|
VĂN PHÒNG QUỐC HỘI
--------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 103/VBHN-VPQH
|
Hà Nội, ngày 22 tháng 4 năm 2026
|
NGHỊ QUYẾT
VỀ QUY HOẠCH
TỔNG THỂ QUỐC GIA THỜI KỲ 2021 - 2030, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2050
Nghị quyết số 81/2023/QH15 ngày 09 tháng 01 năm 2023 của Quốc hội về Quy
hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050, có hiệu lực
kể từ ngày 09 tháng 01 năm 2023, được sửa đổi, bổ sung bởi:
1. Luật Công nghiệp công nghệ số số 71/2025/QH15 ngày 14 tháng 6 năm
2025 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026;
2. Nghị quyết số 252/2025/QH15 ngày 10 tháng 12 năm 2025 của Quốc hội sửa
đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 81/2023/QH15 ngày 09 tháng 01 năm
2023 của Quốc hội về Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến
năm 2050, có hiệu lực kể từ ngày 10 tháng 12 năm 2025.
Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Căn cứ Luật Tổ chức Quốc hội số 57/2014/QH13 đã được sửa đổi,
bổ sung một số điều theo Luật số 65/2020/QH14;
Căn cứ Luật Quy hoạch số 21/2017/QH14;
Căn cứ Nghị quyết số 61/2022/QH15 ngày 16 tháng 6 năm
2022 của Quốc hội về tiếp tục tăng cường hiệu lực, hiệu quả thực
hiện chính sách, pháp luật về quy hoạch và một số giải pháp tháo
gỡ khó khăn, vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ lập và nâng cao chất lượng
quy hoạch thời kỳ 2021 - 2030;
Sau khi xem xét Tờ trình số 506/TTr-CP ngày 27 tháng 12 năm 2022 của Chính phủ về Quy hoạch tổng thể quốc
gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050; Báo cáo số 1539/BC-UBKT15 ngày 04 tháng 01 năm 2023 của Ủy ban Kinh tế của Quốc
hội thẩm tra Hồ sơ Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm
nhìn đến năm 2050; Báo cáo số 399/BC-UBTVQH15 ngày 08 tháng 01 năm 2023 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội về tiếp thu, chỉnh lý và giải trình ý kiến đại biểu Quốc hội về
Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050
và ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội;[1]
QUYẾT NGHỊ:
Điều 1. Tên quy hoạch, phạm vi ranh giới quy hoạch
1. Tên quy hoạch: Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
2. Phạm vi ranh giới quy hoạch: toàn bộ lãnh thổ đất liền, các đảo, các quần đảo, lòng đất,
vùng biển, vùng trời Việt Nam.
Điều 2. Quan điểm, tầm nhìn, mục tiêu phát triển và những
nhiệm vụ trọng tâm trong thời kỳ quy hoạch[2]
1. Quan điểm phát triển và tổ chức không gian phát triển thời kỳ 2021 -
2030
a) Quan điểm phát triển
- Phải có tư duy và tầm nhìn chiến lược, dài hạn, chủ động kiến tạo, đột
phá phát triển; lấy phát triển để duy trì ổn định, ổn định để thúc đẩy phát triển.
Tiếp tục phát triển nhanh và bền vững đất nước, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới
sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh làm động lực chính.
- Phát huy tối đa lợi thế của quốc gia, vùng, địa phương; phát triển hài
hòa giữa kinh tế với văn hóa, xã hội, bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi
khí hậu và bảo đảm quốc phòng, an ninh.
- Cải cách, nâng cao chất lượng thể chế và thực thi pháp luật hiệu lực,
hiệu quả phải thực sự trở thành đột phá để thúc đẩy phát triển đất nước nhanh,
bền vững. Thị trường đóng vai trò quyết định trong huy động, phân bổ và sử dụng
hiệu quả các nguồn lực. Phát triển nhanh, hài hòa các khu vực kinh tế và các loại
hình doanh nghiệp; kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh
tế quốc gia.
- Khơi dậy và hiện thực hóa khát vọng phát triển; phát huy giá trị văn
hóa, con người Việt Nam và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, nêu cao ý chí tự
tin, tự chủ, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc trong xây dựng đất nước phồn
vinh, dân chủ, công bằng, văn minh và hạnh phúc. Phát huy tối đa nhân tố con
người, lấy con người là trung tâm, chủ thể, nguồn lực quan trọng nhất và là mục
tiêu của sự phát triển; mọi chính sách đều phải hướng tới nâng cao đời sống vật
chất, tinh thần và hạnh phúc của người dân; coi văn hóa là trụ cột trong phát
triển bền vững, lấy giá trị văn hóa, con người Việt Nam là nền tảng, sức mạnh nội
sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững.
- Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ phải trên cơ sở phát triển đột
phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, làm chủ công nghệ
và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, đa dạng hóa thị trường, nâng cao khả
năng thích ứng, chống chịu của nền kinh tế. Phát triển lực lượng sản xuất mới,
hình thành năng lực sản xuất quốc gia trình độ cao để tham gia hiệu quả, cải
thiện vị trí trong chuỗi giá trị toàn cầu. Phát huy nội lực là cơ bản, chiến lược,
lâu dài, là yếu tố quyết định; ngoại lực và sức mạnh thời đại là yếu tố quan trọng,
đột phá. Lấy nguồn lực nhà nước khơi dậy, dẫn dắt nguồn lực xã hội. Không ngừng
tăng cường tiềm lực kinh tế, phát triển lực lượng doanh nghiệp của người Việt
Nam ngày càng lớn mạnh, có sức cạnh tranh quốc tế.
b) Quan điểm về tổ chức không gian phát triển
- Không gian phát triển quốc gia phải được tổ chức hiệu quả, thống nhất
trên quy mô toàn quốc, chú trọng khai thác hiệu quả không gian phát triển mới
do sắp xếp các đơn vị hành chính mang lại; bảo đảm liên kết nội vùng, liên
vùng, khu vực và quốc tế gắn với khai thác lợi thế so sánh của quốc gia, từng
vùng, từng địa phương trong vùng nhằm huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả các
nguồn lực, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, bảo đảm mức tăng trưởng kinh
tế hai con số trong nhiều năm.
- Phát triển có trọng tâm, trọng điểm, tập trung vào một số địa bàn có
điều kiện thuận lợi về vị trí địa lý, kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội, nguồn
nhân lực chất lượng cao và các tiềm năng, lợi thế khác cho phát triển để hình
thành vùng động lực, hành lang kinh tế, cực tăng trưởng, tạo hiệu ứng lan tỏa
thúc đẩy kinh tế cả nước phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững; đồng thời, có
cơ chế, chính sách, nguồn lực phù hợp với điều kiện của nền kinh tế để bảo đảm
an sinh xã hội, cung cấp các dịch vụ công cho các khu vực khó khăn, vùng đồng
bào dân tộc thiểu số và miền núi, đặc biệt là dịch vụ về y tế, giáo dục, từng
bước thu hẹp khoảng cách phát triển với các địa bàn thuận lợi.
- Sử dụng hiệu quả, tiết kiệm tài nguyên, nhất là tài nguyên đất, tài
nguyên nước, tài nguyên rừng, tài nguyên biển và các loại khoáng sản; bảo đảm
an ninh năng lượng, an ninh lương thực, an ninh nguồn nước; phát triển kinh tế
xanh, kinh tế tuần hoàn; bảo vệ môi trường, bảo tồn thiên nhiên và nâng cao chất
lượng đa dạng sinh học; chủ động phòng, chống thiên tai, thích ứng với biến đổi
khí hậu.
- Tổ chức không gian phát triển quốc gia, các vùng, hành lang kinh tế, hệ
thống đô thị phải gắn với phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, từng bước
hiện đại và phát triển hài hòa khu vực đô thị, nông thôn. Sớm hình thành các trục
giao thông và hành lang kinh tế kết nối các đô thị lớn tại các tỉnh, thành phố
sau sáp nhập.
- Tổ chức không gian phát triển quốc gia phải gắn kết giữa khu vực đất
liền với không gian biển; quản lý, khai thác và sử dụng hiệu quả không gian ngầm,
vùng biển, vùng trời. Khai thác hiệu quả tài nguyên số, không gian số. Chú trọng
việc kết nối các hành lang kinh tế trong nước với các hành lang kinh tế của khu
vực và quốc tế. Kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa phát triển kinh tế, văn hóa, xã
hội với bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ quốc
gia và củng cố, tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh.
2. Tầm nhìn đến năm 2050
Là quốc gia hùng cường, hưng thịnh, hạnh phúc; nước phát triển, thu nhập
cao, có thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đầy đủ, đồng bộ,
hiện đại, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; quản trị xã hội trên nền tảng xã
hội số hoàn chỉnh. Nền kinh tế vận hành theo phương thức của kinh tế số, kinh tế
xanh, kinh tế tuần hoàn; khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là động lực
tăng trưởng chủ yếu. Việt Nam thuộc nhóm các nước công nghiệp phát triển hàng đầu
khu vực châu Á; là một trung tâm tài chính khu vực và quốc tế; phát triển kinh
tế nông nghiệp sinh thái giá trị cao thuộc nhóm hàng đầu thế giới; có vị thế vững
chắc và vai trò quan trọng trong chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu. Việt Nam trở
thành quốc gia biển mạnh, một trung tâm kinh tế biển của khu vực châu Á - Thái
Bình Dương; tham gia chủ động, có trách nhiệm vào giải quyết các vấn đề quốc tế
và khu vực về biển và đại dương. Quốc phòng, an ninh được bảo đảm vững chắc.
Người dân được thụ hưởng các dịch vụ xã hội chất lượng cao; hệ thống an
sinh xã hội bền vững; dịch vụ trợ giúp xã hội đa dạng và chuyên nghiệp, kịp thời
hỗ trợ và bảo vệ các đối tượng dễ bị tổn thương. Các giá trị, bản sắc văn hóa tốt
đẹp của dân tộc được giữ gìn, phát huy, thống nhất trong đa dạng; công nghiệp
văn hóa phát triển mạnh, tạo ra các sản phẩm, dịch vụ văn hóa có thương hiệu,
uy tín và tầm ảnh hưởng trong khu vực và quốc tế.
Hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, thích ứng hiệu quả với nước
biển dâng và tác động của biến đổi khí hậu. Các vùng phát triển hài hoà, bền vững,
khai thác hiệu quả các tiềm năng, thế mạnh.
Hệ thống đô thị liên kết thành mạng lưới đồng bộ, thống nhất, có khả
năng chống chịu, thích ứng với biến đổi khí hậu, kiến trúc tiêu biểu, giàu bản
sắc, xanh, văn minh, hiện đại, thông minh. Xây dựng được ít nhất 5 đô thị ngang
tầm quốc tế, giữ vai trò là đầu mối kết nối và phát triển với mạng lưới đô thị
khu vực và quốc tế.
Nông thôn hiện đại, có điều kiện sống tiệm cận với đô thị, môi trường sống
xanh, sạch, đẹp, giàu bản sắc văn hóa dân tộc.
Môi trường có chất lượng tốt, xã hội hài hoà với thiên nhiên, phát triển
hiệu quả theo hướng các-bon thấp; phấn đấu nhanh nhất đạt mục tiêu giảm phát thải
ròng của quốc gia về “0” vào năm 2050. Năng lực dự báo, cảnh báo thiên tai,
giám sát biến đổi khí hậu, quản lý rủi ro thiên tai tương đương với các nước
phát triển.
Giai đoạn 2031 - 2050, phấn đấu tốc độ tăng trưởng GDP bình quân khoảng
7,0 - 7,5%/năm. Đến năm 2050, GDP bình quân đầu người theo giá hiện hành đạt
khoảng 38.000 USD; tỷ lệ đô thị hóa đạt 70 - 75%; chỉ số phát triển con người
(HDI) đạt trên 0,85.
3. Mục tiêu phát triển đến năm 2030
a) Mục tiêu tổng quát
Phấn đấu đến năm 2030 là nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu
nhập trung bình cao; xác lập mô hình tăng trưởng mới, lấy khoa học, công nghệ,
đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính; mô hình tổ chức không
gian phát triển quốc gia hiệu quả, thống nhất, bền vững, các vùng động lực,
hành lang kinh tế, cực tăng trưởng phát huy vai trò đi đầu, dẫn dắt trong phát
triển kinh tế - xã hội và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia; có mạng lưới kết
cấu hạ tầng cơ bản đồng bộ, hiện đại; bảo đảm các cân đối lớn, nâng cao khả
năng chống chịu của nền kinh tế; bảo đảm an ninh năng lượng, an ninh lương thực
và an ninh nguồn nước; môi trường sinh thái được bảo vệ, thích ứng với biến đổi
khí hậu; phát triển toàn diện nguồn nhân lực, đời sống vật chất, tinh thần của
Nhân dân được nâng cao; quốc phòng, an ninh được bảo đảm; vị thế, uy tín của Việt
Nam trên trường quốc tế được nâng lên.
b) Mục tiêu, chỉ tiêu cụ thể
- Về kinh tế
Phấn đấu tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân đạt
trên 8,0%/năm thời kỳ 2021 - 2030; trong đó giai đoạn 2026 - 2030 đạt từ 10%/năm
trở lên. Đến năm 2030, GDP bình quân đầu người theo giá hiện hành đạt khoảng
8.500 USD. Tỷ trọng trong GDP của khu vực dịch vụ đạt trên 50%; khu
vực công nghiệp - xây dựng trên 40% (trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo khoảng
28%), khu vực nông, lâm, thủy sản dưới 10%. Tốc độ tăng năng suất lao động xã hội
bình quân đạt khoảng 7%/năm thời kỳ 2021 - 2030; trong đó giai đoạn 2026 - 2030
đạt trên 8,5%/năm. Đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng
đạt trên 55%.
Tiềm lực, trình độ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đạt mức tiên
tiến ở nhiều lĩnh vực quan trọng, thuộc nhóm dẫn đầu trong các nước có thu nhập
trung bình cao. Nguồn nhân lực nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, đổi mới
sáng tạo đạt 12 người trên một vạn dân; có từ 40 - 50 tổ chức khoa học và công
nghệ được xếp hạng khu vực và thế giới.
Phát huy lợi thế của từng vùng kinh tế - xã hội; tập trung phát triển 2
vùng động lực phía Bắc và phía Nam gắn với 2 cực tăng trưởng là Hà Nội và Thành
phố Hồ Chí Minh, hành lang kinh tế Bắc - Nam, hành lang kinh tế Lào Cai - Hà Nội
- Hải Phòng - Quảng Ninh, hành lang kinh tế Mộc Bài - Thành phố Hồ Chí Minh -
Biên Hòa - Vũng Tàu với kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, có tốc độ tăng trưởng
cao, đóng góp lớn vào phát triển chung của đất nước.
Phát triển đô thị bền vững theo mạng lưới; tỷ lệ đô thị hóa đạt trên
50%; phấn đấu từ 3 - 5 đô thị ngang tầm khu vực và quốc tế. Xây dựng nông thôn
mới phát triển toàn diện, bền vững và gắn với đô thị hoá.
Phát triển mạnh hạ tầng số, hạ tầng dữ liệu tạo nền tảng chuyển đổi số
quốc gia, phát triển Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số; tỷ trọng kinh tế số đạt
khoảng 30% GDP.
- Về xã hội
Duy trì vững chắc mức sinh thay thế, bình quân mỗi phụ nữ trong độ tuổi
sinh đẻ có 2,1 con; quy mô dân số đạt khoảng 105 triệu người. Chỉ số phát triển
con người (HDI) đạt khoảng 0,78. Tuổi thọ bình quân đạt khoảng 75,5 tuổi, trong
đó thời gian sống khỏe mạnh đạt tối thiểu 68 năm. Tỷ lệ lao động nông nghiệp
trong tổng lao động xã hội giảm xuống dưới 20%. Nâng cao chất lượng việc làm,
giữ tỷ lệ thất nghiệp ở mức hợp lý.
Phát triển nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực;
thuộc nhóm 10 quốc gia có hệ thống giáo dục đại học tốt nhất châu A. Phấn đấu
ít nhất 8 cơ sở giáo dục đại học thuộc nhóm 200 đại học hàng đầu châu Á, ít nhất
1 cơ sở giáo dục đại học thuộc nhóm 100 đại học hàng đầu thế giới trong một số
lĩnh vực theo các bảng xếp hạng quốc tế uy tín. Tỷ lệ sinh viên đại học đạt 260
trên 1 vạn dân. Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ đạt 35 - 40%.
Nâng cao chất lượng dịch vụ y tế ngang tầm các nước tiên tiến trong khu
vực. Phát triển mạng lưới cơ sở y tế quốc gia đáp ứng yêu cầu chăm sóc, bảo vệ,
nâng cao sức khỏe toàn dân, hướng tới mục tiêu công bằng, chất lượng, hiệu quả
và hội nhập quốc tế. Đến năm 2030, đạt 35 giường bệnh và 19 bác sĩ trên 1 vạn
dân; tỷ lệ giường bệnh tư nhân đạt 15%.
Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh trong các lĩnh vực đời sống xã hội.
Phát triển mạng lưới cơ sở văn hóa quốc gia bảo đảm thực hiện tốt nhiệm vụ bảo
tồn và phát huy giá trị bản sắc văn hóa dân tộc, thúc đẩy phát triển công nghiệp
văn hóa. Phấn đấu 100% đơn vị hành chính cấp tỉnh có đủ 3 loại hình thiết chế
văn hóa, gồm: trung tâm văn hóa hoặc trung tâm văn hóa - nghệ thuật, bảo tàng
và thư viện.
- Về môi trường
Tỷ lệ che phủ rừng ổn định ở mức 42%; nâng cao chất lượng rừng, tăng diện
tích các khu bảo tồn thiên nhiên; bảo vệ, phục hồi các hệ sinh thái tự nhiên
quan trọng, nâng cao chất lượng đa dạng sinh học; diện tích các khu bảo tồn biển,
ven biển đạt tối thiểu 6% diện tích tự nhiên vùng biển quốc gia; diện tích các
khu bảo tồn thiên nhiên trên cạn đạt 3 triệu ha.
Tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt đô thị được thu gom, xử lý theo tiêu chuẩn,
quy chuẩn đạt 95%, trong đó tỷ lệ xử lý thông qua các mô hình kinh tế tuần hoàn
đạt khoảng 50%; tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt nông thôn được thu gom, xử lý
theo tiêu chuẩn, quy chuẩn đạt 85 - 90%; tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt được xử
lý bằng phương pháp chôn lấp trực tiếp giảm dưới 50% số với lượng chất thải được
thu gom. Phấn đấu nâng cao tỷ lệ tái chế rác thải hữu cơ đạt 100% ở đô thị và
70% ở nông thôn theo lộ trình phù hợp với điều kiện từng khu vực. Tỷ lệ chất thải
nguy hại được thu gom, vận chuyển và xử lý theo tiêu chuẩn, quy chuẩn đạt 98%,
trong đó tỷ lệ chất thải y tế được xử lý đạt 100%. Tỷ lệ xử lý và tái sử dụng
nước thải ra môi trường lưu vực các sông đạt 65 - 70%. Thực hiện giảm phát thải
khí nhà kính trong các ngành, lĩnh vực để phấn đấu nhanh nhất đạt mục tiêu giảm
phát thải ròng của quốc gia về “0” vào năm 2050.
- Về phát triển kết cấu hạ tầng
Hình thành cơ bản bộ khung kết cấu hạ tầng quốc gia, bao gồm các trục
giao thông đường bộ Bắc - Nam (đường bộ cao tốc Bắc - Nam phía Đông, một số đoạn
của đường bộ cao tốc Bắc - Nam phía Tây, đường ven biển), các trục giao thông
Đông - Tây quan trọng, phấn đấu có khoảng 5.000 km đường bộ cao tốc; các cảng
biển cửa ngõ có chức năng trung chuyển quốc tế, các cảng hàng không quốc tế lớn,
các tuyến đường sắt kết nối với các cảng biển lớn, đường sắt kết nối quốc tế,
đường sắt đô thị; xây dựng một số đoạn đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc -
Nam; phát triển hạ tầng năng lượng, hạ tầng thông tin và truyền thông, hạ tầng
đô thị, hạ tầng thủy lợi, bảo vệ môi trường, phòng, chống thiên tai, thích ứng
với biến đổi khí hậu. Giảm thiểu chi phí logistics.
- Về quốc phòng, an ninh
Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ quốc
gia; gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội với củng
cố quốc phòng, an ninh; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, bảo đảm
trật tự, an toàn xã hội.
4. Nhiệm vụ trọng tâm trong thời kỳ quy hoạch
a) Hình thành cơ bản bộ khung kết cấu hạ tầng quốc gia, tập trung vào hạ
tầng giao thông, hạ tầng đô thị, hạ tầng nông thôn, hạ tầng năng lượng, hạ tầng
số, hạ tầng văn hóa, xã hội, hạ tầng thủy lợi;
b) Xác lập mô hình tăng trưởng mới, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới
sáng tạo và chuyển đổi số là động lực chính. Ưu tiên phát triển một số ngành,
lĩnh vực có tiềm năng, lợi thế và còn dư địa lớn, phù hợp với xu thế chung của
thế giới và gắn với không gian phát triển mới;
c) Phát triển các vùng động lực, cực tăng trưởng quốc gia quan trọng để
hình thành các đầu tàu dẫn dắt sự phát triển của quốc gia. Lựa chọn một số địa
bàn, đô thị, vùng có lợi thế đặc biệt để xây dựng trung tâm kinh tế, tài chính,
đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt với thể chế, cơ chế, chính sách đặc thù,
vượt trội có tính đột phá, có khả năng cạnh tranh quốc tế cao. Đồng thời có cơ
chế, chính sách, nguồn lực phù hợp để bảo đảm an sinh xã hội và từng bước phát
triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, khu vực biên giới, hải đảo,
góp phần ổn định chính trị, giữ vững quốc phòng, an ninh;
d) Hình thành và phát triển các hành lang kinh tế theo trục Bắc - Nam,
các hành lang kinh tế Đông - Tây, các vành đai kinh tế ven biển; kết nối hiệu
quả các cảng biển, cảng hàng không, cửa khẩu quốc tế, đầu mối giao thương lớn,
các đô thị, trung tâm kinh tế, cực tăng trưởng; kết nối hiệu quả với các hành
lang kinh tế của khu vực và thế giới. Phát triển các vành đai công nghiệp - đô
thị - dịch vụ tại các vùng động lực, vùng đô thị lớn. Hình thành các trục đường
giao thông và hành lang kinh tế kết nối các đô thị quan trọng tại các tỉnh,
thành phố sau sáp nhập;
đ) Đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả liên kết vùng, khai thác hiệu quả không
gian phát triển mới sau sáp nhập, sắp xếp đơn vị hành chính các cấp. Khai thác
lợi thế không gian phát triển cấp vùng, nhất là vai trò trung tâm vùng của các
thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng, Cần Thơ, Huế;
e) Quản lý và sử dụng hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường, chủ động
thích ứng với biến đổi khí hậu; xây dựng, củng cố, nâng cấp hạ tầng phòng, chống
thiên tai, lũ lụt, sạt lở; xử lý ngập, úng, nhất là tại các đô thị lớn.
Điều 3. Định hướng phát triển không gian kinh tế - xã hội
1.[3] Phân vùng kinh tế - xã hội, định hướng phát triển và liên
kết vùng
a) Phân vùng kinh tế - xã hội
Tổ chức không gian phát triển đất nước thành 06 vùng kinh tế - xã hội; xây
dựng mô hình tổ chức, cơ chế điều phối vùng để thực hiện liên kết nội vùng và
thúc đẩy liên kết giữa các vùng, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực.
- Vùng Trung du và miền núi phía Bắc gồm 9 tỉnh: Lạng Sơn, Cao Bằng,
Thái Nguyên, Tuyên Quang, Phú Thọ, Lào Cai, Sơn La, Lai Châu, Điện Biên.
- Vùng Đồng bằng sông Hồng gồm 6 tỉnh, thành phố: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng
Ninh, Bắc Ninh, Hưng Yên, Ninh Bình.
- Vùng Bắc Trung Bộ gồm 5 tỉnh, thành phố: Huế, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà
Tĩnh, Quảng Trị.
- Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên gồm 6 tỉnh, thành phố: Đà Nẵng,
Quảng Ngãi, Gia Lai, Đắk Lắk, Khánh Hòa, Lâm Đồng.
- Vùng Đông Nam Bộ gồm 3 tỉnh, thành phố: Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng
Nai, Tây Ninh.
- Vùng Đồng bằng sông Cửu Long gồm 5 tỉnh, thành phố: Cần Thơ, Đồng
Tháp, Vĩnh Long, An Giang, Cà Mau.
b) Định hướng phát triển vùng và liên kết vùng
- Vùng Trung du và miền núi phía Bắc: phấn đấu tốc độ tăng trưởng tổng sản
phẩm trên địa bàn (GRDP) bình quân đạt khoảng 9 - 10%/năm giai đoạn 2026 -
2030. Phát triển vùng theo hướng xanh, bền vững và toàn diện. Tập trung bảo vệ
rừng tự nhiên, rừng đặc dụng, rừng phòng hộ đầu nguồn, khôi phục rừng gắn với bảo
đảm an ninh nguồn nước và phát triển kinh tế lâm nghiệp bền vững, nâng cao đời
sống của người làm nghề rừng.
Phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo, năng lượng, ưu tiên công nghiệp
cơ khí chế tạo, điện tử, công nghệ số; đẩy mạnh dịch vụ logistics trên cơ sở
khai thác lợi thế các cửa khẩu quốc tế và các tuyến đường sắt kết nối quốc tế;
phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, hữu cơ, đặc sản, mở rộng diện
tích cây ăn quả, dược liệu. Khai thác và sử dụng hiệu quả tài nguyên khoáng sản.
Phát triển kinh tế cửa khẩu. Hình thành các trung tâm du lịch, sản phẩm du lịch
mang đặc trưng riêng của vùng.
Hình thành và phát triển các hành lang kinh tế nội vùng, liên vùng, kết
nối vùng với các trung tâm kinh tế lớn của vùng Đồng bằng sông Hồng; tập trung
xây dựng vành đai công nghiệp Thái Nguyên - Phú Thọ trở thành động lực thúc đẩy
tăng trưởng cả vùng, gắn kết với tỉnh Bắc Ninh là vành đai công nghiệp liên
vùng. Xây dựng các tuyến đường bộ cao tốc, các tuyến đường bộ nối các địa
phương với đường cao tốc, các đường vành đai biên giới, các tuyến quốc lộ quan
trọng kết nối các địa phương trong vùng. Nghiên cứu đầu tư và nâng cấp một số cảng
hàng không trong vùng. Hoàn thành xây dựng đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải
Phòng; xây dựng đường sắt Lạng Sơn - Hà Nội.
- Vùng Đồng bằng sông Hồng: phấn đấu tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân đạt
khoảng 11%/năm giai đoạn 2026 - 2030. Xây dựng vùng Đồng bằng sông Hồng là động
lực phát triển hàng đầu, có vai trò định hướng, dẫn dắt quá trình cơ cấu lại nền
kinh tế và xác lập mô hình tăng trưởng mới của đất nước.
Tập trung phát triển các ngành sản xuất công nghiệp và dịch vụ hiện đại:
điện tử, công nghiệp công nghệ số, chíp bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, sản xuất ô
tô, năng lượng, công nghiệp hỗ trợ, sản xuất thông minh, các dịch vụ thương mại,
logistics, tài chính, ngân hàng, du lịch, viễn thông, đào tạo chất lượng cao, y
tế chuyên sâu; phát triển nhanh các ngành dịch vụ mới như công nghiệp sáng tạo,
công nghệ tài chính, logistics thông minh, dịch vụ công nghệ số. Phát triển
vùng trở thành trung tâm dịch vụ hiện đại của khu vực Đông Nam Á. Phát triển
công nghiệp văn hóa, giải trí; bảo tồn gắn với phát huy giá trị các không gian
và di sản văn hóa. Phát huy vai trò trung tâm đào tạo nhân lực chất lượng cao dẫn
đầu cả nước, tập trung xây dựng một số ngành đào tạo mũi nhọn đạt trình độ khu
vực, thế giới. Xây dựng các trung tâm đổi mới sáng tạo, đi đầu trong phát triển
khoa học, công nghệ. Phát triển các khu kinh tế ven biển, khu thương mại tự do
và các loại hình khu chức năng với mô hình phù hợp, có điều kiện thuận lợi về hạ
tầng, cơ chế, chính sách nhằm thu hút đầu tư thúc đẩy phát triển các ngành công
nghiệp và dịch vụ chất lượng cao, hiện đại. Phát triển nông nghiệp ứng dụng
công nghệ cao, nông nghiệp sạch, hữu cơ, phục vụ đô thị. Phát triển các đô thị
vệ tinh để giảm sức ép tại các đô thị lớn; sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài
nguyên đất. Giải quyết cơ bản tình trạng ô nhiễm môi trường, tắc nghẽn giao
thông và ngập úng. Phát triển bền vững kinh tế biển theo hướng tăng trưởng
xanh, bảo tồn đa dạng sinh học và các hệ sinh thái biển; tiếp tục xây dựng khu
vực Hải Phòng - Quảng Ninh trở thành trung tâm kinh tế biển hiện đại, mang tầm
quốc tế, hàng đầu ở Đông Nam Á. Hà Nội trở thành thành phố kết nối toàn cầu,
ngang tầm thủ đô các nước phát triển trong khu vực và thế giới.
Phát triển các hành lang kinh tế nội vùng và liên vùng, kết nối với vùng
Trung du và miền núi phía Bắc, hành lang kinh tế Bắc - Nam trên địa bàn vùng;
phát triển vành đai kinh tế Vịnh Bắc Bộ (khu vực ven biển Quảng Ninh - Hải
Phòng - Hưng Yên - Ninh Bình). Xây dựng các tuyến đường bộ cao tốc kết nối Hà Nội
với các địa phương trong và ngoài vùng, tuyến đường bộ ven biển, đường vành đai
4, vành đai 5 vùng Thủ đô Hà Nội. Đẩy nhanh triển khai đường sắt đô thị tại Hà
Nội. Xây dựng các tuyến đường sắt mới từ Hà Nội kết nối các cảng biển, cửa khẩu
quốc tế lớn; xây dựng đường sắt Hải Phòng - Hạ Long - Móng Cái, đường sắt tốc độ
cao Hà Nội - Quảng Ninh. Xây dựng Cảng hàng không quốc tế Gia Bình.
- Vùng Bắc Trung Bộ: phấn đấu tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân đạt khoảng
10 - 10,5%/năm giai đoạn 2026 - 2030. Phát triển mạnh kinh tế biển; nâng cao hiệu
quả hệ thống cảng biển, các khu kinh tế ven biển, khu công nghiệp; ưu tiên phát
triển các khu kinh tế ven biển tập trung vào một số ngành trọng điểm phù hợp với
các địa phương, tạo đột phá tăng trưởng. Phát triển các ngành công nghiệp lọc
hóa dầu, luyện kim, cơ khí chế tạo, sản xuất ô tô và phụ trợ, công nghiệp chế
biến nông, lâm, thủy sản, năng lượng. Xây dựng các trung tâm dịch vụ logistics.
Phát triển du lịch biển, đảo, du lịch sinh thái và du lịch văn hóa - lịch sử.
Cơ cấu lại nông, lâm nghiệp, khai thác, nuôi trồng thủy sản gắn với công nghiệp
chế biến, bảo đảm bền vững và hiệu quả cao.
Xây dựng thành phố Huế trở thành trung tâm lớn, đặc sắc của khu vực Đông
Nam Á về văn hóa, du lịch và y tế chuyên sâu, trung tâm lớn của cả nước về khoa
học và công nghệ, giáo dục và đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao; hướng
tới là thành phố Festival, trung tâm văn hóa, giáo dục, du lịch và y tế chuyên
sâu đặc sắc của châu Á. Xây dựng khu vực ven biển Thanh Hóa - Nghệ An - Hà Tĩnh
là trung tâm phát triển công nghiệp của vùng và cả nước, trở thành vùng động lực
quốc gia.
Xây dựng mạng lưới giao thông đồng bộ, hiện đại, gắn với hình thành hành
lang kinh tế Bắc - Nam qua địa bàn vùng và các hành lang Đông - Tây kết nối các
cửa khẩu quốc tế, các đô thị và cảng biển lớn.
- Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên: phấn đấu tốc độ tăng trưởng
GRDP bình quân đạt khoảng 9,5 - 10%/năm giai đoạn 2026 - 2030.
Phát triển các ngành công nghiệp có lợi thế, công nghiệp sạch; đẩy mạnh
phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản, năng lượng tái tạo. Phát
triển kinh tế nông nghiệp hiệu quả cao với quy mô phù hợp; nâng cao hiệu quả
phát triển cây công nghiệp, mở rộng diện tích cây ăn quả, dược liệu, rau, hoa.
Phát triển các trung tâm du lịch lớn gắn với tiềm năng đặc thù của mỗi khu vực,
hình thành các tuyến du lịch kết nối chuỗi không gian núi - rừng - biển và
không gian văn hóa - di sản.
Tại khu vực duyên hải đẩy mạnh kinh tế biển, phát triển mạnh công nghiệp
cơ khí chế tạo, luyện kim, lọc hóa dầu, năng lượng; cảng biển, cảng hàng không
và dịch vụ logistics; du lịch biển, đảo; nuôi trồng và khai thác thủy sản. Phát
triển nhanh các ngành công nghiệp mới, công nghiệp công nghệ cao, công nghệ số.
Phát triển chuỗi đô thị ven biển gắn với phát triển các trung tâm du lịch biển,
trung tâm tài chính, khu thương mại tự do, khu kinh tế ven biển, khu công nghiệp.
Đối với khu vực trung du, miền núi và cao nguyên, đặc biệt quan tâm bảo
vệ rừng tự nhiên, rừng đặc dụng, rừng phòng hộ đầu nguồn gắn với bảo đảm an
ninh nguồn nước. Phát triển kinh tế lâm nghiệp, nâng cao đời sống của người làm
nghề rừng. Phát triển bền vững công nghiệp khai thác bô-xít, chế biến alumin, sản
xuất nhôm. Phát triển du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, du lịch văn hóa gắn với bảo
tồn, phát huy giá trị, bản sắc văn hóa các dân tộc Tây Nguyên. Phát triển các
khu kinh tế cửa khẩu, thúc đẩy hoạt động thương mại, đầu tư.
Phát triển thành phố Đà Nẵng trở thành một trong những trung tâm kinh tế
- xã hội lớn của cả nước và Đông Nam Á với vai trò là trung tâm về khởi nghiệp,
đổi mới sáng tạo, du lịch, thương mại, tài chính, logistics, công nghiệp công
nghệ cao, công nghệ số, công nghiệp hỗ trợ; là một trong những trung tâm văn
hóa - thể thao, giáo dục và đào tạo, y tế chất lượng cao, khoa học, công nghệ
phát triển của đất nước.
Phát triển hành lang kinh tế kết nối khu vực Tây Nguyên - Đông Nam Bộ,
các hành lang Đông - Tây. Hình thành, phát triển các hành lang kinh tế Đông -
Tây tại các tỉnh, thành phố nhằm tạo trục kết nối liên thông, khai thác hiệu quả
không gian phát triển mới sau sáp nhập. Xây dựng mạng lưới đường bộ cao tốc và
nâng cấp mạng lưới giao thông nội vùng; các tuyến đường nối với các địa phương
vùng Đông Nam Bộ, khu vực Nam Lào và Đông Bắc Campuchia. Nghiên cứu xây dựng
tuyến đường sắt qua địa bàn Tây Nguyên.
- Vùng Đông Nam Bộ: phấn đấu tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân đạt khoảng
10 - 11%/năm giai đoạn 2026 - 2030. Xây dựng Đông Nam Bộ trở thành vùng phát
triển năng động, có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, động lực tăng trưởng lớn nhất
cả nước; trung tâm khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, công nghiệp công
nghệ cao, logistics và trung tâm tài chính quốc tế có tính cạnh tranh cao trong
khu vực; đi đầu trong đổi mới mô hình tăng trưởng, chuyển đổi số. Phát triển mạnh
các ngành công nghiệp cơ khí chế tạo, hóa dầu, hóa chất, dược phẩm, vật liệu mới,
năng lượng, điện tử, chíp bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, an ninh mạng, công nghiệp
công nghệ số. Phát triển các khu công nghiệp - dịch vụ - đô thị hiện đại, các
khu công nghiệp chuyên ngành, khu công nghệ cao. Xây dựng mới một số khu công
nghệ số tập trung quy mô lớn, hình thành vùng động lực công nghiệp công nghệ số.
Hình thành, phát triển khu thương mại tự do và các loại hình khu chức năng với
mô hình phù hợp, có sức cạnh tranh khu vực và quốc tế trong thu hút đầu tư chất
lượng cao. Phát triển vùng trở thành trung tâm dịch vụ của khu vực Đông Nam Á về
tài chính, thương mại, du lịch, giao lưu quốc tế. Phát triển mạnh kinh tế biển,
dịch vụ hậu cần cảng biển, công nghiệp khai thác, chế biến dầu khí, các dịch vụ
ngành dầu khí, phát triển du lịch biển, đảo. Phát triển hoạt động thương mại, đầu
tư tại các khu kinh tế cửa khẩu, trọng tâm là khu kinh tế cửa khẩu Mộc Bài.
Nâng cao hiệu quả phát triển cây công nghiệp, cây ăn quả, chăn nuôi tập trung gắn
với chế biến và thương hiệu sản phẩm, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao. Các lĩnh
vực văn hóa, xã hội, giáo dục, đào tạo, y tế phát triển đứng đầu cả nước. Phát
triển một số cơ sở giáo dục đại học lớn theo hướng trọng tâm, trọng điểm đủ
năng lực đào tạo nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội, đạt trình độ tiên tiến,
thuộc nhóm hàng đầu châu Á. Phát triển công nghiệp văn hóa, các trung tâm dịch
vụ vui chơi giải trí chất lượng cao mang tầm khu vực và quốc tế. Giải quyết cơ
bản tình trạng ô nhiễm môi trường, tắc nghẽn giao thông và ngập úng.
Phát triển Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố văn minh, hiện đại, năng động
sáng tạo; trung tâm tài chính quốc tế; có vị thế nổi trội trong khu vực Đông
Nam Á và phát triển ngang tầm các thành phố lớn trong khu vực châu Á.
Tạo động lực liên kết, lan toả thúc đẩy hợp tác và phát triển qua hành
lang kinh tế Bắc - Nam, hành lang kinh tế Tây Nguyên - Đông Nam Bộ, hành lang
kinh tế theo Quốc lộ 13 từ Thành phố Hồ Chí Minh - Đồng Nai. Phát triển chuỗi
công nghiệp - đô thị Mộc Bài - Thành phố Hồ Chí Minh - cảng Cái Mép - Thị Vải gắn
với hành lang kinh tế xuyên Á. Xây dựng các tuyến đường bộ cao tốc kết nối
Thành phố Hồ Chí Minh với các địa phương trong và ngoài vùng, đường vành đai 3,
vành đai 4 Thành phố Hồ Chí Minh. Xây dựng đường sắt đô thị Thành phố Hồ Chí
Minh, đường sắt kết nối trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh với các đô thị lân cận.
Xây dựng các tuyến đường sắt kết nối đến các cảng biển, cảng hàng không quốc tế
cửa ngõ. Xây dựng, đưa vào vận hành, khai thác Cảng hàng không quốc tế Long
Thành và các tuyến giao thông kết nối đồng bộ. Xây dựng cảng trung chuyển quốc
tế Cần Giờ. Phối hợp, nâng cao hiệu quả khai thác các cảng hàng không Tân Sơn
Nhất và Long Thành, các cảng biển khu vực Cái Mép - Thị Vải và khu vực Hiệp Phước,
Cát Lái.
- Vùng Đồng bằng sông Cửu Long: phấn đấu tốc độ tăng trưởng GRDP bình
quân đạt 9 - 9,5%/năm giai đoạn 2026 - 2030. Phát triển vùng Đồng bằng sông Cửu
Long thành trung tâm kinh tế nông nghiệp hiện đại, bền vững, năng động và hiệu
quả cao của cả nước, khu vực và thế giới. Tập trung phát triển sản xuất nông
nghiệp hàng hóa, hiện đại, quy mô lớn gắn với công nghiệp chế biến và xây dựng
thương hiệu sản phẩm; đẩy mạnh phát triển nông nghiệp số, nông nghiệp thông
minh. Chuyển đổi cơ cấu sản phẩm chủ lực theo hướng giảm lúa gạo, tăng trái cây
và thủy sản; sử dụng đất nông nghiệp linh hoạt, hiệu quả hơn. Triển khai hiệu
quả Đề án phát triển bền vững 1 triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao và phát
thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030.
Xây dựng trung tâm khởi nghiệp sáng tạo quốc gia về nông nghiệp trên địa bàn
vùng. Phát triển công nghiệp xanh, năng lượng tái tạo; chú trọng phát triển
công nghiệp chế biến nông, thủy sản, công nghiệp phục vụ nông nghiệp, công nghiệp
hỗ trợ; từng bước phát triển công nghiệp ứng dụng công nghệ cao và công nghiệp
công nghệ số. Phát triển mạnh kinh tế biển, trong đó chú trọng phát triển du lịch,
dịch vụ biển, kinh tế hàng hải, khai thác dầu khí, năng lượng, nuôi trồng và
khai thác thủy sản xa bờ. Phát triển vùng Đồng bằng sông Cửu Long trở thành
thương hiệu quốc tế về du lịch nông nghiệp, nông thôn, du lịch sinh thái và du
lịch biển, đảo. Chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu và nước biển dâng; xây
dựng các hồ chứa nước và nghiên cứu các biện pháp, công trình trữ nước trong
sông, kênh, rạch; phòng, chống sạt lở, xâm nhập mặn; bảo vệ hệ sinh thái rừng
ngập mặn.
Phát triển thành phố Cần Thơ là thành phố sinh thái, văn minh, hiện đại
mang đậm bản sắc văn hóa sông nước vùng Đồng bằng sông Cửu Long; là đô thị hạt
nhân, trung tâm của vùng về kinh tế, giáo dục và đào tạo, y tế chuyên sâu, khoa
học, công nghệ, văn hóa, thể thao.
Trên hành lang kinh tế Bắc - Nam, tập trung phát triển đoạn Cần Thơ -
Vĩnh Long - Đồng Tháp là hành lang kinh tế - đô thị - công nghiệp động lực của vùng.
Hình thành, phát triển một số hành lang kinh tế Đông - Tây, hành lang kinh tế
phía Tây, hành lang kinh tế ven biển phía Đông. Tăng cường đầu tư hạ tầng kết nối
vùng với Thành phố Hồ Chí Minh và vùng Đông Nam Bộ; hệ thống đường ven biển qua
các địa phương. Phát triển kết cấu hạ tầng đường thủy nội địa, cảng biển, hạ tầng
logistics; nâng cấp các luồng chính, bao gồm luồng hàng hải cho tàu biển trọng
tải lớn. Xây dựng cảng biển Trần Đề là cảng cửa ngõ vùng Đồng bằng sông Cửu
Long; xây dựng cảng tổng hợp lưỡng dụng Hòn Khoai và đường nối từ đất liền ra cảng.
2.[4] Phát triển các vùng động lực, cực tăng trưởng quốc gia
a) Vùng động lực phía Bắc
Phát triển vùng động lực phía Bắc bao gồm thành phố Hà Nội và các địa
bàn gắn với các tuyến đường vành đai 4, vành đai 5, các trục Quốc lộ 5, Quốc lộ
18, các cao tốc Bắc - Nam phía Đông, cao tốc Hà Nội - Hải Phòng, cao tốc Nội
Bài - Lào Cai, cao tốc Hà Nội - Thái Nguyên qua thành phố Hải Phòng và các tỉnh
Bắc Ninh, Thái Nguyên, Phú Thọ, Ninh Bình, Hưng Yên, Quảng Ninh; trong đó,
thành phố Hà Nội là cực tăng trưởng. Trong giai đoạn sau năm 2030, nghiên cứu mở
rộng phạm vi của vùng động lực.
Xây dựng vùng động lực phía Bắc đi đầu trong phát triển nguồn nhân lực
chất lượng cao, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, kinh tế số, xã hội số;
phát huy vai trò trung tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục, đào tạo, y tế, khoa học,
công nghệ và đổi mới sáng tạo của quốc gia. Tập trung phát triển một số ngành dịch
vụ hiện đại, chất lượng cao; các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có hàm lượng
công nghệ cao, giá trị gia tăng lớn, tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu;
phát triển nhanh công nghiệp công nghệ số và các ngành công nghiệp mới nổi.
Phát triển khu vực ven biển trở thành trung tâm kinh tế biển với các ngành vận
tải biển và dịch vụ cảng biển, logistics, du lịch biển, đảo và công nghiệp đóng
tàu. Phát triển khu thương mại tự do và các loại hình khu chức năng theo mô
hình mới phù hợp với xu thế chung của thế giới, có môi trường hấp dẫn vượt trội
để tạo động lực phát triển mới.
b) Vùng động lực phía Nam
Phát triển vùng động lực phía Nam bao gồm các địa bàn dọc theo trục Quốc
lộ 22, Quốc lộ 13, Quốc lộ 1, Quốc lộ 51, cao tốc Bắc - Nam phía Tây, đường
vành đai 4 qua Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh Đồng Nai, Tây Ninh; trong đó
Thành phố Hồ Chí Minh là cực tăng trưởng. Trong giai đoạn sau năm 2030, nghiên
cứu mở rộng phạm vi của vùng động lực.
Xây dựng vùng động lực phía Nam dẫn đầu cả nước và hàng đầu khu vực Đông
Nam Á về kinh tế, tài chính, thương mại, dịch vụ, y tế, giáo dục, đào tạo và
phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo,
chuyển đổi số. Tập trung phát triển mạnh hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, đi đầu
trong chuyển đổi mô hình tăng trưởng, xây dựng kinh tế số, xã hội số. Phát triển
mạnh các dịch vụ tài chính, ngân hàng, khoa học, công nghệ, logistics. Thu hút
đầu tư các ngành công nghiệp công nghệ cao, phát triển các ngành công nghiệp mới
nổi như chip bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, công nghiệp công nghệ số. Phát triển các
ngành kinh tế biển như dịch vụ logistics, khai thác, chế biến dầu khí, du lịch
biển. Phát triển trung tâm tài chính quốc tế tại Thành phố Hồ Chí Minh hướng tới
mục tiêu trở thành trung tâm tài chính quốc tế hàng đầu, nâng tầm vị thế của Việt
Nam trong mạng lưới tài chính toàn cầu gắn với động lực tăng trưởng kinh tế.
Phát triển khu thương mại tự do gắn với đầu mối giao thông cửa ngõ quốc tế để
hình thành hệ sinh thái logistics - công nghiệp - thương mại dịch vụ - đổi mới
sáng tạo - đô thị, có sức cạnh tranh khu vực, quốc tế cao.
c) Vùng động lực miền Trung
Hình thành, phát triển vùng động lực miền Trung bao gồm các địa bàn dọc
theo đường bộ cao tốc Bắc - Nam phía Đông, Quốc lộ 1 và đường ven biển thuộc
các tỉnh, thành phố: Huế, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Gia Lai; trong đó thành phố Đà Nẵng
là cực tăng trưởng. Trong giai đoạn sau năm 2030, nghiên cứu mở rộng phạm vi của
vùng động lực.
Tiếp tục hình thành, phát triển hệ thống đô thị ven biển, các trung tâm
du lịch biển, du lịch sinh thái mang tầm khu vực và thế giới; trung tâm công
nghiệp lọc hóa dầu và năng lượng quốc gia, công nghiệp ô tô, phụ trợ ngành cơ
khí; đẩy nhanh thu hút các ngành công nghiệp mới nổi, phát triển các khu công
nghệ cao, khu công nghệ số tập trung, trung tâm đổi mới sáng tạo. Phát triển cảng
biển và dịch vụ cảng biển, cảng hàng không và công nghiệp hàng không; dịch vụ
logistics gắn với cảng biển, cảng hàng không. Phát triển hạ tầng và các trung
tâm dịch vụ hậu cần nghề cá. Đẩy mạnh phát triển, đi đầu về khoa học, công nghệ,
đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của khu vực miền Trung - Tây Nguyên. Phát triển,
gắn kết giữa trung tâm tài chính quốc tế và khu thương mại tự do tại thành phố
Đà Nẵng, hình thành hệ sinh thái kinh tế hiện đại, thông minh, có tính cạnh
tranh cao, tạo sức lan tỏa lớn.
d) Vùng động lực Đồng bằng sông Cửu Long
Hình thành, phát triển vùng động lực Đồng bằng sông Cửu Long bao gồm các
địa bàn thuộc thành phố Cần Thơ, các tỉnh An Giang, Vĩnh Long, Đồng Tháp gắn với
khu vực kết nối các tuyến đường cao tốc, gồm cao tốc Bắc - Nam phía Đông đoạn Cần
Thơ - Vĩnh Long, cao tốc An Hữu - Cao Lãnh, cao tốc Bắc - Nam phía Tây từ Cao
Lãnh đến Rạch Sỏi, cao tốc Châu Đốc - Cần Thơ - Sóc Trăng, cao tốc Hà Tiên - Rạch
Giá - Bạc Liêu và đặc khu Phú Quốc; trong đó thành phố Cần Thơ là cực tăng trưởng.
Trong giai đoạn sau năm 2030, nghiên cứu mở rộng phạm vi của vùng động lực gắn
với cảng biển Trần Đề.
Xây dựng vùng động lực Đồng bằng sông Cửu Long trở thành trung tâm dịch
vụ, du lịch, logistics, công nghiệp phục vụ nông nghiệp. Phát triển công nghiệp
chế biến nông sản, cơ khí, hóa chất phục vụ nông nghiệp. Hình thành các trung
tâm đầu mối về nông nghiệp gắn với các vùng chuyên canh; xây dựng vùng trở
thành trung tâm quốc gia về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo trong nông
nghiệp và các dịch vụ phục vụ nông nghiệp. Đóng vai trò hạt nhân thúc đẩy chuyển
đổi số và phát triển các ngành công nghiệp mới như công nghiệp công nghệ số của
toàn vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Phát triển kinh tế biển, tập trung xây dựng
đặc khu Phú Quốc, tỉnh An Giang thành trung tâm dịch vụ, du lịch sinh thái biển
mang tầm quốc tế, kết nối với các trung tâm kinh tế lớn trong khu vực và thế giới.
đ) Vùng động lực Bắc Trung Bộ
Hình thành, phát triển vùng động lực Bắc Trung Bộ bao gồm các địa bàn dọc
theo đường bộ cao tốc Bắc - Nam phía Đông, Quốc lộ 1 và đường ven biển thuộc
các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh.
Xây dựng vùng động lực Bắc Trung Bộ trở thành một trung tâm về công nghiệp
lọc hóa dầu, luyện kim, cơ khí chế tạo, công nghiệp ô tô và phụ trợ của cả nước;
đồng thời phát triển nhanh các ngành công nghiệp mới như điện tử, chíp bán dẫn,
trí tuệ nhân tạo, công nghiệp công nghệ số, các ngành công nghệ cao, tạo động lực
thúc đẩy kinh tế - xã hội toàn vùng Bắc Trung Bộ. Tiếp tục phát triển các trung
tâm du lịch biển gắn với các đô thị du lịch ven biển. Phát triển các cảng biển
và dịch vụ cảng biển, dịch vụ logistics.
e) Từng bước xây dựng, hình thành vùng động lực tại vùng Duyên hải Nam
Trung Bộ và Tây Nguyên tại Khánh Hòa, Lâm Đồng và phụ cận.
3.[5] Phát triển các hành lang kinh tế
a) Các hành lang kinh tế ưu tiên trong giai đoạn đến năm 2030
- Phát triển hành lang kinh tế Bắc - Nam trên cơ sở trục giao thông Bắc
- Nam phía Đông, kết nối các vùng động lực, các đô thị lớn, trung tâm kinh tế,
đóng góp lớn cho phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, tạo tác động lan tỏa
thúc đẩy sự phát triển của dải ven biển và khu vực phía Tây đất nước, kết nối với
hành lang kinh tế Nam Ninh - Singapore. Xây dựng phương án, bố trí không gian
phát triển các đô thị, khu công nghiệp, trung tâm logistics gắn với hành lang
kinh tế Bắc - Nam trong các quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh.
- Phát triển hành lang kinh tế Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng
Ninh, là trục kết nối chủ đạo của vùng động lực phía Bắc, kết nối vùng Trung du
và miền núi phía Bắc với các trung tâm kinh tế, cảng biển lớn của cả nước, kết
nối hành lang kinh tế Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh;
thúc đẩy hợp tác thương mại, đầu tư giữa các địa phương của Việt Nam và khu vực
phía Tây Nam Trung Quốc.
- Phát triển hành lang kinh tế Mộc Bài - Thành phố Hồ Chí Minh - Biên
Hòa - Vũng Tàu gắn với hành lang kinh tế xuyên Á, là cửa ngõ ra biển của khu vực
Đông Nam Bộ, thúc đẩy phát triển kinh tế vùng Đông Nam Bộ và các khu vực lân cận.
b) Từng bước hình thành và phát triển các hành lang kinh tế trong dài hạn
- Hình thành hành lang kinh tế theo đường Hồ Chí Minh và cao tốc Bắc -
Nam phía Tây qua địa bàn Tây Nguyên, Đông Nam Bộ (hành lang kinh tế Tây Nguyên
- Đông Nam Bộ) nhằm thúc đẩy phát triển, liên kết vùng, gắn với tăng cường quốc
phòng, an ninh; kết nối các vùng nguyên liệu cây công nghiệp, công nghiệp chế
biến, liên kết phát triển du lịch “con đường xanh Tây Nguyên”, tăng cường tác động
lan tỏa của các đô thị trung tâm vùng.
- Từng bước hình thành các hành lang kinh tế Đông - Tây
Hành lang kinh tế Điện Biên - Sơn La - Hòa Bình - Hà Nội kết nối vùng
Trung du và miền núi phía Bắc với vùng Đồng bằng sông Hồng, thúc đẩy phát triển
kinh tế - xã hội khu vực Tây Bắc.
Hành lang kinh tế Cầu Treo - Vũng Áng kết nối các địa phương của Lào với
cảng biển tại Hà Tĩnh, Quảng Trị, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội các địa
phương vùng Bắc Trung Bộ.
Hành lang kinh tế Lao Bảo - Đông Hà - Đà Nẵng gắn với hành lang kinh tế
Đông - Tây thuộc Tiểu vùng sông Mê Công mở rộng (GMS), kết nối các địa phương
phía Nam Myanmar, miền Trung Thái Lan và Lào với cảng biên của miền Trung Việt
Nam, thúc đẩy giao lưu thương mại, du lịch, đầu tư giữa các nước, phát triển
các địa phương vùng Bắc Trung Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên.
Hành lang kinh tế Bờ Y - Pleiku - Quy Nhơn kết nối phía Bắc khu vực Tây
Nguyên với khu vực ven biển Nam Trung Bộ và cảng biển, thúc đẩy phát triển kinh
tế - xã hội vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên.
Hành lang kinh tế Châu Đốc - Cần Thơ - Sóc Trăng, kết nối với cảng biển
Trần Đề phục vụ xuất nhập khẩu trực tiếp cho vùng Đồng bằng sông Cửu Long trong
tương lai, thúc đẩy phát triển các trung tâm đầu mối về nông nghiệp, công nghiệp,
dịch vụ, logistics liên quan đến nông nghiệp của vùng.
Hành lang kinh tế Hà Tiên - Rạch Giá - Cà Mau, kết nối với hành lang ven
biển phía Nam của Tiểu vùng sông Mê Công mở rộng (GMS) nhằm thúc đẩy phát triển
kinh tế - xã hội khu vực ven biển phía Tây của vùng Đồng bằng sông Cửu Long và
toàn vùng.
Nghiên cứu xây dựng hành lang kinh tế Thanh Thủy - Vinh - Cửa Lò; hành
lang kinh tế Bờ Y - Đà Nẵng; hành lang kinh tế Buôn Ma Thuột - Khánh Hòa; hành
lang kinh tế Lâm Đồng - Khánh Hòa.
4. Các khu vực lãnh thổ cần bảo tồn, vùng hạn chế phát triển
a) Các khu vực lãnh thổ cần bảo tồn
- Vùng bảo vệ nghiêm ngặt, vùng phục hồi sinh thái của các khu bảo
tồn thiên nhiên.
- Vùng lõi di sản thiên nhiên được tổ chức quốc tế công nhận.
- Khu vực bảo vệ I các di tích lịch sử - văn hóa quốc gia, di tích lịch
sử - văn hóa quốc gia đặc biệt.
- Rừng phòng hộ đầu nguồn và rừng bảo vệ nguồn nước của cộng đồng dân cư;
b) Các vùng hạn chế
phát triển
- Các khu vực địa hình quan trọng đặc biệt và quan trọng cao ưu
tiên cho nhiệm vụ quốc phòng được xác định trong quy hoạch tỉnh.
- Vùng đệm các khu bảo tồn thiên nhiên, di sản thiên nhiên được tổ chức
quốc tế công nhận.
- Các hành lang đa dạng sinh học, vùng đất ngập nước quan trọng.
- Khu vực bảo vệ II các di tích lịch sử - văn hóa quốc gia, di tích lịch
sử - văn hóa quốc gia đặc biệt.
- Hành lang bảo vệ nguồn nước.
- Rừng phòng hộ ngoài khu vực rừng phòng hộ đầu nguồn và rừng bảo vệ nguồn
nước của cộng đồng dân cư.
- Vùng có nguy cơ xảy ra sạt lở, lũ ống, lũ quét.
Điều 4. Định hướng phát triển hệ thống đô thị và nông thôn
quốc gia[6]
1. Định hướng tổng thể phát triển hệ thống đô thị
Đẩy nhanh tốc độ đô thị hoá phù hợp với quy hoạch, hình thành hệ thống
đô thị, tạo động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững;
bảo đảm kết hợp đồng bộ và hài hòa giữa cải tạo, chỉnh trang, tái thiết đô thị
với phát triển các đô thị mới. Nâng cao chất lượng phát triển đô thị về kinh tế,
xã hội, nhà ở, kết cấu hạ tầng đô thị, nhất là giao thông, cấp, thoát nước, chống
ngập, lụt đô thị, bảo vệ môi trường; tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý đô
thị gắn với chuyển đổi số và quản trị thông minh. Nâng cao khả năng cạnh tranh
kinh tế và hội nhập của hệ thống đô thị. Tăng cường vai trò đô thị là các cực
tăng trưởng và phát triển, dẫn dắt và nâng cao chất lượng tăng trưởng quốc gia,
đáp ứng yêu cầu tăng trưởng hai con số giai đoạn 2026 - 2030.
Phát triển hệ thống đô thị bền vững theo mạng lưới, phân bổ hợp lý, bảo
đảm đồng bộ, thống nhất, cân đối giữa các vùng. Bảo đảm tính liên kết giữa các
đô thị phù hợp với quá trình sắp xếp đơn vị hành chính. Phát triển các đô thị
có chức năng tổng hợp theo hướng đô thị xanh, thông minh, thích ứng với biến đổi
khí hậu, phòng, chống thiên tai, dịch bệnh. Phát triển đô thị theo hướng nén kết
hợp tạo lập không gian công cộng, không gian xanh, sinh thái để tăng hiệu quả sử
dụng đất và tài nguyên. Bảo đảm tính kết nối giữa đô thị - nông thôn. Quy hoạch,
phát triển đô thị gắn với định hướng phát triển hệ thống giao thông công cộng (TOD).
Quản lý, khai thác hiệu quả không gian ngầm, nhất là tàu điện ngầm tại các đô
thị lớn. Phát triển và quản lý hiệu quả không gian công cộng đô thị, công trình
điểm nhấn kiến trúc và nghệ thuật đô thị tạo nên giá trị bản sắc, chất lượng và
thương hiệu của đô thị. Lựa chọn đô thị có lợi thế đặc biệt để xây dựng thành
trung tâm kinh tế, tài chính, thương mại, dịch vụ... có khả năng cạnh tranh khu
vực, quốc tế. Đẩy mạnh xây dựng và phát triển các đô thị thông minh; hình thành
và phát triển một số đô thị, chuỗi đô thị thông minh kết nối với khu vực và thế
giới. Phát triển hệ thống đô thị ven biển và hải đảo theo hướng bền vững, bảo vệ
hệ sinh thái tự nhiên; chú trọng phát triển đô thị trên cơ sở bảo tồn, phát huy
các yếu tố di sản, văn hóa - lịch sử.
Xây dựng, phát triển thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và các
thành phố khác trở thành các đô thị năng động, sáng tạo, dẫn dắt và tạo hiệu ứng
lan tỏa, liên kết vùng đô thị; đủ sức cạnh tranh, hội nhập khu vực và quốc tế,
có vai trò quan trọng trong mạng lưới đô thị của khu vực Đông Nam Á, châu Á.
Phát triển Thành phố Hồ Chí Minh trở thành siêu đô thị đạt tầm quốc tế theo mô
hình đa cực, đa trung tâm, có hệ thống kết cấu hạ tầng và quản trị thông minh,
hiện đại.
Ưu tiên phát triển các đô thị gắn với các hành lang kinh tế
để trở thành các đô thị trung tâm phù hợp với chức năng của từng vùng, thúc đẩy
lan tỏa phát triển. Phát triển các đô thị vệ tinh của một số đô thị lớn, nhất
là thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh.
Phát triển đô thị vừa và nhỏ trong mối quan hệ chặt chẽ, chia sẻ chức
năng với các đô thị lớn, giảm dần khoảng cách phát triển giữa các đô thị. Chú
trọng phát triển các đô thị nhỏ, vùng ven đô để hỗ trợ phát triển nông thôn
thông qua các mối liên kết đô thị, nông thôn. Phát triển các mô hình đô thị đặc
thù như đô thị du lịch, đô thị di sản, đô thị đại học, đô thị sáng tạo, đô thị
kinh tế cửa khẩu, đô thị đảo.
Đối với các tỉnh, thành phố mới sáp nhập, tăng cường hạ tầng kết nối đô
thị trung tâm tỉnh, thành phố (tỉnh lỵ mới) với các đô thị là các trung tâm các
tỉnh trước sáp nhập (tỉnh lỵ cũ), tạo các động lực bổ trợ, thúc đẩy các cực
tăng trưởng cấp tỉnh và các tiểu vùng cùng phát triển, đồng thời chia sẻ vai
trò, chức năng nhằm bảo đảm tính đồng bộ, hiệu quả, thu hút các nguồn lực để mở
ra các không gian phát triển mới.
2. Định hướng phân bố các vùng đô thị lớn
a) Vùng đô thị Hà Nội: xây dựng hệ thống đô thị gồm thành phố Hà Nội và
các đô thị lân cận của các tỉnh xung quanh trong vùng Đồng bằng sông Hồng và
vùng Trung du và miền núi phía Bắc nhằm chia sẻ chức năng về giáo dục và đào tạo,
y tế, khoa học, công nghệ, thương mại, dịch vụ, du lịch, hạn chế sự tập trung
quá mức vào đô thị trung tâm Hà Nội.
Tập trung phát triển kết cấu hạ tầng đô thị và hạ tầng kết nối đồng bộ,
hiện đại, bao gồm các trục từ Hà Nội kết nối với các đô thị lớn của vùng, các
đường vành đai 4, vành đai 5 vùng Thủ đô Hà Nội và các tuyến đường sắt đô thị,
đường sắt vành đai phía Đông thành phố Hà Nội, thúc đẩy liên kết và lan tỏa
phát triển kinh tế - xã hội cho cả khu vực phía Bắc. Đẩy nhanh hình thành các
vành đai công nghiệp - đô thị - dịch vụ dọc theo các đường vành đai 4, vành đai
5 vùng Thủ đô Hà Nội.
Phát triển thành phố Hà Nội trở thành đô thị thông minh, hiện đại, năng động,
sáng tạo, dẫn dắt; đầu tàu trong khoa học, công nghệ; trung tâm giao dịch quốc
tế, dịch vụ giáo dục và đào tạo, y tế, tài chính, ngân hàng chất lượng cao; đầu
mối giao thông quan trọng của khu vực và quốc tế. Tập trung xây dựng hạ tầng đô
thị hiện đại, nhất là hạ tầng giao thông, thoát nước, khắc phục tình trạng tắc
nghẽn, ngập úng. Đẩy nhanh tiến độ các dự án đường sắt đô thị gắn với triển
khai mô hình phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng (TOD). Xây
dựng thêm các cầu qua sông Hồng, sông Đuống. Quản lý, khai thác không gian ngầm
đô thị gắn với nâng cao hiệu quả sử dụng quỹ đất đô thị.
Xây dựng, phát triển các đô thị của Thủ đô Hà Nội, các đô thị vệ tinh có
hạ tầng đồng bộ, tiện ích và dịch vụ đô thị, giao thông kết nối thuận tiện với trung
tâm, giảm tải khu vực nội đô và mở rộng không gian phát triển của Hà Nội.
b) Vùng đô thị Thành phố Hồ Chí Minh: xây dựng hệ thống đô thị gồm Thành
phố Hồ Chí Minh và các đô thị lân cận thuộc các tỉnh vùng Đông Nam Bộ và vùng Đồng
bằng sông Cửu Long nhằm chia sẻ chức năng về dịch vụ, công nghiệp, giáo dục và
đào tạo, y tế, khoa học, công nghệ, hạn chế sự tập trung quá mức vào đô thị
trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh.
Tập trung phát triển kết cấu hạ tầng đô thị và hạ tầng kết nối đồng bộ,
hiện đại, bao gồm các trục từ khu vực lõi đô thị Thành phố Hồ Chí Minh kết nối
với các đô thị lớn của vùng, các đường vành đai 3, vành đai 4 và các tuyến đường
sắt đô thị, đường sắt kết nối cảng hàng không, cảng biển cửa ngõ quốc tế, thúc
đẩy liên kết và lan tỏa phát triển kinh tế - xã hội cho cả khu vực phía Nam. Đẩy
nhanh hình thành các vành đai công nghiệp - đô thị - dịch vụ dọc theo các đường
vành đai 3, vành đai 4. Xây dựng đường sắt đô thị gắn với phát triển đô thị
theo định hướng giao thông công cộng (TOD) dọc các tuyến. Phát triển đô thị sân
bay cửa ngõ quốc tế Long Thành.
Khu vực lõi đô thị Thành phố Hồ Chí Minh là đô thị hạt nhân, trung tâm
phát triển của toàn vùng; chuyển nhanh sang dịch vụ chất lượng cao, trở thành
trung tâm tài chính quốc tế có tính cạnh tranh trong khu vực; đi đầu về công
nghiệp công nghệ cao, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, giáo dục và đào tạo,
y tế chuyên sâu và đầu mối giao thương với quốc tế. Chú trọng khai thác không
gian ngầm gắn với sử dụng hiệu quả quỹ đất đô thị. Khai thác tiềm năng và lợi
thế để phát triển khu vực đô thị Thủ Đức, khu vực Cần Giờ trở thành động lực
tăng trưởng mới cho Thành phố Hồ Chí Minh.
c) Vùng đô thị Đà Nẵng - Huế: xây dựng hệ thống đô thị theo mô hình chuỗi
đô thị bao gồm khu vực lõi đô thị thành phố Đà Nẵng và thành phố Huế và các đô
thị lân cận trên địa bàn hai thành phố; phát triển trở thành trung tâm về khởi
nghiệp, đổi mới sáng tạo, du lịch, thương mại, tài chính, logistics, công nghiệp
công nghệ cao, công nghệ số; một trong những trung tâm giáo dục và đào tạo, y tế
chất lượng cao, khoa học, công nghệ của đất nước; trung tâm tổ chức các sự kiện
tầm khu vực và quốc tế.
Phát triển thành phố Đà Nẵng là cực tăng trưởng, động lực quan trọng
thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên,
cùng với đô thị Huế thúc đẩy phát triển khu vực phía Nam của vùng Bắc Trung Bộ,
trở thành chuỗi đô thị động lực quan trọng của khu vực miền Trung và cả nước.
d) Vùng đô thị Cần Thơ: xây dựng hệ thống đô thị gồm đô thị trung tâm là
lõi đô thị của Thành phố Cần Thơ và các đô thị lân cận; phát triển trở thành
trung tâm dịch vụ thương mại, du lịch, logistics, công nghiệp chế biến, nông
nghiệp ứng dụng công nghệ cao, giáo dục, đào tạo, y tế chuyên sâu, khoa học,
công nghệ, văn hóa, thể thao của cả vùng. Khai thác các trục giao thông kết nối
Cần Thơ - Mỹ Thuận - Trung Lương - Thành phố Hồ Chí Minh, Châu Đốc - Cần Thơ -
Sóc Trăng gắn với cảng biển Trần Đề để tập trung phát triển đô thị, tạo sự lan
tỏa tới các khu vực khác trong vùng.
Phát triển thành phố Cần Thơ là cực tăng trưởng, đóng vai trò đô thị hạt
nhân, động lực thúc đẩy phát triển toàn vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
3. Định hướng phát triển nông thôn
Xây dựng nông thôn mới phát triển toàn diện, hiện đại, bền vững, xanh, sạch,
đẹp gắn với quá trình đô thị hóa; có cơ sở hạ tầng, dịch vụ xã hội đồng bộ và
tiệm cận với khu vực đô thị; bảo đảm nhu cầu thiết yếu về nước sạch của người
dân và bảo vệ môi trường; giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc; chuyển đổi
cơ cấu kinh tế nông thôn và tổ chức sản xuất hợp lý, tiếp tục mở rộng và nâng
cao hiệu quả chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP) trở thành động lực phát
triển bản địa, tạo sinh kế bền vững cho người dân; xã hội nông thôn ổn định,
dân trí được nâng cao; an ninh, trật tự được bảo đảm. Đầu tư tương xứng vào
tăng cường năng lực của chính quyền các xã, số hóa dịch vụ công để bảo đảm đáp ứng
yêu cầu đối với cấp cơ sở trong chính quyền địa phương 2 cấp.
Xây dựng các mô hình phân bố dân cư phù hợp với từng vùng sinh thái tự
nhiên và đặc điểm văn hóa, dân tộc, điều kiện kinh tế - xã hội. Chủ động di dời,
bố trí, sắp xếp lại các điểm dân cư đối với khu vực có nguy cơ cao xảy ra thiên
tai, sạt lở.
Đối với nông thôn ven đô, đẩy mạnh đô thị hóa, phát triển nông nghiệp đô
thị, từng bước hoàn thiện cơ sở hạ tầng, phát triển dịch vụ xã hội có chất lượng
tiệm cận với thành thị, hình thành các điểm dân cư tập trung nông thôn xanh,
sinh thái. Từng bước đưa phát triển đô thị về địa bàn nông thôn.
Đối với nông thôn ở khu vực miền núi phía Bắc, một số vùng ở Đồng bằng
sông Hồng và các vùng miền khác, phát triển các khu dân cư tập trung có quy mô
thích hợp liên kết với đô thị; hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu đối với
nông thôn thuộc vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Đối với nông thôn thuộc các vùng sản xuất nông nghiệp tập trung tại vùng
Đồng bằng sông Cửu Long, khu vực Tây Nguyên, định hướng phát triển các khu dân
cư nông thôn gắn với địa bàn sản xuất, các vùng chuyên canh, cụm ngành chế biến
- dịch vụ, liên kết hài hòa với các đô thị để bảo đảm cung cấp dịch vụ cơ bản.
Phát triển toàn diện, bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền
núi; khai thác tiềm năng, phát huy hiệu quả lợi thế so sánh của vùng, bảo vệ
môi trường và không gian sinh sống của đồng bào dân tộc thiểu số. Rút ngắn khoảng
cách về phát triển và mức thu nhập giữa vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền
núi so với trung bình cả nước.
4. Tiếp tục thực hiện sắp xếp các đơn vị hành chính đô thị và nông thôn,
bảo đảm tính tổng thể, đồng bộ, phù hợp với quy hoạch và yêu cầu phát triển,
đáp ứng tiêu chuẩn của đơn vị hành chính theo quy định.
Điều 5. Định hướng phát triển không gian biển
1. Phạm vi không gian biển bao gồm vùng đất ven biển, các đảo, các quần đảo, vùng
biển, vùng trời Việt Nam.
2. Xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển, phát
triển bền vững, thịnh vượng, an ninh và an toàn trên cơ sở phát huy tối đa tiềm
năng, lợi thế của biển. Phát triển đột phá các ngành kinh tế biển, nhất là các
ngành du lịch, dịch vụ biển; kinh tế hàng hải; khai thác dầu khí và các tài
nguyên khoáng sản biển khác; nuôi trồng và khai thác hải sản; công nghiệp ven
biển; năng lượng tái tạo và các ngành kinh tế biển mới. Hình
thành các cụm kinh tế biển đa ngành gắn với xây dựng các trung tâm kinh tế biển mạnh.
3. Vùng biển được phân thành các vùng chức năng về bảo vệ, bảo tồn, phát
triển kinh tế, quốc phòng, an ninh và quản lý sử dụng theo các vùng cấm khai
thác, khai thác có điều kiện, khuyến khích phát triển đối với các ngành kinh tế
biển và vùng cần bảo vệ đặc biệt cho quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường, bảo
tồn hệ sinh thái.
4. Định hướng theo các vùng biển và ven biển: phát triển các vùng biển
và ven biển dựa trên phát huy tối đa lợi thế so sánh về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, bản sắc văn hoá, tính đa dạng của hệ sinh thái; hài hoà giữa bảo tồn và
phát triển. Phát triển hành lang giao thông đường bộ ven biển, chuỗi đô thị ven
biển và hoàn thiện kết cấu hạ tầng, làm cơ sở phát triển các hoạt động kinh tế
biển.
a) Vùng biển và ven biển phía Bắc (Quảng Ninh - Ninh Bình): tiếp tục xây
dựng khu vực Hải Phòng - Quảng Ninh trở thành trung tâm kinh tế biển gắn với cảng
quốc tế Lạch Huyện; phát triển Quảng Ninh trở thành trung tâm du lịch quốc gia
kết nối với các trung tâm du lịch quốc tế lớn của khu vực và thế giới; phát triển
thành phố Hải Phòng có công nghiệp hiện đại, trung tâm về dịch vụ logistics và
nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ biển. Phát triển một số ngành công
nghiệp biển có lợi thế gắn với các khu kinh tế, khu công nghiệp ven biển;
b) Vùng biển và ven biển miền Trung[7] (Thanh Hoá – Lâm Đồng[8]): tập trung phát triển mạnh kinh
tế biển kết hợp với bảo đảm quốc phòng, an ninh trên biển. Khai thác, nuôi trồng
thuỷ, hải sản gắn với công nghiệp chế biến, dịch vụ hậu cần và hạ tầng nghề cá,
bảo đảm bền vững và hiệu quả cao. Nâng cao hiệu quả phát triển các khu kinh tế
ven biển. Tiếp tục hình thành, phát triển hệ thống đô thị ven biển, các trung
tâm du lịch biển, du lịch sinh thái mang tầm khu vực và quốc tế. Phát triển các
cảng biển và dịch vụ cảng biển, nhất là cảng biển chuyên dụng gắn với các khu
kinh tế, khu công nghiệp;
c) Vùng biển và ven biển Đông Nam Bộ ([9]Thành phố Hồ Chí Minh): tập trung
phát triển cảng Cái Mép - Thị Vải thực sự trở thành cảng trung chuyển quốc tế,
gắn với hành lang kinh tế xuyên Á. Phát triển dịch vụ hậu cần cảng biển, dịch vụ
bảo đảm an toàn hàng hải, công nghiệp khai thác, chế biến dầu khí, công nghiệp
hỗ trợ và các dịch vụ ngành dầu khí. Xây dựng các khu du lịch nghỉ dưỡng biển
chất lượng cao;
d) Vùng biển và ven biển Tây Nam Bộ (Đồng
Tháp[10] - Cà Mau - An Giang[11]): tập trung xây dựng phát triển đặc khu[12] Phú Quốc thành trung tâm dịch vụ,
du lịch sinh thái biển mạnh mang tầm quốc tế. Phát triển công nghiệp khí, chế
biến khí, điện khí, năng lượng tái tạo, nuôi trồng, khai thác hải sản, dịch vụ
hậu cần, hạ tầng nghề cá.
5. Định hướng đối với các đảo và quần đảo
Đẩy mạnh phát triển kinh tế tại các đảo kết hợp với bảo đảm quốc phòng,
an ninh trên biển bao gồm cả các đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa phù hợp
với luật pháp quốc tế, Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982.
Phát triển các trung tâm hậu cần nghề cá, cảng cá, cảng biển, nơi tránh
trú bão, tìm kiếm cứu nạn trên một số đảo. Tập trung xây dựng kết cấu hạ tầng
cho một số đảo trọng điểm, có dân cư sinh sống; khuyến khích các hoạt động phát triển kinh tế; nuôi trồng thủy
sản; khai thác hải sản ở những khu vực xa bờ; phát triển du lịch, cảng biển,
khai thác hải sản tại các đảo; phát triển tuyến du lịch kết nối đảo với đất liền;
trở thành thành trì vững chắc bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.
6. Hoạt động lấn biển phải được tính toán đầy đủ các yếu tố tự nhiên và
tác động của thiên tai, biến đổi khí hậu; hạn chế thấp nhất tác động xấu đến
môi trường, hệ sinh thái, đa dạng sinh học, nguồn lợi thủy sản, cảnh quan thiên
nhiên, di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh.
Điều 6. Định hướng khai thác và sử dụng vùng trời
1. Quản lý, giữ vững chủ quyền vùng trời Việt
Nam theo quy định
của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam là thành viên. Việc khai thác, sử dụng vùng trời phải bảo đảm
an toàn tuyệt đối, hiệu quả, hài hòa giữa phát triển kinh tế và bảo đảm quốc
phòng, an ninh.
2. Khai thác có hiệu quả và quản lý các vùng thông báo bay Hà Nội và
vùng thông báo bay Hồ Chí Minh theo quy định của pháp luật. Khai thác hiệu quả
và tối ưu hóa việc tổ chức vùng trời và phương thức bay các cảng hàng không,
sân bay đang hoạt động và các cảng hàng không, sân bay dự kiến nâng cấp, mở rộng,
xây dựng mới trong thời kỳ quy hoạch.
3. Quản lý độ cao chướng ngại vật hàng không nhằm bảo đảm an toàn tuyệt
đối cho mọi hoạt động khai thác, sử dụng vùng trời của các tổ chức, cơ quan chức
năng theo quy định của pháp luật; việc cấp phép chiều cao xây dựng đối với các
công trình trên mặt đất phải bảo đảm an toàn tuyệt đối cho mọi hoạt động bay,
hoạt động bình thường của các trận địa quản lý, bảo vệ vùng trời và các đài, trạm
vô tuyến điện hàng không tại Việt Nam theo quy định của pháp luật.
4.[13] Khai thác hiệu quả vùng trời cho phát triển kinh tế không
gian tầm thấp. Thiết lập và quản lý các khu vực cấm bay, hạn chế bay đối với
tàu bay không người lái và các phương tiện bay siêu nhẹ tại các khu vực liên
quan đến quốc phòng, an ninh, khu vực trụ sở làm việc các cơ quan, khu vực cảng
hàng không, sân bay, khu vực biên giới, khu vực tập trung đông người và các khu
vực khác theo yêu cầu bảo đảm quốc phòng, an ninh.
Điều 7. Định hướng phát triển và phân bố không gian các
ngành quan trọng [14]
1. Phát triển nền công nghiệp có sức cạnh tranh quốc tế cao, có khả năng
tham gia sâu vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu; thực hiện mục tiêu đến
năm 2030 là nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, nâng cao tính tự chủ
của nền kinh tế.
Nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh một số ngành công nghiệp nền tảng như
năng lượng, cơ khí chế tạo, luyện kim, vật liệu mới, hóa chất. Tập trung phát
triển một số ngành công nghiệp chiến lược, mũi nhọn như công nghiệp điện tử,
công nghiệp công nghệ số, công nghiệp ô tô, công nghiệp đường sắt, công nghiệp
đóng tàu, công nghiệp chế biến, chế tạo phục vụ nông nghiệp... Ưu tiên phát triển,
từng bước làm chủ công nghệ trong một số ngành công nghiệp mới nổi như công
nghiệp chíp bán dẫn, công nghiệp rô-bốt và tự động hóa, trí tuệ nhân tạo, công nghiệp
phục vụ kinh tế không gian tầm thấp, vật liệu tiên tiến, vật liệu phục vụ công
nghiệp cơ khí chế tạo, công nghiệp sinh học, công nghiệp môi trường, năng lượng
tái tạo, năng lượng mới. Đẩy mạnh phát triển công nghiệp hỗ trợ, tăng cường
liên kết giữa doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp đầu tư nước ngoài. Phát triển
các ngành công nghiệp xanh, gắn với mô hình kinh tế tuần hoàn, sản xuất sạch
hơn, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên, năng lượng. Phát triển công nghiệp
quốc phòng, an ninh tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại, gắn kết chặt
chẽ và trở thành mũi nhọn của công nghiệp quốc gia, có sức cạnh tranh quốc tế,
tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Bố trí không gian công nghiệp theo hướng gắn với hệ thống đô thị, trung
tâm dịch vụ để hình thành các hành lang kinh tế, các vùng động lực. Mở rộng
không gian phát triển công nghiệp về khu vực phía Tây của đường cao tốc Bắc -
Nam phía Đông, vùng trung du để giảm sức ép sử dụng quỹ đất tại vùng đồng bằng
và giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu. Phát triển công nghiệp khai thác,
chế biến gắn với các vùng nguyên liệu, tài nguyên; mở rộng các cụm công nghiệp
gắn với các trung tâm phát triển ở khu vực nông thôn.
Hình thành và phát triển nhanh một số cụm liên kết ngành công nghiệp
chuyên môn hóa và các tổ hợp công nghiệp quy mô lớn, hiệu quả cao phù hợp với lợi
thế của mỗi vùng, địa phương. Tập trung phát triển hệ thống khu công nghiệp,
khu chế xuất theo hướng hiện đại; khu công nghiệp áp dụng chuyển đổi số vận
hành cơ sở hạ tầng, dịch vụ thông minh, khu công nghiệp sinh thái, khu công
nghiệp xanh; khuyến khích phát triển các khu công nghiệp chuyên ngành; giảm dần
các khu công nghiệp và cụm công nghiệp, cơ sở sản xuất công nghiệp có nguy cơ ô
nhiễm môi trường cao. Phân bố các khu, cụm công nghiệp với quy mô hợp lý, gắn kết
sản xuất với dịch vụ công nghiệp; phát triển các tổ hợp công nghiệp chuyên sâu
trong các lĩnh vực. Hình thành các khu công nghiệp - dịch vụ - đô thị hiện đại;
bảo đảm sự kết nối đồng bộ giữa khu công nghiệp với hệ thống các công trình kết
cấu hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội.
2. Phát triển khu vực dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế với
chất lượng, hiệu quả, năng lực cạnh tranh cao và hội nhập quốc tế. Phát triển
thương mại trong nước theo hướng hiện đại, văn minh, bền vững; phát triển vững
chắc thương mại quốc tế đồng bộ với sự phát triển của công nghiệp hóa, khai
thác tối đa lợi ích từ hợp tác và hội nhập quốc tế. Chú trọng xây dựng thương
hiệu hàng hóa Việt Nam. Phát triển hạ tầng thương mại đồng bộ, hiện đại, phù hợp
với đặc điểm và điều kiện từng vùng. Phát triển mạnh thương mại điện tử; xây dựng
Việt Nam trở thành thị trường thương mại điện tử lớn thứ hai trong khu vực Đông
Nam Á; phát triển đồng bộ hạ tầng số và hệ thống logistics hỗ trợ thương mại điện
tử.
Xây dựng các trung tâm dịch vụ, thương mại, tài chính, ngân hàng mang tầm
khu vực và thế giới tại các đô thị lớn, gắn với phát triển các vùng động lực,
các hành lang kinh tế. Phát triển các trung tâm tài chính, khu thương mại tự do
đủ sức cạnh tranh khu vực và quốc tế. Thúc đẩy phát triển các sàn giao dịch
hàng hóa, giao dịch tài sản thực và tài sản mã hóa. Hình thành các trung tâm
logistics lớn gắn với các cảng biển, cảng hàng không, cửa khẩu quốc tế lớn.
Hình thành các khu vực động lực phát triển du lịch, các trung tâm du lịch cấp
quốc gia, cấp vùng, các hành lang kết nối phát triển du lịch để thúc đẩy, lan tỏa
phát triển du lịch trên các vùng và cả nước. Chú trọng đầu tư kết cấu hạ tầng
du lịch, ưu tiên hạ tầng các khu du lịch quốc gia trọng điểm; khai thác hiệu quả,
bền vững tài nguyên du lịch; xây dựng các sản phẩm du lịch hấp dẫn, giàu sức cạnh
tranh gắn với phát triển các doanh nghiệp du lịch có thương hiệu ở tầm khu vực
và quốc tế; chú trọng xây dựng các hành lang di sản, các sản phẩm du lịch trong
hành lang di sản. Phấn đấu đến năm 2030, thu hút 45 - 50 triệu lượt khách du lịch
quốc tế; tổng thu du lịch khoảng 13 - 14% GDP.
3. Phát triển nông nghiệp bền vững, hiện đại theo chuỗi giá trị, cụm
liên kết ngành, gắn với công nghiệp chế biến và phát triển du lịch nông nghiệp,
nông thôn. Phát triển kinh tế nông nghiệp có sức cạnh tranh cao thuộc nhóm dẫn
đầu khu vực và thế giới; phát triển các vùng sản xuất hàng hóa, vùng chuyên
canh nông nghiệp hữu cơ, vùng chăn nuôi tập trung an toàn dịch bệnh với quy mô
phù hợp, hiệu quả cao dựa trên lợi thế vùng, miền, địa phương; bảo đảm vững chắc
an ninh lương thực quốc gia, thích ứng với biến đổi khí hậu. Phát triển mạnh
kinh tế nông nghiệp số, nông nghiệp thông minh, nông nghiệp xanh, nông nghiệp
tuần hoàn; đẩy mạnh áp dụng công nghệ, quy trình sản xuất tiên tiến để phát triển
các vùng, khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.
Bố trí không gian phát triển các vùng sản xuất nông nghiệp gắn với hạ tầng
đồng bộ, tập trung vào hạ tầng thủy lợi, giao thông, logistics và chế biến nông
sản, các trung tâm đầu mối về cung cấp vật tư đầu vào, các khu nông nghiệp công
nghệ cao, chuyển đổi số để nâng cao hiệu quả phát triển tổng hợp, tăng cường
liên kết giữa sản xuất, lưu thông, tiêu thụ sản phẩm. Xây dựng các trung tâm đổi
mới sáng tạo nông nghiệp vùng, đóng vai trò là hạt nhân nghiên cứu, phát triển
giống cây trồng, vật nuôi chất lượng cao; chuyển giao công nghệ số, công nghệ
chế biến và kết nối thị trường. Phát triển vùng Đồng bằng sông Cửu Long trở
thành trung tâm kinh tế nông nghiệp bền vững, năng động và hiệu quả cao của quốc
gia, khu vực và thế giới; phát triển các sản phẩm chủ lực theo hướng tăng tỷ trọng
thủy sản, trái cây và giảm tỷ trọng lúa gạo một cách hợp lý. Vùng Đồng bằng
sông Hồng phát triển nông nghiệp theo hướng hiệu quả cao, hữu cơ, nông nghiệp
phục vụ đô thị, gắn với xây dựng nông thôn mới. Tăng diện tích trồng cây ăn quả,
bảo vệ rừng và phát triển kinh tế lâm nghiệp, phát triển dược liệu gắn với công
nghiệp chế biến trên địa bàn khu vực Tây Nguyên, vùng Trung du và miền núi phía
Bắc. Đối với khu vực ven biển, phát triển nuôi trồng thủy sản ven bờ kết hợp trồng
và bảo vệ rừng ngập mặn. Tổ chức lại hoạt động khai thác thủy sản theo hướng giảm
khai thác gần bờ, đẩy mạnh khai thác tại các vùng biển xa bờ phù hợp với từng
vùng biển và khả năng phục hồi của hệ sinh thái biển; bố trí lại sinh kế của cộng
đồng ngư dân sang phát triển nuôi trồng, chế biến thủy sản, dịch vụ du lịch. Đẩy
mạnh nuôi trồng thủy sản trên biển theo hướng công nghiệp quy mô lớn, ứng dụng
công nghệ cao, công nghệ số và tự động hóa.
Điều 8. Định hướng phát triển hạ tầng xã hội cấp quốc gia
1.[15] Phát triển đồng bộ mạng lưới các cơ sở giáo dục đại học
đáp ứng yêu cầu cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ nhu cầu phát triển
bền vững của đất nước; đáp ứng nhu cầu học tập đa dạng, yêu cầu phát triển kinh
tế - xã hội của từng vùng, miền, địa phương. Tổ chức, sắp xếp lại các cơ sở
giáo dục, đào tạo gắn với nâng cao chất lượng đào tạo. Đầu tư hiện đại hóa hạ tầng
kỹ thuật, mở rộng không gian phát triển cho các cơ sở giáo dục đại học hoạt động
hiệu quả; phấn đấu 20% cơ sở được đầu tư hiện đại tương đương các nước phát triển
ở châu Á. Nâng tầm các cơ sở giáo dục đại học thực sự trở thành các trung tâm
nghiên cứu, đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp của quốc gia và của các vùng. Phát
triển các cơ sở giáo dục đại học trọng điểm quốc gia; nâng cấp, xây dựng một số
đại học, trường đại học lớn và trường đại học sư phạm, đào tạo y khoa trở thành
trung tâm đào tạo chất lượng cao, có uy tín trong khu vực và thế giới; phát triển
3 đến 5 đại học tinh hoa theo mô hình đại học nghiên cứu đẳng cấp quốc tế, đào
tạo nhân tài quốc gia. Khuyến khích quy hoạch, xây dựng các khu đô thị công nghệ
cao - đại học, tạo điều kiện cho việc di dời, mở rộng các cơ sở giáo dục đại học.
Khuyến khích phát triển các cơ sở giáo dục đại học tư thục.
Phát triển mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp theo hướng mở, linh hoạt,
tạo cơ hội cho mọi người dân tiếp cận và thụ hưởng các dịch vụ giáo dục nghề
nghiệp, bảo đảm quy mô, cơ cấu, chất lượng đào tạo đáp ứng yêu cầu thị trường
lao động và hội nhập quốc tế. sắp xếp, tổ chức lại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp
bảo đảm tinh gọn, hiệu quả, đạt chuẩn. Xây dựng các trung tâm đào tạo nghề chất
lượng cao đạt tiêu chuẩn khu vực và quốc tế, phù hợp với phát triển các ngành
nghề ưu tiên tại các trung tâm kinh tế lớn; ưu tiên đầu tư hiện đại cho một số
trường cao đẳng chất lượng cao đạt chuẩn quốc tế.
Nâng cao chất lượng giáo dục mầm non và phổ thông đạt trình độ tiên tiến
trong khu vực châu Á. Mở rộng và phân bố hợp lý mạng lưới cơ sở giáo dục mầm
non và phổ thông, đáp ứng nhu cầu xã hội về tiếp cận dịch vụ giáo dục. Đầu tư
xây dựng kiên cố hóa, hiện đại hóa trường, lớp học; bảo đảm đủ cơ sở vật chất,
trang thiết bị đạt chuẩn, đặc biệt chú trọng đầu tư các phòng học thực hành, trải
nghiệm tích hợp khoa học - công nghệ - kỹ thuật - nghệ thuật - toán học
(STEM/STEAM), không gian vui chơi, môi trường rèn luyện thể chất. Xây dựng mạng
lưới các cơ sở giáo dục chuyên biệt đối với người khuyết tật và hệ thống trung
tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập, đáp ứng nhu cầu được tiếp cận và thụ
hưởng các dịch vụ giáo dục có chất lượng cho người khuyết tật. Bảo đảm mỗi tỉnh,
thành phố có ít nhất một cơ sở giáo dục chuyên biệt tới cấp trung học phổ
thông. Phát triển các trường phổ thông dân tộc nội trú, cơ sở giáo dục thường
xuyên, trung tâm học tập cộng đồng. Hoàn thành xây dựng mạng lưới trường phổ
thông nội trú tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng khó khăn và biên giới
trước năm 2030.
Phát triển hệ thống trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh có quy mô
phù hợp với nhiệm vụ đào tạo theo từng địa bàn nhằm củng cố, xây dựng nền quốc
phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh nhân dân, thế
trận an ninh nhân dân.
2.[16] Xây dựng, nâng cấp và sắp xếp, phân bố không gian mạng lưới
cơ sở y tế phù hợp, bảo đảm mọi người dân được tiếp cận thuận lợi đối với các dịch
vụ y tế, chăm sóc sức khỏe chất lượng cao. Xây dựng hệ thống y tế công bằng, chất
lượng, hiệu quả và hội nhập; y tế dự phòng là then chốt, y tế cơ sở là nền tảng;
y tế chuyên sâu đồng bộ và cân đối với y tế cộng đồng; gắn kết y học cổ truyền
với y học hiện đại, quân y và dân y. Ưu tiên xây dựng, đầu tư đồng bộ về nhân lực,
cơ sở vật chất, thiết bị cho trạm y tế cấp xã đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Phát
triển dược liệu, công nghiệp dược và thiết bị y tế, nâng cao năng lực tự chủ về
vắc-xin, thuốc, thiết bị y tế.
Bảo đảm mỗi vùng có ít nhất một bệnh viện chuyên sâu mức kỹ thuật cao; mỗi
tỉnh, thành phố có bệnh viện đạt cấp chuyên sâu và có bệnh viện lão khoa hoặc bệnh
viện đa khoa có chuyên khoa lão khoa. Xây dựng một số cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
ngang tầm khu vực và quốc tế; hình thành, phát triển các trung tâm y tế chuyên
sâu hiện đại, đáp ứng nhu cầu của Nhân dân và góp phần thu hút du lịch chữa bệnh
vào Việt Nam. Xây dựng trung tâm kiểm soát bệnh tật quốc gia; xây dựng một số
cơ sở nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, sản xuất vắc-xin quốc gia. Phát triển
các trung tâm kiểm nghiệm cấp vùng đạt tiêu chuẩn khu vực và quốc tế, đáp ứng
nhu cầu kiểm nghiệm, kiểm định, kiểm chuẩn về thuốc, mỹ phẩm, thực phẩm, trang
thiết bị y tế. Hình thành khu công nghiệp dược phẩm.
3.[17] Phát triển mạng lưới cơ sở văn hóa quốc gia gắn với việc
hình thành, phát triển các không gian văn hóa đáp ứng nhu cầu sáng tạo, hưởng
thụ văn hóa của Nhân dân, phát triển văn hóa thật sự là nền tảng tinh thần của
xã hội. Xây dựng các cơ sở văn hóa quốc gia trở thành những thương hiệu mạnh,
có sức cạnh tranh, bảo đảm thực hiện tốt nhiệm vụ bảo tồn và phát huy giá trị bản
sắc văn hóa dân tộc, đồng thời thúc đẩy sự phát triển các ngành công nghiệp văn
hóa của đất nước; xây dựng các công trình văn hóa ngang tầm khu vực và thế giới.
Xây dựng, nâng cấp các bảo tàng quốc gia theo hướng đồng bộ, hiện đại. Cải tạo,
nâng cấp các thư viện cấp quốc gia, thư viện công cộng cấp tỉnh, thư viện
chuyên ngành, thư viện đại học. Xây dựng, nâng cấp các cơ sở nghệ thuật biểu diễn
quốc gia tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh, thành phố theo hướng
đồng bộ, hiện đại đáp ứng yêu cầu tổ chức các sự kiện nghệ thuật quốc gia và quốc
tế. Đầu tư phát triển, tôn tạo, bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa,
nhất là các di sản được UNESCO công nhận; phát triển kinh tế di sản. Phát triển
nhanh, bền vững, hiệu quả các ngành công nghiệp văn hóa, công nghiệp giải trí.
Hình thành hệ sinh thái khởi nghiệp văn hóa, nghệ thuật sáng tạo. Xây dựng các
cụm, khu công nghiệp sáng tạo, tổ hợp văn hóa sáng tạo tầm cỡ quốc gia, quốc tế.
Xây dựng hệ thống thiết chế và tổ chức các hoạt động văn hóa theo hướng thiết
thực, hiệu quả, lấy địa bàn cơ sở, người dân làm trung tâm, đáp ứng được yêu cầu
sáng tạo, thụ hưởng văn hóa của Nhân dân. Hình thành kinh tế thể thao chuyên
nghiệp; phát triển mạng lưới cơ sở thể dục, thể thao quốc gia đồng bộ, hiện đại,
có một số công trình xây dựng đạt tiêu chuẩn quốc tế. Phát triển cơ sở thể dục,
thể thao cộng đồng.
4.[18] Xây dựng hệ sinh thái khoa học, công nghệ và đổi mới sáng
tạo toàn diện. Hiện đại hóa hạ tầng nghiên cứu quốc gia; phát triển hệ thống
các trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm, các phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia,
tập trung cho công nghệ chiến lược. Hình thành và nâng cấp mạng lưới các trung tâm
đổi mới sáng tạo quốc gia, vùng và phòng thí nghiệm trọng điểm dùng chung trở
thành hạt nhân của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và nghiên cứu, phát triển
(R&D) quốc gia, thúc đẩy hợp tác viện nghiên cứu, trường, doanh nghiệp
trong nghiên cứu, phát triển và thương mại hoá sản phẩm công nghệ. Hình thành
và phát triển trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia tại Hà Nội,
Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Cần Thơ và các tỉnh, thành phố có điều kiện.
Hình thành các cụm liên kết đổi mới sáng tạo trên cơ sở liên kết các tổ chức
khoa học và công nghệ với các khu công nghệ cao, trung tâm tài chính, quỹ đầu
tư mạo hiểm, trường đại học, viện nghiên cứu.
Phát triển các tổ chức khoa học và công nghệ công lập đa ngành, đa lĩnh
vực, tăng dần mức độ tự chủ; sắp xếp tổ chức khoa học và công nghệ công lập
theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, nâng cao năng lực nghiên cứu,
phát triển, ứng dụng và chuyển giao công nghệ; tập trung nguồn lực đầu tư trọng
tâm, trọng điểm để hình thành những đơn vị đầu tàu dẫn dắt nghiên cứu khoa học,
đổi mới sáng tạo theo các lĩnh vực công nghệ chiến lược. Phát triển các tổ chức
khoa học và công nghệ nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu chiến lược, chính sách theo
mô hình chuyên sâu, có năng lực khoa học xuất sắc, tiệm cận trình độ khu vực và
quốc tế. Đầu tư trọng điểm để hình thành các tổ chức khoa học và công nghệ thực
hiện vai trò gắn kết các chuỗi giá trị, cụm liên kết ngành, các hệ sinh thái đổi
mới sáng tạo, khởi nghiệp sáng tạo ở các vùng, địa phương. Phát triển các tổ chức
khoa học và công nghệ thuộc các tập đoàn, tổng công ty nhà nước trở thành các
viện nghiên cứu chuyên sâu, cung cấp các công nghệ dẫn dắt, tạo lợi thế cạnh
tranh, phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Khuyến khích các tập
đoàn kinh tế, các doanh nghiệp lớn ngoài nhà nước hình thành các đơn vị nghiên
cứu và phát triển.
5.[19] Tổ chức lại, sáp nhập, hợp nhất các cơ quan báo chí của
các tỉnh, thành phố và của các Bộ, ngành trung ương theo hướng hội tụ, đa
phương tiện, đa nền tảng; đẩy mạnh phát triển kinh tế báo chí. Hình thành các
nhà xuất bản lớn, phân bố hợp lý hệ thống phát hành xuất bản phẩm.
6. Phát triển mạng lưới cơ sở trợ giúp xã hội đủ năng lực, quy mô, đáp ứng
nhu cầu tiếp cận và thụ hưởng các dịch vụ công về trợ giúp xã hội tại cơ sở của
các nhóm đối tượng thuộc diện bảo trợ xã hội. Từng bước hiện đại hóa các cơ sở
trợ giúp xã hội,
bảo đảm cung cấp dịch vụ về trợ giúp xã hội theo tiêu chuẩn quốc gia và tiếp cận
tiêu chuẩn quốc tế.
7. Nâng cấp các cơ sở nuôi dưỡng và điều dưỡng người có công. Nghiên cứu,
thử nghiệm, ứng dụng phương pháp chuyên môn, kỹ thuật sâu tích hợp giữa điều dưỡng
và nuôi dưỡng với chăm sóc sức khoẻ, chăm sóc xã hội khác cho người có công.
Điều 9. Định hướng phát triển hạ tầng kỹ thuật cấp quốc
gia
1.[20] Phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông đồng bộ,
thông minh trên cơ sở phát huy ưu thế của các phương thức vận tải, bảo đảm kết
nối rộng khắp tới mọi địa bàn lãnh thổ đất nước, giảm thiểu chi phí logistics,
nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế; quan tâm đúng mức phát triển giao
thông đường sắt, đường thủy nội địa.
Định hướng tổ chức không gian hệ thống giao thông quốc gia: hình thành
các hành lang trục dọc quốc gia Bắc - Nam với đủ 5 phương thức vận tải. Đối với
khu vực phía Bắc, hình thành các hành lang hướng tâm kết nối với Hà Nội, các
hành lang Đông - Tây để kết nối khu vực miền núi phía Tây với các cảng biển khu
vực phía Đông. Đối với khu vực miền Trung, hình thành các trục Đông - Tây kết nối
khu vực phía Tây với các cảng biển khu vực phía Đông và liên kết đối ngoại với
các nước Lào, Campuchia. Đối với khu vực phía Nam, hình thành các hành lang
theo trục Đông - Tây và Bắc - Nam, khai thác lợi thế về vận tải đường thủy nội
địa và các cảng biển, cảng hàng không lớn, kết nối giao thông quốc tế. Hình
thành các tuyến vành đai và các trục hướng tâm từ các tỉnh lân cận kết nối với
Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.
Định hướng phát triển của các loại hình kết cấu hạ tầng giao thông:
- Đường bộ: hoàn thành xây dựng đường bộ cao tốc Bắc - Nam phía Đông và
các tuyến đường bộ cao tốc kết nối với các trung tâm kinh tế lớn, cực tăng trưởng
gắn với các vùng động lực như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Cần Thơ,
kết nối các cảng biển đặc biệt, cảng hàng không quốc tế, các cửa khẩu quốc tế
có nhu cầu xuất nhập khẩu hàng hóa lớn, các tuyến kết nối quốc tế quan trọng; mở
rộng quy mô các tuyến có lưu lượng vận tải lớn bảo đảm đáp ứng nhu cầu, giảm
nhanh tình trạng ùn tắc trên các tuyến quan trọng. Đẩy nhanh xây dựng các tuyến
cao tốc gắn với hình thành các hành lang kinh tế Đông - Tây, một số đoạn của
cao tốc Bắc - Nam phía Tây. Đẩy nhanh tiến trình đầu tư một số tuyến cao tốc,
đường ven biển, quốc lộ quan trọng đáp ứng yêu cầu phát triển các hành lang
kinh tế, nhu cầu kết nối vùng, liên vùng, kết nối thông suốt trên địa bàn đơn vị
hành chính mới sau sáp nhập, kết nối hạ tầng cửa ngõ (cảng biển, cảng hàng
không quốc tế) để mở ra không gian phát triển mới và tạo sức bật mới thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế.
- Đường sắt: xây dựng một số đoạn đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc -
Nam. Xây dựng đường sắt kết nối quốc tế, đường sắt kết nối với cảng biển cửa
ngõ quốc tế khu vực Hải Phòng - Quảng Ninh, Thành phố Hồ Chí Minh và cửa khẩu
quốc tế quan trọng; hoàn thành xây dựng tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải
Phòng, sớm triển khai các tuyến Biên Hoà - Vũng Tàu, Lạng Sơn - Hà Nội, Hải
Phòng - Hạ Long - Móng Cái. Đầu tư xây dựng các tuyến đường sắt đầu mối, đường
sắt kết nối Cảng hàng không quốc tế Long Thành. Đẩy nhanh xây dựng đường sắt đô
thị tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh; nghiên cứu kéo dài các tuyến để kết nối
với các tỉnh lân cận. Đầu tư đường sắt Thành phố Hồ Chí Minh - Cần Thơ; đường sắt
tốc độ cao Hà Nội - Quảng Ninh; nghiên cứu xây dựng đường sắt Viêng Chăn (Lào)
- Vũng Áng (Việt Nam).
- Cảng biển: nâng cấp, xây dựng các cảng biển cửa ngõ có chức năng trung
chuyển container quốc tế tại Lạch Huyện (Hải Phòng) và Cái Mép - Thị Vải (Thành
phố Hồ Chí Minh). Xây dựng cảng trung chuyển quốc tế Cần Giờ (Thành phố Hồ Chí
Minh), cảng Liên Chiểu (Đà Nẵng), Nam Đồ Sơn (Hải Phòng), Hòn Khoai (Cà Mau),
Vân Phong (Khánh Hòa), Trần Đề (Cần Thơ)...
- Cảng hàng không: xây dựng Cảng hàng không quốc tế Long Thành; mở rộng,
nâng cấp cảng hàng không quốc tế Nội Bài, Tân Sơn Nhất; xây dựng, mở rộng các cảng
hàng không quốc tế gắn với các vùng động lực như cảng hàng không quốc tế Cần
Thơ, Gia Bình, Cát Bi, Phú Quốc. Phấn đấu đến năm 2030, có khoảng 92 - 95% dân
số có thể tiếp cận tới cảng hàng không trong phạm vi 100 km.
Trên cơ sở định hướng và nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của vùng, địa
phương, nghiên cứu, đề xuất xây dựng các sân bay chuyên dùng gắn với các vùng sản
xuất, trung tâm du lịch quy mô lớn; tận dụng, phục hồi nhanh các sân bay cũ,
sân bay quân sự phục vụ lưỡng dụng.
- Đường thủy nội địa: đầu tư, nâng cấp đồng bộ các tuyến sông chính để vận
tải hàng hóa, container, hàng hóa chuyên dụng, khối lượng lớn trên các tuyến đường
thủy nội địa tại vùng Đồng bằng sông Hồng và vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Ưu
tiên đầu tư và khai thác hiệu quả hành lang vận tải thủy ven biển từ Quảng Ninh
đến An Giang.
2.[21] Phát triển hạ tầng năng lượng đáp ứng yêu cầu bảo đảm vững
chắc an ninh năng lượng quốc gia, cung cấp đầy đủ năng lượng ổn định, có chất
lượng cao cho tăng trưởng kinh tế từ 10%/năm trở lên trong giai đoạn tới; đồng
thời đáp ứng nhu cầu năng lượng cho phát triển các ngành kinh tế mới và yêu cầu
chuyển đổi sang sử dụng năng lượng sạch trong các lĩnh vực. Phát triển ngành
năng lượng hài hòa giữa các phân ngành với hạ tầng đồng bộ và thông minh, đạt
trình độ tiên tiến của khu vực ASEAN. Nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng.
Phát triển đồng bộ, hợp lý và đa dạng hóa các loại hình năng lượng; ưu
tiên khai thác, sử dụng triệt để và hiệu quả các nguồn năng lượng tái tạo, năng
lượng mới, năng lượng sạch; thực hiện chuyển đổi năng lượng quốc gia theo hướng
sử dụng nguồn nhiên liệu xanh, sạch. Thúc đẩy triển khai các dự án điện khí,
khí tự nhiên hoá lỏng (LNG); ưu tiên phát triển nhiệt điện sử dụng nguồn khí
trong nước; khuyến khích chuyển đổi nhiên liệu đối với các nhà máy nhiệt điện
than. Phát triển mạnh các nguồn năng lượng tái tạo, nâng tỷ trọng năng lượng
tái tạo chiếm khoảng 25 - 30% trong tổng cung năng lượng sơ cấp; ưu tiên phát
triển điện gió, điện mặt trời phù hợp với khả năng bảo đảm an toàn hệ thống với
giá thành điện hợp lý; đẩy mạnh các nguồn điện từ xử lý rác thải đô thị, chất
thải rắn và sinh khối. Phát triển năng lượng hydrogen, amoniac; khai thác điện
gió ngoài khơi, điện mặt trời gắn với sản xuất hydrogen, amoniac. Nghiên cứu,
phát triển năng lượng địa nhiệt, sóng biển, thủy triều, hải lưu... Triển khai
các dự án điện hạt nhân Ninh Thuận 1 và Ninh Thuận 2. Phát triển điện hạt nhân
theo các quy mô linh hoạt, các nhà máy điện hạt nhân lắp ráp module nhỏ. Hình
thành Trung tâm công nghiệp năng lượng quốc gia tích hợp khí, khí hóa lỏng, điện,
lọc, hóa dầu, năng lượng tái tạo tại các địa phương có lợi thế.
Cải tạo, nâng cấp, xây dựng mới lưới điện truyền tải 500 kV liên vùng đồng
bộ với phát triển nguồn điện, bảo đảm tiết kiệm, hiệu quả. Phát triển lưới điện
thông minh để tích hợp các nguồn năng lượng tái tạo ở quy mô lớn, đáp ứng yêu cầu
vận hành hệ thống điện an toàn, ổn định và kinh tế. Nghiên cứu kết nối năng lượng
với các nước trong khu vực Đông Nam Á; phát triển các nguồn điện từ năng lượng
tái tạo và sản xuất năng lượng mới phục vụ xuất khẩu.
Tăng cường hoạt động điều tra cơ bản về dầu khí. Đẩy mạnh công tác tìm
kiếm thăm dò, phát triển mỏ và khai thác dầu khí nhằm gia tăng trữ lượng và sản
lượng khai thác dầu khí tại các khu vực tiềm năng, nước sâu, xa bờ gắn với nhiệm
vụ bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển. Phát triển công nghiệp khí; đầu tư hạ tầng
kỹ thuật phục vụ nhập khẩu, dự trữ và tiêu thụ LNG. Đẩy mạnh khai thác than
trong nước trên cơ sở bảo đảm an toàn, hiệu quả, tiết kiệm và thân thiện với
môi trường; mở rộng tìm kiếm, thăm dò, nâng cao chất lượng công tác đánh giá trữ
lượng và tài nguyên. Tăng cường năng lực nhập khẩu và chế biến than quốc gia. Đầu
tư xây dựng hệ thống kho dự trữ dầu thô, xăng dầu, khí đốt và than phù hợp với
nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và an ninh năng lượng quốc gia cả trên đất
liền và trên biển.
3.[22] Tạo đột phá trong phát triển hạ tầng thông tin và truyền
thông, ưu tiên đầu tư, hiện đại hóa hạ tầng số hiện đại, dung lượng siêu lớn,
băng thông siêu rộng ngang tầm các nước tiên tiến, trở thành hạ tầng chiến lược,
thiết yếu; có khả năng cung cấp các dịch vụ thông tin và truyền thông tin cậy với
giá cả phù hợp; bảo đảm an toàn thông tin mạng; đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số
trong xây dựng Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số và tạo nền tảng khai thác hiệu
quả không gian số làm không gian phát triển mới.
Phát triển mạng bưu chính đồng bộ, hiện đại, trở thành một trong những hạ
tầng thiết yếu của quốc gia và của nền kinh tế số. Phát triển hạ tầng viễn
thông, Internet quốc gia đáp ứng yêu cầu dự phòng, kết nối, an toàn, bền vững,
tập trung phát triển hệ thống truyền dẫn dữ liệu qua vệ tinh, mạng cáp quang
băng thông rộng tốc độ cao phủ sóng toàn quốc, mạng thông tin di động 5G, 6G và
các thế hệ tiếp theo; phát triển thêm các tuyến cáp quang biển và trên đất liền.
Đầu tư, xây dựng trung tâm dữ liệu, điện toán đám mây; thu hút doanh nghiệp nước
ngoài đặt trung tâm dữ liệu, điện toán đám mây tại Việt Nam. Xây dựng các trung
tâm dữ liệu gắn với các vùng động lực, cực tăng trưởng, hành lang kinh tế; phát
triển các cụm trung tâm dữ liệu quốc gia tại khu vực phía Bắc và khu vực phía
Nam; hoàn thành và phát huy hiệu quả Trung tâm dữ liệu quốc gia, đầu tư xây dựng
các trung tâm dữ liệu vùng; bảo đảm kết nối liên thông, tích hợp, chia sẻ và
khai thác, phục vụ hiệu quả công tác quản lý nhà nước, tạo nền tảng phát triển
kinh tế số, xã hội số. Hình thành các trung tâm dữ liệu hỗ trợ các ứng dụng trí
tuệ nhân tạo. Chuyển dịch đầu tư xây dựng hệ thống truyền dẫn trục quốc gia từ
tập trung phát triển theo trục Bắc - Nam sang mở rộng phát triển theo trục Đông
- Tây, nâng cao năng lực dự phòng và phân tải cho mạng đường trục quốc gia.
Phát triển các vệ tinh VINASAT của Việt Nam.
Hoàn thiện các nền tảng số quy mô quốc gia để vận hành thông suốt đáp ứng
được yêu cầu Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số. Đẩy mạnh chuyển đổi số toàn
diện mô hình quản trị quốc gia dựa trên công nghệ số và dữ liệu số. Phát triển
hạ tầng vật lý số đồng bộ, hiện đại, tích hợp cảm biến và ứng dụng công nghệ số
vào các hệ thống hạ tầng thiết yếu, tạo nền tảng quản lý thông minh, vận hành
hiệu quả; phấn đấu số lượng kết nối Internet vạn vật (IoT) đạt mức cao của thế
giới. Phát triển hạ tầng tiện ích số và công nghệ số như dịch vụ đồng bộ, hiện
đại phục vụ hình thành xã hội số toàn diện.
Phát triển nhanh, bền vững ngành công nghiệp công nghệ số; tiếp tục phát
triển các khu công nghệ số tập trung quy mô lớn và thành viên chuỗi khu công
viên phần mềm. Thu hút đầu tư, phát triển mạnh các khu công nghệ số tập trung tại
Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng, Cần Thơ và một số vùng có lợi
thế về công nghiệp công nghệ số để hình thành các cụm liên kết ngành, nhóm sản
phẩm chuyên môn hóa, hiệu quả cao.
4.[23] Phát triển hệ thống thủy lợi theo hướng đa mục tiêu, bảo đảm
tưới, tiêu, cấp, thoát nước cho nông nghiệp, dân sinh, các ngành kinh tế, góp
phần phục vụ phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững, bảo đảm an ninh nguồn
nước, bảo vệ môi trường, phòng, chống thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu,
đáp ứng yêu cầu trong bối cảnh các tình huống thiên tai cực đoan diễn ra với cường
độ mạnh và tần suất cao hơn.
Nâng cấp công trình đầu mối, hệ thống kênh chính để bảo đảm năng lực thiết
kế của các hệ thống thủy lợi liên tỉnh. Xây dựng các công trình tạo nguồn, dẫn
nguồn nước ổn định đáp ứng các yêu cầu thay đổi lớn về mức bảo đảm, số lượng,
chất lượng nước cấp ở các khu vực phát triển nhanh đô thị, công nghiệp, du lịch,
dịch vụ có sử dụng nước tạo nguồn từ công trình thủy lợi. Xây dựng giải pháp điều
tiết nguồn nước trên dòng chính các sông có khó khăn về diễn biến hạ thấp đáy
sông, mực nước sông phức tạp và nguy cơ xâm nhập mặn cao.
Hoàn thành xây dựng và nâng cấp các công trình thủy lợi, hồ chứa nước trọng
yếu bảo đảm an ninh nguồn nước phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân. Xây dựng
các hồ chứa lớn tại vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên; nghiên cứu, xây
dựng hệ thống giữ nước cho Đồng bằng sông Cửu Long; triển khai chương trình
phòng, chống lũ lụt, sạt lở vùng trung du và miền núi. Thực hiện các giải pháp
khôi phục dòng chảy và môi trường các dòng sông bị ô nhiễm, giải quyết tình trạng
hạ thấp mực nước sông để các công trình thủy lợi có thể chủ động lấy nước phục
vụ sản xuất tại vùng Đồng bằng sông Hồng.
Xây dựng công trình kiểm soát nguồn nước tại các cửa sông lớn để chủ động
kiểm soát mặn, trữ ngọt, bổ sung nước ngọt ra vùng ven biển phục vụ dân sinh,
nuôi trồng thủy sản và sản xuất nông nghiệp. Xây dựng, củng cố hệ thống công
trình phòng, chống lũ, chống ngập lụt bảo vệ các đô thị, đặc biệt là các đô thị
lớn; đồng thời bổ sung năng lực tiêu úng cho các khu vực đang chuyển nhanh từ
nông nghiệp sang đô thị, công nghiệp và phát triển hạ tầng khác. Củng cố, nâng
cấp hệ thống đê biển toàn quốc.
5. Phát triển hệ thống cảng cá, khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá đáp
ứng nhu cầu dịch vụ hậu cần nghề cá, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, giảm tổn
thất sau thu hoạch, bảo đảm an toàn cho tàu cá và ngư dân; nâng cao hiệu quả
công tác quản lý nghề cá, tăng cường hội nhập quốc tế; bảo vệ môi trường, hệ
sinh thái biển, thích ứng với biến đổi khí hậu và góp phần bảo đảm quốc phòng,
an ninh. Phát triển các trung tâm nghề cá lớn tại Hải Phòng, Đà Nẵng, Khánh
Hòa, Thành phố Hồ Chí Minh[24], An Giang[25].
6. Xây dựng mạng lưới trạm khí tượng thủy văn quốc gia, mạng lưới
quan trắc tài nguyên và môi trường quốc gia hoàn chỉnh, đồng bộ, hiện đại theo
hướng tự động hóa cao, bảo đảm tính mở, có khả năng lồng ghép, tích hợp,
kết nối, chia sẻ thông tin, dữ liệu; tham gia vào mạng lưới khí tượng thủy
văn toàn cầu.
Ưu tiên phát triển các trạm khí tượng thủy văn có nhiều yếu tố quan trắc,
trạm giám sát biến đổi khí hậu, các trạm lồng ghép quan trắc tài nguyên môi trường.
Phát triển mạng lưới quan trắc môi trường quốc gia gắn với các khu vực chịu tác
động như các lưu vực sông liên tỉnh, các địa bàn trọng điểm phát triển kinh tế,
các hồ lớn được bảo vệ nghiêm ngặt nguồn nước, các khu vực có tính chất liên
vùng, liên tỉnh, các khu vực đầu nguồn, khu vực tập trung nhiều nguồn thải lớn,
các khu vực biển, khu vực có các điều kiện thủy văn phức tạp. Ưu tiên bố trí các trạm quan trắc thủy văn môi trường hiện đại
và tự động hóa tại
đầu nguồn các sông lớn xuyên biên giới.
7. Phát triển hệ thống hạ tầng phòng cháy và chữa cháy đồng bộ, từng bước
hiện đại, phù hợp với điều kiện của từng vùng, đáp ứng yêu cầu bảo đảm an toàn
cho phát triển kinh tế - xã hội và cuộc sống của Nhân dân.
8. Phát triển hệ thống cửa khẩu biên giới đất liền quốc gia phù hợp với
yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước kết hợp bảo đảm quốc phòng, an ninh, phù hợp với tình hình kinh tế, chính trị và ngoại
giao với các nước, gắn kết với định hướng
phát triển theo vùng, theo các vành đai và hành lang kinh tế. Đến năm 2030, các
tỉnh biên giới trên đất liền đều có cửa khẩu; các cửa khẩu quan trọng có cơ sở
vật chất hiện đại, đáp ứng nhu cầu đi lại, giao thương, hợp tác. Phát triển kinh tế cửa khẩu gắn với hình thành
các đô thị biên giới.
Điều 10. Định hướng sử dụng tài nguyên, bảo vệ môi trường,
phòng, chống thiên tai và ứng phó với biến đổi khí hậu
1. Định hướng sử dụng tài nguyên
a) Tài nguyên nước: chủ động, ưu tiên và bảo đảm nguồn nước về trữ lượng
và chất lượng cấp cho sinh hoạt; bảo đảm nguồn nước cung cấp cho đô thị, nông
thôn, góp phần nâng tỷ lệ sử dụng nước sạch cho mục đích sinh hoạt của dân cư ở đô thị đạt 95 -
100%, ở nông
thôn đạt 65% vào năm 2030. Phân bổ, chia sẻ tài nguyên nước hài hòa, hợp lý giữa
các ngành, các địa phương, ưu tiên sử dụng nước cho sinh hoạt, sử dụng nước hiệu
quả mang lại giá trị kinh tế cao, bảo đảm dòng chảy tối thiểu, đạt được hiệu quả
tổng hợp về kinh tế, xã hội, môi trường trong cả mùa lũ lẫn mùa kiệt trên các
lưu vực sông. Khai thác hợp lý nguồn nước dưới đất, ưu tiên cho cấp nước sinh
hoạt, bảo đảm không vượt ngưỡng giới hạn về mực nước, lưu lượng và phòng, chống
sụt, lún do khai thác nước dưới đất. Giải quyết vấn đề mâu thuẫn trong khai
thác, sử dụng nước giữa các ngành, lĩnh vực, nhất là giữa thủy điện và thủy lợi;
giữa thượng lưu với hạ lưu; giữa các địa phương trên các lưu vực sông và những
mâu thuẫn có tính xuyên quốc gia trong khai thác, sử dụng tài nguyên nước. Tập
trung khai thác và sử dụng hiệu quả tài nguyên nước tại các lưu vực sông Hồng -
Thái Bình, lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn, lưu vực sông Cả, lưu vực sông Đồng
Nai, lưu vực sông Cửu Long, lưu vực sông Ba;
b) Tài nguyên thủy sản: giảm dần mức độ khai thác bảo đảm phù hợp với trữ
lượng nguồn lợi thủy sản. Khai thác có chọn lọc các loại
thủy sản chủ lực có giá trị kinh tế cao, có
giá trị xuất khẩu, tăng thu nhập và ổn định sinh kế cho ngư dân. Chuyển đổi cơ
cấu nghề, khai thác hợp lý giữa các vùng biển, vùng sinh thái nội địa. Chuyển
từ hoạt động khai thác xâm hại nguồn lợi, hủy hoại môi trường, sinh thái
sang khai thác thân thiện, đạt hiệu quả kinh tế cao và bền vững. Tổ chức lại hoạt
động khai thác thủy sản trên các vùng biển, vùng nội địa theo hướng phát triển
hợp lý, gắn khai thác bền vững với bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản.
Thành lập và quản lý hiệu quả các khu bảo tồn biển; các khu bảo vệ nguồn lợi thủy
sản, khu vực cấm khai thác thủy sản có thời hạn trên các vùng biển và hệ thống
sông, hồ chính;
c) Tài nguyên rừng: quản lý, bảo vệ, phát triển và sử dụng bền vững tài
nguyên rừng; kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường, bảo
tồn đa dạng sinh học, ứng phó với biến đổi khí hậu. Bố trí không gian và quy mô
diện tích rừng bảo đảm yêu cầu phòng hộ hệ thống các sông lớn, các hồ, đập quan
trọng và các vùng đất thấp, vùng đất ngập nước, vùng ven biển chịu ảnh hưởng bởi
tác động thiên tai và biến đổi khí hậu; duy trì, mở rộng hệ thống rừng đặc dụng;
ổn định và bổ sung diện tích rừng sản xuất để cung ứng nguyên liệu phục vụ chế
biến, xuất khẩu. Tiếp tục duy trì các vùng nguyên liệu quan trọng trong khai
thác, chế biến
lâm sản. Thiết lập các khu lâm nghiệp ứng dụng công nghệ cao tại các địa phương có tiềm năng, lợi
thế về phát triển lâm nghiệp;
d) Tài nguyên khoáng sản: cơ bản hoàn thành điều tra địa chất, đánh giá
tiềm năng khoáng sản trên phần đất liền; điều tra, phát hiện khoáng sản tại các
vùng biển và thềm lục địa Việt Nam. Điều tra, thăm dò các loại khoáng sản công
nghiệp, tập trung thăm dò các khu vực có triển vọng cao, các khoáng sản quan trọng
và khoáng sản có tiềm năng trữ lượng lớn phục vụ cho phát triển ngành công nghiệp
chế biến. Đối với khoáng sản làm vật liệu xây dựng, ưu tiên thăm dò các mỏ, khu
vực phân bố khoáng sản trong vùng phát triển sản xuất vật liệu xây dựng hoặc
các vùng lân cận; những vùng có điều kiện khai thác thuận lợi hoặc có khả năng
đưa vào khai thác sử dụng, bảo đảm hiệu quả, hạn chế thấp nhất tác động xấu đến
môi trường.
Hạn chế tối đa và tiến tới dừng khai thác các mỏ khoáng sản phân tán, nhỏ
lẻ, các mỏ khai thác phát sinh tác động lớn đến môi trường, cảnh quan khu vực.
Chú trọng sắp xếp, bố trí hình thành các cụm mỏ có quy mô đủ lớn để thu hút đầu
tư đồng bộ từ thăm dò, khai thác đến chế biến sâu và áp dụng công nghệ, thiết bị
tiên tiến, hiện đại.
Bảo đảm cân đối nhu cầu trước mắt với dự trữ khoáng sản lâu dài; ưu tiên
sử dụng các loại khoáng sản cho phát triển công nghiệp quy mô lớn, hiện đại ở
trong nước; xuất khẩu khoáng sản trên cơ sở cân đối hiệu quả đầu tư khai thác,
chế biến khoáng sản; hạn chế tối đa xuất khẩu khoáng sản thô.
2. Định hướng về bảo vệ môi trường
Ngăn chặn xu hướng gia tăng ô nhiễm, suy thoái môi trường; giải quyết
các vấn đề môi trường cấp bách; từng bước cải thiện, phục hồi chất lượng môi
trường; bảo vệ, bảo tồn và phục hồi các hệ sinh thái tự nhiên quan trọng; đẩy
mạnh phát triển kinh tế tuần hoàn, nâng cao hiệu quả tổng hợp sử dụng đầu vào,
đầu ra của các quá trình sản xuất. Bảo vệ môi trường theo hướng tích hợp các hoạt
động gồm quản lý, kiểm soát ô nhiễm môi trường, thiết lập hệ thống giám sát chất
lượng môi trường.
Ưu tiên xây dựng các khu xử lý chất thải tập trung, đồng bộ, hiện đại
liên vùng, liên tỉnh, đặc biệt là các cơ sở xử lý chất thải nguy hại. Cải tạo,
nâng cấp, kiểm soát các bãi chôn lấp rác thải không hợp vệ sinh, các khu vực
bị ô nhiễm, suy thoái do chất thải rắn, bảo đảm yêu cầu bảo vệ môi trường. Phân
loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn, từng bước hạn chế chôn lấp trực tiếp chất
thải rắn sinh hoạt; chuyển đổi các bãi chôn lấp trực tiếp chất thải rắn sinh hoạt
thành các cơ sở xử lý chất thải rắn sinh hoạt sử dụng công nghệ hiện đại.
Đầu tư xây dựng, hoàn thiện hạ tầng thu gom, xử lý nước thải của
các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu đô thị, khu dân cư tập trung, làng
nghề trên các lưu vực sông lớn. Thực hiện xử lý nước thải đạt yêu cầu ở tất
cả các khu, cụm công nghiệp, các cơ sở công nghiệp, các bệnh viện. Tăng cường
quản lý nguồn thải, cải thiện chất lượng môi trường nước mặt, đặc biệt tại
các dòng sông, đoạn sông liên tỉnh bị ô nhiễm. Xây dựng hệ thống thu gom, xử lý
nước thải sinh hoạt tập trung kết hợp với cải tạo, phục hồi các hồ, ao, kênh, mương, rạch ở các đô thị lớn. Thực
hiện các dự án xử lý nước thải, khôi phục lại chất lượng nước ở các đoạn sông,
kênh, mương, rạch
đã bị ô nhiễm nghiêm trọng.
Tiếp tục bảo tồn, bảo vệ nghiêm ngặt hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên,
vùng lõi di sản thiên nhiên; mở rộng hệ thống, thành lập mới các khu bảo tồn
thiên nhiên trên cạn và khu bảo tồn biển; mở rộng hệ thống các khu di sản thiên
nhiên được các tổ chức quốc tế công nhận. Khoanh vùng, xây dựng, bảo vệ và
sử dụng bền vững các hành lang đa dạng sinh học. Bảo tồn, bảo vệ nghiêm ngặt
các vùng đất ngập nước quan trọng có tầm quan trọng quốc tế (khu Ramsar) hiện
có; tiếp tục nâng tổng số khu Ramsar của cả nước; khoanh vùng, bảo vệ và sử dụng
bền vững các vùng đất ngập nước quan trọng nằm ngoài khu bảo tồn. Khoanh vùng,
bảo vệ, sử dụng bền vững và thành lập mới các khu vực đa dạng sinh học cao,
khu vực cảnh quan sinh thái quan trọng. Xác định hành lang bảo vệ nguồn nước,
phân vùng bảo vệ nguồn nước theo mức độ ưu tiên.
3. Phòng, chống thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu
Chủ động phòng, chống thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu; từng bước xây dựng quốc gia
có khả năng quản lý rủi ro thiên tai, cộng đồng, xã hội an toàn trước thiên
tai, tạo điều kiện phát triển bền vững kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh, quốc
phòng. Phát triển và nhân rộng các mô hình thích ứng với biến đổi khí hậu dựa
vào tự nhiên, hệ sinh thái và dựa vào cộng đồng. Xây dựng và thực hiện kế hoạch
giảm phát thải khí nhà kính của các ngành, lĩnh vực. Khai thác thị trường tín chỉ các-bon[26].
Củng cố, nâng cấp công trình phòng, chống thiên tai, trong đó tập trung
củng cố, nâng cấp, hoàn thiện hệ thống đê điều, hồ đập bảo đảm chủ động phòng,
chống lũ, bão theo mức thiết kế. Bổ sung, nâng cấp hệ thống trữ nước, tiêu
thoát nước, phòng, chống ngập úng do mưa lớn, lũ, triều, nhất là đối với các
đô thị lớn; công trình kiểm soát nguồn nước phòng, chống hạn hán, xâm nhập mặn.
Xây dựng, củng cố công trình phòng, chống sạt lở bờ sông, bờ biển tại những
khu vực diễn biến sạt lở phức tạp, có nguy cơ ảnh hưởng nghiêm trọng công trình
đê điều, khu tập trung dân cư và cơ sở hạ tầng quan trọng. Đẩy mạnh trồng cây
chắn sóng bảo vệ đê, trồng rừng phòng hộ đầu nguồn, rừng phòng hộ ven biển.
Nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo thiên tai; xây dựng, nâng cấp
công trình trạm quan trắc khí tượng, thủy văn, hải văn, địa chấn. Nâng cấp hệ
thống thông tin liên lạc bảo đảm thông suốt tới tất cả các địa phương, người
dân trên cả nước và tàu thuyền hoạt động trên biển. Xây dựng hệ thống cảnh báo
sớm lũ quét, sạt lở đất; chủ động di dời dân cư ra khỏi vùng có mức độ rủi ro
cao về thiên tai. Xây dựng các bản đồ về rủi ro thiên tai để định hướng sắp xếp,
bố trí các hoạt động phát triển, giảm thiểu nguy cơ tác động của thiên tai.
Điều 11. Định hướng củng cố, tăng cường quốc phòng,
bảo đảm an ninh quốc gia
1. Củng cố, tăng cường thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an
ninh nhân dân vững chắc; tiếp tục xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân
dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, vững mạnh về chính
trị, tư tưởng và tổ chức, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà
nước và Nhân dân, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong mọi tình huống. Tích cực, chủ
động xây dựng kế hoạch, phương án tác chiến; nâng cao trình độ, khả năng sẵn
sàng chiến đấu bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh
thổ và giữ vững ổn định chính trị, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.
2. Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội với củng cố,
tăng cường quốc phòng, an ninh trên từng vùng lãnh thổ,
vùng kinh tế - xã hội[27], trên các địa bàn chiến lược,
biên giới, biển, đảo, khu kinh tế, khu công nghiệp trọng điểm. Phát triển kinh
tế biển và vùng ven biển; điều chỉnh, bổ sung, xây dựng các khu kinh tế - quốc
phòng phù hợp với chiến lược, đề án về quốc phòng, an ninh, tạo sức mạnh
tổng hợp giữ vững ổn định chính trị, xã hội, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất,
toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; góp phần gìn
giữ môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển đất nước.
3. Xây dựng đồng bộ hệ thống tổ chức phòng thủ dân sự, sẵn sàng ứng phó
hiệu quả với các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống; bảo đảm an ninh mạng, an ninh dữ liệu[28]; thực hiện có hiệu quả công tác bảo đảm an ninh kinh tế
trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội
nhập kinh tế quốc tế. Xây dựng “thế trận lòng dân” gắn với xây dựng thế trận quốc
phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân vững chắc. Chủ động đấu tranh làm
thất bại âm mưu, hoạt động xâm hại an ninh quốc gia; phòng, chống các
loại tội phạm và tệ nạn xã hội; kiên quyết làm giảm tội phạm và
các điều kiện, nguy cơ phát sinh tội phạm; nâng cao hiệu lực, hiệu
quả quản lý nhà nước về an ninh, trật tự.
Điều 12. Định hướng sử dụng đất quốc gia [29]
1. Việc xác định chỉ tiêu sử dụng đất phải phù hợp với nhu cầu sử dụng đất,
tránh lãng phí trong phân bổ, quản lý; sử dụng hiệu quả nguồn lực đất đai để thực
hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, đáp ứng yêu cầu phát triển đột
phá của các ngành lĩnh vực, địa phương để thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế
cao của cả nước; bảo đảm quốc phòng, an ninh, gắn với bảo vệ môi trường, thích ứng
với biến đổi khí hậu.
2. Ưu tiên bố trí quỹ đất cho phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ,
phát triển công nghiệp, dịch vụ, đô thị, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế; trong đó
chú trọng nhu cầu phát triển tại các vùng động lực quốc gia, cực tăng trưởng,
các hành lang kinh tế. Bảo đảm quỹ đất đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về giáo dục,
y tế, xã hội, văn hóa, thể dục, thể thao, nhà ở xã hội, nhà ở cho công nhân khu
công nghiệp; quỹ đất cho mục đích quốc phòng, an ninh.
3. Quản lý diện tích đất trồng lúa đáp ứng đủ nhu cầu an ninh lương thực
quốc gia và có một phần dành cho xuất khẩu. Trong phạm vi diện tích phù hợp,
cho phép linh hoạt chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi trên đất trồng lúa
nhưng không làm thay đổi tính chất, điều kiện sử dụng đất trồng lúa để có thể
chuyển đổi trở lại trồng lúa khi cần thiết. Kiểm soát chặt chẽ việc chuyển đổi
đất trồng lúa, nhất là đất chuyên trồng lúa nước sang đất phi nông nghiệp, trên
cơ sở đánh giá năng suất, hiệu quả của các khu vực đất trồng lúa, đi đôi với việc
bảo đảm lợi ích của người trồng lúa và địa phương trồng lúa.
4. Quản lý chặt chẽ đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng, bảo vệ diện
tích và phục hồi rừng tự nhiên gắn với bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ cảnh
quan, môi trường sinh thái. Phát triển và nâng cao chất lượng rừng trồng, nhất
là rừng trồng gỗ lớn.
5. Tiếp tục thực hiện khai hoang, phục hóa, lấn biển, đưa diện tích đất
chưa sử dụng vào sử dụng; hạn chế tình trạng suy thoái đất; cải tạo, phục hồi
diện tích đất bị thoái hóa gắn với bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.
Điều 13. Danh mục dự kiến các dự án quan trọng quốc gia
và thứ tự ưu tiên thực hiện
1. Danh mục dự kiến các dự án quan trọng quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 được quy định tại Phụ lục
kèm theo Nghị quyết này.
2. Trường hợp phát sinh các dự án được Quốc hội quyết định chủ trương
đầu tư hoặc chấp thuận chủ trương đầu tư sẽ được bổ sung vào Danh mục này đồng thời
với trình tự, thủ tục quyết định chủ trương đầu tư, chấp thuận chủ trương đầu
tư theo quy định của pháp luật.
Điều 14. Giải pháp, nguồn lực thực hiện quy hoạch [30]
1. Về huy động vốn đầu tư
Tiếp tục cơ cấu lại ngân sách nhà nước, bảo đảm tỷ lệ hợp lý giữa chi thường
xuyên và chi đầu tư phát triển theo hướng tăng dần cho chi đầu tư phát triển.
Cơ cấu lại chi đầu tư công theo hướng trọng tâm, trọng điểm, nâng cao hiệu quả,
hiệu lực phân bổ, giải ngân vốn đầu tư công. Ưu tiên đầu tư công cho mạng lưới
hạ tầng quy mô lớn mang tính liên vùng, liên tỉnh và kết nối các vùng động lực
quốc gia, các hành lang kinh tế, kết nối mạng lưới giao thông khu vực, quốc tế;
đầu tư các công trình có sức lan tỏa cao, giải quyết nhu cầu thiết yếu, các nút
thắt của vùng, mang lại hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội cao cho toàn vùng.
Phát huy vai trò dẫn dắt của đầu tư công để kích hoạt, huy động, thu hút mọi
nguồn lực xã hội; huy động và sử dụng nguồn lực theo phương thức đối tác công
tư, mô hình “lãnh đạo công - quản trị tư”, “đầu tư công - quản lý tư”, “đầu tư
tư - sử dụng công”... để huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực cho nền
kinh tế. Tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án đầu tư đang tồn đọng,
chậm triển khai.
Đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước để nâng cao hiệu quả hoạt động
của doanh nghiệp thông qua thu hút thêm nguồn lực từ các khu vực kinh tế khác,
tăng cường năng lực quản trị, cải thiện công nghệ để doanh nghiệp phát triển
sau cổ phần hóa. Tiền thu được từ cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước tập trung đầu
tư các công trình kết cấu hạ tầng trọng điểm, quan trọng của quốc gia, của địa
phương.
Hoàn thiện chính sách thu ngân sách nhà nước đối với đất đai, tài sản,
tài nguyên; có cơ chế phù hợp để khai thác nguồn lực từ đất đai cho phát triển
cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội. Tăng cường nguồn thu cho ngân sách nhà nước từ
đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án có sử dụng đất theo quy hoạch và tại
các khu vực phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng (TOD) để đầu
tư xây dựng kết cấu hạ tầng đô thị. Sử dụng hiệu quả các công cụ trái phiếu
Chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương để tăng cường huy động nguồn lực
cho đầu tư phát triển.
Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, cải thiện, nâng cao hơn nữa chất
lượng môi trường đầu tư, kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần
kinh tế đầu tư, kinh doanh, bảo đảm cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng, minh bạch.
Thành lập Cổng đầu tư một cửa quốc gia để thu hút, xúc tiến và giải quyết các
thủ tục đầu tư theo mô hình một cửa. Hoàn thiện khung khổ luật pháp, chính sách
phát triển các loại thị trường vốn, nhất là thị trường chứng khoán, thị trường
vốn đầu tư mạo hiểm nhằm huy động nguồn vốn trung và dài hạn cho đầu tư, thúc đẩy
khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo. Thành lập, vận hành hiệu quả Trung tâm tài chính
quốc tế tại Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng để thu hút dòng vốn quốc tế cho
phát triển các dịch vụ tài chính tại Việt Nam, tạo đột phá trong huy động nguồn
lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Nghiên cứu, áp dụng khung pháp lý
chuyên biệt đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế số, nhất là công nghệ
tài chính, tài sản mã hóa, trí tuệ nhân tạo, thương mại điện tử, các ngành công
nghệ mới. Huy động nguồn lực trong Nhân dân thúc đẩy sản xuất kinh doanh; phát
triển các kênh đầu tư thay thế để huy động vàng trong Nhân dân vào nền kinh tế.
Đổi mới mạnh mẽ chính sách thu hút đầu tư nước ngoài và chuẩn bị đồng bộ
các điều kiện như thể chế, hạ tầng, nhân lực để tăng hiệu quả đầu tư nước ngoài
phục vụ cho các mục tiêu phát triển. Định hướng thu hút các doanh nghiệp lớn có
công nghệ tiên tiến, công nghệ cao, hệ thống quản lý hiện đại, các tập đoàn đa
quốc gia hàng đầu thế giới đầu tư vào địa bàn các vùng động lực, hình thành những
cụm liên kết ngành, tạo sức lan tỏa lớn, thúc đẩy phát triển khu vực kinh tế
trong nước. Tăng cường thu hút đầu tư gián tiếp, đặc biệt là các quỹ đầu tư quốc
tế.
Huy động vốn vay nước ngoài với điều kiện, lãi suất ưu đãi, phù hợp, hiệu
quả, tập trung cho một số lĩnh vực chủ chốt; ưu tiên đầu tư cho các dự án trực
tiếp thúc đẩy tăng trưởng gắn với phát triển bền vững, có hiệu ứng lan tỏa như
thích ứng với biến đổi khí hậu, năng lượng sạch, nâng cao chất lượng môi trường,
văn hóa, giáo dục và đào tạo, y tế, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
2. Về cơ chế, chính sách
Xây dựng, hoàn thiện thể chế pháp luật gắn với tổ chức thi hành pháp luật
nghiêm minh, hiệu quả, tạo cơ sở pháp lý cho việc thực hiện quy hoạch. Đẩy mạnh
phân cấp, phân quyền gắn với bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực thực hiện
nhiệm vụ; đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát. Tổ chức vận hành hiệu quả
chính quyền địa phương 2 cấp.
Xây dựng cơ chế, chính sách cho các địa phương tại các vùng động lực quốc
gia có nguồn lực để đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng vùng cũng như các công
trình hạ tầng kết nối giữa các trung tâm phát triển của địa phương với hệ thống
hạ tầng quốc gia. Ưu tiên hình thành, phát triển tại các vùng động lực: khu
thương mại tự do, khu công nghệ cao và mô hình khu chức năng khác, phù hợp với
xu thế chung của thế giới, được áp dụng cơ chế, chính sách đặc thù, tạo môi trường
hấp dẫn vượt trội để tăng cường thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao.
Có chính sách nâng cao phúc lợi xã hội toàn dân; bảo đảm mọi người dân
được tiếp cận, thụ hưởng các dịch vụ xã hội cơ bản, thiết yếu có chất lượng, ưu
tiên các đối tượng chính sách, đối tượng yếu thế. Xây dựng cơ chế, chính sách
thúc đẩy tạo việc làm bền vững, nâng cao tỷ lệ lao động có việc làm chính thức
trong nền kinh tế. Quan tâm đầu tư các vùng miền núi, vùng đặc biệt khó khăn; hỗ
trợ, tạo điều kiện để đồng bào dân tộc thiểu số tiếp cận bình đẳng nguồn lực,
cơ hội phát triển.
Xây dựng cơ chế, chính sách đặc thù chăm lo phát triển văn hóa, giáo dục,
đào tạo, y tế, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; tạo sinh kế, việc làm, sắp xếp
ổn định dân cư vững chắc cho đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là vùng biên giới.
Triển khai có hiệu quả các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội vùng
đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc
biệt khó khăn. Từng bước phát triển khu vực khó khăn thông qua xây dựng hạ tầng
kết nối khu vực khó khăn với các hành lang kinh tế, kết nối các khu vực biên giới
khó khăn với phát triển các khu kinh tế cửa khẩu. Hoàn thiện cơ chế, chính sách
về văn hóa đáp ứng yêu cầu phát triển để văn hóa thực sự là nền tảng tinh thần
của xã hội; đẩy mạnh chuyển đổi số và ứng dụng khoa học, công nghệ trong lĩnh vực
văn hóa.
3. Về khoa học, công nghệ và môi trường
Lựa chọn và tập trung hỗ trợ triển khai nghiên cứu ứng dụng phát triển
công nghệ cho một số ngành, lĩnh vực then chốt. Nâng cao tiềm lực và trình độ
khoa học, công nghệ trong nước để có thể triển khai các hướng nghiên cứu khoa học
và phát triển công nghệ mới, tập trung ưu tiên phát triển công nghệ chiến lược,
công nghệ có khả năng ứng dụng cao. Xây dựng và thực thi cơ chế, chính sách đột
phá, ưu tiên nguồn lực phát triển hạ tầng khoa học, công nghệ, các cơ sở nghiên
cứu và phát triển các ngành công nghệ cao, công nghệ chiến lược, công nghệ lõi,
công nghệ nguồn, công nghệ số. Tiếp tục có cơ chế, chính sách ưu đãi, đầu tư và
khai thác có hiệu quả các khu công nghệ cao, khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ
cao, khu công nghệ số tập trung, trung tâm đổi mới sáng tạo cấp quốc gia theo
mô hình tiên tiến trên thế giới.
Tăng cường các biện pháp quản lý, cải tạo và phục hồi chất lượng môi trường
không khí, nước, đất tại các đô thị lớn, lưu vực sông, biển. Thực hiện các giải
pháp để giải quyết tình trạng ô nhiễm môi trường không khí ở các đô thị lớn, đặc
biệt là Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh. Quản lý chất thải rắn, trọng tâm là quản
lý tốt chất thải rắn sinh hoạt, chất thải nhựa. Rà soát, kiểm soát chặt chẽ các
nguồn thải lớn; tăng cường các biện pháp phòng ngừa các nguy cơ xảy ra sự cố
môi trường; chủ động giám sát các đối tượng, dự án tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm,
sự cố môi trường. Tăng cường bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học.
4. Về phát triển nguồn nhân lực
Phát triển nguồn nhân lực bền vững, bảo đảm cân đối tổng thể, hài hòa với
định hướng phân bố dân cư. Xây dựng chính sách, giải pháp đột phá về nguồn nhân
lực để tăng nhanh tỷ lệ lao động có bằng cấp, chứng chỉ. Xây dựng chính sách hỗ
trợ, nâng cao năng lực cơ sở đào tạo các ngành ưu tiên gắn với ứng dụng công
nghệ tiên tiến, các ngành khoa học nền tảng cho phát triển khoa học, công nghệ;
huy động nguồn lực trong nước và quốc tế trong đào tạo và đào tạo lại nguồn
nhân lực. Tập trung đào tạo nhân lực chất lượng cao theo chuẩn quốc tế, nhất là
các ngành mũi nhọn về khoa học, công nghệ, quản trị thông minh, khoa học cơ bản
và các lĩnh vực ưu tiên, mới nổi như trí tuệ nhân tạo, an ninh mạng, chuỗi khối,
điện tử, chíp bán dẫn, công nghệ số, công nghệ sinh học, môi trường, năng lượng
(bao gồm cả năng lượng nguyên tử), vật liệu tiên tiến, rô-bốt và tự động hóa.
Xây dựng các chính sách ưu đãi để thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao,
các nhà khoa học giỏi, chuyên gia trình độ cao cho các ngành ưu tiên và các địa
phương trong các vùng động lực; thu hút và sử dụng hiệu quả trí tuệ, nguồn lực
của người Việt Nam ở nước ngoài. Đổi mới chính sách thu hút nhân lực, đặc biệt
là trí thức trẻ, cán bộ khoa học kỹ thuật về công tác lâu dài và phát triển nguồn
nhân lực tại chỗ ở các vùng khó khăn, nhất là ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
5. Về hợp tác quốc tế
Tăng cường hợp tác với các quốc gia, vùng lãnh thổ, tổ chức quốc tế, tổ
chức tài chính, cơ quan tài trợ để huy động nguồn lực tài chính cho các dự án đầu
tư xây dựng kết cấu hạ tầng, dự án hỗ trợ kỹ thuật và nâng cao năng lực để tăng
cường kết nối kinh tế trong và ngoài khu vực ASEAN.
Thực hiện hiệu quả các hiệp định song phương và đa phương về phát triển
kết cấu hạ tầng, đặc biệt đối với hạ tầng giao thông để tạo thuận lợi cho vận tải
hành khách và hàng hóa qua lại biên giới, vận tải liên quốc gia, vận tải đa
phương thức trong khuôn khổ ASEAN, Tiểu vùng sông Mê Công mở rộng (GMS) và với
các nước trên thế giới.
Chủ động, tích cực hợp tác với các quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới
để thúc đẩy quan hệ kinh tế, thương mại, đầu tư, nhất là tạo điều kiện tiếp cận
thuận lợi hơn nữa với các thị trường lớn, quan trọng cho hàng hóa xuất khẩu của
Việt Nam. Thực hiện hiệu quả các Hiệp định thương mại tự do (FTA), nhất là các
FTA thế hệ mới mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, phát
huy tối đa lợi ích mà các FTA mang lại.
Đẩy mạnh hợp tác quốc tế hiệu quả, thực chất với các quốc gia có trình độ
khoa học và công nghệ, chuyển đổi số phát triển để nhanh chóng nâng cao năng lực
nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và chuyển đổi số của quốc gia, nhất
là trong các công nghệ chiến lược.
Chủ động và tham gia tích cực các điều ước quốc tế, cơ chế hợp tác song
phương, đa phương, đẩy mạnh hợp tác quốc tế về tài nguyên nước trên nguyên tắc
tôn trọng luật pháp quốc tế và lợi ích của từng quốc gia có liên quan trong việc
khai thác, sử dụng và quản lý nguồn nước xuyên biên giới.
Chủ động và tham gia tích cực vào các điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc
tế về biến đổi khí hậu, tận dụng các nguồn lực hỗ trợ của quốc tế dành cho ứng
phó với biến đổi khí hậu.
Điều 15. Tổ chức thực hiện quy hoạch
1.[31] Quy hoạch tổng thể quốc gia thời
kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 (sau đây gọi là Quy hoạch tổng thể quốc
gia) được thông qua tại Nghị quyết này là căn cứ để lập, điều chỉnh các quy hoạch
trong hệ thống quy hoạch theo quy định của Luật Quy hoạch. Việc triển khai các
chương trình, dự án quan trọng quốc gia phải bảo đảm phù hợp với yêu cầu thực
tiễn phát triển của đất nước và mục tiêu, định hướng đã được xác định tại Nghị
quyết này.
2. Giao Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ thực hiện các nhiệm vụ sau đây:
a) Chịu
trách nhiệm về tính chính xác của số liệu, tài liệu, hệ thống sơ đồ, bản đồ
và cơ sở dữ liệu trong Hồ sơ Quy hoạch tổng thể quốc gia, bảo đảm thống nhất với
nội dung của Nghị quyết này;
b) Tổ chức triển khai
thực hiện Nghị quyết này gắn với chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã
hội theo quy định của pháp luật; ban hành Kế
hoạch thực hiện Quy hoạch tổng thể quốc gia để
triển khai thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ đề ra trong quy hoạch; tổ chức đánh
giá thực hiện
Quy hoạch tổng thể quốc gia theo quy định của Luật Quy hoạch;
c) Chỉ đạo tổ chức công bố Quy hoạch tổng thể quốc gia
theo quy định của pháp luật về quy hoạch; triển khai Kế
hoạch thực hiện Quy hoạch tổng thể quốc gia;
d) Nghiên cứu, xây dựng cơ
chế, chính sách, giải pháp thu hút đầu tư, bảo đảm nguồn lực tài
chính, an sinh xã hội, quốc phòng, an ninh, phát triển nguồn nhân lực,
khoa học, công nghệ, bảo vệ môi trường để triển khai thực hiện các mục
tiêu, nhiệm vụ và định hướng đã được xác định trong Quy hoạch tổng thể quốc gia;
đ) Xây dựng mô hình tổ chức, cơ chế điều phối vùng; nâng cao
hiệu quả hoạt động điều phối vùng; nghiên cứu việc xây dựng cơ chế
về phối hợp nguồn lực giữa các địa phương;
e) Xây dựng nguyên tắc ưu tiên sử dụng không gian biển
cho các ngành, lĩnh vực trong quy hoạch không gian biển quốc gia;
g) Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra việc thực hiện
quy hoạch; xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân vi phạm Quy hoạch tổng thể quốc
gia đã được Quốc hội quyết định.
3. Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban
của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội giám sát việc thực hiện
Nghị quyết này.
4. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của
Mặt trận, các tổ chức xã hội khác được thành lập theo quy định của pháp luật,
trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, giám sát và tuyên truyền, vận động
Nhân dân thực hiện Nghị quyết này.
--------------------------------------------------------------------
Quy định về việc thi hành:
Điều 50 và Điều 51 của Luật Công nghiệp công nghệ số số
71/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026 quy định như sau:
“Điều 50. Hiệu lực thi hành
1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm
2026, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
2. Các điều 11, 28 và 29 của Luật này có hiệu lực thi hành
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
3. Trường hợp có quy định khác nhau về cùng một vấn đề giữa
Luật này với luật, nghị quyết khác của Quốc hội thì áp dụng quy định của Luật
này. Trừ trường hợp văn bản quy phạm pháp luật khác có quy định cơ chế, chính
sách ưu đãi hoặc thuận lợi hơn Luật này thì đối tượng được ưu đãi được áp dụng
mức ưu đãi có lợi nhất.
Điều 51. Quy định chuyển tiếp
1. Khu công nghệ thông tin tập trung đã được quy hoạch,
thành lập, công nhận, mở rộng, đang hoạt động theo quy định của pháp luật được
tự động chuyển thành khu công nghệ số tập trung và thực hiện theo quy định tại
Luật này.
2. Trong thời gian luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh,
nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội chưa được sửa đổi, bổ sung trong thời
hạn 02 năm từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành, giao Chính phủ ban hành văn bản
quy phạm pháp luật điều chỉnh để giải quyết khó khăn, vướng mắc cho phát triển
công nghiệp công nghệ số được quy định tại luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp
lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội để thống nhất áp dụng, định kỳ
báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội; trường hợp liên quan đến luật, nghị quyết của
Quốc hội thì báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.”.
Điều 2 của Nghị quyết số 252/2025/QH15
sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 81/2023/QH15 ngày 09 tháng 01
năm 2023 của Quốc hội về Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm
nhìn đến năm 2050, có hiệu lực kể từ ngày 10 tháng 12 năm 2025 quy định như sau:
“Điều 2. Điều khoản
thi hành
Nghị quyết này có hiệu lực thi hành từ ngày thông qua.”.
|
|
XÁC THỰC VĂN BẢN HỢP NHẤT
CHỦ NHIỆM
Lê Quang Mạnh
|
PHỤ LỤC[32]
DANH MỤC DỰ KIẾN CÁC DỰ ÁN QUAN TRỌNG QUỐC GIA THỜI KỲ
2021 - 2030, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2050
(Kèm theo Nghị quyết số 252/2025/QH15 ngày 10 tháng 12 năm 2025 của Quốc hội)
|
TT
|
Dự
án
|
Phân kỳ thực hiện
|
|
Giai đoạn 2021 - 2030
|
Giai đoạn 2031-2050
|
|
1
|
Đường bộ cao tốc Bắc - Nam phía Đông
|
X
|
|
|
2
|
Đường bộ cao tốc Bắc - Nam phía Tây
|
X
|
X
|
|
3
|
Đường bộ cao tốc Đông - Tây
|
X
|
X
|
|
4
|
Cảng hàng không quốc tế Long
Thành
|
X
|
X
|
|
5
|
Đường vành đai vùng Thủ
đô Hà Nội,
vành đai Thành phố Hồ Chí Minh
|
X
|
|
|
6
|
Đường sắt tốc độ cao trên
trục Bắc - Nam
|
X
|
X
|
|
7
|
Đường sắt đô thị Hà Nội,
đường sắt đô thị Thành phố Hồ Chí Minh
|
X
|
X
|
|
8
|
Các tuyến đường sắt kết nối với cảng biển cửa
ngõ quốc tế
|
X
|
X
|
|
9
|
Các nhà máy điện hạt nhân
|
X
|
X
|
[1] Luật Công nghiệp công nghệ số số
71/2025/QH15 có căn cứ ban hành như sau:
“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam;
Quốc hội ban hành Luật Công nghiệp công nghệ
số.”.
Nghị quyết số 252/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Nghị quyết số 81/2023/QH15 ngày 09 tháng 01 năm 2023 của Quốc hội về
Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 có căn cứ
ban hành như sau:
“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung một số
điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15;
Căn cứ Luật Tổ chức Quốc
hội số 57/2014/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo
Luật số 65/2020/QH14 và
Luật số 62/2025/QH15;
Căn cứ Luật Quy hoạch số
21/2017/QH14 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 28/2018/QH14,
Luật số 35/2018/QH14 và
Luật số 57/2024/QH15;
Căn cứ Nghị quyết số 81/2023/QH15 ngày
09 tháng 01 năm 2023 của Quốc hội về Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021 -
2030, tầm nhìn đến năm 2050;
Sau khi xem xét Tờ trình số 1018/TTr-CP ngày
31 tháng 10 năm 2025 của Chính phủ về điều chỉnh Quy hoạch tổng thể quốc gia thời
kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050; Báo cáo thẩm tra số 1427/BC-UBKTTC15
ngày 05 tháng 11 năm 2025 của Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội; Báo cáo
tiếp thu, giải trình số 1197/BC-CP ngày 09 tháng 12 năm 2025 của Chính phủ; ý
kiến của các vị đại biểu Quốc hội,”.
[2] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo
quy định tại khoản 1 Điều 1 của Nghị quyết số 252/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Nghị quyết số 81/2023/QH15 ngày 09 tháng 01 năm 2023 của Quốc hội về
Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, có hiệu lực
kể từ ngày 10 tháng 12 năm 2025.
[3] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo
quy định tại điểm a khoản 2 Điều 1 của Nghị quyết số 252/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Nghị quyết số 81/2023/QH15 ngày 09 tháng 01 năm 2023 của
Quốc hội về Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm
2050, có hiệu lực kể từ ngày 10 tháng 12 năm 2025.
[4] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo
quy định tại điểm b khoản 2 Điều 1 của Nghị quyết số 252/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung
một số điều của Nghị quyết số 81/2023/QH15 ngày 09 tháng 01 năm 2023 của Quốc hội
về Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, có hiệu
lực kể từ ngày 10 tháng 12 năm 2025.
[5] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo
quy định tại điểm c khoản 2 Điều 1 của Nghị quyết số 252/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Nghị quyết số 81/2023/QH15 ngày 09 tháng 01 năm 2023 của
Quốc hội về Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050,
có hiệu lực kể từ ngày 10 tháng 12 năm 2025.
[6] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo
quy định tại khoản 3 Điều 1 của Nghị quyết số 252/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Nghị quyết số 81/2023/QH15 ngày 09 tháng 01 năm 2023 của Quốc hội về
Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, có hiệu lực
kể từ ngày 10 tháng 12 năm 2025.
[7] Cụm từ “Bắc Trung Bộ và duyên hải miền
Trung” được thay thế bằng cụm từ “miền Trung” theo quy định tại điểm a khoản 12
Điều 1 của Nghị quyết số 252/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị
quyết số 81/2023/QH15 ngày 09 tháng 01 năm 2023 của Quốc hội về Quy hoạch tổng
thể quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, có hiệu lực kể từ ngày
10 tháng 12 năm 2025.
[8] Cụm từ “Bình Thuận” được thay thế bằng
cụm từ “Lâm Đồng” theo quy định tại điểm b khoản 12 Điều 1 của Nghị quyết số
252/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 81/2023/QH15 ngày
09 tháng 01 năm 2023 của Quốc hội về Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ
2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, có hiệu lực kể từ ngày 10 tháng 12 năm 2025.
[9] Cụm từ “Bà Rịa – Vũng Tàu -” được bỏ
theo quy định tại điểm c khoản 12 Điều 1 của Nghị quyết số 252/2025/QH15 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Nghị quyết số 81/2023/QH15 ngày 09 tháng 01 năm 2023 của
Quốc hội về Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm
2050, có hiệu lực kể từ ngày 10 tháng 12 năm 2025.
[10] Cụm từ “Tiền Giang” được thay thế bằng
cụm từ “Đồng Tháp” theo quy định tại điểm d khoản 12 Điều 1 của Nghị quyết số
252/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 81/2023/QH15 ngày
09 tháng 01 năm 2023 của Quốc hội về Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ
2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, có hiệu lực kể từ ngày 10 tháng 12 năm 2025.
[11] Cụm từ “Kiên Giang” được thay thế bằng
cụm từ “An Giang” theo quy định tại điểm đ khoản 12 Điều 1 của Nghị quyết số
252/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 81/2023/QH15 ngày
09 tháng 01 năm 2023 của Quốc hội về Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ
2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, có hiệu lực kể từ ngày 10 tháng 12 năm 2025.
[12] Cụm từ “thành phố Phú Quốc” được thay
thế bằng cụm từ “đặc khu Phú Quốc” theo quy định tại điểm e khoản 12 Điều 1 của
Nghị quyết số 252/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số
81/2023/QH15 ngày 09 tháng 01 năm 2023 của Quốc hội về Quy hoạch tổng thể quốc
gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, có hiệu lực kể từ ngày 10 tháng
12 năm 2025.
[13] Khoản này được bổ sung theo quy định
tại khoản 4 Điều 1 của Nghị quyết số 252/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Nghị quyết số 81/2023/QH15 ngày 09 tháng 01 năm 2023 của Quốc hội về Quy hoạch
tổng thể quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, có hiệu lực kể từ
ngày 10 tháng 12 năm 2025.
[14] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo
quy định tại khoản 5 Điều 1 của Nghị quyết số 252/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Nghị quyết số 81/2023/QH15 ngày 09 tháng 01 năm 2023 của Quốc hội về
Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, có hiệu lực
kể từ ngày 10 tháng 12 năm 2025.
[15] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo
quy định tại điểm a khoản 6 Điều 1 của Nghị quyết số 252/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Nghị quyết số 81/2023/QH15 ngày 09 tháng 01 năm 2023 của
Quốc hội về Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm
2050, có hiệu lực kể từ ngày 10 tháng 12 năm 2025.
[16] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo
quy định tại điểm b khoản 6 Điều 1 của Nghị quyết số 252/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Nghị quyết số 81/2023/QH15 ngày 09 tháng 01 năm 2023 của
Quốc hội về Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm
2050, có hiệu lực kể từ ngày 10 tháng 12 năm 2025.
[17] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo
quy định tại điểm c khoản 6 Điều 1 của Nghị quyết số 252/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Nghị quyết số 81/2023/QH15 ngày 09 tháng 01 năm 2023 của
Quốc hội về Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm
2050, có hiệu lực kể từ ngày 10 tháng 12 năm 2025.
[18] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo
quy định tại điểm d khoản 6 Điều 1 của Nghị quyết số 252/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Nghị quyết số 81/2023/QH15 ngày 09 tháng 01 năm 2023 của
Quốc hội về Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm
2050, có hiệu lực kể từ ngày 10 tháng 12 năm 2025.
[19] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo
quy định tại điểm d khoản 6 Điều 1 của Nghị quyết số 252/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Nghị quyết số 81/2023/QH15 ngày 09 tháng 01 năm 2023 của
Quốc hội về Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm
2050, có hiệu lực kể từ ngày 10 tháng 12 năm 2025.
[20] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo
quy định tại điểm a khoản 7 Điều 1 của Nghị quyết số 252/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Nghị quyết số 81/2023/QH15 ngày 09 tháng 01 năm 2023 của
Quốc hội về Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm
2050, có hiệu lực kể từ ngày 10 tháng 12 năm 2025.
[21] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo
quy định tại điểm b khoản 7 Điều 1 của Nghị quyết số 252/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Nghị quyết số 81/2023/QH15 ngày 09 tháng 01 năm 2023 của
Quốc hội về Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm
2050, có hiệu lực kể từ ngày 10 tháng 12 năm 2025.
[22] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo
quy định tại điểm c khoản 7 Điều 1 của Nghị quyết số 252/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Nghị quyết số 81/2023/QH15 ngày 09 tháng 01 năm 2023 của
Quốc hội về Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm
2050, có hiệu lực kể từ ngày 10 tháng 12 năm 2025.
[23] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo
quy định tại điểm d khoản 7 Điều 1 của Nghị quyết số 252/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Nghị quyết số 81/2023/QH15 ngày 09 tháng 01 năm 2023 của
Quốc hội về Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm
2050, có hiệu lực kể từ ngày 10 tháng 12 năm 2025.
[24] Cụm từ “Bà Rịa – Vũng Tàu” được thay
thế bằng cụm từ “Thành phố Hồ Chí Minh” theo quy định tại điểm g khoản 12 Điều
1 của Nghị quyết số 252/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số
81/2023/QH15 ngày 09 tháng 01 năm 2023 của Quốc hội về Quy hoạch tổng thể quốc
gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, có hiệu lực kể từ ngày 10 tháng
12 năm 2025.
[25] Cụm từ “Kiên Giang” được thay thế bằng
cụm từ “An Giang” theo quy định tại điểm đ khoản 12 Điều 1 của Nghị quyết số
252/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 81/2023/QH15 ngày
09 tháng 01 năm 2023 của Quốc hội về Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ
2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, có hiệu lực kể từ ngày 10 tháng 12 năm 2025.
[26] Cụm từ “. Khai thác thị trường tín chỉ
các-bon” được bổ sung theo quy định tại điểm h khoản 12 Điều 1 của Nghị quyết số
252/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 81/2023/QH15 ngày
09 tháng 01 năm 2023 của Quốc hội về Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ
2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, có hiệu lực kể từ ngày 10 tháng 12 năm 2025.
[27] Cụm từ “, vùng kinh tế - xã hội” được
bổ sung theo quy định tại điểm i khoản 12 Điều 1 của Nghị quyết số
252/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 81/2023/QH15 ngày
09 tháng 01 năm 2023 của Quốc hội về Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ
2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, có hiệu lực kể từ ngày 10 tháng 12 năm 2025.
[28] Cụm từ “; bảo đảm an ninh mạng, an
ninh dữ liệu” được bổ sung theo quy định tại điểm k khoản 12 Điều 1 của Nghị
quyết số 252/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số
81/2023/QH15 ngày 09 tháng 01 năm 2023 của Quốc hội về Quy hoạch tổng thể quốc
gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, có hiệu lực kể từ ngày 10 tháng
12 năm 2025.
[29] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo
quy định tại khoản 8 Điều 1 của Nghị quyết số 252/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Nghị quyết số 81/2023/QH15 ngày 09 tháng 01 năm 2023 của Quốc hội về
Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, có hiệu lực
kể từ ngày 10 tháng 12 năm 2025.
[30] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo
quy định tại khoản 9 Điều 1 của Nghị quyết số 252/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Nghị quyết số 81/2023/QH15 ngày 09 tháng 01 năm 2023 của Quốc hội về
Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, có hiệu lực
kể từ ngày 10 tháng 12 năm 2025.
[31] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo
quy định tại khoản 10 Điều 1 của Nghị quyết số 252/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Nghị quyết số 81/2023/QH15 ngày 09 tháng 01 năm 2023 của Quốc hội về
Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, có hiệu lực
kể từ ngày 10 tháng 12 năm 2025.
[32] Phụ lục này được sửa đổi, bổ sung
theo quy định tại khoản 11 Điều 1 của Nghị quyết số 252/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Nghị quyết số 81/2023/QH15 ngày 09 tháng 01 năm 2023 của
Quốc hội về Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050,
có hiệu lực kể từ ngày 10 tháng 12 năm 2025.