|
|
Bản dịch này thuộc quyền sở hữu của
THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Mọi hành vi sao chép, đăng tải lại mà không có sự đồng ý của
THƯ VIỆN PHÁP LUẬT là vi phạm pháp luật về Sở hữu trí tuệ.
THƯ VIỆN PHÁP LUẬT has the copyright on this translation. Copying or reposting it without the consent of
THƯ VIỆN PHÁP LUẬT is a violation against the Law on Intellectual Property.
X
CÁC NỘI DUNG ĐƯỢC SỬA ĐỔI, HƯỚNG DẪN
Các nội dung của VB này được VB khác thay đổi, hướng dẫn sẽ được làm nổi bật bằng
các màu sắc:
: Sửa đổi, thay thế,
hủy bỏ
Click vào phần bôi vàng để xem chi tiết.
|
|
|
|
Đang tải văn bản...
|
Số hiệu:
|
457/QĐ-CTN
|
|
Loại văn bản:
|
Quyết định
|
|
Nơi ban hành:
|
Chủ tịch nước
|
|
Người ký:
|
Tô Lâm
|
|
Ngày ban hành:
|
07/04/2026
|
|
Ngày hiệu lực:
|
Đã biết
|
|
Ngày công báo:
|
Đang cập nhật
|
|
Số công báo:
|
Đang cập nhật
|
|
Tình trạng:
|
Đã biết
|
Công bố Quyết định đặc xá năm 2026
Ngày 07/4/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã ký Quyết định 457/QĐ-CTN về đặc xá năm 2026.Thực hiện đặc xá tha tù trước thời hạn cho người bị kết án phạt tù có thời hạn, tù chung thân nhân dịp 51 năm Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/2026), chào mừng thành công Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031.
Thời gian đã chấp hành án phạt tù để xét đặc xá tính đến ngày 31/5/2026.
Đối tượng đặc xá
Người đang chấp hành án phạt tù có thời hạn, người bị kết án tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn, người đang được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù.
Điều kiện được đề nghị đặc xá
(1) Người đang chấp hành án phạt tù có thời hạn, người bị kết án tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn được đề nghị đặc xá phải có đủ các điều kiện sau đây:
- Có nhiều tiến bộ, có ý thức cải tạo tốt và được xếp loại chấp hành án phạt tù khá hoặc tốt theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự, cụ thể như sau: Người bị kết án phạt tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn phải có ít nhất 18 quý liên tục liền kề thời điểm xét, đề nghị đặc xá được xếp loại từ khá trở lên; người bị kết án phạt tù từ trên 15 năm đến 30 năm phải có ít nhất 16 quý liên tục liền kề thời điểm xét, đề nghị đặc xá được xếp loại từ khá trở lên; người bị kết án phạt tù từ trên 10 năm đến 15 năm phải có ít nhất 14 quý liên tục liền kề thời điểm xét, đề nghị đặc xá được xếp loại từ khá trở lên; người bị kết án phạt tù từ trên 08 năm đến 10 năm phải có ít nhất 08 quý liên tục liền kề thời điểm xét, đề nghị đặc xá được xếp loại từ khá trở lên; người bị kết án phạt từ từ trên 05 năm đến 08 năm phải có ít nhất 04 quý liên tục liền kề thời điểm xét, đề nghị đặc xá được xếp loại từ khá trở lên; người bị kết án phạt tù từ trên 03 năm đến 05 năm phải có ít nhất 02 quý liên tục liền kề thời điểm xét, đề nghị đặc xá được xếp loại từ khá trở lên; người bị kết án phạt tù từ 03 năm trở xuống phải có ít nhất 01 quý liền kề thời điểm xét, đề nghị đặc xá được xếp loại từ khá trở lên.
Tất cả các trường hợp nêu trên phải có thời gian tiếp theo được nhận xét, đánh giá kết quả xếp loại chấp hành án phạt tù từ khá trở lên.
Những phạm nhân quy định tại điểm b khoản 1 Điều này thuộc diện bị áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hoặc bị tạm giữ, tạm giam liên tục cho đến khi đi chấp hành án phạt tù; những phạm nhân quy định tại khoản 3, khoản 4 Điều này nếu không đủ số quý xếp loại chấp hành án phạt tù theo quy định nêu trên do không đủ thời gian xếp loại thì được thiếu quý xếp loại chấp hành án phạt tù nhưng ít nhất phải có 01 quý xếp loại chấp hành án phạt tù từ khá trở lên, cụ thể như sau: Thiếu 01 quý đầu tiên của thời gian liền kề thời điểm xét, đề nghị đặc xá (đối với người bị kết án phạt tù từ trên 03 năm đến 05 năm); thiếu 02 quý đầu tiên của thời gian liền kề thời điểm xét, đề nghị đặc xá (đối với người bị kết án phạt tù từ trên 05 năm đến 08 năm); thiếu 03 quý đầu tiên của thời gian liền kề thời điểm xét, đề nghị đặc xá (đối với người bị kết án phạt tù từ trên 08 năm đến 15 năm); thiếu 04 quý đầu tiên của thời gian liền kề thời điểm xét, đề nghị đặc xá (đối với người bị kết án phạt tù từ trên 15 năm trở lên) thì vẫn được xét, đề nghị đặc xá nếu có đủ các điều kiện khác.
- Đã chấp hành án phạt tù ít nhất là một phần ba thời gian đối với trường hợp bị phạt tù có thời hạn, nếu trước đó đã được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù thì thời hạn được giảm không được tính vào thời gian đã chấp hành án phạt tù; đã chấp hành án phạt tù ít nhất là 14 năm đối với trường hợp bị phạt tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn, nếu sau khi đã được giảm xuống tù có thời hạn mà tiếp tục được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù thì thời hạn được giảm sau đó không được tính vào thời gian đã chấp hành án phạt tù;
Người bị kết án về tội phá hoại việc thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội; tội phá hoại chính sách đoàn kết; tội tổ chức, cưỡng ép, xúi giục người khác trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân; tội trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân; người bị kết án từ 10 năm tù trở lên về một trong các tội quy định tại Chương các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người của Bộ luật Hình sự do cố ý hoặc người bị kết án từ 07 năm tù trở lên về tội cướp tài sản; tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; tội sản xuất trái phép chất ma túy; tội mua bán trái phép chất ma túy; tội chiếm đoạt chất ma túy của Bộ luật Hình sự đã chấp hành án phạt tù ít nhất một phần hai thời gian đối với trường hợp bị kết án phạt tù có thời hạn, nếu trước đó đã được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù thì thời hạn được giảm không được tính vào thời gian đã chấp hành án phạt từ; đã chấp hành án phạt từ ít nhất là 17 năm đối với trường hợp bị phạt tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn, nếu sau khi đã được giảm xuống tù có thời hạn mà tiếp tục được giảm thời hạn chấp hành án phạt từ thì thời hạn được giảm sau đó không được tính vào thời gian đã chấp hành án phạt tù;
- Đã chấp hành xong hình phạt bổ sung là phạt tiền, đã nộp án phí;
- Đã thi hành xong nghĩa vụ trả lại tài sản, bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ dân sự khác đối với người bị kết án phạt tù về các tội phạm tham nhũng;
- Đã thi hành xong hoặc thi hành được một phần nghĩa vụ trả lại tài sản, bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ dân sự khác nhưng do lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn thuộc trường hợp chưa có điều kiện thi hành tiếp phần còn lại theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự đối với người bị kết án phạt tù về tội phạm không phải là tội phạm tham nhũng;
Trường hợp phải thi hành nghĩa vụ trả lại tài sản, bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ dân sự khác đối với tài sản không thuộc sở hữu của Nhà nước thì phải được người được thi hành án đồng ý hoãn thi hành án hoặc không yêu cầu thi hành án đối với tài sản này;
- Khi được đặc xá không làm ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự;
- Không thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 4 Quyết định này.
(2) Người đang được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù được đề nghị đặc xá phải có đủ các điều kiện sau đây:
- Có nhiều tiến bộ, có ý thức cải tạo tốt và đủ số kỳ xếp loại chấp hành án phạt tù khá hoặc tốt theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự trong thời gian chấp hành án phạt tù trước khi có quyết định tạm đình chỉ như quy định tại điểm a khoản 1 Điều này;
- Đã có thời gian chấp hành án phạt tù quy định tại điểm b khoản 1 Điều này;
- Các điều kiện quy định tại các điểm c, d, đ, e và g khoản 1 Điều này;
- Chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật trong thời gian được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù.
(3) Người bị kết án phạt tù có thời hạn đã chấp hành ít nhất là một phần tư thời gian và người bị kết án phạt từ chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn đã chấp hành ít nhất là 12 năm hoặc trường hợp bị kết án về một trong các tội quy định tại điểm b khoản 1 Điều này đã chấp hành ít nhất một phần ba thời gian đối với án phạt tù có thời hạn, 15 năm đối với án phạt tù chung thân, nếu có đủ các điều kiện quy định tại các điểm a, c, d, đ, e và g khoản 1, các điểm a, c và d khoản 2 Điều này thì được đề nghị đặc xá khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
- Đã lập công lớn trong thời gian chấp hành án phạt tù, có xác nhận của trại giam, trại tạm giam hoặc cơ quan có thẩm quyền khác;
- Người có công với cách mạng theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng; người được tặng thưởng danh hiệu Dũng sĩ trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước; người được tặng thưởng một trong các danh hiệu: Anh hùng Lao động, Nhà giáo nhân dân, Thầy thuốc nhân dân, Nghệ sĩ nhân dân, Nghệ nhân nhân dân; người được tặng thưởng một trong các loại Huân chương; người được tặng thưởng Huy chương Kháng chiến; cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ và người có công nuôi dưỡng liệt sĩ khi còn nhỏ; con của Bà mẹ Việt Nam anh hùng; cha, mẹ, vợ, chồng, con của người có công giúp đỡ cách mạng được tặng Kỷ niệm chương “Tổ quốc ghi công” hoặc Bằng “Có công với nước”;
- Người đang mắc bệnh hiểm nghèo, người đang ốm đau thường xuyên mà không tự phục vụ bản thân;
- Khi phạm tội là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều này;
- Người từ đủ 70 tuổi trở lên;
- Có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn và bản thân là lao động duy nhất trong gia đình;
- Phụ nữ có thai hoặc có con dưới 36 tháng tuổi ở cùng mẹ trong trại giam, trại tạm giam;
- Người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng theo quy định của pháp luật về người khuyết tật; người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi theo quy định của pháp luật về dân sự.
(4) Người dưới 18 tuổi đang chấp hành án phạt tù có đủ điều kiện quy định tại điểm a và điểm g khoản 1 Điều này hoặc người dưới 18 tuổi đang được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù có đủ điều kiện quy định tại điểm g khoản 1, điểm a và điểm d khoản 2 Điều này được đề nghị đặc xá khi đã chấp hành ít nhất một phần tư thời gian hoặc đã chấp hành được ít nhất một phần ba thời gian đối với trường hợp bị kết án phạt tù về một trong các tội quy định tại điểm b khoản 1 Điều này.
Xem chi tiết tại Quyết định 457/QĐ-CTN có hiệu lực từ ngày 7/4/2026.
|
CHỦ TỊCH NƯỚC
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 457/QĐ-CTN
|
Hà Nội, ngày 07 tháng 4 năm 2026
|
QUYẾT ĐỊNH
VỀ ĐẶC XÁ NĂM 2026
CHỦ TỊCH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được sửa đổi,
bổ sung một số
điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15;
Căn cứ Luật Đặc xá năm 2018;
Căn cứ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự;
Thực hiện chính sách
khoan hồng,
nhân đạo của Đảng,
Nhà nước và truyền thống nhân đạo của dân tộc đối với người phạm tội bị kết án phạt tù, khuyến khích họ phấn đấu học tập, rèn luyện
tiến bộ trở thành người có ích cho xã hội;
Xét đề nghị của Chính
phủ tại Tờ trình số 16/TTr-CP ngày 31/3/2026.
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Thực hiện đặc xá tha tù trước thời hạn cho người bị kết án
phạt tù có thời
hạn, tù chung thân nhân dịp 51 năm Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước
(30/4/2026), chào mừng thành công Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, bầu cử
đại biểu Quốc hội khóa XVI và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031.
Thời gian đã chấp hành án
phạt tù để xét đặc xá tính đến ngày 31/5/2026.
Điều 2. Đối tượng đặc xá bao gồm:
Người đang chấp hành án phạt
tù có thời hạn, người bị kết án tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn, người đang được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù.
Điều 3. Điều kiện được đề nghị đặc xá
1. Người đang chấp hành án
phạt tù có thời hạn, người bị kết án tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời
hạn được đề nghị đặc xá phải có đủ các điều kiện sau đây:
a) Có
nhiều tiến bộ, có ý thức cải tạo tốt và được xếp loại chấp hành án phạt tù khá
hoặc tốt theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự, cụ thể như sau:
Người bị kết án phạt tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn phải có ít
nhất 18 quý liên tục liền kề thời điểm xét, đề nghị đặc xá được xếp loại từ khá
trở lên; người bị kết án phạt tù từ trên 15 năm đến 30 năm phải có ít nhất 16
quý liên tục liền kề thời điểm xét, đề nghị đặc xá được xếp loại từ khá trở
lên; người bị kết án phạt tù từ trên 10 năm đến 15 năm phải có ít nhất 14 quý
liên tục liền kề thời điểm xét, đề nghị đặc xá được xếp loại từ khá trở lên;
người bị kết án phạt tù từ trên 08 năm đến 10 năm phải có ít nhất 08 quý liên tục
liền kề thời điểm xét, đề nghị đặc xá được xếp loại từ khá trở lên; người bị kết
án phạt từ từ trên 05 năm đến 08 năm phải có ít nhất 04 quý liên tục liền kề thời
điểm xét, đề nghị đặc xá được xếp loại từ khá trở lên; người bị kết án phạt tù
từ trên 03 năm đến 05 năm phải có ít nhất 02 quý liên tục liền kề thời điểm
xét, đề nghị đặc xá được xếp loại từ khá trở lên; người bị kết án phạt tù từ 03
năm trở xuống phải có ít nhất 01 quý liền kề thời điểm xét, đề nghị đặc xá được
xếp loại từ khá trở lên.
Tất cả các trường hợp nêu
trên phải có thời gian tiếp theo được nhận xét, đánh giá kết quả xếp loại chấp
hành án phạt tù từ khá trở lên.
Những phạm nhân quy định tại
điểm b khoản 1 Điều này thuộc diện bị áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh
trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hoặc bị tạm giữ, tạm
giam liên tục cho đến khi đi chấp hành án phạt tù; những phạm nhân quy định tại
khoản 3, khoản 4 Điều này nếu không đủ số quý xếp loại chấp hành án phạt tù
theo quy định nêu trên do không đủ thời gian xếp loại thì được thiếu quý xếp loại chấp
hành án phạt tù nhưng ít nhất phải có 01 quý xếp loại chấp hành án phạt tù từ
khá trở lên, cụ
thể như sau: Thiếu 01 quý đầu tiên của thời gian liền kề thời điểm xét, đề nghị đặc
xá (đối với người bị kết án phạt tù từ trên 03 năm đến 05 năm); thiếu 02 quý đầu
tiên của thời gian liền kề thời điểm xét, đề nghị đặc xá (đối với người bị kết án phạt tù từ trên 05 năm đến 08 năm); thiếu 03
quý đầu tiên của thời gian liền kề thời điểm xét, đề nghị đặc xá (đối với người
bị kết án phạt tù từ trên 08 năm đến 15 năm); thiếu 04 quý đầu tiên của thời gian liền kề thời điểm
xét, đề nghị đặc
xá (đối với người bị kết án phạt tù từ trên 15 năm trở lên) thì vẫn được xét, đề
nghị đặc xá nếu có đủ các điều kiện khác.
b) Đã chấp hành án phạt tù
ít nhất là một phần ba thời gian đối với trường hợp bị phạt tù có thời hạn, nếu trước đó đã được giảm thời hạn
chấp hành án phạt tù thì thời hạn được giảm không được tính vào thời gian đã chấp
hành án phạt tù; đã chấp hành án phạt tù ít nhất là 14 năm đối với trường hợp bị phạt tù chung thân đã được
giảm xuống tù có thời hạn, nếu sau khi đã được giảm xuống tù có thời hạn mà tiếp
tục được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù thì thời hạn được giảm sau đó không
được tính vào thời gian đã chấp hành án phạt tù;
Người bị kết án về tội phá
hoại việc thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội; tội phá hoại chính sách đoàn kết; tội tổ chức, cưỡng
ép, xúi giục người khác trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền
nhân dân; tội trốn
đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân; người
bị kết án từ 10 năm tù trở lên về một trong các tội quy định tại Chương các tội
xâm phạm tính mạng,
sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người của Bộ
luật Hình sự do cố ý hoặc người bị kết án từ 07 năm tù trở lên về tội cướp tài sản;
tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; tội sản xuất trái phép chất ma túy; tội
mua bán trái phép chất ma túy; tội chiếm đoạt chất ma túy của Bộ luật
Hình sự đã chấp hành án phạt tù ít nhất một phần hai thời gian đối với trường
hợp bị kết án phạt tù có thời hạn, nếu trước đó đã được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù thì thời
hạn được giảm không được tính vào thời gian đã chấp hành án phạt từ; đã chấp
hành án phạt từ ít nhất là 17 năm đối với trường hợp bị phạt tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn, nếu
sau khi đã được
giảm xuống tù có thời hạn mà tiếp tục được giảm thời hạn chấp hành án phạt từ
thì thời hạn được giảm sau đó không được tính vào thời gian đã chấp hành án phạt tù;
c) Đã
chấp hành xong hình phạt bổ sung là phạt tiền, đã nộp án phí;
d) Đã
thi hành xong nghĩa vụ trả lại tài sản, bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ dân sự
khác đối với người bị kết án phạt tù về các tội phạm tham nhũng;
đ)
Đã thi hành xong hoặc thi hành được một phần nghĩa vụ trả lại tài sản, bồi thường
thiệt hại, nghĩa vụ dân sự khác nhưng do lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó
khăn thuộc trường hợp chưa có điều kiện thi hành tiếp phần còn lại theo quy định
của pháp luật về thi hành án dân sự đối với người bị kết án phạt tù về tội phạm
không phải là tội phạm tham nhũng;
Trường hợp phải thi hành
nghĩa vụ trả lại tài sản, bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ dân sự khác đối với
tài sản không thuộc sở hữu của Nhà nước thì phải được người được thi hành án đồng ý hoãn thi hành án hoặc
không yêu cầu thi hành án đối với tài sản này;
e)
Khi được đặc xá không làm ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự;
g) Không thuộc một trong
các trường hợp quy định tại Điều 4 Quyết định này.
2. Người
đang được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù được đề nghị đặc xá phải có đủ các
điều kiện sau đây:
a) Có nhiều tiến bộ, có ý
thức cải tạo tốt và đủ số kỳ xếp loại chấp hành án phạt tù khá hoặc tốt theo
quy định của pháp luật về thi hành án hình sự trong thời gian chấp hành án phạt
tù trước khi có quyết định tạm đình chỉ như quy định tại điểm a khoản
1 Điều này;
b) Đã có thời gian chấp hành án phạt tù quy định
tại điểm b khoản 1 Điều này;
c) Các điều kiện quy định
tại các điểm c, d, đ, e và g khoản 1 Điều này;
d) Chấp hành nghiêm chỉnh
pháp luật trong thời gian được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù.
3. Người
bị kết án phạt tù có thời hạn đã chấp hành ít nhất là một phần tư thời gian và
người bị kết án phạt từ chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn đã chấp
hành ít nhất là 12 năm hoặc trường hợp bị kết án về một trong các tội quy định
tại điểm b khoản 1 Điều này đã chấp hành ít nhất một phần ba thời gian đối với
án phạt tù có thời hạn, 15 năm đối với án phạt tù chung thân, nếu có đủ các điều
kiện quy định tại các điểm a, c, d, đ, e và g khoản 1, các điểm a, c và d khoản
2 Điều này thì được đề nghị đặc xá khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Đã lập công lớn trong thời gian chấp
hành án phạt tù, có xác nhận của trại giam, trại tạm giam hoặc cơ quan có thẩm
quyền khác;
b) Người có công với cách
mạng theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng; người
được tặng thưởng danh hiệu Dũng sĩ trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước; người
được tặng thưởng một trong các danh hiệu: Anh hùng Lao động, Nhà giáo nhân dân, Thầy
thuốc nhân dân, Nghệ sĩ nhân dân, Nghệ nhân nhân dân; người được tặng thưởng một
trong các loại Huân chương; người được tặng thưởng Huy chương Kháng chiến; cha, mẹ, vợ, chồng,
con của liệt sĩ và người có công nuôi dưỡng liệt sĩ khi còn nhỏ; con của Bà mẹ
Việt Nam anh hùng; cha, mẹ, vợ, chồng, con của người có công giúp đỡ cách mạng
được tặng Kỷ niệm chương “Tổ quốc ghi công” hoặc Bằng “Có công với nước”;
c) Người đang mắc bệnh hiểm
nghèo, người đang ốm đau thường xuyên mà không tự phục vụ bản thân;
d)
Khi phạm tội là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều
này;
đ) Người từ đủ 70 tuổi trở lên;
e) Có
hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn và bản thân là lao động duy nhất trong gia
đình;
g) Phụ nữ có thai hoặc có
con dưới 36 tháng tuổi ở cùng mẹ trong trại giam, trại tạm giam;
h) Người khuyết tật nặng
hoặc khuyết tật đặc biệt nặng theo quy định của pháp luật về người khuyết tật;
người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi theo quy định của pháp luật
về dân sự.
4. Người dưới 18 tuổi đang
chấp hành án phạt tù có đủ điều kiện quy định tại điểm a và điểm g khoản 1 Điều này hoặc
người dưới 18 tuổi đang được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù có đủ điều kiện quy định tại điểm g
khoản 1, điểm a và điểm d khoản 2 Điều này được đề nghị đặc xá khi đã chấp hành
ít nhất một phần tư thời gian hoặc đã chấp hành được ít nhất một phần ba thời gian đối
với trường hợp bị kết án phạt tù về một trong các tội quy định tại điểm b khoản 1 Điều
này.
Điều 4. Các trường hợp không được đề nghị đặc xá
Người có đủ điều kiện quy
định tại Điều 3 của Quyết định này không được đề nghị đặc xá
nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
1. Bị kết án phạt tù về tội
phản bội Tổ quốc; tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân; tội gián điệp;
tội xâm phạm an ninh lãnh thổ; tội bạo loạn; tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân; tội phá hoại cơ sở vật
chất - kỹ thuật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc
tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam; tội phá rối an ninh; tội chống phá cơ sở giam giữ; tội khủng
bố hoặc một trong các tội quy định tại Chương các tội phá hoại hòa bình, chống
loài người và tội phạm chiến tranh của Bộ luật
Hình sự.
2. Bản án, phần bản án hoặc quyết
định của Tòa án đối với người đó đang bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm theo hướng tăng nặng
trách nhiệm hình sự.
3.
Đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội khác.
4. Trước đó đã được đặc xá.
5. Có từ 02 tiền án trở
lên hoặc có 01 tiền án mà bị kết án phạt tù về tội do cố ý.
6. Thời hạn chấp hành án
phạt tù còn lại trên 08 năm đối với người được quy định tại khoản
1, khoản 2 Điều 3; trên 10 năm đối với người được quy định tại khoản 3, khoản 4 Điều 3 Quyết định này.
7. Bị kết án phạt tù về tội
phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng xâm phạm an ninh quốc gia, trừ
trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này.
8. Phạm
tội giết 02 người trở lên hoặc giết người có tổ chức hoặc có tính chất côn đồ
hoặc thực hiện tội phạm một cách man rợ, cố ý gây thương tích có tổ chức hoặc
có tính chất côn đồ hoặc dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm; hiếp dâm
có tính chất loạn luân; hiếp dâm trẻ em (theo Bộ
luật Hình sự năm 1999) hoặc hiếp dâm người dưới 16
tuổi; cưỡng dâm có tính chất loạn luân; cưỡng dâm trẻ em (theo Bộ luật Hình sự năm 1999) hoặc cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi;
mua bán phụ nữ thuộc trường hợp phạm tội mua bán nhiều người (theo Bộ luật Hình sự năm 1985) hoặc
mua bán người thuộc trường hợp phạm tội đối với nhiều người (theo Bộ luật Hình sự năm 1999) hoặc mua bán người thuộc trường hợp phạm tội
đối với 02 người trở lên; mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em (theo Bộ luật Hình sự năm 1999) hoặc mua bán người dưới 16 tuổi hoặc
đánh tráo người dưới 01 tuổi hoặc chiếm đoạt người dưới 16 tuổi; cướp tài sản
có sử dụng vũ khí; cướp tài sản, cưỡng đoạt tài sản, cướp giật tài sản, trộm cắp
tài sản gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng (theo
Bộ luật Hình sự năm 1999) hoặc cướp tài sản, cưỡng đoạt tài sản, cướp
giật tài sản, trộm cắp tài sản có tổ chức hoặc gây ảnh hưởng xấu đến an ninh,
trật tự, an toàn xã hội; chống người thi hành công vụ gây hậu quả nghiêm trọng
(theo Bộ luật Hình sự năm 1999) hoặc có tổ chức hoặc xúi giục,
lôi kéo, kích động người khác phạm tội.
9. Phạm tội cướp tài sản
hoặc tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản mà thời hạn chấp hành án phạt tù còn lại
trên 01 năm đối với người bị kết án phạt tù dưới 07 năm hoặc thời hạn chấp hành án phạt
tù còn lại hên 02 năm đối với người bị kết án phạt tù từ 07 năm đến 15 năm hoặc
thời hạn chấp hành án phạt tù còn lại trên 03 năm đối với người bị kết án phạt
tù trên 15 năm, tù chung thân.
10. Phạm tội về ma túy mà
thời hạn chấp hành án phạt tù còn lại trên 06 tháng đối với người bị kết án phạt
tù từ 03 năm trở xuống hoặc thời hạn chấp hành án phạt tù còn lại trên 01 năm đối với người bị
kết án phạt tù trên 03 năm đến dưới 07 năm hoặc thời hạn chấp hành án phạt tù còn lại trên 02 năm đối với người bị
kết án phạt tù từ 07 năm đến 15 năm hoặc thời hạn chấp hành án phạt tù còn lại trên 03 năm đối với người bị
kết án phạt tù trên 15 năm, tù chung thân.
11. Phạm một trong các tội quy định tại
Chương các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người của
Bộ luật Hình sự do cố ý mà thời hạn tù còn
lại trên 02 năm
đối với người bị kết án phạt tù từ 10 năm đến 15 năm hoặc thời hạn chấp hành án phạt
tù còn lại trên
03 năm đối với
người bị kết án phạt tù trên 15 năm, tù chung thân.
12.
Người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy trong vụ án phạm tội có tổ chức; người dùng thủ
đoạn xảo quyệt, ngoan cố chống đối trong vụ án phạm tội có tổ chức; người phạm
tội có tính chất chuyên nghiệp.
13.
Có căn cứ khẳng định đã từng sử dụng trái phép chất ma tuý.
14. Bị kết án phạt tù do
phạm từ ba tội trở lên hoặc phạm từ hai tội do cố ý trở lên, kể cả trường hợp tổng hợp hình phạt; hoặc đang chấp
hành hình phạt tổng hợp do bị kết án phạt tù 02 lần trở lên về cùng một tội do cố
ý.
15. Ba lần bị kết án phạt tù trở lên về cùng một tội do cố
ý.
Điều 5. Đặc xá trong trường hợp đặc biệt
Chính phủ chủ trì, phối hợp với Tòa án
nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các cơ quan, tổ chức có
liên quan lập hồ sơ của người được đề nghị đặc xá trong trường hợp đặc biệt
theo Điều 22, Điều 23 của Luật Đặc xá để trình Chủ tịch nước
xem xét, quyết định.
Điều 6. Chính phủ chỉ đạo tổ chức tuyên truyền, phổ biến về ý
nghĩa, mục đích và nội dung của hoạt động đặc xá; chỉ đạo Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, các cơ quan
khác của Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện đặc xá theo quy định của Luật Đặc xá, Quyết định của Chủ tịch nước về đặc xá năm
2026 và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Điều 7. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký.
Thủ tướng Chính phủ, Chánh
án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chủ tịch
và các thành viên Hội đồng tư vấn đặc xá, Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước chịu
trách nhiệm thi hành Quyết định này.
|
Nơi nhận:
- Như Điều 7;
- Bộ Chính trị, Ban Bí thư;
- Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
- Chủ tịch nước;
- Phó Chủ tịch nước;
- Ban Nội chính TW;
- Văn phòng Tổng Bí thư;
- Bộ Công an;
- Lưu: VT, PL (2).
|
CHỦ TỊCH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Tô Lâm
|
Quyết định 457/QĐ-CTN về đặc xá năm 2026 do Chủ tịch nước ban hành
Văn bản này chưa cập nhật nội dung Tiếng Anh
Quyết định 457/QĐ-CTN về đặc xá ngày 07/04/2026 do Chủ tịch nước ban hành
Văn bản liên quan
Ban hành:
21/04/2026
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng: Đã biết
Cập nhật:
28/04/2026
Ban hành:
11/04/2026
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng: Đã biết
Cập nhật:
14/04/2026
Ban hành:
16/07/2025
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng: Đã biết
Cập nhật:
17/07/2025
Ban hành:
04/07/2025
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng: Đã biết
Cập nhật:
07/07/2025
Ban hành:
03/07/2025
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng: Đã biết
Cập nhật:
21/07/2025
Ban hành:
25/06/2025
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng: Đã biết
Cập nhật:
30/06/2025
Ban hành:
16/06/2025
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng: Đã biết
Cập nhật:
16/06/2025
Ban hành:
19/11/2018
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng: Đã biết
Cập nhật:
10/12/2018
Ban hành:
20/06/2017
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng: Đã biết
Cập nhật:
07/07/2017
Ban hành:
27/11/2015
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng: Đã biết
Cập nhật:
19/12/2015
2.002
|
NỘI DUNG SỬA ĐỔI, HƯỚNG DẪN
Văn bản bị thay thế
Văn bản thay thế
Chú thích
Chú thích:
Rà chuột vào nội dụng văn bản để sử dụng.
<Nội dung> = Nội dung hai
văn bản đều có;
<Nội dung> =
Nội dung văn bản cũ có, văn bản mới không có;
<Nội dung> = Nội dung văn
bản cũ không có, văn bản mới có;
<Nội dung> = Nội dung được sửa đổi, bổ
sung.
Click trái để xem cụ thể từng nội dung cần so sánh
và cố định bảng so sánh.
Click phải để xem những nội dung sửa đổi, bổ sung.
Double click để xem tất cả nội dung không có thay
thế tương ứng.
Tắt so sánh [X] để
trở về trạng thái rà chuột ban đầu.
FILE ĐƯỢC ĐÍNH KÈM THEO VĂN BẢN
FILE ATTACHED TO DOCUMENT
|
|
|
|
|
Địa chỉ:
|
17 Nguyễn Gia Thiều, P. Xuân Hòa, TP.HCM
|
|
Điện thoại:
|
(028) 3930 3279 (06 lines)
|
|
E-mail:
|
inf[email protected]
|
|
Mã số thuế:
|
0315459414
|
|
|
|
TP. HCM, ngày 31/05/2021
Thưa Quý khách,
Đúng 14 tháng trước, ngày 31/3/2020, THƯ VIỆN PHÁP LUẬT đã bật Thông báo này, và nay 31/5/2021 xin bật lại.
Hơn 1 năm qua, dù nhiều khó khăn, chúng ta cũng đã đánh thắng Covid 19 trong 3 trận đầu. Trận 4 này, với chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, chắc chắn chúng ta lại thắng.
Là sản phẩm online, nên 250 nhân sự chúng tôi vừa làm việc tại trụ sở, vừa làm việc từ xa qua Internet ngay từ đầu tháng 5/2021.
Sứ mệnh của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT là:
sử dụng công nghệ cao để tổ chức lại hệ thống văn bản pháp luật,
và kết nối cộng đồng Dân Luật Việt Nam,
nhằm:
Giúp công chúng “…loại rủi ro pháp lý, nắm cơ hội làm giàu…”,
và cùng công chúng xây dựng, thụ hưởng một xã hội pháp quyền trong tương lai gần;
Chúng tôi cam kết dịch vụ sẽ được cung ứng bình thường trong mọi tình huống.
THÔNG BÁO
về Lưu trữ, Sử dụng Thông tin Khách hàng
Kính gửi: Quý Thành viên,
Nghị định 13/2023/NĐ-CP về Bảo vệ dữ liệu cá nhân (hiệu lực từ ngày 01/07/2023) yêu cầu xác nhận sự đồng ý của thành viên khi thu thập, lưu trữ, sử dụng thông tin mà quý khách đã cung cấp trong quá trình đăng ký, sử dụng sản phẩm, dịch vụ của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT.
Quý Thành viên xác nhận giúp THƯ VIỆN PHÁP LUẬT được tiếp tục lưu trữ, sử dụng những thông tin mà Quý Thành viên đã, đang và sẽ cung cấp khi tiếp tục sử dụng dịch vụ.
Thực hiện Nghị định 13/2023/NĐ-CP, chúng tôi cập nhật Quy chế và Thỏa thuận Bảo về Dữ liệu cá nhân bên dưới.
Trân trọng cảm ơn Quý Thành viên.
Tôi đã đọc và đồng ý Quy chế bảo vệ dữ liệu cá nhân
Tiếp tục sử dụng

Cảm ơn đã dùng ThuVienPhapLuat.vn
- Bạn vừa bị Đăng xuất khỏi Tài khoản .
-
Hiện tại có đủ người dùng cùng lúc,
nên khi người thứ vào thì bạn bị Đăng xuất.
- Có phải do Tài khoản của bạn bị lộ mật khẩu
nên nhiều người khác vào dùng?
- Hỗ trợ: (028) 3930.3279 _ 0906.229966
- Xin lỗi Quý khách vì sự bất tiện này!
Tài khoản hiện đã đủ người
dùng cùng thời điểm.
Quý khách Đăng nhập vào thì sẽ
có 1 người khác bị Đăng xuất.
Tài khoản của Quý Khách đẵ đăng nhập quá nhiều lần trên nhiều thiết bị khác nhau, Quý Khách có thể vào đây để xem chi tiết lịch sử đăng nhập
Có thể tài khoản của bạn đã bị rò rỉ mật khẩu và mất bảo mật, xin vui lòng đổi mật khẩu tại đây để tiếp tục sử dụng
|
|