TIÊU CHUẨN QUỐC
GIA
TCVN 9708:2013
ISO
16002:2004
NGŨ
CỐC VÀ ĐẬU ĐỖ BẢO QUẢN - HƯỚNG DẪN PHÁT HIỆN NHIỄM ĐỘNG VẬT KHÔNG XƯƠNG SỐNG BẰNG
BẪY
Stored cereal grains and
pulses - Guidance on the detection of infestation by live invertebrates by
trapping
Lời nói đầu
TCVN 9708:2013 hoàn toàn tương đương với ISO 16002:2004;
TCVN 9723:2013 do Ban kỹ thuật tiêu chuẩn
quốc gia TCVN/TC/F1 Ngũ cốc và đậu đỗ biên soạn, Tổng Cục Tiêu chuẩn và
Đo lường Chất lượng thẩm định, Bộ Khoa học và Công nghệ công bố.
Lời giới thiệu
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Nếu hạt ngũ cốc bị nhiễm dịch hại thì thường
bị hư hỏng, hao hụt chất lượng, mất giá trị kinh tế, làm giảm giá trị dinh
dưỡng và có thể gây bệnh cho con người và động vật.
Hạt ngũ cốc đã bị nhiễm dịch hại có thể trở
thành nguồn lây nhiễm đáng kể đối với các hạt ngũ cốc nguyên vẹn. Sự lây nhiễm có
thể dẫn đến từ chối phân phối, các vấn đề về hợp đồng, mất thị trường quốc tế,
mất uy tín cũng như các vấn đề chứng nhận kiểm dịch thực vật theo Công ước quốc
tế và Bảo vệ thực vật.
Phát hiện sự lây nhiễm dịch hại cho phép xem
xét ban hành các quyết định khi nào cần xử lý hạt ngũ cốc và xử lý như thế nào.
Các biện pháp xử lý như vậy xem ví dụ đưa ra trong Phụ lục D, có thể có tác
động đến việc sử dụng hạt ngũ cốc về sau trong các sản phẩm dự kiến sử dụng cho
người và cho động vật.
Có thể sử dụng nhiều phương pháp để phát hiện
sự lây nhiễm động vật không xương sống còn sống trong khối hạt bảo quản nhưng hệ
thống thích hợp nhất để phát hiện chúng trong khối hạt ngũ cốc và đậu đỗ bảo quản
là dựa trên việc dùng bẫy, được mô tả trong tiêu chuẩn này. Một số phương pháp khác
được liệt kê trong Phụ lục A. Các phương pháp này đều có ưu điểm và nhược điểm.
Các phương pháp dựa trên việc loại bỏ và đánh giá mẫu sau đó ít phù hợp để phát
hiện côn trùng do hạn chế về phương pháp lấy mẫu.
Bẫy động vật không xương sống trong kho bảo
quản hạt ngũ cốc và đậu đỗ có thể được sử dụng để phát hiện sự tồn tại của dịch
hại, để thu thập mẫu vật nhằm định loài chính xác, để đánh giá số lượng của
chúng nếu đã thiết lập ngưỡng hoạt động và để giám sát quần thể động vật và để
giám sát quần thể động vật không xương sống sau khi áp dụng các biện pháp phòng
trừ để thử hiệu quả của chúng.
Phương pháp chuẩn [TCVN 5451 (ISO 13690)]*)
để lấy mẫu hạt ngũ cốc và đậu đỗ đặc biệt không áp dụng để lấy mẫu phát hiện lây
nhiễm dịch hại. Các phương pháp chuẩn để phát hiện côn trùng ẩn náu [xem TCVN 7847
(ISO 6639) (tất cả các phần) và TCVN 6130 (ISO 6639-4)] nhưng chưa có tiêu
chuẩn để phát hiện động vật không xương sống còn sống hoạt động tự do trong
khối hạt ngũ cốc và đậu đỗ bảo quản rời hoặc đóng bao.
NGŨ CỐC VÀ ĐẬU ĐỖ BẢO
QUẢN - HƯỚNG DẪN PHÁT HIỆN NHIỄM ĐỘNG VẬT KHÔNG XƯƠNG SỐNG BẰNG BẪY
Stored cereal grains
and pulses - Guidance on the detection of infestation by live invertebrates by
trapping
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Vì những lý do trên, tiêu chuẩn này chủ yếu
áp dụng đối với hạt được bảo quản rời trong các thùng hở, xilô, kho bằng hoặc
bằng nhiều tầng và hạt được đóng bao.
1. Phạm vi áp dụng
Tiêu chuẩn này mô tả các phương pháp dùng bẫy
để phát hiện động vật không xương sống còn sống trong khối hạt ngũ cốc và đậu
đỗ được bảo quản trong bao hoặc ở dạng rời.
2. Thuật ngữ và định
nghĩa
Trong tiêu chuẩn này sử dụng thuật ngữ và
định nghĩa sau:
2.1. Hạt (grain)
Hạt ngũ cốc và/hoặc hạt đậu đỗ.
2.2. Bọ cánh cứng (beetles)
Các loài thuộc bộ Coleoptera.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
2.3. Sự nhiễm côn trùng (infestation)
Các loại động vật nhỏ (mite) và côn trùng sống
mà ở một vài giai đoạn trong vòng đời của chúng có khả năng làm hư hỏng hạt.
CHÚ THÍCH: Các loài này cũng được gọi là
"dịch hại".
2.4. Động vật không xương sống (invertebrates)
Động vật đa bào không có xương sống, chủ yếu gồm
các loài động vật nhỏ và côn trùng thuộc ngành động vật chân khớp.
2.5. Ngài (moths)
Các loài thuộc bộ Cánh vẩy (Lepidoptera hoặc
Heterocera), có màu đậm hơn bướm và chủ yếu hoạt động vào ban đêm.
CHÚ THÍCH: Bướm (Rhophalocera) và ngài
(Heterocera) cùng thuộc bộ Cánh vẩy, nhưng bướm không gây hại kho hạt bảo
quản.
2.6. Pheromon tự nhiên (natural pheromone)
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
2.7. Pheromon tổng hợp (synthetic pheromone)
Phân tử pheromone được tổng hợp nhằm tăng gấp
đôi hiệu quả của pheromon tự nhiên.
CHÚ THÍCH Pheromon tổng hợp thường được dùng
làm chất dẫn dụ sinh dục để quyến rũ hoặc hấp dẫn con đực trong loài, ví dụ bẫy
ngài trong kho lương thực hoặc nông sản.
2.8. Bẫy (trap)
Dụng cụ được thiết kế và dùng để bắt giữ các
nhóm hoặc loài cụ thể khi các nhóm hoặc loài này đi vào, hoặc để nhử và thu hút
chúng vào trong dụng cụ.
3. Nguyên tắc
Các loài động vật nhỏ và côn trùng được phát
hiện bằng bẫy cơ học, hoặc dẫn dụ bằng thức ăn hoặc chất dẫn dụ khác hoặc cả
hai biện pháp. Bẫy cơ học giữ lại tất cả hoặc phần lớn côn trùng đi vào trong bẫy,
do bẫy được thiết kế để hạn chế sự thoát ra. Thức ăn hoặc chất dẫn dụ khác có
thể cũng được dùng trong dụng cụ thu hút động vật không xương sống nhưng chúng
không ngăn cản được côn trùng thoát ra. Hiệu quả của chúng phụ thuộc vào tính
hấp dẫn của mồi nhử, thu hút một phần lớn quần thể động vật không xương sống lưu
lại trong bẫy.
Do việc đánh bẫy phụ thuộc vào hoạt động của
các loài động vật nhỏ và côn trùng, nên các kết quả bẫy ở các điều kiện lạnh hoặc
rất nóng có thể sẽ khác nhau rõ rệt so với các kết quả thu được ở khoảng nhiệt
độ "thông thường" từ 15 oC đến 40 oC
4. Yêu cầu chung
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Tiêu chuẩn vệ sinh, phương thức quản lý dịch
hại đang áp dụng (ví dụ: các phương pháp kiểm soát nhiệt độ và độ ẩm, gõ đập)
và cách thức bảo quản hạt đều có tác động đến hiệu quả phát hiện động vật nhỏ và
côn trùng bằng bẫy. Xem TCVN 7857-2 (ISO 6322-2).
4.2. Hiệu quả của bẫy cơ học phụ thuộc vào sự di
chuyển tự nhiên của côn trùng, lối côn trùng đi vào bẫy mà từ đó chúng không
thể thoát ra hoặc không chọn được lối thoát.
4.3. Dụng cụ dùng mồi nhử dựa trên nguyên tắc côn
trùng bị dẫn dụ bằng thức ăn hoặc chất dẫn dụ khác và khi được đặt trong bẫy nhử
thì côn trùng sẽ ở lại đó.
4.4. Bẫy các loài côn trùng bay dựa vào nguyên
tắc là côn trùng trưởng thành sẽ bay hướng đến bẫy có chất dẫn dụ và sau đó bị
giữ lấy trong bẫy.
4.5. Chất dẫn dụ được sử dụng trong một số loại
bẫy là pheromen tổng hợp, chất này chỉ có hiệu quả cao đối với chi động vật và
thông thường chỉ đối với một giới của loài, thường là giống đực. Các chất dẫn dụ
là thức ăn thường dẫn dụ nhiều loài.
4.6. Các hệ thống bẫy không dùng mồi nhử phụ
thuộc hoàn toàn vào việc động vật không xương sống đi vào bẫy do ngẫu nhiên và
sau đó bị giữ lại trong bẫy. Kiểu bẫy này đôi khi được gọi là "bẫy ngẫu
nhiên".
4.7. Động vật nhỏ và côn trùng gây hại trong kho
bảo quản lương thực gồm:
a) bọ cánh cứng và mọt có giai đoạn trường
thành không biết bay;
b) bọ cánh cứng và mọt có giai đoạn trưởng
thành biết bay;
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
d) các động vật nhỏ không biết bay và các
động vật nhỏ chỉ có thể quan sát bằng mắt thường.
Việc lựa chọn loại bẫy tốt nhất phụ thuộc vào
nhóm dịch hại và các điều kiện vật lý (khí hậu và vị trí kho) nơi đặt bẫy.
5. Các loại bẫy
Có nhiều loại bẫy khác nhau. Các bẫy nêu
trong Phụ lục B và C là các loại bẫy tiêu biểu ở nhiều nước, có kèm theo hướng
dẫn về thiết kế và cấu trúc của bẫy. Việc sử dụng các loại bẫy khác nhau có thể
cho các kết quả khác nhau khi đánh giá quần thể dịch hại nhiễm trong cùng một
kho. Bẫy sản xuất tại chỗ, theo các nguyên tắc đưa ra trong tiêu chuẩn này sẽ
cung cấp thông tin có ích về sự nhiễm dịch hại, nhưng có thể không biết được
mức độ hiệu quả của chúng và các kết quả này sẽ không so sánh trực tiếp được
với các loại bẫy khác.
Phụ lục B đưa ra các ví dụ về các loại bẫy,
cùng với các minh họa trong Phụ lục C nhằm hỗ trợ việc lựa chọn các phương pháp
bẫy thích hợp trong bảo quản các loại lương thực khác nhau.
6. Phương pháp bẫy
6.1. Bẫy trong khối hạt rời
6.1.1 Bẫy động vật nhỏ và côn trùng bò trong khối
hạt rời
Các điều kiện có thể thay đổi được xem xét là:
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- cách tiếp xúc với bề mặt khối hạt,
- sự tiếp xúc với thời tiết,
- khối lượng từng khối hạt,
- thời hạn bảo quản dự kiến.
Cần lựa chọn loại bẫy phù hợp nhất. Bẫy loại ống
xiên (Hình C.1) được đặt thành cặp gồm một bẫy ở tầng trên khối hạt 10 cm đến
30 cm và bẫy thứ hai nằm sâu 200 cm trong khối hạt. Bẫy kết hợp giữa bẫy dạng
hộp với bẫy xiên (Hình C.3) cần dùng theo cặp, bẫy ở trên bề mặt hạt và bẫy ở
dưới nằm sâu khoảng 20 cm đến 30 cm trong khối hạt. Bẫy dạng hộp mở (Hình C.2)
được đặt trên bề mặt hạt. Bụi bám trên bề mặt trong của bẫy dạng hộp mở có thể
giúp động vật nhỏ, sâu non và một số loài bọ cánh cứng (đặc biệt là mọt gạo và
mọt ngô, Sitophilus oryzae và Sitopilus zeamais) có thể bò trên một
số bề mặt chất dẻo bóng để thoát ra. Do vậy, bề mặt bên trong của cửa bẫy
thường được xử lý bằng dung dịch PTFE (polyetrafluoroethen), dung dịch này có
thể được tẩy sạch và thay thế tùy theo hạn sử dụng.
Bẫy túi lưới chứa mồi (túi được làm từ chất
dẻo có mắt lưới 2 mm chứa chất dẫn dụ là thức ăn hỗn hợp) (Hình C.9) có thể
được đặt trực tiếp trên bề mặt khối hạt, nhưng loại bẫy này không thích hợp nếu
trong kho có nhiều động vật gặm nhấm. Hiệu quả của loại bẫy này giảm theo thời
gian lưu của các hợp phần thức ăn. Ở một số nước, đậu carob hoặc đậu locust được
chọn là hợp phần hấp dẫn nhất đối với động vật không xương sống, mùi thơm của chúng
giảm theo thời gian sử dụng. Các hợp phần thức ăn khác gồm lúa mì hoặc ngô
nguyên hạt dạng mảnh, ngô dạng cốm, yến mạch, lạc và gạo lật. Việc lựa chọn công
thức tạo mồi phụ thuộc vào nguyên liệu sẵn có tại địa phương và bản chất của khối
hạt được bảo quản cũng như sở thích đã biết hoặc dự đoán của các loài dịch hại
đích. Động vật không xương sống sẽ lưu lại bên trong túi lưới và mồi do sự chọn
lựa (sở thích) chứ không phải do không có lối thoát. Trong hầu hết kho bảo quản
hạt rời, bẫy túi lưới chứa mồi là thích hợp để phát hiện động vật không xương
sống trong kho hoặc trong kho hạt đóng bao.
Tất cả các loại bẫy sử dụng trong khối hạt rời
nên dùng dây hoặc vật liệu khác buộc vào cọc hoặc khung kho, để dễ đặt và tháo
gỡ. Sơ đồ hoặc bản vẽ bề mặt khối hạt nơi đặt bẫy có thể được giữ lại để trợ
giúp việc ghi các kết quả.
Động vật nhỏ trong kho bảo quản có thể dài đến
0,5 mm. khó nhìn thấy bằng mắt thường và thường phân tán lẫn trong lương thực
và tạp chất, làm cho việc kiểm tra bằng mắt khó khăn hơn. Hiện tại, dùng bẫy mồi
nhử có chất dẫn dụ để phát hiện động vật nhỏ trong kho để rời là hiệu quả nhất.
Bẫy dạng túi mồi ẩn bằng chất dẻo dựa vào sự hấp
dẫn của mồi làm bằng lương thực có độ ẩm cao nằm trong một khoang có độ ẩm
không khí cao nhằm lôi cuốn động vật nhỏ đi vào và lưu lại bên trong bẫy. Không
có biện pháp ngăn cản động vật nhỏ ra khỏi bẫy, chúng sẽ ra khỏi bẫy khi mồi bị
khô. Do vậy, số động vật nhỏ đếm được trong bẫy chỉ cho biết hoạt động của chúng
và có thể cần phải tăng tần suất kiểm tra để thu được số đếm tối ưu trong khi
mồi còn giữ được độ ẩm cao nhất và hấp dẫn nhất.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Bẫy động vật nhỏ có thể được đặt ở bất kỳ nơi
nào thích hợp, trên sàn, cách nhau 2 m hoặc 3 m, hoặc ở cạnh nhau trong trường
hợp đánh bẫy có mục tiêu cụ thể. Bảo dưỡng bẫy dạng mồi nhử thông thường bằng cách
lấy ra để kiểm tra và thay thế bằng một bẫy khác. Đối với một số kiểu bẫy, cần
thay thế hộp bằng chất dẻo đã tái sử dụng bằng hộp mồi mới. Thời gian thay thế phụ
thuộc vào độ tươi và độ ẩm của mồi, thường là 7 ngày đến 10 ngày. Sự thay đổi này
phụ thuộc vào điều kiện khí hậu địa phương và mặc dù hầu hết mồi nhử chứa chất ức
chế nấm mốc, nhưng khi phát hiện có nấm mốc trong bẫy thì nên thay thế.
6.1.2. Bẫy côn trùng biết bay trong khối hạt
rời
Các loại bẫy thích hợp để bẫy côn trùng bay
(Hình C.4, C.5 và C.8) có thể đặt trực tiếp trên bề mặt khối hạt hoặc ở độ cao từ
100 cm đến 300 cm trên bề mặt khối hạt. Khi đặt bẫy trong kho bảo quản hạt thì
cần lưu ý tới sơ đồ vị trí đặt và gỡ bẫy cho mỗi lần lấy số liệu.
Tất cả các loại bẫy đều thích hợp đối với kho
bảo quản hạt nhiều bụi, trừ bẫy sử dụng miếng dính. Tuy nhiên, kho có quá nhiều
bụi có thể làm giảm hiệu quả sử dụng chúng. Nơi đặt bẫy phụ thuộc vào mồi pheromon,
mồi được thay thế theo hướng dẫn của nhà sản xuất để duy trì sự hấp dẫn. Ở các vùng
khí hậu nhiệt đới nóng, cần thay mồi pheromon thường xuyên hơn so với khuyến
nghị chung, do tốc độ bay hơi nhanh hơn. Mồi chưa sử dụng phải được bảo quản ở
nhiệt độ thấp.
6.2. Bẫy trong bao hạt bảo quản
6.2.1. Yêu cầu chung
Để phát hiện có hiệu quả, phải lựa chọn kỹ
thuật bẫy phù hợp với loại động vật không xương sống cần bẫy. Chi tiết hơn xem
4.7. Không có loại bẫy nào loại trừ lẫn nhau và có thể sử dụng kết hợp các loại
bẫy trong cùng một kho.
6.2.2. Bẫy côn trùng bò trong bao hạt bảo
quản
Việc bố trí bẫy trong bao hạt bảo quản phụ
thuộc vào cách xếp bao và yêu cầu cần kiểm tra bẫy định kỳ. Một vài loại bẫy
cần được bảo trì thường xuyên, một số bộ phận phải được thay thế theo chu kỳ
được khuyến cáo. Ví dụ: mồi giải phóng pheromon, dải dính, tấm dính và đĩa giấy
tẩm dầu, các bộ phận này đều có sự biến đổi nên thời gian sử dụng hiệu quả bị
giới hạn.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Bẫy dạng hộp cactông gấp nếp có tấm đáy dính (Hình
C.8) và bẫy dạng khay chất dẻo có nắp và tấm đáy dính có thể thay thế được
(Hình C.7) đều phụ thuộc vào độ dính của chất dính phù hợp để giữ lại động vật
không xương sống khi chúng vào trong bẫy. Các loại bẫy này hiếm khi dùng đến
mồi. Tuy nhiên, khi có sẵn các các túi hoặc viên thức ăn để làm mồi nhử thì các
mồi này cần được thay thế theo khuyến cáo của nhà sản xuất hoặc nhà cung cấp.
Bẫy dạng hộp đáy phẳng có nắp dạng vòm đục lỗ
có thể dùng mồi là các viên khác hoặc túi thức ăn hoặc các viên năng pheromon.
Loại bẫy này phụ thuộc vào độ nhẵn và độ bóng của bề mặt trong tránh để động
vật không xương sống trốn thoát và hạn chế ảnh hưởng của bụi trong kho. Tuy
nhiên, động vật nhỏ, sâu non và một số bọ cánh cứng (đặc biệt là mọt gạo, Sitophilus
oryzae) có thể bò lên trên bề mặt chất dẻo bóng và trốn thoát.
Bẫy dạng hộp bằng chất dẻo gấp nếp hoặc có nắp
dạng tấm (Hình C.6) thường sử dụng mồi trên đĩa giấy hấp thụ nhỏ có một vài
giọt dầu thực vật dẫn dụ (ví dụ như: dầu ngô, dầu hướng dương, dầu hạt cải
dầu). Tùy thuộc vào thiết kế của bẫy, bụi trong không khí có thể phủ lên trên
đĩa dầu.
Bẫy túi lưới chứa mồi (Hình C.9) có thể được
bố trí ở hầu hết các vị trí trong bao hạt bảo quản. Hiệu quả của chúng giảm dần
theo thời gian lưu mồi. Động vật không xương sống lưu lại bên trong túi lưới và
thức ăn là do sự chọn lựa (sở thích) chứ không phải do không thể thoát khỏi bẫy.
Các thức ăn điển hình để làm mồi bao gồm đậu carob (đậu locust), lạc và lúa mì.
Ngô mảnh được dùng thay cho hạt tại những vị trí nhạy cảm của một số cơ sở chế
biến, nơi sự nhiễm bẩn của hạt được xem là nguy hiểm. Yến mạch cũng là loại lương
thực rất hấp dẫn đối với nhiều loại bọ cánh cứng. Gạo lật được dùng hiệu quả trong
kho bảo quản gạo.
6.2.3. Bẫy côn trùng biết bay trong bao hạt bảo
quản
Bẫy được dùng để phát hiện côn trùng biết bay
thường được đặt ở nơi thoáng khí, phía trên bao và cạnh bao hoặc trên tường của
kho. Vị trí đặt bẫy phải thuận lợi cho việc quan sát và kiểm tra. Nhìn chung,
bẫy côn trùng biết bay nhử mồi bằng các viên nang có chứa pheromon và/hoặc mồi bằng
thức ăn, các bẫy "đích" này ít phụ thuộc vào việc côn trùng mắc bẫy ngẫu
nhiên.
Bẫy ngài bằng loại thùng hoặc phễu có sử dụng
mồi pheromon (Hình C.4) thường được treo lên trần nơi thuận tiện nhất hoặc ở vị
trí giá treo, hoặc được đặt trực tiếp lên nóc đống bao. Cách kiểm tra ngài bị
bẫy là quan trọng, cần có phương pháp giữ ngài trưởng thành trong túi/hộp thu
nhận. Có thể thực hiện được điều này bằng cách đặt một dải vải nhỏ tẩm dichlorvos
bên trong hộp thu nhận (nếu được cơ quan có thẩm quyền cho phép), hoặc bằng
cách đặt dải dính lên đáy hoặc xung quanh thành trong của hộp thu nhận. Bẫy phải
được đặt ở nơi dễ tiếp cận để dễ thay viên nang pheromon theo khuyến cáo của
nhà sản xuất hoặc nhà cung cấp.
Bẫy dạng lều bằng chất dẻo gấp nếp hoặc bằng
cactông (Hình C.5) được treo giống như bẫy dạng thùng. Loại bẫy này cũng có
viên nang chứa pheromon, chúng cần được thay thường xuyên. Tuy nhiên, phương
pháp bẫy này phụ thuộc vào bề mặt dính ở đáy lều. Do cửa lều rộng, nên loại bẫy
này có thể bị ảnh hưởng bởi bụi từ không khí và bề mặt dính có thể mất hiệu quả
nhanh trong điều kiện bụi bẩn. Một dạng khác của thiết kế này sử dụng bề mặt
dính trong nắp đậy và trên đáy đối diện. Loại này thường có cửa hẹp, giảm được
sự xâm nhập của bụi.
Bẫy bắt côn trùng biết bay dựa vào dải dính
để hở, dùng mồi nhử là viên nang tẩm pheromon, cần định kỳ thay thế viên nang
theo khuyến cáo của nhà sản xuất hoặc nhà cung cấp. Bề mặt hở của bẫy dính sẽ
bị dính bụi nhanh hơn bẫy có bề mặt dính bên trong. Nhiều loại bẫy này thường
được thay mới hoàn toàn khi pheromon hết hoạt lực, chúng có cấu trúc đơn giản
và chi phí thấp. Việc bố trí các bẫy này nhìn chung giống với các loại bẫy ở
trên, ngoại trừ việc bẫy này không thích hợp khi đặt trực tiếp chúng trên các
bao trên cùng của chồng bao.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
6.2.4. Bẫy các loài động vật nhỏ trong bao
hạt bảo quản
Động vật nhỏ trong kho dài khoảng 0,5 mm, nên
không dễ quan sát bằng mắt thường và thường phân tán trong khối hạt làm cho
việc quan sát bằng mắt thường khó khăn hơn. Việc sử dụng bẫy mồi nhử có chất
dẫn dụ hiện nay là phương pháp hiệu quả nhất để phát hiện lượng nhỏ động vật trong
kho lương thực. Bẫy mồi ẩn bằng chất dẻo dựa vào tính hấp dẫn của bả thức ăn có
độ ẩm cao bên trong khoang có độ ẩm không khí cao nhằm thu hút động vật nhỏ vào
và lưu lại trong bẫy. Không có biện pháp nào để ngăn chặn động vật nhỏ thoát
khỏi bẫy khi bả thức ăn khô. Số lượng động vật nhỏ trong bẫy chỉ cho biết hoạt
động của chúng, do vậy cần phải tăng tần suất kiểm tra để thu được số lượng
động vật nhỏ tối ưu.
Có thể dùng bẫy bằng túi lưới chứa mồi (Hình C.9)
để phát hiện động vật nhỏ ở hầu hết các vị trí trong kho. Hiệu quả của chúng sẽ
thấp hơn bẫy có mồi ẩn, do độ ẩm của các hợp phần thức ăn thấp hơn và dẫn đến độ
ẩm không khí thấp hơn. Động vật nhỏ lưu lại trong bẫy có mồi là do chúng lựa
chọn (sở thích) chứ không phải do chúng không thể thoát khỏi bẫy. Nếu động vật nhỏ
có mặt ở vùng nào đó của kho thì độ ẩm tương đối của không khí nơi đó phải phù
hợp với sự phát triển của chúng (độ ẩm tương đối của không khí thường trên 60
%), túi mồi và mồi bên trong nhanh chóng đạt cân bằng ẩm trong thời gian từ 24 h
đến 36 h, thời gian này kéo dài khi bẫy có hiệu quả dẫn dụ động vật nhỏ, trước
khi nấm mốc phát triển làm giảm khả năng sử dụng bẫy.
Bẫy động vật nhỏ có thể được đặt ở bất kỳ nơi
nào thuận tiện, trên sàn hoặc giữa các bao và giá, với khoảng cách giữa các bẫy
khoảng 2 m đến 3 m, hoặc để cạnh nhau trong trường hợp đánh bẫy có mục tiêu. Việc
bảo trì bẫy được thực hiện bằng cách gỡ bẫy đưa đi kiểm tra và thay bẫy mới.
Đối với một số bẫy chỉ thực hiện việc thay thế hộp chứa mồi. Khoảng thời gian thay
thế phụ thuộc vào độ tươi và độ ẩm của mồi và thường là 7 ngày đến 10 ngày.
Khoảng thời gian có thể thay đổi phụ thuộc vào điều kiện khí hậu địa phương,
tuy hầu hết các loại mồi đều có chất chống mốc, nhưng sự phát triển của nấm mốc
sẽ là dấu hiệu thực tế để thay mồi.
7. Ghi kết quả
Cần lập một bảng đơn giản để ghi kết quả của
việc động vật không xương sống bị bắt giữ, bị bẫy hoặc có mặt trong hoặc trên các
loại bẫy mô tả ở trên. Thông tin bao gồm:
a) tên hoặc số hiệu thùng/xilô/ngăn bảo quản hạt
(nếu thích hợp);
b) loại hạt được giám sát côn trùng bằng bẫy;
c) độ ẩm trung bình của khối hạt rời hoặc
đóng bao;
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
e) nhiệt độ môi trường trung bình của kho
trong ngày làm việc;
f) độ ẩm trung bình của không khí trong kho trong
ngày làm việc;
g) loại bẫy;
h) vị trí đặt bẫy;
i) số lượng bẫy;
j) ngày đặt bẫy;
k) ngày bảo dưỡng bẫy (thay mồi, v.v…);
l) ngày (hoặc tuần) từ lần đếm cuối cùng;
m) ngày đếm côn trùng/động vật nhỏ;
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
o) giai đoạn sống hiện tại (nếu cần để kiểm
soát dịch hại).
Các thông tin khác có thể cần thu thập theo
yêu cầu (ví dụ: tên của kỹ thuật viên, nơi khối hạt đến, thời tiết trong ngày
lấy mẫu).
8. Diễn giải kết quả
8.1. Việc xác định chính xác động vật không xương
sống bắt được trong bẫy là cần thiết để đưa ra giải pháp kiểm soát. Việc xác
định động vật không xương sống trong kho bảo quản không phải là kỹ năng thông
thường và có thể cần đến chuyên gia để thực hiện việc này.
8.2. Số lượng động vật không xương sống trong bẫy
phụ thuộc vào loài và vị trí. Các loại hạt dùng làm thức ăn cho con người thường
được bảo quản với tiêu chuẩn cao hơn so với hạt dùng làm thức ăn chăn nuôi. Trong
một số trường hợp, có thể đặt ra giới hạn về số lượng dịch hại, nếu vượt quá
thì cần đưa ra biện pháp quản lý dịch hại thích hợp, như xông khử trùng. Sự
khác biệt về độ lớn của các giới hạn này phản ánh tầm quan trọng của dịch hại và
tính chặt chẽ của các tiêu chuẩn chất lượng được áp dụng cho khối hạt.
8.3. Việc chọn đúng bẫy sẽ cho kết quả phát hiện
động vật nhỏ và côn trùng tin cậy hơn so với các phương pháp lấy mẫu hạt thương
mại thông thường (không được thiết kế để phát hiện động vật không xương sống),
nên cả bên bán và bên mua cần phải thống nhất phương pháp hiện được sử dụng.
8.4. Các loại bẫy và kế hoạch bảo dưỡng phù hợp
với từng loại bẫy có thể được chuẩn hóa. Tuy nhiên, cùng một loại bẫy sử dụng cho
kho bảo quản hạt rời hoặc bao hạt bảo quản khác nhau có thể cho kết quả rất khác
nhau. Sự khác nhau về hiệu quả có thể do một số yếu tố như: nhiệt độ và độ ẩm của
hạt, sự khác nhau về giống của cùng một loại hạt và sự khác biệt về khí hậu.
Xem thêm 6.1 về lưu ý với các loại bẫy.
Việc đánh bẫy chỉ đưa ra đánh giá tương đối số
lượng động vật không xương sống, nhưng không đưa ra thông tin về xu hướng tăng
hoặc giảm đàn côn trùng cho phép bắt đầu hoặc thay đổi chiến lược kiểm soát
dịch hại.
8.5. Tiêu chuẩn này không quy định ý nghĩa của các
số lượng động vật không xương sống khác nhau phát hiện được bằng bẫy trong kho
bảo quản. Trong một số trường hợp, có thể áp dụng các tiêu chuẩn quốc gia;
ngoài ra có thể sử dụng các quy định kỹ thuật trong thương mại.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
PHỤ
LỤC A
(Tham khảo)
CÁC
BIỆN PHÁP KHÁC ĐỂ PHÁT HIỆN ĐỘNG VẬT KHÔNG XƯƠNG SỐNG CÒN SỐNG TRONG KHỐI HẠT
BẢO QUẢN
Các phương pháp sau đôi khi được sử dụng:
- phương pháp âm học;
- phương pháp thông khí*;
- phương pháp giải phóng cacbon dioxit*;
- phương pháp tách đãi*;
- phương pháp cấp và phát nhiệt*;
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- phương pháp nhuộm màu ninhydrin*;
- phương pháp cộng hưởng từ hạt nhân*;
- phương pháp đâm/xiên*;
- phương pháp sàng*;
- phương pháp phát hiện bằng axit uric*;
- phương pháp kiểm tra bằng mắt thường**;
- phương pháp dùng tia X*.
Các phương pháp được đánh dấu hoa thị dựa vào
việc lấy mẫu hàng hóa. Việc lấy mẫu không được xem là biện pháp hiệu quả nhất để
phát hiện động vật không xương sống có mặt trong kho bảo quản hạt. Một số phương
pháp này được mô tả trong TCVN 6130 (ISO 6639-4).
Phương pháp được đánh dấu hai hoa thị dựa vào
việc quan sát liên quan đến phần lựa chọn của hạt trong kho, hơn là loại bỏ mẫu
riêng đối với phép kiểm tra tiếp theo.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
PHỤ
LỤC B
(Tham khảo)
VÍ
DỤ VỀ CÁC LOẠI BẪY PHÁT HIỆN CÔN TRÙNG KHÔNG XƯƠNG SỐNG CÒN SỐNG TRONG KHO BẢO
QUẢN HẠT
Điều
Tình trạng bảo quản
Loại bẫy
6.1.1
Khối hạt rời:
Động vật nhỏ và côn trùng bò
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Bẫy dạng hộp
Bẫy kết hợp xiên và dạng hộp
Túi lưới chứa mồi
6.1.2
Khối hạt rời:
Côn trùng biết bay
Bẫy dạng thùng hoặc phễu
Bẫy dạng lều bằng chất dẻo gấp nếp hoặc
bằng cactông
Bẫy dạng dải dính hở
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
6.2.2
Bảo quản trong bao:
Côn trùng bò
Hộp cactông có tấm đáy dính
Khay chất dẻo có nắp và có tấm đáy dính
Bẫy dạng hộp đáy phẳng có nắp đậy dạng vòm đục
lỗ
Bẫy dạng hộp bằng chất dẻo gấp lại có nắp
đậy gấp hoặc phẳng
Túi lưới chứa mồi
6.2.3
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Côn trùng biết bay
Bẫy dạng thùng hoặc phễu
Bẫy dạng lều bằng chất dẻo gấp nếp hoặc
bằng cactông
Bẫy dạng dải dính hở
Bẫy dạng hộp nông mở-đóng/cạnh
6.2.4
Bảo quản trong bao:
Động vật nhỏ
Bẫy mồi ẩn
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
PHỤ
LỤC C
(Tham khảo)
CÁC
VÍ DỤ MINH HỌA VỀ CÁC LOẠI BẪY KHÁC NHAU ĐƯỢC DÙNG ĐỂ PHÁT HIỆN ĐỘNG VẬT NHỎ VÀ
CÔN TRÙNG SỐNG TRONG KHO BẢO QUẢN HẠT


Hình C.1 - Bẫy xiên
bằng chất dẻo hình ống
Hình C.2 - Bẫy dạng
hộp bằng chất dẻo

...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Hình C.3 - Bẫy kết
hợp xiên và dạng hộp
Hình C.4 - Bẫy dạng
thùng hoặc phễu


Hình C.5 - Bẫy dạng
lều bằng chất dẻo gấp nếp hoặc bằng cactông có chất dính ở mặt trong (đôi khi được gọi
là bẫy tam giác)
Hình C.6 - Bẫy dạng
hộp gồm phần bẫy bằng chất dẻo gấp lại và có miếng tẩm dầu làm chất dẫn dụ


...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Hình C.8 - Hộp
cactông có tấm đáy dính

Hình C.9 - Túi lưới
bằng chất dẻo có chứa bả thức ăn
PHỤ
LỤC D
(Tham khảo)
VÍ
DỤ VỀ CÁC PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ ĐỐI VỚI HẠT BỊ HƯ HỎNG DO ĐỘNG VẬT KHÔNG XƯƠNG SỐNG
GÂY HẠI
D.1. Phương pháp xử lý vật lý
Các ví dụ sau được sử dụng:
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- xử lý bằng nhiệt độ thấp (đưa hạt xuống
dưới - 15 oC trong ít nhất một tuần)
- gõ đập (như dùng máy quay ly tâm khi
nghiền)
- thiết bị truyền rung động (thích hợp nhất
để giảm động vật nhỏ gây hại)
- khoan vệ sinh.
D.2. Phương pháp xử lý bằng hóa chất (thuốc
bảo vệ thực vật)
Các ví dụ sau được sử dụng:
- xông khử trùng bằng độc tố (thường sử dụng hoặc
metyl bromit hoặc khí phosphin);
- xông khử trùng bằng khí tự nhiên (hoặc nitơ
hoặc cacbon dioxit).
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
[1] TCVN 7857-1:2008 (ISO 6322-1:1996), Bảo
quản ngũ cốc và đậu đỗ - Phần 1: Khuyến nghị chung về bảo quản ngũ cốc
[2] TCVN 7857-2:2008 (ISO 6322-2:2000), Bảo
quản ngũ cốc và đậu đỗ - Phần 2: Khuyến nghị thực hành
[3] TCVN 7847-1:2008 (ISO 6639-1:1986), Ngũ
cốc và đậu đỗ - Xác định sự nhiễm côn trùng ẩn náu - Phần 1: Nguyên tắc chung
[4] TCVN 7847-2:2008 (ISO 6639-2:1986), Ngũ
cốc và đậu đỗ - Xác định sự nhiễm côn trùng ẩn náu - Phần 2: Lấy mẫu
[5] TCVN 7847-3:2008 (ISO 6639-3:1986), Ngũ
cốc và đậu đỗ - Xác định sự nhiễm côn trùng ẩn náu - Phần 3: Phương pháp chuẩn
[6] TCVN 6130:1996 (ISO 6639-4:1987), Ngũ
cốc và đậu đỗ - Xác định sự nhiễm côn trùng ẩn náu - Các phương pháp nhanh
[7] TCVN 5451:2008 (ISO 13690:1999), Ngũ
cốc, đậu đỗ và sản phẩm nghiền - Lấy mẫu từ khối hàng tĩnh.
*)
(TCVN 5451 ISO 13690) đã hủy và được thay bằng TCVN 9027:2011 (ISO 24333:2009) Ngũ
cốc và sản phẩm ngũ cốc - Lấy mẫu.