Hướng dẫn xử lý vướng mắc hàng hóa nhập khẩu có ký hiệu R theo Công văn 5145 SHTT TTKN 2026 ra sao?
Phúc đáp Công văn 23008/CHQ-GSQL ngày 15/10/2026 của Cục Hải quan đề nghị Bộ Khoa học và Công nghệ cho ý kiến hướng dẫn xử lý vướng mắc liên quan đến việc sử dụng ký hiệu R trên hàng hóa nhập khẩu trong quá trình thực hiện thủ tục hải quan, trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ được giao và các quy định pháp luật hiện hành về sở hữu công nghiệp, Cục Sở hữu trí tuệ có Tải về Công văn 5145/SHTT-TTKN 2026 nêu ý kiến như sau:
Khoản 1 Điều 6 Nghị định 99/2013/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 126/2021/NĐ-CP, Nghị định 46/2024/NĐ-CP và Nghị định 186/2026/NĐ-CP quy định hành vi chỉ dẫn sai về tình trạng pháp lý, phạm vi bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp thì bị xử phạt vi phạm hành chính. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 7 Thông tư 11/2015/TT-BKHCN được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư 06/2024/TT-BKHCN quy định chỉ dẫn sai về tình trạng pháp lý là việc cung cấp thông tin chỉ dẫn gây hiểu sai lệch rằng đối tượng đang được bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp tại Việt Nam mặc dù không được hoặc chưa được bảo hộ, kể cả trường hợp đổi tượng đó đã nộp đơn đăng ký nhưng chưa được cấp văn bằng bảo hộ hoặc văn bằng bảo hộ đã bị huỷ bỏ, chẩm dứt hiệu lực hoặc hết thời hạn bảo hộ tại thời điểm thực hiện việc chỉ dẫn lên hàng hoá, bao bì hàng hoá, phương tiện kinh doanh, bao gồm:
“Gắn trên hàng hóa, bao bì hàng hóa, phương tiện kinh doanh chỉ dẫn gây hiểu sai lệch về việc hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu được bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp như: “nhãn hiệu đã được cấp văn băng bảo hộ độc quyền”, “nhãn hiệu được bảo hộ”, "nhãn hiệu thuộc độc quyền của...” hoặc chỉ dẫn có ý nghĩa tương tự, kể cả việc sử dụng ký hiệu ® (chỉ dẫn về việc nhãn hiệu được bảo hộ tại Việt Nam). Trường hợp trên hàng hóa, bao bì hàng hóa sử dụng ký hiệu ® mà trên hàng hóa, bao bì hàng hóa (bao gồm nhãn phụ đối với hàng hóa nhập khẩu) có chỉ dẫn thông tin trung thực về tình trạng bảo hộ nhãn hiệu tại Việt Nam thì không bị coi là hành vi vi phạm quy định tại điểm b Khoản 1 Điều 6 Nghị định 99/2013/NĐ-CP".
Cục Sở hữu trí tuệ cho rằng có sự khác biệt của quy định này với các quy định về hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp bị xử phạt vi phạm hành chính (Điều 211 Luật Sở hữu trí tuệ). Trong quá trình áp dụng quy định này, cần phân biệt giữa việc “gắn các chỉ dẫn, thông tin gây hiểu sai lệch về tình trạng pháp lý, phạm vi bảo hộ tại Việt Nam” với việc “nhập khẩu” hàng hoá chứa các chỉ dẫn, thông tin gây hiểu sai lệch về tình trạng pháp lý, phạm vi bảo hộ tại Việt Nam. Đối với hàng hoá nhập khẩu nguyên trạng từ nước ngoài vào Việt Nam chưa được thông quan thì thông tin trên hàng hoá là do nhà xuất khẩu, nhà sản xuất tại nước ngoài thực hiện (trừ khi có bằng chứng rõ ràng là toàn bộ các thông tin trên hàng hoá được thực hiện theo yêu cầu của nhà nhập khẩu). Do vậy, đối với trường hợp này không nên hiểu rằng việc nhập khẩu hàng hoá chứa các chỉ dẫn, thông tin gây hiểu sai lệch về tình trạng pháp lý, phạm vi bảo hộ tại Việt Nam đồng nghĩa với việc gắn các chỉ dẫn, thông tin gây hiểu sai lệch về tình trạng pháp lý, phạm vi bảo hộ tại Việt Nam và nhà nhập khẩu chính là chủ thể thực hiện hành vi vi phạm quy định tại điểm b khoản 1 Điều 6 Nghị định 99/2013/NĐ-CP, được hướng dẫn tại điểm a khoản 1 Điều 7 Thông tư 11/2015/TT-BKHCN. Nhà nhập khẩu chỉ bị coi là thực hiện hành vi vi phạm quy định nêu trên nếu không bổ sung chỉ dẫn thông tin trung thực về tình trạng bảo hộ nhãn hiệu tại Việt Nam khi đưa hàng hoá ra thị trường. Vì lý do nêu trên, nhằm tháo gỡ vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện thủ tục hải quan đối với hàng hóa, bao bì hàng hóa sử dụng ký hiệu R, Quý Cục có thể nghiên cứu, hướng dẫn doanh nghiệp thực hiện việc bổ sung chỉ dẫn thông tin trung thực về tình trạng bảo hộ nhãn hiệu tại Việt Nam trên hàng hóa, bao bì hàng hóa nhập khẩu trước khi đưa hàng hóa ra lưu thông trên thị trường để không bị coi là hành vi vi phạm theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 6 Nghị định 99/2013/NĐ-CP. |

Hướng dẫn xử lý vướng mắc hàng hóa nhập khẩu có ký hiệu R theo Công văn 5145 SHTT TTKN 2026 ra sao? (hình từ internet)
Xuất xứ hàng hóa ghi trên nhãn được xác định thế nào?
Căn cứ theo Điều 47 Nghị định 37/2026/NĐ-CP, tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu tự xác định và ghi xuất xứ hàng hóa của mình bảo đảm trung thực, chính xác, tuân thủ các quy định pháp luật về xuất xứ hàng hóa nhập khẩu, hàng hóa sản xuất tại Việt Nam hoặc các cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia.
- Xuất xứ hàng hóa ghi trên nhãn thể hiện bằng một trong các cụm từ sau: “sản xuất tại”; “chế tạo tại”; “nước sản xuất”; “xuất xứ”; “sản xuất bởi”; “sản phẩm của” hoặc “Origin”; “Made in”; “Produced in”; “Product of” kèm tên nước hoặc vùng lãnh thổ sản xuất ra hàng hóa hoặc ghi theo quy định pháp luật về xuất xứ hàng hóa.
- Trường hợp hàng hóa không xác định được xuất xứ theo quy định tại khoản 1 Điều này thì ghi nơi thực hiện công đoạn cuối cùng để hoàn thiện hàng hóa. Thể hiện bằng một trong các cụm hoặc kết hợp các cụm từ thể hiện công đoạn hoàn thiện hàng hóa như sau: “lắp ráp tại”; “đóng chai tại”; “phối trộn tại”; “hoàn tất tại”; “đóng gói tại”; “dán nhãn tại” hoặc “Assembled in”, “Finished in”, hoặc “Assembled by”, kèm tên nước hoặc vùng lãnh thổ nơi thực hiện công đoạn cuối cùng để hoàn thiện hàng hóa.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];