Kính
gửi: Thủ tướng Chính phủ.
Căn cứ Quyết định số
1603/QĐ-TTg ngày 11/12/2023 của Thủ tướng Chính
phủ về việc giao kế hoạch vốn đầu tư nguồn ngân sách nhà nước năm 2024; thực hiện
chế độ báo cáo theo quy định tại Luật Đầu tư công, Nghị định số 40/2020/NĐ-CP
ngày 06/4/2020 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đầu
tư công, Bộ Tài chính báo cáo tình hình giải ngân vốn
đầu tư nguồn ngân sách nhà nước (NSNN) lũy kế 12 tháng, ước 13 tháng kế hoạch
năm 2024 như sau:
I. Kế
hoạch và tình hình phân bổ kế hoạch vốn
1. Kế hoạch đầu tư vốn
NSNN năm 2024
1.1. Kế hoạch đầu tư vốn
NSNN năm 2024 được Thủ tướng Chính phủ giao cho các bộ, cơ quan trung ương và địa
phương là 682.950,7 tỷ đồng[1] bao gồm: vốn ngân sách trung ương
(NSTW) là 250.647,6 tỷ đồng (bao gồm:
vốn trong nước là
230.648 tỷ đồng, vốn
nước ngoài là 20.000 tỷ đồng)
và vốn ngân sách địa phương (NSĐP) là 432.303,1 tỷ đồng.
Trong đó, vốn NSTW bố trí cho dự án, nhiệm vụ thuộc
03 Chương trình mục tiêu quốc gia (CTMTQG) là: 27.220,0 tỷ đồng.
1.2. Kế
hoạch vốn cân đối NSĐP năm 2024 các địa phương giao tăng so với kế hoạch Thủ tướng
Chính phủ giao (theo số liệu cập nhật đến
thời điểm báo cáo) là 69.525,7 tỷ đồng.
1.3. Kế hoạch vốn các
năm trước được phép kéo dài tính đến thời điểm
báo cáo là 57.894,9 tỷ đồng, trong đó: NSTW là 33.379,3 tỷ
đồng (theo ngành lĩnh vực là 27.905 tỷ đồng; CTMTQG là 6.292,9 tỷ đồng), NSĐP
là 24.515,5 tỷ đồng.
Như vậy, tổng kế hoạch
giao năm 2024 (kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, kế hoạch vốn cân đối địa
phương giao tăng, kế hoạch các năm trước chuyển sang) là 810.371,26 tỷ đồng.
2. Tình hình triển khai
phân bổ chi tiết
kế hoạch vốn của các Bộ, cơ quan trung ương và địa phương (Chi
tiết theo Phụ lục I
đính kèm)
2.1. Kế hoạch vốn đã
triển khai phân bổ:
Tổng số vốn đã phân bổ
là 744.452,3 tỷ đồng, đạt
109,01% kế hoạch vốn Thủ tướng Chính phủ đã giao (682.950,7 tỷ đồng).
Bao gồm NSTW là 249.580,7 tỷ đồng (vốn trong nước là 230.052 tỷ đồng, vốn nước
ngoài là 19.529 tỷ đồng), NSĐP là 494.871,5 tỷ đồng.
Trong đó, các địa
phương giao tăng so với số kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao là 69.526 tỷ đồng.
(Nếu không tính số kế hoạch vốn cân đối
NSĐP các địa phương giao tăng, tổng số vốn đã phân bổ là 674.926,55 tỷ
đồng, đạt 98,8% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ đã giao).
Trong quá trình phân bổ,
các bộ, cơ quan trung ương và địa phương đã
ưu tiên bố trí hoàn trả vốn cho các dự án thuộc Chương trình phục hồi và phát
triển kinh tế và xã hội theo Nghị quyết số 93/2023/QH15
là 6.358,845 tỷ đồng.
2.2. Kế hoạch vốn chưa
được triển khai phân bổ:
Có 08/45 bộ, cơ quan
trung ương và 13/63 địa phương chưa phân bổ
hoặc phân bổ chưa hết kế hoạch vốn đã được
Thủ tướng Chính phủ giao. Tổng số vốn
chưa phân bổ chi tiết là 8.024,1 tỷ đồng, chiếm 1,17% kế hoạch Thủ tướng
Chính phủ giao, trong đó: vốn
NSTW là 1.066,8 tỷ đồng,
vốn cân đối
NSDP là 6.957,3 tỷ đồng.
2.3. Nguyên nhân của việc
chưa phân bổ hết kế hoạch vốn:
a)
Đối với nguồn vốn NSTW
Tính đến
thời điểm báo cáo có 08/44 bộ, cơ quan trung ương và 09/63 địa phương chưa phân
bổ với số vốn
là 1.066,8 tỷ đồng/250.647,6 tỷ đồng (chiếm 0,43% kế
hoạch Thủ tướng Chính phủ giao), cụ thể:
(1) Vốn
theo ngành,
lĩnh vực chưa phân bổ
là 680 tỷ đồng trong đó: vốn trong
nước là 253,3 tỷ đồng; vốn nước ngoài là 426,7 tỷ đồng.
Một số nguyên nhân chưa
phân bổ hết kế hoạch vốn như: (i) Đối với vốn trong nước: một số dự án tiếp tục
điều chỉnh giảm kế hoạch vốn năm do không
có khả năng thực hiện, dự án khởi công mới phê duyệt dự án trong tháng 12/2024
nên không tiếp tục bố trí vốn, dự án khởi công mới chưa đủ thủ tục; (ii) Đối
với vốn nước ngoài: do mới được điều chỉnh bổ sung kế hoạch vốn năm 2024 theo
Quyết định số 1306/QĐ-TTg ngày 01/11/2024 của Thủ tướng Chính phủ về điều chỉnh
dự toán và kế hoạch đầu tư công nguồn NSTW năm 2024 giữa các bộ, cơ quan trung
ương và địa phương[2]; một số dự án đang
đàm phán để ký kết
hoặc gia hạn Hiệp định, đang chờ điều
chỉnh bổ sung kế hoạch đầu tư công trung hạn.
(2) Vốn
CTMTQG chưa phân bổ là 386,9 tỷ đồng
Các dự án đang
thực hiện lập, phê duyệt dự án nên chưa đủ
điều kiện để phân
bổ vốn (Ủy ban dân tộc, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch).
b) Đối
với nguồn vốn NSĐP:
Vốn cân đối NSĐP là 6.957,3
tỷ đồng của
05/63 địa phương do địa phương chưa phân bổ hết vốn đầu tư từ nguồn thu sử dụng
đất, xổ số, bội chi NSĐP. Nguồn thu từ tiền sử dụng đất chưa đảm
bảo so với dự toán được cấp có thẩm quyền
giao, gây ảnh hưởng đến việc triển khai thực
hiện và giải ngân các dự án sử dụng nguồn thu tiền sử dụng đất. Cụ thể:
Tính đến
ngày 17/01/2025, số tiền thu sử dụng đất năm 2024 của 63 địa phương đạt
101,7% so với dự toán được giao (230.182,85 tỷ đồng/226.333,2
tỷ đồng)[3]. Còn 35 địa phương chưa hoàn thành
thu tiền sử dụng đất so với dự toán được giao; trong đó: còn 9 địa phương[4]
có tỷ lệ thu dưới 50% so với dự toán.
Từ ngày 10/01/2025 đến
ngày 17/01/2025, 63 địa phương thu được thêm 138,3 tỷ
đồng, đạt 0,06% so với dự toán (có 08 địa phương có số thu tiền sử dụng đất giảm
vì một số tỉnh thực hiện điều chỉnh giảm số
ghi thu, ghi chi[5]).
II.
Tình hình giải ngân kế hoạch vốn (Phụ
lục II đính kèm)
- Lũy kế giải ngân từ đầu
năm đến ngày 31/12/2024 là 587.035,2 tỷ đồng, đạt
72,44% tổng kế hoạch (810.371,26 tỷ đồng).
- Ước
giải ngân từ đầu năm đến ngày 31/01/2025 là 674.045,8 tỷ đồng, đạt 83,18% tổng
kế hoạch, cụ thể:
1. Giải ngân vốn kế hoạch
các năm trước kéo dài sang năm 2024 (thời hạn giải ngân đến hết 31/12/2024):
Lũy kế giải ngân từ đầu
năm đến ngày 31/12/2024 là 38.465,9 tỷ đồng, đạt
66,44% kế hoạch (57.894,9 tỷ đồng).
2. Về giải ngân vốn kế
hoạch năm 2024:
2.1. Lũy kế giải ngân từ
đầu năm đến ngày 31/12/2024 là 548.5693 tỷ đồng, đạt 72,9% kế hoạch
(752.476,4 tỷ đồng), đạt 80,32%
kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao. Trong đó
Chương trình phục hồi và phát triển KTXH là 5.624,32 tỷ đồng
(đạt 88,45% kế hoạch), CTMTQG là 19.936,9 tỷ đồng (đạt 73,24% kế hoạch Thủ tướng
Chính phủ giao).
2.2. Ước giải ngân từ đầu
năm đến ngày 31/01/2025 là 635.579,9 tỷ đồng, đạt 84,47% kế hoạch, đạt
93,06% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao (cùng
kỳ năm 2023 đạt 82,47% kế hoạch và đạt
93,12% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao). Trong đó Chương trình phục hồi và
phát triển KTXH là 6.192,09 tỷ đồng (đạt 97,38% kế hoạch), CTMTQG
là 23.321,2 tỷ đồng (đạt 85,68% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao).
Cụ thể như sau:
Đơn
vị: tỷ đồng
|
STT
|
Nội
dung
|
Ước
giải ngân đến ngày 31/01/2025
|
Tỷ
lệ (%) thực hiện
|
Tỷ
lệ (%) (so với KH TTg
giao)
|
Cùng
kỳ năm 2023
|
|
Số
tiền
|
Tỷ
lệ (%) thực hiện
|
Tỷ
lệ (%) so với KH TTg giao
|
|
|
TỔNG
SỐ
|
635.579,9
|
84,47%
|
93,06%
|
662.588,2
|
82,47%
|
93,12%
|
|
|
VỐN
TRONG NƯỚC
|
625.670,5
|
85,42%
|
94,38%
|
648.349,4
|
83,72%
|
94,99%
|
|
|
VỐN
NƯỚC NGOÀI
|
9.909,4
|
49,55%
|
49,55%
|
14.238,8
|
49,1%
|
49,1%
|
|
A
|
VỐN
NSĐP
|
419.931
|
83,68%
|
97,14%
|
368.708,6
|
84,74%
|
107,41%
|
|
B
|
VỐN
NSTW
|
215.648,9
|
86,04%
|
86,04%
|
293.879,6
|
79,8%
|
79,8%
|
|
-
|
Vốn
NSTW đầu tư theo ngành, lĩnh vực
|
192.327,6
|
86,08%
|
86,08%
|
271.512,9
|
79,19%
|
79,19%
|
|
+
|
Vốn
trong nước
|
182.784,8
|
89,49%
|
89,49%
|
257.361,2
|
81,73%
|
81,73%
|
|
+
|
Vốn
nước ngoài
|
9.542,9
|
49,75%
|
49,75%
|
14.151,8
|
50,59%
|
50,59%
|
|
-
|
Vốn
Chương trình MTQG
|
23.321,2
|
85,68%
|
85,68%
|
22.366,7
|
87,97%
|
87,97%
|
|
|
Vốn
trong nước
|
22.954,7
|
86,95%
|
86,95%
|
22.279,6
|
91,31%
|
91,31%
|
|
|
Vốn
nước ngoài
|
366,5
|
44,7%
|
44,7%
|
87
|
8,49%
|
8,49%
|
3. Nhận xét tình hình
giải ngân kế hoạch vốn
- Ước
giải ngân 13 tháng vốn NSTW đạt tỷ lệ
cao hơn cùng kỳ năm 2023, tuy nhiên vốn
NSĐP giải ngân còn thấp.
- Kết
quả trong 13 tháng 2024, 16/46 bộ, cơ quan trung ương và 37/63 địa phương có tỷ
lệ ước giải ngân so với tổng kế hoạch
đạt trên mức bình quân chung của cả nước (84,47%). Một số bộ, cơ quan trung
ương và địa phương có tỷ lệ giải ngân tốt gồm: Đài truyền hình Việt Nam (100%),
Ngân hàng Chính sách xã hội (100%), Liên hiệp
các Hội văn học nghệ thuật (98,22%), Văn phòng Quốc hội (97,56%), Bộ Giao thông
vận tải (97,21%), Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (97,1%), Đài tiếng nói Việt Nam
(96,62%), Bộ Quốc phòng (95,25%); Hải Phòng (99,83%), Sóc Trăng (99,67%), Đồng
Tháp (99,4%), Hải Dương (99,4%), Hà Nam (98,28%), Bến
Tre (98,13%).
Tuy nhiên, 30/46 bộ, cơ
quan trung ương và 26/63 địa phương có tỷ lệ
ước giải ngân thấp hơn bình quân chung của cả nước. Một số cơ quan trung ương
giải ngân bằng 0% như: Văn phòng Chủ tịch nước, Liên minh Hợp tác xã Việt Nam;
hoặc giải ngân rất thấp như: Ủy ban Trung ương Mặt trận tổ quốc Việt Nam
(10,85%), Ủy ban dân tộc (11,42%), Đại học quốc gia Hà Nội (26,55%), Bộ Y tế
(28,36%), Viện Khoa học xã hội Việt Nam (31,76%) ... Một số địa phương có tỷ lệ
giải ngân dưới 65% như: Quảng Ngãi (57,41%), Lâm Đồng (60,49%), Kiên Giang
(63,27%), Bình Phước (64,16%), Quảng Ninh (64,19%). Việc
địa phương có kế hoạch lớn như TP Hồ Chí Minh nhưng tỷ
lệ giải ngân không cao nên ảnh
hưởng lớn đến tỷ lệ giải ngân chung của cả nước (cụ thể: TP Hồ Chí Minh được
giao 79.263,78 tỷ đồng, chiếm 11,8% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao cả nước
nhưng chỉ giải ngân 72,49%).
- Vốn thuộc Chương
trình phục hồi và phát triển kinh tế có tỷ lệ giải ngân 13 tháng đạt
cao, đạt 97,38% kế hoạch; trong đó, vốn Chương
trình phục hồi của bộ, cơ quan trung ương quản
lý đạt 99,8% (riêng Bộ Công an và Bộ Giao thông vận tải đạt
tỷ lệ 100%).
III.
Tình hình thực hiện các dự án trọng điểm (Phụ
lục III đính kèm)
Đến
hết ngày 31/12/2024, tổng số vốn
giải ngân của 09 dự án quan trọng quốc gia ngành giao thông vận tải là
70.743,08 tỷ đồng, đạt tỷ lệ 72,9% kế hoạch năm 2024 được
giao (96.991,66 tỷ đồng), trong đó, vốn
NSTW là 78.489,38 tỷ đồng, đạt
82,4%; vốn NSĐP là 18.502,28 tỷ đồng, đạt 33,2%.
Như vậy, kết quả giải
ngân các dự án quan trọng quốc gia ngành giao thông vận tải thấp hơn so với tỷ
lệ giải ngân bình quân 12 tháng của cả nước (80,32%). Tỷ lệ giải
ngân tiếp tục chậm lại trong những tháng
cuối năm.
- Theo báo cáo của Bộ
Giao thông vận tải, thời gian qua các chủ
đầu tư đã nỗ lực khắc phục khó khăn trong quá trình triển khai thực hiện để
đẩy nhanh tiến độ thi công các dự án. Tuy nhiên, vẫn còn ghi nhận một số các
khó khăn, vướng mắc cần tiếp tục nỗ lực để
tháo gỡ như sau:
(1) Công tác GPMB tại
nhiều địa phương đã có chuyển biến tích cực nhưng vẫn chưa đáp
ứng yêu cầu
về tiến độ;
(2) Về nguồn nguyên vật
liệu: các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre,
Đồng Nai triển khai thủ tục cấp phép để khai
thác mỏ cho các nhà thầu chưa đáp ứng tiến độ theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính
phủ, ảnh hưởng đến tiến độ thi công các dự
án khu vực Đồng bằng sông Cửu Long; một số địa phương đã bố trí tối đa các mỏ để
cung cấp cho dự án nhưng công suất vẫn chưa đáp ứng kế hoạch;
(3) Về thủ tục điều chỉnh
chủ trương đầu tư: tỉnh Đồng Nai chậm xác định giá trị
GPMB dự án cao tốc Biên Hòa - Vũng Tàu ảnh
hưởng tiến độ điều chỉnh chủ trương; cần triển khai nhiều thủ tục điều chỉnh chủ
trương dự án cao tốc Bến Lức -
Long Thành;...
IV. Kiến
nghị của Bộ Tài chính:
Đề nghị Bộ KHĐT sớm tổng
hợp đề xuất của các Bộ, cơ quan trung ương và địa
phương, báo cáo cấp thẩm quyền về kéo dài thời gian thực hiện và giải ngân kế
hoạch vốn năm 2024 sang năm 2025 của các dự án để
kịp thời giao kế hoạch vốn kéo
dài, tránh làm gián đoạn tiến độ thực
hiện và giải ngân của các dự án.
Bộ Tài chính báo cáo Thủ
tướng Chính phủ./.
|
Nơi nhận:
- Như trên;
- Phó TTgCP Hồ Đức Phớc (để báo
cáo);
- Văn phòng Chính phủ;
- Bộ KHĐT;
- Cổng TTĐTCP (để đăng tải);
- Bộ trưởng (để báo cáo);
- KBNN;
- Cục QLN và TCĐN;
- Vụ: I, NSNN,
TCNH;
- Cục TH và TKTC (để đăng tải lên
Cổng TTĐT);
- Lưu: VT, ĐT(6b).
|
KT.
BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG
Bùi Văn Khắng
|