TIÊU
CHUẨN QUỐC GIA
TCVN
12950:2020
ASTM
D6051-15
CHẤT THẢI - HƯỚNG DẪN VỀ LẤY MẪU TỔ HỢP VÀ MẪU PHỤ HIỆN
TRƯỜNG ÁP DỤNG CHO CÁC HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI MÔI TRƯỜNG
Standard guide
for composite sampling and field subsampling for environmental waste management
activities
Lời nói đầu
TCVN 12950:2020 được xây dựng
trên cơ sở chấp nhận hoàn toàn tương đương với ASTM D6051-15, Standard suide
for composite sampling and field subsampling for environmental waste management
activities với sự cho phép của ASTM quốc tế, 100 Barr Harbor Drive, West
Conshohocken, PA 19428, USA. Tiêu chuẩn ASTM ASTM D6051 thuộc bản quyền ASTM quốc
tế.
TCVN 12950:2020 do Ban kỹ
thuật tiêu chuẩn quốc gia TCVN/TC 200 Chất thải rắn biên soạn, Tổng cục
Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng đề nghị, Bộ Khoa học và Công nghệ công bố.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Standard Guide
for composite sampling and field subsampling for Environmental waste management
activities
1 Phạm vi áp dụng
1.1 Lấy mẫu tổ hợp
và lấy mẫu phụ là các liên kết chính trong chuỗi lấy mẫu và các lần phân tích
phải được thực hiện trong việc tuân thủ các mục tiêu và hướng dẫn của dự án để
đảm bảo dữ liệu kết
quả là đại diện. Tiêu chuẩn này đề cập đến những ưu điểm và sử dụng thích hợp về
lấy mẫu tổ hợp, quy trình và kỹ thuật hiện trường để trộn mẫu tổ hợp
và các thủ tục để thu thập các mẫu phụ không gây tranh cãi và chính xác từ một
mẫu lớn hơn. Tiêu chuẩn này đề cập về những ưu điểm và hạn chế sử dụng các mẫu
tổ hợp trong thiết kế kế hoạch lấy mẫu đặc tính của chất thải (chủ yếu là chất rắn) và
các môi trường có khả năng bị ô nhiễm. Tiêu chuẩn này giả thiết rằng một thiết
bị lấy mẫu thích hợp được chọn để thu thập một mẫu không gây tranh cãi.
1.2 Tiêu chuẩn
này không đề cập đến vị trí các mẫu cần được thu thập (tùy thuộc vào các mục
tiêu) (xem TCVN 12953:2020 [ASTM D6044 - 96]), lựa chọn thiết bị lấy mẫu, sai lệch
được tạo ra từ việc lựa chọn thiết bị lấy mẫu không phù hợp, quy trình lấy mẫu
hoặc bộ tập hợp mẫu vật đại diện từ một mẫu, hoặc giải thích thống kê dữ liệu kết
quả và thiết bị được thiết kế để tự động lấy mẫu dòng chất thải. Tiêu chuẩn này
cũng không cung cấp đủ thông tin để thiết kế thống kê kế hoạch lấy mẫu được tối
ưu hóa, hoặc xác định số lượng mẫu để thu thập hoặc tính toán số lượng mẫu tối
ưu để tổng hợp để đạt được các mục tiêu chất lượng dữ liệu được quy định (xem
ASTM D5792). Quy trình tiêu chuẩn để lập kế hoạch các hoạt động lấy mẫu chất thải được đề cập
trong TCVN 12949 (ASTM D4687).
1.3 Các quy trình
trộn mẫu và lấy mẫu phụ được mô tả trong tiêu chuẩn này được coi là không phù hợp
cho các mẫu được phân tích các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi. Chất hữu cơ dễ bay
hơi thường bị mất mát thông qua bay hơi trong thu thập, xử lý mẫu, trong khi vận
chuyển và chuẩn bị mẫu phòng thí nghiệm trừ khi các thủ tục chuyên ngành được sử
dụng. Quá trình trộn mẫu được tăng cường mô tả trong tiêu
chuẩn này dự kiến sẽ gây ra đáng kể thất thoát của các thành phần dễ bay hơi.
Quy trình chuyên ngành nên được sử dụng để tổ hợp các mẫu cho xác định các chất
bay hơi chẳng hạn như kết hợp trực tiếp trong metanol (xem ASTM D4547).
1.4 Tiêu chuẩn
này không đề cập đến tất cả các vấn đề liên quan đến an toàn, nếu có, khi sử dụng.
Người sử dụng tiêu chuẩn này có trách nhiệm thiết lập các nguyên tắc về an toàn
và bảo vệ sức khỏe cũng như khả năng áp dụng phù hợp với các giới hạn quy định
trước khi đưa vào sử dụng.
2 Tài liệu viện dẫn
Các tài liệu viện dẫn sau là rất cần
thiết cho việc áp dụng tiêu chuẩn này. Đối với các tài liệu viện dẫn ghi năm
công bố thì áp dụng phiên bản được nêu. Đối với các tài liệu viện dẫn không ghi
năm công bố thì áp dụng phiên bản mới nhất bao gồm cả các sửa đổi, bổ sung (nếu
có).
TCVN 12953:2020 (ASTM D6044-96), Hướng
dẫn lấy mẫu đại diện cho quản lý chất thải và môi trường bị ô nhiễm,
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
ASTM D1129, Terminology relating to
water (Thuật ngữ liên quan đến nước)),
ASTM D4439, Terminology for
geosynthetics (Thuật ngữ về địa kỹ thuật tổng hợp),
ASTM D4547, Guide for sampling waste
and soils for volatile organic compounds (Hướng dẫn lấy mẫu chất thải và đất đối
với các hợp chất hữu cơ bay hơi),
TCVN 12949 (ASTM D4687), Hướng dẫn lập
kế hoạch chung về lấy mẫu chất thải,
ASTM D5088, Practice for
decontamination of field equipment used at waste sites (Thực hành khử nhiễm bẩn
thiết bị hiện trường tại các địa điểm thu gom chất thải),
ASTM D5792, Practice for generation of
environmental data related to waste management activities: development of data
quality objectives (ASTM D5792, Thực hành tạo số liệu môi trường liên quan đến các
hoạt động quản lý chất thải: Phát triển các mục tiêu chất
lượng số liệu),
ASTM E856, definitions of terms and
abbreviations relating to physical and chemical characteristics of refuse
derived fuel (Định nghĩa của các thuật ngữ và từ viết tắt liên quan đến các đặc
tính lý hóa của nhiên liệu từ rác thải)1).
3 Thuật ngữ định
nghĩa
3.1
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Kết hợp hai hoặc nhiều hơn các mẫu.
3.2 Mẫu (sample)
Một phần nhỏ vật liệu được
lấy ra từ một lượng vật liệu lớn hơn nhằm mục đích ước tính tính chất hoặc
thành phần của lượng vật liệu lớn hơn đó.
3.3
Mẫu thử (specimen)
Một phần nhỏ cụ thể của vật liệu hoặc
mẫu phòng thí nghiệm mà một phép thử được thực hiện với mẫu đó hoặc được thực
hiện cho mục đích đó.
3.4
Mẫu phụ (subsample)
Một phần của mẫu được lấy cho mục đích
ước tính tính chất hoặc thành phần của toàn bộ mẫu.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
4 Tóm tắt hướng dẫn
4.1 Tiêu chuẩn
này mô tả cách thu thập các mẫu tổ hợp, trái ngược với các mẫu riêng lẻ, có thể
được sử dụng để: ước tính chính xác hơn nồng độ trung bình của chất phân tích của
chất thải trong môi trường bị nhiễm bẩn, giảm chi phí, xác định một cách có hiệu
quả sự vắng mặt hoặc có thể có mặt của một điểm nóng (khu vực tại chỗ bị nhiễm
bẩn nặng), và khi kết hợp với kiểm tra lại các sơ đồ lấy mẫu, xác định hiệu quả
vị trí các điểm nóng. Quy trình cụ thể để trộn một mẫu/các mẫu và thu thập các
mẫu phụ để vận chuyển đến một phòng thí nghiệm được cung cấp.
5 Ý nghĩa và ứng dụng
5.1 Tiêu chuẩn
này cung cấp hướng dẫn cho những người quản lý hoặc chịu trách nhiệm thiết kế
các kế hoạch lấy mẫu và phân tích mẫu để xác định xem liệu sự tổ hợp mẫu có thể hỗ trợ
thêm một cách hiệu quả hay không việc đáp ứng các mục tiêu nghiên cứu. Các mẫu
phải được tổ hợp/tổng hợp đúng, nếu không thì thông tin hữu
ích về phân bố ô nhiễm và khác biệt của mẫu có thể bị mất.
5.2 Các quy trình
được mô tả để trộn mẫu và để thu được một mẫu phụ đại diện là được áp dụng rộng
rãi cho lấy mẫu chất thải khi mong muốn vận chuyển số lượng vật liệu được giảm
bớt tới phòng thí nghiệm. Các phần nội dung của tiêu chuẩn này về việc trộn và
lấy mẫu phụ cung cấp hướng dẫn cho những người chuẩn bị lấy mẫu và kế hoạch
phân tích và nhân sự ở hiện trường.
5.3 Mặc dù tiêu
chuẩn này chủ yếu tập
trung vào vật liệu rắn, nhưng các thuộc tính và các giới hạn
của lấy mẫu tổ hợp cũng được
áp dụng như nhau đối với các mẫu chất lỏng tĩnh.
6 Thuộc tính của lấy
mẫu tổ hợp để xác định đặc tính chất thải
6.1 Nhìn chung,
các mẫu riêng lẻ được tổng hợp cần có cùng khối lượng; Tuy nhiên, lấy mẫu theo
tỷ lệ có thể thích hợp
trong một số trường hợp tùy thuộc vào mục tiêu.
Ví dụ: Nếu mục tiêu là xác định
trung bình nồng độ trung bình chất ô nhiễm trong mỗi thùng chứa, thì tổ hợp các
thể tích chất thải bằng nhau từ
mỗi thùng sẽ là phù hợp. Nếu mục tiêu là xác định nồng độ chất gây ô nhiễm
trung bình của chất thải chứa trong một nhóm thùng chứa, khối lượng của mỗi mẫu
được tổ hợp phải tỷ lệ thuận với số lượng chất thải trong từng thùng. Một ví dụ
khác về tỷ lệ lấy mẫu là ước tính nồng độ chất gây ô nhiễm của đất qua vùng
không thấm nước. Nên thu thập lõi đất từ bề mặt đến lớp đất không thấm nước, bất
kể chiều dài của lõi.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
6.2.1 Giảm phương
sai giữa các mẫu, nghĩa là cải thiện độ chính xác của ước lượng trung bình
trong khi giảm xác suất đưa ra một quyết định không chính xác,
6.2.2 Giảm chi phí
để ước tính tổng giá trị hoặc
giá trị trung bình, đặc biệt khi chi phí phân tích vượt quá chi phí lấy mẫu
(cũng có thể có hiệu quả khi khả năng phân tích là một hạn chế),
6.2.3 Xác định hiệu
quả sự vắng mặt hoặc sự có mặt có thể có của các điểm nóng hoặc thùng chứa nóng
và khi kết hợp với kế hoạch tái thử nghiệm, xác định ra các điểm nóng, mặc dù
xác suất gặp phải một điểm nóng là thấp,
6.2.4 Đặc biệt có
ích cho các tình huống, trong đó bản chất của phân bố của chất gây ô nhiễm có
xu hướng tiếp giáp nhau và không ngẫu nhiên và phần lớn các phép phân tích là
“không phát hiện” chất gây nhiễm bẩn cần quan tâm,
6.2.5 Cung cấp một
mức độ cần thiết của tập hợp mẫu, chứ không phải các thống kê mẫu đơn lẻ.
6.3 Cải thiện sự
chính xác trong lấy mẫu - Các mẫu luôn luôn được lấy để suy luận ra cho một khối
lượng lớn vật liệu, và một tập hợp các mẫu tổ hợp từ một tập hợp không đồng nhất
cung cấp một ước tính chính xác hơn về giá trị trung bình của một số lượng các
mẫu rời rạc. Điều này xảy ra bởi vì tổ hợp là “một quá trình vật lý của
trung bình hóa”. Trung bình của các mẫu có độ chính xác
cao hơn các mẫu riêng lẻ. Tương tự, một tập hợp các mẫu tổ hợp luôn chính xác
hơn một số lượng bằng nhau của các mẫu riêng lẻ. Quyết định dựa trên một tập hợp
các mẫu tổ hợp sẽ cho
các mục đích thực tế, luôn cung cấp sự tin cậy thống kê lớn hơn so với một so sánh tập hợp
các mẫu riêng lẻ.
6.3.1 Nếu muốn có độ
chính xác ước tính của giá trị trung bình, thì cần nhiều hơn một mẫu tổ hợp; độ
lệch chuẩn không thể được tính từ một mẫu tổ hợp. Tuy nhiên, độ chính xác của một
mẫu tổ hợp đơn lẻ có thể là ước tính được khi có dữ liệu cho thấy mối quan hệ
giữa độ chính xác của các mẫu riêng biệt tạo nên mẫu tổ hợp và độ
chính xác của mẫu tổ hợp. Độ chính xác (độ lệch chuẩn) của mẫu tổ hợp là xấp xỉ
độ chính xác của các mẫu riêng lẻ được chia bằng căn bậc hai của số lượng mẫu
riêng lẻ trong mẫu tổ hợp.
6.4 Ví dụ 1 - mẫu tổ hợp
đơn lẻ có thể được sử dụng cho mục đích ra quyết định được đưa ra ở đây. Giả sử
giới hạn quy định là 1 mg/kg và tiêu chuẩn độ lệch 0,5 mg/kg cho các mẫu riêng
lẻ. Nếu nồng độ của một vị trí được ước tính là khoảng
0,6 mg/kg, có bao nhiêu mẫu riêng lẻ nên được tổ hợp để có độ tin cậy tương đối
cao mà nồng độ thực sự không vượt quá giới hạn quy định khi chỉ có một mẫu tổ hợp
đã sử dụng? Giả sử tổ hợp được trộn đều, thì độ chính xác của một tổ hợp mẫu là
một hàm của số lượng các mẫu như sau:
Số lượng mẫu
đơn lẻ trong
mẫu
tổ hợp
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
2
0,35
3
0,29
4
0,25
5
0,22
6
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Do đó, nếu sáu mẫu được bao gồm trong
một mẫu tổ hợp, thì nồng độ mẫu tổ hợp bằng 0,6 mg/kg là hai độ lệch chuẩn dưới
giới hạn quy định. Do đó, nếu nồng độ mẫu tổ hợp thực sự được quan sát là gần với
0,6 mg/kg, chúng ta có thể tự tin một cách hợp lý (khoảng 95 %) rằng nồng độ của
vị trí lấy mẫu có sự ô nhiễm nằm dưới quy định giới hạn, chỉ sử dụng một mẫu tổ
hợp.
6.5 Ví dụ 2 - khi
độ lệch chuẩn của các mẫu riêng lẻ trong ví dụ trước là tương đối nhỏ, tạm gọi
là 0,1 mg/kg. Khi đó độ lệch chuẩn của mẫu tổ hợp gồm 6 mẫu riêng lẻ là 0,04
mg/kg (0,1 mg/kg chia cho căn bậc hai là 6 = 0,04 mg/kg), con số rất nhỏ tương quan với
giới hạn quy định là 1 mg/kg. Trong trường hợp này, sự so sánh đơn giản của nồng
độ tổ hợp với giới hạn quy định thường là hoàn toàn thích hợp cho mục đích ra
quyết định.
6.5.1 Hiệu quả của
việc tổ hợp mẫu phụ thuộc vào độ lớn tương đối của lấy mẫu và sai số phân tích.
Khi nào độ không đảm bảo lấy mẫu cao so với sai số phân tích (như thường được
coi là
có
trường hợp) thì tạo ra mẫu tổ hợp là rất hiệu quả trong nâng cao độ chính xác.
Nếu sai số phân tích cao so với sai số môi trường, tổ hợp mẫu là ít hiệu quả
hơn nhiều.
6.5.2 Vì tổ hợp mẫu
là một quá trình vật lý trung bình hóa mẫu, các mẫu tổ hợp có xu hướng
được phân bố chuẩn hơn các mẫu riêng lẻ. Hiệu ứng chuẩn hóa thường là một lợi
thế vì khi tính toán trung bình, độ lệch chuẩn và khoảng tin cậy thường
cho rằng dữ liệu là phân bố chuẩn. Mặc dù dữ liệu dư lượng môi trường không
phân phối chuẩn là phổ biến, tổ hợp mẫu thường dẫn đến tính chuẩn gần đúng và
tránh sự cần thiết phải chuyển đổi dữ liệu.
6.5.3 Thiết kế
không gian của sơ đồ lấy mẫu tổ hợp có thể là quan trọng. Tùy thuộc vào địa điểm
mà mẫu riêng lẻ được thu thập và được tổ hợp, mẫu tổ hợp có thể được sử dụng để
xác định sự thay đổi không gian hoặc cải thiện độ chính xác của thông số đang
được ước tính. Hình 1 và Hình 2 thể hiện cho một địa điểm được chia
thành bốn ô. Tổ hợp tất cả các mẫu lại với cùng một số. Cách tiếp cận lấy mẫu
trong Hình 1 tương tự như lấy mẫu ngẫu nhiên, ngoại trừ hiện tại các mẫu được tổ
hợp lại. Mỗi mẫu tổ hợp trong trường hợp này là một mẫu đại diện
của toàn bộ địa điểm, loại bỏ sự biến động giữa các ô, và dẫn đến độ chính xác
được tăng lên trong việc ước tính nồng độ trung bình của địa điểm. Nếu cần ước
tính biến động/thay đổi giữa các ô, thì lúc đó cách tiếp cận
trong Hình 2 là phù hợp. Ngoài ra, nếu là cần thiết độ chính xác của ước tính nồng
độ trung bình của ô, thì
nhiều các mẫu tổ hợp nên được thu thập ô đó.

Hình 1 - Ví dụ
về tổ hợp tại một địa điểm

Hình 2 - Ví dụ
về tổ hợp các ô bên trong
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
6.7 Nhận biết
thùng chứa nóng/điểm nóng và kế hoạch tái kiểm tra - Các mẫu có thể được
kết hợp để xác định xem một mẫu riêng lẻ vượt quá giới hạn quy định hay không,
miễn là giới hạn hành động tương đối cao được so với giới hạn phát hiện thực tế
và nồng độ mẫu trung bình. Tùy thuộc vào sự khó khăn và xác suất phải lấy mẫu lại,
có thể cần mong muốn giữ lại một phần của các mẫu riêng biệt cho phân tích có
thể có tùy theo kết quả phân tích từ mẫu tổ hợp.
6.8 Ví dụ 3 - Một
trăm thùng phuy được kiểm tra xác định xem nồng độ PCB có vượt quá 50 mg/kg hay
không. Giả sử giới hạn
phát hiện là 5 mg/kg và hầu hết thùng phuy có mức độ không thể phát hiện. Các mẫu
tổ hợp từ mười thùng phuy để phân tích sẽ cho phép xác định rằng không thùng
nào trong số thùng phuy trong tổ hợp vượt quá 50 mg/kg miễn là nồng độ của tổ hợp
< 5 mg/kg. Nếu phát hiện nồng độ > 5 mg/kg, một hoặc nhiều hơn thùng phi có thể vượt quá
50 mg/kg và các phân tích bổ sung của từng thùng là cần thiết để xác định ra mọi
thùng phuy nóng. Số tối đa các
mẫu về mặt lý thuyết có thể được tổ hợp và vẫn phát hiện ra một mẫu nóng
là giới hạn quan tâm chia cho giới hạn phát hiện thực tế (ví dụ: 50 mg/kg ÷ 5
mg/kg = 10).
6.9 Ví dụ 4 - Giả
sử mức độ nền của đioxin là không phát hiện được, và giới hạn phát hiện phân
tích là 1 µg / kg và mức hành động là 50 µg/kg. Các địa
điểm được chia thành hệ thống ô lưới (thiết kế lấy mẫu hiệu quả nhất để phát hiện
phân bố ngẫu nhiên điểm nóng) bằng cách sử dụng một thiết kế phù hợp và mẫu lõi
đến độ sâu 10 cm được thu thập. Các mẫu tổ hợp được thu thập do chi phí phân
tích cho dioxin là cao. Về lý thuyết, một nhóm đến tối đa 50 mẫu có thể được tổ
hợp và nếu nồng độ kết quả là < 1 µg/kg, thì tất cả các mẫu được đại diện
trong tổ hợp cần phải dưới 50 µg/kg. Nếu chất gây ô nhiễm có nồng độ > 1 µg/kg,
một hoặc nhiều điểm có thể tồn tại vượt quá 50 µg/kg trong khu vực được bao phủ
bởi mẫu tổ hợp mặc dù vị trí chính xác và phạm vi khu vực sẽ không được được biết
mà không cần lấy mẫu và phân tích thêm. Tuy nhiên, tổ hợp ít mẫu hơn có thể sẽ
thực tế hơn.
6.9.1 Hiệu quả
tương đối của tổ hợp các mẫu riêng lẻ để phát hiện một điểm nóng phụ thuộc vào
xác suất của một điểm nóng rời rạc được sử dụng để tạo thành một mẫu tổ hợp.
Theo Garner và cộng sự. (xem tài liệu tham khảo [1]), nếu xác suất có thể ước tính
là thấp, giả sử là 1 %, số lượng mẫu tối ưu tổng hợp là khoảng mười, sẽ giúp tiết
kiệm chi phí khoảng 80 % (giả sử không có vấn đề giới hạn phát hiện). Khi xác
suất lấy mẫu từ điểm nóng tăng lên 10 %, số lượng mẫu tối ưu để tổng hợp là 4,
giúp tiết kiệm 40 % chi phí. Đến lúc xác suất lấy mẫu một điểm nóng tăng lên 40
%, không có chi phí lợi ích cho việc tổ hợp. Kế hoạch/sơ đồ tái lấy mẫu và thử
nghiệm khác là có thể và có thể dẫn đến các tiềm năng tiết kiệm chi phí khác
nhau.
7 Hạn chế của lấy mẫu
tổ hợp
7.1 Những hạn chế
chính của việc tổ hợp mẫu liên quan đến mất thông tin rời rạc có trong một mẫu đơn
và khả năng pha loãng các chất gây ô nhiễm trong một mẫu với vật liệu không bị
nhiễm bẩn; tuy nhiên, trong trường hợp đó, hệ số pha loãng có thể được sử dụng
để ước tính số lượng tối đa của các mẫu có thể được tổ hợp. Các tình huống sau
đây có thể không
đóng góp hiệu quả - chi phí của việc tổ hợp mẫu:
7.1.1 Khi tính toàn
vẹn của các giá trị mẫu riêng lẻ thay đổi bởi vì do tổ hợp, ví dụ,
tương tác hóa học xảy ra giữa các thành phần trong các mẫu được tổ hợp hoặc chất
bay hơi bị mất trong quá trình trộn,
7.1.2 Trường hợp mẫu
tổ hợp không thể được trộn đúng cách và mẫu phụ hoặc toàn bộ mẫu tổ hợp không
thể phân tích được,
7.1.3 Khi mục tiêu
là phát hiện
các điểm nóng và tỷ lệ lớn của các mẫu được kỳ vọng sẽ thử nghiệm phát
hiện ra một thuộc tính của mẫu, đề án tổ hợp và thử nghiệm lại mẫu có thể không
phải là chi phí có hiệu quả,
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
7.1.5 Khi mà các
quy định chỉ định rằng một mẫu lấy bằng gầu xúc (mẫu gầu) phải là được thu thập
(từ quan điểm kỹ thuật, thường thì một mẫu tổ hợp bao phủ một diện tích được hạn
chế vẫn được ưa thích).
8 Quy trình trộn mẫu
8.1 Trước khi trộn
mẫu, hướng dẫn cụ thể cho dự án liên quan đến việc thu thập mẫu nên được tuân
theo, trong hướng dẫn có thể bao gồm việc loại bỏ các vật liệu mẫu ngoại lai
như cành cây, cỏ, đá, v.v. Nếu các mẫu được sàng hoặc vật liệu lớn phải được loại
bỏ, có thể cần phải ghi lại khối lượng vật liệu được loại bỏ để ước tính nồng độ
chất gây ô nhiễm trong mẫu ban đầu. Theo lý thuyết lấy mẫu hạt, những khối lượng
mẫu sau đây là đủ để đại diện các hạt kích thước tối đa tương ứng trong mẫu với
độ lệch chuẩn tương đối là 15 %.
Khối lượng mẫu,
g
Kích thước
hạt tối đa, cm
5
0,170
50
0,37
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
0,46
500
0,79
1000
1,0
5000
1,7
8.1.1 Cần thiết là
thường xuyên phải trộn một mẫu đơn lẻ hoặc mẫu tổ hợp và có được một hoặc các mẫu
phụ đại diện để vận chuyển đến phòng thí nghiệm phân tích. Điều này xảy ra khi
nhiều thùng chứa vật liệu giống hệt nhau được mong muốn lấy mẫu (ví dụ, các lọ
mẫu tách riêng cho kim loại, chất hữu cơ bán bay hơi, v.v được mong muốn) hoặc
khi kích thước mẫu ban đầu (hoặc mẫu tổ hợp) lớn hơn kích thước được phòng thí
nghiệm chấp nhận. Ngay cả khi khối lượng mẫu ban đầu được chấp nhận, nó có thể
mong muốn trộn kỹ mẫu trước vận chuyển đến phòng thí nghiệm phân tích. Tuy
nhiên, một số mẫu đã được trộn lẫn tại hiện trường có thể tách riêng trong quá
trình vận chuyển đến phòng thí nghiệm.
8.1.2 Một phòng thí
nghiệm thường lấy 0,5 g đến 30 g mẫu thử (100 g cho một số thử nghiệm chiết) từ
mẫu để phân tích. Mẫu thử thường được thu thập từ các vật liệu bề mặt trong các
thùng chứa hoặc sau khi trộn tối thiểu. Thủ tục như vậy là không đủ để có được
một mẫu thử đại diện nhỏ từ 100 đến 300 g mẫu. Quy trình trộn và lấy mẫu đặc biệt
là cần thiết để có được một mẫu phụ đại diện trừ khi mẫu đã đồng nhất. Trộn mẫu
hiện trường phải được được coi là thiết yếu trừ khi được biết rằng mẫu trong
thùng chứa là đồng nhất hoặc được biết rằng phòng thí nghiệm sẽ đồng nhất mẫu
và thu thập một mẫu thử đại diện. Để giúp đảm bảo rằng mẫu vật được
thu thập không thiên lệch và chính xác, phòng thí nghiệm phân tích cần được
cung cấp hướng dẫn (tốt nhất là với cùng chuyến mẫu vận chuyển) về đồng nhất
hóa và lấy một mẫu thử để phân tích. Ít phòng thí nghiệm làm theo thực hành tốt
đồng nhất mẫu và lấy mẫu thử. Để đáp ứng cả mục tiêu lấy mẫu và phân tích, nhân
viên hiện trường và phân tích và người dùng cuối của dữ liệu phải nhận thức được
các tiêu chuẩn thực hành phòng thí nghiệm cho xử lý, trộn và lấy mẫu hoặc quy định
như vậy về các thực hành với lô mẫu vận chuyển.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
8.1.4 Các mẫu đất,
trầm tích, bùn và chất thải được thu thập cho các phân tích hợp chất hữu cơ dễ
bay hơi thì cần phải được trộn và lấy mẫu phụ bằng cách sử dụng các quy trình
được mô tả trong này tiêu chuẩn này nhưng các quy trình được chuyên
ngành hóa khác như kết hợp mẫu trực tiếp vào metanol (xem ASTM D4547) có thể là
thích hợp.
8.1.5 Một vấn đề
đáng kể đối với việc phân tích mẫu rất nhỏ là thực tế
khối lượng của mẫu càng nhỏ được chiết xuất hoặc phân tích, thì mẫu đó có thể càng
ít đại diện hơn trừ khi được trộn kỹ/đồng nhất và ghép mẫu. Do đó, tổ hợp mẫu
mà không trộn kỹ thì có thể vô hiệu hóa các lợi ích tiềm
năng của việc tổ hợp mẫu.
8.1.6 Các phương
pháp có thể áp dụng được cho trộn mẫu hiện trường, tùy thuộc vào nền mẫu, bao gồm
trộn thủ công trong khay, trong rây sàng, giảm kích thước hạt, nhào, v.v. Đối với
chất thải rất không đồng nhất như rác thải đô thị, hiện trường giao thông (mài)
có thể cần thiết.
Một số phương pháp này có thể là không phù hợp nếu mức ô nhiễm ở lượng vết là mối quan
tâm chính. Nên xem xét sử dụng thiết bị dùng một lần để trộn để giảm thiểu các
vấn đề khử nhiễm bẩn hiện trường. Đội nhân viên làm việc hiện trường cần phải sử
dụng cẩn thận để đảm bảo rằng các mẫu không bị ô nhiễm trong quá trình lấy mẫu,
quá trình trộn và lấy mẫu phụ.
8.1.7 Một khi mẫu
đã được thu thập, có thể phải chia vào trong các thùng chứa riêng biệt cho các
phân tích khác nhau. Một sự chia tách thực sự mẫu đất, trầm tích hoặc bùn có thể
khó hoàn thành
trong điều kiện hiện trường.
8.1.8 Sau đây là một
số phương pháp phổ biến để trộn đất, bùn, v.v. Trong khi không phải lúc nào
cũng có thể xác định là một mẫu được trộn đầy đủ, tuân theo các quy trình tiêu
chuẩn và quan sát kết cấu mẫu, màu sắc mẫu và phân bố hạt của mẫu là những phương
pháp thiết thực. Khi một số vật liệu không thể đồng nhất hóa, thì đi theo các
quy trình lấy mẫu phụ trong Phần 9 sẽ giúp đảm bảo rằng một mẫu phụ đại diện là
được thu thập. Trong một số điều kiện nhất định, một số trong các quy trình sau đây được
áp dụng khi các chất gây ô nhiễm ở mức lượng vết được quan
tâm.
8.1.8.1 Trộn
khay/Chia tư
- Một phương pháp phổ biến của trộn mẫu được gọi là chia tư. Đặt vật liệu vào
trong đĩa mẫu bằng thủy tinh hoặc khay mẫu bằng thép không gỉ và chia thành bốn
phần (chia tư). Trộn từng phần tư riêng, sau đó trộn tất cả các phần tư
vào giữa của khay. Lặp lại quy trình này nhiều lần cho đến khi mẫu được trộn đầy
đủ (thường là tối thiểu ba lần lặp lại). Nếu bát tròn được sử dụng để trộn mẫu,
để đạt được trộn đầy đủ là bằng cách khuấy trộn vật liệu theo kiểu vòng tròn và
thỉnh thoảng đảo vật liệu từ
trên xuống dưới.
8.1.8.2 Trộn trên tấm hình vuông - Kết hợp
các mẫu rây lọt qua một sàng không gây nhiễm bẩn vào một thùng trộn thích hợp.
Trộn trong thùng chứa và đổ mẫu vào một tấm hình vuông 1 m làm bằng vật liệu
không gây nhiễm bẩn như nhựa khi mẫu để phân tích kim loại hoặc bằng
polytetrafluoroetylen khi mẫu để phân tích chất hữu cơ. Cuộn mẫu về phía sau và
phía trước trên tấm vuông trong khi luân phiên nâng lên và đặt xuống các góc đối
diện của tấm vuông đó. Điều này là thích hợp đối với vật liệu dạng hạt dễ chảy.
Nếu tấm polytetrafluoroetylen được sử dụng, quy trình này có thể được chấp nhận
cho trộn mẫu có các chất gây ô nhiễm ở mức nồng độ lượng vết.
8.1.8.3 Nhào mẫu - Đặt mẫu
trong một túi không bị nhiễm bẩn và nhào như trong làm bánh mì để trộn mẫu. Điều
này có thể thích hợp cho các vật liệu nhớt hoặc giống như đất sét. Nếu túi
không bị nhiễm bẩn được sử dụng, thì phương pháp này sẽ được chấp nhận đối với
các chất gây ô nhiễm ở mức nồng độ lượng vết.
8.1.8.4 Rây/Sàng
và trộn mẫu - Nếu phòng thí nghiệm yêu cầu một mẫu thử nhỏ (1 đến 30 g) hoặc
nếu mẫu thử nhỏ hơn kích thước của 1 hạt cụ thể được phòng thí nghiệm yêu cầu,
thì có thể đập phá vỡ các hạt đã được tổ hợp hoặc rây sàng, hoặc cả hai, tiếp
theo có thể cần thiết là trộn mẫu. Rây sàng chỉ cho phép các
hạt nhỏ hơn kích thước mong muốn để lọt qua sàng vào khay trộn để trộn tiếp
theo và lấy mẫu phụ vào thùng chứa. Sàng hoạt động tốt nhất với vật liệu dạng hạt
tương đối khô. Sàng và loại ra các hạt lớn có thể dẫn đến kết quả rất sai lệch
và chỉ nên được tiến hành khi được thiết kế vào trong một
kế hoạch lấy mẫu.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
8.1.9 Với khử nhiễm
bẩn triệt để (xem ASTM D5088) của bộ dụng cụ giảm kích thước hạt, sàng và khay
trộn, những quy trình này có thể được chấp nhận cho các chất gây ô nhiễm có mức nồng độ
lượng vết.
8.1.10 Thiết bị trộn
khác
- Bộ/súng chia tách, hình nón và chia tư, v.v, liên quan đến thiết bị và vật liệu
khó khử nhiễm bẩn và khó sử dụng thường ngày để lấy mẫu quản lý chất thải. Vì các
quy trình này không được sử dụng thường xuyên, nên các thiết bị không được xem
xét đến trong tiêu chuẩn này. Tuy nhiên, các quy trình bộ/súng chia tách hình
nón và chia tư và việc sử dụng các bộ súng chia tách được mô tả trong ASTM C702
và có thể được sửa đổi để lấy mẫu phụ môi trường bị ô nhiễm.
9 Quy trình lấy mẫu
phụ hiện trường
9.1 Nếu quy trình
trộn có thể đảm bảo mẫu thực sự đồng nhất, việc lấy mẫu phụ sẽ đơn giản. Trộn
nhiều loại kích thước hạt khác nhau có thể làm cho các hạt phân tách theo kích
thước, và lấy mẫu phụ không đúng cách thức thì có thể tạo ra sai lệch. Vì tính
đồng nhất thường không đạt được, nhân viên hiện trường nên sử dụng quy trình lấy
mẫu phụ thích hợp để cung cấp được các mẫu phụ đại diện. Các quy trình sau đây
là thích hợp để thu thập một mẫu đại diện từ một mẫu lớn hơn. Như đã lưu ý trước
đó, bộ/súng chia tách và quy trình hình nón và chia tư cũng có thể được sử dụng
để lấy mẫu phụ cũng như trộn mẫu (xem ASTM C702).
9.1.1 Thìa/muỗng
hình chữ nhật - Là bước cuối cùng của quá trình trộn, vật liệu được sắp xếp
thành một đống dọc theo trục dài của khay hình chữ nhật. Một muỗng xúc có đáy
phẳng với các mặt bên thẳng đứng được di chuyển qua toàn bộ chiều rộng của trục
ngắn của khay để thu thập một vệt mẫu của mẫu (Hình 3). Nhiều vệt khoảng cách đều
nhau được thu thập cho đến khi thùng chứa mẫu phụ đầy. Nhiều thùng chứa được đổ
mẫu bằng cách sắp xếp lại phần vật liệu mẫu còn lại và thu thập mẫu theo vệt
như vừa mô tả.

Hình 3 - Muỗng
hình chữ nhật được dùng để thu mẫu phụ theo vệt
9.1.2 Thìa/muỗng
xen kẽ - Khối lượng vật liệu cần thiết để đổ đầy các
thùng chứa mẫu được so sánh với khối lượng của mẫu đã được pha trộn. Các muỗng
của vật liệu đã trộn được đặt trong các thùng chứa mẫu hoặc được loại bỏ, nghĩa
là, ba muỗng bị loại bỏ cho mỗi muỗng được lưu lại khi thu 25 % mẫu phụ (Hình
4). Cần cẩn thận là từng muỗng vật liệu có cùng kích thước và được thu thập một
cách nhất quán để giảm thiểu sai lệch.

...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
9.1.3 Phiến mỏng - Các vật liệu
dính hoặc giống như đất sét như được thảo luận trong 8.1.8.3 về nhào mẫu. Vật
liệu mẫu này được làm phẳng, được cắt thành các khối vuông (Hình 5) và các khối
vuông được kết lợp lại một cách ngẫu nhiên hoặc có hệ thống
thành mẫu phụ. Mẫu phụ này cần được nhào lại trước khi chuyển đến phòng thí
nghiệm trừ khi nó có thể được đảm bảo rằng phòng thí nghiệm sẽ đồng nhất hóa mẫu phụ trước
khi lấy ra mẫu thử.

Hình 5 - Kỹ
thuật lấy mẫu phụ phiến mỏng
Thư mục tài
liệu tham khảo
[1] Gamer et al., “Composite Sampling
for Environmental Monitoring in Principals of Environmental Sampling,” in
Principles of Environmen- tal Sampling, American Chemical Society (ACS), Keith, L, ed., 1988, pp.
363-374.
[2] Mack, G. A., and Robinson, P. E.,
“Use of Composited Samples to Increase the Precision and Probability of
Detection of Toxic Chemicals,” in Environmental Applications of
Chemometrics, ACS Symposium Series 292, ACS, Washington, DC, 1985, pp. 174-183.
[3] Rajagopal, R., and Williams, L.
R., “Economics of Sample Compos- iting as a Screening Tool in Ground Water
Monitoring,” Ground Water Monitoring Review, 1989, pp. 186-192.
[4] Ramsey, C. A., Ketterer, M. E.,
and Lowery, J. H., “Application of Gy’s Sampling Theory to the Sampling of
Solid Waste Materials,” in Proceedings of the EPA Fifth Annual Waste
Testing and Quality Assurance Symposium, 1989, p. II-494.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
[6] U.S. Environmental Protection
Agency (EPA), Description and Sam- pling of Contaminated Soils, A Field Pocket
Guide, EPA/625/12-91/ 002, 1991.
1) Tiêu chuẩn này đã bị hủy năm 2011