|
ỦY BAN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 12/KH-UBND
|
Đà Nẵng, ngày 14
tháng 01 năm 2026
|
KẾ HOẠCH
TRIỂN
KHAI THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT SỐ 02-NQ/TU NGÀY 31/10/2025 VÀ KẾT LUẬN SỐ 05-KL/TU
NGÀY 31/12/2025 CỦA BAN THƯỜNG VỤ THÀNH ỦY VỀ SỬA ĐỔI, BỔ SUNG NGHỊ QUYẾT SỐ
02-NQ/TU NGÀY 31/10/2025, GẮN VỚI THỰC HIỆN MỤC TIÊU XÂY DỰNG THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
KHÔNG MA TÚY ĐẾN HẾT NĂM 2030
Những năm qua, các cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ
quốc và các tổ chức chính trị - xã hội trên địa bàn thành phố đã quan tâm lãnh
đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện, huy động được đông đảo cán bộ, đảng viên và
Nhân dân tích cực tham gia công tác phòng, chống và kiểm soát ma túy, qua đó đã
đạt nhiều kết quả tích cực; công tác phòng ngừa được chú trọng với nhiều nội
dung, hình thức tuyên truyền phong phú, đa dạng; công tác đấu tranh tội phạm, tệ
nạn ma túy được triển khai quyết liệt, triệt phá nhiều đường dây, điểm, tụ điểm
phức tạp về ma túy; công tác cai nghiện, quản lý sau cai được quan tâm; hoạt động
hợp tác phòng, chống ma túy được tăng cường, góp phần tích cực bảo đảm an ninh,
trật tự, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, đối ngoại của thành phố.
Tuy nhiên, tình hình tội phạm, tệ nạn ma túy trên địa
bàn thành phố còn diễn biến phức tạp; phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi,
triệt để lợi dụng không gian mạng để hoạt động. Công tác nắm tình hình, quản lý
địa bàn, đối tượng có lúc, có nơi chưa chặt chẽ; công tác đấu tranh triệt xóa
“nguồn cung” về ma túy chưa triệt để, đối tượng mua bán trái phép chất ma túy
(TPCMT) ngày càng tinh vi, lợi dụng không gian mạng để hoạt động phạm tội và
móc nối với các đối tượng ngoại tỉnh, thậm chí từ Lào đưa về thành phố Đà Nẵng;
“nguồn cầu” về ma túy vẫn còn ở mức cao, các đối tượng sử dụng TPCMT và người
nghiện điều trị bằng Methadone ngoài xã hội chưa được quản lý chặt chẽ, số đối
tượng sót, lọt chưa đưa vào diện quản lý vẫn còn nhiều; công tác quản lý nhà nước
về cư trú, quản lý người nước ngoài và quản lý cơ sở kinh doanh dịch vụ có điều
kiện về ANTT còn những sở hở, thiếu sót để các đối tượng lợi dụng hoạt động phạm
tội, vi phạm pháp luật về ma túy. Người đứng đầu một số cơ quan, đơn vị chưa thật
sự quyết liệt trong lãnh, chỉ đạo, dẫn đến chưa huy động được sức mạnh của cả hệ
thống chính trị và toàn dân tham gia phòng, chống ma túy. Nguồn lực cho công
tác phòng, chống ma túy còn hạn chế.
Dự báo tình hình tội phạm và tệ nạn ma túy trên địa
bàn thành phố thời gian tới tiếp tục diễn biến phức tạp; cùng với xu hướng sử dụng
ma túy tổng hợp và các loại ma túy mới có độc tính cao ngày càng nhiều dẫn đến
nguy cơ gia tăng, khó kiểm soát số người nghiện, người sử dụng trái phép chất
ma túy, gây hệ lụy nghiêm trọng cho sức khỏe, giống nòi, chất lượng lao động;
làm gia tăng các loại tội phạm, tệ nạn xã hội và các hành vi vi phạm pháp luật,
ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Để triển khai thực hiện nghiêm
túc, hiệu quả Nghị quyết số 02-NQ/TU ngày 31/10/2025 của Ban Thường vụ Thành ủy
về tăng cường, nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống và kiểm soát ma túy trên
địa bàn thành phố Đà Nẵng trong tình hình mới và Kết luận số 05-KL/TU ngày
31/12/2025 của Ban Thường vụ Thành ủy về sửa đổi, bổ sung Nghị quyết số
02-NQ/TU ngày 31/10/2025, trong đó xác định tập trung thực hiện thành công mục
tiêu xây dựng thành phố Đà Nẵng không ma túy đến hết năm 2030 và giữ vững
kết quả trong những năm tiếp theo, gắn với tiếp tục triển khai thực hiện hiệu
quả Kết luận số 132-KL/TW ngày 18/3/2025 của Bộ Chính trị và Nghị quyết số
93/NQ-CP ngày 16/4/2025 của Chính phủ về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 36-CT/TW
ngày 16/8/2019 của Bộ Chính trị về tăng cường, nâng cao hiệu quả công tác
phòng, chống và kiểm soát ma túy, UBND thành phố ban hành kế hoạch triển khai
thực hiện như sau:
I. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU
1. Quán triệt và triển khai thực hiện nghiêm
túc, hiệu quả Nghị quyết số 02-NQ/TU, Kết luận số 05-KL/TU của Ban Thường vụ
Thành ủy và các văn bản chỉ đạo của Trung ương về công tác phòng, chống và kiểm
soát ma túy nói chung và xây dựng xã, phường, đặc khu không ma túy nói riêng;
trong đó, tập trung tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước của chính
quyền từ thành phố đến cơ sở; nâng cao tinh thần trách nhiệm của các cấp, các
ngành, các tổ chức chính trị xã hội và Nhân dân; phát huy vai trò nòng cốt của
các lực lượng chuyên trách phòng, chống ma túy và huy động sức mạnh tổng hợp của
cả hệ thống chính trị cùng vào cuộc.
2. Tập trung lực lượng, triển khai đồng bộ
các giải pháp; lấy phòng ngừa là chính, tích cực đấu tranh ngăn chặn ma túy từ
xa, từ sớm là quan trọng để giải quyết tổng thể cả về giảm cung, giảm cầu và giảm
tác hại của ma túy, nhằm ổn định tình hình an ninh, trật tự, góp phần phục vụ sự
nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
3. Việc thực hiện Nghị quyết số 02-NQ/TU, Kết
luận số 05-KL/TU của Ban Thường vụ Thành ủy và các văn bản chỉ đạo của Trung
ương về công tác phòng, chống và kiểm soát ma túy phải được xác định là nhiệm vụ
quan trọng, vừa cấp bách, vừa thường xuyên, liên tục, lâu dài, đòi hỏi sự kiên
trì, bền bỉ, quyết liệt, quyết tâm rất cao và có sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ
của các cấp, các ngành, tổ chức chính trị - xã hội; quá trình thực hiện phải đảm
bảo nghiêm túc, hiệu quả, tiết kiệm, khoa học, đúng quy định, đúng tiến độ,
không hình thức.
II. MỤC TIÊU XÂY DỰNG THÀNH PHỐ
ĐÀ NẴNG KHÔNG MA TÚY ĐẾN HẾT NĂM 2030
1. Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính
trị và toàn dân, kiềm chế, ngăn chặn, đẩy lùi tệ nạn ma túy, đảm bảo mục tiêu hết
năm 2030 phải xây dựng thành công 100% xã, phường, đặc khu trên địa bàn thành
phố đạt tiêu chí không ma túy và giữ vững kết quả thành phố không ma túy trong
những năm tiếp theo, góp phần phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội của địa
phương.
2. Phát hiện, thống kê và lập hồ sơ quản lý chặt
100% người nghiện, người sử dụng trái phép chất ma túy và người bị quản lý sau
cai nghiện ma túy.
3. Phát hiện, đấu tranh xử lý triệt để “nguồn cung”
về ma túy, không để trở thành địa bàn trung chuyển ma túy của khu vực và các nước;
đấu tranh, giải quyết 100% đường dây, điểm tổ chức, chứa chấp sử dụng trái phép
chất ma túy và 100% các đối tượng mua bán trái phép chất ma túy; không để hình
thành, tái phức tạp các điểm, đường dây đã giải quyết.
4. Triệt xóa 100% diện tích trồng cây có chứa chất
ma túy và phòng ngừa, không để trồng và tái trồng cây có chứa chất ma túy.
5. Kiểm soát và quản lý chặt chẽ 100% các loại tiền
chất ma túy, chất gây nghiện, chất hướng thần.
6. Nâng cao hiệu quả công tác cai nghiện, quản lý
sau cai, làm giảm và tiến tới không để phát sinh người nghiện ma túy mới và hạn
chế tình trạng tái nghiện ma túy sau cai nghiện ma túy.
III. PHẠM VI, LỘ TRÌNH XÂY DỰNG
XÃ, PHƯỜNG, ĐẶC KHU KHÔNG MA TÚY ĐẾN NĂM 2030
1. Trên cơ sở đăng ký của xã, phường,
đặc khu và số liệu thống kê về tình hình tội phạm và tệ nạn ma túy trên từng địa
bàn, UBND thành phố đề ra phạm vi và lộ trình đến hết năm 2030 đạt 100% xã, phường,
đặc khu trên địa bàn thành phố Đà Nẵng không ma túy, cụ thể:
a) Năm 2026: Phấn đấu xây dựng ít nhất 40%
xã, phường, đặc khu trên địa bàn thành phố đạt tiêu chí không ma túy (38/94
xã, phường, đặc thù), trong đó:
- Tập trung xây dựng 13 xã, phường không ma
túy, gồm: Đông Giang, Nông Sơn, Trà Tân, Phước Thành, Phú Thuận, Nam Trà My,
Tam Hải, Trà Liên, Thạnh Mỹ, Hội An Đông, Hiệp Đức, Thu Bồn, Hải Châu.
- Tiếp tục giữ vững 25 xã, đặc khu đạt tiêu
chí không ma túy trong năm 2025, gồm: Phước Năng, Đức Phú, Phước Trà, Trà Đốc,
Tây Giang, Trà Leng, Sông Vàng, Sông Kôn, Hùng Sơn, Trà Linh, Quế Phước, Bến Giằng,
Trà Giáp, Phước Hiệp, Phước Chánh, Nam Giang, Bến Hiên, Tân Hiệp, La Dêê, La
Êê, Đắc Pring, Trà Vân, Trà Tập, Avương, Đặc khu Hoàng Sa.
- Những xã, phường còn lại thực hiện quyết liệt
công tác chuyển hóa mức độ trọng điểm phức tạp về ma túy để đảm bảo thực hiện đạt,
vượt tiến độ xây dựng xã, phường không ma túy của địa phương.
b) Năm 2027: Phấn đấu xây dựng ít nhất
55% xã, phường, đặc khu trên địa bàn thành phố đạt tiêu chí không ma túy
(52/94 xã, phường, đặc khu), trong đó:
- Tập trung xây dựng 14 xã, phường không ma
túy, gồm: Duy Xuyên, Hòa Tiến, Xuân Phú, Lãnh Ngọc, Hòa Vang, Thăng Phú, Trà
My, Hội An, Thượng Đức, Tam Mỹ, Duy Nghĩa, Gò Nổi, Nam Phước, Điện Bàn Tây.
- Tiếp tục giữ vững 38 xã, phường, đặc khu đạt
tiêu chí không ma túy trong năm 2026.
- Những xã, phường còn lại thực hiện quyết liệt
công tác chuyển hóa mức độ trọng điểm phức tạp về ma túy để đảm bảo thực hiện đạt,
vượt tiến độ xây dựng xã, phường không ma túy của địa phương.
c) Năm 2028: Phấn đấu xây dựng ít nhất
70% xã, phường, đặc khu trên địa bàn thành phố đạt tiêu chí không ma túy
(66/94 xã, phường, đặc khu), trong đó:
- Tập trung xây dựng 14 xã, phường không ma
túy, gồm: Vu Gia, Thăng Điền, Quảng Phú, Bà Nà, Thăng Trường, Hà Nha, Thăng
An, Khâm Đức, Điện Bàn Bắc, Quế Sơn Trung, Bàn Thạch, Việt An, Chiến Đàn, Đại Lộc.
- Tiếp tục giữ vững 52 xã, phường, đặc khu đạt
tiêu chí không ma túy trong năm 2027.
- Những xã, phường còn lại thực hiện quyết liệt
công tác chuyển hóa mức độ trọng điểm phức tạp về ma túy đảm bảo thực hiện đạt,
vượt tiến độ xây dựng xã, phường không ma túy của địa phương.
d) Năm 2029: Phấn đấu xây dựng ít nhất
85% xã, phường, đặc khu trên địa bàn thành phố đạt tiêu chí không ma túy
(80/94 xã, phường, đặc khu); trong đó:
- Tập trung xây dựng 14 xã, phường không ma
túy, gồm: Thăng Bình, Tam Xuân, An Thắng, Quế Sơn, Đồng Dương, Tây Hồ, Hòa
Xuân, Hải Vân, Sơn Cẩm Hà, Hòa Cường, Điện Bàn, Hội An Tây, Tam Anh, Phú Ninh.
- Tiếp tục giữ vững 66 xã, phường, đặc khu đạt
tiêu chí không ma túy trong năm 2028.
- Những xã, phường còn lại thực hiện quyết liệt
công tác chuyển hóa mức độ trọng điểm phức tạp về ma túy đảm bảo thực hiện đạt,
vượt tiến độ xây dựng xã, phường không ma túy của địa phương.
e) Năm 2030: Phấn đấu xây dựng 100%
xã, phường, đặc khu trên địa bàn thành phố đạt tiêu chí không ma túy (94
xã, phường, đặc khu), trong đó:
- Tập trung xây dựng 14 xã, phường còn lại
không ma túy, gồm: An Khê, Liên Chiểu, An Hải, Cẩm Lệ, Tiên Phước, Núi
Thành, Hương Trà, Ngũ Hành Sơn, Điện Bàn Đông, Tam Kỳ, Thạnh Bình, Hòa Khánh,
Sơn Trà, Thanh Khê.
- Tiếp tục giữ vững 80 xã, phường, đặc khu đạt
tiêu chí không ma túy trong năm 2029.
2. Lưu ý: Trường hợp
xã, phường đã được công nhận là địa bàn không ma túy hoặc những xã, phường được
lựa chọn trong năm nhưng thực hiện không đảm bảo các tiêu chí xác định địa bàn
không ma túy, để phát sinh tội phạm và tệ nạn ma túy thì phải tiếp tục xây dựng
kế hoạch thực hiện chuyển hóa thành công trong năm liền kề tiếp theo.
IV. NỘI DUNG VÀ PHÂN CÔNG THỰC
HIỆN
1. Nâng cao vai trò, trách
nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy đảng; hiệu lực, hiệu quả quản lý của nhà nước;
huy động sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và Nhân dân tham gia phòng, chống
và kiểm soát ma túy
a) Nội dung thực hiện:
- Các sở, ban, ngành, đoàn thể, địa phương từ thành
phố đến cơ sở, đặc biệt là người đứng đầu phải nêu cao vai trò, trách nhiệm và
tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nghiêm túc, hiệu quả những nội dung yêu
cầu, mục tiêu của Nghị quyết 02-NQ/TU, Kết luận số 05-KL/TU, Nghị quyết số
93/NQ-CP và Kết luận số 132-KL/TW; gắn với triển khai thực hiện Chương trình mục
tiêu quốc gia PCMT đến năm 2030 và các chương trình phát triển kinh tế - xã hội,
xóa đói, giảm nghèo, phát triển sản xuất, chuyển đổi mục đích cây trồng, đào tạo
việc làm, qua đó nâng cao chất lượng cuộc sống và trình độ dân trí và sự tham
gia tích cực của Nhân dân trong phòng ngừa, tố giác, đấu tranh với tội phạm và
tệ nạn ma túy.
- Hằng năm, từng đơn vị, địa phương phải ban hành
chương trình, kế hoạch lãnh đạo, chỉ đạo để thực hiện công tác chuyển hóa mức độ
trọng điểm phức tạp và xây dựng đơn vị, địa phương đạt tiêu chí không ma túy
theo lộ trình đề ra, đảm bảo đến hết năm 2030 đạt 100% xã, phường, đặc khu trên
địa bàn thành phố không ma túy. Người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền,
đoàn thể các cấp, các ngành phải chịu trách nhiệm về tình hình ma túy tại địa
phương, cơ quan, đơn vị được giao phụ trách; lấy hiệu quả công tác phòng, chống
ma túy trên địa bàn được giao phụ trách là một tiêu chí đánh giá, xếp loại cấp ủy,
tổ chức đảng các đơn vị, địa phương hằng năm; kiên quyết xây dựng văn hóa bài
trừ ma túy trong cơ quan, đơn vị và toàn xã hội; tăng cường tuyên truyền, vận động
cán bộ, đảng viên phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu trong phòng, chống ma
túy; định kỳ hằng tháng hoặc hằng quý nghe báo cáo và cho ý kiến cụ thể về thực
hiện nhiệm vụ phòng, chống ma túy; thường xuyên tổ chức kiểm tra, đôn đốc việc
thực hiện, tháo gỡ kịp thời những khó khăn, vướng mắc nảy sinh.
- Tham mưu triển khai thực hiện nghiêm túc, hiệu quả
Luật PCMT sửa đổi, bổ sung của Quốc hội và các văn bản hướng dẫn thực hiện của
Chính phủ. Tham mưu triển khai các giải pháp nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước
trong quản lý cư trú, quản lý người nước ngoài, quản lý cơ sở ngành nghề đầu tư
kinh doanh có điều kiện về ANTT dễ bị tội phạm ma túy lợi dụng hoạt động phạm tội.
Bồi dưỡng nâng cao năng lực lãnh đạo, chỉ huy và đội ngũ cán bộ chuyên trách,
trực tiếp tham gia PCMT, đặc biệt là cấp cơ sở đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ đặt
ra.
b) Phân công thực hiện:
- Công an thành phố chủ trì, đồng thời tham mưu thực
hiện; theo dõi, kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn các sở, ban, ngành, đoàn thể, địa
phương thực hiện Nghị quyết 02-NQ/TU, Kết luận số 05-KL/TU, các văn bản chỉ đạo
của UBND thành phố về công tác PCMT và mục tiêu chuyển hóa mức độ trọng điểm phức
tạp, xây dựng địa bàn không ma túy.
- Các sở, ban, ngành, đoàn thể chủ trì tham mưu
quán triệt, triển khai công tác phòng, chống ma túy tại đơn vị mình theo phân
công theo Nghị quyết 02-NQ/TU, Kết luận số 05-KL/TU và các văn bản chỉ đạo của
các cấp, các ngành.
- UBND các xã, phường, đặc khu chủ trì chỉ đạo các
ban, ngành, đoàn thể và phát động phong trào toàn dân tham gia công tác PCMT và
thực hiện mục tiêu xây dựng xã, phường, đặc khu không ma túy theo lộ trình, mục
tiêu đề ra.
2. Thực hiện tốt công tác
truyền thông, tuyên truyền PCMT
a) Phát huy vai trò cơ quan báo chí, các mạng viễn
thông, Cổng Thông tin điện tử của các sở, ban, ngành, đoàn thể và hệ thống
thông tin tại cơ sở, các nền tảng mạng xã hội để đăng tải, phát sóng các chuyên
đề, chuyên mục, tác phẩm báo chí, tin, bài, phóng sự tuyên truyền về PCMT.
- Phân công thực hiện:
+ Công an thành phố chủ trì, đồng thời phối hợp Sở
Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Khoa học và Công nghệ và các sở, ngành, đoàn
thể, địa phương thực hiện.
+ UBND các xã, phường, đặc khu chỉ đạo ban, ngành,
đoàn thể cùng cấp thực hiện tại địa phương.
b) Tổ chức các hoạt động tuyên truyền, truyền thông
và giáo dục PCMT trực tiếp thông qua các hội nghị tuyên truyền, các sự kiện
truyền thông, văn nghệ, trò chơi, giao lưu, cuộc thi, hội thi tìm hiểu pháp luật
PCMT hướng đến đối tượng là người dân, học sinh, sinh viên, công nhân; chú trọng
tổ chức các hoạt động tuyên truyền kết hợp gọi hỏi, giáo dục, răn đe các đối tượng
nổi, đối tượng nguy cơ cao phạm tội, vi phạm pháp luật về ma túy như người thất
nghiệp, thiếu việc làm, người lao động tại các khu vực khai thác khoáng sản
trái phép, thanh niên hư hỏng, từng có tiền án, tiền sự liên quan ma túy.
- Phân công thực hiện:
+ Công an thành phố chủ trì, đồng thời phối hợp Sở
Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Giáo dục và Đào tạo, Liên đoàn Lao động thành
phố và các sở, ngành, cơ quan, địa phương thực hiện.
+ UBND các xã, phường, đặc khu chỉ đạo ban, ngành,
đoàn thể cùng cấp thực hiện tại địa phương.
c) Tập trung phát động phong trào toàn dân bảo vệ
an ninh Tổ quốc; phát huy tối đa vai trò của gia đình, nhà trường, các tổ quản
lý đối tượng tại cơ sở, của bí thư chi bộ, tổ trưởng tổ dân phố, già làng, trưởng
bản, người có uy tín, hội phụ nữ, đoàn thanh niên... với phương châm “đi từng nhà,
rà từng người”, từng tổ, từng khu phố để vận động và tuyên truyền. Đẩy mạnh xây
dựng, nhân rộng các mô hình PCMT hay, hiệu quả như: Cơ quan, đơn vị, gia đình,
dòng họ, trường học, thôn, khối phố, tổ, khu dân cư không ma túy, không tệ nạn
xã hội; mô hình “Phòng ngừa, ngăn chặn ma túy xâm nhập học đường” trong các trường
học; mô hình “Doanh nghiệp không tệ nạn ma túy” tại các công ty, doanh nghiệp;...
- Phân công thực hiện:
+ Công an thành phố chủ trì, đồng thời phối hợp với
Sở Giáo dục Đào tạo, Liên đoàn Lao động thành phố và các sở, ngành, cơ quan, địa
phương thực hiện.
+ UBND các xã, phường, đặc khu chỉ đạo ban, ngành,
đoàn thể cùng cấp thực hiện tại địa phương.
3. Đẩy mạnh các giải pháp làm sạch
địa bàn, giải quyết triệt để “nguồn cầu” về ma túy phục vụ thực hiện công tác
chuyển hóa mức độ trọng điểm phức tạp và xây dựng địa bàn không ma túy
a) Nội dung thực hiện:
- Tập trung thực hiện tốt công tác rà soát, thống
kê tại từng tổ dân phố, từng khu dân cư với phương châm “đi từng nhà, rà từng
người” và cử lực lượng kiểm tra, thực hiện đến từng xã, từng thôn, khối phố đảm
bảo phát hiện, quản lý và đấu tranh, xử lý toàn diện, triệt để 100% người nghiện,
người sử dụng TPCMT, người quản lý sau cai, đảm bảo số liệu, hồ sơ “đúng, đủ, sạch,
sống” làm căn cứ để đánh giá đúng tính chất địa bàn, có kế hoạch, phương án quản
lý, phòng ngừa, đấu tranh kịp thời, hiệu quả; xem xét, kiểm điểm trách nhiệm của
các tập thể, cá nhân, nhất là người đứng đầu Công an địa phương khi để sót, lọt
đối tượng liên ma túy không đưa vào diện quản lý.
- Phối hợp chặt chẽ giữa các ngành chức năng, phát
huy tối đa vai trò, trách nhiệm của gia đình, chính quyền các cấp và tổ chức xã
hội trong công tác quản lý người nghiện ma túy, người sử dụng trái phép chất ma
túy và người sau cai nghiện ma túy; đảm bảo 100% người nghiện ma túy, người sử
dụng trái phép chất ma túy có hồ sơ được quản lý chặt chẽ; 100% hoạt động phạm
tội, hành vi vi phạm pháp luật của người nghiện ma túy, người sử dụng trái phép
chất ma túy được phát hiện, xử lý nghiêm minh.
- Tập trung chỉ đạo rà soát, xét nghiệm định kỳ, đột
xuất nhóm các đối tượng nghi vấn liên quan ma túy và trong số người sử dụng
TPCMT đang quản lý trên địa bàn để kịp thời phát hiện, lập hồ sơ xác định tình
trạng nghiện và áp dụng các hình thức cai nghiện phù hợp.
- Đẩy mạnh rà soát, tổ chức xét nghiệm chất ma túy
để phát hiện, bắt giữ, xử lý đối tượng theo Điều 256a Bộ luật Hình sự sửa đổi,
bổ sung về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”, gồm: (1) Người đang trong thời
hạn cai nghiện hoặc đang trong thời gian điều trị nghiện các chất ma túy bằng
thuốc thay thế; (2)trong thời hạn quản lý sau cai nghiện; (3)trong thời hạn 02
năm kể từ ngày hết hạn quản lý sau cai nghiện và trong thời hạn quản lý người sử
dụng trái phép chất ma túy; (4)trong thời hạn 02 năm kể từ khi tự ý chấm dứt điều
trị nghiện ma túy tự nguyện hoặc điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc
thay thế theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy 2021.
- Theo dõi, quản lý các đối tượng loạn thần “ngáo
đá” trên địa bàn, thực hiện các biện pháp phòng ngừa người sử dụng trái phép chất
ma túy tổng hợp có biểu hiện loạn thần “ngáo đá” thực hiện hành vi xâm phạm trật
tự xã hội; tập trung triển khai các biện pháp để xét nghiệm chất ma túy, xác định
tình trạng nghiện, đưa đi cai nghiện tập trung hoặc chữa bệnh tâm thần nhằm
phòng ngừa đối tượng phạm tội, vi phạm pháp luật; trường hợp đối tượng ở ngoài
xã hội phải phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể và gia đình quản lý chặt chẽ.
b) Phân công thực hiện:
- UBND các xã, phường, đặc khu chủ trì, chỉ đạo lực
lượng Công an xã, phường, đặc khu và các ban, ngành, đoàn thể cùng cấp thực hiện
tại địa phương.
- Công an thành phố theo dõi, đôn đốc, tham mưu chỉ
đạo thực hiện, tổng hợp kết quả báo cáo UBND thành phố và Bộ, ngành Trung ương
theo dõi.
- Sở Y tế chỉ đạo lực lượng y tế cơ sở phối hợp thực
hiện.
- Các sở, ban, ngành, đoàn thể phối hợp thực hiện.
4. Nâng cao năng lực, hiệu quả
phòng, chống tội phạm ma túy của các lực lượng chuyên trách
a) Nội dung thực hiện:
- Nắm, phân tích, dự báo và đánh giá đúng tình hình
tội phạm về ma túy; xác định rõ vai trò chủ công, nòng cốt của lực lượng Công
an trong tham mưu trực tiếp cho cấp ủy, chính quyền, phối hợp chặt chẽ, đồng bộ
các lực lượng Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển trong phòng ngừa, đấu tranh với
tội phạm ma túy.
- Tập trung đấu tranh, triệt phá các băng nhóm, tổ
chức, đường dây tội phạm về ma túy trên các địa bàn trọng điểm, bắt giữ cả đường
dây, đối tượng cầm đầu, truy nguyên nguồn gốc ma túy.
- Tiến hành theo đúng quy định của pháp luật các hoạt
động điều tra, thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ phục vụ công tác truy tố, xét
xử kịp thời, đúng người, đúng tội, không bỏ lọt tội phạm, không để xảy ra oan
sai. Tập trung điều tra, mở rộng làm rõ các đối tượng liên quan đến việc mua
bán, vận chuyển, tàng trữ, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trong các vụ
án, vụ việc để xử lý triệt để theo quy định pháp luật nhằm cắt giảm “nguồn
cung” về ma túy; phải làm rõ “nguồn cung”, đường dây, ổ nhóm, điểm, tụ điểm về
ma túy; các đối tượng chủ mưu, cầm đầu để “truy tận gốc” xử lý nghiêm
theo quy định của pháp luật; ngăn chặn các đối tượng “nguồn cầu” tiếp cận với
“nguồn cung” ma túy; tuyệt đối không để xảy ra tình trạng “cắt khúc, làm gọn
hồ sơ, bắt gì xử lý đấy” trong hoạt động điều tra các vụ án về ma túy.
- Nâng cao hiệu quả phối hợp đấu tranh giữa các lực
lượng chuyên trách PCMT. Kịp thời rút kinh nghiệm việc thực hiện các kế hoạch
phối hợp nhằm bổ sung các nội dung, biện pháp phù hợp để triển khai có hiệu quả
kế hoạch này.
- Tăng cường công tác quản lý cư trú, quản lý người
nước ngoài, quản lý các cơ sở ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về ANTT
trên địa bàn; thường xuyên tuần tra, kiểm soát đảm bảo an ninh trật tự trên địa
bàn, gắn với tổ chức kiểm tra, truy quét, đẩy đuổi, triệt xóa, không để hình
thành, tồn tại các điểm, đối tượng hoạt động phạm tội, vi phạm pháp luật về ma
túy, nhất là tại các các cơ sở kinh doanh có điều kiện về ANTT như quán bar,
pub, karaoke, dịch vụ lưu trú, các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống sử dụng nhạc
công suất lớn..., kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm các trường hợp lợi dụng các
cơ sở này để tụ tập, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, sử dụng shisha,
bóng cười; vi phạm quy định pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm, tiếng ồn, sử
dụng hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ (phải xác định công tác kiểm tra,
truy quét, đẩy đuổi, triệt xóa, không cho các cơ sở, đối tượng có cơ hội, điều
kiện hoạt động phạm tội, vi phạm pháp luật về ma túy là biện pháp trọng tâm,
quan trọng để làm sạch, giữ sạch địa bàn).
b) Phân công thực hiện:
- Công an thành phố, Bộ đội Biên phòng, Vùng Cảnh
sát biển 2 phát huy vai trò nòng cốt, chủ công và phối hợp với các sở, ban,
ngành liên quan,
- UBND các xã, phường, đặc khu chỉ đạo Công an xã,
phường và các ban, ngành, đoàn thể cùng cấp thực hiện tại địa phương.
- Các sở, ban, ngành, đoàn thể phối hợp thực hiện
và cung cấp thông tin cho lực lượng chuyên trách PCMT thực hiện.
5. Nâng cao hiệu quả công tác
cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy
a) Công tác cai nghiện ma túy tại các cơ sở cai
nghiện ma túy công lập
- Nội dung thực hiện:
+ Cơ sở cai nghiện ma túy chấp hành nghiêm quy định
về cai nghiện, đảm bảo người nghiện sau khi hoàn thành chương trình cai nghiện
ma túy được hoàn thiện cả về thể chất, tinh thần, là công dân tốt (thực hiện
thường xuyên).
+ Xây dựng mô hình Cơ sở cai nghiện ma túy chất lượng
cao, phấn đấu có những mô hình mẫu điển hình (năm 2026 và hàng năm).
+ Quan tâm nâng cấp, sửa chữa, xây mới các hạng mục
cơ sở cai nghiện, đảm bảo đáp ứng yêu cầu về công suất và diện tích tối thiểu đủ
để tổ chức cai nghiện tự nguyện và bắt buộc cho tất cả người nghiện trên địa
bàn thành phố (thực hiện thường xuyên).
+ Tăng cường công tác tư vấn, hỗ trợ giáo dục chính
trị, bổ túc văn hóa, dạy nghề, giới thiệu việc làm cho người đang áp dụng các
biện pháp cai nghiện tại các Cơ sở cai nghiện ma túy thành phố.
- Phân công nhiệm vụ:
+ Công an thành phố chủ trì, phối hợp Sở Tài chính
tham mưu trình cấp có thẩm quyền quyết định; đồng thời, báo cáo Bộ Công an hỗ
trợ, đầu tư.
+ Sở Giáo dục và Đào tạo phân công các Trung tâm,
cơ sở giáo dục, giáo viên, giảng viên phối hợp, hỗ trợ Công an thành phố giảng
dạy một số kiến thức cơ bản về chính trị, bổ túc văn hóa cho người cai nghiện
ma túy theo đề nghị của Công an thành phố.
b) Tập trung tham mưu triển khai công tác cai
nghiện tại gia đình, cộng đồng đảm bảo đúng quy định, thực chất, hiệu quả
- Nội dung thực hiện:
+ Phát triển hệ thống dịch vụ cai nghiện ma túy tự
nguyện tại gia đình, cộng đồng và các mô hình tổ chức công tác cai nghiện ma
túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng (thường xuyên, định kỳ, hằng năm). Trong
đó, chú trọng tổ chức rà soát, thẩm định điều kiện các cơ sở đủ điều kiện cung
cấp dịch vụ cai nghiện tại gia đình, cộng đồng; hoàn thành các thủ tục tham mưu
công bố các đơn vị, tổ chức, cá nhân đủ điều kiện; triển khai hiệu quả việc sử
dụng thiết bị điện tử giám sát đối tượng theo quy định mới. Nghiên cứu tham mưu
hoàn chỉnh các thủ tục còn thiếu, vướng mắc để công bố các cơ sở cai nghiện
công lập và ngoài công lập trên địa bàn thành phố được cung cấp dịch vụ cai nghiện
ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng (hoàn thành trong quý 2/2026).
- Phân công nhiệm vụ:
+ Công an thành phố chủ trì tham mưu thực hiện;
+ Sở Y tế và các sở, ban, ngành liên quan phối hợp
thực hiện.
+ UBND các xã, phường chỉ đạo Công an các xã, phường
và ban, ngành cùng cấp thực hiện tại địa phương:
Chủ trì, phối hợp với các cơ sở đủ điều kiện cung cấp
dịch vụ cai nghiện tại gia đình, cộng đồng được công bố tổ chức quản lý người
nghiện ma túy cai nghiện tại gia đình, cộng đồng đảm bảo người cai nghiện tại
gia đình, cộng đồng được điều trị theo quy định.
Tổ chức rà soát các đơn vị, tổ chức, cá nhân trên địa
bàn đủ điều kiện cung cấp dịch vụ, cai nghiện tại gia đình, cộng đồng; hướng dẫn
các đơn vị, tổ chức, cá nhân đủ điều kiện lập hồ sơ đề nghị công bố theo quy định
tại Quyết định số 7886/QĐ-BCA; gửi Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy
Công an thành phố để xem xét, giải quyết.
Xây dựng mô hình tổ chức cai nghiện tự nguyện tại
gia đình, cộng đồng phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương; trong đó,
chú trọng giúp đỡ, hỗ trợ sinh kế, tự học nghề và giải quyết việc làm cho người
cai nghiện tại gia đình, cộng đồng.
c) Nâng cao hiệu quả công tác điều trị nghiện
các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế
- Nội dung thực hiện: Tăng cường quản lý chặt chẽ
và thường xuyên tổ chức xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể các đối tượng đang
điều trị để phát hiện các đối tượng vi phạm, sử dụng trái phép chất ma túy
trong thời gian điều trị để xử lý theo Điều 256a Bộ luật Hình sự; triển khai hiệu
quả việc sử dụng thiết bị điện tử giám sát đối tượng theo quy định mới (thực hiện
thường xuyên, đột xuất).
- Phân công nhiệm vụ:
+ Công an thành phố chủ trì thực hiện.
+ Sở Y tế chỉ đạo Trung tâm kiểm soát bệnh tật
thành phố và các cơ sở cấp phát thuốc thay thế Methadone phối hợp lực lượng
Công an thực hiện.
+ UBND các xã, phường chỉ đạo Công an các xã, phường
và ban, ngành cùng cấp thực hiện tại địa phương.
d) Công tác quản lý sau cai nghiện ma túy
- Nội dung thực hiện:
+ Tổ chức rà soát, phát hiện, lập hồ sơ và quản lý
chặt chẽ người sau cai nghiện ma túy ngay sau khi người nghiện hoàn thành
chương trình cai nghiện; triển khai hiệu quả việc sử dụng thiết bị điện tử giám
sát đối tượng theo quy định mới (thực hiện thường xuyên).
+ Thực hiện tốt công tác hỗ trợ, tư vấn, giúp đỡ,
phòng, chống tái nghiện ma túy, đảm bảo người bị quản lý sau cai nghiện ma túy
được giúp đỡ, phòng, chống tái nghiện ma túy trong thời gian quản lý sau cai
nghiện ma túy (thực hiện thường xuyên).
+ Hỗ trợ, giúp đỡ sinh kế, học nghề, giải quyết việc
làm cho người sau cai nghiện; đảm bảo người bị quản lý sau cai nghiện tại nơi
cư trú từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi khi tiếp tục đi học ở các bậc học phổ
thông tại các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân được miễn, giảm học
phí, hỗ trợ chi phí học tập; người sau cai nghiện khi tham gia đào tạo nghề
nghiệp được hưởng chính sách hỗ trợ và được vay vốn sinh kế theo quy định (thực
hiện thường xuyên).
+ Xây dựng các mô hình quản lý, phòng ngừa tái nghiện
và hỗ trợ hòa nhập cộng đồng cho người sau cai nghiện ma túy; nhân rộng các mô
hình hoạt động hiệu quả (thực hiện thường xuyên hàng năm).
+ Tổ chức xét nghiệm chất ma túy đối với người đang
bị quản lý sau cai nghiện, người trong thời hạn 02 năm sau hoàn thành quản lý
sau cai nghiện để phát hiện các đối tượng tiếp tục sử dụng trái phép chất ma
túy nhằm bắt giữ, khởi tố theo Điều 256a Bộ luật Hình sự (thực hiện thường
xuyên).
- Phân công thực hiện:
+ Công an thành phố chủ trì thực hiện.
+ Sở Y tế phối hợp Công an thành phố thực hiện.
+ UBND các xã, phường chỉ đạo Công an các xã, phường
và ban, ngành cùng cấp thực hiện tại địa phương.
6. Tăng cường đầu tư nguồn lực
cho công tác phòng, chống, kiểm soát và cai nghiện ma túy
a) Nội dung thực hiện:
- Quan tâm đầu tư nguồn lực cho công tác phòng, chống
và kiểm soát ma túy với các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của từng
đơn vị, địa phương. Hằng năm, tăng mức đầu tư từ ngân sách nhà nước, đồng thời
tích cực tranh thủ các nguồn viện trợ quốc tế, huy động sự đóng góp của các tổ
chức xã hội, doanh nghiệp và Nhân dân, bảo đảm kinh phí cho công tác phòng, chống,
kiểm soát và cai nghiện ma túy.
- Xây dựng củng cố, kiện toàn nâng cao năng lực của
lực lượng chuyên trách làm công tác phòng, chống ma túy từ thành phố tới xã,
phường, bảo đảm đủ khả năng, điều kiện thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ. Bổ sung
chính sách cơ chế, chính sách đặc thù đối với cán bộ trực tiếp làm công tác đấu
tranh phòng, chống ma túy; thường xuyên đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ
chuyên môn, nghiệp vụ đối với cán bộ làm công tác phòng, chống ma túy. Đầu tư
nguồn lực, trang thiết bị chuyên dụng cho công tác phòng, chống ma túy. Thường
xuyên kiểm tra, chỉ đạo và quan tâm đầu tư, đảm bảo điều kiện cho các cơ sở cai
nghiện ma túy trên địa bàn thành phố hoạt động hiệu quả, đảm bảo an ninh, an
toàn công tác cai nghiện.
- Tăng cường công tác quản lý, giáo dục chính trị,
tư tưởng và quán triệt cán bộ, chiến sĩ siết chặt kỷ cương, kỷ luật, tư thế, lễ
tiết, tác phong, quy trình công tác, đề cao trách nhiệm cá nhân của người đứng
đầu đơn vị. Kịp thời biểu dương, khen thưởng những tập thể, cá nhân có thành
tích xuất sắc trong thực hiện đợt cao điểm, đồng thời kiên quyết xử lý nghiêm
các trường hợp sai phạm, thiếu trách nhiệm, dung túng, “bảo kê”, tiếp tay, bao
che cho tội phạm, vi phạm pháp luật hoặc để tội phạm, tệ nạn ma túy hoạt động
phức tạp mà không chủ động phát hiện, xử lý. Thường xuyên sơ kết, tổng kết, rút
kinh nghiệm, nhân rộng điển hình tiên tiến. Có chính sách động viên, hỗ trợ người
có công, bị thương, bị phơi nhiễm HIV, thân nhân cán bộ, chiến sĩ hy sinh trong
quá trình làm nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống tội phạm ma túy.
b) Phân công thực hiện:
- Công an thành phố phối hợp Sở Tài chính tham mưu
cấp có thẩm quyền đầu tư, phân bổ các nguồn kinh phí phục vụ thực hiện công tác
PCMT và mục tiêu xây dựng thành phố Đà Nẵng không ma túy đến hết năm 2030.
- Sở Tài chính phối hợp tham mưu bố trí nguồn kinh
phí để thực hiện, trong đó, nghiên cứu tham mưu dự trù bố trí nguồn kinh phí hỗ
trợ công tác PCMT nói chung và phục vụ thực hiện mục tiêu xây dựng thành phố Đà
Nẵng không ma túy đến năm 2030 và từng năm nói riêng.
- UBND các xã, phường, đặc khu quan tâm đầu tư, huy
động nguồn lực tại địa phương để đẩy mạnh triển khai các hoạt động thực hiện những
nội dung chỉ đạo.
- Các sở, ban, ngành liên quan phối hợp thực hiện.
7. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế về
phòng, chống và kiểm soát ma túy
a) Nội dung thực hiện:
- Tăng cường, mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác
quốc tế về phòng, chống và kiểm soát ma túy; thực hiện có trách nhiệm các cam kết
quốc tế trong phòng, chống ma túy mà Việt Nam đã ký kết và tham gia.
- Phối hợp tổ chức các hoạt động hợp tác quốc tế
trong phòng, chống ma túy với lực lượng chức năng tỉnh Sê Kông (Lào) đảm bảo
thiết thực, hiệu quả theo phương châm giúp bạn là giúp mình, ngăn chặn ma túy từ
xa, từ sớm, từ bên kia biên giới, không để hình thành và tồn tại các đường dây,
đối tượng phạm tội ma túy qua biên giới, xuyên quốc gia; chú trọng tham mưu triển
khai và phát huy hiệu quả của Tổ công tác phòng, chống ma túy tại nước Cộng hòa
Dân chủ Nhân dân Lào và Văn phòng liên lạc phòng, chống ma túy và tội phạm
(BLO) giữa thành phố Đà Nẵng và tỉnh Sê Kông (Lào).
b) Phân công thực hiện:
- Công an thành phố, Bộ đội Biên phòng thành phố,
Chi cục Hải quan khu vực XII, Vùng Cảnh sát biển 2 phối hợp thực hiện; chủ động
tham mưu UBND thành phố triển khai thực hiện hiệu quả các hoạt động hợp tác
phòng, chống tội phạm và ma túy với Ủy ban chính quyền tỉnh Sê Kông (Lào).
- UBND các xã, phường giáp biên chủ động triển khai
thường xuyên, hiệu quả công tác hợp tác phòng, chống tội phạm và ma túy với
chính quyền và lực lượng chức năng các địa phương giáp biên của tỉnh Sê Kông
(Lào)
- Các sở, ban, ngành liên quan phối hợp thực hiện.
V. TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1. Các sở, ban, ngành liên quan và UBND các
xã, phường, đặc khu xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện nghiêm túc, hiệu quả
Kế hoạch này tại đơn vị, địa phương (gửi Kế hoạch thực hiện về Công an thành
phố - qua Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy trước ngày 30/01/2026).
Trong đó, yêu cầu đề ra biện pháp, giải pháp, lộ trình cụ thể để thực hiện
công tác chuyển hóa mức độ trọng điểm phức tạp về ma túy và xây dựng xã, phường,
đặc khu không ma túy (Lưu ý đề ra tiến độ, lộ trình xây dựng từng đơn vị, cơ
quan, gia đình, trường học, thân, tổ, khu dân cư, khu phố... trên địa bàn không
ma túy), phải hoàn thành và giữ vững kết quả đảm bảo đến hết năm 2030 xây dựng
thành công thành phố Đà Nẵng không ma túy.
Định kỳ 06 tháng (trước ngày 16/6), 01 năm (trước
ngày 16/12) tiến hành sơ kết và gửi về Công an thành phố (qua Phòng Cảnh sát
điều tra tội phạm về ma túy) để tổng hợp, tham mưu báo cáo Bộ Công an, Thủ
tướng Chính phủ theo quy định.
2. Giao Công an thành phố chủ trì hướng dẫn,
kiểm tra, đôn đốc, giám sát, đánh giá việc triển khai thực hiện Kế hoạch và xây
dựng báo cáo kết quả thực hiện. Định kỳ hằng năm, tham mưu UBND thành phố ban
hành Kế hoạch thực hiện và kịp thời đề xuất điều chỉnh các địa bàn, lộ trình, bổ
sung nhiệm vụ của Kế hoạch cho phù hợp với tình hình thực tế. Tham mưu UBND
thành phố tổ chức tổng kết thực hiện Kế hoạch vào năm 2030, gắn với tổng kết
Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống ma túy đến năm 2030.
3. Kinh phí thực hiện Chương trình
- Kinh phí Trung ương do ngân sách nhà nước đảm bảo,
được bố trí trong dự toán chi thường xuyên theo phân cấp ngân sách hiện hành và
các Chương trình mục tiêu quốc gia và các nguồn hợp pháp khác.
- Kinh phí sự nghiệp do ngân sách nhà nước thành phố
đảm bảo được bố trí vào dự toán ngân sách hàng năm của các sở, ngành chủ trì
triển khai các Dự án, Tiểu Dự án thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống
ma túy đến năm 2030 trên cơ sở được phê duyệt.
- Kinh phí thực hiện ở địa phương do ngân sách địa
phương bố trí và các nguồn hỗ trợ hợp pháp khác theo quy định. Việc quản lý và
sử dụng kinh phí từ nguồn ngân sách nhà nước thực hiện theo quy định của Luật
Ngân sách nhà nước và các văn bản hướng dẫn thi hành.
- Giao Công an thành phố chủ trì, đồng thời phối hợp
với Sở Tài chính và các sở, ban, ngành, địa phương liên quan dự toán, báo cáo đề
xuất nguồn kinh phí để tham mưu trình cấp có thẩm quyền quyết định đầu tư, hỗ
trợ, bố trí thực hiện từng nội dung của kế hoạch này đảm bảo nghiêm túc, tiết
kiệm, đúng quy định, đúng mục đích, phát huy hiệu quả.
Kế hoạch này thay thế Kế hoạch số 46/KH-UBND ngày
15/8/2025 của UBND thành phố về triển khai thực hiện mục tiêu xây dựng xã, phường,
đặc khu không ma túy trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
Yêu cầu các sở, ban, ngành, địa phương triển khai
thực hiện nghiêm túc, hiệu quả. Quá trình thực hiện có khó khăn, vướng mắc cần
trao đổi, đề nghị các sở, ban, ngành, địa phương liên hệ về Công an thành phố
(qua Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy) để được hướng dẫn./.
|
Nơi nhận:
- UBQG PC AIDS, MT, MD (Văn phòng Chính
phủ);
- Bộ Công an (Văn phòng Bộ Công an; Cục CS ĐTTP về ma túy);
- Thường trực Thành ủy;
- Thường trực HĐND thành phố;
- Chủ tịch UBND thành phố;
- Các sở, ban, ngành, đoàn thể;
- UBND xã, phường, đặc khu;
- Lưu: VT, CATP (CSĐTTPVMT).
|
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH
Trần Anh Tuấn
|