ỦY
BAN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ YÊN
--------
|
CỘNG
HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
Số:
928/2009/QĐ-UBND
|
Tuy
Hòa, ngày 27 tháng 5 năm 2009
|
QUYẾT ĐỊNH
VỀ
VIỆC BAN HÀNH QUY ĐỊNH VỀ TRÌNH TỰ, THỦ TỤC GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO TRÊN ĐỊA
BÀN TỈNH CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng
nhân dân và Ủy ban nhân dân ngày 26 tháng 11 năm 2003;
Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy
phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân ngày 03 tháng 12 năm
2004;
Căn cứ Luật Khiếu nại, tố cáo
ngày 02 tháng 12 năm 1998; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Khiếu nại, tố
cáo ngày 15 tháng 6 năm 2004 và ngày 29 tháng 11 năm 2005;
Căn cứ Nghị định số
136/2006/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng
dẫn thi hành Luật Khiếu nại, tố cáo và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật
Khiếu nại, tố cáo;
Xét đề nghị của Chánh Thanh
tra tỉnh và Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1.
Ban hành Quy định về trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo trên địa
bàn tỉnh Phú Yên.
Điều 2.
Quyết định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo tỉnh
Phú Yên.
Điều 3.
Chánh Văn phòng UBND tỉnh, Chánh Thanh tra tỉnh, Thủ trưởng các cơ quan chuyên
môn, Chủ tịch UBND các huyện, thành phố, các tổ chức và cá nhân có liên quan chịu
trách nhiệm thi hành Quyết định này./.
|
TM.
ỦY BAN NHÂN DÂN
CHỦ TỊCH
Phạm Ngọc Chi
|
QUY TRÌNH
XỬ LÝ ĐƠN KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VÀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO
TRÊN ĐỊA BÀN TOÀN TỈNH PHÚ YÊN
(Ban hành kèm theo Quyết định số 928/2009/QĐ-UBND ngày 27 tháng 5 năm 2009 của
Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Yên)
Chương I
QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1.
Quy trình này quy định trình tự, thủ tục xử lý đơn khiếu nại, tố cáo và giải
quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp,
Thủ trưởng các sở, ngành:
- Về khiếu nại: bao gồm về khiếu
nại quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật cán bộ, công
chức thuộc thẩm quyền quản lý của Ủy ban nhân dân tỉnh, Thủ trưởng các sở,
ngành, các cấp.
- Về tố cáo: bao gồm tố cáo hành
vi vi phạm pháp luật, hành vi vi phạm các quy định của cán bộ, công chức thuộc
thẩm quyền giải quyết của Ủy ban nhân dân tỉnh và Thủ trưởng các sở, ngành, các
cấp.
Điều 2.
Thủ trưởng các sở, ngành, các cấp có trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo
thuộc thẩm quyền hoặc được cấp trên giao. Thành lập các Đoàn thanh tra, Tổ kiểm
tra xác minh khiếu nại, tố cáo phải đảm bảo tính trung thực, khách quan, chính
xác đúng quy định của pháp luật khiếu nại, tố cáo và những quy định tại quy
trình này.
Chương II
XỬ LÝ ĐƠN KHIẾU NẠI, TỐ
CÁO
Điều 3.
Tiếp nhận, xử lý đơn khiếu nại, tố cáo:
Sau khi nhận được đơn khiếu nại,
tố cáo, trong thời gian 10 ngày cán bộ được phân công có trách nhiệm nghiên cứu,
xem xét, phân loại đơn khiếu nại, tố cáo, xác định nội dung chính của đơn và xử
lý theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo. Các đơn khiếu nại, tố cáo
sau khi phân loại phải ghi nội dung đơn vào sổ theo dõi, quản lý.
Điều 4.
Xử lý đối với đơn khiếu nại, tố cáo không thuộc thẩm quyền giải quyết
a) Đối với đơn khiếu nại:
- Đơn khiếu nại do cơ quan, tổ
chức, đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp nhận được chuyển đến cơ quan
nhà nước thì gửi trả lại cho cơ quan, tổ chức, cá nhân đó và thông báo cho cơ
quan, tổ chức, cá nhân đó biết cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết;
- Đơn khiếu nại do công dân chuyển
đến thì thông báo bằng văn bản và hướng dẫn người khiếu nại biết cơ quan có thẩm
quyền giải quyết. Việc thông báo này chỉ thực hiện một lần. Nếu người khiếu nại
gửi kèm theo các tài liệu là bản gốc thì cơ quan nhà nước nhận được phải gửi trả
lại cho người khiếu nại. Trường hợp người khiếu nại tiếp tục gửi đến thì lưu hồ
sơ.
b) Đối với đơn tố cáo:
Đơn tố cáo không thuộc thẩm quyền
giải quyết phải làm thủ tục chuyển hồ sơ, tài liệu liên quan đến cơ quan có thẩm
quyền để giải quyết và thông báo cho người tố cáo biết cơ quan có thẩm quyền giải
quyết để theo dõi.
Điều 5.
Xử lý đơn khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết:
Đối với đơn khiếu nại, tố cáo đủ
điều kiện thụ lý giải quyết. Cán bộ chuyên môn phải tóm tắt nội dung, tính chất
của vụ việc, báo cáo bằng văn bản cho người có thẩm quyền giải quyết ra quyết định
thụ lý giải quyết và thông báo cho người khiếu nại, tố cáo biết.
- Thủ trưởng các đơn vị thuộc Ủy
ban nhân dân tỉnh được giao xác minh, kết luận vụ việc theo đúng quy định của
pháp luật khiếu nại, tố cáo, cán bộ chuyên môn xem xét nội dung đơn và các tài
liệu liên quan đưa vụ việc vào danh sách thụ lý để giải quyết, kết thúc xác
minh báo cáo kết quả đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh.
Chương III
TRÌNH TỰ, THỦ TỤC GIẢI
QUYẾT ĐƠN KHIẾU NẠI QUYẾT ĐỊNH HÀNH CHÍNH
Điều 6.
Ra quyết định thành lập Đoàn thanh tra, Tổ kiểm tra và duyệt kế hoạch xác minh
đơn khiếu nại:
Căn cứ nội dung đơn khiếu nại,
báo cáo đề xuất của cán bộ chuyên môn, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định
thành lập Đoàn thanh tra, Tổ kiểm tra để xác minh, kết luận vụ việc hoặc giao
Thủ trưởng đơn vị thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định thành lập Đoàn thanh
tra, Tổ kiểm tra xác minh, kết luận. Trưởng đoàn thanh tra, Tổ trưởng Tổ kiểm
tra nghiên cứu nội dung vụ việc, xây dựng kế hoạch thanh tra, kiểm tra xác minh
để trình người ký quyết định thành lập Đoàn thanh tra, Tổ kiểm tra phê quyệt kế
hoạch thanh tra, kiểm tra xác minh.
Điều 7.
Thông báo việc thụ lý và quyết định giải quyết khiếu nại:
Thủ trưởng đơn vị được Chủ tịch Ủy
ban nhân dân tỉnh giao nhiệm vụ thanh tra, kiểm tra xác minh sau khi ra quyết định
thành lập Đoàn thanh tra, Tổ kiểm tra xác minh phải gửi quyết định đó đến người
khiếu nại để biết thực hiện quyền và nghĩa vụ của người khiếu nại theo quy định
pháp luật khiếu nại, tố cáo.
Điều 8.
Lập hồ sơ thanh tra, kiểm tra xác minh:
Sau khi có quyết định thụ lý, thành
lập Đoàn thanh tra, Tổ kiểm tra xác minh được ban hành thì Trưởng đoàn thanh
tra, Tổ trưởng Tổ kiểm tra xác minh phải lập hồ sơ giải quyết khiếu nại ban
hành kèm theo Quyết định số 2278/QĐ-TTCP ngày 24 tháng 10 năm 2007 của Thanh
tra Chính phủ.
Điều 9.
Công bố quyết định thanh tra, kiểm tra xác minh:
Quyết định thanh tra, kiểm tra,
xác minh được ban hành, trong thời gian 15 ngày Đoàn thanh tra, Tổ kiểm tra phải
công bố quyết định thanh tra, kiểm tra tại cơ quan, đơn vị, địa phương nơi phát
sinh khiếu nại. Đối với cá nhân khiếu nại được công bố tại buổi làm việc đầu
tiên với Đoàn thanh tra, kiểm tra. Thời gian tiến hành thanh tra, kiểm tra được
tính từ ngày công bố quyết định (không tính ngày nghỉ, ngày lễ).
- Thành phần họp để công bố quyết
định thanh tra, kiểm tra có thành viên của Đoàn thanh tra, Tổ kiểm tra, người
ra quyết định hành chính hoặc người có hành vi hành chính bị khiếu nại và những
người có liên quan.
- Nội dung công bố quyết định
thanh tra, kiểm tra:
+ Công bố quyết định thanh tra,
kiểm tra.
+ Giới thiệu thành viên Đoàn
thanh tra, Tổ kiểm tra.
+ Thông báo kế hoạch thanh tra,
kiểm tra; thời gian làm việc của Đoàn thanh tra, Tổ kiểm tra.
Điều 10.
Tiến hành thanh tra, kiểm tra:
1. Làm việc với người khiếu nại
xác định cụ thể nội dung khiếu nại, tiếp nhận hồ sơ, tài liệu liên quan đến nội
dung khiếu nại làm rõ nội dung bị khiếu nại, giải thích chính sách pháp luật
liên quan đến nội dung khiếu nại cho người khiếu nại hiểu rõ nội dung khiếu nại
của mình đúng hay sai để có hướng xử lý đúng pháp luật.
2. Làm việc với người bị khiếu nại
làm rõ nội dung bị khiếu nại, tiếp nhận hồ sơ, tài liệu liên quan đến nội dung
bị khiếu nại.
3. Làm việc với cá nhân, cơ
quan, tổ chức có liên quan để làm rõ nội dung khiếu nại, thu thập hồ sơ tài liệu
để làm căn cứ giải quyết các nội dung khiếu nại.
4. Thu thập chứng cứ, tài liệu,
kiểm tra thực địa, đối với tài liệu nếu cần phải trưng cầu giám định phải thực
hiện đúng trình tự, thủ tục và quy định của pháp luật về trưng cầu giám định.
5. Nghiên cứu hồ sơ, tài liệu,
đơn khiếu nại, các biên bản làm việc của người khiếu nại, người bị khiếu nại,
các cơ quan, tổ chức liên quan và đối chiếu với nội dung kế hoạch thanh tra, kiểm
tra để xác định nội dung cần làm rõ để tập trung xác minh có trọng tâm, trọng
điểm.
6. Trong thời gian thanh tra, kiểm
tra xác minh nếu phát hiện những vấn đề mới ngoài những nội dung đã được xác
minh tại kế hoạch thanh tra, kiểm tra mà cần phải làm rõ thì Trưởng đoàn thanh
tra, Tổ trưởng Tổ kiểm tra phải báo cáo xin ý kiến chỉ đạo của người ký quyết định
thành lập Đoàn thanh tra, Tổ kiểm tra, khi được sự đồng ý bằng văn bản mới được
tiến hành thanh tra, thẩm tra, xác minh. Nội dung này phải thông báo đến người
khiếu nại, người bị khiếu nại biết để thực hiện.
7. Trong quá trình thanh tra, kiểm
tra, xác minh cần chú ý:
a) Quá trình làm việc với người
khiếu nại, người bị khiếu nại, các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan đều phải
lập biên bản làm việc theo quy định.
b) Khi tiếp nhận hồ sơ, tài liệu,
chứng cứ phải lập biên bản nhận hồ sơ, tài liệu chi tiết, cụ thể theo loại hồ
sơ, tài liệu và người cung cấp hồ sơ, tài liệu phải ký tên vào biên bản. Các hồ
sơ, tài liệu do cơ quan, tổ chức cung cấp phải đóng dấu của cơ quan, tổ chức đó
vào tài liệu hồ sơ và có biên bản tiếp nhận ghi cụ thể, chi tiết và cùng ký tên
vào biên bản.
c) Biên bản kiểm tra hiện trạng
phải được các thành phần tham gia ký tên.
8. Trong quá trình thanh tra, kiểm
tra nếu xét thấy cần thiết phải đối chiếu giữa các bên về vấn đề liên quan đến
khiếu nại thì có thể tổ chức đối chất làm rõ thêm nội dung khiếu nại để có cơ sở
giải quyết. Việc thực hiện đối chất giữa các bên liên quan phải lập biên bản.
Điều 11. Đánh
giá, nhận xét thông tin, xác định căn cứ tính pháp lý giải quyết khiếu nại:
- Sau khi xác minh, làm việc các
bên, các cơ quan, tổ chức có liên quan cũng như đối chất, Đoàn thanh tra, Tổ kiểm
tra phải phân tích, đánh giá, nhận xét những thông tin thu nhận được từ hồ sơ,
tài liệu để làm cơ sở giải quyết vụ việc khiếu nại.
- Vận dụng chính sách, pháp luật
và các văn bản pháp lý khác liên quan đến nội dung khiếu nại để xác định nội
dung khiếu nại đúng, sai rõ ràng. Việc vận dụng các văn bản pháp lý để làm căn
cứ giải quyết phải đảm bảo thời gian, thời điểm hiệu lực thực hiện của văn bản
đó.
Điều 12.
Báo cáo kết quả thẩm tra, xác minh:
1. Sau khi đánh giá, nhận xét
thông tin, xác định căn cứ tính pháp lý để giải quyết khiếu nại, rà soát nội
dung thực hiện kế hoạch thanh tra, kiểm tra. Trưởng đoàn thanh tra, Tổ trưởng Tổ
kiểm tra dự thảo báo cáo kết quả xác minh, nội dung báo cáo kết quả cần phải thể
hiện: tóm tắt khái quát vụ việc khiếu nại, quá trình thụ lý giải quyết của các
cấp, các cơ quan có thẩm quyền, quá trình thẩm tra, xác minh; các chủ trương,
chính sách, pháp luật của nhà nước để làm căn cứ vận dụng giải quyết khiếu nại;
nhận xét, kết luận phải xác định rõ nội dung khiếu nại nào đúng, khiếu nại sai,
từ đó có kiến nghị giải quyết đúng pháp luật.
2. Dự thảo báo cáo kết quả xác
minh phải được thông qua các thành viên trong Đoàn thanh tra, Tổ kiểm tra. Trường
hợp có ý kiến khác nhau của các thành viên về nội dung kết luận, kiến nghị của
bản báo cáo kết quả xác minh thì Trưởng đoàn thanh tra, Tổ trưởng Tổ kiểm tra
phải ghi đầy đủ ý kiến khác nhau đó vào biên bản họp Đoàn thanh tra, Tổ kiểm
tra để báo cáo người ra quyết định thành lập Đoàn thanh tra, Tổ kiểm tra xem
xét, quyết định.
Điều 13.
Tổ chức đối thoại:
1. Trường hợp giải quyết khiếu nại
lần đầu, người giải quyết khiếu nại phải tổ chức đối thoại với các bên để làm
rõ thêm các nội dung khiếu nại trước khi kết luận và ra quyết định giải quyết
khiếu nại. Để phục vụ cho việc đối thoại Trưởng đoàn thanh tra, Tổ trưởng Tổ kiểm
tra phải chuẩn bị hồ sơ, tài liệu, các văn bản pháp lý liên quan phục vụ cho việc
kết luận thanh tra, kiểm tra, xác minh đơn khiếu nại, ra quyết định giải quyết
khiếu nại, giúp cho người ra quyết định giải quyết khiếu nại có đầy đủ căn cứ đối
thoại với người khiếu nại.
2. Sau khi đối thoại với các
bên, Trưởng đoàn thanh tra, Tổ trưởng Tổ kiểm tra hoàn chỉnh báo cáo kết quả
xác minh và dự thảo kết luận thanh tra, kiểm tra để người ra quyết định giải
quyết khiếu nại xem xét ký ban hành và ra quyết định giải quyết khiếu nại.
Điều 14.
Ban hành quyết định giải quyết khiếu nại:
1. Ra quyết định giải quyết khiếu
nại là giai đoạn kết thúc việc xem xét giải quyết khiếu nại theo thẩm quyền.
2. Quyết định giải quyết khiếu nại
phải đảm bảo yêu cầu về hình thức, nội dung theo quy định.
a) Về hình thức: phải thể hiện
được đầy đủ các yếu tố của một quyết định hành chính được ban hành theo thẩm
quyền.
b) Về nội dung: phải thể hiện được
quyết định giải quyết của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại; bao gồm các
vấn đề sau:
- Ngày, tháng, năm ra quyết định
giải quyết khiếu nại.
- Họ và tên, địa chỉ người khiếu
nại, người bị khiếu nại.
- Nội dung khiếu nại.
- Tóm tắt nội dung xác minh.
- Căn cứ pháp lý liên quan được
vận dụng để giải quyết nội dung khiếu nại.
- Kết luận về nội dung khiếu nại;
kết quả khiếu nại đúng, sai cụ thể.
- Kết luận giải quyết khiếu nại
và các quyền lợi của các bên, xử lý kỷ luật hành chính đối với các cán bộ liên
quan có vi phạm; cơ quan, tổ chức, người khiếu nại, người bị khiếu nại thực hiện
quyết định giải quyết khiếu nại.
- Thời gian để các bên có quyền
được khiếu nại tiếp lên cơ quan quản lý nhà nước cấp trên, quyền được khởi kiện
vụ án hành chính tại Tòa án. Ngoài ra, nếu quyết định giải quyết khiếu nại lần
đầu phải gửi lên cơ quan cấp trên, Chánh Thanh tra cấp trên trực tiếp để biết
theo dõi, nếu giải quyết lần hai, thì gửi quyết định giải quyết khiếu nại cho
người giải quyết khiếu nại lần đầu biết để thực hiện.
Điều 15.
Công bố quyết định giải quyết khiếu nại:
1. Người giải quyết khiếu nại lần
đầu gửi quyết định giải quyết khiếu nại đến Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn
nơi cư trú, cơ quan làm việc của người khiếu nại để địa phương, cơ quan thông
báo kết quả giải quyết khiếu nại trên phương tiện thông tin ở địa phương, cơ
quan.
2. Tùy theo tính chất vụ việc
khiếu nại, người giải quyết khiếu nại quyết định triệu tập người khiếu nại, người
bị khiếu nại, các cơ quan liên quan và Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi
người khiếu nại cư trú, làm việc để công bố quyết định giải quyết khiếu nại được
biết kết quả giải quyết. Việc công bố này phải lập biên bản để các bên ký tên vào
biên bản công bố quyết định giải quyết khiếu nại.
Điều 16.
Lập hồ sơ lưu trữ vụ việc giải quyết khiếu nại:
1. Sau khi công bố quyết định giải
quyết khiếu nại đến người khiếu nại, người bị khiếu nại, các cơ quan liên quan
và đơn vị thực hiện quyết định giải quyết khiếu nại. Kết thúc vụ việc, Trưởng
đoàn thanh tra, Tổ trưởng Tổ kiểm tra có trách nhiệm tập hợp hồ sơ, tài liệu
theo từng nhóm công việc để ghi số bút lục các tài liệu để đưa vào lưu trữ tại
cơ quan của người được phân công làm Trưởng đoàn thanh tra, Tổ trưởng Tổ kiểm
tra.
2. Trường hợp vụ việc chuyển
sang cơ quan điều tra để xử lý hình sự thì phải lập biên bản bàn giao hồ sơ
theo quy định pháp luật.
3. Hồ sơ vụ việc giải quyết khiếu
nại phải tập hợp đầy đủ và đúng quy định pháp luật trong quá trình giải quyết
khiếu nại.
Chương IV
TRÌNH TỰ, THỦ TỤC GIẢI
QUYẾT TỐ CÁO
Điều 17.
Tiếp nhận, xử lý đơn, vụ việc tố cáo:
1. Ủy ban nhân dân tỉnh sau khi
tiếp nhận đơn, vụ việc tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của Chủ tịch Ủy ban
nhân dân tỉnh giao Thủ trưởng các đơn vị thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh nghiên cứu
xem xét tiến hành thanh tra, kiểm tra xác minh làm rõ để kết luận nội dung tố
cáo.
2. Người có thẩm quyền giải quyết
tố cáo hoặc Thủ trưởng cơ quan được giao nhiệm vụ xác minh, kết luận nội dung tố
cáo giao nhiệm vụ cho cán bộ chuyên môn, hay tổ chức thanh tra thực hiện nghiên
cứu đơn và tài liệu liên quan do người tố cáo cung cấp để kiểm tra sự việc cụ
thể, rõ ràng hơn.
Điều 18.
Ra quyết định và duyệt kế hoạch thanh tra, kiểm tra, xác minh tố cáo: Người có
thẩm quyền giải quyết tố cáo hoặc Thủ trưởng cơ quan được giao nhiệm vụ xác
minh, kết luận nội dung tố cáo phân công cán bộ, thanh tra viên lập kế hoạch giải
quyết đơn tố cáo.
Cán bộ, thanh tra viên được phân
công tiến hành nghiên cứu đơn, hồ sơ, tài liệu, có thể làm việc với người tố
cáo để thu thập, đối chiếu tài liệu làm rõ nội dung tố cáo để xây dựng kế hoạch
xác minh.
Căn cứ nội dung tố cáo, kế hoạch
xác minh của Thủ trưởng đơn vị được phân công, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh
quyết định thành lập Đoàn thanh tra, Tổ kiểm tra xác minh và phê duyệt ban hành
quyết định thanh tra, kiểm tra, phê duyệt kế hoạch xác minh.
Thủ trưởng đơn vị được phân công
có trách nhiệm chỉ định Trưởng đoàn thanh tra, Tổ trưởng Tổ kiểm tra xác minh, ra
quyết định thành lập Đoàn thanh tra, Tổ kiểm tra và ký ban hành, phê duyệt kế
hoạch xác minh.
Điều 19.
Việc lập kế hoạch thanh tra, kiểm tra, xác minh đơn tố cáo phải:
- Xác định rõ cụ thể từng nội
dung tố cáo cần phải xác minh.
- Biện pháp và các bước tiến
hành xác minh, cụ thể, trường hợp cần thiết có đề xuất các biện pháp: trưng cầu
giám định, niêm phong, kiểm kê, kê biên, tạm giữ chứng cứ, tài liệu, hoặc sử dụng
các biện pháp khác mà pháp luật cho phép.
- Đối tượng liên quan cần phải
làm việc.
- Thời gian tiến hành thanh tra,
kiểm tra.
- Sự phối hợp với các cơ quan
liên quan để thẩm tra, xác minh nội dung đơn tố cáo
Điều 20.
Thực hiện kế hoạch thanh tra, kiểm tra đơn tố cáo:
Sau khi được Thủ trưởng có thẩm
quyền ban hành quyết định thành lập Đoàn thanh tra, Tổ kiểm tra và phê duyệt kế
hoạch thanh tra thì Trưởng đoàn thanh tra, Tổ trưởng Tổ kiểm tra phổ biến nội
dung kế hoạch đến thành viên của Đoàn thanh tra, Tổ kiểm tra và phân công công
việc cho từng thành viên cụ thể, rõ ràng: chuẩn bị nội dung làm việc đối tượng,
các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan, phân công người theo dõi phân tích,
tổng hợp các biên bản làm việc, đối chiếu nội dung kế hoạch để thực hiện được đầy
đủ, phân công người ghi biên bản, thu thập tài liệu, chứng cứ.
Điều 21.
Công bố quyết định thanh tra, kiểm tra đơn tố cáo:
Sau khi có quyết định thanh tra,
kiểm tra của người có thẩm quyền, trong thời hạn 15 ngày thì Đoàn thanh tra, Tổ
kiểm tra xác minh phải công bố quyết định thanh tra, kiểm tra tại cơ quan, đơn
vị bị tố cáo. Thời gian thanh tra (không tính ngày nghỉ, ngày lễ) được tính từ
ngày công bố quyết định thanh tra, kiểm tra.
Thành phần tham dự buổi công bố
quyết định thanh tra, kiểm tra gồm có: các thành viên Đoàn thanh tra, Tổ kiểm
tra, Thủ trưởng cơ quan, cấp ủy của đơn vị có đơn tố cáo, các tổ chức, đơn vị
trực thuộc.
Nội dung cuộc họp công bố quyết
định thanh tra, kiểm tra: công bố quyết định thanh tra, kiểm tra xác minh, giới
thiệu thành viên Đoàn thanh tra, kiểm tra và nội dung thanh tra, kiểm tra, yêu
cầu cá nhân bị tố cáo có bản giải trình, thời gian làm việc cụ thể của Đoàn
thanh tra, Tổ kiểm tra; đề nghị tổ chức, cá nhân bị tố cáo cung cấp hồ sơ, tài
liệu, chứng cứ liên quan đến nội dung tố cáo cần phải làm rõ cho Đoàn thanh
tra, Tổ kiểm tra.
Điều 22.
Làm việc với cán bộ, công chức bị tố cáo, với lãnh đạo đơn vị, Thủ trưởng đơn vị
trực tiếp của người tố cáo:
Cán bộ, công chức bị tố cáo phải
có bản giải trình các nội dung theo yêu cầu của Đoàn thanh tra, Tổ kiểm tra.
Làm việc với cấp ủy, lãnh đạo
đơn vị để ghi nhận, thu thập thông tin tài liệu liên quan về những nội dung tố
cáo, nội dung giải trình. Khi làm việc phải lập biên bản với nội dung ghi chép
đầy đủ, cụ thể, rõ ràng, trung thực ý kiến phát biểu của các người làm việc và
yêu cầu ký xác nhận nội dung làm việc được ghi chép trong biên bản.
Điều 23. Tiến
hành xác minh, đối chiếu tài liệu, hồ sơ:
Sau khi làm việc với Thủ trưởng,
cấp ủy đơn vị, người bị tố cáo, người liên quan, Đoàn thanh tra, Tổ kiểm tra phải
xác minh làm rõ:
- Làm việc với những cá nhân biết
sự việc, người có liên quan để thu thập thêm thông tin, tài liệu, chứng cứ làm
rõ nội dung tố cáo.
- Làm việc với người tố cáo, người
bị tố cáo để đối chứng, làm rõ thêm những chi tiết có mâu thuẫn, chưa rõ ràng
trong nội dung tố cáo, trong nội dung giải trình và trong tài liệu, hồ sơ thu
thập. Trường hợp cần thiết trưng cầu giám định, đối chất hoặc sử dụng các biện
pháp nghiệp vụ khác theo pháp luật quy định để làm rõ từng nội dung theo đơn tố
cáo làm cơ sở kết luận sau này.
- Quá trình thẩm tra, xác minh
có phát sinh những nội dung tố cáo mới hoặc có phát sinh nội dung khác ngoài nội
dung, kế hoạch thanh tra, kiểm tra xác minh đã đề ra thì Trưởng đoàn thanh tra,
Tổ trưởng Tổ kiểm tra phải báo cáo nhanh cho người ký quyết định thành lập Đoàn
thanh tra, Tổ kiểm tra xác minh biết để có ý kiến chỉ đạo bổ sung kế hoạch hoặc
dừng việc thanh tra, kiểm tra xác minh đối với nội dung phát sinh đó trong quá
trình thanh tra, kiểm tra.
Điều 24.
Kết thúc thanh tra, kiểm tra nội dung đơn tố cáo:
Sau khi xác minh làm rõ đầy đủ các
nội dung đơn tố cáo theo kế hoạch thanh tra, Đoàn thanh tra, Tổ kiểm tra xác
minh phải họp để đánh giá nội dung, kết quả xác minh đã thực hiện, kiểm tra đối
chiếu về trình tự, thủ tục, các biên bản làm việc, tài liệu, chứng cứ thu thập,
các văn bản pháp lý làm căn cứ để kết luận, kiến nghị, xác định những công việc
cần làm tiếp nếu thấy cần thiết.
Các thành viên Đoàn thanh tra, Tổ
kiểm tra thảo luận đưa ra ý kiến nhận xét để thống nhất kết luận theo từng nội
dung cụ thể, nội dung đơn tố cáo, các kiến nghị xử lý về tài sản, các nghĩa vụ,
quyền lợi phải xử lý đối với người tố cáo, người bị tố cáo, trách nhiệm của Thủ
trưởng của người tố cáo, người bị tố cáo trong việc thực hiện quyết định xử lý
tố cáo của người có thẩm quyền.
Phân công chuẩn bị dự thảo báo cáo
kết quả thẩm tra xác minh nội dung đơn tố cáo, dự thảo kết luận thanh tra, kiểm
tra xác minh đơn tố cáo.
Điều 25. Dự
thảo báo cáo kết quả thanh tra, kiểm tra xác minh:
1. Trưởng đoàn thanh tra, Tổ trưởng
Tổ kiểm tra xác minh phải dự thảo báo cáo kết quả thanh tra, kiểm tra xác minh.
Dự thảo báo cáo phải nêu được các nội dung: nội dung đơn tố cáo, quá trình xác
minh, căn cứ pháp lý viện dẫn để kết luận nội dung tố cáo đúng hay sai, đề xuất
biện pháp xử lý về tài sản, các quyền, nghĩa vụ của người tố cáo, người bị tố
cáo, Thủ trưởng của người bị tố cáo, người tố cáo thực hiện quyết định xử lý tố
cáo của người có thẩm quyền ra quyết định thanh tra, kiểm tra xác minh nội dung
đơn tố cáo.
2. Dự thảo báo cáo kết quả thanh
tra, kiểm tra xác minh phải được thông qua các thành viên của Đoàn thanh tra, Tổ
kiểm tra xác minh. Trong trường hợp có ý kiến khác nhau giữa các thành viên mà ảnh
hưởng đến bản chất của việc kết luận từng nội dung tố cáo thì Trưởng đoàn thanh
tra, Tổ trưởng Tổ kiểm tra có quyền quyết định và báo cáo lên người ký ban hành
quyết định thành lập Đoàn thanh tra, Tổ kiểm tra xác minh để xem xét kết luận.
Trường hợp cần thiết, người ra quyết định thanh tra, kiểm tra xác minh tổ chức
họp Đoàn thanh tra, Tổ kiểm tra xác minh để nghe ý kiến cụ thể từng thành viên
trước khi kết luận thanh tra và quyết định xử lý tố cáo. Việc thảo luận dự thảo
báo cáo kết quả xác minh phải ghi biên bản.
Điều 26.
Dự thảo kết luận thanh tra, kiểm tra xác minh:
1. Trưởng đoàn thanh tra, Tổ trưởng
Tổ kiểm tra xác minh căn cứ vào báo cáo kết quả thanh tra, kiểm tra xác minh phải
dự thảo kết luận thanh tra, thẩm tra xác minh trình người ra quyết định thanh
tra, kiểm tra xem xét, kết luận.
2. Dự thảo kết luận thanh tra,
kiểm tra thực hiện theo mẫu quy định trong hệ thống mẫu dành cho công tác thanh
tra ban hành kèm theo Quyết định số 1131/2008/QĐ-TTr ngày 08 tháng 6 năm 2008 của
Thanh tra Chính phủ, gồm những nội dung:
- Căn cứ việc thanh tra, kiểm
tra xác minh, kết luận tóm tắt của Đoàn thanh tra, Tổ kiểm tra xác minh.
- Nêu từng nội dung tố cáo và kết
quả xác minh, nhận xét đánh giá.
- Kết luận, xử lý của người ký
quyết định thanh tra, kiểm tra xác minh.
Trên cơ sở dự thảo kết luận
thanh tra, thẩm tra, xác minh, người ra quyết định thanh tra có ý kiến chỉ đạo
việc công bố kết quả thanh tra, kết luận thanh tra, kiểm tra đơn tố cáo.
Điều 27.
Công bố dự thảo kết luận thanh tra, kiểm tra xác minh:
- Đoàn thanh tra, Tổ kiểm tra
làm việc với người tố cáo, người bị tố cáo để thông báo về từng nội dung tố cáo
và kết quả thẩm tra, xác minh để họ có ý kiến, nếu người tố cáo, người bị tố
cáo chưa nhất trí với kết quả xác minh thì yêu cầu họ cung cấp tài liệu, chứng
cứ chứng minh để làm rõ. Nếu không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì mới thì
Đoàn thanh tra, Tổ kiểm tra xác minh kết luận theo những tài liệu thu thập được
và chịu trách nhiệm việc kết luận của mình.
- Quá trình làm việc với người tố
cáo, người bị tố cáo về kết quả xác minh phải lập biên bản chặt chẽ, rõ ràng từng
nội dung tố cáo và đúng thủ tục pháp lý quy định.
- Sau khi làm việc với người tố
cáo, người bị tố cáo, căn cứ kết quả thẩm tra, xác minh, kết quả làm việc với
người tố cáo, người bị tố cáo và các văn bản giải trình, ý kiến của người tố
cáo, người bị tố cáo, ý kiến của Thủ trưởng của người bị tố cáo và trên cơ sở
kiến nghị của Trưởng đoàn, Tổ trưởng Tổ kiểm tra xác minh thì người ra quyết định
thành lập Đoàn thanh tra, Tổ kiểm tra ban hành văn bản kết luận thanh tra và ra
quyết định xử lý tố cáo.
Điều 28.
Công bố kết luận thanh tra, kiểm tra xác minh và quyết định xử lý tố cáo:
1. Việc tổ chức công bố dự thảo
kết luận thanh tra, kiểm tra và quyết định xử lý tố cáo như sau:
- Thành phần tham dự như buổi
công bố quyết định thanh tra, kiểm tra xác minh đơn tố cáo.
- Trưởng đoàn, Tổ trưởng kiểm
tra xác minh đơn tố cáo công bố kết luận thanh tra, kiểm tra xác minh.
- Người bị tố cáo có ý kiến,
lãnh đạo đơn vị, Thủ trưởng trực tiếp người bị tố cáo có ý kiến.
2. Việc công bố kết luận thanh
tra, kiểm tra xác minh và quyết định xử lý tố cáo phải lập biên bản, đảm bảo đầy
đủ các ý kiến phát biểu tại buổi công bố kết luận thanh tra, kiểm tra đơn tố
cáo.
Điều 29.
Nội dung quyết định xử lý tố cáo:
- Trong trường hợp người bị tố
cáo không vi phạm các quy định về nhiệm vụ, công vụ thì phải kết luận làm rõ.
Thông báo cho người bị tố cáo biết, cơ quan quản lý của người bị tố cáo biết, đồng
thời xử lý hoặc kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý người tố cáo sai
sự thật.
- Trong trường hợp người bị tố
cáo có vi phạm pháp luật, vi phạm các quy định về nhiệm vụ, công vụ phải xử lý
kỷ luật, xử phạt hành chính thì phải xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ
quan nhà nước có thẩm quyền xử lý, đồng thời áp dụng các biện pháp theo quy định
của pháp luật để quyết định xử lý được nghiêm túc thực hiện.
- Trong trường hợp hành vi bị tố
cáo có dấu hiệu cấu thành tội phạm thì chuyển hồ sơ vụ việc cho cơ quan điều
tra hoặc viện kiểm sát để giải quyết theo quy định của pháp luật về tố tụng
hình sự.
- Người giải quyết tố cáo phải
ra văn bản kết luận vụ việc và quyết định xử lý tố cáo cho cơ quan thanh tra cấp
trên, cơ quan quản lý nhà nước cấp trên trực tiếp, thông báo đến thủ trưởng của
người bị tố cáo và người tố cáo biết kết quả giải quyết của người có thẩm quyền
ra quyết định xử lý tố cáo.
Điều 30.
Đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện quyết định xử lý tố cáo:
- Trong thời hạn ghi trong quyết
định xử lý tố cáo mà các bên không có đơn phản ảnh, thắc mắc về quyết định xử
lý tố cáo thì thủ trưởng đơn vị được phân công phải có trách nhiệm đôn đốc, kiểm
tra việc thực hiện quyết định xử lý tố cáo.
- Nếu quá thời hạn mà quyết định
xử lý tố cáo chưa được thực hiện phải có công văn đôn đốc đồng thời báo cáo người
có thẩm quyền ra quyết định xử lý tố cáo biết để có biện pháp chỉ đạo thực hiện.
- Nếu hết thời hạn đôn đốc mà
quyết định xử lý tố cáo vẫn chưa được thực hiện thì có văn bản báo cáo người có
thẩm quyền ra quyết định xử lý tố cáo biết để xử lý đơn vị, cá nhân theo quy định
của pháp luật.
Điều 31.
Kết thúc việc xem xét tố cáo:
Sau khi kết thúc việc xem xét,
giải quyết vụ việc tố cáo, Đoàn thanh tra, Tổ kiểm tra xác minh phải hoàn chỉnh
hồ sơ vụ việc theo quy định việc lập hồ sơ quản lý theo Quyết định số
2278/QĐ-TTCP ngày 24 tháng 10 năm 2007 của Thanh tra Chính phủ.
Hồ sơ được lưu trữ theo quy định
tại cơ quan mà người được phân công làm Trưởng đoàn, Tổ trưởng Tổ kiểm tra xác
minh được phân công.
Chương V
TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Điều 32.
Lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh, Giám đốc các sở, ngành, Thủ trưởng các đơn vị,
cán bộ, công chức, viên chức quán triệt, kiểm tra, đôn đốc và thực hiện nghiêm
túc quy trình giải quyết khiếu nại, xử lý tố cáo này trong hoạt động thẩm tra,
xác minh.
Điều 33. Đơn
vị, cá nhân có thành tích trong việc thực hiện giải quyết khiếu nại, tố cáo thì
được biểu dương, khen thưởng. Trường hợp cố ý làm trái, không thực hiện hoặc cố
tình làm trái quy trình này thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm sẽ bị xử lý
theo quy định của pháp luật về thanh tra và pháp luật khiếu nại, tố cáo.
Điều 34.
Trong quá trình thực hiện quy trình giải quyết khiếu nại, tố cáo nếu có vấn đề
chưa phù hợp hoặc phát sinh những vướng mắc thì lãnh đạo các sở, ngành, Thủ trưởng
các đơn vị, cán bộ, công chức, viên chức kịp thời báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh
(qua Chánh Thanh tra tỉnh và Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh) để xem xét sửa
đổi, điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp./.