TIÊU CHUẨN QUỐC GIA
TCVN 14365:2025
ISO/IEC TR 24372:2021
CÔNG NGHỆ THÔNG
TIN - TRÍ TUỆ NHÂN TẠO - TỔNG QUAN VỀ CÁC PHƯƠNG PHÁP TÍNH TOÁN CHO CÁC HỆ THỐNG
TRÍ TUỆ NHÂN TẠO
Information technology -
Artificial intelligence (AI) - Overview
of computational approaches for Al systems
Lời nói đầu
TCVN 14365:2025 được xây dựng hoàn toàn tương đương với tiêu chuẩn quốc
tế ISO/IEC TR 24372:2021.
TCVN 14365:2025 do Viện Công nghiệp số và Chuyển đổi số quốc gia biên
soạn và đề nghị, Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia thẩm định, Bộ
Khoa học và Công nghệ công bố.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Các sản phẩm, hệ thống và giải pháp dựa trên công nghệ trí tuệ nhân tạo
(AI) đã trở nên phổ biến hơn trong những năm gần đây nhờ những cải tiến nhanh
chóng về phần mềm và phần cứng, giúp tăng cường hiệu năng tính toán, khả năng
lưu trữ dữ liệu và băng thông mạng. Mục đích của tiêu chuẩn này là xem xét các
phương pháp và cách tiếp cận tính toán trong các hệ thống AI. Trên cơ sở các
tiêu chuẩn TCVN 13902:2023 (ISO/IEC 22989), TCVN 14364:2025 (ISO/IEC 23053) và
ISO/IEC TR 24030, tiêu chuẩn này cung cấp mô tả các đặc điểm và cách tiếp cận
tính toán của hệ thống AI. Cách tiếp cận tính toán trong hệ thống AI được thể
hiện cho cả phương pháp học máy và không phải học máy. Để phản ánh các phương
pháp tiên tiến nhất được sử dụng trong AI, tiêu chuẩn này được cấu trúc như
sau:
- Điều 5 đưa ra mô tả chung về các cách tiếp cận tính toán trong các hệ
thống AI;
- Điều 6 đề cập đến các đặc điểm chính của các hệ thống AI;
- Điều 7 đưa ra phân loại chung về các cách tiếp cận tính toán, bao gồm
tiếp cận dựa trên tri thức và tiếp cận dựa trên dữ liệu;
- Điều 8 đề cập đến các thuật toán được lựa chọn sử dụng trong các hệ
thống AI, bao gồm cơ sở lý thuyết và các kỹ thuật cơ bản, các đặc điểm chính và
ứng dụng điển hình.
Bằng việc tổng quan các công nghệ khác nhau sử dụng trong hệ thống AI,
tiêu chuẩn này giúp các đối tượng sử dụng hiểu các đặc điểm và phương pháp tiếp
cận tính toán trong AI.
CÔNG NGHỆ THÔNG TIN - TRÍ TUỆ NHÂN TẠO - TỔNG
QUAN VỀ CÁC PHƯƠNG PHÁP TÍNH TOÁN CHO CÁC HỆ THỐNG
TRÍ TUỆ NHÂN TẠO
Information technology - Artificial
intelligence (AI) - Overview of computational approaches for Al systems
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Tiêu chuẩn này cung cấp cái nhìn tổng quan về các phương pháp tính toán
tiên tiến nhất cho các hệ thống AI bằng việc mô tả: a) các đặc điểm tính toán
chính của các hệ thống AI; b) các thuật toán và phương pháp tiếp cận chính sử dụng
trong các hệ thống AI, tham khảo các trường hợp sử dụng có trong ISO/IEC TR
24030.
2 Tài liệu viện dẫn
Các tài liệu viện dẫn sau đây rất cần thiết cho việc áp dụng tiêu chuẩn
này. Đối với các tài liệu viện dẫn ghi năm công bố thì áp dụng phiên bản được
nêu. Đối với các tài liệu viện dẫn không ghi năm công bố thì áp dụng phiên bản
mới nhất, bao gồm cả các sửa đổi (nếu có).
TCVN 13902:2023 (ISO/IEC 22989), Công nghệ thông tin - Trí tuệ nhân tạo
- Các khái niệm và thuật ngữ trí tuệ nhân tạo.
TCVN 14364:2025 (ISO/IEC 23053), Công nghệ thông tin - Trí tuệ nhân tạo
- Khung cho hệ thống trí tuệ nhân tạo sử dụng học máy (ML).
3 Thuật ngữ và định nghĩa
Trong tiêu chuẩn này sử dụng các thuật: ngữ, định nghĩa trong TCVN
13902:2023 (ISO/IEC 22989), TCVN 14364:2025 (ISO/IEC 23053) và các thuật ngữ, định
nghĩa sau.
3.1
Tìm kiếm heuristic (heuristic search)
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
[NGUỒN: ISO/IEC 2382:2015, 2123854 sửa đổi - xóa chú thích].
3.2
Logic mờ (fuzzy
logic)
Tập mờ logic
(fuzzy-set logic)
Logic phi truyền thống, trong đó các dữ kiện, quy tắc suy luận và định
lượng là các yếu tố chắc chắn cho trước.
[NGUỒN: ISO/IEC 2382:2015, 2123795 sửa đổi - xóa chú thích]
3.3
Bộ tạo sinh (generator)
Mạng nơ-ron tạo ra các mẫu thường được phân loại bởi bộ phân biệt.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
3.4
Bộ phân biệt (discriminator)
mạng nơ-ron phân loại các mẫu thường được tạo bởi một bộ tạo sinh
CHÚ THÍCH 1: Bộ phân biệt chủ yếu xuất hiện trong bối cảnh của các mạng
đối nghịch tạo sinh.
3.5
Mạng đối nghịch tạo sinh
(generative adversarial network GAN)
Kiến trúc mạng nơ-ron bao gồm một hoặc nhiều bộ tạo sinh và một hoặc
nhiều bộ phân biệt có sự cạnh tranh với nhau để cải thiện hiệu năng mô hình.
3.6
Nền tảng (platform)
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
[NGUỒN: ISO/IEC/IEEE 26513:2017, 3.30]
3.7
Tri giác (perceptron)
Mạng nơ-ron chứa một nơ-ron nhân tạo, có giá trị đầu ra nhị phân hoặc
liên tục được xác định bằng cách áp dụng một hàm đơn điệu cho tổ hợp tuyến tính
của các giá trị đầu vào với học sửa lỗi.
CHÚ THÍCH 1: Tri giác tạo thành hai vùng quyết định được tách biệt bằng
một siêu phẳng.
CHÚ THÍCH 2: Đối với các giá trị đầu vào nhị phân, tri giác không thể
thực hiện phép toán không tương đương (EXCLUSIVE
OR, XOR).
[NGUỒN: ISO/IEC 2382:2015, 2120656 sửa đổi - thuật ngữ được sửa đổi, bổ
sung "hoặc liên tục" vào định nghĩa và xóa Chú thích 3 và 4]
4 Chữ viết tắt
AI
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Trí tuệ nhân tạo
ASIC
Application-specific
integrated circuit
Mạch tích hợp được thiết kế cho các ứng dụng
cụ thể
BERT
Bidirectional
encoder representations from transformers
Biểu diễn mã hóa hai chiều từ bộ chuyển đổi
BPTT
Back
propagation through time
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
CNN
Convolutional
neural network
Mạng nơ-ron tích chập
CPU
Central processing unit
Bộ xử lý trung tâm (đơn vị xử lý trung tâm)
DAG
Directed
acyclic graph
Đồ thị không lặp vòng có hướng
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Deep
neural network
Mạng nơ-ron sâu
ERM
Empirical
risk minimization
Giảm thiểu rủi ro theo kinh nghiệm
FFNN
Feedforward
neural network
Mạng nơ-ron tiến
FPGA
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Mảng cổng lập trình dạng trường
GDM
Gradient
descent method
Phương pháp giảm độ dốc
GPU
Graphics
processing unit
Khối xử lý đồ họa
GPT
Generative
pre-training
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
loT
Internet
of things
Internet vạn vật
KG
Knowledge
graph
Đồ thị tri thức
KNN
K-nearest
neighbour
K-láng giềng gần nhất
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Long
short-term memory
Bộ nhớ ngắn-dài hạn
MFCC
Mel-frequency
cepstrum coefficient
Hệ số phổ tần số Mel
MLM
Masked
language model
Mô hình ngôn ngữ đánh dấu
NER
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Nhận dạng thực thể được đặt tên
NLP
Natural
language processing
Xử lý ngôn ngữ tự nhiên
NSP
Next
sentence prediction
Dự đoán câu tiếp theo
OWL
Web
ontology language
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
QA
Question
answering
Hệ thống trả lời câu hỏi
RDF
Resource
description framework
Khung mô tả tài nguyên
RNN
Recurrent
neural network
Mạng nơ-ron hồi quy
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Real-time
recurrent learning
Học hồi quy thời gian thực
SPARQL
SPARQL
protocol and RDF query language
Giao thức SPARQL và ngôn ngữ truy vấn RDF
SQL
Structured
query language
Ngôn ngữ truy vấn có cấu trúc
SRM
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Giảm thiểu rủi ro cấu trúc
SVM
Support
vector machine
Máy véc tơ hỗ trợ
URI
Uniform
resource identifier
Bộ định danh tài nguyên thống nhất
XML
Extensible
markup language
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
5 Tổng quan
Những tiến bộ trong phương pháp tính toán là một động lực quan trọng
trong quá trình trưởng thành của AI để có khả năng xử lý các
tác vụ khác nhau. Các phương pháp AI ban đầu chủ yếu dựa trên quy tắc và tri thức.
Gần đây các phương pháp dựa trên dữ liệu như mạng nơ-ron nhân tạo đã trở nên nổi
bật. Các phương pháp tính toán AI đang phát triển trong lĩnh vực công nghiệp và
cộng đồng học thuật và là mối quan tâm lớn trong các hệ thống AI.
Các phương pháp tính toán cho các hệ thống AI thường được phân loại dựa
trên các tiêu chí khác nhau.
Một trong số đó là theo mục đích của hệ thống AI. Phân loại dựa trên
mục đích phù hợp với các nghiên cứu về AI [1] và bao hàm cả một phân loại mẫu
cho các dạng phổ biến.
a) Các phương pháp tìm kiếm. Cách tiếp cận này có thể chia thành nhiều
loại tìm kiếm khác nhau: thuật toán tìm kiếm cổ điển, nâng cao, tìm kiếm đối nghịch
và tìm kiếm sự thỏa mãn ràng buộc.
1) Thuật toán tìm kiếm cổ điển giải quyết vấn đề bằng cách tìm kiếm
trên một vài không gian trạng thái và có thể được chia thành tìm kiếm đồng dạng
và tìm kiếm heuristic, áp dụng quy tắc thông thường để hướng dẫn và tăng
tốc độ tìm kiếm.
2) Thuật toán tìm kiếm nâng cao bao gồm những thuật toán tìm kiếm trong
không gian con cục bộ mang tính bất định, quan sát một phần không gian tìm kiếm
bằng các phiên bản trực tuyến của thuật toán tìm kiếm.
3) Thuật toán tìm kiếm đối nghịch tìm kiếm khi có mặt đối phương và thường
được sử dụng trong trò chơi. Chúng bao gồm các thuật toán đáng chú ý như cắt tỉa
alpha-beta và bao hàm các biến đổi ngẫu nhiên có thể quan sát được
từng phần.
4) Các bài toán thỏa mãn ràng buộc được giải quyết khi mỗi một biến
trong bài toán có giá trị thỏa mãn mọi ràng buộc.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
1) Logic, chẳng hạn như logic mệnh đề và logic
bậc nhất được sử dụng trong AI cổ điển để
biểu diễn tri thức. Giải pháp cho vấn đề trong các hệ thống tính toán như vậy
liên quan đến suy luận logic bằng cách sử dụng các thuật toán có lời giải.
2) Lập kế hoạch trong các hệ thống AI cổ điển liên quan đến việc
tìm kiếm trên một vài không gian trạng thái cũng như phần mở rộng của thuật
toán để xử lý lập kế hoạch trong thế giới thực. Các phương pháp để giải quyết sự
phức tạp của việc lập kế hoạch trong thế giới thực liên quan đến các ràng buộc
về thời gian và tài nguyên, lập kế hoạch theo thứ bậc trong đó các vấn đề được
giải quyết ở mức độ trừu tượng trước khi giải quyết ở mức chi tiết, hệ thống đa
tác nhân xử lý sự không chắc chắn và các tác từ khác trong hệ thống.
3) Biểu diễn tri thức là một loại cấu trúc dữ liệu để mô tả tri thức bằng
logic vị từ, tạo ra các quy tắc
"nếu-thì" và biểu diễn khung tri thức.
c) Tri thức và lập luận không chắc chắn. Các phương pháp tiếp cận trong
lĩnh vực này xử lý tri thức có khả năng bị thiếu, không chắc chắn hoặc không đầy
đủ. Chúng thường sử dụng xác suất hoặc logic
mở để biểu diễn các khái niệm.
Các hệ thống tính toán xác suất lập luận bằng cách sử dụng quy tắc Bayes, mạng
Bayes, mô hình Markov ẩn
(trong tình huống phụ thuộc vào thời gian) hoặc bộ lọc Kalman. Các phương pháp
tính toán khác được sử dụng để ra quyết định bao gồm phương pháp dựa trên lý
thuyết thực dụng và mạng quyết định.
d) Học trong lĩnh vực này giải quyết vấn đề làm cho máy tính học tương
tự như con người. Các phương pháp tiếp cận có thể nhóm thành: học từ
các mẫu, học dựa trên tri thức, học xác suất, học tăng cường, học sâu, GAN và
các phương pháp học khác.
1) Học từ các mẫu liên quan đến các phương pháp học có giám sát để một
mô hình học học máy từ dữ liệu được dán nhãn. Nó bao gồm các phương pháp như
cây quyết định, phương pháp hồi quy tuyến tính và logistic, mạng
nơ-ron nhân tạo, phương pháp phi tham số (ví dụ KNN), SVM và phương pháp học quần
thể (ví dụ: đóng gói, tăng tốc và biến thể của rừng ngẫu nhiên).
2) Các phương pháp học dựa trên tri thức bao gồm phương pháp tiếp cận dựa
trên logic, học dựa trên diễn giải và lập trình quy nạp logic.
3) Học xác suất liên quan đến các phương pháp tính toán như phương pháp
Bayes và phương pháp tối đa hóa kỳ vọng.
4) Học tăng cường liên quan đến các hệ thống tính toán nhận phản hồi,
đưa ra quyết định và thực hiện hành động trong môi trường để tối đa hóa phần
thưởng tổng thể. Các thuật toán đáng chú ý bao gồm học khác biệt theo thời gian
và Q-learning.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
6) GAN liên quan đến hai mạng có tính ganh đua với nhau, bộ tạo sinh và
bộ phân biệt. Bộ tạo sinh có nhiệm vụ tạo ra các mẫu và bộ phân biệt phân loại
từng mẫu là thật hay giả. Sau quá trình lặp, bộ tạo sinh được huấn luyện để có
thể sử dụng trong các ứng dụng như tạo ra hình ảnh nhân tạo.
7) Các phương pháp học khác bao gồm học không giám sát, liên quan đến
xác định bản chất cấu trúc của bộ dữ liệu; học bán giám sát, liên quan đến các
bộ dữ liệu được dán nhãn một phần; thuật toán học trực tuyến, tiếp tục học khi
chúng nhận được dữ liệu; học mạng: lưới và quan hệ, học xếp hạng và sở thích, học
đại diện, học chuyển giao và học tích cực.
e) Suy diễn. Cách tiếp cận này thể hiện ứng dụng của hệ thống AI trong
việc ước tính các tham số hoặc khía cạnh của (hoặc phân loại dữ liệu mới hoặc dữ
liệu chưa được quan sát) tham số đã học được, thu được hoặc xác định được. Suy
diễn Bayes là hoạt động suy diễn thống kê theo quan điểm Bayes. Suy
diễn xấp xỉ, chẳng hạn như suy diễn biến phân, giải quyết bài toán suy luận bằng
cách lấy giá trị xấp xỉ tốt nhất theo thống kê. Thuật toán Monte Carlo tạo các mẫu từ một phân phối đã biết nhưng khó được chuẩn hóa
để suy ra số liệu thống kê từ các mẫu đã tạo. Suy diễn nhân quả liên
quan đến suy diễn các kết nối nhân quả của dữ liệu được quan sát.
f) Giảm chiều. Các phương pháp tính toán này liên quan đến việc giảm số
lượng kích thước của dữ liệu bằng thuật toán giảm kích thước (trích xuất đặc
trưng), xác định số lượng thuộc tính mới nhỏ hơn để biểu diễn dữ liệu; hoặc lựa
chọn đặc trưng bằng cách chọn một tập hợp con có các thuộc tính phù hợp nhất.
g) Giao tiếp, nhận thức và hành động. Các phương pháp tính toán trong
các lĩnh vực này liên quan tới NLP (bao gồm các tác vụ như mô hình hóa ngôn ngữ,
phân loại văn bản, thu thập thông tin, trích xuất thông tin, phân tích cú pháp,
dịch máy và nhận dạng tiếng nói), thị giác máy tính (bao gồm xử lý hình ảnh, nhận
dạng đối tượng) và người máy .
Các loại hình và loại hình phụ nói trên không loại trừ lẫn nhau. Ví dụ
phương pháp học sâu [d)5)] có thể là học giám sát [d)1)], học không giám sát
[d)7)]; học tăng cường [d)4)] có thể đạt được thông qua học
sâu [d)5)]; phương pháp dịch máy hoặc nhận dạng đối tượng [g)] có thể là các
cách tiếp cận học [d)].
TCVN 13902:2023 (ISO/IEC 22989) chỉ định các khái niệm và thuật ngữ
liên quan đến các phương pháp tính toán AI. TCVN 14364:2025 (ISO/IEC 23053)
cung cấp khuôn khổ cho các hệ thống AI sử dụng học máy, bao gồm các thuật toán
học máy, thuật toán tối ưu hóa và phương pháp học máy. ISO/IEC TR 24030 thu thập
và phân tích các trường hợp sử dụng AI.
6 Đặc điểm chính của hệ thống AI
6.1 Khái quát chung
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Một số đặc điểm của hệ thống AI là phổ biến và được áp dụng rộng rãi
cho các trường hợp sử dụng khác nhau. Một số khác dành riêng cho một số ít trường
hợp sử dụng trong một lĩnh vực cụ thể. Nội dung điều này nêu danh mục các đặc
điểm của hệ thống AI, danh mục này chưa đầy đủ nhưng chứa các thuộc tính nội tại
của nhiều hệ thống AI. Mặc dù danh mục này không giới hạn ở một công nghệ cụ thể
nào (chẳng hạn như hệ thống AI được xây dựng bằng mạng nơ-ron), nhưng nó không
bao gồm mọi loại hình hệ thống AI động.
6.2 Đặc điểm chính của hệ thống AI
6.2.1 Có thể thích ứng
Một số hệ thống AI thích ứng với những thay đổi khác nhau của chính nó
và môi trường mà nó được triển khai. Sự thích ứng như vậy phụ thuộc vào nhiều yếu
tố, bao gồm dữ liệu bên trong, kiến trúc của hệ thống hoặc các quyết định kỹ
thuật khác được đưa ra khi triển khai.
Các hệ thống AI thường hoạt động trên môi trường điện toán đám mây phía
máy chủ với quyền truy cập vào điện toán hiệu năng cao và các tài nguyên khác.
Với sự phát triển của các hệ thống loT có khả năng tính toán đa năng trên GPU
và CPU đa lõi, hoặc xử lý AI trên bộ xử lý và bộ tăng tốc dành riêng cho ứng dụng,
khả năng thích ứng của hệ thống AI hiện mở rộng sang những cân nhắc về triển
khai loT, chẳng hạn như xử lý dữ liệu gần thời gian thực, tối ưu hóa để có độ
trễ thấp và hiệu suất tiết kiệm điện năng cao.
6.2.2
Tính xây dựng
Một số hệ thống AI xây dựng hoặc tạo các đầu ra tĩnh hoặc động dựa trên
tiêu chí đầu vào xác định. Điều này áp dụng cho các phương pháp bao gồm học
không giám sát và học tạo sinh.
6.2.3 Tính phối hợp
Một số hệ thống AI phối hợp giữa các tác nhân. Tác nhân cũng có thể là
hệ thống AI hiểu theo cách thức nào đó nhưng không cần thiết phải như vậy. Nhiều
ràng buộc đồng thời có thể chi phối hành vi của tác nhân, bao gồm cả cách thức
tĩnh hoặc động. Sự phối hợp có thể được thể hiện rõ ràng thông qua đàm phán trực
tiếp giữa các hệ thống hoặc ngầm định thông qua phản ứng trước những thay đổi của
môi trường.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Một số hệ thống AI thể hiện khả năng ra quyết định linh hoạt dựa trên
các,nguồn dữ liệu bên ngoài. Những nguồn dữ liệu này có thể đến từ các nền tảng
phần mềm khác, từ môi trường vật lý hoặc từ các nguồn khác.
6.2.5 Tính có thể giải thích được
Một số hệ thống AI cung cấp cơ chế giải thích điều gì dẫn đến quyết định
hoặc kết quả đầu ra. Đầu ra này có thể ở nhiều dạng, có thể rõ ràng hoặc ẩn dụ
theo thiết kế hệ thống AI. Hệ thống AI có thể giải thích được có thể đóng góp
hoặc bổ sung cho độ tin cậy, độ chính xác và tính hiệu quả. Khả năng giải thích
cũng có thể dùng để so sánh và tối ưu hóa hiệu năng của mô hình học máy bằng
cách tạo ra những hiểu biết sâu sắc về các yếu tố làm giảm hiệu năng. Khả năng
giải thích có thể là một biện pháp quan trọng chống lại hành vi lừa đảo trong hệ
thống AI.
6.2.6 Tính phân biệt hoặc tạo sinh
Một số hệ thống AI có tính phân biệt, được thiết kế để phân biệt khả năng
xuất hiện của kết quả đầu ra, chẳng hạn như bằng cách loại trừ các xác suất
tiên nghiệm. Ngoài ra một số hệ thống AI có tính tạo sinh, được thiết kế để thể
hiện các khía cạnh liên quan của dữ liệu, chẳng hạn như bằng đưa vào các xác suất
tiên nghiệm.
6.2.7 Tính tự suy
Một số hệ thống AI tự giám sát để thích ứng với môi trường hoặc cung cấp
thông tin chi tiết về chức năng của chúng, chẳng hạn như trong tình huống kiểm
tra. Việc tự giám sát này có thể là thích ứng, tình huống phụ thuộc hoặc cố định
và có thể có các hình thức khác tùy thuộc vào kiến trúc hệ thống.
Để hỗ trợ các hệ thống AI tự suy, chức năng giám sát hiệu năng sẽ thu
thập và báo cáo các số liệu hiệu suất liên quan đến tài nguyên tính toán của
CPU, GPU hoặc bộ xử lý dành riêng cho ứng dụng, bộ nhớ và việc sử dụng tài
nguyên hệ thống khác. Thông tin này có thể được sử dụng để định cấu hình tài
nguyên hệ thống AI, chẳng hạn như phân bổ bộ nhớ, cấu hình lõi và cân bằng tải
trên hệ thống phần cứng lai hoặc đa bộ xử lý, đồng thời cho phép hệ thống AI xử
lý song song và tăng tốc đào tạo hoặc suy diễn đối
với mô hình học máy.
6.2.8 Được huấn luyện hoặc có thể huấn luyện
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
6.2.9 Đáp ứng sự đa dạng của dữ liệu
Một số hệ thống AI xử lý lượng lớn dữ liệu không đồng nhất có cấu trúc
hoặc không có cấu trúc, tĩnh hoặc theo luồng. Hệ thống AI có thể nắm rõ các
thông tin quan trọng bên trong các bộ dữ liệu khác nhau giúp con người đưa ra
quyết định tốt và chính xác hơn.
6.3 Đặc điểm tính toán của hệ thống AI
6.3.1 Dựa trên dữ liệu hoặc dựa trên tri thức
Một đặc điểm của phương pháp tính toán AI dựa trên dữ liệu là mô hình
tính toán được đào tạo trên một hoặc nhiều nguồn dữ liệu để tiếp thu tri thức.
Những yếu tố cần xem xét khi sử dụng dữ liệu trong hệ thống AI bao gồm
việc thu thập, lưu trữ và truy cập.
a) Thu thập dữ liệu. Trường hợp sử dụng và tác vụ của ứng dụng AI thường
quy định loại dữ liệu cần thu thập để huấn luyện. Các tác vụ điển hình của hệ
thống AI được phản ánh trong TCVN 13902:2023 (ISO/IEC 22989) và TCVN 14364:2025
(ISO/IEC 23053) bao gồm phân loại, phân nhóm, phân cụm (khái niệm), hồi quy, dự
đoán, tối ưu hóa, NLP (văn bản hoặc tiếng nói), nhận thức và kiểm soát hệ thống
hoặc hướng dẫn hành vi. Tùy thuộc vào ứng dụng và tác vụ, nhà phát triển hệ thống
AI có thể thu thập dữ liệu đào tạo thông qua phần cứng thông minh (ví dụ: vòng
đeo tay thông minh, đồng hồ thông minh, điện thoại thông minh), cảm biến loT
(ví dụ: cảm biến trọng lực, cảm biến nhiệt độ, cảm biến độ ẩm), máy ảnh, micrô
hoặc các cảm biến khác.
b) Lưu trữ dữ liệu. Dữ liệu thu thập được lưu trữ ở định dạng và cấu
trúc phù hợp với tác vụ và ứng dụng của hệ thống AI. Các phương pháp tiếp cận
và điều kiện lưu trữ có thể khác nhau trong quá trình huấn luyện và đánh giá.
Ngoài ra lưu trữ phân tán và chia sẻ có thể là những yếu tố quan trọng cần xem
xét trong lưu trữ dữ liệu.
c) Truy cập dữ liệu. Việc truy cập và truy xuất nhanh chóng lượng lớn dữ
liệu thường là cần thiết trong các hệ thống AI. Kỹ thuật cân bằng tải thường được
sử dụng để giải quyết các thách thức về xử lý đồng thời dữ liệu và tình trạng
quá tải mạng.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
VÍ DỤ: Khi sử dụng KG, dữ liệu quy trình kinh doanh được tích lũy có thể
được chuyển đổi thành kinh nghiệm và tri thức của tổ chức. Chúng có thể được sử
dụng để giảm chi phí giao tiếp giữa các bộ phận khác nhau.
6.3.2 Dựa trên cơ sở
hạ tầng
Các hệ thống AI có thể phải đối mặt với những thách thức đồng thời xảy
ra trong việc tối ưu hóa thiết kế nền tảng điện toán, hiệu quả tính toán trong
môi trường không đồng nhất và phức tạp, các khung tính toán song song và có quy
lớn cũng như hiệu năng tính toán của các ứng dụng AI. Một giải pháp khả thi cho
những thách thức như vậy là sử dụng cơ sở hạ tầng mạnh mẽ để đáp ứng năng lực
tính toán.
Cơ sở hạ tầng như vậy có thể bao gồm cảm biến, máy chủ, mạng, bộ xử lý,
bộ lưu trữ và các yếu tố khác. Bộ xử lý dựa trên Silicon thường được sử dụng
cho cả việc huấn luyện và suy luận trong các phương pháp học máy. Khi xử lý lượng
lớn dữ liệu huấn luyện hoặc cấu trúc DNN phức tạp, quy trình huấn luyện thường
cần thực hiện các phép tính quy mô lớn trên hệ thống xử lý đa lõi hoặc cụm tăng
tốc.
So với huấn luyện, suy diễn sử dụng cường độ tính toán ít hơn, nhưng vẫn
có thể yêu cầu các phép tính ma trận với khối lượng tính toán đáng kể. Theo
truyền thống, việc huấn luyện và suy luận được triển khai trên các máy chủ đám mây, trong
khi các trường hợp sử dụng thường yêu cầu xử lý theo thời gian thực để có thể
triển khai chức năng suy diễn trên các thiết bị biên.
Tùy thuộc vào kiến trúc kỹ thuật, bộ xử lý dựa trên Silicon dành cho AI
bao gồm bộ xử lý đa năng (ví dụ: CPU, GPU và FPGA), bộ xử lý bán tùy
chỉnh dựa trên FPGA, bộ xử lý ASIC tùy chỉnh hoàn toàn và bộ xử lý
điện toán giống não bộ. Các khối xử lý thị giác, xử lý học sâu, xử lý mạng
nơ-ron và các bộ xử lý dành riêng cho ứng dụng khác cũng có thể phù hợp với các
kịch bản và chức năng AI khác nhau.
Các cảm biến với bộ vi xử lý để thu thập, xử lý và truyền thông tin có
thể được sử dụng để cung cấp các nhận biết đầy đủ về môi trường bên ngoài. Triển
khai và ứng dụng cảm biến quy mô lớn có thể hỗ trợ thu thập dữ liệu cho các ứng
dụng AI. Hơn nữa, các yêu cầu về cảm biến chuyên dụng là cần thiết
cho các ứng dụng nhà thông minh, y tế thông minh và bảo mật thông minh. Sự phát
triển của cảm biến thông minh cho các ứng dụng AI phụ thuộc vào các yếu tố quan
trọng như độ chính xác cao, độ tin cậy cao, khả năng thu nhỏ và tích hợp cũng
như độ nhạy cao.
6.3.3 Phụ thuộc vào thuật toán
TCVN 13902:2023 (ISO/IEC 22989) định nghĩa học máy là một quá trình tối
ưu hóa các tham số mô hình thông qua các kỹ thuật tính toán, sao cho hành vi của
mô hình phản ánh dữ liệu hoặc kinh nghiệm. Phương pháp học máy tìm các kiểu
cách từ dữ liệu hoặc mẫu được quan sát và sử dụng các kiểu cách này để đưa ra dự
đoán về dữ liệu đầu vào mà không cần lập trình tường minh. Các phương pháp học máy phần nào có
những sự khác nhau về trong phương pháp học và khung tính toán.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
a) Từ góc độ hàm mất mát, các phương pháp học máy
có thể được phân loại là tuyến tính hoặc phi tuyến. Phương pháp hiệu quả phải
có sự rủi ro hoặc sai sót dự kiến nhỏ. Phương pháp như vậy sử dụng hàm mất mát
để định lượng sự khác biệt giữa dữ liệu dự đoán và dữ liệu thực Các hàm mất mát
phổ biến bao gồm: hàm mất mát 0-1, hàm mất mát bình phương, hàm mất mát entropy chéo,
hàm mất mát hinge, hàm mất mát sai số trung bình tuyệt đối, hàm mất mát Huber, hàm
mất mát log-cosh và hàm mất mát phân vị.
Ngoài ra, các danh mục rộng hơn khác của hàm mất mát bao gồm hàm xếp hạng,
hàm dựa trên phân phối, hàm phân loại và hồi quy.
b) Tiêu chí học có giám sát bao gồm ERM và SRM. ERM làm giảm mất mát
trung bình trên tập dữ liệu huấn luyện. SRM tránh các vấn đề về phù hợp quá mức
bằng cách chính tắc hóa tham số dựa trên ERM để hạn chế bớt khả năng của mô
hình. Học không giám sát có nhiều tiêu chí khác nhau. Ví dụ như ước lượng khả
năng cực đại thường được sử dụng trong ước lượng mật độ, giảm thiểu lỗi tái cấu
trúc trong học thuộc tính không giám sát.
c) Tác vụ tối ưu hóa là tìm ra mô hình học máy tối ưu. Nó bao gồm
tối ưu hóa tham số và tối ưu hóa siêu tham số. Các thuật toán tối ưu hóa phổ biến
bao gồm phương pháp giảm độ dốc, dừng sớm, giảm độ dốc hàng loạt, giảm độ dốc
ngẫu nhiên, giảm độ dốc theo từng lô nhỏ dữ liệu (minibatch), phương pháp giảm
độ dốc sử dụng hệ số mô-men, lan truyền trung bình quân phương và tối ưu hóa
mô-men thích ứng.
Để xử lý dữ liệu lớn và suy luận tri thức phức tạp, một nhiệm vụ tính
toán lớn thường được chia thành các tác vụ tính toán nhỏ hơn. Các khung tính
toán phân tán như vậy dựa trên điện toán đám mây, điện toán biên và công nghệ dữ
liệu lớn. Khung học sâu là khung tính toán cơ bản dành cho học sâu, thường bao
gồm các kiến trúc mạng nơ-ron và giao diện học sâu ổn định để hỗ trợ học phân
tán. Một số khung có thể chạy trên nhiều nền tảng như nền tảng điện toán đám
mây và thiết bị di động.
6.3.4 Dựa vào học đa bước hoặc học từ đầu cuối đến đầu
cuối
Trong học đa bước, một bài toán được chia thành nhiều giai đoạn để giải
quyết từng bước. Ngược lại, học từ đầu cuối đến đầu cuối tìm cách giải quyết
các bài toán sao cho kết quả được lấy trực tiếp từ dữ liệu đầu vào.
Quá trình học máy thường bao gồm một số mô-đun độc lập. Ví dụ một ứng dụng
NLP điển hình bao gồm phân đoạn, gắn thẻ từ loại, phân tích cú pháp, phân tích
ngữ nghĩa và các bước độc lập khác. Mỗi bước là một tác vụ cụ thể, kết quả của
mỗi bước sẽ tác động đến bước tiếp theo và có khả năng ảnh hưởng đến toàn bộ
quá trình huấn luyện.
Trong học từ đầu cuối đến đầu cuối, chẳng hạn như thực hiện với học
sâu, kết quả dự đoán sẽ thu được từ đầu vào đến đầu ra. Thông thường lỗi được
truyền qua quá trình lan truyền ngược trong mỗi lớp của mạng. Việc biểu diễn ở
mỗi lớp được điều chỉnh theo các lỗi cho đến khi mạng hội tụ hoặc đạt được hiệu
năng mong muốn. Trong các quy trình từ đầu đến cuối như vậy, việc ghi nhãn dữ
liệu trước mỗi tác vụ học độc lập không còn cần thiết nữa.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

Hình 1 - Nhận dạng tiếng nói dựa trên học đa
bước
Đối với nhận dạng tiếng nói dựa trên học từ đầu đến cuối như được thể
hiện trong Hình 2, toàn bộ quá trình từ trích xuất đặc trưng đến biểu diễn âm vị
có thể được hoàn thành trực tiếp bằng một mạng nơ - ron
tiến DNN. Với đủ dữ liệu huấn luyện được gán nhãn cho trước, bao gồm các cặp dữ
liệu giọng nói và dữ liệu văn bản ở đầu vào quá trình nhận dạng; nhận dạng tiếng
nói dựa trên học từ đầu đến cuối có thể cho hiệu năng tốt.

Hình 2 - Nhận dạng tiếng nói dựa trên học từ đầu
đến cuối
7 Các loại hình phương pháp tính toán AI
7.1 Tổng quan
Các phương pháp tính toán trong AI có thể được phân rã thành hai loại
chính là dựa trên tri thức và dựa trên dữ liệu.
Phương pháp tính toán dựa trên tri thức trong AI chủ yếu bao gồm một loạt
các phương pháp dựa trên quy tắc. Lấy hệ thống chuyên gia làm ví dụ, việc học,
suy luận và ra quyết định cho một trường hợp sử dụng được thực hiện thông qua tập
các đối tượng được khái quát hóa và các quy tắc logic "nếu - thì".
Một cơ sở tri thức lớn lưu trữ tri thức phong phú từ các chuyên gia trong từng
lĩnh vực được sử dụng để hỗ trợ hệ chuyên gia.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Hình 3 thể hiện sự phân rã của các phương pháp tính toán
trong AI.

Hình 3 - Các phương pháp tính toán AI
7.2 Phương pháp dựa trên tri thức
Các phương pháp tiếp cận dựa trên tri thức bắt chước các chức năng thuộc
về trí thông minh con người như các quy tắc biểu trưng và quy tắc logic. Nhận
thức của con người được xem như một quá trình hoạt động mang tính biểu trưng.
Cách tiếp cận này dựa vào hai giả định cơ bản:
a) thông tin được biểu diễn dưới dạng các biểu tượng;
b) các biểu tượng được thao tác bởi các quy tắc tường minh (chẳng hạn
như các phép toán logic).
7.3 Phương pháp dựa trên dữ liệu
Phương pháp này dựa vào dữ liệu có trong mô hình tính toán AI. Có nhiều
phương pháp học máy liên quan đến các loại dữ liệu khác nhau như mô tả trong
TCVN 14364:2025 (ISO/IEC 23053). Các phương pháp tiếp cận này bao gồm: học có
giám sát, học không giám sát, học bán giám sát, học tăng cường, học kết hợp,
suy diễn thống kê, học đa tác vụ, học tích cực, học chuyển giao, học quần thể
và học trực tuyến.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- Học có giám sát: Các phương pháp học có giám sát tạo lập các mô hình
học máy bằng cách sử dụng dữ liệu huấn luyện được gán nhãn. Các mô hình học máy
sau đó dự đoán phân loại hoặc ánh xạ dữ liệu đầu vào. Khi nhãn dữ liệu huấn luyện
ngày càng phong phú và chính xác hơn thì các dự đoán của mô hình học máy và các
phân tích thu được từ dự đoán cũng trở lên hữu ích và tin cậy hơn. Các thuật
toán điển hình cho học có giám sát bao gồm hồi quy và phân loại. Học có giám
sát được sử dụng trong NLP, truy xuất thông tin, khai thác văn bản, nhận dạng
chữ viết tay, phát hiện thư rác và các lĩnh vực khác.
- Học không giám sát: Các phương pháp học không giám sát ánh xạ đầu vào
đến đầu ra bằng cách sử dụng dữ liệu huấn luyện không được gán nhãn. Học không giám
sát không cần dữ liệu huấn luyện được gán nhãn, điều này có thể giảm yêu cầu
lưu trữ và tính toán dữ liệu, cải thiện tốc độ thuật toán và tránh các lỗi phân
loại do dữ liệu huấn luyện bị gán sai nhãn. Các thuật toán học máy không giám sát điền hình như ước lượng mật độ
đơn lớp, giảm chiều dữ liệu đơn hướng cho thiết kế đặc tính và phân cụm. Học
không giám sát được sử dụng trong dự báo kinh tế phát hiện bất thường, khai
thác dữ liệu, xử lý hình ảnh, nhận dạng mẫu và các lĩnh vực khác.
- Học bán giám sát: Các phương pháp học bán giám sát sử dụng cả dữ liệu
được gắn nhãn và dữ liệu không được gán nhãn. Bằng cách huấn luyện trên một lượng
nhỏ dữ liệu được gán nhãn và một lượng lớn dữ liệu không được gán nhãn, các thuật
toán này có thể tối đa hóa tính hữu ích của lượng nhỏ dữ liệu huấn luyện được
gán nhãn. Các thuật toán học bán giám sát thông thường bao gồm tự huấn luyện và
đồng huấn luyện.
- Học tăng cường: Các phương pháp học tăng cường liên quan đến một tác
tử tương tác với môi trường của nó để đạt được mục tiêu đã định trước. Phương
pháp học này ánh xạ từ môi trường đến hành vi để tối đa hóa giá trị chức năng của
tín hiệu tăng cường. Trong những trường hợp mà môi trường bên ngoài cung cấp ít
thông tin, các thuật toán học tăng cường dựa vào kinh nghiệm của chính chúng để
học. Học tăng cường đã được áp dụng
thành công
trong điều khiển công nghiệp, chơi cờ vua, điều khiển robot, lái
xe tự động và các lĩnh vực khác.
- Học chuyển giao: Các phương pháp học chuyển giao sử dụng tri thức đã
được lưu trữ, trừu tượng từ dữ liệu trong một lĩnh vực ứng dụng và áp dụng nó
vào các tác vụ trong các lĩnh vực ứng dụng khác. Học chuyển giao thường được sử
dụng khi không có đủ dữ liệu trong một lĩnh vực ứng dụng cụ thể để huấn
luyện mô hình một cách đáng tin cậy. Học chuyển giao phù hợp cho các ứng dụng
có số biến hữu hạn, chẳng hạn như phân loại văn bản, mạng cảm biến cho các tác
vụ định vị và phân loại hình ảnh.
Học máy bắt đầu từ quan sát hoặc dữ liệu huấn luyện, cố gắng tìm ra các
mẫu vượt ra ngoài những mẫu có được từ phân tích cơ bản để thực hiện các dự
đoán chính xác. Các thuật toán học máy bao gồm hồi quy logistic, Markov ẩn, SVM, KNN, Adaboost, mạng Bayes, cây
quyết định và nhiều thuật toán khác. Kết quả từ các phương pháp học máy thường
có thể giải thích được xét theo hành vi của các thuật toán và mô hình học máy.
Học máy cung cấp một khung cho việc huấn luyện với sự hữu hạn
về dữ liệu khả dụng và có thể sử dụng cho phân tích hồi quy, phân loại mẫu, ước
lượng mật độ xác suất và các tác vụ khác. Thống kê là cơ sở lý thuyết quan trọng
của học máy, được sử dụng rộng rãi trong các lĩnh vực như xử lý ngôn ngữ tự
nhiên (NLP), nhận dạng tiếng nói, nhận dạng hình ảnh, truy xuất thông tin và
tin sinh học.
Mạng nơ-ron là mạng của các lớp nơ-ron kết nối bằng các liên kết có trọng
số có thể điều chỉnh. Mạng nơ-ron nhận dữ liệu đầu vào và tạo ra đầu ra thường
là các dự đoán. Mạng nơ-ron với một số lớp ẩn được gọi là học sâu. Học sâu có
thể coi là một phương pháp kết hợp cả biểu diễn đặc trưng và học. Học sâu thường
kém khả năng diễn giải hơn so với học máy truyền thống. Các phương pháp học sâu
điển hình bao gồm mạng tin cậy sâu, mạng nơ-ron tích chập (CNN), máy Boltzmann hạn
chế và mạng nơ- ron hồi quy (RNN). CNN thường được sử dụng cho dữ liệu phân bố
không gian, RNN thường được sử dụng cho dữ liệu phân bố thời gian dựa trên việc
sử dụng bộ nhớ và phản hồi từ các lớp trước đó..
8 Các thuật toán và phương pháp được chọn sử dụng
trong các hệ thống AI
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
ISO/IEC TR 24030 cung cấp khuôn mẫu để thu thập thông tin chi tiết về
các trường hợp sử dụng AI. Khuôn mẫu bao gồm các mô tả về các tính năng của trường
hợp sử dụng như các tác vụ, phương pháp, nền tảng, cấu trúc liên kết, thuật ngữ
và khái niệm được sử dụng. Học sâu, học máy và mạng lưới thần kinh là những
phương pháp tính toán được đề cập thường xuyên nhất trong các trường hợp sử dụng
AI được mô tả trong ISO/IEC TR 24030.
Trong tiêu chuẩn này, các thuật toán và phương pháp tiếp cận tiên tiến
được chọn sử dụng trong hệ thống AI được mô tả ở góc độ lý thuyết và kỹ thuật,
các đặc điểm chính và các ứng dụng điển hình.
8.2 Kỹ thuật và biểu diễn tri thức
8.2.1 Tổng quan
Kỹ thuật và biểu diễn tri thức là một lĩnh vực rộng trong Trí tuệ nhân
tạo (AI) liên quan đến việc biểu diễn tri thức dưới dạng có thể xử lý bởi máy
móc và sử dụng, quy trình máy móc để thực thi các tác vụ liên quan đến tri thức,
đặc biệt là lập luận trong tất cả các hình thức của nó.
Có nhiều quyết định mang tính lý luận và thực tiễn liên quan đến cách
tri thức được biểu diễn để máy xử lý, nhằm đảm bảo sự chính xác và hữu ích cho
chủ đích của con người. Do đó, thiết kế và kỹ thuật là những yếu tố cần thiết của
quá trình này. Mọi dự án dựa trên biểu diễn tri thức và lập luận đều hướng đến
tuân thủ theo một vài mô hình tri thức nào đó một cách tường minh hoặc không tường
minh. Lựa chọn mô hình tri thức là yếu tố quan trọng để xác định liệu mục tiêu
dự án có thể đạt được hay không. Lĩnh vực này đang được phát triển, đặc biệt là
liên quan đến nội hàm kỹ thuật của các lựa chọn.
8.2.2 Bản thể luận
8.2.2.1 Lý thuyết và kỹ thuật
"Bản thể luận" là thuật ngữ xuất phát từ triết học đề cập đến
đến sự tồn tại. Theo một nghĩa nào đó, nó có liên quan đến các cấu trúc tri thức
được gọi là bản thể học; nói theo triết học, nó mô tả thế giới quan đề cập về
phát biểu những gì tồn tại. Tuy nhiên, "bản thể luận" với tư cách là
một cấu trúc tri thức về cơ bản là một mô hình tri thức về bất kỳ lĩnh vực nào
mà mọi người muốn khai báo tri thức. Trong bối cảnh công nghệ thông tin, "bản
thể học" thường có nghĩa là một cấu trúc tri thức tường minh, có mô hình logic hình
thức và hỗ trợ suy luận. Loại bản thể luận phổ biến nhất theo cấu trúc tri thức
được triển khai bằng công nghệ ngăn xếp web
ngữ nghĩa của W3C dựa
trên RDF [6] và OWL[7].
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Là một phương pháp cơ bản của AI nhận thức, bản thể luận quan niệm tri
thức tập trung vào phân loại khái niệm về các thực thể và mối quan hệ giữa các
khái niệm khác nhau. Nó cung cấp ngôn ngữ hình thức, định nghĩa chung, quan hệ logic và
mô hình khái niệm ổn định cho tri thức được sử dụng trong AI. Nó hoạt động như
một sơ đồ mô tả tri thức cho phép các hệ thống Al truy vấn, tái sử dụng và chia
sẻ tri thức.
Một mô hình bản thể luận bao gồm các khái niệm được định nghĩa cụ thể
liên quan đến các phần tử cấu thành, chẳng hạn
như cấu trúc, thực thể, thuộc tính, chức năng và tiên đề. Các ngôn ngữ mô tả
hình thức như XML, RDF(s) và OWL được sử dụng trong kỹ thuật bản thể luận.
Bản thể luận là một loại hình trừu tượng, mô hình nhận thức cho thế giới
thực. Trong bản thể luận, các định nghĩa, thuộc tính và mối quan hệ giữa các đối
tượng được minh họa một cách cụ thể. Điều này cho phép tri thức tổng quát hoặc
tri thức chuyên ngành dễ dàng được thu thập và xử lý bởi máy móc.
8.2.2.3 Ứng dụng điển hình
Bản thể luận được sử dụng rộng rãi trong kỹ thuật tri thức, chẳng hạn
như trong các KG, tìm kiếm thông tin và các tác vụ QA.
8.2.3 Đồ thị tri thức
8.2.3.1 Lý thuyết và kỹ thuật
Một KG có thể được coi là một cấu trúc tri thức bao gồm các nút và liên
kết. Từ "đồ thị" đề cập đến khái niệm đồ thị trong toán học.
Các nút trong đồ thị đại diện cho các vật (các thực thể) và các liên kết đại diện
cho mối quan hệ giữa các vật. Nó được xem là một cấu trúc tri thức vì sự kết hợp,
chẳng hạn như như thực thể 1 => quan hệ R => thực thể 2 được coi
là một sự khẳng định rằng thực thể 1 có mối quan hệ R với thực thể 2.
VÍ DỤ: Anne =>
motherOf => David khẳng định rằng Anne là mẹ của David. Mối
quan hệ này có hướng, Anne là mẹ của David
nhưng David không
phải là mẹ của Anne.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
8.2.3.2 Đặc điểm chính
Nói chung, một KG đơn giản chỉ là một loại web ngữ
nghĩa [8]. Đó là một cấu trúc dữ liệu dựa trên đồ thị bao gồm các nút và cạnh.
Toàn bộ đồ thị biểu thị các thực thể, khái niệm và mối quan hệ ngữ nghĩa khác
nhau.
So với các phương pháp biểu diễn tri thức thông thường (ví dụ: bản thể
luận hoặc web ngữ nghĩa), KG có các đặc điểm sau:
- Bao hàm đầy đủ các thực thể và khái niệm.
- Quan hệ ngữ nghĩa đa dạng.
- Cấu trúc dễ sử dụng.
- Chất lượng biểu diễn tri thức nói chung là cao.
KG đã trở thành phương pháp quan trọng nhất trong kỹ thuật xử lý tri thức
của các hệ thống AI. Quá trình xây dựng một KG có thể làm cho máy tính có khả
năng nhận thức.
Quá trình tính toán dựa trên KG thông thường bao gồm trích xuất tri thức,
biểu diễn tri thức, lưu trữ tri thức, mô hình hóa tri thức, tổng hợp tri thức
và tính toán tri thức.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
b) Biểu diễn tri thức: biểu diễn tri thức là một loại cấu trúc dữ liệu
để mô tả tri thức bằng logic phức, phát sinh "nếu-thì" và biểu diễn
khung.
c) Lưu trữ tri thức: các đối tượng của lưu trữ tri thức bao gồm tri thức
thuộc tính cơ bản, tri thức quan hệ, tri thức sự kiện, tri thức thời gian và
tri thức tài nguyên. Các phương pháp lưu trữ phổ biến bao gồm lưu trữ dựa trên
bảng và lưu trữ dựa trên đồ thị. Cụ thể, lưu trữ tri thức dựa trên đồ thị bao gồm
đồ thị thuộc tính, RDF và phương pháp siêu đồ thị.
d) Mô hình hóa tri thức: mục tiêu của mô hình hóa tri thức là xây dựng
một mô hình dữ liệu cho KG, điều này rất quan trọng cho việc xây dựng toàn bộ
KG. Có các phương pháp mô hình hóa là từ trên xuống và từ dưới lên. Phương pháp
từ trên xuống xác định lược đồ dữ liệu hoặc bản thể luận, sau đó chi tiết hóa dần
để hình thành một phân loại có cấu trúc phân cấp tốt. Phương pháp từ dưới lên tổng
hợp và tổ chức các thực thể hiện có để hình thành các khái niệm cơ bản, sau đó
dần trừu tượng hóa chúng để hình thành các khái niệm cấp cao hơn.
e) Tổng hợp tri thức: tổng hợp tri thức thường trích xuất tri thức ở mức
dữ liệu và mức khái niệm. Tổng hợp ở mức dữ liệu tập trung vào liên kết thực thể
và phân tích thực thể. Tổng hợp ở mức khái niệm tập trung vào điều chỉnh các bản
thể luận và tổng hợp đa ngôn ngữ.
f) Tính toán tri thức: tính toán tri thức nhằm mục đích thu được tri thức
ẩn dựa trên thông tin cung cấp bởi KG. Các ví dụ bao gồm:
1) sử dụng các phương pháp suy luận dựa trên bản thể luận hoặc quy tắc
để trừu tượng hóa khái niệm và thực thể;
2) sử dụng các phương pháp liên kết thực thể để dự đoán mối quan hệ ẩn giữa
các thực thể;
3) sử dụng các phương pháp tính toán xã hội để tổ chức các thực thể vào
KG và cung cấp các đường dẫn liên quan đến tri thức.
8.2.3.3 Các ứng dụng điển hình
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
8.2.4 Web ngữ
nghĩa
8.2.4.1 Lý thuyết và kỹ thuật
Web ngữ nghĩa là một mạng web tri
thức toàn cầu. Nó là đồ thị tri thức sử dụng công nghệ ngăn xếp web ngữ
nghĩa dựa trên RDF. Mọi thực thể và mối quan hệ trong web ngữ
nghĩa đều có URI, do đó chúng có thể được định vị bất cứ nơi nào trên mạng (mặc
dù tri thức mà các tổ chức tạo ra bằng cách sử dụng công nghệ web ngữ
nghĩa không nhất thiết phải công khai).
Vì công nghệ web ngữ nghĩa dựa trên đồ thị, đơn vị cơ bản của
tri thức là một bộ ba RDF: thực thể => mối quan hệ => thực thể. URI
và tổ hợp bộ ba tạo thành đồ thị các nút URI và liên kết: RDF, RDF-schema và OWL.
Ngăn xếp công nghệ web ngữ nghĩa là tiêu chuẩn của W3C và
là tiêu chuẩn mở. Ngăn xếp bao gồm SPARQL [9], một ngôn ngữ truy vấn tương tự
SQL [10] và ngôn ngữ ràng buộc hình dạng [11], một ngôn ngữ dựa trên ý tưởng về
hình dạng được sử dụng để đảm bảo rằng đồ thị tri thức tuân thủ các ràng buộc
mong muốn. Giống như web, web ngữ nghĩa có tính phi tập trung, có khả năng mở
rộng và linh hoạt. Tuy nhiên, khác với web,
nó được thiết kế để được xử lý trực
tiếp bởi máy tính thay vì được dùng bởi con người.
8.2.4.2 Đặc điểm chính
Web ngữ nghĩa dựa trên các ngữ nghĩa hình thức được
gọi là "logic mô tả", là một dạng suy diễn logic. Các
khẳng định có thể có các đặc tính logic và mối quan hệ giữa các thực thể có thể là bắc
cầu hoặc phản xạ để hỗ trợ suy diễn (ví dụ: Sarah
cao hơn Anne, Anne
cao hơn David, do đó Sarah cao hơn David).
Có nhiều công cụ suy diễn khác
nhau để thực hiện các chức năng suy diễn.
Ý tưởng chính để xây dựng RDF là các lớp, lớp con
và các thể hiện. RDF có hai loại thuộc tính (mối quan hệ): những
thuộc tính liên quan giữa các lớp và những thuộc tính liên quan giữa lớp và chữ.
VÍ DỤ: "cha mẹ" là một lớp con của lớp "con người".
"Anne" là một thể hiện của "cha mẹ". Từ đó suy diễn có thể
Anne là con người. Đây là một hình thức suy diễn tam đoạn luận, được hỗ trợ
thông qua kế thừa lớp.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- Cú pháp dựa trên XML có mức độ sử dụng khác nhau (thường là .ttl hoặc
Turtle được ưa chuộng bởi các chuyên gia);
- Cú pháp dựa trên logic hình thức giống như công thức logic;
- Cú pháp một phần bằng ngôn ngữ tự nhiên (cú pháp Manchester) để cải thiện khả năng đọc được của con người.
- Cú pháp mà hoàn toàn có thể đọc như ngôn ngữ tự nhiên (được định
nghĩa đầy đủ nhưng chưa được triển khai bằng các công cụ, chẳng hạn như cú pháp
Sydney), giúp các chuyên gia chuyên ngành thực hiện kiểm tra
tri thức mà không cần hiểu về cú pháp mang tính kỹ thuật.
8.2.4.3 Các ứng dụng điển hình
Các ứng dụng thông thường của web
ngữ nghĩa bao gồm phát triển năng
lực tìm kiếm nâng cao và mô hình hóa tăng cường trong các ứng dụng chăm sóc sức
khỏe.
8.3 Logic và suy luận
8.3.1 Khái quát chung
Logic và suy luận liên quan đến việc sử dụng tri thức hiện có để tạo ra
tri thức mới và đảm bảo rằng nó đã được thực hiện đúng và
đáng tin cậy. Về chính thống nó thuộc về lĩnh vực nhận thức luận
trong nghiên cứu triết học, nhưng cũng tồn tại nhiều phương pháp không chính tắc
để áp dụng nó trong các lĩnh vực khác. Điều này thực sự quan trọng đối với toán
học, khoa học và bất kỳ lĩnh vực nào trong cuộc sống tính đúng đắn của mọi vấn
đề. AI đưa ra triển vọng sử dụng máy tính để tự động hóa quá trình quá trình gia công để tạo ra tri thức và kiểm tra tính
đúng đắn. Thúc đẩy khả năng của máy tính về logic
và suy luận hiện đang được phát
triển và cần được quan tâm hơn nữa.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Suy luận quy nạp liên quan đến khái niệm tổng quát hóa từ các ví dụ. Nó
thường sử dụng trong các tình huống hàng ngày. Nó không được sử dụng trong toán
học thuần túy là lĩnh vực mà suy luận diễn giải duy nhất được sử dụng. Nói một
cách khái quát, nó bắt đầu bằng các mẫu của một vài loại quan sát và sử dụng
chúng để tạo ra một lý thuyết. Khi có đủ bằng chứng hỗ trợ, lý thuyết đưa ra từ
đó trở thành quy tắc được chấp nhận rộng rãi.
Ví dụ, các nhà khoa học đã nghiên cứu nhiều hình thái sống và tất cả đều
được phát hiện có ADN. Các nhà khoa học từ đó có thể tổng quát đưa ra lý thuyết
rằng "tất cả các hình thái sống đều có ADN". Mặc dù lý thuyết này mô
tả chính xác tất cả các hình thái sống nghiên cứu đến nay, nhưng chúng ta không
biết rằng liệu nó đúng đối với tất cả các hình thái sống tại mọi thời
gian và địa điểm không, về mặt logic vẫn có khả năng rằng một ngày nào đó, chúng ta
sẽ nghiên cứu một hình thái sống và phát hiện rằng nó không có ADN.
Đây được gọi là một sự kiện "thiên nga đen". Trước khi người
châu Âu thuộc địa hóa úc, các nhà tự nhiên học châu Âu chỉ gặp thiên nga trắng,
do đó họ tin rằng tất cả các con thiên nga đều màu trắng. Tuy nhiên ở phía Tây
nước úc có các con thiên nga đen và khi các nhà tự nhiên học thuộc châu Âu phát
hiện điều này, lý thuyết của họ đã bị chứng minh là sai và họ buộc phải sửa lại.
Có những trường hợp mà thuyết quy nạp trở thành một sự thật, nhưng chỉ
khi nó liên quan đến điều gì đó có thể được chứng minh bằng thực nghiệm: chúng
giới hạn trong thời gian và không gian thay vì được tổng quát hóa. Ví dụ bằng
nhiều quan sát để có được thuyết cho rằng trái đất là hình cầu. Trải qua thời
gian vài trăm năm, cuối cùng nó đã được chứng minh một cách thuyết phục thông
qua phương pháp thực nghiệm và đã được chấp nhận là một sự thật (đối với những
người hiểu biết về khoa học cơ bản). Quỹ đạo của trái đất có tâm là mặt trời
cũng là một ví dụ khác.
Cũng có thuyết quy nạp được chấp nhận như là một định luật khoa học. Đó
là sự khái quát hóa trừu tượng sẽ không được chứng minh bằng thực nghiệm ở mọi
thời gian và địa điểm, nhưng lại tin rằng nó đúng ở mọi nơi và mọi lúc. Một ví
dụ là nguyên lý bảo toàn khối lượng. Mọi người tin rằng đây là một nguyên lý cơ
bản của vật lý không thể phá vỡ, mặc dù về mặt kỹ thuật nó vẫn dựa trên suy luận
quy nạp.
8.3.3 Suy luận diễn giải
Suy luận diễn giải là hình thức suy luận bắt đầu với một tập các mệnh đề
hoặc khẳng định được biết đến như "tiền đề" hoặc "giả thiết"
và chỉ sử dụng các phương pháp suy luận đảm bảo rằng nếu các tiền đề đúng, bất
kỳ kết luận nào được đưa ra cũng đúng. Nó cũng cần các thuật ngữ rõ nghĩa, ví dụ
như rõ về đối tượng mà thuật ngữ đề cập đến. Mệnh đề là một tuyên bố khẳng định
điều gì đó; nó có thể được đánh giá là đúng hoặc sai.
Xét về mặt lịch sử, các kiểu suy luận diễn giải đã được biết đến từ thời
Aristotle cổ đại. Một số hình thức suy luận diễn giải được công nhận từ thời cổ đại.
a) Logic mệnh đề.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
tiền đề 1: nếu P thì Q
tiền đề 2: P
kết luận: Q (trong đó P và Q là các khẳng định).
2) Dạng Modus Tollens (luật phủ định ngược), suy luận theo
hướng ngược lại so với modus ponens:
Tiền đề 1: Nếu P thì Q
Tiền đề 2: Không Q
Kết luận: Không P.
3) Tính chất bắc cầu:
Tiền đề 1: Nếu P thì Q
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Kết luận: Nếu P thì R.
Các hình thức liên quan đến logic
mệnh đề là các hình thức đơn giản
nhất của logic để xử lý các mệnh đề. Nó sử dụng các liên kết logic (và,
hoặc, phủ định) để kết hợp các mệnh đề thành các dạng phức. Bảng chân lý
dùng để đánh giá các dạng phức đó đúng hay sai dựa trên sự đúng hay sai của các
mệnh đề thành phần. Ví dụ nếu P đúng và Q sai, thì (P và Q) là sai, nhưng (P hoặc
Q) là đúng, phủ định của P là sai và phủ định của Q là đúng.
Có các hình thức logic phức tạp hơn sử dụng các phương pháp suy diễn
tương tự. Chúng sử dụng các liên kết logic
giống như logic mệnh
đề (và, hoặc, phủ định).
b) Logic bậc nhất (First Order
Logic):
Logic bậc nhất còn được gọi là logic
vị từ hoặc logic lượng
từ. Sự khác biệt chính giữa logic bậc nhất và logic mệnh đề là logic hạng
nhất sử dụng biến và phép lượng hóa. Phép lượng hóa được sử dụng là "mọi"
và "tồn tại". Trong khi logic mệnh đề chỉ đưa ra các khẳng định như "Socrates là một người".Trong logic bậc nhất, ta có thể nói "tồn tại một X
sao cho X là Socrates và X là một người". Điều này cho phép suy
luận theo các dạng diễn giải mới. Cũng có các hình thức logic cao
hơn để bổ sung tính biểu đạt nhưng mất đi khả năng suy luận.
c) Các hình thức logic khác hỗ trợ phương pháp suy luận diễn giải.
1) Logic biểu đạt (Modal Logic):
logic biểu đạt sử dụng bổ nghĩa
cho các câu. Hình thức truyền thống sử dụng các khái niệm về khả năng và sự cần
thiết để biểu đạt, nhưng cũng có những biểu đạt là tạm thời (liên quan đến thời
gian), là nghĩa vụ (liên quan đến bổn phận và sự cho phép), là nhận thức (tri
thức), là doxastic (niềm tin). Các khung sử dụng ngữ nghĩa chứa "thế giới
có thể" trong đó mỗi lần lặp lại giá trị chân lý trên tất cả các biến đều
được liệt kê. Thế giới có thể có thể đặc trưng bởi các giá trị của chúng và mối
quan hệ tiếp cận nhị phân giữa chúng.
Bản thân các mối quan hệ nhị phân có thể có các thuộc tính logic như
phản xạ, đối xứng và bắc cầu (lưu ý những thuộc tính này được sử dụng trong web ngữ
nghĩa). Hệ thống logic đặc trưng bởi các thuộc tính quan hệ của nó.
2) Logic không gian (spatial
Logic): Nếu A đứng trước B và B đứng
trước C, thì A đứng trước C. "Đứng trước" được hiểu là quan hệ
bắc cầu. Xét trên quan điểm quan sát thì khái niệm "trước" là tương đối.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
4) Toán học: mọi thứ trong toán học được coi là suy luận diễn giải
đúng. Một số cách chứng minh phổ biến là bằng phản chứng.
8.3.4 Suy luận giả định
Suy luận giả định được sử dụng rộng rãi trong khoa học và toán
học, nhưng cũng có thể áp dụng trong mọi khía cạnh của cuộc sống. Nó được
sử dụng trong pháp y, tranh tụng pháp lý và suy luận trong cuộc sống thường
ngày.
Suy luận giả định bắt đầu từ một khẳng định có thể không biết là đúng
hay sai và được gọi là "giả định", trong trong khoa học và toán học
nó thường là một giả thuyết khoa học hoặc toán học mà mọi người muốn kiểm tra.
Giả định đưa ra một số dự đoán nhất định về điều gì đó có tính logic. Lý
tưởng nhất là điều đó có thể được kiểm chứng bằng thực nghiệm. Nhưng trong nhiều
trường hợp điều đó không xảy ra và chúng ta nói rằng giả thuyết là "không
thể bác bỏ", tức là không có các phép kiểm tra để chứng minh nó là sai.
Dạng suy luận được sử dụng là modus
tollens [12], đó là:
Giả định: P
Tiên đề: nếu P thì Q.
Kết luận giờ đây phụ thuộc vào việc Q có đúng hay không. Nếu Q là sai,
thì theo modus tollens, P là sai và giả định P đã bị bác bỏ. Đây là một kết
luận mang tính diễn giải: đảm bảo rằng P không đúng. Nếu Q đúng, nó không chứng
minh rằng P đúng, nó chỉ là phù hợp với việc P đúng. Sau đó, chúng ta cần đưa
ra một tiên đề khác và một điều kiện khác để kiểm tra.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- Kết quả thực nghiệm 1: không; kết luận: sáng nay không mưa (nếu tiên
đề đúng và quan sát hợp lệ, là diễn giải đúng).
- Kết quả thực nghiệm 2; có; kết luận;
không kết luận được.
Việc đường ướt có logic phù hợp với việc đã mưa sáng nay, nhưng nó
không chứng minh điều đó. Có thể đường đi ướt vì nó đã được tưới, hoặc vừa
xảy ra một trò chơi bắn súng nước, hoặc là một con voi vừa tắm trên đường (tình huống cuối cùng vẻ hiếm xảy
ra nhưng không phải là không thể xảy ra, vì "giả định thế giới mở" là
cần thiết để mọi người nhận biết mọi thực tế xảy ra).
Trong cuộc sống hàng ngày, mọi người thường lấy sự thật của Q để chứng
minh cho sự thật của P, đó là một lỗi logic
được biết đến là "khẳng định
hệ quả đương nhiên"1).
Trong toán học, mô hình lấy một giả định, cho rằng nó đúng và suy luận
đưa ra một kết luận sai được gọi là "chứng minh bằng mâu thuẫn". Nó
cho thấy rằng giả định không đúng bằng cách chỉ ra rằng giả định và kết luận
không nhất quán về mặt logic với nhau.
8.3.5 Phương pháp suy luận Bayes
Bayes
là một dạng suy luận thống kê.
Lưu ý rằng suy luận thống kê là một công việc hoàn toàn khác biệt so với suy luận
toán học. Toán học thuần túy chỉ liên quan đến suy luận tiên đề: nếu một bằng
chứng toán học hợp lệ thì các kết luận luôn luôn tuân theo logic từ
các tiên đề2).
Đối tượng của thống kê là xác suất, do đó suy luận thống kê chủ yếu
liên quan đến khái niệm khả năng và xác suất rằng một sự kiện tương lai nào đó
sẽ xảy ra hay không. Các phép tính sử dụng ý tưởng về ngẫu nhiên và mô hình
phân phối. Ví dụ, nếu ai đó tung một đồng xu, có xác suất 50% rằng nó sẽ ngửa
và 50% rằng nó sẽ úp. Tuy nhiên, kết quả trên mỗi lần tung cụ thể phụ thuộc vào
tính ngẫu nhiên. Trong 20 lần tung, khả năng không thể xảy ra việc lật ngửa 20
lần và rất có thể xảy ra lật ngửa khoảng 10 lần, do đó, tạo ra một phân phối
xác suất hình chuông, tập trung vào 10.
Khả năng một điều gì đó sẽ xảy ra (hoặc đã xảy ra) thường bị ảnh hưởng bởi
việc áp dụng một điều kiện nhất định. Ví dụ, nếu có ướt thì có khả năng đã mưa
trong ngày đó. Tuy nhiên, điều đó chỉ tăng khả năng nhưng không chứng minh điều
đó. Rõ ràng có những lý do khác, chẳng hạn như đã tưới nước lên có. Một cách
khác để nhìn vào điều đó là dựa trên khái niệm sửa đổi niềm tin dựa trên bằng
chứng mới. Ví dụ, hãy xem niềm tin rằng một giáo sư đang ở trong văn phòng. Nếu
ai đó nhìn thấy áo khoác của giáo sư không ở trên ghế như lúc đầu giờ sáng, có
thể cần sửa đổi đánh giá về khả năng giáo sư đang ở trong văn phòng. Đây là ý
tưởng chính đằng sau suy luận Bayes, dựa trên định lý Bayes cho
rằng xác suất hậu nghiệm tỷ lệ với xác suất tiên nghiệm nhân với hệ
số về khả năng.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
8.4.1 Khái quát chung
Phương pháp học máy đã thu hút sự chú ý trong lĩnh vực công nghiệp và
giới học thuật. Thuật toán và phương pháp học máy được đề cập trong hầu hết các
trường hợp sử dụng có trong ISO/IEC TR 24030. Các phương pháp học như cây quyết
định, rừng ngẫu nhiên, hồi quy tuyến tính hoặc logistic, KNN, Naïve Bayes và các phương pháp liên quan đến mạng nơ-ron được giới thiệu trong phần
này.
8.4.2 Cây quyết định
8.4.2.1 Lý thuyết và kỹ thuật
Cây quyết định là thuật toán học máy giám sát phân chia không gian dữ
liệu một cách đệ quy dựa trên các giá trị thuộc tính. Quá trình phân chia được
mô tả như một đồ thị DAG, trong đó các nút trong đồ thị được liên kết với các
kiểm tra thuộc tính, các nút lá tương ứng với giá trị lớp hoặc giá trị hồi quy.
Hình 4 cho thấy ví dụ về phân loại bộ dữ liệu Iris nổi tiếng. Các luật
có thể đọc được từ cây quyết định. Ví dụ, "Nếu chiều rộng cánh hoa <=
0,8 thì lớp = setosa" hoặc "Nếu chiều rộng cánh hoa > 0,8 và chiều
dài cánh hoa <= 4,75 thì lớp = versicolor".
Các nút nội bộ có thể có hai hoặc nhiều nút con. Các nút liên quan đến thuộc
tính số thường được chia thành hai nút con với một kiểm tra nhị phân như thể hiện trong
Hình 4. Các nút liên quan đến thuộc tính phân loại có thể sử dụng một kiểm tra
nhị phân (tức là thuộc tính bằng hoặc không bằng một giá trị cụ thể) hoặc phổ
biến hơn là có một nút con cho mỗi giá trị có thể của thuộc tính.

Hình 4 - Ví dụ về cây quyết định
8.4.2.2 Các đặc điểm chính
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Quá trình sinh cây quyết định tiếp tục cho đến khi đạt được các tiêu
chí để kết thúc. Các tiêu chí thông thường bao gồm dừng lại khi tất cả dữ liệu
tại một nút có cùng giá trị lớp hoặc khi nút có số điểm dữ liệu ít hơn so với
giá trị được gán cho nút. Xây dựng cây một cách tái đa cho đến khi tất cả dữ liệu
ở các nút là cùng một lớp thường dẫn đến việc quá khớp với tập huấn luyện. Do
đó, việc sinh cây cần được kết thúc trước khi điều này xảy ra (được gọi là dừng
sớm) hoặc cây cực đại được cắt tỉa sau khi huấn luyện hoàn tất.
Sinh cây quyết định là một thuật toán học máy giám sát đơn giản, tạo ra
các cây tương đối dễ hiểu đối với con người. Vì quá trình sinh cây quyết định
không cần tiền xử lý dữ liệu đáng kể và thực hiện nhanh. Nó có thể xử lý dữ liệu
số và dữ liệu phân loại cũng như dữ liệu thiếu giá trị. Tuy nhiên, do tính
tương đối đơn giản nền nó thường không tạo ra kết quả chính xác như các phương
pháp học giám sát khác.
8.4.2.3 Ứng dụng điển hình
Sinh cây quyết định có thể tạo ra cấu trúc cây rõ ràng để cho ra kết quả
dự đoán dựa trên đặc trưng khác nhau. Nó thường dễ hiểu đối với các chuyên gia
chuyên ngành và có thể sử dụng cho các tác vụ như phân loại và dự đoán
8.4.3 Rừng ngẫu nhiên
8.4.3.1 Lý thuyết và kỹ thuật
Rừng ngẫu nhiên [17] là một phương pháp học máy giám sát quần thể. Nó
bao gồm một tập hợp n cây quyết định, mỗi cây được xây dựng để giải
quyết vấn đề học máy. Biểu quyết đa số của cây quyết định trong quần thể được sử
dụng để dự đoán hoặc phân loại các điểm dữ liệu mới.
Cây quyết định thứ i trong quần thể được xây dựng từ một mẫu khởi
động bi của tập huấn luyện. Mẫu khởi động là mẫu lấy
ra có sự thay thế từ tập huấn luyện. Trung bình nó chứa khoảng hai phần ba số
điểm dữ liệu từ bộ dữ liệu mẫu. Điều này có nghĩa là có n mẫu khởi động
có sự khác nhau chút ít giữa mẫu này so với mẫu kia, dẫn đến sự đa dạng của các
cây trong quần thể, đồng thời góp phần làm ổn định toàn bộ quần thể học.
Rừng ngẫu nhiên cũng tạo ra sự đa dạng trong quần thể cây bằng việc giới
hạn sự lựa chọn thuộc tính để kiểm tra trong quá trình xây dựng cây từ m
thuộc tính được chọn ngẫu nhiên từ tập các thuộc tính có sẵn. Thường m
nhỏ hơn rất nhiều so với tổng số thuộc tính d. Thông thường m được
đặt là bằng
. Tóm lại,
các thông số chính kiểm soát thuật toán rừng ngẫu nhiên là n và m,
cùng với loại cây quyết định được xây dựng.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Rừng ngẫu nhiên có hai đặc điểm hữu ích: nó có thể tính toán lỗi kiểm
tra cho quần thể mà không cần tập kiểm tra và có thể ước lượng sự quan trọng
tương đối của các thuộc tính trong bộ dữ liệu đối với vấn đề học máy. Các đặc
điểm này phát sinh từ việc sử dụng các mẫu ngoài trong quá trình khởi động. Mẫu
ngoài oi cho cây quyết định thứ i là
tập điểm dữ liệu lấy ra từ tập huấn luyện không được chọn là mẫu khởi động bi.
Do oi
không được sử dụng để huấn luyện cây quyết định ti, nó được sử
dụng để ước lượng lỗi kiểm tra của cây. Lỗi kiểm tra của
toàn bộ quần thể có thể được ước lượng bằng cách lấy trung bình trên toàn bộ
các cây và các mẫu khởi động.
Tương tự, bằng cách hoán vị các giá trị của một thuộc tính cụ thể a
và tính sai lệch về lỗi kiểm tra của cây trước và sau khi hoán vị, ta có thể ước
lượng sự quan trọng của thuộc tính. Sự khác biệt lớn về lỗi kiểm tra được ước
lượng cho thấy thuộc tính a quan trọng để giải quyết vấn đề. Ngược lại,
sự khác biệt nhỏ hoặc không có trong lỗi kiểm tra được ước lượng cho thấy thuộc
tính a không quan trọng. Bằng cách lấy trung bình trên nhiều hoán vị và
trên các cây, thuật toán tính toán được sự giảm trung bình về lỗi, sau đó được
sử dụng để xếp hạng tầm quan trọng của các thuộc tính. Đôi khi độ giảm trung
bình về chỉ số Gini được sử dụng thay cho độ chính xác.
Phương pháp quần thể, rừng ngẫu nhiên có nhiều lợi thế trong việc giải
thích (đặc biệt với việc sử dụng để đánh giá sự thay đổi tầm quan trọng) và
không thiên vị về kiểm tra lỗi trong quần thể. Tuy nhiên, đôi khi nó hoạt động
kém trên các bộ dữ liệu với số lượng thuộc tính có tương quan từng phần lớn.
8.4.3.3 Các ứng dụng điển hình
Rừng ngẫu nhiên là một thuật toán học máy giám sát mạnh mẽ. Việc diễn
giải mô hình thu được được hỗ trợ bởi việc đánh giá sự thay đổi của tầm quan trọng
và bằng việc kiểm tra từng cây trong rừng. Sự thay đổi của tầm quan trọng một khu
rừng ngẫu nhiên thường sử dụng làm phương pháp lựa chọn đặc tính cho dữ liệu tiền
xử lý..
8.4.4 Hồi quy tuyến tính
8.4.4.1 Lý thuyết và kỹ thuật
Hồi quy tuyến tính là một phương pháp hồi quy xây dựng hàm của các biến
độc lập để dự đoán giá trị biến mục tiêu. Hồi quy tuyến tính là dạng phân tích
hồi quy đơn giản nhất. Trong hồi quy tuyến tính, giá trị kỳ vọng của y, với một
tập hợp biến độc lập x = {x1, x2,…, xp},
trong đó p là số lượng biến độc lập, được thể hiện trong công thức (1):
y
= b0 + b1x1 + b2x2 + ... + bpxp
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Trong đó b0, b1, b2 và bp là các hệ số của mô
hình. Sau khi ước lượng các hệ số bp, chúng ta có thể dự đoán
giá trị của y dựa trên giá trị mới của biến độc lập X.
Trong hồi quy tuyến tính, mục tiêu là tìm ra mặt phẳng tuyến tính tốt nhất
phù hợp với các điểm dữ liệu. Phương pháp phổ biến nhất để tìm ra các tham số
là hồi quy bình phương tối thiểu thông thường, trong đó sự phù hợp tốt nhất được
xác định là mặt phẳng tối thiểu hóa khoảng cách trực giao bình phương giữa các
điểm dữ liệu và mặt phẳng. Các chỉ số như giá trị R-square và sai số tiêu
chuẩn thặng dư thường được sử dụng để đánh giá sự phù hợp của mô hình, các thống
kê F được sử dụng để đánh giá quan hệ tuyến tính.
8.4.4.2 Đặc điểm chính
Các mô hình hồi quy tuyến tính hoạt động dựa trên một vài giả định. Thứ
nhất, mối quan hệ giữa biến phụ thuộc và
biến độc lập được giả định là tuyến tính. Thứ hai, sai sá (tức là sự khác
biệt giữa giá trị y thực tế và ước tính) là độc lập. Thứ ba, phương sai
của sai số không đổi đối với phản hồi. Thứ tư, sai số được giả định ở dạng phân
phối chuẩn. Cuối cùng, biến độc lập x được giả định được đo mà không có sai số.
Mô hình hồi quy tuyến tính có thể dễ dàng được mở rộng để tạo ra các mô
hình hồi quy đa thức và hồi quy phi tuyến khác. Để mở rộng thành mô hình hồi
quy đa thức, các thuật ngữ trong mô hình hồi quy tuyến tính được thay thế bằng
các thuật ngữ đa thức, chẳng hạn như x2. Cũng có thể mở rộng hồi quy tuyến tính để tính đến sự tương tác giữa
các biến độc lập bằng cách bổ sung khái niệm tích của các biến độc lập.
8.4.4.3 Ứng dụng điển hình
Hồi quy tuyến tính được sử dụng khi có một mối quan hệ tuyến tính giữa
biến độc lập và biến phụ thuộc, và cần tìm giá trị của biến phụ thuộc. Ví dụ
như dự đoán giá bán nhà dựa trên giá nhà và các tiện ích xung quanh.
8.4.5 Hồi quy logistic
8.4.5.1 Lý thuyết và kỹ thuật
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

(2)
trong đó p(X) = P(Y=1|X) và β hệ số,
trong đó p(X) = P(Y=1|X)
b0, b1, b2 và bp là các hệ số.
Vế trái của công thức là sự biến đổi log-odds
(hoặc logit) của p(X) và hồi quy logistic giả
định rằng nó có thể được biểu diễn dưới dạng một hàm tuyến tính.
Các hệ số của hồi quy logistic thường được ước lượng bằng phương pháp hợp lý
tối đa. Hợp lý tối đa nhằm ước lượng các tham số sao cho xác suất dự đoán p(x)
của mỗi mẫu càng gần với giá trị thực tế của mẫu đó càng tốt.
8.4.5.2 Đặc điểm chính
Trong hồi quy logistic, biến mục tiêu được dự đoán nằm trong khoảng từ
0 đến 1, bao gồm cả 0 và 1. Nói cách khác, xác suất thuộc lớp 2. Một ngưỡng được
đặt cho xác suất để xác định liệu mẫu dữ liệu mới thuộc lớp 1 hay lớp 2.
8.4.5.3 Ứng dụng điển hình
Hồi quy logistic được sử dụng cho các bộ dữ liệu nhỏ trong đó
có mối quan hệ tuyến tính giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc. Hồi quy logistic phù
hợp nhất với các bộ dữ liệu chỉ có hai lớp. Mặc dù có thể sử dụng
hồi quy logistic cho phân loại đa lớp, nhưng các phương pháp khác như
phân tích phân loại tuyến tính phù hợp hơn về bản chất.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
8.4.6.1 Lý thuyết và kỹ thuật
KNN là một phương pháp học máy đơn giản nhất được sử dụng cho cả phân
loại và hồi quy. Nó đôi khi được gọi là thuật toán "lười" vì nó không
học một hàm từ dữ liệu huấn luyện. KNN là một phương pháp phi tham số vì chấp
nhận cấu trúc mô hình cố định.
KNN dự đoán một điểm dữ liệu mới bằng cách tìm "hàng xóm gần nhất"
trong dữ liệu huấn luyện. Các hàng xóm gần nhất được tìm thấy thông qua các số
đo khoảng cách. Các số đo phổ biến bao gồm Euclidean,
Manhattan và Mahalanobis. Trong
phân loại, thuật toán tìm khàng xóm gần nhất và nhãn lớp được xác định bằng
nhãn phổ biến nhất trong các hàng xóm gần nhất này. Trong hồi quy, giá trị ước
tính thường là trung bình của các hàng xóm gần nhất.
8.4.6.2 Đặc điểm chính
Do KNN phụ thuộc vào số đo khoảng cách, thường khuyến nghị rằng giá trị
của các thuộc tính liên tục được chuẩn hóa để tránh làm cho một số thuộc tính
nào đó áp đảo về số đo khoảng cách trong kết quả đánh giá.
Vì KNN là một phương pháp phi tham số, nó đặc biệt phù hợp với các bộ dữ
liệu không có ranh giới quyết định rõ ràng hoặc không thể mô hình một cách dễ
dàng. Một điểm yếu của KNN là không phải cách thức thỏa đáng để xử lý các thuộc
tính phân loại.
8.4.6.3 Ứng dụng điển hình
KNN là một mô hình dễ hiểu và dễ thực hiện, nó đem lại hiệu năng thực
thi chấp nhận được Do đó đây là một phương pháp cơ bản được coi là tốt để thử
trước khi thực hiện các kỹ thuật tiên tiến hơn. Vì KNN yêu cầu toàn bộ tập dữ
liệu để thực hiện phân loại hoặc hồi quy, nên việc dự đoán có thể rất chậm khi
kích thước hoặc chiều của dữ liệu lớn
8.4.7 Thuật toán Naïve Bayes
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Thuật toán Naïve Bayes thường được tổng quát hòa thành một biểu diễn
hoặc mô hình. Mô hình Naïve Bayes
sử dụng lý thuyết Bayesian để
học và suy luận, như thể hiện trong công thức (3):
P (B | A )= P(A |
B) P(B) / P (A)
(3)
Trong đó P(B|A) là xác suất của sự kiện B với sự kiện A đã cho, P(A|B) là
xác suất của sự kiện A với sự kiện B đã cho, P(A) và P(B) là xác suất của sự kiện
A hoặc B.
trong đó
P(B|A) là xác suất của sự kiện B với sự kiện A đã cho;
P(A|B) là xác
suất của sự kiện A với sự kiện B đã cho;
P(A) và P(B)
là xác suất của sự kiện A hoặc B.
Trong phân loại Bayesian, B là biến lớp và A là tập các thuộc tính. Trong phân loại Naïve Bayes, giả sử các thuộc tính là độc lập với nhau, như được thể hiện trong công
thức (4):
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
(4)
Xác suất hậu nghiệm P(C|A) được tính dựa trên khả năng xảy ra P(Ai|C) và xác suất tiên nghiệm P(C).
8.4.7.2 Đặc điểm chính
Để tìm xác suất cho một biến rời rạc, số lượng của mỗi lớp có thể có hoặc
giá trị của thuộc tính được đưa vào bảng. Nếu biến là liên tục thì cần ước lượng
hàm phân phối xác suất của biến.
8.4.7.3 Ứng dụng điển hình
Mô hình Naïve Bayes được sử dụng cho phân loại, đặc biệt là khi bộ
dữ liệu không quá lớn. Nó có thể sử dụng cho phân loại đa lớp. Nó hoạt động
không tốt nếu giả định rằng sự độc lập có điều kiện của các thuộc tính không được
thỏa mãn. Đối với bộ dữ liệu rất nhỏ, nếu P(Ai|C) bằng không thì toàn bộ dự đoán sẽ thất bại.
8.4.8 Mạng nơ-ron tiến
8.4.8.1 Lý thuyết và kỹ thuật
Mạng nơ-ron tiến có cấu trúc mạng với mỗi nơ-ron thuộc về một tầng. Mỗi
tầng nơ-ron nhận tín hiệu đầu vào từ các nơ-ron ở tầng trước đó và xuất tín hiệu
đầu ra đến các nơ-ron ở tầng tiếp theo. Các tầng giữa tầng đầu vào và tầng đầu
ra được gọi là các tầng ẩn. Tín hiệu lan truyền từ tầng đầu vào đến tầng đầu ra
theo một hướng duy nhất mà không có phản hồi và có thể biểu diễn bằng đồ thị
DAG. Hình 5 cho thấy ví dụ về cấu trúc FFNN.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
CHÚ DẪN
1 tầng đầu vào
2 tầng ẩn
3 tầng đầu ra
Hình 5 - Ví dụ về cấu trúc FFNN
8.4.8.2
Đặc điểm chính
FFNN
có khả năng mạnh mê, có thể xấp xỉ
được các hàm phi tuyến liên tục cho biến đổi đặc trưng phức tạp hoặc xấp xỉ các
phân phối có điều kiện phức tạp. Trong học máy, các đặc trưng đầu vào có ảnh hưởng
lớn đến bộ phân loại. Lấy học có giám sát làm ví dụ, các đặc trưng tốt có thể cải
thiện đáng kể hiệu năng của bộ phân loại. Do đó, để đạt được hiệu quả phân loại
tốt, cần trích xuất đặc trưng, nơi vec- tơ đặc trưng gốc của mẫu được chuyển đổi
thành vec-tơ đặc trưng hiệu quả hơn. Vì một FFNN
đa tầng có thể xem là một hàm phức
hợp phi tuyến, nó có thể được áp dụng như một phương pháp biến đổi đặc trưng,
trong đó đầu ra của nó có thể sử dụng làm đầu vào của bộ phân loại để thực hiện
phân loại. Khi cấu trúc của các tầng ẩn và các nơ-ron được tối ưu, FFNN đa
tầng có thể xấp xỉ chính xác các hàm liên tục phức tạp. Một trong những điểm yếu
của FFNN là nó dễ bị quá khớp khiến mô hình không thể tổng quát
hóa một cách đáng tin cậy đối với dữ liệu mới.
8.4.9 Mạng nơ-ron hồi quy (RNN)
8.4.9.1 Lý thuyết và kỹ thuật
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

Hình 6 - Ví dụ về cấu trúc RNN
8.4.9.2 Đặc điểm chính
RNN có thể áp dụng cho các loại tác vụ học máy khác nhau, bao gồm tác vụ
chuỗi-sang-phân loại, tác vụ chuỗi đồng bộ-sang-chuỗi và tác vụ chuỗi không đồng
bộ-sang-chuỗi.
a) Tác vụ chuỗi-sang-lớp chủ yếu sử dụng để phân loại dữ liệu chuỗi,
trong đó mô hình học máy nhận dữ liệu chuỗi làm đầu vào và đầu ra lồ dữ liệu
phân loại. Ví dụ trong phân loại văn bản, dữ liệu đầu vào là chuỗi các từ, đầu
ra là loại của văn bản.
b) Tác vụ chuỗi đồng bộ-sang-chuỗi chủ yếu sử dụng cho gán nhãn chuỗi đầu
vào. Trong đó từng
mẫu đầu vào có độ dài giống nhau
được gắn chung một loại mẫu. Ví dụ trong phân loại từ loại, mỗi một từ được gán
nhãn dạng từ loại tương ứng của nó.
c) Trong tác vụ chuỗi-sang-chuỗi không đồng bộ, còn được gọi là mô hình
mã hóa-giải mã, các chuỗi đầu vào và đầu ra không cần phải tương ứng chặt chẽ
và không cần duy trì cùng một độ dài. Ví dụ trong dịch máy, đầu vào là chuỗi từ
ngôn ngữ gốc, đầu ra là chuỗi từ ngôn ngữ đích.
GDM thường được sử dụng để học các tham số trong RNN. Các phương pháp
BPTT và RTRL sử dụng để tính toán độ dốc. Chức năng của BPTT là truyền thông tin lỗi
từng bước một theo thứ tự ngược của trình tự thời gian. Bởi vì kích cỡ đầu của
RNN thường nhỏ hơn kích cỡ đầu vào nên BPTT có đặc tính tính toán ít nhưng phức
tạp hơn theo không gian. Phương pháp RTRL không cần phản hồi độ dốc nên phù hợp
cho các tác vụ yêu cầu học trực tuyến.
Một chuỗi đầu vào tương đối dài sẽ gây ra vấn đề về bùng nổ hoặc biến mất
về độ dốc [20][21] được gọi là vấn đề phụ thuộc dài hạn. Các cải tiến cho RNN,
chẳng hạn như như cơ chế cổng được phát triển để giảm thiểu vấn đề này.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Mạng nơ-ron hồi quy được áp dụng rộng rãi trong nhận dạng tiếng nói, mô
hình hóa ngôn ngữ, tạo ngôn ngữ tự nhiên.
8.4.10 Mạng bộ nhớ ngắn - dài hạn
8.4.10.1 Lý thuyết và kỹ thuật
Mạng LSTM là một loại RNN đặc biệt có thể học thông tin phụ thuộc dài hạn
[22], Các cổng đầu vào (input gates), cổng quên (forget
gates) và cổng đầu ra (output gates) được sử dụng trong mạng LSTM để điều khiển luồng thông tin. Các cổng đầu
vào được chọn lọc để "nhớ" thông tin. cổng quên chọn lọc để quên
thông tin từ nút trước đó. cổng đầu ra xác định đầu ra nào được coi là trạng
thái hiện tại.
8.4.10.2 Đặc điểm chính
Mạng LSTM có thể học được sự phụ thuộc dài hạn nhờ cơ chế cổng, đây là
đặc điểm quan trọng nhất để kiểm soát sự lưu thông và mất mát các đặc trưng. Tỷ
lệ thu hồi của mạng LSTM cao vì có độ phụ thuộc khoảng xa mạnh mẽ và xử lý được
lượng dữ liệu lớn. Mạng LSTM sử dụng như một dạng của "trạng thái trung
gian" để mô tả chuỗi và kết quả có thể dùng làm đặc trưng sử dụng cho bước
kế tiếp.
Mạng LSTM giảm thiểu vấn đề về độ dốc bùng nổ hoặc biến mất trong các
RNN đơn giản. Hiện tại mạng LSTM có thể xử lý các chuỗi với cỡ 100 mức kích cỡ
của chiều dữ liệu, nhưng vấn đề độ dốc biến mất vẫn có thể tồn tại cho
các chuỗi có cỡ 1.000 mức hoặc lớn hơn.
Mỗi ô LSTM trong mạng có bốn lớp kết nối đầy đủ, nếu khoảng thời gian của
mạng LSTM lớn và mạng sâu, khối lượng tính toán có thể rất lớn và tốn thời
gian.
Về lý thuyết, mạng LSTM cũng có khả năng khớp
các hàm tùy ý với các bài toán có các giả định và ràng buộc lỏng.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Các ứng dụng của mạng LSTM bao gồm dịch máy, mô hình ngôn ngữ [23] và
nhận dạng tiếng nói.
8.4.11 Mạng nơ-ron tích chập
8.4.11.1 Lý thuyết và kỹ thuật
CNN là một loại mạng nơ-ron chuyển tiếp. CNN là các tri giác
(perceptron) đa tầng, lấy cảm hứng từ cách thức tư duy của con người. CNN bao gồm
lớp đầu vào, tổ hợp các lớp tích chập, lớp kích hoạt, lớp tổng hợp, lớp kết nối
đầy đủ và lớp chuẩn hóa. Một ví dụ về cấu trúc CNN dưới dạng mô hình học máy
LeNet-5 [24] được thể hiện trong Hình 7.

Hình 7 - Ví dụ về cấu trúc mô hình học máy
CNN: Mạng LeNet-5
8.4.11.2 Đặc điểm chính
Một CNN về cơ bản là một ánh xạ từ đầu vào tới đầu ra. Nó có thể học một
số lượng lớn các mối quan hệ ánh xạ giữa đầu vào và đầu ra mà không cần bất kỳ
biểu thức toán học chính xác nào giữa đầu vào và đầu ra. Khi CNN được huấn luyện
theo một cách thức nào đó, nó sẽ có khả năng ánh xạ giữa các cặp đầu vào và đầu
ra [25],
Một trong những đặc điểm quan trọng nhất của CNN là nó có hình dạng tam
giác nghịch đảo để giới hạn mất mát độ dốc quá mức trong mạng nơ-ron lan truyền
ngược.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- kết nối cục bộ, trong đó mỗi nơ-ron trong lớp
tích chập chỉ được kết nối với nơ-ron trong một cửa sổ cục bộ nhất định
của lớp tiếp theo để thành mạng kết nối cục bộ;
- chia sẻ trọng số, trong đó bộ lọc của mọi nơ-ron trong một lớp là giống
nhau.
Trường hợp này mạng có thể học song song, đây cũng là một trong những lợi
thế của CNN so với mạng
nơ-ron liên kết.
Các CNN chia sẻ một lõi tích chập nên nhu cầu xử lý dữ liệu nhiều chiều
giảm đi. Để tối ưu hiệu năng (ví dụ: dự đoán chính xác các lớp hình ảnh) có thể
cần nhiều nỗ lực thực hiện một số công đoạn mang tính thủ công như trích chọn đặc
trưng, huấn luyện trọng số và điều chỉnh tham số. Mô hình này thường yêu cầu bộ
dữ liệu huấn luyện lớn, đòi hỏi sử dụng GPU, CPU đa lõi hoặc bộ vi xử lý chuyên
dụng. Không phải lúc nào CNN cũng có khả năng giải thích, vì vậy có thể không
rõ những khía cạnh nào của dữ liệu đầu vào được ánh xạ tới đầu ra.
8.4.11.3 Các ứng dụng điển hình
CNN được sử dụng rộng rãi trong nhận dạng và phân loại hình ảnh, ví dụ
như ứng dụng nhận dạng khuôn mặt.
8.4.12 Mạng đối nghịch tạo sinh
8.4.12.1 Lý
thuyết và kỹ thuật
GAN sử dụng huấn luyện đối nghịch và mô hình tạo sinh để tạo ra các mẫu
phù hợp với phân phối dữ liệu thực [26], Mạng tạo sinh của GAN tạo ra các mẫu
nhằm gây sự phân loại sai trên một phần của mạng phân biệt. Đồng thời GAN cũng
huấn luyện các mạng phân biệt cố gắng xác định xem liệu một mẫu nào đó có phải
là dữ liệu thực hay được tạo ra bởi mạng tạo sinh. Theo cách này, hai mạng đối
lập được huấn luyện liên tục. Quá trình hội tụ xảy ra khi mạng phân biệt không
còn phân loại chính xác các mẫu là dữ liệu thực hay giả nữa, tức là mạng tạo
sinh tạo ra các mẫu phù hợp với phân phối dữ liệu thực.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
GAN có thể biểu diễn các chiều tiềm ẩn và mối quan hệ ẩn của dữ liệu.
So với tác vụ tối ưu hóa mục tiêu đơn, các mục tiêu tối ưu hóa của mạng tạo
sinh và mạng phân biệt trong GAN là đối nghịch nhau. Do đó quá trình huấn luyện
GAN có thể khó khăn và không ổn định và cần cân bằng khả năng của cả hai mạng.
Nếu mạng phân biệt quá mạnh trong các giai đoạn đối nghịch khởi đầu thì
không thể cải thiện được hiệu năng của mạng tạo sinh, cần tối ưu siêu tham số
trong quá trình huấn luyện sao cho trong mỗi lần lặp, mạng phân biệt mạnh hơn một
chút so với mạng tạo sinh.
8.4.12.3 Các ứng dụng điển hình
GAN thường được sử dụng trong các tác vụ xử lý hình ảnh như tạo hình ảnh
từ văn bản, phiên dịch hình ảnh sang hình ảnh, sửa và phục hồi ảnh.
8.4.13 Học chuyển giao
8.4.13.1 Lý thuyết và kỹ thuật
Phương pháp học chuyển giao lưu trữ và trừu tượng hóa tri thức có được
từ dữ liệu huấn luyện của một vấn đề này để áp dụng nó cho một vấn đề hoặc lĩnh
vực khác. Tri thức dưới dạng một mô hình học máy có thể được điều chỉnh dựa
trên các tình huống nhất định để phù hợp với một tác vụ hoặc lĩnh vực mới.
Điều này đặc biệt hữu ích khi gặp khó khăn hoặc không thể có được dữ liệu
huấn luyện đã được gán nhãn cho tác vụ hoặc lĩnh vực mới.
8.4.13.2 Đặc điểm chính
Học chuyển giao dựa trên việc nhận biết cơ hội áp dụng tri thức hiện có
vào một lĩnh vực mới, chuyển giao dữ liệu đã được gán nhãn hoặc cấu trúc tri thức
(ví dụ: mô hình học máy) sử dụng trong lĩnh vực mới, điều chỉnh hoặc tối ưu hóa
tri thức được chuyển giao cho lĩnh vực hoặc tác vụ mới.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Tùy thuộc vào những gì được chuyển giao, các phương pháp học chuyển
giao có thể dựa trên chuyển giao thực thể, chuyển giao đặc trưng hoặc chia sẻ
tham số. Học chuyển giao có thể phân loại là chuyển giao quy nạp hoặc chuyển
giao chuyển đổi. về mặt tổng quát, trong học chuyển giao suy luận, các lĩnh vực
nguồn và lĩnh vực đích liên quan với nhau và miền nguồn dựa vào số lượng lớn mẫu
huấn luyện. Trong học chuyển giao chuyển đổi, quá trình chuyển giao xảy ra bằng
cách sử dụng dữ liệu từ các lĩnh vực nhau.
8.4.13.3 Các ứng dụng điển hình
Các ứng dụng học chuyển giao điển hình bao gồm nhận dạng hình ảnh và
NLP [30], trong đó các mô hình được huấn luyện để dịch văn bản giữa hai ngôn ngữ
được sử dụng để dịch văn bản sang một ngôn ngữ thứ ba.
8.4.14 Biểu diễn mã hóa hai chiều từ bộ biến đổi
8.4.14.1 Lý thuyết và kỹ thuật
BERT
là một loại mô hình ngôn ngữ sử dụng
dữ liệu huấn luyện không được gán nhãn để thu được một biểu diễn ngữ nghĩa
phong phú của văn bản. Biểu diễn đó được học thông qua một tác vụ NLP cụ thể,
có thể tái sử dụng để có được các tác vụ NLP khác, thường là sau khi tinh chỉnh
hoặc áp dụng các thuật toán ở đường xuống. BERT
là một bộ mã hóa chuyển đổi hai
chiều sâu [31]. Đầu vào của nó gồm chuỗi các vec-tơ tổng hợp như ký tự, văn bản
và thông tin vị trí. Đầu ra của nó là một véc-tơ ngữ nghĩa.
Một cấu trúc thông thường cho mô hình BERT [32] được hiển thị
trong Hình 8. E1, E2 và EN
là biểu diễn nhúng. T1, T2 và TN là đầu ra cuối. Trm là các
biểu diễn trung gian của một mã thông báo cụ thể.

Hình 8 - Ví dụ về cấu trúc mô hình BERT
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
BERT
được thiết kế để xử lý từ bằng
cách sử dụng thông tin theo cả hai hướng. Khác với các phương pháp huấn luyện
mô hình ngôn ngữ khác (ví dụ: nhúng từ mô hình ngôn ngữ, GPT), BERT không
dự đoán từ dựa trên tất cả các từ trước đó. Thay vào đó, nó che giấu một số từ
một cách ngẫu nhiên và sử dụng các từ không che giấu để đưa ra dự đoán.
BERT
giảm bớt ràng buộc một chiều bằng
cách sử dụng quá trình tiền huấn luyện MLM. Với một câu cho trước, MLM xóa một
cách ngẫu nhiên một hoặc vài từ và cố gắng dự đoán các từ đã bị xóa dựa trên
các từ còn lại. Điều này làm cho mô hình phụ thuộc nhiều hơn vào thông tin ngữ
cảnh để dự đoán và mang lại cho mô hình khả năng sửa lỗi. BERT cũng
sử dụng NSP để xác định xem liệu câu thứ hai có liên hệ gần gũi với câu thứ nhất
trong văn bản không.
Bằng cách huấn luyện kết hợp với các tác vụ MLP và NLP, mô hình học máy
sẽ tạo đầu ra biểu diễn véc-tơ của mỗi từ để mô tả toàn diện và chính xác thông
tin tổng quát của văn bản đầu vào (dù là câu đơn hay câu ghép). Các tác vụ tinh
chỉnh kế tiếp cung cấp giá trị ban đầu tốt hơn cho các tham số mô hình học máy.
Tuy nhiên, bất kỳ sự không nhất quán nào trong quá trình tiền huấn luyện và
sinh ra sẽ làm giảm hiệu quả của các tác vụ tạo ngôn ngữ tự nhiên.
BERT
có các bước tiền huấn luyện và
tinh chỉnh. Thuật toán được huấn luyện trên dữ liệu chưa được gắn nhãn thông
qua các tác vụ khác nhau trong quá trình tiền huấn luyện. Các tham số của thuật
toán sau đó được điều chỉnh lại bằng sử dụng dữ liệu gắn nhãn từ các tác vụ cụ
thể. Các tham số tinh chỉnh thông thường bao gồm kích thước batch, tốc
độ học và số vòng lặp điều chỉnh. BERT huấn luyện biểu diễn song hướng sâu thông qua
đồng điều chỉnh các biến đổi song hướng ở tất cả các tầng. Do đó nó chỉ cần một
tầng đầu ra bổ sung để điều chỉnh lại mô hình học máy đã được tiền huấn luyện
cho các tác vụ khác nhau, và cho một số tác vụ cụ thể không cần phải thiết kế
kiến trúc. Việc sử dụng quá nhiều mặt lạ trong quá trình huấn luyện có thể ảnh
hưởng đến hiệu năng dự đoán của mô hình học máy.
8.4.14.3 Ứng dụng điển hình
BERT
đóng góp vào những tiến bộ của
các tác vụ NLP như lập kho về câu và thành ngữ (CoLA), kho nghiên cứu về cầu và thành ngữ của Microsoft (MRPC),
suy luận ngôn ngữ tự nhiên đa thể loại (MultiNLI), suy luận ngôn ngữ tự nhiên của
câu hỏi (QNLI), cặp câu hỏi trên Quora (QQP), suy luận văn bản nhận diện (RTE),
bộ đánh giá độ tương đồng văn bản ngữ nghĩa (STS-B) và cơ sở dữ liệu cây cảm
xúc Stanford (SST-2).
8.4.15 XLNet
8.4.15.1 Lý thuyết và kỹ thuật
XLNet là một mô hình ngôn ngữ hoán vị tự hồi quy [37] để cải tiến hơn nữa
cho GPT và BERT. XLNet liên tục dự đoán từ tiếp theo từ trái qua phải,
không theo bản chất trình tự của các câu mà theo trình tự dự đoán. Cơ chế tự
chú ý luồng kép được triển khai, "luồng kép" này đại diện bằng hai bộ
biến đổi cho mỗi lớp trong mô hình, một luồng truy vấn và một luồng ngữ cảnh.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Để giải quyết vấn đề ngữ cảnh song hướng, mô hình ngôn ngữ hoán vị sử dụng
thông tin vị trí của mục tiêu khi thực hiện dự đoán. Luồng nội dung mã hóa toàn
bộ nội dung tại thời điểm hiện tại, trong khi đó luồng truy vấn tham chiếu đến
lịch sử trước đây và vị trí hiện tại cần dự đoán. XLNet cố gắng học thông tin
ngữ cảnh song hướng bằng cách tối đa hóa hàm log-likelihood của mọi trình tự
phân rã có thể.
XLNet là mô hình tự hồi quy, trong khi BERT thì không phải vậy.
Đặc tính này cho phép sự nhất quán hơn trong cách dữ liệu xuất hiện trong mô
hình giữa các bước tiền huấn luyện và tinh chỉnh. Đặc tính này cũng tránh phải
giả định sự độc lập của các token trong BERT.
XLNet thường tốn nhiều thời gian tính toán để thực thi.
8.4.15.3 Ứng dụng điển hình
Các ứng dụng điển hình của XLNet bao gồm đọc hiểu, xếp hạng tài liệu,
các tác vụ QA, phân loại văn bản và NLU.
8.5 Siêu tối ưu
8.5.1 Tổng quan
Siêu tối ưu hóa đề cập đến một lớp các thuật toán tối ưu cung cấp các giải
pháp khá tốt cho các vấn đề tối ưu hóa. Thông thường, chúng không xác định được
giải pháp tối ưu nhưng có thể nhanh chóng tìm ra một giải pháp hợp lý bằng cách
sử dụng heuristics hoặc quy tắc để tìm kiếm không gian giải pháp. Thông
thường, chúng không đưa ra giả định mạnh về vấn đề đang giải quyết, điều này có
nghĩa là chúng có thể sử dụng cho tập rộng các vấn đề, đặc biệt là những vấn đề
có tính ngẫu nhiên hoặc không khả vi. Tuy nhiên, vì chúng không đưa ra giả định
mạnh cho vấn đề nên thường hoạt động kém hơn so với các thuật toán tùy chỉnh được
thiết kế cho các vấn đề cụ thể. Siêu tối ưu hóa thường dựa trên quần thể, tìm
kiếm nhiều điểm trong không gian tìm kiếm cùng một lúc, điều này cho phép tìm
kiếm được thực hiện song song và tránh được vấn đề tối ưu cục bộ. Chúng thường
là các thuật toán ngẫu nhiêu. Các thuật toán siêu tối ưu hóa thường được sử dụng
bằng cách thức tính toán tiến hóa, điển hình là giải thuật di truyền; lập trình di truyền hoặc chiến lược tiến hóa,
mô phỏng luyện thép và thuật toán bầy đàn thông minh, lấy cảm hứng từ cuộc sống
và trong tự nhiên, điển hình là tối ưu hóa bầy đàn hoặc tối ưu hóa theo đàn kiến.
8.5.2 Giải thuật di truyền
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Giải thuật di truyền là một trong những cách thức tính toán tiến xuất
hiện sớm nhất và nổi tiếng nhất. Chúng hoạt động dựa trên nguyên tắc di truyền
và lựa chọn các cá thể phù hợp nhất. Chúng được giới thiệu và phổ biến từ khoảng
những năm 1990 [38],[39].
Có một vài lý thuyết khác nhau đặt nền móng cho các giải thuật di truyền.
Lý thuyết phổ biến nhất là giả thuyết tạo khối [39], giả định về cách thức giải
thuật di truyền tập hợp các khối (building
block) ngắn, phù hợp nhất cho tập
các cá thế để tạo các thể tốt hơn.
8.5.2.2 Đặc điểm chính:
Giải quyết một vấn đề tối ưu bằng cách sử dụng giải thuật di truyền đòi
hỏi khả năng thể hiện các cá thể tiềm năng dựa trên bộ gen và khả năng đánh giá
bộ gen bằng hàm thích nghi, chấm điểm bộ gen dựa trên khả năng giải quyết vấn đề
tốt như thế nào. Một bộ gen thông thường bao gồm một danh sách đơn giản của các
bit, số thập phân hoặc các ký hiệu khác để thể hiện các
tham số trong vấn đề cần tối ưu. Nhiều bộ gen cũng có thể được thể hiện nhưng
phức tạp hơn, chẳng hạn như như cây, ma trận hoặc chuỗi cần được biên dịch bằng
một ngôn ngữ máy tính.
Giải thuật bao gồm bốn bước: khởi tạo, lựa chọn, các toán tử di truyền
và điều kiện kết thúc. Giải thuật tạo ra các thế hệ bộ gen kế tiếp, các thế hệ
sau giải quyết vấn đề tốt hơn thế hệ trước.
Bước khởi tạo tạo ra một quần thể bộ gen. Thông thường, cách thức tạo
ngẫu nhiên được sử dụng nhưng cũng có thể khởi tạo quần thể với các cá thể yếu.
Tuy nhiên, điều quan trọng là có sự đa dạng của các bộ gen ban
đầu trong quần thể.
Sau khởi tạo là bước lựa chọn. Bộ gen trong quần thể được chấm điểm bằng
hàm thích nghi và được lựa chọn ngẫu nhiên để sinh sản với xác suất lựa chọn tỷ lệ với độ
thích nghi. Nói cách khác, bộ gen có độ thích nghi cao là bộ gen giải quyết vấn
đề tốt hơn và có khả năng được chọn để sinh sản. Các phương pháp lựa chọn phổ biến
bao gồm lựa chọn bằng bánh xe quay và lựa chọn đấu loại.
Khi các cặp bộ gen được lựa chọn để sinh sản, các toán tử di truyền được
áp dụng. Có nhiều toán tử di truyền, phổ biến nhất là sự giao nhau (hoặc tái kết
hợp) và đột biến.
Sự giao nhau kết hợp các phần của hai bộ gen cha mẹ để tạo ra con cái.
Biến thể giao nhau phổ biến là giao nhau một điểm hoặc giao nhau hai điểm, về thực
chất, một hoặc hai điểm cắt được đặt ngẫu nhiên dọc theo chiều dài của bộ gen.
Bộ gen con bao gồm phần đầu của một bộ gen cha trước điểm cắt và phần thứ hai của
bộ gen mẹ ở sau điểm cắt. Đối với biến thể hai điểm, phần đầu và phần thứ ba của
bộ gen lấy bộ gen cha và phần thứ hai lấy từ bộ gen mẹ. Mục đích của sự giao
nhau là chia sẻ các phần của các cá thể tốt để tạo ra con cái mạnh mê hơn. Các
con cái yếu bị loại bỏ trong các thế hệ kế tiếp thông qua lựa chọn.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Các thế hệ kế tiếp của quần thể được tạo ra theo cách này cho đến khi
giải thuật kết thúc bằng cách sử dụng tiêu chí kết thúc, có thể đơn giản như tạo
số lượng thế hệ đã định trước hoặc tạo các thế hệ kế tiếp cho đến khi thành
viên tốt nhất trong quần thể đáp ứng một số tiêu chí định trước.
8.5.2.3 Ứng dụng điền hình
Giải thuật di truyền sử dụng cho nhiều ứng dụng khác nhau. Chúng hoạt động
tốt ở những nơi mà các bài toán đặt ra không khả vi, hàm thích nghi không thể
viết dưới dạng toán học và bài toán liên quan đến lĩnh vực ngẫu nhiên.
Thư mục tài liệu tham khảo
[1] Russell Stuart J., Norvig Peter
Artificial Intelligence: A Modern Approach. Essex: Pearson
[2]
ISO/IEC 2382:2015, Information technology-Vocabulary
[3]
ISO/IEC/IEEE 26513:2017, Systems and software engineering - Requirements
for testers and reviewers of information for users
[4]
ISO/IEC/TR 24030, Information technology - Artificial intelligence
(Al) - Use cases
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
[6]
RDF Schema 1.1 - W3C Recommendation 25 February 2014. Available from:
http://www.w3.org/TR/2014/REC-rdf-schema-20140225/
[7]
OWL 2 Web Ontology Language Document Overview (Second Edition) - W3C
Recommendation 11 December 2012. Available from: http://www.w3.org/TR/2012/REC-owl2-
overview-20121211/
[8]
Hu L., Jiang Y., Li Y. Optimization Design of Internet Fraud Case Based on
Knowledge Graph and Case Teaching. Proceedings of the 2019 7th International
Conference on Information and Education Technology. ICIET 2019, 2019
[9]
SPARQL 1.1 Query Language - W3C Recommendation 21 March 2013. Available from: http://www.w3.org/TR/2013/REC
-sparqll 1-query -20130321/
[10]
ISO/lEC 9075 (all parts), Information technology - Database languages
- SQL
[11]
Shapes Constraint Language (SHACL) - W3C Recommendation 20 July 2017. Available
from: https://www.w3 .org/TR/ 2017/REC-shacl-20170720/
[12]
Copi Irving M., Cohen Carl, McMahon Kenneth Introduction to Logic 14th
edition. Essex: Pearson Education Limited
[13]
Quinlan J. R. Induction of Decision Tree. Machine Learning, 1986, 1,
81-106
[14]
Quinlan J. R. C4.5: Programs for Machine Learning. San Francisco: Morgan
Kaufmann Publishers Inc, 1993.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
[16]
Breiman Leo, Friedman Jerome, stone Charles J., Olshen R.A. Classification
and Regression Trees. Monterey, CA: Wadsworth & Brooks/Cole Advanced
Books & Software, 1984
[17]
Breiman L. Random Forests. Machine Learning. 2001, 45(1), 5-32
[18]
Li Bin, Zhuang Xiaoying Multiscale computation on feedforward neural network
and recurrent neural network. Frontiers of structural and Civil Engineering.
2021
[19]
Haykin Simon Neural networks and learning machines, volume 3. Upper
Saddle River, NJ: Pearson, 2009
[20]
Bengio Yoshua, Simard Patrice, Frasconi Paolo Learning long-term dependencies
with gradient descent is difficult. Neural Networks, IEEE Transactions
on. 1994, 5(2), 157-166
[21]
Hochreiter Sepp, Bengio Yoshua, Frasconi Paolo, Schmidhuber Jurgen Gradient
flow in recurrent nets: the difficulty of learning long-term dependencies.
Wiley -IEEE Press, 2001, 237-243
[22]
Hochreiter Sepp, Schmidhuber Jurgen Long short-term memory. Neural
computation. 1997, 9(8), 1735-1780
[23]
Dai A., Le Q. Semi-supervised Sequence Learning. arXivpreprint.
2015. arXiv: 1511.01432
[24]
LeCun Y., Bottou L., Bengio Y., Haffner p. Gradient-based learning applied to
document recognition. Proceedings of the IEEE. 1998, 11
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
[26]
Goodfellow Ian, Pouget-Abadie Jean, Mirza Mehdi, Xu Bing David Warde- Farley,
Sherjil Ozair, Aaron Courville, and Yoshua Bengio. Generative adversarial nets.
Advances in Neural Information Processing Systems. 2014, 2672-2680
[27]
Xu T., Zhang P., Huang Q., Zhang H., Gan Z., Huang X. et al. AttnGAN:
Fine-Grained Text to Image Generation with Attentional Generative Adversarial
Networks. arXiv preprint. 2017. arXiv: 1711.10485V1
[28]
Zhu J.- Y., Park T., Isola p., Efros A.A. Unpaired lmage-to-lmage Translation
using CycleConsistent Adversarial Networks. arXiv preprint. 2020. arXiv:
1703.10593v7
[29]
Liu G., Reda F.A., Shih K.J., Wang T.-C., Tao A., Catanzaro B. Image Inpainting
for Irregular Holes Using Partial Convolutions. arXiv preprint. 2018.
arXiv: 1804.07723v2
[30]
Jeremy H., Sebastian R. Universal Language Model Fine-tuning for Text
Classification. arXivpreprint. 2018. arXiv: 1801.06146v5
[31]
Vaswani A., Shazeer N., Parmar N., Uszkoreit J., Jones L., Gomez A.N. et al.
Attention is all you need. arXivpreprint. 2017. arXiv: 1706, 03762v5
[32]
Devlin J., Chang M.-W., Lee K., Toutanova K. BERT: Pre-training of Deep
Bidirectional Transformers for Language Understanding. arXivpreprint.
2019. arXiv: 1810.04805v2
[33]
Peters M.E., Neumann M., lyyer M., Gardner M., Clark C., Lee K. et al. Deep
contextualized word representations. arXivpreprint. 2018. arXiv:
1802.05365v2
[34]
Radford A., Narasimhan K., Salimans T., Sutskever I., Improving language
understanding by generative pre-training. OpenAI [online]. San Francisco, USA,
11 June 2018 [viewed 23 November 2020], Available from: https://openai.com/blog/language-unsupervised
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
[36]
Parcheta Zuzanna, Sanchis- Trilles Germa n, Casacuberta Francisco, Rendahl
Robin Combining Embeddings of Input Data for Text Classification. Neural
Processing Letters. 2020
[37]
Yang Z., Dai Z., Yang Y., Carbonell J., Salakhutdinov R., Le Q.V. XLNet:
Generalized Autoregressive Pretraining for Language Understanding. arXiv
preprint. 2020. arXiv: 1906.08237V2
[38]
Goldberg David Genetic Algorithms in Search, Optimization and Machine
Learning. Reading, MA: Addison-Wesley Professional, 1989
[39]
Holland John Adaptation in Natural and Artificial Systems. Cambridge,
MA: MIT Press, 1992
Mục lục
Mục lục
Lời nói đầu
Lời giới thiệu
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
2 Tài liệu viện dẫn
3 Thuật ngữ và định nghĩa
4 Chữ viết tắt
5 Tổng quan
6 Đặc điểm chính của hệ thống AI
6.1 Khái quát chung
6.2 Đặc điểm chính của hệ thống Al
6.2.1 Có thể thích ứng
6.2.2 Tính xây dựng
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
6.2.4 Tính động
6.2.5 Tính có thể giải thích được
6.2.6 Tính phân biệt hoặc tạo sinh
6.2.7 Tính tự suy
6.2.8 Được huấn luyện hoặc có thể huấn luyện
6.2.9 Đáp ứng sự đa dạng của dữ liệu
6.3 Đặc điểm tính toán của hệ thống AI
6.3.1 Dựa trên dữ liệu hoặc dựa trên tri thức
6.3.2 Dựa trên cơ sở hạ tầng
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
6.3.4 Dựa vào học đa bước hoặc học từ đầu cuối đến đầu cuối
7 Các loại hình phương pháp tính toán AI
7.1 Tổng quan
7.2 Phương pháp dựa trên tri thức
7.3 Phương pháp dựa trên dữ liệu
8 Các thuật toán và phương pháp được chọn sử dụng trong các hệ thống AI
8.1 Khái quát chung
8.2 Kỹ thuật và biểu diễn tri thức
8.2.1 Tổng quan
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
8.2.3 Đồ thị tri thức
8.2.4 Web ngữ nghĩa
8.3 Logic và suy luận
8.3.1 Khái quát chung
8.3.2 Suy luận quy nạp
8.3.3 Suy luận diễn giải
8.3.4 Suy luận giả định
8.3.5 Phương pháp suy luận Bayes
8.4 Học máy
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
8.4.2 Cây quyết định
8.4.3 Rừng ngẫu nhiên
8.4.4 Hồi quy tuyến tính
8.4.5 Hồi quy logistic
8.4.6 K - láng giềng gần nhất
8.4.7 Thuật toán Naïve Bayes
8.4.8 Mạng nơ-ron tiến
8.4.9 Mạng nơ-ron hồi quy (RNN)
8.4.10 Mạng bộ nhớ ngắn - dài hạn
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
8.4.12 Mạng đối nghịch tạo sinh
8.4.13 Học chuyển giao
8.4.14 Biểu diễn mã hóa hai chiều từ bộ biến đổi
8.4.15
XLNet
8.5 Siêu tối ưu
8.5.1 Tổng quan
8.5.2 Giải thuật di truyền
Thư mục tài liệu tham khảo