|
ỦY
BAN NHÂN DÂN
TỈNH LÂM ĐỒNG
-------
|
CỘNG
HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số:
1402/QĐ-UBND
|
Lâm
Đồng, ngày 09 tháng 7 năm 2012
|
QUYẾT ĐỊNH
PHÊ DUYỆT ĐỀ ÁN XÂY DỰNG HỆ THỐNG KẾT CẤU HẠ TẦNG
ĐỒNG BỘ PHỤC VỤ SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA TỈNH LÂM ĐỒNG GIAI ĐOẠN
2011 - 2020.
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
Căn cứ Luật Tổ
chức HĐND và UBND ngày 26/11/2003;
Căn cứ Nghị quyết
số 13-NQ/TW ngày 16/01/2012 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI (hội nghị
lần thứ tư) về xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ nhằm đưa nước ta cơ bản
trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020;
Căn cứ Kế hoạch
số 36-KH/TU ngày 04/5/2012 của Tỉnh ủy Lâm Đồng thực hiện Nghị quyết số
13-NQ/TW ngày 16/01/2012 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về xây dựng
hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ nhằm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công
nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2012;
Xét đề nghị của
Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Phê duyệt
kèm theo quyết định này Đề án xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ phục vụ
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2011 - 2020.
Điều 2. Quyết định
này có hiệu lực kể từ ngày ký.
Điều 3. Chánh Văn
phòng UBND tỉnh; Giám đốc các sở, ngành; Chủ tịch UBND các huyện, thành phố Bảo
Lộc, thành phố Đà Lạt và Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị có liên quan chịu trách
nhiệm thi hành Quyết định này./.
|
|
TM.
ỦY BAN NHÂN DÂN
CHỦ TỊCH
Nguyễn Xuân Tiến
|
ĐỀ ÁN
XÂY DỰNG HỆ THỐNG KẾT CẤU HẠ TẦNG ĐỒNG BỘ PHỤC
VỤ SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA TỈNH LÂM ĐỒNG GIAI ĐOẠN 2011 - 2020.
Phần thứ
nhất
THỰC TRẠNG PHÁT
TRIỂN HỆ THỐNG KẾT CẤU HẠ TẦNG KINH TẾ - XÃ HỘI GIAI ĐOẠN 2006 - 2010
I. Những kết quả đạt được:
1. Hạ tầng giao
thông được tập trung đầu tư, từng bước đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã
hội, tạo sự kết nối giữa Lâm Đồng với các tỉnh và các địa phương trong tỉnh
- Mạng lưới giao
thông phát triển khá đồng bộ, hệ thống đường bộ được đầu tư, nâng cấp và phát
triển nhanh, mật độ đường bộ tăng lên đáng kể từ 0,22 km/km2 năm 2005 lên 0,35
km/km2 năm 2010 (tăng 1.243,61 km). Một số công trình giao thông quy mô lớn như
đường cao tốc Liên Khương - Prenn, quốc lộ 20, 27, 28, đường tỉnh ĐT.721,
ĐT.722, ĐT.723, ĐT.725 và một phần đường Trường Sơn Đông được đầu tư nâng cấp,
xây dựng mới, bước đầu tạo được mạng lưới đường huyết mạch tương đối đồng bộ của
tỉnh. Đầu tư các hệ thống giao thông nội thị ở trung tâm thành phố Đà Lạt, Bảo
Lộc và các huyện, hoàn chỉnh các tuyến đường liên huyện, nhựa hóa các tuyến đường
đến trung tâm xã, phát triển mạnh giao thông nông thôn theo hướng cứng hóa mặt
đường. Tổng năng lực vận tải đường bộ tăng từ 13,064 triệu hành khách và 2,360
triệu tấn hàng hóa năm 2005 lên 25,138 triệu hành khách và 5,157 triệu tấn hàng
hóa vào năm 2010.
- Sân bay Liên
Khương được đầu tư mở rộng với tổng diện tích 160 ha, đường băng dài 3250m x
40m, hàng ngày có các tuyến bay nội địa đi TP. Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh và TP.
Đà Nẵng. Tổng năng lực vận tải hàng không từ 37 nghìn hành khách năm 2005 đến
năm 2010 tăng lên 152 nghìn hành khách.
- Trong 12 đơn vị
hành chính cấp huyện có 4 đơn vị có bến xe được đầu tư xây dựng tương đối hoàn
chỉnh (Đà Lạt, Bảo Lộc, Đức Trọng và Lâm Hà).
- Hiện có một
Trung tâm kiểm định xe cơ giới đặt 1 trạm tại Đà Lạt và 1 trạm tại Bảo Lộc, có
khả năng kiểm định khoảng 27.000 lượt xe/năm.
- Trên địa bàn tỉnh
hiện có 05 cơ sở đào tạo lái xe ôtô với lưu lượng 1.690 học viên và 13 cơ sở
đào tạo lái xe môtô với lưu lượng khoảng 1.300 học viên, đáp ứng được nhu cầu
đào tạo lái xe ô tô của nhân dân địa phương. Đã đưa vào vận hành 02 trung tâm
đào tạo và sát hạch lái xe với quy mô lớn và hiện đại tại Đà Lạt và Bảo Lộc.
2. Hạ tầng năng lượng
phát triển nhanh, đáp ứng nhu cầu phát triển sản xuất và sinh hoạt của nhân dân
- Trong 5 năm qua,
trên địa bàn tỉnh đã được đầu tư và đưa vào khai thác 8 công trình thủy điện với
tổng công suất khoảng 402,2MW, 116 km đường dây 220KV, 159,9 km đường dây 110KV
và 195 MVA các trạm biến áp, đưa tổng số nhà máy thủy điện lên 11 nhà máy với tổng
công suất khoảng 866,6 MW.
- Tổng lượng điện
sản xuất năm 2010: 2,982 tỷ kWh. Năng lực tăng thêm so với năm 2000 là 2,954 tỷ
kWh.
- Tổng lượng điện
thương phẩm năm 2010: 594,7 triệu kWh. Năng lực tăng thêm so với năm 2000 là
393,1 triệu kWh.
- Đã đưa điện về
148/148 xã, phường, thị trấn (đạt tỷ lệ 100%); tỷ lệ số hộ dân có điện trên địa
bàn toàn tỉnh tính đến năm 2010 đạt 96%. Tốc độ tăng trưởng điện thương phẩm
bình quân trên 10,32%/năm, đến nay hầu hết tất cả các vùng nông thôn đều được sử
dụng điện lưới quốc gia.
3. Hạ tầng thủy lợi
và cấp nước sinh hoạt nông thôn được quan tâm đầu tư góp phần quan trọng thúc đẩy
phát triển nông nghiệp, nông thôn và giải quyết một phần nhu cầu nước sạch, nước
hợp vệ sinh cho sinh hoạt của người dân
- Hệ thống thủy lợi
được xây dựng mới và nâng cấp: đầu tư xây dựng mới nhiều công trình thủy lợi lớn
như Đaklong Thượng (Bảo Lâm), Kala (Di Linh), Ma Đanh, P’ró, Bokabang (Đơn
Dương), Phúc Thọ, Liên Hà (Lâm Hà), Cayan, Ninh Loan (Đức Trọng), nâng cấp hồ Đạ
Hàm (Đạ tẻh), kiên cố hóa kênh mương thủy lợi Đạ Đờn, Đạ Tẻh, Tuyền Lâm và hàng
chục công trình thủy lợi vừa và nhỏ tại các huyện.
- Trong 5 năm qua,
hệ thống thủy lợi đã được đầu tư thêm 92 công trình với tổng công suất tưới
29.241 ha, đưa tổng số công trình thủy lợi toàn tỉnh lên 592 công trình với tổng
công suất tưới 41.421 ha; kiên cố hóa được 300km kênh mương, nâng tổng số kênh
mương được kiên cố hóa toàn tỉnh lên 520,4 km; đảm bảo tưới tiêu cho 114.885 ha
diện tích gieo trồng toàn tỉnh. Các công trình thủy lợi đã góp phần phát triển
nhanh sản xuất nông nghiệp, nâng cao năng suất và hình thành nhiều vùng chuyên
canh cây công nghiệp dài ngày, rau hoa chất lượng cao.
- Trong giai đoạn
2006- 2010 tỉnh đã đầu tư xây dựng các công trình phòng chống lụt bão như: cống
ngăn lũ và kè suối Chuồng Bò huyện Cát Tiên; các khu tránh lũ ở huyện Cát Tiên
để phòng lũ cho khoảng 1.000 ha diện tích canh tác lúa và hoa màu trong khu vực;
xây kè tại huyện Lâm Hà, kè trên suối thuộc công trình Próh- huyện Đơn Dương. Cắm
mốc hành lang lũ hạ lưu hồ Đa Nhim và hệ thống công trình phòng chống lũ đã góp
phần hạn chế những thiệt hại do lũ lụt gây ra hàng năm.
- Công tác cấp nước
sạch và vệ sinh môi trường nông thôn được chú trọng, đến năm 2010 toàn tỉnh có
240 công trình cấp nước tập trung, tỷ lệ sử dụng nước sạch, hợp vệ sinh của
nhân dân nông thôn đạt khoảng 75%, hầu hết các nhà trẻ, trạm xá và các công
trình công cộng khác ở nông thôn có đủ nước hợp vệ sinh.
4. Hạ tầng đô thị
từng bước được đầu tư mới, cải tạo, nâng cấp đáp ứng yêu cầu phát triển ở các
đô thị trên địa bàn tỉnh
- Đầu tư nâng cấp,
mở rộng hệ thống đường đô thị tương đối đồng bộ, bao gồm nền, mặt đường, hệ thống
thoát nước mặt, nước thải, chiếu sáng, cây xanh, thu gom và xử lý chất thải rắn…
theo tiêu chuẩn đô thị; xây dựng, chỉnh trang các hồ cảnh quan trung tâm thành
phố Đà Lạt, Bảo Lộc và các huyện Đạ Huoai, Lâm Hà… đã làm thay đổi diện mạo đô
thị theo hướng văn minh, hiện đại nhất là tại Đà Lạt, Bảo Lộc.
Toàn tỉnh hiện có
833,99 km đường giao thông chính trong đô thị với tỷ lệ nhựa hóa đạt khoảng
75%, mật độ đường giao thông so với đất xây dựng đạt khoảng 7-10 km/km².
- Đầu tư các dự án
cấp nước đô thị tại các huyện Đạ Tẻh, Bảo Lâm, Thạnh Mỹ, nhà máy nước ĐanKia
II, nhà máy nước Tuyền Lâm; tổng công suất hệ thống cấp nước được đầu tư trong
5 năm qua đạt 72.000 m3/ngày-đêm, tăng 34.315 m³/ngày-đêm so với năm 2005; tỷ lệ
dân cư đô thị được cung cấp nước sạch bình quân khoảng 47% (năm 2005 đạt
31,54%). Riêng Đà Lạt hiện nay đạt 95%.
- Về thoát nước:
Trong những năm vừa qua, tỉnh đã quan tâm đầu tư mạnh cho hệ thống thoát nước
thải đô thị, chủ yếu là hệ thống thoát nước mặt qua hệ thống cống, mương. Đến
nay, khoảng 37% dân cư đô thị được hưởng dịch vụ thoát nước, tăng 13% so với
năm 2005. Toàn tỉnh chỉ có thành phố Đà Lạt có nhà máy xử lý nước thải sinh hoạt
tập trung với công suất 7.400 m³/ngày-đêm.
- Về xử chất thải
đô thị: Tổng lượng rác thải sinh hoạt phát sinh tại các đô thị khoảng 350 tấn/ngày,
tỷ lệ thu gom và xử lý trung bình đạt khoảng 65% (khoảng 230 tấn/ngày) trong đó
tỉ lệ chất thải rắn được xử lý đạt 42,8% chủ yếu bằng phương pháp truyền thống
(chôn, lấp) không đảm bảo triệt để về xử lý môi trường. Riêng chất thải y tế, tỷ
lệ xử lý hợp vệ sinh đạt 90%.
5. Hạ tầng thông
tin và truyền thông có bước phát triển mạnh
- Mạng lưới bưu
chính được tập trung đầu tư phát triển, hệ thống các bưu điện, bưu cục đã phủ
kín địa bàn toàn tỉnh, các dịch vụ bưu chính cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu của
nhân dân.
- Lĩnh vực viễn
thông và Internet băng thông rộng phát triển mạnh, cung cấp nhiều loại hình dịch
vụ với chất lượng ngày càng tốt hơn. Mạng truyền dẫn cáp quang đã đến hầu hết
các xã, phường, thị trấn trong tỉnh. Dịch vụ điện thoại đáp ứng được nhu cầu về
thông tin liên lạc của người dân. Mạng viễn thông, điện thoại cố định và
internet tốc độ cao đã phát triển đến tất cả các xã. Đến năm 2010 số máy điện
thoại cố định và di động đạt 177 máy/100 dân; số thuê bao Internet đạt 5,3 thuê
bao/100 dân.
- Công nghệ thông
tin đã được ứng dụng nhiều ở các ngành, các cấp, các lĩnh vực kinh tế và trong
các cơ quan quản lý Nhà nước, các tổ chức đoàn thể chính trị xã hội. Xây dựng
cơ sở hạ tầng phục vụ cho việc họp trực tuyến giữa các địa phương trong tỉnh và
Trung ương. Xây dựng và đưa vào hoạt động cổng thông tin điện tử của tỉnh bao gồm
cả trang tiếng Anh và tiếng Việt, hiện nay cổng thông tin điện tử của tỉnh đã
đưa một số dịch vụ công trực tuyến phục vụ người dân và doanh nghiệp.
- Hoạt động Phát
thanh truyền hình và báo chí trên địa bàn tỉnh đã cơ bản đáp ứng được công tác
tuyên truyền phục vụ nhiệm vụ chính trị - kinh tế - xã hội của địa phương; từng
bước đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu thưởng thức văn hóa, nghệ thuật của nhân
dân. Đài PT-TH Lâm Đồng đã thực hiện việc phát sóng lên vệ tinh.
6. Hạ tầng khu
công nghiệp, cụm công nghiệp được quan tâm đầu tư, góp phần thu hút đầu tư và
chuyển dịch cơ cấu kinh tế
- Đến năm 2010,
toàn tỉnh có 3 khu công nghiệp và 14 cụm công nghiệp được thành lập, trong đó 2
khu công nghiệp Lộc Sơn, Phú hội đang thực hiện đầu tư hoàn chỉnh cơ sở hạ tầng
và 6 cụm công nghiệp đang triển khai đầu tư cơ sở hạ tầng.
- Các khu công
nghiệp Lộc Sơn và Phú Hội đã thu hút được 67 dự án với tổng vốn là 3.353 tỷ đồng,
trong đó có 53 dự án được cấp giấy chứng nhận đầu tư còn hiệu lực (có 11 dự án
đầu tư nước ngoài) với tổng vốn đăng ký 3.230 tỷ đồng và 43,65 triệu USD; diện
tích thuê đất 125,8 ha. Đã có 20 dự án đi vào hoạt động, tổng vốn đầu tư thực
hiện khoảng 70 tỷ đồng và 9,76 triệu USD, thu hút được 1.030 lao động. Tại các
cụm công nghiệp đã thu hút được 50 dự án đầu tư với tổng diện tích 160 ha, đạt
31,37% diện tích đất quy hoạch cho nhà máy công nghiệp.
7. Hạ tầng thương
mại được đầu tư phát triển, đáp ứng nhu cầu thương mại nội địa và xuất nhập khẩu
- Hệ thống hạ tầng
thương mại của tỉnh phát triển tương đối nhanh, phù hợp với xu thế phát triển của
thị trường. Mạng lưới kết cấu hạ tầng thương mại đã được phủ kín tại các huyện
trên địa bàn tỉnh. Hệ thống chợ được quan tâm đầu tư và phát triển nhanh, nhất
là chợ vùng nông thôn, kết quả đã có hàng chục chợ được đầu tư nâng cấp, xây mới
hoàn thành đưa vào hoạt động, góp phần nâng cao các hoạt động thương mại của tỉnh;
phục vụ tốt nhu cầu mua bán hàng hóa của nhân dân, hầu hết các chợ hoạt động
tương đối hiệu quả, mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân và các nhà đầu tư.
- Toàn tỉnh hiện
có 67 chợ, 05 siêu thị và trung tâm thương mại, hàng ngàn cửa hàng bán lẻ đang
hoạt động phục vụ tốt nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của nhân dân. Trong đó: chợ
thành thị: 30 chợ; chợ nông thôn: 37 chợ; chợ hạng 1: 04 chợ; chợ hạng 2: 05 chợ;
chợ hạng 3: 58 chợ.
- Hạ tầng thương mại
điện tử chưa phát triển, hiện nay việc trao đổi mua bán hàng hóa thông qua hệ
thống điện tử trên địa bàn tỉnh còn khá khiêm tốn, các tổ chức và cá nhân giao
dịch chủ yếu là trao đổi thông tin thông qua thư điện tử, giới thiệu quảng bá sản
phẩm hàng hóa trên website, các hoạt động giao dịch mua bán hàng hóa thông qua
hệ thống thương mại điện tử còn rất hạn chế.
8. Hạ tầng giáo dục,
đào tạo được quan tâm đầu tư, phát triển khá nhanh, chất lượng của hệ thống trường
lớp tăng lên đáng kể
- Cơ sở vật chất -
kỹ thuật cho giáo dục, đào tạo đã được quan tâm đầu tư thích đáng bằng nhiều
nguồn vốn, do đó đã làm thay đổi căn bản năng lực của ngành giáo dục đào tạo
trên địa bàn toàn tỉnh. Công tác xã hội hóa giáo dục đã thu hút, huy động được
nhiều nguồn vốn tham gia đầu tư. Đến năm 2010 toàn tỉnh có 647 trường và 7.480
phòng học, trong đó giáo dục mẫu giáo có 191 trường với 1.448 phòng học, tiểu học
có 251 trường với 3.233 phòng học, trung học cơ sở có 147 trường với 1.829
phòng học, trung học phổ thông có 58 trường với 970 phòng học, đã đầu tư xây dựng
được 115 nhà công vụ giáo viên.
- Hệ thống đào tạo
đại học, cao đẳng được củng cố và phát triển, quy mô đào tạo tăng lên hàng năm.
Trên địa bàn tỉnh có 2 trường đại học; 5 trường cao đẳng (trong đó có 3 Trường
cao đẳng nghề) và 2 trường trung cấp chuyên nghiệp. Các trường đại học, cao đẳng
và trung cấp chuyên nghiệp trên địa bàn tỉnh được trang bị cơ sở vật chất khá tốt;
hệ thống phòng học, phòng thí nghiệm, thư viện được đầu tư xây dựng ngày càng
hoàn thiện, đáp ứng được nhu cầu dạy và học cho mọi đối tượng.
- Mạng lưới cơ sở
dạy nghề phát triển nhanh, đến năm 2010 toàn tỉnh có 52 cơ sở dạy nghề, trong
đó có 3 trường cao đẳng, 5 trường trung cấp và 44 cơ sở dạy nghề. Về cơ bản, mạng
lưới các trường cao đẳng, trung cấp và hệ thống dạy nghề trên địa bàn tỉnh từng
bước đáp ứng được nhu cầu đào tạo nghề trong xã hội. Công tác dạy nghề đã hỗ trợ
chuyển đổi ngành, nghề cho lao động; dạy nghề cho lao động nông thôn, người tàn
tật, người nghèo, góp phần thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục và đào tạo.
9. Hạ tầng y tế được
quan tâm đầu tư phát triển
- Mạng lưới cơ sở
khám chữa bệnh và y tế dự phòng được đầu tư mới, mở rộng và nâng cấp. Tất cả
các xã, phường đều có trạm y tế, trong đó đạt chuẩn quốc gia khoảng 23%, tất cả
các huyện đều có bệnh viện đa khoa, toàn tỉnh có 20 phòng khám đa khoa khu vực.
Ngoài ra tỉnh Lâm Đồng còn có các bệnh viện y học cổ truyền, viện điều dưỡng và
phục hồi chức năng, trung tâm phòng chống bệnh xã hội, đang xây dựng bệnh viện
chuyên khoa nhi; các bệnh viện đều tăng về quy mô khám chữa bệnh; nhiều kỹ thuật,
thiết bị tiên tiến trong chẩn đoán và điều trị bệnh được đầu tư.
- Một số cơ sở y tế
ngoài công lập đã và đang được đầu tư xây dựng. Đến năm 2010, có 1 bệnh viện đa
khoa ngoài công lập hoạt động, 02 bệnh viện đang triển khai đầu tư; 565 cơ sở
hành nghề Y, YHCT (trong đó hành nghề Y là 443, hành nghề YHCT là 122 cơ sở).
Các cơ sở hành nghề Y từ quy mô nhỏ lẻ trước đây đến nay có xu hướng phát triển
tập trung thành phòng khám đa khoa bao gồm nhiều chuyên khoa với trang thiết bị
y tế cơ bản (máy xét nghiệm sinh hóa, xét nghiệm máu, siêu âm màu, X quang
.v.v.) tạo điều kiện thuận lợi cho việc khám chữa bệnh của người dân với chất
lượng ngày càng cao.
- Tổng số giường bệnh
năm 2010 là 2.285 giường, tăng thêm 430 giường so với năm 2005. Số giường bệnh
trên 1 vạn dân tăng từ 16,4 giường năm 2005 đến năm 2010 tăng lên 20,0 giường
(kể cả y tế trong và ngoài công lập).
10. Hạ tầng văn
hóa, thể thao, du lịch có bước phát triển khá
- Các thiết chế
văn hóa, hạ tầng thể thao của các địa phương trong tỉnh có sự đổi mới, cơ sở vật
chất được tăng cường; một số công trình văn hóa, thể thao như nhà văn hóa, khu
thể thao, công viên, thư viện, bảo tàng, nhà sinh hoạt cộng đồng, điểm bưu điện
văn hóa xã, các điểm vui chơi giải trí và các hoạt động văn hóa khác từng bước
được đầu tư phát triển.
- Toàn tỉnh có 82
nhà văn hóa cấp xã, phường (trong đó có 38 nhà văn hóa vùng đồng bào dân tộc
thiểu số) và 825 nhà văn hóa, nhà sinh hoạt cộng đồng, (trong đó có 156 nhà văn
hóa, nhà sinh hoạt cộng đồng vùng đồng bào dân tộc thiểu số).
- Toàn tỉnh có 12
Trung tâm Văn hóa - Thể thao của 12 huyện, thành phố. Hệ thống cơ sở vật chất,
sân bãi, nhà thi đấu tập luyện thể thao trên toàn tỉnh tính đến năm 2010 là
3.510 công trình, gồm: 442 công trình cấp tỉnh và cấp huyện (trong đó có 384
công trình thuộc sở hữu công lập, 58 công trình thuộc sở hữu ngoài công lập) và
3.068 công trình cấp phường, xã, trường học (trong đó có 2.951công trình thuộc
sở hữu công lập, 117 công trình thuộc sở hữu ngoài công lập).
- Hạ tầng du lịch
được đầu tư phát triển, đến năm 2010 toàn tỉnh có 696 cơ sở lưu trú với 11.416
phòng, với sức chứa khoảng 38.000 khách/ngày-đêm, tăng 366 cơ sở và 5.501 phòng
so với năm 2005, trong đó có 14 cơ sở lưu trú du lịch được xếp hạng 3 sao trở
lên với 1.177 phòng. Toàn tỉnh có 33 khu, điểm tham quan du lịch được đầu tư và
khai thác kinh doanh cùng với hơn 60 điểm tham quan miễn phí khác (các danh thắng
tự nhiên, các công trình kiến trúc, cơ sở tôn giáo, làng nghề, làng dân tộc bản
địa, khảo cổ…) phục vụ nhu cầu tham quan, giải trí. Lượng khách du lịch tăng
nhanh từ 1,5 triệu lượt khách năm 2005 lên 3 triệu lượt khách năm 2010; sản phẩm
du lịch ngày càng phong phú và đa dạng.
Đánh giá tổng quát
- Nhìn chung,
trong những năm qua tỉnh Lâm Đồng đã tập trung đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng
kinh tế - xã hội, nhờ đó hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội của tỉnh
phát triển mạnh cả về chiều rộng và chiều sâu, cơ bản đáp ứng được yêu cầu phát
triển của tỉnh, góp phần bảo đảm tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh, phát triển
khá các lĩnh vực văn hóa xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng và nâng cao đời sống
của nhân dân.
- Mạng lưới giao
thông nhất là giao thông đường bộ đã được hình thành tương đối đồng bộ, phân bố
hợp lý, có sự gắn kết chặt chẽ giữa mạng lưới đường quốc lộ với đường tỉnh lộ
và giao thông nông thôn. Năng lực và dịch vụ vận tải phát triển nhanh, đa dạng,
phát huy được sức mạnh của các thành phần kinh tế, phục vụ có hiệu quả cho sự
nghiệp phát triển kinh tế xã hội và an ninh quốc phòng của tỉnh.
- Hạ tầng năng lượng
phát triển nhanh, tốc độ tăng trưởng cao đảm bảo nhu cầu sản xuất và tiêu dùng
của địa phương, góp phần thực hiện được chiến lược an ninh năng lượng quốc gia.
Nhiều hồ thủy điện đã góp phần phục vụ thủy lợi và du lịch sinh thái.
- Các công trình
thủy lợi đã góp phần đáng kể vào sự gia tăng của ngành sản xuất nông nghiệp,
nâng cao năng suất và giá trị cây trồng. Một số công trình thủy lợi ngoài phục
vụ sản xuất nông nghiệp còn được khai thác tổng hợp để phục vụ cho các ngành
khác như cung cấp nước sinh hoạt, nuôi trồng thủy sản, cấp nước cho sản xuất
công nghiệp, thủy điện, du lịch sinh thái và cải tạo môi trường.
- Các kết cấu hạ tầng
đô thị như giao thông đô thị, cung cấp nước sạch, hệ thống thoát nước thải, các
cơ sở xử lý chất thải, hệ thống chiếu sáng, cây xanh, vỉa hè, công viên, hồ cảnh
quan... được đầu tư đã góp phần thay đổi diện mạo tại các trung tâm đô thị lớn
như Đà Lạt, Bảo Lộc và các thị trấn, thị tứ ở các huyện.
- Quy mô phát triển
giáo dục đào tạo các cấp học của tỉnh Lâm Đồng đã phát triển tương đối toàn diện,
đáp ứng được yêu cầu học tập và nhu cầu phát triển giáo dục của từng địa
phương, đặc biệt là việc phát triển hệ thống trường lớp ở vùng sâu, vùng xa và
các địa bàn khó khăn; chất lượng giáo dục ở các cấp học ổn định, cơ sở vật chất
trường lớp, thiết bị dạy và học được đầu tư thích đáng, cơ bản đáp ứng nhu cầu
của xã hội; đội ngũ cán bộ giáo viên đủ về số lượng cơ cấu bộ môn và cơ bản đạt
về chất lượng, công tác xã hội hóa giáo dục ngày càng được xã hội quan tâm và đồng
tình ủng hộ.
- Cơ sở vật chất của
ngành y tế được đầu tư tương đối khá từ tuyến tỉnh đến tuyến cơ sở, cơ bản đáp ứng
được nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân, năng lực tăng thêm của ngành y tế như
các cơ sở khám chữa bệnh, số giường bệnh, số lượng bác sỹ, trang thiết bị khám
chữa bệnh được tăng lên đáng kể. Một số dịch vụ y tế chất lượng cao, một số
chuyên khoa sâu bước đầu đã được triển khai tại các cơ sở y tế tuyến tỉnh. Công
tác phòng chống dịch bệnh, y tế dự phòng, kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm,
xử lý ô nhiểm môi trường trong ngành y tế được quan tâm thích đáng.
- Hạ tầng viễn
thông, công nghệ thông tin được đầu tư một cách mạnh mẽ, hiện đại, chất lượng
cao, dịch vụ đa dạng và phong phú, phát triển rộng khắp trên địa bàn toàn tỉnh,
đáp ứng được nhu cầu sản xuất và sử dụng của nhân dân. Hệ thống phát thanh truyền
hình được phủ sóng toàn tỉnh và đã phát sóng qua vệ tinh; hệ thống báo chí, xuất
bản, bưu cục, bưu điện trải rộng khắp đến các vùng nông thôn đáp ứng được nhu cầu
thông tin và văn hóa của nhân dân.
- Nguồn lực đầu tư
phát triển kết cấu hạ tầng ngày càng nhiều và đa dạng, trong 5 năm qua, tỷ lệ vốn
đầu tư phát triển hạ tầng chiếm khoảng 18% tổng đầu tư xã hội, bằng khoảng 7,2%
GDP, trong đó vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước và có nguồn gốc từ ngân sách Nhà
nước chiếm khoảng 80%. Ngoài nguồn lực của Nhà nước, đã có sự tham gia của toàn
xã hội, đặc biệt là sự tham gia đóng góp tự nguyện của nhân dân với nhiều hình
thức trong phát triển hạ tầng nông thôn, sự tham gia đầu tư của công đồng doanh
nghiệp trong phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội của tỉnh.
II. Những hạn chế, yếu kém:
1. Hệ thống kết cấu
hạ tầng tuy đã được đầu tư khá nhưng thiếu đồng bộ, chưa đáp ứng được nhu cầu
phát triển nhanh và bền vững
- Hệ thống giao
thông đối ngoại và đối nội của tỉnh còn thiếu và yếu. Các tuyến quốc lộ 20, 27,
28, 55 là những trục giao thông huyết mạch của tỉnh được đầu tư từ lâu, nay đã
xuống cấp và không đáp ứng được so với sự gia tăng nhanh chóng của các phương
tiện tham gia giao thông. Nguồn kinh phí phân bổ cho hoạt động duy tu, bảo dưỡng
rất hạn chế, không đủ để khắc phục những hư hỏng.
Đối với đường tỉnh,
chỉ có tuyến ĐT.723 được đầu tư tương đối hoàn chỉnh, các tuyến còn lại như
ĐT.721, ĐT.722, ĐT.725 chưa được thông tuyến hoàn toàn, chỉ khai thác từng đoạn,
không đáp ứng được nhu cầu vận chuyển, đi lại phục vụ phát triển kinh tế xã hội
của địa phương.
Hệ thống đường huyện,
đường xã và đường giao thông nông thôn nhìn chung chất lượng còn thấp, tỷ lệ nhựa
hóa, bê tông hóa chưa cao, một số vùng còn bị ách tắc giao thông trong mùa mưa
lũ, nhất là ở khu vực vùng sâu, vùng xa.
Hệ thống cầu, cống
trên địa bàn tỉnh chậm được đầu tư nâng cấp và xây mới, khi có sự cố xảy ra đã
gây khó khăn cho việc đi lại và vận chuyển hàng hóa của nhân dân trong vùng.
Bến xe Trung tâm của
một số địa phương còn tạm bợ, nhiều nơi chưa có sân bãi đậu xe. Hầu hết các xã
và trung tâm cụm xã chưa có bến xe, mặc dù một số nơi đã có tuyến vận tải khách
cố định đi và đến.
- Một số công
trình thủy lợi đầu tư không đồng bộ, chỉ mới đầu tư phần cụm công trình đầu mối
và các tuyến kênh chính, kênh cấp 1 và cấp 2, còn kênh cấp 3 và mương chân rết
giao cho địa phương và nhân dân vùng hưởng lợi đầu tư xây dựng nhưng chưa được
thực hiện một cách đồng bộ nên hiệu quả sử dụng chưa cao, không phát huy hết
công suất của công trình. Chi phí duy tu bảo dưỡng sửa chữa công trình thường
xuyên không đáp ứng đầy đủ. Trang thiết bị phục vụ công tác quản lý khai thác vận
hành công trình chưa đáp ứng yêu cầu. Việc lấn chiếm hành lang bảo vệ công
trình thủy lợi và lấy cắp các thiết bị quản lý công trình còn xảy ra ở nhiều
nơi làm cho quá trình điều hành và phân phối nước khó khăn và gây nên tình trạng
thất thoát nước.
- Công nghệ của
các nhà máy thủy điện chỉ đạt mức độ trung bình so với một số quốc gia trong
khu vực và trên thế giới. Hệ thống lưới điện chất lượng thấp, tổn thất điện
năng còn lớn. Nguồn vốn đầu tư lưới điện cho nông thôn còn thấp. Người dân ở
vùng nông thôn nhất là đồng bào dân tộc sống rải rác, xa các khu tập trung, nhu
cầu sử dụng điện không lớn nên lưới điện nông thôn được thiết kế với công suất
nhỏ, sau khi đưa các công trình vào vận hành từ 1 đến 2 năm, đa số lưới điện hạ
thế và trạm biến áp phân phối đều bị quá tải do đó phải cải tạo nâng công suất,
gây khó khăn về vốn đầu tư, tăng chi phí quản lý vận hành.
- Hạ tầng các khu
công nghiệp, cụm công nghiệp đầu tư còn chậm, thiếu đồng bộ; thiếu các công
trình hỗ trợ, thiết yếu đi kèm như điện, nước, viễn thông, xử lý chất thải gây
khó khăn cho kế hoạch sản xuất, kinh doanh của nhà đầu tư.
- Hạ tầng thương mại
phân bố không đều, chủ yếu tập trung ở các vùng đô thị, hạ tầng bán buôn chưa
theo kịp với nhu cầu thực tế, thiếu các chợ bán buôn các hàng hóa nông sản của
tỉnh như chợ đầu mối tiêu thụ rau, hoa, cà phê …. Hệ thống kho dự trữ, bảo quản
hàng hóa nông sản chưa có nguồn lực để đầu tư, trong khi nhu cầu ngày càng
tăng.
- Hạ tầng thông
tin và truyền thông phát triển nhanh nhưng độ phủ sóng của mạng viễn thông
không đồng đều, chất lượng và mạng lưới dịch vụ chưa đáp ứng tốt cho người sử dụng,
mật độ băng thông rộng vẫn còn thấp. Công nghệ thông tin chưa được phát triển
như một ngành hạ tầng phục vụ cho toàn bộ hoạt động của nền kinh tế. Mức độ tin
học hóa trong các ngành, lĩnh vực còn thấp, đóng góp của công nghệ thông tin
cho giá trị gia tăng trong cấu thành sản phẩm còn ít.
2. Hạ tầng đô thị
thiếu đồng bộ, kém chất lượng
- Giao thông đô thị
chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển ngày càng nhanh, thiếu hệ thống đường vành
đai liên kết vùng và hệ thống giao thông công cộng liên vùng; hệ thống mương
rãnh thoát nước, vỉa hè, cây xanh, chiếu sáng còn thiếu và yếu, chất lượng thi
công kém dẫn đến xuống cấp nhanh.
- Công trình bến
bãi đậu xe công cộng tại các trung tâm đô thị chưa được quan tâm từ công tác
quy hoạch đến việc đầu tư, thiếu bãi đậu xe công cộng, các cơ sở kinh doanh
trên các tuyến đường trung tâm không quan tâm thiết kế bãi đỗ xe của khách hàng
nên việc chiếm dụng lòng lề đường còn khá phổ biến. Tình trạng buôn bán lưu động
của một bộ phận dân cư trên đường phố còn khá nhiều.
- Tỷ lệ ngầm hóa mạng
lưới điện, cáp viễn thông trong khu vực đô thị còn thấp.
- Cấp nước chưa
đáp ứng được nhu cầu, hệ thống đường ống cấp nước còn thiếu và lạc hậu dẫn đến
tỷ lệ thất thoát nước sạch đô thị còn cao. Hệ thống thoát nước thiếu, năng lực
xử lý nước thải còn thấp ảnh hưởng đến vệ sinh môi trường đô thị. Phổ biến là hệ
thống thoát nước đô thị còn dùng chung cho cả 3 loại nước thải sinh hoạt, nước
thải sản xuất và nước mưa. Ngoài thành phố Đà Lạt, hầu hết các đô thị đều không
có trạm xử lý nước thải tập trung; nước thải sinh hoạt, bệnh viện, công nghiệp
không qua xử lý mà thải trực tiếp vào hệ thống cống thành phố, sông, suối. Tại
các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu du lịch, khu nông nghiệp công nghệ
cao và khu đô thị đều đang xây dựng hệ thống thoát nước riêng, tuy vậy vẫn chưa
hoàn thiện.
- Chất thải rắn hầu
hết đang sử dụng biện pháp chôn lấp, tốn nhiều diện tích, không có khả năng tái
chế, thu hồi và sử dụng lại nguồn nguyên liệu từ rác thải đồng thời gây ô nhiểm
môi trường và nguồn nước ngầm của tỉnh.
3. Hạ tầng xã hội
chưa đồng bộ, chất lượng thấp, hiệu quả sử dụng chưa cao, chưa đáp ứng yêu cầu
- Hạ tầng giáo dục
đào tạo vẫn còn thiếu về số lượng, kém về chất lượng, chưa đáp ứng yêu cầu dạy
và học ở tất cả các cấp, nhất là hệ thống trường mầm non. Số trường đạt chuẩn
quốc gia chiếm tỷ trọng thấp. Phòng thí nghiệm, cơ sở thực nghiệm, thư viện,
phòng học bộ môn và các phương tiện dạy học còn thiếu và lạc hậu. Hệ thống giáo
dục đào tạo chưa đồng bộ, chưa cân đối giữa giáo dục nghề nghiệp với giáo dục
trung học phổ thông và giáo dục đại học.
- Số lượng và chất
lượng dịch vụ y tế chưa đáp ứng được yêu cầu khám và chữa bệnh ngày càng cao của
nhân dân, đầu tư cho y tế còn thấp. Xã hội hóa trong lĩnh vực y tế còn nhiều hạn
chế. Tỷ lệ giường bệnh trên 1 vạn dân của tỉnh còn thấp hơn bình quân của cả nước;
trang thiết bị y tế ở tất cả các cơ sở khám chữa bệnh còn thiếu và chưa hiện đại,
nhất là ở cơ sở y tế tuyến địa phương.
- Khả năng giám
sát dịch tễ chưa thực sự đủ mạnh, hệ thống y tế dự phòng chưa ngang tầm với xu
thế phát triển của địa phương.
- Hạ tầng văn hóa,
thể thao, du lịch phát triển chưa đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nhân dân.
Chất lượng công trình và hiệu quả khai thác sử dụng còn thấp. Hệ thống thiết chế
văn hóa - thể thao cơ sở trên địa bàn toàn tỉnh đang trong tình trạng xuống cấp,
chắp vá, thiếu đồng bộ và hiệu quả sử dụng còn thấp. Chưa có nhiều công trình
văn hóa và khu vui chơi giải trí phù hợp với nhu cầu ngày càng cao của nhân
dân. Đầu tư của ngân sách Nhà nước cho văn hóa - thể thao còn thấp. Việc huy động
các nguồn vốn khác đầu tư cho văn hóa còn rất hạn chế.
4. Cơ sở hạ tầng
nông thôn phát triển chưa đồng đều, nhất là ở các địa bàn vùng sâu, vùng xa của
tỉnh
Kết cấu hạ tầng
kinh tế - xã hội vùng nông thôn vẫn còn thiếu, chưa đồng đều, nhiều nơi vẫn còn
sử dụng các tuyến đường đất, việc đi lại trong mùa mưa vẫn gặp nhiều khó khăn.
Cơ sở hạ tầng các dịch vụ xã hội cơ bản như y tế, giáo dục, đào tạo còn thiếu
và yếu. Nhiều vùng còn thiếu nước sinh hoạt hợp vệ sinh, tỷ lệ dân nông thôn sử
dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh mới đạt 75%. Điện cho nông nghiệp, nông thôn
chưa đảm bảo ổn định.
Nhìn chung, hệ thống
kết cấu hạ tầng tuy đã có nhiều tiến bộ, nhưng vẫn còn nhiều yếu kém, hạn chế,
chưa theo kịp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Sự phát triển của
hệ thống kết cấu hạ tầng còn thiếu đồng bộ, tính kết nối chưa cao. Công tác quản
lý, công nghệ vận hành hệ thống kết cấu hạ tầng còn bất cập, chất lượng dịch vụ
hạ tầng còn thấp, chi phí cao, hạn chế khả năng cạnh tranh của nền kinh tế.
Chưa thu hút mạnh các thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển và quản lý
kết cấu hạ tầng. Chính sách về đất đai chưa phù hợp, công tác giải phóng mặt bằng
còn rất khó khăn, thời gian kéo dài ảnh hưởng đến tiến độ thi công và làm tăng
chi phí đầu tư.
Những hạn chế, tồn
tại trên có nguyên nhân chủ yếu là:
a) Khách quan:
- Nhu cầu đầu tư kết
cấu hạ tầng kinh tế - xã hội của tỉnh lớn nhưng khả năng nguồn vốn còn hạn chế
nên chưa đáp ứng được việc xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội một cách đồng
bộ. Chưa tạo được sự ủng hộ và chia sẻ trách nhiệm của cộng đồng xã hội trong
phát triển xây dựng kết cấu hạ tầng.
- Cơ chế chính
sách của Nhà nước cho công tác duy tu, bảo dưỡng các công trình kết cấu hạ tầng
kinh tế - xã hội còn bất cập, nhất là nguồn vốn và cơ chế quản lý, bảo trì.
- Công trình thủy
lợi thường nằm ở những khu vực có địa hình không thuận lợi, bên cạnh đó thời tiết,
khí hậu thay đổi phức tạp: mùa khô thì khô hạn nắng nóng thiếu nước trầm trọng,
mùa mưa thì mưa lũ lớn và kéo dài làm cho xói lở bồi lấp kênh mương.
- Chính sách thu hồi
đất, đền bù giải phóng mặt bằng để xây dựng kết cấu hạ tầng chưa phù hợp, chưa
có sự phân biệt giữa chính sách đền bù đất xây dựng hạ tầng công cộng với các
công trình kinh doanh.
- Một số dự án lớn
như các công trình thủy điện, khai thác đá, cát…sử dụng xe có trọng tải lớn,
nhưng cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khi cấp phép xây dựng không yêu cầu trách
nhiệm chủ đầu tư tham gia góp vốn nâng cấp đường công cộng mà dự án sử dụng trước
khi đi vào hoạt động…tất cả yếu tố trên làm cho một số công trình giao thông xuống
cấp nghiêm trọng.
b) Chủ quan:
- Chất lượng quy
hoạch còn thấp, thiếu tính đồng bộ và bao quát, tính khả thi chưa cao. Việc quản
lý và triển khai thực hiện quy hoạch chưa nghiêm, kém hiệu quả.
- Thiếu quỹ đất
cho các công trình công cộng, công viên, quỹ đất dành cho một số trường học và
cơ sở y tế mới chỉ đáp ứng nhu cầu trước mắt, không đủ để đáp ứng nhu cầu phát
triển lâu dài. Việc đầu tư các khu dân cư mới chỉ mới tính cơ sở hạ tầng trong
dự án, chưa tính đến mức độ đáp ứng của cơ sở hạ tầng khu vực;
- Việc bố trí và sử
dụng vốn ngân sách Nhà nước thực hiện theo từng năm, còn dàn trải, chưa có kế
hoạch đầu tư phát triển trung hạn và dài hạn để tập trung vào các công trình trọng
điểm, thiết yếu. Do đầu tư không đồng bộ, chưa tập trung nên chưa phát huy hết
hiệu quả của công trình; một số công trình đầu tư kéo dài dẫn đến lãng phí
trong đầu tư. Chưa huy động được giá trị đất đai thành nguồn lực to lớn để đầu
tư phát triển kết cấu hạ tầng.
- Việc phân công,
phân cấp quản lý chưa tập trung, việc quản lý khai thác sử dụng một số tuyến đường
đô thị (phần lộ giới) còn thuộc nhiều ngành: giao thông, xây dựng, viễn thông,
điện lực, cấp thoát nước…gây nên tình trạng chồng chéo trong quản lý, không đồng
bộ trong đầu tư xây dựng.
- Các đơn vị tham
gia quản lý, khai thác công trình thủy lợi chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đề ra,
sự phối hợp giữa cơ quan quản lý khai thác với chính quyền địa phương các cấp
chưa chặt chẽ; chưa ngăn chặn kịp thời tình trạng vi phạm hành lang bảo vệ công
trình, tái lấn chiếm phạm vi thuộc công trình đã được đền bù.
Phần thứ hai
MỤC TIÊU, NHIỆM
VỤ VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KẾT CẤU HẠ TẦNG ĐỒNG BỘ GIAI ĐOẠN 2011-2020
Dự báo trong giai
đoạn 10 năm tới vẫn còn nhiều khó khăn do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế
giới và khu vực sẽ tác động không nhỏ đến tăng trưởng kinh tế của địa phương, đến
khả năng huy động vốn ngân sách địa phương, hỗ trợ của ngân sách Trung ương và
của toàn xã hội vào đầu tư phát triển trong lúc nhu cầu đầu tư hạ tầng phục vụ
phát triển kinh tế - xã hội ngày càng tăng. Để thực hiện tốt việc xây dựng phát
triển hạ tầng đồng bộ, tỉnh tập trung vào những nội dung chủ yếu sau:
I. Mục tiêu chung:
1. Phát triển kết
cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phải hiện đại, đồng bộ; có phân kỳ đầu tư hợp lý
giữa các công trình trong các quy hoạch và phân kỳ đầu tư của từng dự án; ưu
tiên những dự án quan trọng tạo sự đột phá và tác động lan tỏa lớn. Đầu tư đồng
bộ vừa giải quyết yêu cầu sử dụng trước mắt theo khả năng cân đối các nguồn lực,
vừa đảm bảo phát triển bền vững lâu dài và hiệu quả.
2. Cân đối giữa
nhu cầu và khả năng, chọn các công trình bức xúc hoặc phát huy hiệu quả cao, có
ý nghĩa về kinh tế - xã hội để thực hiện trước.
3. Huy động mọi
nguồn lực, chú trọng nguồn lực khai thác quỹ đất, nguồn đóng góp của nhân dân,
doanh nghiệp nhất là xây dựng các công trình trong đô thị, nguồn lực từ các cơ
sở sản xuất kinh doanh được hưởng lợi trực tiếp từ công trình dự án.
II. Nhiệm vụ cụ thể:
1. Về hạ tầng giao
thông:
a) Giai đoạn 2011
- 2015:
- Đối với đường quốc
lộ và các công trình giao thông thuộc Bộ Giao thông vận tải quản lý: tỉnh phối
hợp chặt chẽ với Bộ để từng bước đầu tư nâng cấp các quốc lộ 20, 27, 28, 55;
chuẩn bị hồ sơ và kêu gọi đầu tư xây dựng đường cao tốc Dầu Giây- Liên Khương;
hoàn thành đường Trường Sơn Đông; xây dựng tuyến đường bộ vận chuyển Bauxit và
tuyến đường sắt Bảo Lâm - Bình Thuận. Xây dựng các tuyến tránh quốc lộ qua các
đô thị. Đề nghị Bộ Giao thông vận tải trình Chính phủ bổ sung quy hoạch và nâng
cấp Tỉnh lộ 721 (Lâm Đồng - Bình Phước - Bình Thuận); Tỉnh lộ 723 (Khánh Hòa -
Lâm Đồng) thành quốc lộ.
- Tập trung mọi
nguồn lực hoàn thành các công trình hạ tầng giao thông đang còn dở dang; hoàn
thiện nâng cấp các tuyến đường tỉnh ĐT.721, ĐT.722, ĐT.723, ĐT.725. Đầu tư xây
dựng đường vành đai thành phố Đà Lạt, Bảo Lộc. Tiếp tục đầu tư nâng cấp đường
đô thị đáp ứng tiêu chí đô thị đã được xếp hạng. Đầu tư 100% các đường đến chân
hàng rào các khu, cụm công nghiệp; 100% các xã có đường bê tông nhựa đến trung
tâm xã; toàn bộ đường trục xã, liên xã được nhựa hóa, bê tông hóa, tất cả hệ thống
cầu, cống được xây dựng kiên cố, đường trục thôn xóm được cứng hóa 30% vào năm
2015.
- Mở thêm các tuyến
bay nội địa và mở đường bay quốc tế từ Liên Khương đi Singapore, Xiêm Riệp
(Campuchia), đến năm 2015 đạt 1 triệu lượt khách.
- Xây dựng thêm
trung tâm đăng kiểm phương tiện cơ giới đường bộ tại huyện Đức Trọng, Đạ Huoai.
Đầu tư xây dựng các bến xe có quy mô phù hợp với lưu lượng khách đi đến, đặc biệt
tại các đầu mối giao thông.
- Tập trung cho
công tác quản lý, duy tu, sửa chữa thường xuyên. Định kỳ trung tu các tuyến đường
đã xây dựng bằng nguồn vốn đầu tư phát triển. Các doanh nghiệp khai thác khoáng
sản (kể cả khai thác cát, đá), các dự án lớn như nhà máy thủy điện, chế biến
nông lâm sản phải đầu tư vốn nâng cấp tải trọng các tuyến đường công cộng (tính
từ điểm tiếp giáp với đường tỉnh hoặc quốc lộ) dẫn vào nhà máy, hầm mỏ đạt cấp
tải trọng khai thác trước khi thực hiện dự án.
b) Giai đoạn 2016
- 2020:
- Phối hợp với bộ,
ngành Trung ương khởi công xây dựng đường cao tốc Dầu Giây - Liên Khương, đường
sắt Bảo Lâm - Bình Thuận.
- Tiếp tục thực hiện
các công trình giao thông còn dở dang của giai đoạn 2011 - 2015; từng bước xây
dựng mới và nâng cấp các tuyến đường tỉnh 724, 726, 727, 728, 729; triển khai
xây dựng hệ thống đường bộ, đầu tư nâng cấp các cầu yếu trên địa bàn tỉnh; phấn
đấu 100% số xã (118 xã) đạt được tiêu chí về giao thông trong Bộ tiêu chí quốc
gia về nông thôn mới. Toàn bộ đường trục xã, liên xã được nhựa hóa, bê tông
hóa, tất cả các cầu cống được xây dựng kiên cố, đường trục thôn xóm được cứng
hóa 70% vào năm 2020.
Khuyến khích các
thành phần kinh tế tham gia đầu tư xây dựng trung tâm đăng kiểm xe cơ giới,
trung tâm sát hạch lái xe, các cơ sở đào tạo lái xe và các lĩnh vực khác có
liên quan đến hạ tầng giao thông.
2. Về kết cấu hạ tầng
năng lượng:
- Thúc đẩy các dự
án thủy điện đã được cấp phép đẩy nhanh tiến độ triển khai thực hiện; tiếp tục
rà soát quy hoạch thủy điện, đưa ra khỏi quy hoạch những dự án chiếm nhiều diện
tích rừng, đất rừng, ảnh hưởng nhiều đến môi trường sinh thái; ưu tiên phát triển
các nguồn năng lượng tái tạo, điện gió.
- Phát triển lưới
điện truyền tải 220KV và 110KV, các trạm biến áp khu vực, nâng cao độ tin cậy cấp
điện và giảm tổn thất điện năng, đảm bảo huy động thuận lợi các nguồn điện
trong khu vực.
- Ưu tiên đầu tư
các công trình lưới điện trung thế, hạ thế về các thôn buôn, các khu dân cư mới,
khu tái định cư, các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn toàn tỉnh; đảm bảo cung
cấp điện đủ cho các khu và cụm công nghiệp. Đến năm 2020, tỷ lệ cung cấp điện đến
các khu dân cư và các khu, cụm công nghiệp đạt 100% và tỷ lệ điện khí hóa nông
thôn đạt 100%.
3. Về thủy lợi và
cấp nước sinh hoạt nông thôn:
- Đầu tư phát triển
thủy lợi theo hướng đồng bộ, hiện đại; tiếp tục triển khai các chương trình
phát triển thủy lợi gắn với thủy điện nhỏ; thực hiện đề án kiên cố hóa kênh mương,
đề án thủy lợi nhỏ vùng đồng bào dân tộc, vùng cây công nghiệp.
- Ưu tiên đầu tư
xây dựng hoàn thành những công trình kiên cố hóa kênh mương đã có quyết định đầu
tư, công trình chuyển tiếp; nâng cấp, sửa chữa các công trình đã xuống cấp, hư
hỏng nhằm phát huy hiệu quả công trình; xây dựng mới hệ thống thủy lợi theo quy
hoạch; đảm bảo tưới 60% diện tích cây trồng vào năm 2015 và đến năm 2020 đạt
80% diện tích.
- Tranh thủ nguồn
vốn đầu tư của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn để xây dựng các công trình
có quy mô lớn như hồ Đạ sị, Đạ Lây, Kazam, Đông Thanh, Hiệp Thuận, ngân sách tỉnh
đảm bảo vốn đền bù giải phóng mặt bằng cho các công trình này.
- Giai đoạn 2012 -
2015 cơ bản hoàn thành các công trình thủy lợi Đạ Lây, Đạ Sị và các công trình
thủy lợi vừa và nhỏ.
- Giai đoạn 2016 -
2020 khởi công xây dựng và cơ bản hoàn thành các công trình thủy lợi Kazam,
Đông Thanh, Hiệp Thuận.
- Trong cả giai đoạn
2011 - 2020 triển khai đầu tư xây dựng hoàn thành 53 dự án chuyển tiếp; sửa chữa
nâng cấp và xây dựng mới 53 công trình;
- Đầu tư xây dựng
các công trình phòng lũ chỉnh trị sông Đa Nhim (huyện Đơn Dương), Đạ Ploa (huyện
Đạ Hoai); kè bờ sông Đa Dâng, sông Đồng Nai.
- Về cấp nước sinh
hoạt nông thôn: Trong toàn giai đoạn 2011-2020, tập trung đầu tư 84 công trình
cấp nước sinh hoạt tập trung, bao gồm 38 công trình cấp nước tự chảy và 46 giếng
khoan.
4. Về hạ tầng đô
thị:
- Phát triển đồng
bộ và hiện đại hóa mạng lưới giao thông đô thị; đầu tư xây dựng và nâng cấp các
nhà máy cấp nước; tập trung xây dựng các nhà máy xử lý nước thải, chất thải ở
các đô thị lớn, đặc biệt quan tâm đến xử lý chất thải rắn, chất thải y tế.
- Chú trọng xây dựng
công viên công cộng tại trung tâm các đô thị. Ngầm hóa hệ thống hạ tầng kỹ thuật
(cấp điện, viễn thông..) theo hướng phải ngầm hóa 100% tại các khu đô thị mới,
từng bước ngầm hóa cho các đường phố chính trong khu đô thị cũ, không cho đầu
tư thêm hệ thống trụ và dây trong nội thị. Các đường giao thông đô thị khi đầu
tư mới phải bảo đảm đồng bộ bao gồm lòng đường, vỉa hè, cây xanh, chiếu sáng và
hệ thống công trình ngầm.
- Tổ chức quy hoạch
và xây dựng quy định quản lý hệ thống nghĩa trang các đô thị theo hướng hiện đại;
không hình thành mới nghĩa trang trong đô thị. Các đô thị lớn cần đầu tư nhà hỏa
táng.
- Tiếp tục đầu tư
nâng cấp đường đô thị đáp ứng tiêu chí đô thị đã được xếp hạng. Phát triển đồng
bộ giao thông đô thị thành phố Đà Lạt, thành phố Bảo Lộc và các thị trấn. Cải tạo,
nâng cấp các tuyến đường hiện có và xây dựng thêm các tuyến đường đô thị để đảm
bảo có hệ thống giao thông đô thị đầy đủ, hiện đại và hiệu quả. Trong đó tập
trung ưu tiên các tuyến vành đai đô thị, các tuyến hướng tâm và các trục chính
được đầu tư đồng bộ, hiện đại gắn với chỉnh trang, mở rộng đô thị theo quy hoạch.
Dành đủ quỹ đất cho giao thông đô thị theo quy định khi xây dựng các khu đô thị
mới. Phát triển mạnh về vận tải hành khách công cộng ở hai đô thị lớn gắn liền
với việc hình thành hệ thống bến, bãi đảm bảo việc đi lại của nhân dân trong
khu vực nội thị thuận lợi và không gây ùn tắc giao thông.
- Xây dựng các nhà
máy cung cấp nước sạch với quy mô đáp ứng đủ nhu cầu sử dụng của dân cư đô thị,
gắn với việc cải tạo lại hệ thống đường ống cấp nước chính đủ năng lực cung cấp
nước sạch đến các khu dân cư đô thị.
- Đầu tư xây dựng
để từng bước hoàn chỉnh hệ thống thoát nước và xử lý nước thải. Trước mắt,
trong giai đoạn đến năm 2015 đầu tư nâng cấp nhà máy xử lý nước thải của thành
phố Đà Lạt và xây dựng nhà máy xử lý nước thải tập trung cho thành phố Bảo Lộc.
Đầu tư nâng cấp, xây dựng hệ thống thoát nước đô thị gắn liền với việc nâng cấp,
cải tạo, xây dựng mới đường giao thông đô thị.
- Xây dựng các nhà
máy xử lý chất thải rắn cho 4 địa bàn trọng điểm: Đà Lạt, Bảo Lộc, Đức Trọng và
Di Linh, đảm bảo xử lý cơ bản cho tất cả các đô thị trên địa bàn tỉnh.
- Tập trung thực
hiện ngầm hóa hệ thống hạ tầng kỹ thuật khác trong đô thị đáp ứng nhu cầu phát
triển kinh tế - xã hội và yêu cầu về mỹ quan đô thị.
- Xây dựng Đà Lạt
trở thành một trong những trung tâm du lịch nghỉ dưỡng, trung tâm giáo dục và
nghiên cứu khoa học của cả nước và khu vực, chú trọng bảo tồn kiến trúc, giữ
gìn cảnh quan sinh thái đặc thù, xây dựng kết cấu hạ tầng gắn với chỉnh trang,
mở rộng không gian đô thị, gắn với vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và Trung bộ.
- Xây dựng Bảo Lộc
trở thành đô thị công nghiệp của tỉnh gắn với phát triển các ngành dịch vụ
thành vùng kinh tế trọng điểm phía Nam của tỉnh.
- Xây dựng Đức Trọng
trở thành thị xã và là trung tâm thương mại với hệ thống chợ đầu mối theo hướng
hiện đại.
- Xây dựng Bảo Lâm
trở thành trung tâm công nghiệp sau nhôm của tỉnh và cả nước.
5. Về hạ tầng khu
công nghiệp, cụm công nghiệp:
- Đến năm 2015, tập
trung đầu tư hoàn thiện hạ tầng 02 khu công nghiệp Lộc Sơn và Phú Hội (kể cả hạ
tầng cấp điện, nước, thông tin và xử lý nước thải và chất thải rắn). Đối với 06
cụm công nghiệp trọng điểm: Đinh Văn-Lâm Hà, Gia Hiệp-Di Linh, Lộc Thắng-Bảo
Lâm, Đạ Oai-Đạ Huoai, Phát Chi-Đà Lạt, Lộc Phát-Bảo Lộc: đầu tư hoàn thiện hạ tầng
trong và ngoài hàng rào các cụm công nghiệp, từng bước hoàn thiện hệ thống xử
lý nước thải phù hợp điều kiện của từng cụm công nghiệp.
- Giai đoạn 2016-
2020 tập trung hoàn thiện hạ tầng và thu hút đầu tư hoàn chỉnh 03 khu công nghiệp:
Lộc Sơn, Phú Hội và Tân Phú. Thực hiện đầu tư hoàn chỉnh hạ tầng và lấp đầy
100% diện tích các cụm công nghiệp.
6. Về hạ tầng
thương mại:
- Giai đoạn 2011-
2015: Phát triển hệ thống chợ nông thôn, nhất là các chợ tại các xã nông thôn mới
theo nhu cầu thực tế. Thu hút các nguồn vốn tư nhân thực hiện đầu tư hạ tầng chợ,
trung tâm thương mại, siêu thị, các cửa hàng tiện ích, hệ thống kho dự trữ bằng
nhiều hình thức đầu tư thích hợp, Nhà nước hỗ trợ kinh phí đầu tư hạ tầng cho
các chợ nông thôn không có khả năng kêu gọi đầu tư.
- Hoàn thành chợ đầu
mối nông sản Đức Trọng, khu C chợ Đà Lạt, chợ trung tâm Hà Giang Bảo Lộc, Trung
tâm thương mại 37 Trần hưng Đạo Đà Lạt, Trung tâm thương mại dịch vụ tổng hợp tại
chợ cũ Bảo Lộc. Xúc tiến thu hút vốn đầu tư sàn giao dịch hoa; Trung tâm thương
mại - siêu thị tại tầng hầm của Quảng trường Lâm Viên - Đà Lạt.
- Xem xét, xác định
nhu cầu bức thiết cần có chợ tại những xã đang có điểm tụ họp chợ mà chưa bố
trí quỹ đất thì thực hiện bổ sung quỹ đất xây dựng chợ.
- Giai đoạn 2016-
2020: Tiếp tục phát triển mạnh hệ thống trung tâm thương mại và hệ thống chợ tại
các trung tâm thị trấn và vùng nông thôn.
7. Về phát triển hạ
tầng thông tin:
- Phát triển cơ sở
hạ tầng thông tin, 100% các cơ quan đơn vị trong hệ thống chính trị từ tỉnh tới
cơ sở, khối các cơ sở giáo dục - đào tạo, y tế được kết nối mạng truyền số liệu
chuyên dụng. Đầu tư, nâng cấp thiết bị xây dựng đồng bộ hệ thống mạng LAN tốc độ
cao tại tất cả các đơn vị từ cấp phường, xã, thị trấn trở lên nhằm đáp ứng tốt
việc khai thác các hạ tầng thông tin, các hệ thống cơ sở dữ liệu phục vụ công
tác quản lý, điều hành và tác nghiệp tại các cơ quan theo ngành dọc và kết nối
liên ngành.
- Xây dựng hệ thống
cơ sở dữ liệu chuyên ngành, đảm bảo cập nhật, tra cứu, khai thác qua mạng nhanh
chóng và thuận lợi, ứng dụng đồng bộ các phần mềm dùng chung, các chương trình
hỗ trợ quản lý và điều hành tác nghiệp.
- Xây dựng hoàn chỉnh
cơ sở hạ tầng Khu công nghệ thông tin tập trung của tỉnh tại Lạc Dương, tạo điều
kiện cho các doanh nghiệp trên lĩnh vực công nghệ thông tin được tham gia đầu
tư phát triển.
- Phát triển mạnh
mẽ hệ thống các dịch vụ công phục vụ nhân dân và doanh nghiệp qua mạng, đến năm
2015 có 40 - 50% dịch vụ công được triển khai trực tuyến đạt mức độ 3, đến năm
2020 hầu hết dịch vụ công được triển khai trực tuyến đạt mức độ 3 và mức độ 4.
Đến năm 2020 hoàn thành cơ sở dữ liệu địa chính tỉnh Lâm Đồng; kết nối, chia sẽ
dữ liệu giữa Sở Tài nguyên và Môi trường với các Phòng Tài nguyên và Môi trường
các huyện, thành phố.
- Phát triển mạng
viễn thông nông thôn, nâng cao chất lượng dịch vụ ngang bằng với khu
vực thành thị. Đẩy mạnh phát triển mạng truy nhập băng thông rộng, phát triển
các ứng dụng trên mạng: chính phủ điện tử, thương mại điện tử, đào tạo từ xa, y
tế từ xa...
8. Về hạ tầng giáo
dục đào tạo, khoa học công nghệ:
- Củng cố và hoàn
thiện mạng lưới trường học từ mầm non đến trung học phổ thông, giáo dục thường
xuyên; đảm bảo mỗi xã, phường có ít nhất một trường mầm non (các thôn buôn đều
có lớp mầm non), một trường tiểu học và một trường trung học cơ sở; trung tâm
thị trấn và vùng liên xã có trường trung học cơ sở. Đến năm 2020 cơ bản hoàn
thành chương trình đầu tư xây dựng cơ sở vật chất của các trường thuộc các bậc
học đạt chuẩn; hoàn thiện hệ thống các trường dân tộc nội trú.
- Phát triển hệ thống
các trường chuyên nghiệp và các trường dạy nghề trên địa bàn tỉnh theo hướng đầu
tư đồng bộ và hiện đại về cơ sở hạ tầng, đảm bảo về đào tạo dạy nghề có chất lượng
cao đáp ứng nhu cầu của xã hội và phù hợp với các ngành nghề thế mạnh ở địa
phương.
- Phát triển hạ tầng
giáo dục, đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục. Tạo điều
kiện thuận lợi để các trường Đại học đã được cấp Giấy chứng nhận đầu tư triển
khai thực hiện. Hoàn thành khu ký túc xá sinh viên tập trung đầu tư bằng nguồn
vốn trái phiếu Chính phủ tại thành phố Đà Lạt.
- Đến năm 2015, đầu
tư một số hạng mục chủ yếu của dự án khu công nghệ sinh học và ứng dụng nông
nghiệp công nghệ cao Đà Lạt và hoàn thành toàn bộ dự án vào năm 2020.
9. Về hạ tầng y tế:
- Phát triển hạ tầng
y tế, từng bước nâng cao chất lượng của các cơ sở y tế. Phấn đấu đạt tối thiểu
25 giường bệnh/vạn dân vào năm 2015 và 30 giường/vạn dân vào năm 2020 (bao gồm
cả ngoài công lập nhưng không tính trạm y tế xã). Đến năm 2015, 100% trạm y tế
cấp xã được đầu tư nâng cấp hoặc xây dựng mới và 50% số trạm y tế xã đạt bộ
tiêu chí quốc gia về y tế xã; phấn đấu đến năm 2020, 100% trạm y tế xã, phường,
thị trấn đạt chuẩn quốc gia. Đẩy mạnh xã hội hóa đầu tư phát triển hạ tầng y tế,
tạo điều kiện thuận lợi để các dự án bệnh viện đã được cấp giấy chứng nhận đầu
tư triển khai xây dựng và phát triển. Đến năm 2015 xây dựng hoàn thành bệnh viện
Đa khoa khu vực II Bảo Lộc và Bệnh viện nhi Lâm Đồng; đến năm 2020, xây dựng một
số bệnh viện, trung tâm chuyên khoa đáp ứng nhu cầu chữa bệnh của nhân dân
trong tỉnh, hạn chế tình trạng chuyển tuyến trên nhằm giảm chi phí cho bệnh
nhân và giảm tình trạng quá tải tại các cơ sở khám chữa bệnh chuyên khoa tuyến
Trung ương.
- Chú trọng đầu tư
chiều sâu về thiết bị và đội ngũ y bác sĩ cho các bệnh viện Đa khoa tuyến tỉnh
và các Bệnh viện đa khoa khu vực Đức Trọng, Đạ Huoai; hiện đại hóa 02 bệnh viện
y học cổ truyền của tỉnh hiện nay. Củng cố và tăng cường đầu tư để nâng hạng
các cơ sở y tế công lập tuyến tỉnh và huyện, áp dụng các kỹ thuật tiên tiến, hiện
đại đảm bảo ngang bằng với các tỉnh trong vùng và toàn quốc trên lĩnh vực khám
chữa bệnh và y tế dự phòng theo tiêu chuẩn xếp hạng của Bộ Y tế.
- Nâng cấp Trung
tâm Y tế dự phòng tỉnh đạt chuẩn Quốc gia. Đầu tư xây dựng 02 đơn vị là Trung
tâm Kiểm nghiệm Dược phẩm & Mỹ phẩm và Trung tâm Truyền thông giáo dục sức
khỏe.
10. Về hạ tầng văn
hóa, thể thao và du lịch:
- Hoàn thành xây dựng
Quảng trường trung tâm thành phố Đà Lạt trước năm 2015.
- Xây dựng và phát
triển đồng bộ hệ thống thiết chế văn hóa - thể thao cơ sở, khắc phục tình trạng
chênh lệch về mặt hưởng thụ văn hóa của nhân dân ở các khu vực vùng sâu, vùng
xa, vùng đồng bào dân tộc với trung tâm huyện, thành phố trong tỉnh. Đến năm
2015, tất cả các huyện, thành phố đều có trung tâm văn hóa; các xã, phường, thị
trấn có nhà văn hóa; các thôn, tổ dân phố có nhà sinh hoạt cộng đồng.
- Tiếp tục đầu tư
các hạng mục còn lại của các dự án đường Triệu Việt Vương - An Sơn, khu tái định
cư An Sơn, đường nối 2 nhánh trái và nhánh phải, đầu tư xây dựng hệ thống thoát
nước thải, chiếu sáng, đường và cổng vào, khu đón tiếp tại khu du lịch hồ Tuyền
Lâm.
- Đầu tư xây dựng
hạ tầng kỹ thuật khu văn hóa thể thao và sân vận động 20.000 chỗ thuộc Trung
tâm văn hóa thể thao tỉnh Lâm Đồng; huy động xã hội hóa việc đầu tư xây dựng
các hạng mục còn lại.
Quy hoạch và hình
thành các khoa đào tạo chuyên ngành văn hóa tại Trường cao đẳng du lịch để gắn
kết văn hóa với du lịch và đào tạo nguồn nhân lực chuyên ngành văn hóa tại địa
phương.
- Quy hoạch, xây dựng
Trường năng khiếu thể dục thể thao cấp tỉnh giai đoạn 2016 - 2020 và các khu
liên hợp thể thao các huyện, thành phố. Đầu tư cải tạo, nâng cấp, sửa chữa các
cơ sở thể dục thể thao hiện có gắn liền với trang thiết bị dụng cụ ngày càng hiện
đại, đạt tiêu chuẩn quốc gia.
III. Các giải pháp chủ yếu phát triển đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng:
1. Nâng cao chất
lượng công tác quy hoạch và quản lý, thực hiện quy hoạch:
- Các Sở, ngành, địa
phương căn cứ vào quy hoạch phát triển kinh tế xã hội tỉnh Lâm Đồng đến năm
2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; căn cứ vào chương trình hành động số
317/Ctr-UBND ngày 01/02/2012 của UBND tỉnh Lâm Đồng về việc triển khai thực hiện
quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội tỉnh Lâm Đồng đến năm 2020, khẩn
trương rà soát, bổ sung quy hoạch phát triển kinh tế xã hội, quy hoạch ngành,
phân ngành cho phù hợp với yêu cầu phát triển trong giai đoạn đến năm 2020.
- Trên cơ sở rà
soát, điều chỉnh, bổ sung các quy hoạch, lựa chọn các công trình kết cấu hạ tầng
quan trọng có sức lan tỏa, tạo sự đột phá lớn để xây dựng kế hoạch đầu tư trung
và dài hạn có thứ tự ưu tiên đầu tư theo thời gian và phù hợp với các nguồn lực.
Đưa ra khỏi quy hoạch các dự án quá thời gian quy định hoặc không khả thi.
- Tập trung ưu
tiên cho việc lập quy hoạch hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị và hoàn thành sớm
các quy hoạch này vào những năm đầu của giai đoạn 2011- 2015, tạo cơ sở cho việc
đầu tư nâng cấp cải tạo hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị. Đẩy nhanh tiến độ thực
hiện chương trình phát triển nhà ở đô thị, trong đó đặc biệt quan tâm nhà ở xã
hội, nhà ở cho người có thu nhập thấp.
- Tăng cường công
tác quản lý Nhà nước về quy hoạch, xây dựng và tổ chức thực hiện quy hoạch một
cách hiệu quả và khả thi; những công trình không đưa vào quy hoạch hoặc chưa được
bổ sung vào quy hoạch thì không triển khai đầu tư.
- Phê duyệt quy hoạch
tổng thể phát triển giao thông vận tải Lâm Đồng đến năm 2020 và định hướng đến
năm 2030.
- Khẩn trương phê
duyệt và công bố quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2011- 2020 và kế hoạch sử dụng
đất thời kỳ 2011- 2015.
- Rà soát quy hoạch,
tập trung đầu tư nâng cấp và xây dựng một số công trình thủy lợi lớn nhằm cung
cấp nước cho sản xuất, sinh hoạt, cắt lũ hạ lưu, kết hợp kinh doanh du lịch.
- Quy hoạch mở rộng
không gian đô thị của thành phố Đà Lạt và quy hoạch mở rộng đô thị ở các thị trấn,
thị tứ.
2. Thu hút và sử dụng
các nguồn vốn đầu tư có hiệu quả:
a) Nhu cầu vốn đầu
tư:
Tổng nhu cầu vốn đầu
tư theo các chương trình, dự án được quy hoạch cả giai đoạn 2011 - 2020 khoảng
115.000 tỷ đồng, tương đương 5,75 tỷ USD (chưa tính trượt giá theo thời gian),
cụ thể như sau:
Giai đoạn 2011 -
2015: tổng nhu cầu đầu tư khoảng 44.000 tỷ đồng (tương đương 2,2 tỷ USD). Trong
đó, hạ tầng giao thông 18.000 tỷ đồng; điện 2.900 tỷ đồng; thủy lợi 2.000 tỷ đồng;
cấp nước sinh hoạt nông thôn 700 tỷ đồng; hạ tầng đô thị 5.300 tỷ đồng; hạ tầng
khu công nghiệp và cụm công nghiệp 2.000 tỷ đồng; hạ tầng thương mại 4.300 tỷ đồng;
hạ tầng giáo dục đào tạo 3.300 tỷ đồng; hạ tầng y tế 2.300 tỷ đồng; hạ tầng
thông tin truyền thông 800 tỷ đồng; hạ tầng văn hóa thể thao du lịch 2.400 tỷ đồng.
Giai đoạn 2016 -
2020: tổng nhu cầu đầu tư khoảng 71.000 tỷ đồng (tương đương 3,55 tỷ USD).
Trong đó, hạ tầng giao thông 53.900 tỷ đồng; điện 1.300 tỷ đồng, thủy lợi 2.200
tỷ đồng; cấp nước sinh hoạt nông thôn 600 tỷ đồng; hạ tầng đô thị 4.400 tỷ đồng;
hạ tầng khu công nghiệp và cụm công nghiệp 1.700 tỷ đồng; hạ tầng thương mại
200 tỷ đồng; hạ tầng giáo dục đào tạo 3.400 tỷ đồng; hạ tầng y tế 1.400 tỷ đồng;
hạ tầng thông tin truyền thông 1.100 tỷ đồng; hạ tầng văn hóa thể thao du lịch
800 tỷ đồng.
b) Khả năng huy động
vốn:
Giai đoạn 2012 -
2015: theo kế hoạch 5 năm 2011 - 2015 đã đề ra, tốc độ tăng trưởng GDP đạt bình
quân 15 - 16%/năm; mức huy động vốn đầu tư xã hội bằng 40% GDP, tăng bình quân
18 - 18,6%/năm. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội 5 năm khoảng 85.000 tỷ đồng; trong
đó vốn ngân sách Nhà nước (gồm: vốn ngân sách địa phương và vốn hỗ trợ từ ngân
sách Trung ương) là 5.000 tỷ, chiếm 5,90%; Vốn trái phiếu Chính phủ: 1.500 tỷ,
chiếm 1,76%; Vốn tín dụng đầu tư Nhà nước: 1.500 tỷ, chiếm 1,76%; Vốn doanh
nghiệp Nhà nước: 3.010 tỷ, chiếm 3,54%; Vốn FDI: 3.990 tỷ chiếm 4,7%; Vốn khu vực
dân cư và doanh nghiệp tư nhân 70.000 tỷ, chiếm 82,35%.
Giai đoạn 2016 -
2020: theo quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội của tỉnh dự báo tốc độ tăng trưởng
GDP đạt bình quân 13,5 - 14%/năm; tổng vốn đầu tư toàn xã hội 5 năm khoảng
200.000 tỷ đồng; trong đó vốn ngân sách Nhà nước (gồm: vốn ngân sách địa phương
và vốn hỗ trợ từ ngân sách Trung ương) là 7.500 tỷ, chiếm 3,75%; Vốn trái phiếu
Chính phủ: 2.000 tỷ, chiếm 1%; Vốn tín dụng đầu tư Nhà nước: 2.000 tỷ, chiếm
1%; Vốn doanh nghiệp Nhà nước: 5.000 tỷ, chiếm 2,5%; Vốn FDI: 5.000 tỷ chiếm
2,5%; Vốn khu vực dân cư và doanh nghiệp tư nhân 178.500 tỷ, chiếm 89,25%.
Như vậy, trong 10
năm 2011 - 2020, tổng mức đầu tư cho phát triển toàn xã hội khoảng 285.000 tỷ đồng.
Trong đó đầu tư cho cơ sở hạ tầng chiếm 20% tổng vốn đầu tư toàn xã hội (khoảng
57.000 tỷ đồng), còn thiếu khoảng 58.000 tỷ đồng (115.000 tỷ - 57.000 tỷ); cần
phải có phương án giải quyết nguồn vốn này từ các hình thức: đổi đất lấy hạ tầng,
giao đất thu tiền 1 lần trong thời gian hoạt động của các dự án, tìm nguồn vốn
tài trợ ODA, vốn BOT, BT, BTO, PPP và một số phương thức khác… để thực hiện mục
tiêu Đề án đã đề ra.
c) Các giải pháp
thu hút và sử dụng vốn đầu tư:
- Đối với các công
trình kết cấu hạ tầng sử dụng nguồn vốn từ ngân sách Trung ương, vốn tài trợ
ODA, công trình thuộc sự quản lý của sở, ngành nào thì các sở, ngành xây dựng
các dự án, chuẩn bị các điều kiện về thủ tục đầu tư, tích cực quan hệ với các Bộ,
ngành của Trung ương để tranh thủ sự đồng ý và đưa vào đầu tư trong thời gian sớm
nhất có thể, nhất là các dự án được đầu tư từ nguồn vốn của các bộ ngành Trung
ương.
- Các tuyến đường
có khả năng khai thác vốn từ quỹ đất như đường vành đai thành phố Đà Lạt, đường
vành đai thành phố Bảo Lộc, đường vành đai các thị trấn, thị tứ: thu hồi đất
xây dựng đường đồng thời với thu hồi đất ở, đất chuyên dùng bằng nguồn vốn phát
triển quỹ đất trên tuyến đường đi qua trước khi đầu tư xây dựng đường; sau khi
tuyến đường được xây dựng xong, địa phương tiến hành đấu giá đất để hoàn vốn đầu
tư cho ngân sách, phần còn lại tập trung đầu tư cho các kết cấu hạ tầng kinh tế
xã hội.
- Xây dựng các đề
án huy động mạnh nguồn lực của đất đai vào phát triển kết cấu hạ tầng. Thực hiện
cơ chế đấu giá quyền sử dụng đất đối với các dự án kinh doanh để tạo vốn đầu tư
xây dựng kết cấu hạ tầng.
- Đối với việc đầu
tư đường giao thông nông thôn phục vụ xây dựng nông thôn mới thực hiện theo cơ
chế “nhân dân làm công trình, Nhà nước hỗ trợ vật tư” đã được UBND tỉnh phê duyệt
theo Quyết định 1429/QĐ-UBND ngày 01/7/2011.
- Để huy động các
nguồn lực đầu tư phát triển thủy lợi, cần thực hiện tốt phương châm Nhà nước và
nhân dân cùng làm: Nhà nước xây dựng công trình tạo nguồn, nhân dân xây dựng
công trình tưới.
- Thu hút mạnh các
thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, bảo đảm lợi ích
thỏa đáng của nhà đầu tư. Xây dựng các phương án, dự án đổi đất lấy hạ tầng,
giao đất thu tiền 1 lần trong thời gian hoạt động của các dự án đầu tư ngoài
ngân sách, khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư theo hình thức BOT, BT,
BTO, PPP… Tiếp tục tranh thủ các nguồn vốn ODA, đầu tư trực tiếp của nước
ngoài, các tổ chức quốc tế WB, ADB, …
- Đẩy mạnh công
tác quảng bá, xúc tiến đầu tư nhằm thu hút tốt nguồn vốn đầu tư bằng nhiều hình
thức thích hợp, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển các thị trường vốn, phát
triển các hình thức liên doanh, liên kết đầu tư, góp vốn đầu tư.
- Đẩy mạnh xã hội
hóa đầu tư, nhất là trong các lĩnh vực giáo dục, đào tạo, y tế, văn hóa, thể
thao, khoa học công nghệ, bảo vệ môi trường.
3. Về công tác giải
phóng mặt bằng:
- Thực hiện đúng
quy trình, quy định của pháp luật về bồi thường giải phóng mặt bằng, tái định
canh, tái định cư trong quá trình tổ chức thực hiện các dự án, công trình. Công
khai minh bạch cơ chế, chính sách về bồi thường, hỗ trợ, đồng thời phát huy vai
trò của hệ thống chính trị trong công tác tuyên truyền, vận động nhân dân trong
vùng dự án thực hiện đúng chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước về đất
đai, về bồi thường giải phóng mặt bằng.
- Các địa phương
rà soát lại quỹ đất, quỹ nhà thuộc sở hữu Nhà nước để có kế hoạch phục vụ cho
việc tái định cư, tái định canh khi tiến hành thu hồi đất xây dựng kết cấu hạ tầng.
- Các địa phương
xây dựng một số đề án để tạo quỹ nhà, quỹ đất phục vụ cho tái định cư, tái định
canh theo hướng vay vốn từ Quỹ phát triển đất của tỉnh, của Ngân hàng Phát triển
và các tổ chức tín dụng khác để đầu tư hạ tầng, sau đó tiến hành giao đất cho
các nhà đầu tư và nhân dân nhằm tạo phần chênh lệch giữa tiền giao đất và vốn
vay để đầu tư kết cấu hạ tầng.
4. Nâng cao hiệu lực,
hiệu quả quản lý Nhà nước về đầu tư kết cấu hạ tầng:
- Quản lý tốt việc
xây dựng quy hoạch và triển khai thực hiện quy hoạch trong phạm vi cả tỉnh, từng
ngành, từng địa phương. Tiếp tục hoàn thiện các quy định về công tác lập, thẩm
định, phê duyệt, giám sát và tổ chức thực hiện quy hoạch.
- Đẩy mạnh cải
cách hành chính, giảm thiểu hoặc cắt giảm các thủ tục hành chính không vần thiết;
tạo môi trường đầu tư thuận lợi nhằm thu hút các nhà đầu tư tham gia đầu tư hạ
tầng giao thông với chính sách ưu đãi, thủ tục hành chính gọn nhẹ, thông thoáng.
Hoàn thiện hệ thống định mức, đơn giá, quy chuẩn kỹ thuật, chế độ lập và duyệt
dự toán, kiểm toán, chế tài xử phạt nghiêm để quản lý, đánh giá, giám sát nhằm
bảo đảm chất lượng công trình; chống tiêu cực, thất thoát, lãng phí trong việc
đầu tư hạ tầng.
- Ứng dụng công
nghệ thông tin và phương pháp quản lý hiện đại trong việc tổ chức xây dựng,
khai thác và quản lý các công trình kết cấu hạ tầng. Tăng cường công tác tư vấn,
giám sát độc lập nhằm nâng cao chất lượng công trình; kiểm soát chặt chẽ suất đầu
tư, rút ngắn tiến độ thực hiện để đưa vào khai thác sử dụng và quản lý có hiệu
quả.
- Hoàn thiện cơ chế
phân cấp đầu tư, phân bổ nguồn vốn để vừa phát huy tính chủ động, sáng tạo, đề
cao trách nhiệm của chính quyền địa phương các cấp, vừa bảo đảm sự quản lý thống
nhất của các cấp, các ngành, đồng thời tăng cường giám sát, kiểm tra, thanh tra
và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm trong lĩnh vực đầu tư phát triển kết cấu hạ
tầng.
- Làm tốt công tác
tuyên truyền vận động, tạo sự đồng thuận trong xã hội để các tầng lớp nhân dân ủng
hộ và chia sẻ trách nhiệm với Nhà nước trong đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng
của tỉnh.
Phần thứ ba
TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1. Các Sở Xây dựng,
Giao thông Vận tải, Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, Công Thương, Giáo dục
Đào tạo, Y tế, Văn hóa- Thể thao & Du Lịch, Thông tin Truyền thông, Tài
nguyên Môi trường, Khoa học Công nghệ theo chức năng nhiệm vụ được giao chủ động
xây dựng chương trình, kế hoạch thực hiện đề án, gởi Sở Kế hoạch & Đầu tư
thẩm định trình UBND tỉnh phê duyệt.
2. Sở Kế hoạch
& Đầu tư chủ trì cùng Sở Tài Chính thẩm định chương trình, kế hoạch của từng
ngành, cân đối nguồn vốn và lộ trình thực hiện trình UBND tỉnh phê duyệt làm cơ
sở để các ngành triển khai thực hiện trong cả giai đoạn.
3. Thủ trưởng các
sở ngành thuộc tỉnh, Chủ tịch UBND các huyện, thành phố tập trung chỉ đạo, tăng
cường kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện đề án này. Định kỳ 6 tháng, 1 năm báo
cáo UBND tỉnh tình hình thực hiện đồng gởi Sở Kế hoạch & Đầu tư để tổng hợp
báo cáo UBND tỉnh.
Trong quá trình tổ
chức thực hiện, các sở, ngành, địa phương thường xuyên rà soát, chủ động phối hợp
với Sở Kế hoạch & Đầu tư báo cáo, đề xuất UBND tỉnh xem xét điều chỉnh, bổ
sung vào Đề án những nội dung mới theo yêu cầu thực tiễn phát triển kinh tế -
xã hội và an ninh quốc phòng của tỉnh Lâm Đồng nói riêng và cả nước nói
chung./.