Ly thân có làm chấm dứt quan hệ vợ chồng không?
Ly thân là thuật ngữ khá phổ biến hiện nay dùng để nói về tình trạng vợ chồng không còn sống chung với nhau nhưng cũng chưa ly hôn. Và hiện nay pháp luật nước ta cũng chưa có quy định điều chỉnh về vấn đề ly thân giữa vợ chồng.
Căn cứ chấm dứt hôn nhân hiện nay được quy định trong Chương IV Luật Hôn nhân và gia đình 2014 chỉ gồm ly hôn và trường hợp vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết.
Trong đó, thời điểm chấm dứt hôn nhân đối với các trường hợp cụ thể như sau:
- Vợ chồng ly hôn: hôn nhân chấm dứt kể từ ngày bản án, quyết định ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật (Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình 2014)
- Vợ hoặc chồng chết: hôn nhân chấm dứt từ thời điểm vợ hoặc chồng chết (Điều 65 Luật Hôn nhân và gia đình 2014).
- Vợ hoặc chồng bị Tòa án tuyên bố là đã chết: hôn nhân chấm dứt kể từ ngày chết được xác định trong bản án, quyết định của Tòa án (Điều 65 Luật Hôn nhân và gia đình 2014).
Như vậy, hôn nhân chỉ chấm dứt khi vợ chồng ly hôn hoặc một trong hai bên chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết, không có căn cứ chấm dứt hôn nhân trong trường hợp vợ chồng ly thân.

Vợ chồng ly thân mà sống chung như vợ chồng với người khác có vi phạm pháp luật không?(Hình từ Internet)
Vợ chồng ly thân mà sống chung như vợ chồng với người khác có vi phạm pháp luật không?
Chung sống như vợ chồng là việc nam, nữ tổ chức cuộc sống chung và coi nhau là vợ chồng theo định nghĩa tại khoản 7 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.
Theo khoản 1 Điều 4 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 có quy định như sau:
Điều 4. Trách nhiệm của Nhà nước và xã hội đối với hôn nhân và gia đình
1. Nhà nước có chính sách, biện pháp bảo hộ hôn nhân và gia đình, tạo điều kiện để nam, nữ xác lập hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng; xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc và thực hiện đầy đủ chức năng của mình; tăng cường tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về hôn nhân và gia đình; vận động nhân dân xóa bỏ phong tục, tập quán lạc hậu về hôn nhân và gia đình, phát huy truyền thống, phong tục, tập quán tốt đẹp thể hiện bản sắc của mỗi dân tộc.
…
Theo đó, nhà nước hiện nay thực hiện chính sách khuyến khích nam, nữ xác lập hôn nhân, có thể hiểu là kết hôn theo quy định pháp luật và tuân theo chế độ hôn nhân một vợ một chồng.
Ngoài ra, khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định các hành vi bị cấm nhằm bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình như sau:
Điều 5. Bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình
…
2. Cấm các hành vi sau đây:
a) Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo;
b) Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn;
c) Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ;
…
Như vậy, nước ta đang tuân theo chế độ hôn nhân một vợ một chồng và việc ly thân giữa vợ chồng cũng không phải căn cứ chấm dứt hôn nhân theo quy định nên vợ chồng đang ly thân nhưng sống chung như vợ chồng với người khác là đang vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình.
Vợ chồng ly thân mà sống chung như vợ chồng với người khác có thể bị xử lý như thế nào?
Vợ chồng ly thân và sống chung như vợ chồng với người khác được xem là vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng, có thể bị xử lý hành chính hoặc hình sự tùy vào mức độ vi phạm.
Theo khoản 1 Điều 59 Nghị định 82/2020/NĐ-CP quy định xử phạt đối với hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng như sau:
Điều 59. Hành vi vi phạm quy định về kết hôn, ly hôn và vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng
1. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:
a) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;
b) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;
c) Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;
d) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;
đ) Cản trở kết hôn, yêu sách của cải trong kết hôn hoặc cản trở ly hôn.
…
Ngoài ra, hành vi vi phạm còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng quy định tại Điều 182 Bộ luật Hình sự 2015 khi gây ra những hậu quả hoặc thuộc trường hợp nhất định. Cụ thể:
(1) Bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm trong trường hợp làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.
(2) Bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm trong trường hợp làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát hoặc đã có quyết định của Tòa án buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó.
Như vậy, vợ chồng đang ly thân mà sống chung như vợ chồng với người khác có thể bị xử lý vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự tùy vào mức độ vi phạm của người đó.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];