Có được đồng thời phạt vi phạm và yêu cầu bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng không?
Phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại là 02 trách nhiệm dân sự thông dụng nhất được các bên trong hợp đồng áp dụng khi bên còn lại vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng. Cả hai hình thức đều nhằm mục đích cuối cùng là để bên vi phạm chịu trách nhiệm trước bên bị vi phạm do hành vi của mình.
Tuy nhiên, có thể phân biệt được hai hình thức này thông qua căn cứ phát sinh trách nhiệm, cụ thể như sau (căn cứ (Điều 418, Điều 419 Bộ luật Dân sự 2015). :
Về phạt vi phạm:
- Hợp đồng có thỏa thuận về phạt vi phạm khi vi phạm hợp đồng;
- Có hành vi vi phạm hợp đồng.
Về yêu cầu bồi thường thiệt hại:
- Có hành vi vi phạm hợp đồng;
- Có thiệt hại thực tế xảy ra: bên bị vi phạm phải chứng minh thiệt hại thực tế như tiền khắc phục thiệt hại, tiền bị bên thứ ba có liên quan phạt vi phạm, …
- Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại thực tế: những thiệt hại được bồi thường là những thiệt hại do hành vi vi phạm gây ra.
Như vậy, có thể thấy:
- Phạt vi phạm chỉ được áp dụng khi các bên có thỏa thuận trong hợp đồng
- Bồi thường thiệt hại áp dụng khi có thiệt hại thực tế xảy ra, không cần có thỏa thuận.
Cũng vì sự khác biệt này mà bên bị vi phạm có thể áp dụng cả 02 hình thức phạt vi phạm và yêu cầu bồi thường thiệt hại do thực tế hai hình thức không có mâu thuẫn lẫn nhau, nhưng pháp luật cũng giới hạn việc áp dụng đồng thời này chỉ được thực hiện khi có thỏa thuận rằng “nếu vi phạm sẽ được vừa áp dụng phạt vi phạm, vừa yêu cầu bồi thường thiệt hại” (khoản 3 Điều 418 Bộ luật Dân sự 2015).
Pháp luật hiện hành có 2 chế định quy định về phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng, đó là pháp luật dân sự nói chung và pháp luật về thương mại. Trong đó, pháp luật dân sự (Bộ luật Dân sự) điều chỉnh đối với hợp đồng dân sự nói chung, bao gồm cả hợp đồng thương mại. Còn pháp luật về thương mại (Luật Thương mại) thì chỉ điều chỉnh đối với hợp đồng phát sinh trong hoạt động thương mại.
Về bản chất, hợp đồng thương mại cũng là một hợp đồng dân sự nên sẽ tuân theo những nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, riêng đối với những quy định mà Luật Thương mại quy định không trái với quy định chung của Bộ luật Dân sự thì vẫn sẽ được ưu tiên áp dụng hơn.
Theo đó, quy định về phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong cả Bộ luật Dân sự và Luật Thương mại đều có bản chất giống nhau. Tuy nhiên, vẫn có chút khác biệt về mức phạt vi phạm. Bộ luật Dân sự tôn trọng quyền thỏa thuận của các bên nên không quy định mức tối đa được phạt vi phạm; Luật Thương mại vẫn cho các bên được quyền thỏa thuận với nhau, nhưng có giới hạn ở mức chỉ được phạt tối đa 8% trên phần nghĩa vụ bị vi phạm.
Như vậy, theo quy định hiện hành thì cho phép được áp dụng đồng thời phạt vi phạm và yêu cầu bồi thường thiệt hại khi có hành vi vi phạm. Tuy nhiên, việc áp dụng đồng thời cả hai hình thức chỉ được thực hiện khi có thỏa thuận của các bên trong hợp đồng về việc áp dụng đồng thời này và phải tuân thủ quy định về mức phạt vi phạm trong trường hợp là hợp đồng thương mại.

Vừa phạt vi phạm vừa yêu cầu bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng theo quy định hiện hành (Hình từ Internet)
Thực tiễn xét xử tranh chấp phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng
Theo bản án 27/2024/DS-PT ngày 05/03/2024 về tranh chấp phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng giữa:
- Nguyên đơn: Công ty T1
- Bị đơn: ông Đào Thanh B
Nội dung vụ án:
Trong năm 2020 và năm 2021 Công ty T1 (sau đây gọi tắt là công ty) có ký các hợp đồng ứng vốn trồng, chăm sóc và bao tiêu mía nguyên liệu với vợ chồng ông Đào Thanh B: Công ty sẽ tạm ứng vốn cho ông B để trồng và chăm sóc mía (Ông B nhận vật tư bằng phân bón 5,2 tấn phân trị giá 48.516.000 đồng của Công ty, ngoài ra ông B không nhận thêm khoản nào từ nhà máy). Khi thu hoạch mía, ông B phải bán và giao toàn bộ sản lượng mía trên diện tích được đầu tư cho công ty. Tiền mua mía sẽ được cấn trừ vào tiền tạm ứng vốn, tiền lãi, giá trị dư ra sẽ được thanh toán cho ông B. Căn cứ phiếu điều tra nông nghiệp được lập giữa đại diện Công ty và ông B trong vụ mùa 2021-2022 trên diện tích 19,5 ha là 1.268 tấn nhưng ông B chỉ giao cho Công ty 54,43 tấn, sản lượng còn lại 1.213,57 tấn ông B b cho bên thứ ba.
Tại điểm b Điều 14.2.2 Hợp đồng hai bên đã ký kết thể hiện “Nếu bên B có hành vi quy định tại Điều 14.2.1 (e) thì bên B chịu phạt vi phạm với mức phạt bằng 8% và bồi thường thiệt hại với mức cố định bằng 50% giá trị sản lượng mía bên B bán cho bên thứ ba. Sản lượng mía dùng để tính phạt và bồi thường thiệt hại là sản lượng mía ước tính trên mỗi ha quy định tại Điều 9.1 của Hợp đồng nhân với diện tích mía bên B vi phạm”.
Công ty T1 khởi kiện yêu cầu ông Đào Thanh B trả tiền phạt vi phạm 8% là 96.114.744 đồng và bồi thường thiệt hại 50% với số tiền là 600.717.150 đồng. Tại phiên tòa sơ thẩm Công ty T1 rút yêu cầu khởi kiện đối với phần bồi thường thiệt hại.
Nhận định của Tòa án: Tòa án các cấp đều nhận định quy định về phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại của hợp đồng phù hợp với quy định tại Điều 418 của Bộ luật dân sự năm 2015 nên chấp nhận yêu cầu của Công ty T1 về phạt vi phạm và đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Trong trường hợp này, các bên đã có thỏa thuận về việc vừa phạt vi phạm, vừa bồi thường thiệt hại nên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp. Xét về căn cứ phát sinh trách nhiệm phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại thì thực tế bị đơn đã có hành vi vi phạm, được chứng minh thông qua phiếu điều tra nông nghiệp do nguyên đơn cung cấp và sự đồng ý của bị đơn nên đủ căn cứ để phát sinh trách nhiệm dân sự như đã thỏa thuận. Do đó, hướng giải quyết của Tòa án về chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ.
Về mức phạt vi phạm 8% do các bên thỏa thuận, không trái quy định của Bộ luật Dân sự nên được chấp nhận là phù hợp.
Đối với việc rút yêu cầu về bồi thường thiệt hại tại phiên tòa, thì tại khoản 1 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định “Trường hợp có đương sự rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của mình và việc rút yêu cầu của họ là tự nguyện thì Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu hoặc toàn bộ yêu cầu đương sự đã rút”, như vậy việc Tòa án đình chỉ đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại là phù hợp.
Tuy nhiên, nếu nguyên đơn thay đổi ý định thì có thể khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại bằng một vụ án mới do hiện tại Bộ luật Tố tụng dân sự chưa có quy định rõ ràng về khởi kiện lại trong giai đoạn xét xử sơ thẩm đối với trường hợp rút một phần yêu cầu khởi kiện mà chỉ quy định trong giai đoạn xét xử phúc thẩm tại Điều 299.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];