|
CHÍNH PHỦ
-------
|
CỘNG
HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số:
278/NQ-CP
|
Hà Nội, ngày 18 tháng 9 năm 2026
|
NGHỊ QUYẾT
PHIÊN HỌP CHUYÊN ĐỀ VỀ XÂY DỰNG PHÁP LUẬT THÁNG 9 NĂM 2026 VÀ MỘT SỐ
NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI THỜI GIAN TỚI
CHÍNH PHỦ
Căn cứ
Luật Tổ chức Chính phủ ngày 18 tháng 02 năm 2025;
Căn cứ
Nghị định số 191/2026/NĐ-CP ngày 29 tháng 5 năm 2026 của Chính phủ ban hành Quy
chế làm việc của Chính phủ;
Trên cơ sở
thảo luận của các Thành viên Chính phủ và kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại
Phiên họp chuyên đề xây dựng pháp luật, tổ chức ngày 16 tháng 9 năm 2026,
QUYẾT NGHỊ:
Thực hiện
chương trình công tác, Chính phủ tổ chức Phiên họp chuyên đề về xây dựng pháp
luật tháng 9 năm 2026 để thảo luận, cho ý kiến đối với 08 dự án luật, nghị quyết[1]. Chính phủ cơ bản thống nhất về sự
cần thiết, mục tiêu và định hướng hoàn thiện các dự án luật, nghị quyết được
trình tại Phiên họp. Đây là các dự án quan trọng, phạm vi tác động rộng, liên
quan trực tiếp đến huy động nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời
cũng là những lĩnh vực còn nhiều khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn, cần khẩn
trương hoàn thiện để khơi thông nguồn lực, cải thiện môi trường đầu tư, kinh
doanh, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Với yêu cầu thể chế phải
đi trước một bước, mở đường cho phát triển; xử lý dứt điểm chồng chéo, bất cập;
khơi thông và sử dụng hiệu quả nguồn lực, tạo không gian và dư địa phát triển mới;
bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp, Chính phủ yêu cầu
các đồng chí Bộ trưởng các Bộ: Nông nghiệp và Môi trường, Xây dựng, Tài chính,
Nội vụ, Công an trực tiếp chỉ đạo tiếp thu đầy đủ, nghiêm túc ý kiến thẩm định
của Bộ Tư pháp, ý kiến xác đáng của Thành viên Chính phủ và kết luận của Thủ tướng
Chính phủ tại Phiên họp; khẩn trương hoàn thiện toàn bộ hồ sơ dự án luật, nghị
quyết theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, lấy ý kiến
Thành viên Chính phủ theo Quy chế làm việc của Chính phủ; báo cáo Phó Thủ tướng
Chính phủ phụ trách xem xét, quyết định trước ngày 21 tháng 9 năm 2026 để trình
Quốc hội. Chủ động phối hợp chặt chẽ với các cơ quan của Quốc hội, các cơ quan
liên quan trong quá trình thẩm tra, chỉnh lý, hoàn thiện các dự án luật, nghị
quyết.
Trên cơ sở
xem xét hồ sơ trình của các Bộ và ý kiến phát biểu tại Phiên họp, Chính phủ quyết
nghị như sau:
I. Về dự
án Luật Đất đai (sửa đổi) do Bộ Nông nghiệp và Môi trường trình Chính phủ
1. Đây là dự
án Luật đặc biệt quan trọng, tác động trực tiếp, sâu rộng đến đời sống kinh tế,
chính trị, xã hội, được Nhân dân, doanh nghiệp, các tổ chức đặc biệt quan tâm.
Giao Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan liên
quan tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện dự án Luật, bảo đảm các yêu cầu sau:
a) Tiếp tục
rà soát toàn diện nội dung của dự thảo Luật bảo đảm thể chế hóa đầy đủ các chủ
trương của cấp có thẩm quyền, đặc biệt là nguyên tắc, định hướng lớn tại Nghị
quyết số 21-NQ/TW ngày 28 tháng 7 năm 2026 về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật
Đất đai và các luật có liên quan (Nghị quyết số 21-NQ/TW); bám sát chỉ đạo của
đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước về đất đai, thuê, tài chính đất đai tại
Thông báo số 93-TB/VPTW[2] ngày 15
tháng 6 năm 2026; báo cáo rõ các chủ trương đã được cụ thể hóa trong dự thảo Luật,
các chủ trương đã được cụ thể hóa trong các luật khác và văn bản quy định chi
tiết, hướng dẫn thi hành.
b) Nghiên cứu,
bổ sung, hoàn thiện các nội dung về: (i) Tiêu chí khung, nguyên tắc, cơ chế xác
định, kiểm tra, giám sát việc quyết định giá đất; chính sách về giá đất, vai
trò của Nhà nước trong việc điều tiết, quản lý, quyết định giá đất; tiền sử dụng
đất, tiền thuê đất đối với đất sản xuất kinh doanh, đất phát triển nhà ở, cho
thuê; (ii) Cơ chế tài chính xử lý chênh lệch địa tô, xử lý đất bỏ hoang, chậm
đưa đất vào sử dụng; quy định cụ thể tiêu chí xác định các loại đất này; (iii)
Cơ chế phòng ngừa các hành vi tham nhũng, tiêu cực, trục lợi chính sách bồi thường,
tái định cư, xây dựng trái phép; (iv) Cơ chế đặc thù xử lý dứt điểm dự án tồn đọng,
kéo dài; (v) Đẩy nhanh việc xây dựng, kết nối thông tin dữ liệu đất đai theo
nguyên tắc minh bạch tối đa nhằm thúc đẩy giao dịch bất động sản; (vi) Đơn giản
thủ tục hành chính theo nguyên tắc một đầu mối, một cửa; thực hiện phân cấp,
phân quyền theo hướng Chính phủ quy định chung, áp dụng trên phạm vi cả nước, địa
phương được chủ động đơn giản hóa, không phát sinh thủ tục, không phức tạp
trong quá trình thực thi; thực hiện đăng ký bắt buộc về quyền sử dụng đất và mọi
biến động đất đai; (vii) Thực hiện yêu cầu công chứng đối với giao dịch chuyển
nhượng quyền sử dụng đất để bảo đảm phù hợp với pháp luật chuyên ngành về công
chứng, phòng ngừa, ngăn chặn rủi ro phát sinh tranh chấp, khiếu kiện; (viii) Rà
soát, bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất với dự án Luật Nhà ở (sửa đổi), dự án Luật
Kinh doanh bất động sản (sửa đổi) và các luật khác có liên quan; (ix) Đánh giá
đầy đủ tác động chính sách, quy định của dự thảo Luật, rà soát kỹ quy định xử
lý chuyển tiếp bảo đảm không xảy ra khoảng trống và các xung đột pháp lý ảnh hưởng
đến quyền và lợi ích của tổ chức, cá nhân có liên quan.
c) Bộ Công
an, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Xây dựng khẩn trương tổ chức lấy ý kiến
Nhân dân thông qua hệ thống VNeID đối với 03 Luật: Đất đai (sửa đổi), Nhà ở (sửa
đổi) và Kinh doanh bất động sản (sửa đổi). Việc lấy ý kiến phải kỹ lưỡng, thực
chất, hiệu quả. Bộ Xây dựng, Bộ Nông nghiệp và Môi trường xây dựng báo cáo tiếp
thu, giải trình ý kiến góp ý của Nhân dân và đăng tải công khai, minh bạch nội
dung này.
2. Phân công Phó
Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng tiếp tục chỉ đạo hoàn thiện dự án Luật
này. Giao Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường thừa ủy quyền Thủ tướng Chính
phủ, thay mặt Chính phủ ký Tờ trình của Chính phủ trình Quốc hội về dự án Luật
này tại Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội khóa XVI.
II. Về
02 dự án Luật do Bộ Xây dựng trình Chính phủ
Giao Bộ
Xây dựng chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan tiếp thu tối đa ý kiến
của các Thành viên Chính phủ, hoàn thiện dự án Luật Nhà ở (sửa đổi) và Luật
Kinh doanh bất động sản (sửa đổi), bảo đảm thể chế hóa đầy đủ chủ trương của cấp
có thẩm quyền, đặc biệt là các nguyên tắc, định hướng tại Nghị quyết số
21-NQ/TW, kết luận của Đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Thông báo
số 64-TB/VPTW ngày 22 tháng 5 năm 2026 và ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ
tại Thông báo số 465/TB-VPCP ngày 10 tháng 9 năm 2026; rà soát bảo đảm tính thống
nhất, đồng bộ của các dự án Luật với dự án Luật Đất đai (sửa đổi) và các luật
có liên quan; xử lý đầy đủ các nội dung chuyển tiếp, giao thoa, chồng chéo để
sau khi Luật được thông qua nhanh chóng đi vào cuộc sống và phát huy hiệu quả
trên thực tế.
1. Về dự
án Luật Nhà ở (sửa đổi)
a) Về thời
hạn sử dụng nhà chung cư: quy định rõ thời hạn sử dụng nhà chung cư theo niên hạn
xây dựng công trình bảo đảm phù hợp, thống nhất với thời hạn sử dụng công trình
theo pháp luật về xây dựng; quy định cụ thể việc xử lý nhà chung cư hết thời hạn
sử dụng, trong đó làm rõ các quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà chung cư (như
quyền được tiếp tục sử dụng quyền sử dụng đất để xây dựng lại nhà chung cư, quyền
được đóng góp nghĩa vụ tài chính để xây dựng mới chung cư khi hết thời hạn...).
b) Bổ sung
tiêu chí khung (loại đô thị, mật độ dân số, tỷ lệ diện tích) do Bộ Xây dựng quy
định, làm căn cứ để Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định cụ thể việc hạn chế
phân lô, bán nền, quy định biện pháp để ngăn ngừa tối đa hoạt động đầu cơ trục
lợi chính sách.
c) Hoàn thiện
quy định về nhà ở cho thuê; quy định rõ các loại hình nhà ở cho thuê, nhà ở
thương mại, nhà ở công vụ, nhà ở chính sách theo mô hình sở hữu, quản lý vận
hành; nghiên cứu các quy định về cơ chế tài chính (thuế, phí, tiền sử dụng đất,
tín dụng) để kiểm soát, quản lý được giá nhà ở cho thuê bảo đảm phù hợp với phạm
vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng của Luật Nhà ở; quy định rõ các tiêu chí, đối
tượng và phạm vi được hưởng ưu đãi đối với nhà ở cho thuê; đơn giản hóa thủ tục
đầu tư phát triển và tiếp cận nhà ở, đáp ứng nhu cầu chỗ ở ổn định, lâu dài của
người dân; quy định nguyên tắc, tiêu chí, giới hạn đối với nghĩa vụ dành nhà ở
cho thuê trong dự án nhà ở thương mại, bảo đảm đầy đủ cơ sở pháp lý để Ủy ban
nhân dân cấp tỉnh quyết định trong phạm vi quy định của Luật.
d) Quy định
biện pháp để ngăn ngừa tối đa hoạt động đầu cơ, trục lợi chính sách nhà ở xã hội,
nhà ở cho thuê và chế tài xử lý tương ứng; báo cáo Quốc hội về đề xuất thí điểm
cơ chế Nhà nước mua lại dự án nhà ở thương mại của chủ đầu tư không còn khả
năng thực hiện hoặc không thể chuyển nhượng.
2. Về dự
án Luật Kinh doanh bất động sản (sửa đổi)
a) Rà soát bảo
đảm đồng bộ với Luật Đầu tư về thẩm quyền chấp thuận chủ trương đầu tư khi phân
quyền cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định cho phép chuyển nhượng dự án bất
động sản; nghiên cứu bổ sung điều khoản sửa đổi các luật có liên quan, bảo đảm
tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật.
b) Hoàn thiện
cơ chế đưa thị trường bất động sản trở thành kênh phân bổ đất đai công khai,
minh bạch, lành mạnh, ổn định, bền vững.
c) Hoàn thiện
các quy định tại dự thảo Luật bảo đảm: quản lý thị trường minh bạch, chống đầu
cơ, thao túng thị trường; cơ chế bảo đảm giá trị còn lại của hợp đồng mua bán,
thuê mua nhà ở hình thành trong tương lai qua tài khoản bảo đảm và việc lựa chọn
bảo lãnh ngân hàng; cơ chế phân quyền cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (thẩm quyền
cho phép chuyển nhượng dự án).
d) Rà soát điều
kiện kinh doanh, trình tự giao dịch, huy động vốn và trách nhiệm công khai
thông tin để bảo đảm an toàn pháp lý, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ
thể tham gia thị trường, nhất là người mua nhà; rà soát các quy định về công chứng
giao dịch bất động sản bảo đảm yêu cầu quản lý và an toàn tài sản cho chủ sở hữu
cho đến khi hệ thống dữ liệu được kết nối, vận hành thông suốt. Quy định rõ việc
kết nối liên thông, chia sẻ dữ liệu về bất động sản với dữ liệu đất đai, quy hoạch,
thuế, công chứng, dân cư, tín dụng.
đ) Rà soát, hoàn
thiện quy định về hiệu lực thi hành, xác định rõ thời điểm có hiệu lực
(nội dung phân cấp, phân quyền và các nội dung khác) và danh mục điều, khoản
tương ứng.
3. Phân công Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc chỉ
đạo trong quá trình hoàn thiện các dự án Luật này. Giao Bộ trưởng Bộ Xây dựng
thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ, thay mặt Chính phủ ký Tờ trình của Chính phủ
trình Quốc hội về các dự án Luật nêu trên tại Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội khóa
XVI.
III. Về
03 dự án Luật, Nghị quyết do Bộ Tài chính trình Chính phủ
1. Về dự
án Luật Ngân sách nhà nước (hợp nhất)
a) Chính phủ
thống nhất thông qua 05 chính sách[3]
của dự án Luật Ngân sách nhà nước (hợp nhất) theo đề nghị của Bộ Tài chính tại
Tờ trình số 721/TTr-BTC ngày 13 tháng 9 năm 2026. Bộ Tài chính chịu trách nhiệm
về các nội dung chính sách báo cáo, đề xuất, bảo đảm đúng quy định.
b) Bộ Tài
chính chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan xây dựng, hoàn thiện hồ
sơ dự án Luật Ngân sách nhà nước (hợp nhất) theo đúng quy định, trình Chính phủ
trước ngày 25 tháng 9 năm 2026, bảo đảm các yêu cầu sau: (i) Hợp nhất thực chất
quy trình ngân sách nhà nước và đầu tư công, khắc phục giao thoa, chồng chéo,
giảm tầng nấc và thủ tục; (ii) Làm rõ khái niệm, đối tượng sử dụng chi đầu tư
phát triển, chi thường xuyên tại dự thảo Luật bảo đảm các nhiệm vụ chi đúng
tính chất nguồn vốn; (iii) Phân định rõ ngân sách trung ương, ngân sách địa
phương, chi đầu tư phát triển, chi thường xuyên và việc quy định tỷ lệ điều tiết
của ngân sách trung ương và ngân sách địa phương, bảo đảm vai trò chủ đạo của
ngân sách trung ương và tính chủ động của ngân sách địa phương, quy định tỷ lệ
điều tiết ngân sách trung ương, ngân sách địa phương, trường hợp cần thiết báo
cáo Quốc hội giao Chính phủ quy định để bảo đảm tính linh hoạt trong quá trình
thực hiện; (iv) Hoàn thiện quy định về đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội, hiệu
quả đầu tư khi quyết định việc đầu tư chương trình, dự án gắn với kiểm tra,
giám sát, công khai, minh bạch, chuyển đổi số trong quản lý việc sử dụng nguồn
lực công; (v) Đánh giá kỹ việc điều chỉnh lại các quy định về quản lý, sử dụng,
giải ngân vốn ODA để bảo đảm không làm ảnh hưởng đến tiến độ, khả năng giải
ngân của các dự án đầu tư đang sử dụng nguồn vốn ODA; rà soát kỹ để bảo đảm thống
nhất quy định giữa pháp luật xây dựng và pháp luật ngân sách nhà nước về các dự
án đầu tư khẩn cấp, cấp bách; (vi) Nghiên cứu, rà soát cơ chế phân bố phù hợp,
tính chất đặc thù cho chi đầu tư phát triển, chi thường xuyên cho khoa học,
công nghệ, đổi mới sáng tạo; (vii) Rà soát kỹ các quy định liên quan đến ngân
sách nhà nước trong đầu tư, nhất là đầu tư PPP để có quy định chuyển tiếp phù hợp;
các nội dung giao Chính phủ quy định để chủ động chuẩn bị đồng bộ các văn bản
quy định chi tiết và các điều kiện bảo đảm thi hành.
2. Về dự
án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư
a) Rà soát bảo
đảm thể chế đầy đủ quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về
tháo gỡ các rào cản, điểm nghẽn về thể chế, cơ chế, chính sách theo Kết luận số
18-KL/TW ngày 02 tháng 4 năm 2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV và
Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 08 tháng 6 năm 2026 của Bộ Chính trị về phát triển
kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài; bảo đảm vai trò điều tiết của trung ương với
địa phương trong quyết định định hướng thu hút đầu tư phù hợp với từng địa
phương, từng vùng, liên vùng, vùng ưu tiên, gắn với ổn định cơ cấu kinh tế của
cả nước.
b) Rà soát ngành,
nghề và thủ tục đầu tư, cắt giảm điều kiện không cần thiết, bảo đảm ổn định,
minh bạch, dễ thực hiện.
c) Hoàn thiện
chính sách ưu đãi vượt trội, hỗ trợ đầu tư nhằm thu hút dự án chất lượng cao,
công nghệ cao, có chuyển giao công nghệ, liên kết với doanh nghiệp trong nước;
bảo đảm đối xử công bằng, nhất quán giữa các nhà đầu tư. Đối với đầu tư ra nước
ngoài, tiếp tục duy trì yêu cầu quản lý, giám sát phù hợp với quản lý ngoại hối,
tỷ giá và dòng vốn nhưng phải quy định công khai, minh bạch, rõ điều kiện, quy
trình để rút ngắn thời gian xử lý.
d) Xử lý dứt
điểm chồng chéo với pháp luật về đất đai, xây dựng, quy hoạch, đấu thầu, môi
trường và năng lượng; rà soát kỹ nội dung quy định chuyển tiếp, chủ động chuẩn
bị đồng bộ các dự thảo văn bản quy định chi tiết và các điều kiện cần thiết để
bảo đảm thi hành Luật.
3. Về dự
án Nghị quyết của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số
107/2023/QH15 về việc áp dụng thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định
chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu
a) Rà soát kỹ
lưỡng, toàn diện các nội dung sửa đổi, bổ sung bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ
của hệ thống pháp luật, nhất là các quy định của Luật Đầu tư, Luật Thuế thu nhập
doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp và các luật khác có liên quan.
b) Rà soát các
quy định về khái niệm, việc áp dụng thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung
theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu bảo đảm tính khả thi, hiệu quả,
tháo gỡ được các khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn, phù hợp với các tiêu chuẩn,
hướng dẫn của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD); đánh giá đầy đủ tác
động cắt giảm thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, đồng thời
nâng cao hiệu quả công tác quản lý thu của cơ quan nhà nước.
4. Phân công Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng chỉ đạo
trong quá trình hoàn thiện các dự án Luật, Nghị quyết này. Giao Bộ trưởng Bộ
Tài chính thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ, thay mặt Chính phủ ký Tờ trình Quốc
hội các dự án Luật, Nghị quyết nêu trên tại Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội khóa XVI.
IV. Về
dự án Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở (sửa đổi) do Bộ Nội vụ trình Chính phủ
1. Giao Bộ
Nội vụ chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan khẩn trương hoàn thiện hồ
sơ dự án Luật, bảo đảm các yêu cầu sau:
a) Rà soát kỹ
lưỡng, toàn diện nội dung dự thảo Luật, bảo đảm thể chế hóa đầy đủ, kịp thời chủ
trương, đường lối, nghị quyết, chỉ thị của Đảng về thực hiện dân chủ ở cơ sở và
phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.
b) Bảo đảm
tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất, đồng bộ với Luật Tiếp cận thông tin,
Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Luật Thanh
tra, Luật Chuyển đổi số, Luật Dữ liệu và các văn bản quy phạm pháp luật có liên
quan; các quy định phải rõ ràng, minh bạch, khả thi, thuận lợi trong tổ chức thực
hiện, khắc phục chồng chéo, hình thức, bảo đảm dân chủ thực chất, khả thi, phù
hợp mô hình tổ chức bộ máy và chính quyền địa phương; xác định rõ chủ thể, nội
dung, hình thức, trình tự thực hiện dân chủ và trách nhiệm giải trình, bảo đảm
phát huy dân chủ thực chất.
c) Thống
nhất chỉ quy định tổ chức và hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân ở đơn vị có tổ
chức công đoàn.
2. Phân công Phó
Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà chỉ đạo trong quá trình hoàn thiện
dự án Luật này. Giao Bộ trưởng Bộ Nội vụ thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ,
thay mặt Chính phủ ký Tờ trình Quốc hội dự án Luật tại Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội
khóa XVI.
V. Về dự
án Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự (sửa đổi) do Bộ Công an trình Chính phủ
1. Giao Bộ
Công an chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan nghiên cứu, tiếp thu tối
đa ý kiến các Thành viên Chính phủ, hoàn thiện dự án Luật, trong đó lưu ý các vấn
đề sau:
a) Rà soát kỹ
lưỡng nội dung dự thảo Luật, bảo đảm phù hợp với các chính sách đã được thông
qua, thống nhất, đồng bộ với Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự và các
văn bản pháp luật có liên quan.
b) Tiếp tục
rà soát, nghiên cứu tiếp thu ý kiến kết luận của Bộ Chính trị, quy định rõ phạm
vi, điều kiện, trình tự và trách nhiệm trong ủy quyền giữa Thủ trưởng Cơ quan
điều tra với Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, giữa Thủ trưởng Cơ quan điều tra
với Điều tra viên trung cấp, cao cấp là Trưởng hoặc Phó Trưởng Công an cấp xã,
bảo đảm chặt chẽ, khả thi, không làm giảm trách nhiệm của người đứng đầu và bảo
vệ quyền con người, quyền công dân theo quy định của Hiến pháp và pháp luật;
các quy định chuyển tiếp cần thông suốt, đầy đủ, bảo đảm không làm gián đoạn hoạt
động tố tụng hình sự.
c) Tiếp tục
nghiên cứu những vấn đề còn có ý kiến khác nhau, hoàn thiện dự thảo Luật, bảo đảm
rõ ràng, minh bạch, khả thi, thống nhất khi triển khai thực hiện. Bộ Công an chịu
trách nhiệm toàn diện về các nội dung tiếp thu, giải trình, chỉnh lý dự thảo Luật
và các nội dung bảo lưu ý kiến.
2. Phân công Phó
Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu chỉ đạo trong quá trình hoàn thiện dự
án Luật này. Giao Bộ trưởng Bộ Công an thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ, thay
mặt Chính phủ ký Báo cáo giải trình, tiếp thu ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội, các Đại biểu Quốc hội tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất về hồ sơ định hướng,
chính sách Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự (sửa đổi) và Tờ trình về dự án
Luật để trình Quốc hội khóa XVI xem xét, thông qua tại Kỳ họp thứ Hai.
VI. Tổ chức thực hiện nhiệm vụ xây dựng pháp luật thời
gian tới
1. Thời
gian từ nay đến Kỳ họp thứ Hai Quốc hội khóa XVI không còn nhiều trong khi khối
lượng lập pháp do Chính phủ trình Quốc hội tại Kỳ họp rất lớn, do đó, đề nghị các
đồng chí Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ tập trung tối đa nguồn lực,
lãnh đạo, chỉ đạo, khẩn trương hoàn thiện toàn bộ các dự án luật, nghị quyết đã
được Chính phủ cho ý kiến tại Phiên họp này và các dự án khác dự kiến trình tại
Kỳ họp thứ Hai; chuẩn bị đầy đủ hồ sơ, tài liệu bảo đảm chất lượng, tiến độ.
Trong quá trình xây dựng các dự án luật, nghị quyết tiếp tục quán triệt một số
nội dung sau:
a) Thực hiện
nghiêm kỷ luật, kỷ cương trong xây dựng pháp luật; kiểm soát quyền lực, phòng,
chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, lợi ích nhóm; các chính sách phải xuất
phát từ lợi ích quốc gia, dân tộc và lợi ích chính đáng của Nhân dân.
b) Quán triệt
nghiêm chỉ đạo tại Văn bản số 1093/TTg-PL ngày 08 tháng 9 năm 2026 của Thủ tướng
Chính phủ, nêu cao tinh thần trách nhiệm, chủ động rà soát các nội dung liên
quan đến ngành, lĩnh vực phụ trách để có ý kiến cụ thể đối với các dự án luật,
nghị quyết; chịu trách nhiệm đối với các nội dung đã cho ý kiến, cũng như trường
hợp không cho ý kiến nhưng sau khi ban hành văn bản làm phát sinh vướng mắc, bất
cập thuộc phạm vi quản lý nhà nước của bộ, ngành mình.
c) Rà soát kỹ,
bảo đảm thể chế hóa đầy đủ chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước; các Kết luận
của Lãnh đạo Đảng, Nhà nước; tính hợp hiến, hợp pháp, đồng bộ, thống nhất và
phù hợp với các cam kết quốc tế của Việt Nam.
d) Xác định
rõ nội dung phải quy định trong luật và nội dung giao các cơ quan quy định chi
tiết; các quy định phải rõ ràng, minh bạch; cắt giảm thực chất thủ tục hành
chính và chi phí tuân thủ. Quy định rõ điều khoản chuyển tiếp, thời điểm có hiệu
lực và trách nhiệm tổ chức thi hành; chuẩn bị đồng thời dự thảo các văn bản quy
định chi tiết, không để chậm, nợ văn bản làm phát sinh khoảng trống pháp lý (01
luật chỉ ban hành 01 văn bản quy định chi tiết; trường hợp cần ban hành nhiều
hơn, các Bộ, cơ quan báo cáo Phó Thủ tướng Chính phủ phụ trách và chịu trách
nhiệm về đề xuất của mình).
2. Đối với
15 Luật, Nghị quyết đã được Quốc hội khóa XVI thông qua tại Kỳ họp không thường
lệ thứ Nhất, có nội dung giao Chính phủ, các Bộ, cơ quan quy định chi tiết, đề
nghị các đồng chí Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ tập trung nguồn lực
xây dựng, hoàn thiện 18 nghị định và 09 thông tư quy định chi tiết, nhất là văn
bản quy định chi tiết các luật, nghị quyết có hiệu lực từ ngày 01 tháng 10 năm
2026, không để tái diễn tình trạng chậm, nợ ban hành văn bản quy định chi tiết.
3. Các đồng
chí Phó Thủ tướng Chính phủ theo lĩnh vực được phân công trực tiếp chỉ đạo hoàn
thiện các dự án luật, nghị quyết; kịp thời xử lý những vấn đề vượt thẩm quyền của
Bộ, cơ quan.
4. Bộ Tư
pháp tập trung nguồn lực, phối hợp chặt chẽ với các Bộ chủ trì soạn thảo trong
quá trình hoàn thiện; rà soát việc tiếp thu ý kiến thẩm định, tính hợp hiến, hợp
pháp, tính thống nhất của hệ thống pháp luật; kịp thời báo cáo Chính phủ, Thủ
tướng Chính phủ những vấn đề còn có ý kiến khác nhau hoặc có nguy cơ xung đột
pháp luật.
5. Văn phòng
Chính phủ phối hợp với Bộ Tư pháp thường xuyên theo dõi tiến độ, đôn đốc
việc hoàn thiện hồ sơ các dự án luật, nghị quyết, bảo đảm tiến độ trình Quốc hội.
VII. Một số nhiệm vụ trọng tâm phát triển kinh tế - xã hội
thời gian tới
Để hoàn
thành cao nhất các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trong năm 2026, Chính
phủ yêu cầu Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh,
thành phố tiếp tục đề cao trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu, triển khai
quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả hơn nữa các Nghị quyết, Kết luận, chỉ đạo của
Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quốc hội, Chính phủ; tận dụng tối đa thời
cơ, các yếu tố thuận lợi, khắc phục khó khăn, hạn chế, tổ chức thực hiện hiệu
quả các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm trên các lĩnh vực, trong đó, tập trung thực
hiện một số nội dung sau:
1. Quyết tâm
thực hiện mục tiêu tăng trưởng trên cơ sở giữ vững ổn định vĩ mô. Các đồng chí
Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ tiếp tục rà soát, báo cáo tham mưu các
Phó Thủ tướng Chính phủ phụ trách chỉ đạo các địa phương thúc đẩy giải ngân vốn
đầu tư công; đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án tồn đọng đã được tháo gỡ khó
khăn, vướng mắc để sớm đưa vào vận hành, khai thác; khẩn trương rà soát, tháo gỡ
khó khăn, đẩy nhanh việc xử lý các dự án, công trình trọng điểm, nhất là các dự
án hạ tầng giao thông, khoa học công nghệ, năng lượng; huy động và sử dụng hiệu
quả các nguồn lực trong nước, vốn đầu tư nước ngoài. Bộ Tài chính, Bộ Công
Thương rà soát, đánh giá toàn diện, kỹ lưỡng mức độ tham gia của doanh nghiệp
trong nước vào chuỗi cung ứng, xuất khẩu của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài,
đề xuất giải pháp tăng cường liên kết và nâng cao giá trị gia tăng trong nước.
2. Tập
trung thực hiện các giải pháp kiểm soát lạm phát, giữ ổn định kinh tế vĩ mô.
Giao các đồng chí Phó Thủ tướng Chính phủ phụ trách lĩnh vực được phân công trực
tiếp chỉ đạo các Bộ, cơ quan: Tài chính, Công Thương, Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam,... phối hợp chặt chẽ, linh hoạt và đồng bộ chính sách tiền tệ, tài khóa và
các chính sách vĩ mô khác; theo dõi sát diễn biến giá dầu thô, xăng dầu và các
loại năng lượng chủ chốt trên thị trường thế giới; điều hành giá xăng dầu trong
nước, giá điện, giá các mặt hàng lương thực, thực phẩm thiết yếu, giá vật liệu
xây dựng,... bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, kiểm soát lạm phát như mục
tiêu đã được Quốc hội thông qua.
3. Giao Bộ
Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Công Thương và các Bộ, cơ quan liên quan
đánh giá toàn diện về tình hình hoạt động của doanh nghiệp trong nước, nhất là
doanh nghiệp nhỏ và vừa; kịp thời đề xuất, triển khai các giải pháp tháo gỡ khó
khăn, vướng mắc, hỗ trợ sản xuất, kinh doanh; chủ động thông tin đầy đủ, kịp thời
về định hướng chính sách thuế đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, cá nhân, hộ kinh
doanh dự kiến sẽ trình Quốc hội, góp phần củng cố niềm tin, tạo điều kiện mở rộng
sản xuất, kinh doanh.
4. Về điều
hành thị trường xăng dầu và điện, giao Bộ Công Thương theo dõi sát diễn biến thị
trường trong nước, quốc tế, nhất là thị trường năng lượng; chủ động các giải
pháp bảo đảm cung ứng đầy đủ xăng dầu, điện cho sản xuất, kinh doanh và đời sống;
khẩn trương hoàn thiện, trình cấp có thẩm quyền Nghị định mới về kinh doanh
xăng dầu theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; triển khai các nhiệm
vụ liên quan đến Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, bảo đảm tiến độ, hiệu quả. Bộ
Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Công Thương rà soát, đề xuất cơ cấu lại EVN
và ngành điện nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả cung ứng điện.
5. Triển
khai thực hiện quyết liệt các nhiệm vụ về giáo dục, đào tạo bảo đảm thực hiện
đúng chủ trương của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục, đào tạo. Giao
Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với các địa phương tiếp tục khẩn
trương rà soát tổng thể nhu cầu, số lượng sách giáo khoa các môn học, lớp học
còn thiếu trong cả nước và có giải pháp cung ứng ngay, xử lý dứt điểm trong thời
gian sớm nhất; tăng cường phối hợp, kiểm tra, chấn chỉnh việc cung ứng suất ăn
học đường, xác định rõ trách nhiệm của chính quyền địa phương, nhất là chính
quyền cơ sở, bảo đảm dinh dưỡng, chất lượng, an toàn thực phẩm và sức khỏe học
sinh.
6. Tập
trung nâng cao chất lượng, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực y tế. Giao
Bộ Y tế chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Thanh tra Chính phủ và
các cơ quan liên quan tiếp tục rà soát, hoàn thiện các quy định pháp luật về
thuốc, thiết bị y tế; trong đó, khẩn trương hoàn thành việc sửa đổi, bổ sung
các quy định về thuốc, thiết bị y tế trong dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số
luật thuộc lĩnh vực y tế, trình Quốc hội khóa XVI tại Kỳ họp thứ Hai, lưu ý đổi
mới mạnh mẽ phương thức quản lý, cắt giảm khâu trung gian trong cung ứng, bảo đảm
cơ sở y tế và người bệnh được tiếp cận thuốc, thiết bị y tế có chất lượng với
giá phù hợp, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và giảm chi phí. Trong quá
trình hoàn thiện dự án Luật, Bộ Tư pháp rà soát kỹ các quy định liên quan đến
thuốc, thiết bị y tế; Bộ Công an, Thanh tra Chính phủ có ý kiến đối với các nội
dung có nguy cơ phát sinh sơ hở, bất cập; Bộ Y tế nghiên cứu, tiếp thu đầy đủ,
bảo đảm các quy định chặt chẽ, khả thi, không tạo kẽ hở cho vi phạm, tiêu cực,
lợi ích cục bộ, lợi ích nhóm.
VIII. Về
việc báo cáo Chính phủ theo quy định tại khoản 4 Điều 3 Quy chế làm việc của
Chính phủ
Thực hiện
quy định tại khoản 4 Điều 3 Quy chế làm việc của Chính phủ ban
hành kèm theo Nghị định số 191/2026/NĐ-CP, tại Phiên họp này, các Bộ, cơ
quan đã báo cáo Chính phủ:
1. Bộ Tài
chính báo cáo về việc tiếp thu, giải trình và hoàn thiện dự án Luật sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật Thuế sử dụng đất phi
nông nghiệp.
2. Bộ Công
Thương báo cáo về những vấn đề đã trình Quốc hội tại Báo cáo số 115/BC-CP ngày
24 tháng 8 năm 2026 về việc tiếp thu, giải trình và chỉnh lý dự thảo Nghị quyết
của Quốc hội về cơ chế đặc thù để xử lý một số khó khăn, vướng mắc đối với các
dự án điện gió, điện mặt trời.
Nghị quyết
này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành.
|
Nơi nhận:
- Ban Bí thư Trung ương Đảng;
- Thủ tướng, các Phó Thủ tướng Chính phủ;
- Các Bộ, cơ quan ngang bộ;
- Văn phòng TW và các Ban của Đảng;
- Văn phòng Chủ tịch nước;
- Văn phòng Quốc hội;
- Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội;
- UBND các tỉnh, thành phố;
- VPCP: BTCN, các PCN, Trợ lý, Thư ký TTg, các PTTg; các Vụ, Cục;
- Lưu: VT, PL (02).ĐTM
|
TM. CHÍNH PHỦ
THỦ TƯỚNG
Lê Minh Hưng
|
[1] Gồm: (1) Luật Đất đai (sửa đổi); (2) Luật Nhà ở (sửa đổi); (3)
Luật Kinh doanh bất động sản (sửa đổi); (4) Luật Ngân sách nhà nước (hợp nhất);
(5) Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư; (6) Nghị quyết của Quốc
hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 107/2023/QH15 về việc áp dụng
thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn
cầu; (7) Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở (sửa đổi); (8) Luật Tổ chức cơ quan điều
tra hình sự (sửa đổi).
[2] “Phải làm cho đất đai thực sự trở thành nguồn lực chiến lược,
nguồn lực nội sinh, lợi thế cạnh tranh và động lực phát triển đất nước trong giai
đoạn mới", “chuyển mạnh từ tư duy quản lý hành chính sang tư duy quản trị
phát triển về đất đai, hướng tới xây dựng một nền quản trị đất đai hiện đại, đồng
bộ, công khai, minh bạch, hiệu quả”, “quyền sử dụng đất là yếu tố đầu vào quan
trọng cho đầu tư phát triển kinh tế - xã hội”, “Nhà nước điều tiết, kiểm soát
và quyết định giá đất khi đưa vào sử dụng”, “bảo đảm đất đai được quản lý chặt
chẽ, khai thác, sử dụng hiệu quả, bền vững, phân bổ công bằng, hợp lý, gia tăng
giá trị”, chuyển từ tư duy “bồi thường tài sản bị thu hồi” sang tư duy “tái thiết
cuộc sống cho người dân sau thu hồi đất”.
[3] Gồm: Chính sách 1: Kế thừa các quy định của Luật Ngân sách nhà
nước và Luật Đầu tư công hiện hành vẫn còn phù hợp, phát huy hiệu quả, có tác động
tích cực; đồng thời tinh chỉnh để phù hợp với tình hình mới; Chính sách 2: Hợp
nhất khung khổ quản lý ngân sách nhà nước và đầu tư công, cắt giảm trình tự, thủ
tục trùng lắp, chưa đồng bộ, gắn với quản trị rủi ro tài khóa và thúc đẩy chuyển
đổi số trong quản lý ngân sách nhà nước; Chính sách 3: Đẩy mạnh phân cấp, phân
quyền gắn với kiểm soát quyền lực; Chính sách 4: Phân bổ và sử dụng nguồn lực gắn
với đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội; Chính sách 5: Xử lý các khó khăn, vướng
mắc phát sinh trong thực tế và bổ sung công cụ quản lý ngân sách nhà nước, tăng
cường kỷ luật, kỷ cương trong quản lý ngân sách nhà nước.