thực hiện Nghị quyết; ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền
ban hành cơ chế, chính sách, pháp luật cần thiết để thực hiện Nghị quyết; xác định
một số nhóm ngành, lĩnh vực cốt lõi ưu tiên thu hút trong từng giai đoạn và cơ
chế rà soát, cập nhật định kỳ danh mục mở; xây dựng bộ tiêu chí giám sát, chế độ
báo cáo, cơ chế sơ kết, tổng kết; tổ chức thí điểm một số cơ chế, chính sách mới,
bảo đảm đánh giá độc lập, kịp thời điều chỉnh hoặc chấm dứt thí điểm không hiệu
quả, phát sinh rủi ro; bố trí đủ nguồn lực và tổ chức quán triệt ngay sau khi
Nghị quyết được ban hành.
3. Đảng ủy các bộ, cơ quan ngang bộ, Tòa án nhân dân tối cao,
Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung
ương xây dựng kế hoạch hành động với nhiệm vụ, giải pháp, lộ trình phù hợp;
phân công cụ thể trách nhiệm cho các cơ quan, đơn vị thực hiện; định kỳ báo cáo
kết quả, khó khăn, vướng mắc và kiến nghị xử lý.
4. Đảng ủy Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh chủ trì, phối
hợp các cơ quan liên quan biên soạn tài liệu bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ cán bộ,
công chức, viên chức về nội dung Nghị quyết; tổ chức tập huấn, bồi dưỡng theo
yêu cầu thực tiễn.
5. Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương, các tổ
chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng
chương trình, kế hoạch hướng dẫn, vận động nhân dân thực hiện Nghị quyết; phát
huy vai trò giám sát, phản biện xã hội, tham gia xây dựng pháp luật, cơ chế,
chính sách liên quan.
6. Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương chủ trì, phối hợp Đảng
ủy Chính phủ và các cơ quan liên quan tham mưu Bộ Chính trị, Ban Bí thư tổ chức
quán triệt và tăng cường tuyên truyền, phổ biến nội dung Nghị quyết.
7. Đảng ủy Chính phủ chủ trì, phối hợp với Văn phòng Trung
ương Đảng, Ban Chính sách, chiến lược Trung ương, các đảng ủy trực thuộc Trung
ương và địa phương thường xuyên theo dõi, kiểm tra, đôn đốc, sơ kết, tổng kết
và định kỳ báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư kết quả thực hiện Nghị quyết.
|
Nơi nhận:
- Bộ Chính trị,
Ban Bí thư;
- Các ban đảng, đảng uỷ trực thuộc Trung ương;
- Các tỉnh uỷ, thành uỷ;
- Các đảng uỷ bộ, ngành, tổ chức ở Trung ương;
- Các đồng chí Ủy viên
Ban Chấp hành Trung ương Đảng;
- Lưu Văn phòng Trung ương Đảng.
|
T/M BỘ CHÍNH TRỊ
TỔNG BÍ THƯ
Tô Lâm
|
Nghị quyết 10-NQ/TW năm 2026 về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài do Ban Chấp hành Trung ương ban hành
|
CENTRAL
EXECUTIVE COMMITEE
*
|
COMMUNIST PARTY OF VIETNAM
---------------
|
|
No. 10-NQ/TW
|
Hanoi, June 8, 2026
|
RESOLUTION OF THE POLITBURO ON THE DEVELOPMENT OF THE FOREIGN-INVESTED
ECONOMY After nearly 40 years of
renewal and opening up, the foreign-invested economy has grown continuously,
not only supplementing important investment resources but also contributing to
structural economic transformation, renewing the growth model, forming a number
of leading industries, expanding export markets, and progressively bringing
Vietnam into deeper participation in global production networks and value
chains, supporting human resource development, technology absorption, and the
adoption of advanced governance practices. However, the quality and
efficiency of attracting, managing and utilizing foreign investment have not
been commensurate with the country's potential, advantages, and development requirements
in the new phase. The proportion of labor-intensive, resource-intensive,
land-intensive, energy-intensive, and assembly-oriented projects remains high;
the domestic content rate and value added generated in Vietnam are low;
linkages with the domestic enterprise sector are weak, technology transfer is
limited; and a number of local governments continue to compete for investment
based on volume. Foreign portfolio investment (FPI) flows remain small,
insufficient relative to market potential. Capital contribution, mergers and
acquisitions by investment funds, global financial institutions and foreign
investors remain limited, with inadequate oversight. In the context of Vietnam
establishing a new growth model grounded in science, technology, innovation,
digital transformation, green transition, and strengthening strategic autonomy,
the attraction and development of the foreign-invested economy must be placed within
the overall national development strategy. The Politburo requires
focused, resolute, synchronized and effective implementation of the following: I.
GUIDING PERSPECTIVES 1. The foreign-invested economy is an important component of
the national economy - not only supplementing medium- and long-term capital for
investment and development, but also serving as a channel for absorbing
advanced technology, modern governance practices, human resource quality improvement
and training, and market expansion. The State encourages its long-term
development, treating it equally and in fair competition with other economic
sectors in accordance with the law. ... ... ... Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh. 3. Making a strong shift from a mindset primarily focused on
attracting capital to one of developing a national strategic investment
platform; from attracting investment based on administrative boundaries to attracting
by industrial cluster, value chain and innovation ecosystem; taking quality,
efficiency, technology transfer, supply chain participation, value added and
other criteria as the primary benchmarks; gradually transitioning from
input-based incentives to result-based support linked to the performance of
commitments, including full project lifecycle management and linkages with
domestic enterprises. 4. Developing a synchronized and unified foreign investment ecosystem,
linked to the strategy of domestic enterprise development, capital market
development, international financial centers, free trade zones, economic zones,
industrial parks, high-tech zones, innovation hubs, logistics infrastructure,
data, and energy; encouraging foreign investors to establish regional
headquarters and regional operations centers, research, design and services. 5. The State recognizes and protects intellectual property rights,
property rights, investment capital, income and other legitimate rights and
interests of foreign investors; ensures a transparent, stable, consistent,
low-compliance-cost and highly predictable investment and business environment,
in line with international best practices, improving regional and global
competitiveness. Ensures a mechanism for dialogue, timely reception and
handling of proposals and complaints on the principle of harmonizing the interests
of the parties; resolves investment disputes in accordance with the law;
encourages the parties to reach self-settlement through commercial mediation
and commercial arbitration. 6. Strengthening Party leadership and the State's enabling
role; improving the effectiveness and efficiency of national coordination;
promoting local governments’ initiative and creativity on the basis of unified
strategy, planning, criteria and oversight mechanisms; taking substantive contribution
results as the primary measure in attracting, managing and utilizing foreign
investment. II.
OBJECTIVES 1. General objectives Make Vietnam a competitive
destination attracting high-quality medium- and long-term foreign capital for
investment and development. Manage and efficiently use foreign investment
capital to improve production capacity, create linkages and spillover effects
with domestic economic sectors, promote technology transfer, human resource training
and deep participation in global supply chains; contribute to establishing a
new growth model grounded in science, technology, innovation and digital
transformation, strengthening competitiveness and strategic autonomy, enhancing
national standing and reputation; create an important driver for the successful
implementation of national development objectives by 2030 and 2045. 2. Specific objectives a) By 2030 ... ... ... Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh. - During the 2026-2030
period: attract registered foreign investment capital of approximately USD
200-300 billion (USD 40-50 billion/year); disbursed capital of approximately
USD 150-200 billion (USD 30-40 billion/year). - 75% of foreign investment
capital to come from developed economies with strong capacity in technology,
capital and modern governance; the number of Fortune 500 multinational
corporations (MNCs) with investment operations in Vietnam to increase by 30%;
attract multinational corporations to invest in research centers, design
centers, innovation hubs, data centers, regional headquarters, operations
centers, treasury centers, procurement centers and shared services centers
(SSCs), including at least three of the world's leading technology corporations
establishing headquarters, offices and R&D centers in Vietnam; attract
foreign enterprises, including small and medium-sized enterprises, with core
technologies and specialized technologies capable of deep participation in
global value chains. - Average domestic content
rate in leading industries to reach 45-50%; strive to have approximately 10,000
domestic enterprises participating in the value chains and supply chains of
foreign-invested enterprises, of which approximately 500-1,000 are Tier-1
suppliers. - Proportion of trained
labor in the employed labor structure to reach approximately 80%; significantly
improve the proportion of Vietnamese people holding technical, management,
research, design, operations and supply chain positions in high-quality foreign
investment projects. - Proportion of eco-industrial
parks (EIPs), including converted and newly established, to account for
approximately 10% of total industrial parks nationwide. - Strive to have the
securities market upgraded by MSCI to emerging market status before 2030. b) By 2045 The foreign-invested
economy develops efficiently and sustainably, closely integrated with the
state-owned and private economies, making Vietnam one of Asia's leading
competitive centers for manufacturing, services, innovation and regional governance,
deeply participating in global value chains; the capital market develops
modernly, transparently, safely and approaching international best practices. Strive for the
foreign-invested economy to account for approximately 25% of total social
investment by 2045, contributing approximately 30% of the country's GDP;
contributing to making Vietnam a developed, high-income country. ... ... ... Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh. 1.
General tasks 1.1. Renewing thinking and
unifying perceptions on the position and role of the foreign-invested economy - The foreign-invested
economy is an inseparable component of the economy; an important driver of
economic development and international integration; a source of high-quality
capital, advanced technology, modern governance and international standards; a bridge
for market expansion and participation in global value chains; a communication
channel for promoting Vietnam's image, enhancing its international standing and
reputation, and making a positive contribution to maintaining peace and
stability in the region and the world. - Making a strong shift
from an administrative management mindset to one of development facilitation,
modern governance and results-based management; overcoming the situation of
local governments competing for investment based on volume; resolutely not trading
the environment, natural resources, social security and economic security for
mere economic growth. - Encouraging
foreign-invested enterprises to enhance responsibility, strengthen linkages,
share knowledge, support the development of domestic enterprises, and accompany
the Vietnamese economy over the long term. 1.2. Completing
institutions, improving the investment and business environment - Comprehensively and
uniformly completing the legal system, ensuring openness, transparency,
stability and high predictability, especially in the areas of investment, enterprises,
land, planning, construction, taxation, customs, trade, competition, foreign
exchange, securities, intellectual property, data, labor, science, technology
and innovation; promptly resolving overlaps, contradictions and bottlenecks in
implementation. - Reforming incentive and
investment support mechanisms, gradually transitioning from traditional
incentives to result-based support mechanisms linked to project performance; building
ex-post monitoring mechanisms to recover incentives and support if commitments
are not fulfilled; prioritizing projects with voluntary commitments and good
implementation of commitments on the use of advanced and environmentally
friendly technologies, large contributions to innovation, R&D, training and
employment of Vietnamese personnel, development of domestic suppliers, green
transition, digital transformation, efficient land and resource use, and legal
compliance. - Forming a mechanism for selecting,
supporting and managing strategic investors; identifying certain groups of
priority strategic sectors and technologies for attraction in each phase, with
an open list subject to regular review and updating for emerging technology,
industry and service sectors with comparative advantages, locational advantages
and high spillover potential. Applying special investment procedures and
incentive mechanisms for large-scale strategic technology projects with
inter-regional impact, potential to lead regional and global supply chains, and
high-tech projects with commitments to transfer technology to Vietnamese
enterprises. ... ... ... Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh. - Radically reforming administrative
procedures, business investment conditions and inter-agency coordination;
implementing investment governance on digital platforms, digital data and
artificial intelligence (AI); decentralizing and delegating authority in tandem
with standardizing processes, ensuring openness, transparency and effective
ex-post monitoring; linking the responsibility of lead agencies and their heads
to the results and efficiency of attracting foreign investment. - Reviewing and expanding market
access for foreign investors on an appropriate roadmap based on comprehensive
assessment of impacts, ensuring openness, transparency, uniform application and
non-discrimination among investors. Not applying retroactive measures in a
manner detrimental to enterprises, except in cases of national defense,
national security, social order and safety, social ethics, public health, and
environmental protection in accordance with the law. 1.3. Developing high-quality
human resources, attracting and making good use of talent - Developing a
high-quality human resource development program linked to the needs of priority
sectors and fields, industrial clusters, industrial parks, high-tech zones and
strategic projects; promoting linkages among the State, training institutions,
domestic enterprises and foreign investors. - Supporting policies for
human resource training projects of foreign-invested enterprises linked with institutes,
universities, vocational training facilities and domestic enterprises,
especially in strategic technology fields. - Providing mechanisms to
support and encourage foreign-invested enterprises to employ, train, develop,
upgrade and progressively assign technical, management, research, design and
supply chain operations tasks to Vietnamese people. - Reforming vocational
education, higher education, retraining and upskilling for workers; prioritizing
technology, engineering, data, automation, production management, logistics,
finance and new high-demand fields. Reorganizing existing vocational training
facilities in localities to form high-quality vocational training centers in
key economic regions, meeting the requirements for attracting new-generation
foreign investment. - Completing policies for
attracting talent, making good use of experts, scientists, entrepreneurs, founders,
overseas Vietnamese and highly qualified foreigners coming to work, research,
innovate, startup businesses and manage operations in Vietnam; facilitating
residence, employment, living environment, public services and connectivity
with the innovation ecosystem; reviewing and minimizing regulations on work
permits for foreign experts, especially experts in high-tech fields and
short-term experts. - Providing a mechanism
allowing local governments to use local budgets to support costs for foreign-invested
enterprises implementing labor training activities at the enterprise's training
facilities inside and outside the country. ... ... ... Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh. - Investing in the
development of a synchronized, modern strategic infrastructure system linked to
national, regional and local development planning, opening up new development
spaces and drivers; prioritizing infrastructure connectivity works and logistics
centers at major seaports, international airports, expressways, high-speed
railways, inland waterways and growth regions in anticipation of trends in
global supply chain relocation and high-quality foreign investment flows. - Ensuring sufficient and
stable supply of electricity, water, digital infrastructure, and meeting
sufficient demand for clean land funds and support services for high-quality
projects, especially R&D centers, regional headquarters, operations centers
and strategic industrial complexes. - Accelerating the
transformation of industrial parks, economic zones and high-tech zones in a
green, smart, specialized direction, integrating manufacturing infrastructure
with logistics services infrastructure and social infrastructure serving
workers (housing, healthcare, education and culture). Developing infrastructure
by strategic cluster and sector linked to development space, local planning and
environmental management. - Completing digital infrastructure
and the national database to meet state management requirements, public service
provision and investor connectivity; promoting data sharing, process
standardization, paperwork reduction, processing time reduction and compliance
cost reduction. 2.
Renewing the orientation for attracting foreign investment by sector, field and
local area - Identifying certain core
fields as priorities for foreign investment attraction, including: electronics,
semiconductor chips and digital equipment industry; artificial intelligence
(AI), big data, cloud computing, Internet of Things (IoT) and blockchain;
advanced biotechnology and biomedical technology; energy technology and
advanced materials, green industry; modern logistics, supply chain services,
financial services, trade, innovation and high-value-added services. Regularly
reviewing and updating priority fields for foreign investment attraction to ensure
conformity with the practical situation of each development phase,
international integration requirements, national defense and security and
national interests. Building superior and competitive incentive mechanisms
linked to performance requirements; special and dedicated investment
procedures; mechanisms for focused, fast and flexible resolution of
difficulties and obstacles. - Prioritizing the
attraction of projects and investors with foundational technologies and core
technologies, committing to carry out research, design and innovation
activities, forming innovation hubs, data centers, investing in energy storage
facilities and commodity reserves for regional and international use, building
regional headquarters, operations centers, treasury centers, procurement
centers and shared services centers (SSCs) capable of connecting Vietnam with
regional and global production networks, service networks and financial markets. - Focusing on developing certain
growth regions, economic corridors, industrial clusters and new development
spaces linked to locational advantages, transportation and logistics hubs,
digital infrastructure, energy, major urban areas and regional linkages to
attract new-generation foreign investment. For localities facing difficulties,
investment attraction must be consistent with actual conditions, with a roadmap
for gradually improving quality, without forming a low-incentive baseline to
compete for investment. 3. Promoting
the green economy, digital economy, technology transfer, and strengthening
spillover effects and linkages with the domestic economy ... ... ... Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh. - Building and
implementing a national program for developing domestic suppliers; forming a
national database, a platform connecting suppliers, industrial clusters and a
long-term cooperation mechanism between foreign investors and domestic
enterprises; supporting Vietnamese enterprises in improving governance,
technology, standards, finance, traceability and capacity to participate in the
value chains and supply chains of foreign-invested enterprises. - Providing mechanisms to
support Vietnamese enterprises in joint ventures, linkages, mergers and
acquisitions, progressively increasing capital contribution ratios, purchasing
shares, acquiring technologies and receiving technology transfer from foreign-invested
enterprises in strategic technology sectors, and traditional-technology
enterprises abroad, ensuring support mechanisms comply with international
commitments. - Encouraging investment by
investment funds, financial intermediaries and foreign investors in joint
ventures, linkages, capital contributions and share purchases of domestic
enterprises and projects linked to investment in improving technology,
governance, market access and training of Vietnamese labor; strictly
controlling risks to national defense, security, data security, financial
system safety and critical infrastructure. - Encouraging credit
institutions to provide interest rate support and preferential credit to implement
green, circular, energy-saving and sustainable resource-use foreign-invested
projects applying Environmental, Social and Governance (ESG) standards.
Allowing enterprises to accelerate depreciation of digital assets and green
assets. - Providing mechanisms to
encourage Vietnamese experts, managers and workers who have worked in
foreign-invested enterprises to leverage their experience, skills and networks
to form new enterprises, new projects and innovation activities, thereby spreading
knowledge and advanced governance practices. 4.
Renewing and improving the effectiveness of investment promotion - Fundamentally reforming
investment promotion activities in a proactive, focused and targeted direction
based on data, professionally, substantively and over the long term; shifting
from broad-based investment promotion to approaching, lobbying, negotiating and
accompanying strategic investors and strategic projects; regarding post-licensing
support, resolving difficulties for existing projects and encouraging
high-quality project expansion as important components of investment attraction
policy. - Building a database of
strategic investors, strategic partners, leading corporations, financial
institutions, major investment funds, and important innovation hubs, with
specialized approaches by market, industry group and local area. - Building the national
image of a stable, safe, transparent and reform-oriented investment and business
environment, with quality human resources, strategic location, increasingly
complete infrastructure and determination to accompany investors. ... ... ... Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh. - Implementing clear
decentralization and delegation of authority in tandem with strengthening
national coordination, regional linkages, inspection, examination, oversight
and accountability. Completing the mechanism for reviewing, coordinating appraisal
and managing investment risks for projects, transactions involving critical or
sensitive sectors, local areas, enterprises, works and infrastructure; ensuring
clear, transparent, publicly available criteria, within the proper authority
and proper procedures, without generating unnecessary barriers or bottlenecks
for lawful investment and business activities. - Building and operating a
national investment single window in a fully digitalized and data-linked manner
between ministries, agencies and local governments; implementing the
"declare once, use many times" principle; improving the quality of
services for investors and enterprises, and the quality of policy analysis,
forecasting and management. - Implementing the Set of
criteria for assessing the efficiency of the foreign-invested economy for both
central and local governments; taking quality, efficiency, technology,
innovation, training of Vietnamese people, supplier development, state budget contributions,
environmental protection, legal compliance and economic security as the primary
criteria. - Strengthening measures
to prevent and combat transfer pricing, trade fraud and fraudulent origin
claims by combining thorough verification of capital sources, ultimate
beneficial owners (UBOs) and high-risk transaction control in accordance with
the law; conducting independent appraisal of the value of contributed capital,
machinery, equipment and technology lines where necessary. - Strengthening oversight
of investor commitments; promptly handling violations, recovering incentives or
applying appropriate measures in cases of failure to fulfill commitments,
wasteful use of land, natural resources and energy, or adverse impacts on the
environment, social order and safety. - Timely commending and
rewarding foreign-invested enterprises and foreign investors with substantive,
long-term and positive contributions to the country's development objectives. 6. Completing
mechanisms and policies relating to foreign portfolio investment - Developing the medium-
and long-term capital market in a transparent, modern, safe and sustainable
direction, reducing reliance on short-term credit markets; comprehensively
completing institutions for developing the securities market, bond market and intermediary
institutions; urgently building and putting into operation international and
regional financial centers; accelerating the roadmap for upgrading the
securities market to MSCI emerging market status on the basis of substantive
reform of market access, quality and diversity of transparent information
supply, system safety and protection of legitimate rights and interests of
investors. - Increasing the supply of
goods for the capital market through promoting equitization linked to listing,
encouraging private enterprises to raise capital and list on the market,
improving corporate governance and information transparency. Piloting under controlled
conditions the development of crypto-asset exchanges. ... ... ... Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh. - Improving market access for
foreign investors, completing trading, settlement, clearing and custody
infrastructure, risk management instruments and investor protection mechanisms;
continuing to improve the quality of information disclosure, accounting
standards, corporate governance and market oversight toward approaching
international best practices. - Completing the mechanism
for protecting the legitimate rights and interests of investors in the capital market;
improving the effectiveness of receiving, handling complaints, disputes and
enforcing information disclosure obligations and corporate governance; at the
same time, strengthening the monitoring of capital flows, foreign exchange,
anti-money laundering and systemic risks. 7.
Enhancing the Party's leadership role, the effectiveness of the Vietnam
Fatherland Front and related agencies in developing the foreign-invested economy - Renewing the content and
methods of Party organization leadership in foreign-invested enterprises in a
manner consistent with their specific characteristics; strengthening Party
development, ideological work, public mobilization, harmonious, stable and
progressive labor relations, and improving the effectiveness of mass
organizations in foreign-invested enterprises. - Improving the quality of
the contingent of officials engaged in advisory, state management, investment promotion
and support work; arranging officials with sufficient competence, integrity,
character, service spirit and integration-oriented thinking. - Promoting the oversight
and social criticism role of the Vietnam Fatherland Front and socio-political
organizations, professional-social organizations, business associations, the
business community and workers in the process of formulating, implementing and
overseeing policies on the development of the foreign-invested economy. IV.
IMPLEMENTATION 1. The National Assembly Party Committee shall lead and direct
the review and completion of legislation on the development of the
foreign-invested economy; strengthen oversight of implementation in accordance
with applicable regulations. 2. The Government Party Committee shall lead and direct:
Formulating an Action Program for the implementation of the Resolution; issuing
or submitting to the competent authority for issuance the necessary mechanisms,
policies and legislation to implement the Resolution; identifying certain core
industry and sector groups as priorities for attraction in each phase and a
mechanism for periodic review and updating of an open list; building a set of
monitoring criteria, reporting regime, a preliminary and final review
mechanism; organizing the piloting of certain new mechanisms and policies,
ensuring independent assessment, timely adjustment or termination of pilots that
are ineffective or generate risks; allocating sufficient resources and
organizing the dissemination immediately after the Resolution is issued. ... ... ... Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh. 4. The Party Committee of the Ho Chi Minh National Academy of
Politics shall take charge and cooperate with relevant agencies to compile
training and retraining materials for officials, civil servants and public
employees on the content of the Resolution; organize training and retraining in
accordance with practical requirements. 5. Party Committees of the Vietnam Fatherland Front, central mass
organizations, socio-political organizations and professional-social
organizations shall lead and direct the formulation of programs and plans to
guide and mobilize the people in implementing the Resolution; promote the role
of oversight, social criticism and participation in formulating legislation,
mechanisms and policies relating thereto. 6. The Central Committee for Propaganda and Mass Mobilization
shall take charge and cooperate with the Government Party Committee and relevant
agencies to advise the Politburo and the Party Secretariat in organizing the
dissemination and strengthening propagation of the content of the Resolution. 7. The Government Party Committee shall take charge and
cooperate with the Central Party Office, the Central Committee for Policy and
Strategy, Party Committees directly under the Central Committee and local
governments to regularly monitor, inspect, supervise, conduct preliminary and
final reviews, and periodically report to the Politburo and the Party
Secretariat on the results of implementing the Resolution. ON BEHALF OF THE POLITBURO
GENERAL SECRETARY
To Lam ... ... ... Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.
Nghị quyết 10-NQ/TW ngày 08/06/2026 về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài do Ban Chấp hành Trung ương ban hành
Văn bản liên quan
Ban hành:
22/05/2025
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng: Đã biết
Cập nhật:
26/05/2025
Ban hành:
07/08/2024
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng: Đã biết
Cập nhật:
07/09/2024
Ban hành:
24/05/2023
Hiệu lực: Đã biết
Cập nhật:
30/05/2023
2.172
|
NỘI DUNG SỬA ĐỔI, HƯỚNG DẪN
Văn bản bị thay thế
Văn bản thay thế
Chú thích
Chú thích:
Rà chuột vào nội dụng văn bản để sử dụng.
<Nội dung> = Nội dung hai
văn bản đều có;
<Nội dung> =
Nội dung văn bản cũ có, văn bản mới không có;
<Nội dung> = Nội dung văn
bản cũ không có, văn bản mới có;
<Nội dung> = Nội dung được sửa đổi, bổ
sung.
Click trái để xem cụ thể từng nội dung cần so sánh
và cố định bảng so sánh.
Click phải để xem những nội dung sửa đổi, bổ sung.
Double click để xem tất cả nội dung không có thay
thế tương ứng.
Tắt so sánh [X] để
trở về trạng thái rà chuột ban đầu.
FILE ĐƯỢC ĐÍNH KÈM THEO VĂN BẢN
FILE ATTACHED TO DOCUMENT
|
|
|
|
|
Địa chỉ:
|
17 Nguyễn Gia Thiều, P. Xuân Hòa, TP.HCM
|
|
Điện thoại:
|
(028) 3930 3279 (06 lines)
|
|
E-mail:
|
inf[email protected]
|
|
Mã số thuế:
|
0315459414
|
|
|
|
TP. HCM, ngày 31/05/2021
Thưa Quý khách,
Đúng 14 tháng trước, ngày 31/3/2020, THƯ VIỆN PHÁP LUẬT đã bật Thông báo này, và nay 31/5/2021 xin bật lại.
Hơn 1 năm qua, dù nhiều khó khăn, chúng ta cũng đã đánh thắng Covid 19 trong 3 trận đầu. Trận 4 này, với chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, chắc chắn chúng ta lại thắng.
Là sản phẩm online, nên 250 nhân sự chúng tôi vừa làm việc tại trụ sở, vừa làm việc từ xa qua Internet ngay từ đầu tháng 5/2021.
Sứ mệnh của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT là:
sử dụng công nghệ cao để tổ chức lại hệ thống văn bản pháp luật,
và kết nối cộng đồng Dân Luật Việt Nam,
nhằm:
Giúp công chúng “…loại rủi ro pháp lý, nắm cơ hội làm giàu…”,
và cùng công chúng xây dựng, thụ hưởng một xã hội pháp quyền trong tương lai gần;
Chúng tôi cam kết dịch vụ sẽ được cung ứng bình thường trong mọi tình huống.
THÔNG BÁO
về Lưu trữ, Sử dụng Thông tin Khách hàng
Kính gửi: Quý Thành viên,
Nghị định 13/2023/NĐ-CP về Bảo vệ dữ liệu cá nhân (hiệu lực từ ngày 01/07/2023) yêu cầu xác nhận sự đồng ý của thành viên khi thu thập, lưu trữ, sử dụng thông tin mà quý khách đã cung cấp trong quá trình đăng ký, sử dụng sản phẩm, dịch vụ của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT.
Quý Thành viên xác nhận giúp THƯ VIỆN PHÁP LUẬT được tiếp tục lưu trữ, sử dụng những thông tin mà Quý Thành viên đã, đang và sẽ cung cấp khi tiếp tục sử dụng dịch vụ.
Thực hiện Nghị định 13/2023/NĐ-CP, chúng tôi cập nhật Quy chế và Thỏa thuận Bảo về Dữ liệu cá nhân bên dưới.
Trân trọng cảm ơn Quý Thành viên.
Tôi đã đọc và đồng ý Quy chế bảo vệ dữ liệu cá nhân
Tiếp tục sử dụng

Cảm ơn đã dùng ThuVienPhapLuat.vn
- Bạn vừa bị Đăng xuất khỏi Tài khoản .
-
Hiện tại có đủ người dùng cùng lúc,
nên khi người thứ vào thì bạn bị Đăng xuất.
- Có phải do Tài khoản của bạn bị lộ mật khẩu
nên nhiều người khác vào dùng?
- Hỗ trợ: (028) 3930.3279 _ 0906.229966
- Xin lỗi Quý khách vì sự bất tiện này!
Tài khoản hiện đã đủ người
dùng cùng thời điểm.
Quý khách Đăng nhập vào thì sẽ
có 1 người khác bị Đăng xuất.
Tài khoản của Quý Khách đẵ đăng nhập quá nhiều lần trên nhiều thiết bị khác nhau, Quý Khách có thể vào đây để xem chi tiết lịch sử đăng nhập
Có thể tài khoản của bạn đã bị rò rỉ mật khẩu và mất bảo mật, xin vui lòng đổi mật khẩu tại đây để tiếp tục sử dụng
|
|