CHƯƠNG TRÌNH
CÔNG TÁC DÂN SỐ - KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH
GIAI ĐOẠN 2011 - 2015 TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH
(ban hành kèm theo Quyết định số 24/2010 /QĐ-UBND ngày 12/12/2010 của
UBND tỉnh)
I. SỰ CẦN
THIẾT VÀ CĂN CỨ XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH
1. Thực trạng, thách thức đối
với các mục tiêu dân số - kế hoạch hóa gia đình
Sau 2 năm thực hiện Chỉ thị số
36-CT/TU ngày 14/10/2009 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tăng cường sự lãnh đạo của
Đảng đối với công tác Dân số - kế hoạch hóa gia đình; Nghị quyết số
96/2008/NQ-HĐND ngày 05/12/2008 của HĐND tỉnh về thực hiện công tác DS -
KHHGĐ giai đoạn 2009 - 2010 trên địa bàn tỉnh; Đề án công tác DS - KHHGĐ giai
đoạn 2009 - 2010 của UBND tỉnh, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền,
sự phối hợp của các ngành, đoàn thể tiến hành đồng bộ các giải pháp, công tác
DS - KHHGĐ đạt được một số kết quả quan trọng. Tổ chức bộ máy làm công tác DS -
KHHGĐ các cấp nhanh chóng ổn định, đi vào hoạt động có nền nếp. Phong trào xây
dựng quy mô gia đình có từ 01 đến 02 con được sự hưởng ứng tích cực của đông đảo
nhân dân và có 86% cặp vợ chồng thực hiện. Công tác truyền thông và chính
sách DS - KHHGĐ được triển khai thường xuyên và rộng khắp đến vùng sâu, vùng
xa gây tác động mạnh, góp phần khống chế tăng sinh ở mức 15,8%o năm 2009 xuống
còn 15,4%o năm 2010. Tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên giảm từ 8,46% năm 2008
xuống còn 7,49% năm 2009 và 7% năm 2010. Các hoạt động nâng cao chất lượng
dân số và đảm bảo cân bằng giới tính khi sinh được triển khai tích cực.
Tuy nhiên, công tác DS- KHHGĐ còn
nhiều hạn chế và thách thức, thiếu tính bền vững. Xây dựng mô hình xã, phường,
thị trấn không có người sinh con thứ ba trở lên không đạt mục tiêu đề ra
(thực hiện 18/mục tiêu 30 xã, phường). Số người thực hiện các biện pháp
tránh thai có hiệu quả như dụng cụ tử cung, đình sản giảm, kinh phí thực hiện
(kể cả TW và địa phương) còn thấp so yêu cầu. Tỷ số mất cân bằng giới tính khi
sinh vẫn còn cao (115 nam/100 nữ). Chất lượng dân số còn hạn chế. Tỷ lệ trẻ sơ
sinh bị mắc các bệnh, tật di truyền, tỷ suất chết trẻ em, tỷ lệ suy dinh dưỡng ở
trẻ em còn ở mức cao. Tình trạng phá thai và phá thai nhiều lần còn phổ biến, đặc
biệt là ở lứa tuổi vị thành niên - thanh niên có xu hướng tăng. Nhiễm khuẩn đường
sinh sản khá phổ biến, bệnh lây truyền qua đường tình dục, tỷ lệ nhiễm HIV và
ung thư đường sinh sản có xu hướng tăng.
Nguyên nhân khách quan của
tình hình trên là do cơ cấu dân số trẻ (độ tuổi bước vào tuổi sinh đẻ tăng
2%, trong khi đó bước ra chỉ 1%), làm tăng nhóm tuổi có điều kiện đẻ, tạo áp lực
rất lớn trong việc kiềm hãm mức sinh; trình độ dân trí ở vùng sâu, vùng xa còn
thấp; quan niệm năm tốt, năm xấu để sinh con, thích con trai vẫn còn phổ biến
trong nhân dân; việc thích ứng với cơ chế tổ chức bộ máy mới của đội ngũ làm
công tác DS - KHHGĐ các cấp còn chậm. Về chủ quan do sự lãnh đạo, chỉ đạo
của cấp ủy, chính quyền có lúc, có nơi thiếu tập trung, sâu sát và thiếu kiểm
tra, có tình trạng giao khoán cho cơ quan chuyên môn. Sự phối hợp, tham gia của
các ban, ngành, đoàn thể chưa chặt chẽ, đồng bộ thường xuyên. Đội ngũ làm công
tác DS - KHHGĐ từ tỉnh đến cơ sở trình độ chuyên môn còn hạn chế, công tác tham
mưu chưa theo kịp yêu cầu, chế độ đãi ngộ chưa phù hợp. Cơ chế quản lý, phối hợp
trong công tác DS - KHHGĐ còn bất cập. Chất lượng dịch vụ kế hoạch hóa gia
đình còn hạn chế, đặc biệt ở tuyến cơ sở thiếu nhân lực và trang thiết bị. Nội
dung, hình thức truyền thông thiếu toàn diện và chưa thật sự phù hợp với
đặc điểm của từng nhóm đối tượng, chưa theo kịp sự phát triển kinh tế - xã hội,...
Trước hạn chế, thách thức trên,
cần thiết phải xây dựng chương trình về công tác DS - KHHGĐ để duy trì mức
sinh thay thế, đảm bảo quy mô, cơ cấu dân số hợp lý, nâng cao chất lượng dân số,
chất lượng cuộc sống, tạo điều kiện nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong
tương lai, góp phần thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh.
2. Căn cứ xây dựng Chương
trình
Nghị quyết số 31/NQ-CP ngày
18/8/2010 của Chính phủ về ban hành Kế hoạch hành động của Chính phủ giai đoạn
2010 - 2015 thực hiện Kết luận số 44-KL/TW ngày 01/4/2009 của Bộ Chính trị về kết
quả 3 năm thực hiện Nghị quyết số 47-NQ/TW ngày 22/3/2005 của Bộ Chính trị
(khóa IX) về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách dân số - kế hoạch hóa gia
đình.
II. QUAN ĐIỂM
CHỈ ĐẠO VÀ MỤC TIÊU
1. Quan điểm
Công tác DS - KHHGĐ là bộ phận
quan trọng của chiến lược phát triển tỉnh nhà, là một trong những vấn đề kinh tế-
xã hội hàng đầu của tỉnh, là yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng và phát huy
thế mạnh về nguồn nhân lực, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa tỉnh
nhà và nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình và cộng
đồng xã hội.
Huy động sự tham gia của cả hệ
thống chính trị và toàn xã hội trong thực hiện công tác DS - KHHGĐ, trong đó
chú trọng tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền,
xem đây là giải pháp có tính quyết định sự thành công của công tác DS - KHHGĐ.
Tập trung vận động, tuyên truyền,
giáo dục nhằm nâng cao nhận thức của các ngành, các cấp và người
dân, qua đó thúc đẩy phong trào quần chúng thực hiện KHHGĐ.
Tập trung nhiều nguồn lực
từ chương trình mục tiêu quốc gia, ngân sách các cấp, vận động cộng
đồng xã hội để tăng đầu tư cho công tác DS- KHHGĐ, đảm bảo thực hiện thắng
lợi các mục tiêu đề ra.
2. Mục tiêu (tính đến năm
2015)
2.1. Mục tiêu giảm sinh
- Kiên trì thực hiện mục tiêu
gia đình ít con để nuôi dạy tốt, mỗi cặp vợ chồng chỉ có một hoặc hai con để
duy trì mức sinh thay thế của tỉnh, giảm tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên từ 0,4-
0,6%/năm. Phấn đấu hàng năm mỗi huyện, thành phố có thêm 01 xã, phường, thị
trấn không có người sinh con thứ ba trở lên để đến năm 2015 toàn tỉnh có 30% số
xã, phường, thị trấn đạt chuẩn không có người sinh con lần thứ ba trở lên;
- Giảm tỷ suất sinh thô từ
0,2%o - 0,3%o/năm. Phấn đấu đạt tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên dưới 1% theo
nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ IX.
2.2. Mục tiêu về cơ cấu và
chất lượng dân số
- Khống chế, giảm thiểu tình trạng
mất cân bằng giới tính khi sinh, đạt tỷ số giới tính khi sinh dưới 110 nam/100
nữ;
- Giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng (về
cân nặng) trẻ em dưới 5 tuổi còn dưới 16% . Giảm tỷ lệ tử vong trẻ dưới 1 tuổi
và dưới 5 tuổi từ 0,5%o - 1%o/năm;
- Có 70% thai phụ được thực hiện
các kỹ thuật chẩn đoán trước sinh và 70% trẻ sinh ra được thực hiện kỹ thuật
sàng lọc sơ sinh.
- Khống chế số người nhiễm
HIV/AIDS dưới 0,3%;
- Có 95% cặp nam, nữ thực hiện
tư vấn và kiểm tra sức khỏe trước khi kết hôn.
- Tỷ số phá thai dưới 25/100 trẻ
sinh còn sống.
III. CÁC
NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
1. Tăng cường sự lãnh đạo,
chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp
- Đưa công tác DS - KHHGĐ thành
nội dung quan trọng trong chương trình công tác của cấp ủy Đảng, chính quyền;
hàng năm cấp ủy Đảng, HĐND có Nghị quyết chuyên đề về công tác DS - KHHGĐ. Định
kỳ hàng quí báo cáo kết quả thực hiện cho cấp ủy Đảng và chính
quyền để lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời.
- Lấy kết quả thực hiện mục
tiêu chính sách DS - KHHGĐ là một trong những chỉ tiêu chính để đánh giá mức độ
hoàn thành nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị và cá nhân.
- Phát động phong trào cán bộ
công chức, viên chức, lực lượng vũ trang gương mẫu thực hiện chủ trương mỗi cặp
vợ chồng có một hoặc hai con và tích cực vận động gia đình và toàn dân thực hiện
tốt chính sách DS - KHHGĐ. Kiểm tra và xử lý nghiêm những cán bộ, công chức,
viên chức, lực lượng vũ trang vi phạm chính sách DS - KHHGĐ theo đúng quy định
hiện hành.
2. Tiếp tục ổn định và kiện
toàn cơ quan chuyên trách làm công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình
- Tăng cường hoạt động của Ban
chỉ đạo công tác DS - KHHGĐ các cấp theo quy chế, đảm bảo tốt vai trò phối hợp
liên ngành trong công tác DS - KHHGĐ. Các sở, ngành, đoàn thể, tổ chức kinh tế
xã hội và đơn vị phải củng cố và đẩy mạnh hoạt động Ban chỉ đạo công tác DS -
KHHGĐ, đảm bảo thực hiện tốt mục tiêu DS - KHHGĐ.
- Kiện toàn tổ chức bộ máy làm
công tác DS - KHHGĐ chuyên trách từ tỉnh đến cơ sở. Bố trí, tuyển dụng công chức,
viên chức có đủ năng lực làm công tác DS - KHHGĐ. Tăng cường biên chế cho Chi cục
DS - KHHGĐ hoạt động theo đúng chức năng nhiệm vụ, trước mắt năm 2011 bố trí ít
nhất 22 biên chế.
- Đối với Trung tâm DS - KHHGĐ
huyện, thành phố nâng cao năng lực hoạt động theo hướng tăng cường sự lãnh đạo,
chỉ đạo trực tiếp của cấp ủy Đảng, chính quyền và sự phối hợp giữa các ngành,
đoàn thể trên địa bàn; bố trí đủ biên chế theo quy mô dân số, đảm bảo thực hiện
có hiệu quả chức năng nhiệm vụ.
- Đối với cán bộ chuyên trách
DS - KHHGĐ cấp xã phải ổn định, không kiêm nhiệm các công tác khác và đảm bảo
đạt chuẩn theo Thông tư số 05/2008/TT-BYT ngày 14/5/2008 của Bộ Y tế.
- Củng cố mạng lưới cộng tác
viên công tác DS - KHHGĐ, trẻ em và gia đình ở địa bàn dân cư, mỗi cộng tác
viên quản lý tối đa 100 hộ (đối với xã vùng sâu, vùng xa), 100- 150 hộ (đối với
các khu vực còn lại), đào tạo nâng cao năng lực đội ngũ này.
3. Đẩy mạnh công tác tuyên
truyền, vận động và giáo dục về DS - KHHGĐ nhằm nâng cao nhận thức và chuyển đổi
hành vi trong thực hiện chính sách DS - KHHGĐ
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền,
vận động giáo dục về DS- KHHGĐ bằng nhiều hình thức phong phú và nội dung
phù hợp với từng nhóm đối tượng, tập trung ở vùng đông dân, vùng có mức tăng
sinh, tăng tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên, vùng sâu, vùng xa, vùng có xu hướng
có tỷ số giới tính tăng cao.
Thông tin định kỳ quý, 6 tháng,
năm về tình hình dân số, tình hình thực hiện mục tiêu chính sách cho lãnh đạo cấp
ủy Đảng, HĐND, UBND các cấp.
Xây dựng, củng cố mạng lưới báo
cáo viên, tư vấn viên, tuyên truyền viên của ngành, đoàn thể các cấp để tham
gia công tác tuyên truyền vận động thực hiện chính sách dân số.
Xây dựng chuyên mục DS - KHHGĐ
hàng tháng trên Báo Long An, Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh phản ánh kịp
thời đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về DS - KHHGĐ; giới
thiệu gương người tốt việc tốt, điển hình tiên tiến, các mô hình hoạt động có
hiệu quả; phê phán các hành vi vi phạm chính sách dân số, biểu hiện tiêu cực
trong tổ chức thực hiện công tác DS - KHHGĐ. Xây dựng, sửa chữa các cụm panô,
tuyên truyền vận động về chính sách DS - KHHGĐ. Sản xuất, nhân bản sản phẩm
truyền thông đáp ứng yêu cầu thông tin giáo dục truyền thông về DS - KHHGĐ cho
nhân dân.
Nhân rộng mô hình xã, phường,
thị trấn không có người sinh con thứ 3 trở lên, lồng ghép với phong trào xây dựng
đời sống văn hóa ở cơ sở. Nhân rộng các mô hình truyền thông có nội dung DS -
KHHGĐ của các ngành, đoàn thể.
Triển khai chương trình truyền
thông giáo dục dân số, giới, giới tính, sức khỏe sinh sản, kế hoạch hóa gia
đình phù hợp với các cấp học, bậc học cho vị thành niên/thanh niên trong và
ngoài trường học.
Duy trì triển khai chiến dịch
tăng cường truyền thông lồng ghép cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản
hàng năm, đặc biệt ở vùng có mức sinh, mức sinh con thứ ba trở lên cao, vùng
khó khăn, vùng sâu, vùng xa nhằm giảm mạnh tỷ lệ sinh và tỷ lệ sinh con thứ ba
trở lên.
4. Tăng cường đầu tư nguồn
lực gắn với điều chỉnh chế độ chính sách DS- KHHGĐ
Ngoài nguồn ngân sách Trung
ương hỗ trợ có mục tiêu, ngân sách tỉnh, huyện, xã bố trí chi đảm bảo thực hiện
đạt các mục tiêu DS - KHHGĐ đề ra.
Sửa đổi, bổ sung Quyết định số
41/2009/QĐ-UBND ngày 29/7/2009 của UBND tỉnh về việc ban hành một số chế độ
chính sách DS - KHHGĐ giai đoạn 2009 - 2010, với những nội dung như sau:
. Duy trì chế độ các cặp vợ chồng
có một hoặc hai con đăng ký thôi đẻ hẳn, khi con đi học được giảm 50% học phí từ
ngành học mầm non đến bậc trung học thuộc hệ thống quốc dân.
. Duy trì chế độ miễn phí cho
người thực hiện đình sản, đặt dụng cụ tử cung, tiêm thuốc tránh thai, cấy thuốc
tránh thai tại cơ sở y tế nhà nước; miễn phí khi điều trị do tác dụng phụ, vỡ kế
hoạch, tai biến khi thực hiện các biện pháp tránh thai; miễn phí khi tư vấn và
kiểm tra sức khỏe trước khi kết hôn và siêu âm chẩn đoán di tật thai nhi cho
các thai phụ.
. Ngoài mức hỗ trợ của Trung
ương, mức bồi dưỡng cho người đình sản 1.000.000đ và bảo hiểm y tế
hai năm; bồi dưỡng người có công vận động đình sản 100.000đ/ca. Cộng tác viên
DS - KHHGĐ, trẻ em và gia đình được cấp thẻ bảo hiểm y tế trong thời gian thực
hiện nhiệm vụ và bồi dưỡng từ 250.000đ/ người/tháng.
. Khen thưởng: xã, phường, thị
trấn đăng ký và xây dựng thành công mô hình không có người sinh con thứ ba trở
lên được xét tặng cờ thi đua xuất sắc của Ủy ban nhân dân tỉnh, sau đó mỗi năm
tiếp tục duy trì được mô hình này thì được xét tặng cờ thi đua xuất sắc của Ủy
ban nhân dân tỉnh, nếu duy trì mô hình này được 03 năm liên tục trở lên được
xét đề nghị Trung ương khen thưởng cao hơn, còn được xem xét đầu tư công
trình phúc lợi có giá trị từ 200.000.000 đồng trở lên.
. Xử lý vi phạm chính sách dân
số: đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong các doanh nghiệp
Nhà nước, cán bộ xã, phường, thị trấn, cán bộ chiến sĩ thuộc lực lượng vũ trang
sinh con lần thứ ba trở lên sẽ bị kỷ luật với hình thức cảnh cáo, nếu có chức
vụ sẽ miễn nhiệm chức vụ, không xem xét bổ nhiệm chức vụ, nếu tiếp tục sinh con
lần thứ tư trở lên thì xem xét xử lý kỷ luật với hình thức cao hơn.
5. Mở rộng và nâng cao chất
lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản và kế hoạch hóa gia đình (CSSKSS-
KHHGĐ)
Nâng cấp cơ sở vật chất, trang
thiết bị và đào tạo nâng chất lượng đội ngũ làm dịch vụ CSSKSS - KHHGĐ, đảm bảo
cung cấp dịch vụ an toàn, thuận tiện và có chất lượng cho người sử dụng. Phấn đấu
đến năm 2015 đạt 90% bệnh viện huyện có cơ sở mổ đình sản, 100% Trung tâm DS -
KHHGĐ huyện, thành phố thực hiện tốt chức năng cung cấp dịch vụ CSSKSS - KHHGĐ,
85% trạm y tế thực hiện tốt dịch vụ CS SKSS - KHHGĐ. Tạo điều kiện thuận lợi
để các cơ sở y tế tư nhân tham gia cung cấp dịch vụ CSSKSS - KHHGĐ. Tiếp tục
duy trì và tổ chức tốt việc cung cấp các phương tiện tránh thai phi lâm sàng đến
từng hộ gia đình.
Đảm bảo tiếp nhận, cung ứng và
bảo quản tốt phương tiện tránh thai đáp ứng cho nhu cầu sử dụng. Xây dựng, triển
khai đề án tiếp thị xã hội các phương tiện tránh thai.
Tổ chức thường xuyên các chiến
dịch truyền thông dân số lồng ghép cung cấp dịch vụ CSSKSS - KHHGĐ hàng năm, tập
trung nơi có mức sinh và sinh con thứ ba trở lên cao ở vùng sâu, vùng xa.
Xây dựng và triển khai đề án
cung cấp dịch vụ CSSKSS - KHHGĐ phù hợp với vị thành niên, thanh niên.
6. Thực hiện chương trình
nâng cao chất lượng dân số
Tăng cường trang thiết bị, đào
tạo đội ngũ cán bộ để thực hiện tốt các kỹ thuật kiểm tra sức khỏe tiền hôn
nhân, phát hiện các bệnh bẩm sinh của trẻ sơ sinh, chẩn đoán trước sinh ở các
cơ sở dịch vụ kỹ thuật KHHGĐ từ tỉnh đến huyện.
Tập trung triển khai chương
trình, kế hoạch, dự án phòng chống HIV/AIDS; chương trình phòng chống suy dinh
dưỡng cho trẻ em dưới 5 tuổi.
Đẩy mạnh phong trào rèn luyện
thân thể, bảo vệ sức khỏe và cải thiện môi trường sống tại cộng đồng dân cư;
xây dựng và triển khai chương trình dự án tăng cường thể lực cho vị thành niên,
thanh niên.
7. Chủ động kiểm soát và giải
quyết các nguyên nhân sâu xa làm mất cân bằng giới tính của trẻ sơ sinh
Tăng cường công tác truyền
thông giáo dục gắn với thường xuyên kiểm tra, thanh tra và xử lý theo quy định
của pháp luật về việc lưu hành, phổ biến các nội dung hướng dẫn lựa chọn giới
tính thai nhi; lạm dụng kỹ thuật cao để chẩn đoán, xác định giới tính và lựa chọn
giới tính thai nhi.
Nghiên cứu xác định nguyên nhân
sâu xa dẫn tới mất cân bằng giới tính khi sinh và đề ra các giải pháp để giải
quyết vấn đề.
8. Xây dựng, hoàn thiện hệ
thống thông tin, dữ liêu dân cư và đẩy mạnh nghiên cứu khoa học về DS - KHHGĐ
Thực hiện tốt việc thu thập,
báo cáo dữ liệu thống kê về DS - KHHGĐ; tổ chức tốt các cuộc điều tra biến động
DS - KHHGĐ hàng năm, đảm bảo cung cấp thông tin, dữ liệu kịp thời, đầy đủ, tin
cậy đáp ứng yêu cầu quản lý, điều hành công tác DS - KHHGĐ các cấp.
Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ hiện
đại xây dựng và vận hành kho dữ liệu dân cư tuyến huyện và từng bước mở rộng đến
cấp xã.
Đẩy mạnh công tác nghiên cứu
khoa học về DS - KHHGĐ để có cơ sở lý luận, thực tiễn cho việc đánh giá, quản
lý, điều hành và tổ chức thực hiện tốt công tác này ở các cấp.
IV. TỔ CHỨC
THỰC HIỆN
Trên cơ sở chức năng nhiệm vụ
được giao, các Sở ngành chủ trì xây dựng và triển khai thực hiện Chương trình
công tác DS - KHHGĐ lồng ghép với các đề án, quy hoạch, kế hoạch phát triển
kinh tế - xã hội của ngành và địa phương, cụ thể như sau:
1. Sở Y tế: chủ trì phối hợp các cơ quan chức năng liên quan xây dựng kế hoạch
chương trình cụ thể hàng năm và tổ chức triển khai thực hiện, theo dõi giám
sát và đánh giá kết quả thực hiện Chương trình, báo cáo cho Đại biểu HĐND, Thường
trực HĐND tỉnh và UBND tỉnh.
2. Sở Kế hoạch và Đầu tư: chủ trì phối hợp với Sở Y tế cân đối, phân bổ và giao chỉ tiêu kế hoạch
DS - KHHGĐ hàng năm. Xem xét, lồng ghép các yếu tố dân số vào chương trình phát
triển kinh tế của tỉnh.
3. Sở Tài chính: bố trí kinh phí theo chương trình, kế hoạch để triển khai đồng bộ
các nội dung của Chương trình, hướng dẫn các huyện, thành phố bố trí
ngân sách hợp lí cho công tác này.
4. Sở Nội vụ: chủ trì, phối hợp với Sở Y tế củng cố hoàn thiện hệ thống tổ chức bộ
máy làm công tác DS - KHHGĐ các cấp đủ năng lực thực hiện các mục tiêu DS -
KHHGĐ. Phát động phong trào thi đua thực hiện tốt công tác DS- KHHGĐ, đặc biệt
phong trào xây dựng xã, phường, thị trấn không có người sinh con thứ 3 trở lên,
đưa mục tiêu DS - KHHGĐ vào tiêu chí thi đua chính xét hoàn thành nhiệm vụ của
cơ quan, đơn vị thuộc các ngành, các cấp.
5. Sở Giáo dục và Đào tạo: chủ trì, phối hợp với Sở Y tế triển khai nội dung giáo dục dân số,
cung cấp thông tin về CSSKSS cho học sinh ở các trường phổ thông, trung học
chuyên nghiệp.
6. Sở Tư pháp: chủ trì, phối hợp với Sở Y tế, UB MTTQ tỉnh tổng kết đánh giá nhân
rộng việc đưa chính sách dân số vào quy ước ấp, khu phố; phối hợp Sở Y tế triển
khai việc tuyên truyền cho các cặp vợ chồng đăng ký kết hôn về tư vấn, kiểm tra
sức khỏe tiền hôn nhân.
7. Sở Thông tin và Truyền
thông: chủ trì, phối hợp với Sở Y tế triển khai các
hoạt động thông tin, truyền thông về DS - KHHGĐ, sản xuất các ấn phẩm tuyên
truyền về DS - KHHGĐ, kiểm tra, thanh tra, xử lý các hành vi lưu hành, phổ biến
các nội dung hướng dẫn lựa chọn giới tính thai nhi.
8. Sở Văn hóa, Thể thao và
Du lịch: đẩy mạnh cuộc vận động toàn dân đoàn kết
xây dựng đời sống văn hóa, phong trào toàn dân rèn luyện sức khỏe lồng ghép với
xây dựng mô hình xã, phường, thị trấn không có người sinh con thứ 3 trở lên,
đưa tiêu chí không có người sinh con thứ 3 trở lên thành tiêu chuẩn chính xét
công nhận ấp, khu phố, xã, phường, thị trấn văn hóa. Phối hợp Sở Y tế, Sở Giáo
dục và Đào tạo xây dựng triển khai đề án nâng cao thể lực cho vị thành niên -
thanh niên.
9. Đài Phát thanh và Truyền
hình, Báo Long An: chủ trì phối hợp với Sở Y tế xây
dựng chuyên mục DS - KHHGĐ trên sóng phát thanh và truyền hình, Báo Long An.
10.
Cục Thống kê: chủ trì,
phối hợp với Sở Y tế tổ chức thu thập, cung cấp kịp thời, đầy đủ, chính xác số
liệu về DS - KHHGĐ phục vụ quản lý chương trình DS- KHHGĐ và việc xây dựng các
chính sách phát triển kinh tế- xã hội ở địa phương.
11. Ủy ban nhân dân các huyện,
thành phố: căn cứ chương trình của tỉnh, xây dựng
chương trình, kế hoạch cụ thể về công tác DS - KHHGĐ cho phù hợp điều kiện thực
tế ở địa phương và hàng năm bố trí kinh phí tổ chức triển khai thực hiện,
thường xuyên theo dõi, kiểm tra, đôn đốc thực hiện đạt và vượt chỉ tiêu đề
ra.
12. Đề nghị Ủy ban Mặt trận
Tổ quốc tỉnh và các tổ chức thành viên, các tổ chức xã hội: tăng cường tuyên truyền, vận động đoàn viên, hội viên, các tầng lớp
nhân dân tích cực hưởng ứng, tham gia thực hiện tốt chính sách DS - KHHGĐ. Hướng
dẫn mở rộng việc đưa các nội dung thực hiện chính sách DS - KHHGĐ vào quy ước của
ấp, khu phố ./.