|
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỐI CAO
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 162/QĐ-CA
|
Hà Nội, ngày 29 tháng 5 năm 2026
|
QUYẾT ĐỊNH
VỀ VIỆC CÔNG BỐ ÁN LỆ
CHÁNH ÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
- Căn cứ Điều
32 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân số 34/2024/QH15 đã được sửa đổi, bổ sung một
số điều theo Luật số 81/2025/QH15, Luật số 106/2025/QH15, Luật số
116/2025/QH15, Luật số 142/2025/QH15 và Luật số 150/2025/QH15;
- Căn cứ Nghị quyết số
04/2019/NQ-HĐTP ngày 18 tháng 6 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân
tối cao về quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ đã được sửa đổi, bổ
sung bởi Nghị quyết số 02/2025/NQ-HĐTP ngày 27 tháng 6 năm 2025 của Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của một số Nghị quyết
của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
- Căn cứ kết quả lựa chọn,
biểu quyết thông qua án lệ của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ngày
21 tháng 5 năm 2026,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều
1. Công bố 08 (tám) án lệ đã được Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua (có án lệ kèm theo).
Điều
2. Các Tòa án có trách nhiệm nghiên cứu, áp dụng
các án lệ nêu tại Điều 1 của Quyết định này trong xét xử kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2026.
Việc áp dụng án lệ được thực
hiện theo hướng dẫn tại Điều 8 Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP
ngày 18 tháng 6 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về quy
trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị quyết
số 02/2025/NQ-HĐTP ngày 27 tháng 6 năm 2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân
dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của một số Nghị quyết của Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao.
Điều
3. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký./.
|
Nơi nhận:
- Ủy ban Thường
vụ Quốc hội;
- Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội;
- Ban Nội chính Trung ương;
- Văn phòng Chủ tịch nước;
- Văn phòng Chính phủ 02 bản (để đăng Công báo);
- Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
- Bộ Tư pháp;
- Bộ Công an;
- Liên đoàn Luật sư Việt Nam;
- Trung ương Hội luật gia Việt Nam;
- Các TAND và TAQS;
- Các Thẩm phán TANDTC;
- Các đơn vị thuộc TANDTC;
- Cổng thông tin điện tử TANDTC (để đăng tải);
- Lưu: VT, Vụ PC&QLKH TANDTC (P3).
|
CHÁNH ÁN
Nguyễn Văn Quảng
|
ÁN LỆ SỐ 90/2026/AL*
Về thẩm quyền hủy giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất của Tòa án
Được Hội đồng Thẩm phán
Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 21 tháng 5 năm 2026 và được công bố theo
Quyết định số 162/QĐ-CA ngày 29 tháng 5 năm 2026 của Chánh án Tòa án nhân dân tối
cao.
Nguồn án lệ:
Quyết định giám đốc thẩm số
10/2024/HC-GĐT ngày 16/4/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về
vụ án hành chính “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất
đai” giữa người khởi kiện là ông Trần Ngọc T với người bị kiện là Ủy ban
nhân dân huyện G, tỉnh Q, Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Q; người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan gồm 7 người.
Vị trí nội dung án lệ:
Đoạn 5 phần “Nhận định của
Tòa án”.
Khái quát nội dung của
án lệ:
- Tình huống án lệ:
Do sai sót về trình tự, thủ
tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Ủy ban nhân dân có thẩm quyền đã cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất chồng lên phần diện
tích đất của người sử dụng đất liền kề đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất trước đó. Người được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không đúng đã
chuyển nhượng cho người thứ ba và người thứ ba đã được cấp đổi giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất. Người sử dụng đất liền kề khởi kiện vụ án hành chính yêu cầu
Tòa án tuyên hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho người thứ ba.
- Giải pháp pháp lý:
Trường hợp này, Toà án phải
xác định giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là quyết định hành chính và có thẩm
quyền xem xét tính hợp pháp của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho
người thứ ba, tuyên hủy một phần hoặc toàn bộ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
này.
Quy định của pháp luật
liên quan đến án lệ:
- Khoản 1 Điều
3, khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm
2019, 2024 và 2025);
- Điểm d khoản
2 Điều 106 Luật Đất đai năm 2013 (tương ứng với điểm d khoản
2 Điều 152 Luật Đất đai năm 2024);
- Khoản 5 Điều
87 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định chi tiết thi hành một
số điều của Luật Đất đai.
Từ khóa của án lệ:
“Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất”; “Quyết định hành chính”; “Hủy một phần hoặc toàn bộ giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Ngày 06/7/1999, ông Trần
Ngọc T được UBND huyện G cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) số
0888590, diện tích 609m2, loại đất màu, thửa đất số 106/1, tờ bản đồ
số 38, tại thị trấn G1, huyện G, tỉnh Quảng Trị. Cùng ngày, ông Nguyễn Văn T1
(tên gọi khác là Nguyễn Văn T2) cũng được cấp GCNQSDĐ số 0888599, tổng diện
tích 947m2 đất, trong đó có 50m2 đất tại thửa đất số
106/2, tờ bản đồ số 38, thị trấn G1, huyện G, tỉnh Quảng Trị.
Tại Sổ mục kê được Sở địa
chính huyện G lập ngày 06/12/2001 thể hiện thửa đất số 106 đồng sử dụng (thửa đất
số 106/1 người đứng tên chủ sử dụng là ông Trần Ngọc T và thửa đất số 106/2 là
ông Nguyễn Văn T3 (có dòng chữ ghi thêm là sai tên, tên thật Nguyễn Văn T2).
Ông Trần Văn D cũng có tên trong sổ mục kê này và đứng tên chủ sử dụng tại thửa
đất số 119 diện tích 300m2 đất loại đất ao. Theo trích lục từ tờ bản
đồ địa chính số 38 năm 2001 thì thửa đất của ông Trần Ngọc T có vị trí: phía
Nam giáp thửa đất số 119 của ông Trần Văn D.
Ngày 10/7/2009, ông Trần
Văn D (là con rể của ông Trần Ngọc T) có Đơn xin cấp GCNQSDĐ đối với các thửa đất
số 106, 119 (thửa cuối 222, 223), tờ bản đồ số 38, diện tích 542m2;
nguồn gốc đất ghi: “đất do cha ông để lại”. Ngày 26/11/2009, UBND huyện G ban
hành Quyết định số 2671/QĐ-UBND về việc cấp GCNQSDĐ cho hộ ông Trần Văn D và bà
Trần Thị T4, diện tích 542m2 tại thị trấn G1, huyện G, tỉnh Quảng Trị
để sử dụng vào mục đích 153m2 đất trồng cây hàng năm và 389m2
đất nuôi trồng thủy sản. Cùng ngày, UBND huyện G cấp GCNQSDĐ số AK 842771 cho hộ
gia đình ông D, bà T4 diện tích đất 542m2 tại thửa đất số 222, 223,
tờ bản đồ số 38, tại thị trấn G1, huyện G.
Ngày 29/3/2017, vợ chồng
ông D, bà T4 đã lập Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng 542m2 đất
theo GCNQSDĐ số AK 842771 cho vợ chồng ông Trần Văn T5, bà Trần Thị T6; Hợp đồng
được chứng thực tại UBND thị trấn G1 ngày 31/3/2017. Ngày 04/4/2017, Văn phòng
đăng ký đất đai Chi nhánh huyện G đã chỉnh lý trên GCNQSDĐ của ông D, bà T4 thể
hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Trần Văn T5, bà Trần Thị T6.
Ngày 15/4/2021, ông Trần
Ngọc T có Đơn khởi kiện và ngày 22/6/2021, Ông Nguyễn Văn T2 có Đơn yêu cầu độc
lập yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị hủy toàn bộ các quyết định hành
chính: Quyết định số 2671/QĐ-UBND ngày 26/11/2009 của UBND huyện G về việc cấp
GCNQSDĐ cho ông Trần Văn D và bà Trần Thị T4; GCNQSDĐ số AK 842771 do UBND huyện
G cấp ngày 26/11/2009 cho hộ ông Trần Văn D và bà Trần Thị T4, thửa đất số 222,
223, tờ bản đồ số 3 8, tại thị trấn G1, huyện G, tỉnh Quảng Trị, diện tích
542m2; phần quyết định của Văn phòng đăng ký đất đai Chi nhánh huyện G được ghi
tại phần IV- GCNQSDĐ nêu trên, với lý do: UBND huyện G khi cấp GCNQSDĐ theo đơn
của ông D và sau này Văn phòng đăng ký đất đai Chi nhánh huyện G thực hiện thủ
tục gia hạn thời hạn sử dụng đất và chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã không kiểm
tra, xác minh nên đã cấp chồng lên diện tích đất của gia đình các ông đang sử dụng
và đã được Nhà nước cấp GCNQSDĐ.
Tại Văn bản số 696/UBND-NC
ngày 26/5/2021, Biên bản làm việc ngày 21/7/2021, các lời khai trong quá trình
giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của người bị kiện là UBND huyện G
trình bày:
Tại trang 239 Sổ mục kê đất
năm 2001 của thị trấn G1 thì thửa đất số 106, tờ bản đồ số 38, diện tích 659m2
do các đồng sử dụng đất kê khai, trong đó ông Trần Ngọc T kê khai sử dụng thửa
đất số 106/1, diện tích 609m2, ông Nguyễn Văn T1 (T2) kê khai sử dụng
thửa đất số 106/2, diện tích 50m2. Đến năm 2009, quá trình cấp
GCNQSDĐ cho ông Trần Văn P và bà Trần Thị T4 thì mới hợp thức kê khai thêm cho
ông D 153m2 (thửa đất số 222) và 389m2 (thửa đất số 223)
chỉnh lý từ thửa đất số 106, 119.
Theo hồ sơ địa chính năm
2001 thì thửa cuối cùng là thửa đất số 224. Quá trình làm hồ sơ kê khai sử dụng
đất cho ông D, đáng lẽ phải lấy sổ thửa đất tiếp theo là 225, 226 nhưng cán bộ
làm hồ sơ đánh nhầm thành thửa đất số 222, 223. Về bản chất, các thửa đất số
222, 223 kê khai cho ông D được đo đạc chỉnh lý từ thửa đất số 106, 119; vị trí
các thửa đất và quyền sử dụng đất không thay đổi.
Việc cấp GCNQSDĐ cho ông
D, bà T4 thửa đất số 222, 223 có chồng lên một phần đất của thửa đất số 106 do
tại thời điểm cấp GCNQSDĐ cho ông D, Hội đồng cấp đất không xác định được thửa
đất số 106 đã được cấp GCNQSDĐ nên mới tiến hành quy trình cấp đất lần đầu cho
ông D, bà T4. Do đó, việc cấp GCNQSDĐ cho ông D, bà T4 là không đúng quy định.
Năm 2017, ông D, bà T4
chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông T5, bà T6. Căn cứ Điều
106 Luật Đất đai năm 2013 thì UBND huyện không thể thu hồi GCNQSDĐ đã cấp
sai nhưng đã được chuyển nhượng.
Vì vậy, UBND huyện G đề
nghị Tòa án giải quyết vụ án theo đúng quy định của pháp luật.
Tại Văn bản số
341/VPĐKĐĐ-ĐKCG ngày 27/5/2021, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án,
người đại diện hợp pháp của người bị kiện Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Q
trình bày:
Hộ ông Trần Văn D và bà Trần
Thị T4 đã được UBND huyện G cấp GCNQSDĐ số AK 842771 với diện tích 542m2,
thuộc thửa đất số 222, 223, tờ bản đồ số 38, tại khu phố 7, thị trấn G1, huyện G,
tỉnh Quảng Trị, theo Quyết định số 2671/QĐ-UBND ngày 26/11/2009 của UBND huyện
G.
Ngày 27/02/2017, ngày
22/02/2017, ông Trần Văn D và bà Trần Thị T4 nộp hồ sơ tại bộ phận một cửa của
UBND huyện G để thực hiện đăng ký biến động xác nhận tiếp tục sử dụng đất nông
nghiệp. Hồ sơ gồm có: Đơn đăng ký biến động, GCNQSDĐ số AK 842771. Sau khi tiếp
nhận hồ sơ, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện G đã thẩm định và chỉnh
lý ngày 27/02/2017 trên trang IV GCNQSDĐ, có nội dung: “Tiếp tục sử dụng đất đến
tháng 11/2066”.
Ngày 31/3/2017, ông Trần
Văn T5 nộp hồ sơ tại bộ phận một cửa của UBND huyện G để thực hiện chuyển nhượng
quyền sử dụng đất. Hồ sơ gồm có: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã được
UBND thị trấn G1 chứng nhận (chứng thực) ngày 31/3/2017, GCNQSDĐ số AK 842771 cấp
ngày 26/11/2009. Sau khi tiếp nhận hồ sơ, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai
huyện G đã thẩm định và chỉnh lý ngày 04/4/2017 trên trang IV GCNQSDĐ, nội
dung: “Chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Trần Văn T5, CMND số 197077756
và bà Trần Thị T6, CMND số 197204014, địa chỉ tại Khu phố 7, thị trấn G1, huyện
G”.
Tại các thời điểm thẩm định
và chỉnh lý GCNQSDĐ của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện G, Văn phòng
đăng ký đất đai tỉnh Q nhận thấy: hồ sơ đủ điều kiện, đảm bảo đúng trình tự, thủ
tục theo quy định tại Điều 188 Luật Đất đai năm 2013; Điều 75 và Điều 79 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của
Chính phủ; khoản 2 và khoản 10, Điều 9 Thông tư số
24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Do đó, việc
chỉnh lý trên giấy CNQSDĐ đối với các nội dung ngày 27/02/2017 và ngày
04/4/2017 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện G là đúng quy định của
pháp luật. Đề nghị Tòa án căn cứ vào các hồ sơ, tài liệu có liên quan để giải
quyết vụ án theo đúng quy định của pháp luật.
Ý kiến của những người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Tại Văn bản số 177/UBND
ngày 30/8/2021, UBND thị trấn G1 trình bày: đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng
Trị căn cứ quy định của pháp luật để giải quyết vụ án theo đúng trình tự, thẩm
quyền.
Tại Văn bản trình bày ngày
24/5/2021, bà Trần Thị T4 và ông Trần Văn T7: vợ chồng ông D, bà T4 có một ao
cá giáp với đất của ông Trần Ngọc T và ông Nguyễn Văn T2. Đất của ông T có mặt
tiền giáp đường khu vực. Quá trình xin cấp GCNQSDĐ thì ông Trần Văn D là người
trực tiếp làm các thủ tục, giấy tờ nên bà T4 không biết hiện trạng cấp GCNQSDĐ
như thế nào. Sau này, vợ chồng ông D, bà T4 chuyển nhượng thửa đất cho ông Trần
Văn T5 (em trai ông D) và bà Trần Thị T6. Bà T4 chỉ ký tên, còn nội dung cụ thể
thì bà T4 không biết. Đề nghị Tòa án căn cứ quy định của pháp luật để giải quyết
vụ án.
Tại Biên bản lấy lời khai
của đương sự ngày 27/7/2021, bà Hoàng Thị L và ông Trần Văn H trình bày: nguồn
gốc đất mà ông D, bà T4 được cấp GCNQSDĐ trước đây là ao cá của ông H cho con
trai là Trần Văn D. Sau này, vợ chồng ông D, bà T4 được cấp GCNQSDĐ và chuyển
nhượng lại cho vợ chồng Trần Văn T5, Trần Thị T6. Khu vực này nguyên gốc là ao
cá của ông H, đến đất của ông T1 (T2) (con đường), rồi đến đất của ông Trần Ngọc
T. Do đã cho con trai Trần Văn D nên hiện nay vợ chồng ông H, bà L không có quyền
lợi gì đối với diện tích đất mà UBND huyện G cấp cho ông D, bà T4 (sau này chuyển
nhượng lại cho ông T5, bà T6).
Phần đất của ông T đã bị
Nhà nước thu hồi, nếu Nhà nước sử dụng không hết thì phần diện tích còn lại do
Nhà nước quản lý, ông T không có quyền khởi kiện đối với diện tích đó.
Tại Biên bản lấy lời khai
của đương sự ngày 27/7/2021, ông Trần Văn T5 và bà Trần Thị T6 trình bày: vợ chồng
ông, bà nhận chuyển nhượng quyển sử dụng đất từ ông Trần Văn D, bà Trần Thị T4
thửa đất số 222, 223, tờ bản đồ số 38 tại thị trấn G1. Tại thời điểm nhận chuyển
nhượng thì ông D, bà T4 đã được UBND huyện G cấp GCNQDSDĐ. Hợp đồng chuyển nhượng
được công chứng hợp pháp. Diện tích đất nhận chuyển nhượng gồm đất của ông D và
một phần đất của ông Trần Ngọc T (bố vợ ông D) đã cho ông D, bà T4. Thực tế phải
có việc ông T cho ông D, bà T4 đất thì ông D, bà T4 mới được UBND huyện G cấp
GCNQSDĐ. Việc cấp GCNQSDĐ đúng hay sai là trách nhiệm của UBND huyện G. Đề nghị
Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Tại Văn bản trình bày ý kiến
ngày 20/4/2021, ông Trần Ngọc C, bà Trần Thị T8, bà Trần Thị Ái T9, ông Trần Ngọc
T10 trình bày: thống nhất với ý kiến của người khởi kiện ông Trần Ngọc T.
Tại Văn bản trình bày ý kiến
ngày 02/8/2021, anh Nguyễn Thành L1 trình bày: thống nhất với ý kiến của ông
Nguyễn Văn T2 và bà Trần Thị L2.
Chị Nguyễn Thị Kim L3, chị
Nguyễn Thị Nhật L4 không có ý kiến gì.
Tại Bản án hành chính sơ
thẩm số 09/2021/HC-ST ngày 08/9/2021, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị quyết định:
Chấp nhận một phần yêu cầu
khởi kiện của ông Trần Ngọc T và yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan ông Nguyễn Văn T2, bà Trần Thị L2.
- Hủy một phần các quyết định
hành chính đối với thửa đất số 222, tờ bản đồ số 38, diện tích 153m2
đất tại thị trấn G1, cụ thể như sau:
+ Quyết định số
2671/QĐ-UBND ngày 26/11/2009 của UBND huyện G về việc cấp giấy CNQSDĐ cho hộ
ông Trần Văn D và bà Trần Thị T4.
+ Giấy CNQSDĐ đất số AK
842771 do UBND huyện G cấp ngày 26/11/2009 cho hộ ông Trần Văn D và bà Trần Thị
T4. UBND huyện G có trách nhiệm cấp lại giấy CNQSDĐ cho hộ ông Trần Ngọc T và hộ
ông Nguyễn Văn T2, bà Trần Thị L2 đối với diện tích 153m2 đất, tại
thửa số 222 (được chỉnh lý từ thửa số 106), tờ bản đồ số 38 của thị trấn G1
theo đúng quy định của pháp luật.
- Phần chỉnh lý của Văn
phòng đăng ký đất đai Chi nhánh huyện G tại trang IV-giấy CNQSDĐ số AK 842771
do UBND huyện G cấp ngày 26/11/2009 cho hộ ông Trần Văn D và bà Trần Thị T4 là
không có giá trị pháp lý, với nội dung:
+ Tiếp tục sử dụng đất đến
tháng 11/2066.
+ Chuyển nhượng quyền sử dụng
đất cho ông Trần Văn T5, CMND số 197077756 và bà Trần Thị T6, CMND số
197204014; địa chỉ tại Khu phố 7, thị trấn G1, huyện G.
Văn phòng đăng ký đất đai
Chi nhánh huyện G có trách nhiệm chỉnh lý Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
AK 842771 do UBND huyện G cấp ngày 26/11/2009 cho hộ ông Trần Văn D và bà Trần
Thị T4 theo đúng quy định.
Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết
định về án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 23/9/2021 và ngày
01/10/2021, ông Trần Văn T5, bà Trần Thị T6 có đơn kháng cáo một phần bản án
hành chính sơ thẩm.
Tại Bản án hành chính phúc
thẩm số 19/2022/HC-PT ngày 21/02/2022, Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng quyết
định:
Chấp nhận đơn kháng cáo của
ông Trần Văn T5 và bà Trần Thị T6.
Sửa quyết định của Bản án
hành chính sơ thẩm số 09/2021/HC-ST ngày 08/9/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng
Trị:
Không chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của ông Trần Ngọc T và yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan ông Nguyễn Văn T2, bà Trần Thị L2; về các yêu cầu.
- Hủy một phần các quyết định
hành chính đối với thửa đất số 222, tờ bản đồ số 38, diện tích 153m2
đất tại thị trấn G1, cụ thể như sau:
+ Quyết định số
2671/QĐ-UBND ngày 26/11/2009 của UBND huyện G về việc cấp giấy CNQSDĐ cho hộ
ông Trần Văn D và bà Trần Thị T4:
+ Giấy CNQSDĐ số AK 842771
do UBND huyện G cấp ngày 26/11/2009 cho hộ ông Trần Văn D và bà Trần Thị T4.
Tòa án cấp phúc thẩm còn
quyết định về án phí.
Ngày 24/5/2022, ông Trần
Ngọc T có đơn đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thâm đối với bản án hành
chính phúc thẩm nêu trên.
Tại Quyết định kháng nghị
giám đốc thẩm số 67/2023/KN-HC ngày 18/9/2023, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao
kháng nghị đối với Bản án hành chính phúc thẩm số 19/2022/HC-PT ngày 21/02/2022
của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng; đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân
dân tối cao xét xử giám đốc thẩm, hủy Bản án hành chính phúc thẩm số
19/2022/HC-PT ngày 21/02/2022 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng; giữ
nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 09/2021/HC-ST ngày 08/9/2021 của Tòa án
nhân dân tỉnh Quảng Trị.
Tại phiên tòa giám đốc thẩm,
đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân
dân tối cao chấp nhận kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Ngày 15/4/2021, ông Trần
Ngọc T có đơn khởi kiện và ngày 22/6/2021, ông Nguyễn Văn T2 có đơn yêu cầu độc
lập yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị hủy toàn bộ các quyết định hành
chính: Quyết định số 2671/QĐ-UBND ngày 26/11/2009 của UBND huyện G về việc cấp
GCNQSDĐ cho ông Trần Văn D và bà Trần Thị T4; GCNQSDĐ số AK 842771 do UBND huyện
G cấp ngày 26/11/2009 cho hộ ông Trần Văn D và bà Trần Thị T4, thửa đất số 222,
223, tờ bản đồ số 38, tại thị trấn G1, huyện G, tỉnh Quảng Trị, diện tích 542m2;
phần quyết định của Văn phòng đăng ký đất đai Chi nhánh huyện G được ghi tại phần
IV- GCNQSDĐ số AK 842771 do UBND huyện G cấp ngày 26/11/2009 cho hộ ông Trần
Văn D và bà Trần Thị T4 là không có giá trị pháp lý (trong đó có nội dung: tiếp
tục sử dụng đất đến tháng 11/2066; chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Trần
Văn T5 và bà Trần Thị T6), với lý do: UBND huyện G khi cấp GCNQSDĐ theo đơn của
ông D và sau này Văn phòng đăng ký đất đai Chi nhánh huyện G thực hiện thủ tục
gia hạn thời hạn sử dụng đất và chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã không kiểm
tra, xác minh nên đã cấp chồng lên diện tích đất của gia đình các ông đang sử dụng
và đã được Nhà nước cấp GCNQSDĐ.
[2] Tại Biên bản làm việc
ngày 21/7/2021, ông Phan Văn H1 là đại diện hợp pháp của người bị kiện trình
bày: tại trang 239 số mục kê đất năm 2001 của thị trấn G1 thì thửa đất số 106,
tờ bản đồ số 38, diện tích 569m2 do các đồng sử dụng đất kê khai,
trong đó ông T kê khai sử dụng thửa đất số 106/1, diện tích 609m2;
ông T1 (T2) kê khai sử dụng thửa đất số số 106/2, diện tích 50m2; đến
năm 2009 quá trình cấp GCNQSDĐ cho ông D, bà T4 thì hợp thức kê khai thêm cho
ông D 153m2 thửa đất số (222) và 389m2 (thửa đất số 223)
chỉnh lý từ thửa đất số 106 và thửa đất số 119; theo hồ sơ địa chính năm 2001
thì thửa cuối là thửa đất số 224, quá trình làm hồ sơ kê khai sử dụng, cấp đất
cho ông D đáng lẽ phải lấy số tiếp theo là thửa đất số 225, 226 nhưng cán bộ
làm hồ sơ đánh nhầm thửa đất số 222, 223; bản chất các thửa đất này được đo đạc
chỉnh lý từ thửa đất số 106, 119. Vị trí thửa đất, quyền sử dụng đất không thay
đổi; người bị kiện cũng thừa nhận việc cấp GCNQSDĐ cho ông D, bà T4 có chồng
lên một phần thửa đất số 106 do tại thời điểm cấp GCNQSDĐ cho ông D, Hội đồng cấp
đất không xác định được thửa đất số 106 đã được cấp GCNQSDĐ nên mới tiến hành
quy trình cấp lần đầu... Như vậy, có cơ sở xác định trình tự thủ tục xét duyệt
cấp GCNQSDĐ cho hộ gia đình ông D, bà T4 là không đúng quy định của pháp luật,
dẫn đến sai sót. Mặt khác, theo Đơn xin cấp GCNQSDĐ của ông D ngày 10/7/2009 có
ghi nguồn gốc đất cấp là do cha ông để lại nhưng ông D không cung cấp được tài
liệu, chứng cứ về việc ông được cho thửa đất số 106 (sau là thửa đất số 222), tờ
bản đồ số 38.
[3] Tại Biên bản lấy lời
khai của đương sự ngày 27/7/2021, ông Trần Văn T5 và bà Trần Thị T6 trình bày:
vợ chồng ông nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ ông D, bà T4 thửa đất số
222, 223, tờ bản đồ số 38; thời điểm chuyển nhượng diện tích đất này đã được
UBND huyện G cấp GCNQSDĐ cho ông D, bà T4, diện tích đất này gồm một phần đất của
ông T (bố vợ ông D) và một phần đất của ông D, bà T4. Ông nhận chuyển nhượng
GCNQSDĐ từ ông D, bà T4 trên cơ sở có hợp đồng đã được công chứng hợp pháp; việc
cấp GCNQSDĐ đúng hay sai là do UBND huyện G.
[4] Khi xét xử, Tòa án cấp
sơ thẩm đã chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông T, chấp nhận một phần
yêu cầu độc lập của ông T2, hủy một phần Quyết định số 2671/QĐ-UBND ngày
26/11/2009 của UBND huyện G về việc cấp GCNQSDĐ cho hộ gia đình ông D, bà T4; hủy
một phần GCNQSDĐ do UBND huyện G cấp ngày 26/11/2009 cho hộ gia đình ông D, bà
T4; buộc UBND huyện G cấp lại GCNQSDĐ cho các hộ gia đình ông T, ông T2 đối với
diện tích 153m2 đất tại thửa đất số 222 (được chỉnh lý từ thửa đất số
106) theo đúng quy định pháp luật; xác định phần chỉnh lý của Văn phòng đăng ký
đất đai Chi nhánh huyện G trên GCNQSDĐ của hộ gia đình ông D, bà T4 là không có
giá trị pháp lý; Văn phòng đăng ký đất đai có trách nhiệm chỉnh lý lại GCNQSDĐ
của gia đình ông D là có căn cứ vì: Việc cấp chồng diện tích đất trên GCNQSDĐ
được chính người bị kiện thừa nhận; ông D không cung cấp được tài liệu, chứng cứ
liên quan đến quyền sử dụng đất được cấp tại thửa đất số 106, tờ bản đồ số 38 tại
thị trấn G1, huyện G.
[5] Tòa án cấp phúc thẩm
cũng xác định việc cấp GCNQSDĐ cho hộ gia đình ông D, bà T4 là bị chồng lên phần
đất của gia đình ông T, ông T2. Tuy nhiên, Tòa án cấp phúc thẩm lại không chấp
nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Ngọc T và yêu cầu độc lập của người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn T2, bà Trần Thị L2 với lý do: căn cứ
vào điểm d khoản 2 Điều 106 Luật Đất đai năm 2013, khoản 5 Điều 87 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của
Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai thì Nhà nước
không thu hồi GCNQSDĐ trong trường hợp GCNQSDĐ đã cấp không đúng nhưng người được
cấp giấy chứng nhận đã thực hiện chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của
pháp luật đất đất đai... nhận định của Tòa án cấp phúc thẩm là không đúng quy định
của pháp luật. Bởi lẽ, GCNQSDĐ là quyết định hành chính theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính. Hội đồng xét xử trong
phạm vi thẩm quyền của mình xem xét tính hợp pháp của quyết định hành chính và
có quyền quyết định tuyên hủy một phần hoặc toàn bộ quyết định hành chính trái
pháp luật theo quy định tại khoản 2 Điều 193, khoản 1 Điều 241
Luật Tố tụng hành chính. Mặt khác, quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm sẽ dẫn
đến việc tồn tại một lúc 03 GCNQSDĐ với cùng một diện tích 153m2
(GCNQSDĐ năm 1999 của hộ gia đình ông Trần Ngọc T, GCNQSDĐ năm 1999 của hộ gia
đình ông Nguyễn Văn T1 (T2) và GCNQSDĐ năm 2017 của hộ gia đình ông Trần Văn D,
bà Trần Thị T4, sau này chỉnh lý sang cho ông Trần Văn T5, bà Trần Thị T6) là
không đúng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm
a khoản 2 Điều 266, khoản 2 Điều 272, Điều 273 và khoản 2 Điều 274 Luật Tố tụng
hành chính.
1. Chấp nhận Quyết định
kháng nghị giám đốc thẩm số 67/2023/KN-HC ngày 18/9/2023 của Chánh án Tòa án
nhân dân tối cao đối với Bản án hành chính phúc thẩm số 19/2022/HC-PT ngày
21/02/2022 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
2. Hủy Bản án hành chính
phúc thẩm số 19/2022/HC-PT ngày 21/02/2022 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
3. Giữ nguyên Bản án hành
chính sơ thẩm số 09/2021/HC-ST ngày 08/9/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị.
NỘI DUNG ÁN LỆ
“[5] Tòa án cấp phúc thẩm
cũng xác định việc cấp GCNQSDĐ cho hộ gia đình ông D, bà T4 là bị chồng lên phần
đất của gia đình ông T, ông T2. Tuy nhiên, Tòa án cấp phúc thẩm lại không chấp
nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Ngọc T và yêu cầu độc lập của người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn T2, bà Trần Thị L2 với lý do: căn cứ
vào điểm d khoản 2 Điều 106 Luật Đất đai năm 2013, khoản 5 Điều 87 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của
Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai thì Nhà nước
không thu hồi GCNQSDĐ trong trường hợp GCNQSDĐ đã cấp không đúng nhưng người được
cấp giấy chứng nhận đã thực hiện chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của
pháp luật đất đất đai... nhận định của Tòa án cấp phúc thẩm là không đúng quy định
của pháp luật. Bởi lẽ, GCNQSDĐ là quyết định hành chính theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính. Hội đồng xét xử trong
phạm vi thẩm quyền của mình xem xét tính hợp pháp của quyết định hành chính và
có quyền quyết định tuyên hủy một phần hoặc toàn bộ quyết định hành chính trái
pháp luật theo quy định tại khoản 2 Điều 193, khoản 1 Điều 241
Luật Tố tụng hành chính. Mặt khác, quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm sẽ dẫn
đến việc tồn tại một lúc 03 GCNQSDĐ với cùng một diện tích 153m2
(GCNQSDĐ năm 1999 của hộ gia đình ông Trần Ngọc T, GCNQSDĐ năm 1999 của hộ gia
đình ông Nguyễn Văn T1 (T2) và GCNQSDĐ năm 2017 của hộ gia đình ông Trần Văn D,
bà Trần Thị T4, sau này chỉnh lý sang cho ông Trần Văn T5, bà Trần Thị T6) là
không đúng.”.
ÁN LỆ SỐ 89/2026/AL*
Về việc bồi thường, hỗ trợ
khi nhà nước thu hồi đất đối với tài sản là nhà mua thanh lý để ở trên đất của
cơ quan nhà nước
Được Hội đồng Thẩm phán
Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 21 tháng 5 năm 2026 và được công bố theo
Quyết định số 162/QĐ-CA ngày 29 tháng 5 năm 2026 của Chánh án Tòa án nhân dân tối
cao.
Nguồn án lệ:
Quyết định giám đốc thẩm số
09/2023/HC-GĐT ngày 13/4/2023 về vụ án hành chính “Khiếu kiện quyết định
hành chính, hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai và yêu cầu bồi
thường thiệt hại” của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao giữa người
khởi kiện là ông Nguyễn Dực H với người bị kiện là Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh
P, Ủy ban nhân dân huyện T1, tỉnh P; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm
02 người.
Vị trí nội dung án lệ:
Đoạn 5 phần “Nhận định của
Toà án”.
Khái quát nội dung của
án lệ:
- Tình huống án lệ:
Cơ quan nhà nước bán thanh
lý tài sản là nhà xây dựng trên phần đất trụ sở của cơ quan, không có thỏa thuận
về chuyển nhượng quyền sử dụng đất, trước khi cơ quan có thẩm quyền ban hành
quyết định thu hồi phần đất này. Bên mua đã sử dụng nhà vào mục đích để ở. Quá
trình sử dụng, bên mua đã tạo lập, tôn tạo tài sản mới trên đất. Sau đó, cơ
quan nhà nước có thẩm quyền đã thu hồi phần đất này.
- Giải pháp pháp lý:
Trường hợp này, Tòa án phải
xác định khi nhà nước thu hồi đất, bên mua tài sản trên đất không đủ điều kiện
được bồi thường về đất nhưng được xem xét bồi thường, hỗ trợ đối với tài sản
trên đất bị thu hồi.
Quy định của pháp luật
có liên quan đến án lệ:
Khoản 3 Điều
43 Luật Đất đai năm 2003 (tương ứng với khoản 1 Điều 89 Luật
Đất đai năm 2013, khoản 1 Điều 102 Luật Đất đai năm 2024).
Từ khoá của án lệ:
“Mua thanh lý nhà để ở”;
“Thu hồi đất”; “Bồi thường, hỗ trợ đối với tài sản trên đất bị thu hồi”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Năm 1991, vợ ông Nguyễn Dực
H là bà Nguyễn Thị C chuyển công tác đến Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Vĩnh Phú
(cũ). Khi về nhận công tác, bà C được cơ quan phân cho một gian nhà làm việc và
một gian nhà để ở. Sau đó, ông H đã xin cơ quan và được đồng ý cho ông làm thêm
một quán bán hàng và một số công trình phụ khác.
Năm 1996, Tòa án nhân dân
huyện T chuyển đến trụ sở mới nên ông H làm đơn xin mua nhà thanh lý và được
Tòa án nhân dân huyện T đồng ý bán cho ông H 03 gian nhà với số tiền là
4.000.000 đồng (Quyết định số 03/QĐ- TA ngày 20/4/1998 của Tòa án nhân dân huyện
T).
Ngày 26/3/2008, Ủy ban
nhân dân huyện T1 ban hành Quyết định số 344/QĐ-UBND về việc thu hồi và chuyển mục
đích sử dụng đối với 1.430m: đất trụ sở cơ quan do Ủy ban nhân dân thị trấn H
quản lý để phục vụ việc giao đất ở cho hộ gia đình, cá nhân năm 2008 tại thị trấn
H, huyện T1 trong đó chuyển đổi 1.384m2 đất thành loại đất ở và 46m2
đất thành đất thủy lợi. Diện tích đất bị thu hồi nêu trên tiếp tục giao lại cho
Ủy ban nhân dân thị trấn H quản lý để lập hồ sơ giao đất ở cho các hộ gia đình,
cá nhân, trình Ủy ban nhân dân huyện T1 xem xét phê duyệt. Ngày 04/4/2008, ông
H tiếp tục làm đơn đề nghị hợp thức đất.
Ngày 02/3/2009, Ủy ban
nhân dân huyện T1 ban hành Quyết định số 205/QĐ-UBND về việc thu hồi diện tích
1.384m2 đất ở do Ủy ban nhân dân thị trấn H quản lý để giao cho Hội
đồng đấu giá quyền sử dụng đất huyện tổ chức đấu giá quyền sử dụng đất ở (sau
đây viết tắt là Quyết định số 205/QĐ-UBND). Ông H không nhất trí và đã có khiếu
nại.
Ủy ban nhân dân huyện T1
và Ủy ban nhân dân tỉnh P đã lần lượt trả lời bác khiếu nại của ông H tại các
Quyết định số 1825/QĐ-UBND ngày 22/10/2010 và Quyết định số 1445/QĐ-UBND ngày
26/4/2011. Ngày 04/7/2011, Ủy ban nhân dân huyện T1 ban hành Quyết định số
787/QĐ-UBND về việc cưỡng chế giải phóng mặt bằng đối với tài sản của hộ gia
đình ông H (viết tắt là Quyết định số 787/QĐ-UBND).
Ông H cho rằng các Quyết định
số 205/QĐ-UBND, Quyết định số 1825/QĐ-UBND, Quyết định số 1445/QĐ-UBND, Quyết định
số 787/QĐ-UBND nêu trên là trái pháp luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp
pháp của gia đình ông vì ông đủ điều kiện được làm thủ tục cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất theo quy định tại điểm đ khoản 1, khoản 6 Điều
50 Luật Đất đai năm 2003; Điều 8 Nghị định số
198/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 và Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007
của Chính phủ; ngoài ra, trình tự, thủ tục ban hành Quyết định số 205/QĐ-UBND của
Ủy ban nhân dân huyện T1 không đúng quy định pháp luật khi chưa giải phóng mặt
bằng đã đấu giá quyền sử dụng đất. Các Quyết định giải quyết khiếu nại của Ủy
ban nhân dân huyện T1 và Ủy ban nhân dân tỉnh P có nhiều điểm mâu thuẫn và
không đúng thực tế. Khi ban hành quyết định giải quyết khiếu nại, Ủy ban nhân
dân tỉnh P cũng không gửi quyết định này cho vợ chồng ông H. Theo quy định của
pháp luật ông có quyền khởi kiện Quyết định số 1825/QĐ-UBND và Quyết định số 1445/QĐ-UBND
chưa có hiệu lực pháp luật, nhưng Ủy ban nhân dân huyện T1 đã ban hành và thực
hiện cưỡng chế tài sản của gia đình ông là xâm phạm đến quyền và lợi ích chính
đáng của gia đình ông. Do đó, các ngày 18/8/2011, ngày 05/9/2011, ngày
12/9/2011, ngày 29/11/2011, ông Nguyễn Dực H có đơn khởi kiện và đơn khởi kiện
bổ sung yêu cầu Tòa án hủy Quyết định số 205/QĐ-UBND ngày 02/3/2009 của Ủy ban
nhân dân huyện T1, tỉnh P; Quyết định số 1825/QĐ-UBND ngày 22/10/2010 của Chủ tịch
Ủy ban nhân dân huyện T1; Quyết định số 1445/QĐ-UBND ngày 26/4/2011 của Chủ tịch
Ủy ban nhân dân tỉnh P; Quyết định số 787/QĐ-UBND ngày 04/7/2011 của Ủy ban
nhân dân huyện T1; Thông báo số 04/TB-UBND ngày 03/8/2011 của Ủy ban nhân dân
thị trấn II, huyện T1, tỉnh P; yêu cầu Ủy ban nhân dân huyện T1 bồi thường thiệt
hại số tiền 942.500.000 đồng do việc cưỡng chế gây ra và bồi thường danh dự
nhân phẩm cho ông số tiền 300.000.000 đồng.
Quan điểm của người bị kiện:
Người bị kiện là Chủ tịch Ủy
ban nhân dân tỉnh P trình bày:
Việc ông H đề nghị được
xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên phần diện tích đất mua tài sản
thanh lý (03 gian nhà làm việc) của Tòa án nhân dân huyện T năm 1998 theo quy định
tại điểm d khoản 1 Điều 50 của Luật Đất đai năm 2003 là
không có cơ sở bởi vì: từ năm 1984 đến năm 2007, chủ sử dụng thửa đất số 57, tờ
bản đồ số 19 là Tòa án nhân dân huyện T1; ông H không phải là chủ sử dụng đất hợp
pháp đối với phần diện tích gắn liền với tài sản mua thanh lý. Tại Quyết định số
03/QĐ-TA của Tòa án nhân dân huyện T và Hợp đồng mua bán nhà thanh lý của cơ
quan Tòa án với ông H đã khẳng định là bán thanh lý tài sản, không thể hiện tài
sản thanh lý là nhà ở gắn liền với đất ở như đơn ông H khiếu nại. Ông H cũng
không phải là người bị nhà nước thu hồi đất, không thuộc đối tượng được bồi thường
về đất theo quy định tại Điều 8 Nghị định số 197/2004/NĐ-CP
ngày 29/12/2004 của Chính phủ, ông H cũng không thuộc đối tượng được xem xét cấp
giấy chứng nhận theo quy định tại Điều 50 Luật Đất đai năm 2003.
Việc Ủy ban nhân dân huyện T1, Ủy ban nhân dân thị trấn H tổ chức thực hiện quy
hoạch, đấu giá quyền sử dụng đất tại khu vực Tòa án nhân dân huyện cũ để đầu tư
cơ sở hạ tầng, phát triển kinh tế, xã hội của địa phương thực hiện theo đúng
quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất giai đoạn 2002-2010 đã được Ủy ban nhân dân tỉnh
P phê duyệt. Do đó, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh P ban hành Quyết định số
1445/QĐ-UBND ngày 26/4/2011 về việc giải quyết đơn khiếu nại của ông Nguyễn Dực
H là đúng quy định của pháp luật.
Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh
Phú Thọ bác đơn khởi kiện của ông Nguyễn Dực H.
Người bị kiện là Ủy ban
nhân dân huyện T1 trình bày:
Ủy ban nhân dân huyện T1
nhận đơn khiếu nại của ông Nguyễn Dực H về việc năm 2009 Ủy ban nhân dân huyện
T1 thu hồi đất tại khu vực Tòa án nhân dân huyện T (cũ) mà gia đình ông đã mua
thanh lý năm 1998, nhưng ông không được bồi thường nhà, đất. Ông H đề nghị được
hợp thức hóa đất ở cho gia đình ông tại khu đất nêu trên vì ông mua nhà thanh
lý gắn liền với đất và đang sử dụng ổn định, Ủy ban nhân dân huyện T1 khẳng định
Quyết định số 03/QĐ-TA năm 1998 của Tòa án nhân dân huyện T có nội dung là
thanh lý nhà không phải thanh lý nhà ở gắn liền với đất ở nên Quyết định này
không phải là giấy tờ thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở theo quy định
của Luật Đất đai. Vì vậy, Ủy ban nhân dân huyện không chấp nhận yêu cầu khởi kiện
của ông Nguyễn Dực H.
Tại Bản án hành chính sơ
thẩm số 23/2018/HC-ST ngày 15/11/2018, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ quyết định:
1. Bác đơn khởi kiện của
ông Nguyễn Dực H yêu cầu hủy Quyết định số 205/QĐ-UBND ngày 02/3/2009 của Ủy
ban nhân dân huyện T1, tỉnh P; Quyết định số 1825/QĐ-UBND ngày 22/10/2010 của
Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T1, tỉnh P; Quyết định số 1445/QĐ-UBND ngày
26/4/2011 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh P; Quyết định số 787/QĐ-UBND ngày
04/7/2011 của Ủy ban nhân dân huyện T1, tỉnh P.
2. Bác yêu cầu của ông
Nguyễn Dực H buộc Ủy ban nhân dân huyện T1, tỉnh P phải bồi thường cho ông số
tiền 942.500.000 đồng thiệt hại về tài sản do Quyết định cưỡng chế trái pháp luật
gây ra.
3. Bác yêu cầu của ông
Nguyễn Dực H buộc Ủy ban nhân dân huyện T1, tỉnh P phải bồi thường cho ông
300.000.000 đồng thiệt hại về danh dự, nhân phẩm.
4. Đình chỉ yêu cầu khởi
kiện của ông Nguyễn Dực H đối với Thông báo số 04/TB-UBND ngày 03/8/2011 của Ủy
ban nhân dân thị trấn H, huyện T1, tỉnh P.
Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết
định về án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 18/11/2018 và ngày
26/11/2018, ông Nguyễn Dực H và bà Nguyễn Thị C có đơn kháng cáo đối với bản án
hành chính sơ thẩm nêu trên.
Tại Bản án hành chính phúc
thẩm số 357/2019/HC-PT ngày 13/12/2019, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội quyết
định:
1. Chấp nhận một phần
kháng cáo của ông Nguyễn Dực H và bà Nguyễn Thị C và sửa một phần quyết định của
Bản án hành chính sơ thẩm số 23/2018/HC-ST ngày 15/11/2018 của Tòa án nhân dân
tỉnh Phú Thọ. Xử:
1.1 Bác đơn khởi kiện của
ông Nguyễn Dực H yêu cầu hủy Quyết định số 205/QĐ-UBND ngày 02/3/2009 của Ủy
ban nhân dân T1, tỉnh P; Quyết định số 1825/QĐ-UBND ngày 22/10/2010 của Chủ tịch
Ủy ban nhân dân huyện T1, tỉnh P; Quyết định số 1445/QĐ-UBND ngày 26/4/2011 của
Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh P; Quyết định số 787/QĐ-UBND ngày 04/7/2011 của Ủy
ban nhân dân huyện T1, tỉnh P.
1.2 Bác yêu cầu của ông
Nguyễn Dực H buộc Ủy ban nhân dân huyện T1, tỉnh P phải bồi thường cho ông số tiền
400.000.000 đồng thiệt hại về tài sản do quyết định cưỡng chế trái pháp luật
gây ra.
1.3 Bác yêu cầu của ông
Nguyễn Dực H buộc Ủy ban nhân dân huyện T1, tỉnh P phải bồi thường cho ông
300.000.000 đồng thiệt hại về danh dự, nhân phẩm.
1.4 Đình chỉ yêu cầu khởi
kiện của ông Nguyễn Dực H đối với Thông báo số 04/TB-UBND ngày 03/8/2011 của Ủy
ban nhân dân thị trấn H, huyện T1, tỉnh P.
Buộc Ủy ban nhân dân thị
trấn H phải trả lại giá trị tài sản nguyên vật liệu của ông H, bà C dược nhận lại
là 272.000 đồng tiền giá trị tài sản nguyên vật liệu bị cưỡng chế theo biên bản
định giá tài sản ngày 02/11/2011, hiện số tiền này đang lưu giữ tại ngân sách của
Ủy ban nhân dân thị trấn H quản lý.
Tòa án cấp phúc thẩm còn
quyết định về án phí.
Ngày 10/5/2020, ông Nguyễn
Dực H và bà Nguyễn Thị C có đơn đề nghị xem xét bản án hành chính phúc thẩm nêu
trên theo thủ tục giám đốc thẩm.
Tại Quyết định kháng nghị
giám đốc thẩm số 29/2022/KN-HC ngày 06/12/2022, Chánh án Tòa án nhân dân tối
cao kháng nghị Bản án hành chính phúc thẩm số 357/2019/HC-PT ngày 13/12/2019 của
Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội; đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân
tối cao xét xử giám đốc thẩm, hủy Bản án hành chính phúc thẩm số 357/2019/HC-PT
ngày 13/12/2019 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội và Bản án hành chính sơ
thẩm số 23/2018/HC-ST ngày 15/11/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ về phần
“Bác đơn khởi kiện của ông Nguyễn Dực H yêu cầu hủy Quyết định số 1825/QĐ-UBND
ngày 22/10/2010 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T1, tỉnh P; Quyết định số 1445/QĐ-UBND
ngày 26/4/2011 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh P; Quyết định số 787/QĐ-UBND
ngày 04/7/2011 của Ủy ban nhân dân huyện T1, tỉnh P”; giao hồ sơ vụ án cho Tòa
án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa giám đốc thẩm,
đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân
dân tối cao chấp nhận quyết định kháng nghị giám đốc thẩm của Chánh án Tòa án
nhân dân tối cao.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Ngày 20/4/1998, Tòa án
nhân dân huyện T, tỉnh Phú Thọ ban hành Quyết định số 03/QĐ-TA về việc bán
thanh lý ô số 07 - Sơ đồ thanh lý tài sản gồm 03 gian nhà của Tòa án nhân dân
huyện T cho ông Nguyễn Dực H với số tiền là 4.000.000 đồng. Ông H đã thanh toán
tiền và đã nhận bàn giao đối với tài sản thanh lý.
[2] Năm 1999, huyện T được
chia tách thành hai huyện T1 và huyện T2 (tài sản thanh lý sau khi chia tách địa
giới hành chính thuộc địa phận huyện T1). Do không còn nhu cầu sử dụng, ngày 04/10/2004,
Tòa án nhân dân huyện T1 có Tờ trình số 100/TT.TĐ xin trả lại diện tích 3.049m2
đất trụ sở thuộc thửa đất số 09 tờ bản đồ 5A cho Ủy ban nhân dân thị trấn H quản
lý, sử dụng. Ngày 20/11/2007, Ủy ban nhân dân tỉnh P ban hành Quyết định số
3066/QĐ-UBND thu hồi 1.430m2 đất phi nông nghiệp (trụ sở cũ) và Giấy
chứng nhận quyên sử dụng đất số A-366346 của Tòa án nhân dân huyện T1; giao số
đất phi nông nghiệp nêu trên cho Ủy ban nhân dân thị trấn H, huyện T1 quản lý
quỹ đất và để đưa vào sử dụng, sau khi có quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được
cấp có thẩm quyền phê duyệt; Ủy ban nhân dân thị trấn H có trách nhiệm bồi thường
thiệt hại cho chủ hộ đang quản lý, sử dụng bị thu hồi đất theo quy định hiện
hành.
[3] Căn cứ quy hoạch, kế
hoạch sử dụng đất tại thị trấn H giai đoạn 2002-2010, căn cứ hồ sơ xin thu hồi
và chuyển mục đích sử dụng đất phục vụ việc giao đất ở cho các hộ gia đình, cá
nhân năm 2008 tại thị trấn H, huyện T1, ngày 26/3/2008, Ủy ban nhân dân huyện
T1 ban hành Quyết định số 344/QĐ-UBND về việc thu hồi và chuyển mục đích sử dụng
đất đối với 1.430m2 đất của Ủy ban nhân dân thị trấn H quản lý; giao
cho Ủy ban nhân dân thị trấn H quản lý số diện tích đất thu hồi trên, lập hồ sơ
giao đất ở cho hộ gia đình, cá nhân trình Ủy ban nhân dân huyện phê duyệt để phục
vụ việc giao đất ở cho hộ gia đình, cá nhân trong đó chuyển đổi 1.384m2
đất thành loại đất ở và 46m2 đất thành đất thủy lợi. Ngày 02/3/2009,
Ủy ban nhân dân huyện T1 ban hành Quyết định số 205/QĐ-UBND thu hồi 1,384m2
đất ở nêu trên để tiến hành đấu giá quyền sử dụng đất ở cho các hộ gia đình, cá
nhân; các tài sản mà ông H mua thanh lý cũng nằm trong phần diện tích đất bị
thu hồi nêu trên. Các Quyết định số 344/QĐ-UBND ngày 26/3/2008 và Quyết định số
205/QĐ-UBND ngày 02/3/2009 đều có nội dung: Hội đồng bồi thường, giải phóng mặt
bằng các công trình khối kinh tế huyện chỉ đạo việc bồi thường, giải phóng mặt
bằng đối với Ủy ban nhân dân thị trấn H cho các hộ có đất, tài sản trên đất bị
thu hồi.
[4] Việc Ủy ban nhân dân tỉnh
P thực hiện thu hồi đất trụ sở cơ quan do Tòa án nhân dân huyện T1 không còn
nhu cầu sử dụng là theo quy định tại khoản 2 Điều 38 Luật Đất
đai năm 2003 và thuộc trường hợp không phải bồi thường về đất quy định tại điểm a khoản 1 Điều 43 Luật Đất đai năm 2003. Do ông Nguyễn Dực
H chỉ là người mua thanh lý tài sản, không phải người mua tài sản gắn liền với
đất nên Tòa án cấp sơ thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm xác định ông H không có đất bị
thu hồi, không thuộc đối tượng đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất nên không được bồi thường về đất là có căn cứ.
[5] Mặc dù người bị thu hồi
đất là Tòa án nhân dân huyện T1 nhưng ông H là người có tài sản trên đất (03
gian nhà thanh lý do mua hóa giá của Tòa án nhân dân huyện T); tại Quyết định
bán thanh lý nhà ngày 20/4/1998 của Tòa án nhân dân huyện T có nội dung sau khi
nộp tiền xong ông H có quyền sở hữu 03 gian nhà này, đồng thời tại Hợp đồng mua
bán nhà thanh lý cùng ngày giữa Tòa án nhân dân huyện T và ông H cũng thể hiện
các thủ tục đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền do ông H chịu trách nhiệm.
Do đó, có cơ sở để xác định việc nhận chuyển nhượng 03 gian nhà thanh lý của
ông H không phải là mua bán vật liệu mà ông H mua với mục đích sử dụng để ở, 03
gian nhà này được ông H mua thanh lý trước thời điểm nhà nước có quyết định thu
hồi đất của Tòa án nhân dân huyện T1 và trước khi có quy hoạch, kế hoạch sử dụng
đất tại thị trấn H. Theo quy định tại khoản 3 Điều 43 Luật Đất
đai năm 2003: “Người bị thu hồi đất quy định tại khoản 1
nhưng không thuộc khoản 2 Điều này được bồi thường thiệt hại
về tài sản gắn liền với đất bị thu hồi” nên lẽ ra, sau khi có quyết định thu hồi
đất, Ủy ban nhân dân huyện T1 phải thực hiện việc kiểm kê các tài sản của ông H
để có cơ sở xem xét việc bồi thường hoặc hỗ trợ đối với các tài sản có trên đất
bị thu hồi (nếu có) thì mới đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho gia đình ông
H.
[6] Ngày 04/7/2011, Ủy ban
nhân dân huyện T1 ban hành Quyết định số 787/QĐ-UBND về việc cưỡng chế giải
phóng mặt bằng đối với tài sản của hộ gia đình ông Nguyễn Dực H để giao cho các
hộ gia đình trúng đấu giá quyền sử dụng đất tại thị trấn H, huyện T1 trong đó Ủy
ban nhân dân huyện T1 đã áp dụng Nghị định số 37/2005/NĐ-CP ngày 18/3/2005 của
Chính phủ quy định về thủ tục áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định
xử phạt vi phạm hành chính; Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 và Nghị định
số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/12/2009 của Chính phủ áp dụng đối với trường hợp nhà
nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích
công cộng, phát triển kinh tế là không đúng bởi lẽ: Trong trường hợp này nhà nước
thu hồi đất là do người sử dụng đất không còn nhu cầu sử dụng đất, cơ quan có
thẩm quyền cũng chưa lập biên bản vi phạm hành chính hoặc có quyết định xử phạt
vi phạm hành chính nào đối với gia đình ông H. Mặt khác, nội dung Quyết định số
787/QĐ-UBND ngày 04/7/2011 của Ủy ban nhân dân huyện T1 thể hiện: “Cưỡng chế giải
phóng mặt bằng đối với tài sản của hộ ông Nguyễn Dực H tại khu đất Trụ sở Tòa
án nhân dân huyện T cũ, khu 6 (khu T3), thị trấn H, huyện T1, tỉnh P, gồm: Ba
gian nhà ông H mua thanh lý của Tòa án nhân dân huyện T cũ (nay là Tòa án nhân
dân huyện T1) và các công trình xây dựng thêm để bàn giao đất cho các hộ gia
đình, cá nhân trúng đấu giá” nhưng chưa xem xét, làm rõ các công trình xây dựng
thêm của gia đình ông H là những công trình nào, thời điểm xây dựng thêm ngoài
03 gian nhà mua thanh lý còn có tài sản nào khác không; trong khi ông H trình
bày trên đất còn có 01 gian làm quán bán hàng, xây dựng một giếng khơi, một
gian bếp, 02 cây gạo và 01 cây mít. Đồng thời, tại Báo cáo số 22/BC-UBND về
công tác bồi thường giải phóng mặt bằng khu vực Tòa án nhân huyện (cũ) ngày
08/4/2009 của Ủy ban nhân dân thị trấn H cũng xác nhận hiện trạng sau khi các hộ
dân mua nhà thanh lý của Tòa án nhân dân huyện T có tu sửa, xây dựng thêm. Sau
khi có Quyết định cưỡng chế, Ủy ban nhân dân thị trấn H đã ban hành Kế hoạch số
08/KH-UBND ngày 06/7/2011 về cưỡng chế giải phóng mặt bằng đối với tài sản của
hộ gia đình ông H cũng xác định có phần xây dựng thêm, có 01 gian quán trên đất.
[7] Ngày 03/8/2011, Ủy ban
nhân dân thị trấn H ban hành Thông báo số 04/TB-UBND về kế hoạch cưỡng chế, thời
gian thực hiện cưỡng chế; ông H đã nhận được thông báo này. Ngày 09/8/2011, trước
thời điểm thực hiện cưỡng chế giải phóng mặt bằng, Ủy ban nhân dân thị trấn H mới
tiến hành lập Biên bản kiểm kê đối với tài sản của hộ gia đình ông H nhưng xác
định ngoài 03 gian nhà trên đất không còn tài sản nào khác là không đúng với thực
tế. Ông H có mặt tại thời điểm cưỡng chế nhưng sau đó bỏ về không ký vào biên bản
cưỡng chế giải phóng mặt bằng. Cùng ngày 09/8/2011, sau khi đã tiến hành cưỡng
chế, Ủy ban nhân dân thị trấn H đã lập Biên bản kiểm kê tài sản đối với các tài
sản còn lại (gồm cửa gỗ, gạch chỉ...) và đến ngày 02/11/2011, tiến hành định
giá tài sản, đồng thời bán thanh lý các tài sản này được số tiền 272.000 đồng;
sung số tiền nêu trên vào công quỹ do Ủy ban nhân dân thị trấn H quản lý là
không đúng, gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp đối với các tài sản thuộc
quyền sở hữu của gia đình ông H.
[8] Khi ông H có khiếu nại,
Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T1 ban hành Quyết định số 1825/QĐ-UBND ngày
22/10/2010 bác đơn của ông H khiếu nại việc Ủy ban nhân dân huyện T1 thu hồi đất
tại khu vực Tòa án nhân dân huyện T (cũ) mà gia đình ông đã mua nhà thanh lý
năm 1998 nhưng không được bồi thường về đất là có cơ sở; tuy nhiên, Chủ tịch Ủy
ban nhân dân huyện T1 chưa xem xét giải quyết triệt để những vấn đề liên quan đến
tài sản trên đất là chưa đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của ông H. Tại Quyết
định số 1445/QĐ-UBND ngày 26/4/2011, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh P vẫn giữ
nguyên nội dung Quyết định số 1825/QĐ-UBND của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện
T1 cũng là không đúng.
[9] Khi ông H khởi kiện
yêu cầu hủy các quyết định về thu hồi đất, quyết định về giải quyết khiếu nại
và thông báo về kế hoạch cưỡng chế giải phóng mặt bằng, Tòa án cấp sơ thẩm bác
yêu cầu khởi kiện của ông H mà chưa xem xét quyền lợi về phần tài sản của gia
đình ông H trên phần đất bị thu hồi, cưỡng chế là chưa đủ căn cứ. Tòa án cấp
phúc thẩm sửa một phần bản án sơ thẩm, buộc Ủy ban nhân dân thị trấn H trả lại
giá trị tài sản nguyên vật liệu bị cưỡng chế trị giá 272.000 đồng (là giá trị
tài sản còn lại sau khi bán đấu giá) cũng là không đúng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm
a khoản 2 Điều 266, khoản 3 Điều 272 và Điều 274 Luật Tố tụng hành chính năm
2015:
1. Chấp nhận Quyết định
kháng nghị giám đốc thẩm số 29/2022/KN-HC ngày 06/12/2022 của Chánh án Tòa án
nhân dân tối cao đối với Bản án hành chính phúc thẩm số 357/2019/HC-PT ngày
13/12/2019 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
2. Hủy Bản án hành chính
phúc thẩm số 357/2019/HC-PT ngày 13/12/2019 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà
Nội và Bản án hành chính sơ thẩm số 23/2018/HC-ST ngày 15/11/2018 của Tòa án
nhân dân tỉnh Phú Thọ về phần “Bác đơn khởi kiện của ông Nguyễn Dực H yêu cầu hủy
Quyết định số 1825/QĐ-UBND ngày 22/10/2010 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện
T1, tỉnh P; Quyết định số 1445/QĐ-UBND ngày 26/4/2011 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân
tỉnh P; Quyết định số 787/QĐ-UBND ngày 04/7/2011 của Ủy ban nhân dân huyện T1,
tỉnh P”.
3. Giao hồ sơ vụ án cho
Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ giải quyết sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp
luật.
NỘI DUNG ÁN LỆ
“[5] Mặc dù người bị
thu hồi đất là Tòa án nhân dân huyện T1 nhưng ông H là người có tài sản trên đất
(03 gian nhà thanh lý do mua hóa giá của Tòa án nhân dân huyện T); tại Quyết định
bán thanh lý nhà ngày 20/4/1998 của Tòa án nhân dân huyện T có nội dung sau khi
nộp tiền xong ông H có quyền sở hữu 03 gian nhà này, đồng thời tại Hợp đồng mua
bán nhà thanh lý cùng ngày giữa Tòa án nhân dân huyện T và ông H cũng thể hiện
các thủ tục đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền do ông H chịu trách nhiệm.
Do đó, có cơ sở để xác định việc nhận chuyển nhượng 03 gian nhà thanh lý của
ông H không phải là mua bán vật liệu mà ông H mua với mục đích sử dụng để ở, 03
gian nhà này được ông H mua thanh lý trước thời điểm nhà nước có quyết định thu
hồi đất của Tòa án nhân dân huyện T1 và trước khi có quy hoạch, kế hoạch sử dụng
đất tại thị trấn H. Theo quy định tại khoản 3 Điều 43 Luật Đất
đai năm 2003: “Người bị thu hồi đất quy định tại khoản 1
nhưng không thuộc khoản 2 Điều này được bồi thường thiệt hại
về tài sản gắn liền với đất bị thu hồi” nên lẽ ra, sau khi có quyết định thu hồi
đất, Ủy ban nhân dân huyện T1 phải thực hiện việc kiểm kê các tài sản của ông H
để có cơ sở xem xét việc bồi thường hoặc hỗ trợ đối với các tài sản có trên đất
bị thu hồi (nếu có) thì mới đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho gia đình ông
H.”.
ÁN LỆ SỐ 88/2026/AL*
Về ủy quyền tham gia tố tụng
trong vụ án tranh chấp về nuôi con
Được Hội đồng Thẩm phán
Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 21 tháng 5 năm 2026 và được công bố theo
Quyết định số 162/QĐ-CA ngày 29 tháng 5 năm 2026 của Chánh án Tòa án nhân dân tối
cao.
Nguồn án lệ:
Bản án sơ thẩm số
34/2023/HNGĐ-ST ngày 08/6/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu
Giang về vụ án hôn nhân và gia đình “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”
giữa nguyên đơn là chị Lê Thái A với bị đơn là anh Dương Văn L.
Vị trí nội dung án lệ:
Đoạn 4 và 5 phần “Nhận định
của Tòa án”.
Khái quát nội dung của
án lệ:
- Tình huống án lệ:
Trong vụ án ly hôn, tranh
chấp về nuôi con, đương sự ủy quyền cho người khác thay mặt mình tham gia tố tụng
đối với phần tranh chấp về nuôi con.
- Giải pháp pháp lý:
Trường hợp này, Tòa án
không chấp nhận việc đương sự ủy quyền cho người khác tham gia tố tụng đối với phần
tranh chấp về nuôi con.
Quy định của pháp luật
liên quan đến án lệ:
- Điều 25 Bộ
luật Dân sự năm 2015;
- Khoản 4 Điều
68 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (sửa đổi, bổ sung năm 2025);
- Khoản 4 Điều
85 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019, 2020, 2022,
2023, 2024 và 2025).
Từ khóa của án lệ:
“Tranh chấp về nuôi con”;
“Ủy quyền tham gia tố tụng”; “Quyền nhân thân”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và các
lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Lê Thái A trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị A
và anh L sống chung vào năm 2015 và đăng ký kết hôn vào ngày 30/01/2020 tại Ủy
ban nhân dân xã T, thị xã M, sống với nhau được 01 thời gian thì phát sinh mâu
thuẫn.
Nguyên nhân mâu thuẫn:
Trong thời gian chung sống, vợ chồng bất đồng quan điểm, không có sự chia sẻ, cả
hai không còn sự quan tâm lẫn nhau, ảnh hưởng đến cuộc sống hằng ngày của gia
đình nên đã sống ly thân từ khoảng tháng 11/2021 cho đến nay. Nhận thấy, đời sống
chung không thể hòa hợp và duy trì được nữa nên yêu cầu ly hôn.
Về con chung: Chị A và anh
L có 02 con chung tên Dương Lê An N, sinh ngày 25/01/2018, giới tính nữ và
Dương Minh K, sinh ngày 20/7/2019, giới tính nam. Hiện nay, con chung đang sống
chung với chị A. Sau khi ly hôn, chị A yêu cầu được nuôi con, yêu cầu cấp dưỡng
nuôi con chung theo quy định.
Về tài sản chung, nợ
chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết
vụ án bị đơn anh Dương Văn L trình bày:
Anh L thống nhất phần
trình bày của chị A về thời gian đăng ký kết hôn. Anh Dương Văn L thống nhất ly
hôn.
Về con chung: Có 02 con
chung như chị A trình bày, hiện tại con chung đang sống chung với chị A từ khi
vợ chồng không còn sống chung. Anh L thống nhất để chị A tiếp tục nuôi 02 con
chung và thống nhất cấp dưỡng theo quy định.
Về tài sản chung, nợ
chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, đại diện Viện
kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang phát biểu ý kiến như sau:
Về tố tụng: Quá trình thụ
lý, giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký, các đương
sự đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị
Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thái A. Chị A
và anh L được ly hôn. Về con chung: Giao con chung Dương Lê An N, sinh ngày
25/01/2018, giới tính nữ và Dương Minh K, sinh ngày 20/7/2019, giới tính nam
cho chị Lê Thái A tiếp tục nuôi dưỡng. Anh L có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho
mỗi con chung là 745.000 đồng/tháng. Thời điểm cấp dưỡng tính từ ngày tuyên án
sơ thẩm ngày 08/6/2023. Anh L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai
được cản trở. Về tài sản chung, nợ chung: không có nên không đề cập giải quyết,
về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm; án phí cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự
phải chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Sau khi nghiên cứu các
tài liệu chứng cứ đã thể hiện trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, tranh luận tại
phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại Tòa án, Hội đồng xét xử nhận định
như sau:
[2] Về trình tự, thủ tục:
[3] Đây là vụ án “Tranh chấp
ly hôn, nuôi con chung”, bị đơn có nơi cư trú trên địa bàn thị xã M nên Tòa án
nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang giải quyết là đúng thẩm quyền theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[4] Quá trình giải quyết vụ
án, Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ nhận được hợp đồng ủy quyền được công chứng
ngày 20/10/2022 giữa chị Lê Thái A (bên ủy quyền) và chị Phạm Ngọc N1 (bên được
ủy quyền), trong nội dung ủy quyền có thể hiện bên được ủy quyền được quyền
thay mặt và nhân danh bên ủy quyền “Tham gia tố tụng, hòa giải, làm việc tại
Tòa án nhân dân các cấp (sơ thẩm, phúc thẩm) đối với phần tranh chấp giành quyền
nuôi con chung đối với bé Dương Lê An N, sinh ngày 25/1/2018 và bé Dương Minh
K, sinh ngày 20/7/2019”; đồng thời trong phạm vi ủy quyền nêu trên, bên được ủy
quyền được toàn quyền quyết định tất cả các vấn đề có liên quan đến các nội
dung được ủy quyền, thực hiện quyền và nghĩa vụ theo pháp luật quy định có liên
quan đến hành vi ủy quyền. Căn cứ vào khoản 4 Điều 85 Bộ luật Tố
tụng dân sự năm 2015 “Người đại diện theo ủy quyền theo quy định của Bộ luật
Dân sự là người đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự”. Căn cứ Điều 562 Bộ luật Dân sự năm 2015 “Hợp đồng ủy quyền là sự thỏa
thuận giữa các bên, theo đó bên được ủy quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc
nhân danh bên ủy quyền, bên ủy quyền chỉ phải trả thù lao nêu có thỏa thuận hoặc
pháp luật có quy định”.
[5] Nhận thấy, việc ủy quyền
để yêu cầu giải quyết tranh chấp giành quyền nuôi con chung có liên quan đến
quyền nhân thân trong hôn nhân và gia đình, cụ thể là quan hệ cha, mẹ và con
theo quy định tại Điều 39 Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng như
trong Luật Hôn nhân và gia đình. Đồng thời, căn cứ vào khoản 1 Điều
25 Bộ luật Dân sự năm 2015 “Quyền nhân thân được quy định trong Bộ luật này
là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác,
trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác”. Do đó, mặc dù theo khoản 4 Điều 85 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 chỉ đề cập “Đối
với việc ly hôn, đương sự không được ủy quyền cho người khác thay mặt mình tham
gia tố tụng”. Tuy nhiên, như đã đề cập việc tranh chấp giành quyền nuôi con
chung trong vụ án hôn nhân và gia đình có liên quan đến quyền nhân thân của cá
nhân. Ngoài ra, khoản 4 Điều 68 Luật Hôn nhân và gia đình năm
2014 quy định “Mọi thỏa thuận của cha mẹ, con liên quan đến quan hệ nhân
thân.... không được làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa
thành niên...”. Bên cạnh đó, để giải quyết vấn đề con chung, quá trình giải quyết
vụ án Hội đồng xét xử cũng cần thiết cân nhắc đến thái độ, tâm tư, tình cảm của
cha, mẹ con. Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận việc
chị Phạm Ngọc N1 được tham gia tố tụng, hòa giải, làm việc tại Tòa án cấp sơ thẩm
với tư cách là bên được ủy quyền của chị Lê Thái A đối với phần tranh chấp giành
quyền nuôi con chung Dương Lê An N, và Dương Minh K theo nội dung ủy quyền thể
hiện tại hợp đồng ủy quyền được công chứng ngày 20/10/2022 giữa chị Lê Thái A
(bên ủy quyền) và chị Phạm Ngọc NI (bên được ủy quyền).
[6] Nguyên đơn chị Lê Thái
A, bị đơn anh Dương Văn L có yêu cầu xin xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ
Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để xét xử
vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[7] Về nội dung:
[8] Về quan hệ hôn nhân: Chị
Lê Thái A và anh Dương Văn L tự nguyện và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân
xã T, thị xã M vào ngày 30/01/2020 nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Vợ chồng
chung sống được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn, thường xuyên cự cãi, cuộc sống
chung không hạnh phúc. Chị A yêu cầu ly hôn, anh L cũng thống nhất ly hôn nên Hội
đồng xét xử thống nhất giữa chị A và anh L được ly hôn.
[9] Về con chung: Chị A và
anh L có 02 con chung tên Dương Lê An N, sinh ngày 25/01/2018, giới tính nữ và
Dương Minh K, sinh ngày 20/7/2019, giới tính nam, hiện nay đang sống chung với
chị A. Chị A yêu cầu nuôi 02 con chung, anh L cũng thống nhất để chị A tiếp tục
nuôi 02 con chung. Căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và
gia đình năm 2014 “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con...”. Hội
đồng xét xử nhận định, chị A và anh L đã không còn sống chung hơn 06 tháng nay,
trong suốt thời gian đó, chị A là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng,
giáo dục con chung. Theo xác nhận của Hiệu trưởng Trường mầm non B, thị xã E, tỉnh
Sóc Trăng thì An N và Minh K tham gia học tập tại trường đầy đủ. Do đó, hiện tại,
An N và Minh K đã quen với điều kiện, môi trường sống và được chị A nuôi dưỡng,
đảm bảo trong điều kiện tốt nhất, để tránh việc gây xáo trộn, ảnh hưởng đến sự
phát triển bình thường của con chung, quyền và lợi ích hợp pháp về mọi mặt của
02 con chung, Hội đồng xét xử thống nhất giao con chung Dương Lê An N, sinh
ngày 25/01/2018, giới tính nữ và Dương Minh K, sinh ngày 20/7/2019, giới tính
nam cho chị A tiếp tục nuôi dưỡng.
[10] Chị A yêu cầu cấp dưỡng
nuôi con, anh L cũng thống nhất cấp dưỡng nuôi 02 con chung. Căn cứ vào khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 “Cha, mẹ
không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con”. Do đó, Hội đồng xét xử
thống nhất việc anh L có nghĩa vụ cấp dưỡng cho mỗi con chung là 745.000 đồng/tháng.
Thời điểm cấp dưỡng tính từ ngày 08/6/2023 đến khi con chung đủ 18 tuổi.
[11] Anh Dương Văn L có
quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
[12] Về tài sản chung, nợ
chung: Các đương sự khai không có nên không đề cập giải quyết trong vụ án này.
[13] Từ những nhận định
trên, Hội đồng xét xử nhận thấy đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có
căn cứ nên chấp nhận.
[14] Về án phí:
[15] Về án phí hôn nhân và
gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải nộp số tiền 300.000 đồng.
[16] Về án phí cấp dưỡng
nuôi con: Bị đơn anh Dương Văn L phải chịu số tiền 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản
1 Điều 28; Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố
tụng dân sự năm 2015; Điều 56; Điều 57, Điều 58, Điệu 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
[1] Chấp nhận toàn bộ yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn Lê Thái A.
[2] Về quan hệ hôn nhân:
Chị Lê Thái A và anh Dương Văn L được ly hôn.
[3] Về con chung: Chị Lê
Thái A được tiếp tục nuôi Dương Lê An N, sinh ngày 25/01/2018, giới tính nữ và
Dương Minh K, sinh ngày 20/7/2019, giới tính nam.
Anh Dương Văn L có nghĩa vụ
cấp dưỡng nuôi con cho mỗi con chung là 745.000 đồng (Bảy trăm bốn mươi lăm
nghìn đồng)/tháng, cấp dưỡng hàng tháng đến khi An N, Minh K đủ 18 tuổi. Thời điểm
cấp dưỡng được tính kể từ ngày 08/6/2023.
Anh Dương Văn L có quyền,
nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
[4] Về tài sản chung, nợ
chung: Các đương sự khai không có nên không xem xét giải quyết trong vụ án này.
[5] Về án phí:
Về án phí hôn nhân và gia
đình sơ thẩm: Nguyên đơn chị Lê Thái A phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng),
được khấu trừ vào 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp
theo biên lai thu số 0004476 ngày 07 tháng 11 năm 2022 của Chi cục Thi hành án
dân sự thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang thành án phí. Chị Lê Thái A đã nộp xong
án phí.
Về án phí cấp dưỡng nuôi
con: Anh Dương Văn L phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
[6] Trường hợp bản án được
thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự
thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa
thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng
chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
[7] Nguyên đơn Lê Thái A,
bị đơn Dương Văn L được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ
ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
NỘI DUNG ÁN LỆ
“[4] Quá trình giải quyết
vụ án, Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ nhận được hợp đồng ủy quyền được công chứng
ngày 20/10/2022 giữa chị Lê Thái A (bên ủy quyền) và chị Phạm Ngọc N1 (bên được
ủy quyền), trong nội dung ủy quyền có thể hiện bên được ủy quyền được quyền
thay mặt và nhân danh bên ủy quyền “Tham gia tố tụng, hòa giải, làm việc tại
Tòa án nhân dân các cấp (sơ thẩm, phúc thẩm) đối với phần tranh chấp giành quyền
nuôi con chung đối với bé Dương Lê An N, sinh ngày 25/1/2018 và bé Dương Minh
K, sinh ngày 20/7/2019”; đồng thời trong phạm vi ủy quyền nêu trên, bên được ủy
quyền được toàn quyền quyết định tất cả các vấn đề có liên quan đến các nội
dung được ủy quyền, thực hiện quyền và nghĩa vụ theo pháp luật quy định có liên
quan đến hành vi ủy quyền. Căn cứ vào khoản 4 Điều 85 Bộ luật Tố
tụng dân sự năm 2015 “Người đại diện theo ủy quyền theo quy định của Bộ luật
Dân sự là người đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự”. Căn cứ Điều 562 Bộ luật Dân sự năm 2015 “Hợp đồng ủy quyền là sự thỏa
thuận giữa các bên, theo đó bên được ủy quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc
nhân danh bên ủy quyền, bên ủy quyền chỉ phải trả thù lao nếu có thỏa thuận hoặc
pháp luật có quy định”.
[5] Nhận thấy, việc ủy
quyền để yêu cầu giải quyết tranh chấp giành quyền nuôi con chung có liên quan
đến quyền nhân thân trong hôn nhân và gia đình, cụ thể là quan hệ cha, mẹ và
con theo quy định tại Điều 39 Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng
như trong Luật Hôn nhân và gia đình. Đồng thời, căn cứ vào khoản
1 Điều 25 Bộ luật Dân sự năm 2015 “Quyền nhân thân được quy định trong Bộ
luật này là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho
người khác, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác”. Do đó, mặc dù
theo khoản 4 Điều 85 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 chỉ đề
cập “Đối với việc ly hôn, đương sự không được ủy quyền cho người khác thay mặt
mình tham gia tố tụng”. Tuy nhiên, như đã đề cập việc tranh chấp giành quyền
nuôi con chung trong vụ án hôn nhân và gia đình có liên quan đến quyền nhân
thân của cá nhân. Ngoài ra, khoản 4 Điều 68 Luật Hôn nhân và
gia đình năm 2014 quy định “Mọi thỏa thuận của cha mẹ, con liên quan đến
quan hệ nhân thân.... không được làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của
con chưa thành niên... Bên cạnh đó, để giải quyết vấn đề con chung, quá trình
giải quyết vụ án Hội đồng xét xử cũng cần thiết cân nhắc đến thái độ, tâm tư,
tình cảm của cha, mẹ con. Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử không chấp
nhận việc chị Phạm Ngọc N1 được tham gia tố tụng, hòa giải, làm việc tại Tòa án
cấp sơ thẩm với tư cách là bên được ủy quyền của chị Lê Thái A đối với phần
tranh chấp giành quyền nuôi con chung Dương Lê An N, và Dương Minh K theo nội
dung ủy quyền thể hiện tại hợp đồng ủy quyền được công chứng ngày 20/10/2022 giữa
chị Lê Thái A (bên ủy quyền) và chị Phạm Ngọc N1 (bên được ủy quyền).”.
ÁN LỆ SỐ 87/2026/AL[*]
Về thứ tự ưu tiên thanh
toán khi xử lý tài sản bảo đảm
Được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân
dân tối cao thông qua ngày 21 tháng 5 năm 2026 và được công bố theo Quyết định số 162/QĐ-CA ngày 29 tháng 5
năm 2026 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
Nguồn án lệ:
Quyết định giám đốc thẩm số
30/2023/KDTM-GĐT ngày 29/12/2023 của Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội về vụ án kinh
doanh, thương mại “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” giữa nguyên đơn là Ngân hàng thương mại cổ phần A với bị đơn là Công
ty cổ phần hàng
hải H; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Công ty cổ phần đóng tàu Đ.
Vị trí nội dung án lệ:
Đoạn 6 phần “Nhận định của
Tòa án”.
Khái quát nội dung của
án lệ:
- Tình huống án lệ:
Nguyên đơn (tổ chức tín dụng)
ký kết hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp tài sản là tàu biển với bị đơn (khách hàng). Hai bên thỏa thuận để bên thứ ba sửa chữa, nâng
cấp, trông giữ tàu nhằm nâng giá trị tài sản bảo đảm. Bị đơn ký kết hợp đồng với
bên thứ ba để
thực hiện các công việc trên. Sau đó, nguyên đơn và bị đơn ký kết hợp đồng sửa
đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng ban đầu và hợp đồng thế chấp đối với tàu biển sau khi đã được sửa chữa,
nâng cấp. Do bị đơn vị phạm nghĩa vụ trả nợ nên nguyên đơn khởi kiện vụ án
tranh chấp hợp đồng tín dụng và yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan (bên thứ ba) có yêu cầu độc lập yêu cầu thanh toán chi phí phát sinh khi
thực hiện việc sửa chữa, nâng cấp, trông giữ tài sản bảo đảm.
- Giải pháp pháp lý:
Trường hợp này, Tòa án phải
xác định khi xử lý tài sản bảo đảm thì ưu tiên thanh toán trước cho bên thứ ba
chi phí tiền lương của người lao động, tiền thuê và tiền trông giữ tài sản liên quan đến việc sửa chữa,
nâng cấp, trông giữ tài sản bảo đảm.
Quy định của pháp luật
liên quan đến án lệ:
- Điều 307
Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Khoản 12
Điều 1 Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều
của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo
đảm.
Từ khóa của án lệ:
“Hợp đồng tín dụng”; “Ưu tiên thanh toán khi xử lý
tài sản bảo đảm”; “Chi phí sửa chữa, nâng cấp”; “Tiền lương của người lao động”;
“Tiền thuế”; “Tiền trông giữ tài sản”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày
16/02/2017 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là Ngân hàng thương
mại cổ phần A
do người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngân hàng thương mại cổ phần
A (viết tắt là Ngân hàng) và Công ty cổ phần hàng hải H (viết tắt là Công ty H)
đã ký kết Hợp đồng tín dụng số 68/13/TD/XI ngày 22/10/2013 với nội dung: Ngân
hàng cho Công ty H vay 23.331.000.000đ; mục đích để thanh toán tiền mua tàu vận tải biển P 06; thời
hạn vay 120 tháng; lãi suất vay theo quy định tại thời điểm giải ngân và khi
Ngân hàng có thông báo thay đổi lãi suất; lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất
trong hạn. Công ty H đã nhận tiền theo Giấy nhận nợ số 01 ngày 22/10/2013.
Để bảo đảm cho khoản vay,
Công ty H đã thế chấp tài sản hình thành từ vốn vay là tàu biển P 06, theo Hợp
đồng thế chấp tàu biển hình thành trong tương lai số 112/13/TC/XI ngày
22/10/2013. Sau đó Ngân hàng và Công ty H thỏa thuận để Công ty cổ phần đóng
tàu Đ (viết tắt là Công ty Đ) sửa chữa nâng cấp, thay đổi tên và số hiệu của Tàu P
06 thành Tàu vận tải biển R 268 và nâng giá trị tài sản bảo đảm là
45.638.000.000đ.
Ngày 21/7/2015, Ngân hàng và Công ty H đã ký thêm Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp
đồng tín dụng số 3278/15/PLTD-TT/IXI. Theo đó, Ngân hàng chấp thuận cho Công ty
H được chuyển đổi
tên tài sản bảo đảm từ Tàu biển P 06 sang là Tàu vận tải biển R 268 và ký Hợp đồng
thế chấp tài sản số 3364/15/TC/XI ngày 21/7/2015, tài sản bảo đảm được hoán đổi
là Tàu R 268. Các hợp đồng thế chấp được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định.
Trong quá trình thực hiện
hợp đồng tín dụng, tính đến ngày 25/09/2016 Công ty H đã trả được cho Ngân hàng
tổng số tiền là 7.621.242.760đ; trong đó gốc là 2.316.135.000đ; lãi trong hạn
là 5.183.270.790đ và lãi quá hạn là 121.836.970đ. Công ty H đã vi phạm các kỳ hạn trả nợ theo Hợp đồng tín dụng
nên Ngân hàng khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết: Buộc Công ty H trả cho Ngân
hàng 32.834.248.529đ, trong đó: Nợ gốc là 21.014.865.000d, lãi trong hạn là 2.539.919.640đ và lãi quá hạn
là 9.279.463.889đ (tính đến ngày 12/7/2019). Buộc Công ty H tiếp tục thanh toán cho
Ngân hàng lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng và giấy nhận nợ kể từ ngày
13/7/2019 cho đến khi thanh toán hết nợ. Trường hợp Công ty H không trả được nợ
vay, Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản bảo đảm là Tàu biển R 268 để thu
hồi nợ. Nếu số tiền thu được từ việc phát mại tài sản bảo đảm không đủ để thu hồi nợ thì Công ty H vẫn phải có nghĩa vụ trả nợ
gốc và nợ lãi
phát sinh cho Ngân hàng theo lãi suất nợ quá hạn đã nêu trong Hợp đồng tín dụng và Giấy nhận nợ cho đến khi trả
xong nợ.
Bị đơn là Công ty cổ phần Hàng hải H do người đại diện theo
pháp luật trình bày:
Công ty H thừa nhận lời
trình bày của Ngân hàng và yêu cầu độc lập của Công ty Đ là đúng. Công ty H chịu trách
nhiệm thanh toán các khoản tiền còn nợ cho Ngân hàng và Công ty Đ. Nay Công ty H không yêu cầu
áp dụng thời hiệu trả lãi đối với tiền lãi vay Ngân hàng. Tuy nhiên, hiện Công ty H đang
gặp nhiều khó
khăn không còn khả năng tài chính. Tại cuộc họp cổ đông của Công ty đã thống nhất bán phát mại Tàu R 268 để trả
các khoản nợ, số tiền có từ việc phát mại tài sản là Tàu R 268, sau khi thanh
toán các khoản nợ trên, nếu còn thiếu thì Công ty cam kết sẽ trả tiếp, nếu còn thừa thì chuyển về tài khoản của Công
ty H.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có
yêu cầu độc lập là Công ty cổ phần đóng tàu Đ do người đại diện theo ủy quyền
trình bày:
Tàu P 06 tại thời điểm thế chấp Ngân hàng đã bị
hư hỏng nghiêm trọng, không còn khả năng hoạt động nên Công ty H và Công ty Đ
đã ký Hợp đồng
sửa chữa, thay thế, nâng cấp (lần thứ nhất) số 11/HĐKT ngày 18/11/2013 (sửa
nghiệm thu ngày 14/7/2015). Thực hiện hợp đồng trên, Công ty Đ đã đầu tư lần 1
vào tàu số tiền là 18.774.000.000đ, sau đó sửa chữa lần 2 hết 9.013.573.634đ.
Tàu được khai thác đến hết tháng 12/2017 thì dừng và Công ty H không còn khả
năng thanh toán.
Công ty Đ trông giữ Tàu R
268 cho Công ty H theo Hợp đồng số 06-11/2017/HHHG-ĐTHG ngày 06/11/2017 là
3.000.000 đồng/ngày. Cho đến nay, Công ty H vẫn chưa thanh toán cho Công ty Đ
toàn bộ số tiền sửa chữa và tiền công trông giữ Tàu R 268. Ngày 26/12/2017,
Công ty Đ có yêu cầu độc lập đề nghị Công ty H trả cho Công ty Đ 9.103.573.634đ, trong đó: Chi phí sửa chữa
tàu là 8.194.157.849đ bao gồm tiền lương công nhân trong quá trình sửa tàu là
4.303.138.651đ;
tiền điện nước khấu hao thiết bị là 1.527.796.391đ, tiền vật tư thiết bị thay thế là 2.363.322.807đ; tiền thuế
Giá trị gia tăng là 819.415.785đ và chi phí trông giữ neo đậu tàu từ ngày
06/11/2017 đến khi thanh lý hợp đồng. Nếu Công ty H không thanh toán được thì đề nghị phát mại tài sản
là Tàu R 268 để
trả các khoản nợ cho Công ty Đ.
Tại Bản án kinh doanh,
thương mại số 05/2019/KDTM-ST ngày 12/7/2019, Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng,
thành phố Hải Phòng quyết định:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của Ngân hàng đối với Công ty H:
- Buộc Công ty H phải
thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền còn nợ tính đến ngày 12/7/2019 là 32.834.248.529đ;
trong đó: Số tiền nợ gốc là 21.014.865.000đ; số tiền lãi trong hạn là
2.539.919.640đ; số tiền lãi quá hạn là 9.279.463.889đ.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày 13/7/2019 cho đến khi thi hành án
xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải
thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định
của pháp luật.
2. Chấp nhận yêu cầu độc lập
của Công ty Đ đối với Công ty H: Buộc Công ty H phải thanh toán cho Công ty Đ tổng số tiền sửa chữa Tàu R 268 là
11.967.073.634đ; trong đó: Chi phí sửa chữa tàu là 8.194.157.849đ (gồm tiền
lương công nhân trong quá trình sửa chữa tàu là 4.303.138.651đ; tiền điện, nước,
khấu hao thiết bị là 1.527.796.391đ; tiền vật tư thiết bị thay thế là 2.363.322.807đ); tiền
thuế giá trị gia tăng là 819.415.785đ; chi phí trông giữ neo đậu Tàu R 268 từ ngày 21/01/2017 đến
ngày 12/7/2019 là 2.953.500.000đ.
Công ty cổ phần H có nghĩa vụ nộp
thuế Giá trị gia tăng theo quy định của pháp luật về thuế. Công ty H có nghĩa vụ
tiếp tục thanh toán chi phí trông giữ neo đậu Tàu R 268 cho Công ty Đ kể ngày
13/7/2019 (theo Hợp đồng kinh tế số 06-11/2017/HĐHG-ĐTHG) cho đến khi di dời và
thanh lý hợp đồng trông giữ neo đậu Tàu R 268.
Đối với khoản tiền nợ nêu trên, khi bản án có hiệu lực pháp luật,
kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành cho đến khi thi hành
án xong, nếu người phải thi hành án dân sự không thi hành thì hàng tháng phải
chịu tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo lãi suất được quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự.
3. Trường hợp Công ty H
không thực hiện việc trả toàn bộ khoản tiền nợ nói trên cho Ngân hàng thì Ngân
hàng có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế
chấp (Hợp đồng thế chấp tài sản 3354/15/TC-TT/XI ngày 21/7/2015), theo quy định của pháp luật để thực hiện
nghĩa vụ thanh toán khoản tiền trên cho Ngân hàng. Tài sản thế chấp được xử lý
là: Tàu R 268.
4. Về thứ tự thanh toán:
Khi xử lý tài sản thế chấp
là Tàu R 268, số tiền thu được sau khi trừ các chi phí về thi hành án thì ưu
tiên thanh toán trước tiền lương công nhân là 4.303.318.651đ, tiền thuế giá trị gia
tăng là 819.415.785đ và phí neo đậu trông coi tàu là 2.953.500.000đ cho Công ty Đ; sau đó thanh
toán tiền nợ gốc là 21.014.865.000đ, tiền nợ lãi trong hạn là 2.539.919.640đ, tiền nợ lãi quá hạn
là 9.279.463.889đ
cho Ngân hàng; sau đó tiếp tục thực hiện nghĩa vụ thanh toán phần còn thiếu cho
Công ty Đ tiền mua phụ tùng thay thế là 2.363.322.807đ; tiền khấu hao máy móc thiết
bị, điện, nước, dầu nhớt, mỡ xăng, cát bắn làm sạch tôn là 1.527.796.391đ.
Trong quá trình thực hiện
việc thanh toán theo thứ tự nêu trên, nếu không trả đủ thì Công ty H còn phải
trả tiếp phần còn thiếu đối với các khoản nợ tương ứng còn phải thanh toán, nếu
còn thừa thì trả lại cho Công ty H.
Ngoài ra, bản án còn quyết
định về án phí, quyền kháng cáo và thi hành án của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, Ngân hàng thương mại cổ phần A kháng cáo một phần
bản án sơ thẩm.
Tại Bản án kinh doanh,
thương mại phúc thẩm số 19/2019/KDTM-PT ngày 25/11/2019, Tòa án nhân dân thành
phố Hải Phòng quyết định:
Giữ nguyên Bản án kinh
doanh, thương mại sơ thẩm số 05/2019/KDTM-ST ngày 12/7/2019 của Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố
Hải Phòng.
Ngày 06/7/2021, Ngân hàng
TMCP A có đơn khiếu nại đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm gửi Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại
Hà Nội đối với
Bản án kinh doanh, thương mại phúc thẩm số 19/2019/KDTM-PT ngày 25/11/2019 của Tòa án nhân dân
thành phố Hải Phòng.
Tại Quyết định số
06/QĐKNGĐT-VC1-KDTM ngày 24/7/2023, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao
tại Hà Nội kháng nghị Bản án kinh doanh, thương mại phúc thẩm số
19/2019/KDTM-PT ngày 25/11/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng; đề nghị
Ủy ban Thẩm
phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử giám đốc thẩm hủy bản án kinh doanh,
thương mại phúc thẩm nêu trên và Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 05/2019/KDTM-ST ngày
12/7/2019 của Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng; giao hồ sơ vụ
án cho Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng xét xử sơ thẩm lại theo quy định pháp luật, với lý do: Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm tuyên xử ưu tiên thanh
toán chi phí sửa chữa tàu khi xử lý tài sản bảo đảm là không đúng, gây thiệt hại
quyền lợi của Ngân hàng.
Tại phiên toà giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp
cao tại Hà Nội chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại
Hà Nội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Ngân hàng thương mại cổ phần A (viết tắt là Ngân
hàng) và Công ty cổ phần hàng hải H (viết tắt là Công ty H) ký kết Hợp đồng tín
dụng số 68/13/TD/XI ngày 22/10/2013 với nội dung: Ngân hàng cho Công ty H vay
23.331.000.000đ;
mục đích là thanh toán tiền mua tàu vận tải biển P 06; thời hạn vay 120 tháng; lãi suất quy định tại thời điểm giải ngân và khi Ngân hàng có thông báo thay đổi lãi suất; lãi suất quá hạn
150% lãi suất trong hạn. Công ty H đã nhận tiền theo Giấy nhận nợ số 01 ngày
22/10/2013. Để
bảo đảm cho khoản vay, Công ty H thế chấp tài sản hình thành từ vốn vay là tàu biển P 06, theo Hợp đồng thế
chấp tàu biển
hình thành trong tương lai số 112/13/TC/XI ngày 22/10/2013; sau khi nâng cấp,
thay đổi tên và
số hiệu của Tàu P 06 thành Tàu vận tải biển R 268 thì giá trị tài sản bảo đảm là 45.638.000.000đ và
các bên ký tiếp Hợp đồng thế chấp tài sản số 3364/15/TC/XI ngày 21/7/2015. Các hợp đồng thế chấp được
công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định.
[2] Quá trình thực hiện hợp
đồng tín dụng, Công ty H đã trả được cho Ngân hàng tổng số tiền là
7.621.242.760đ; trong đó gốc là 2.316.135.000đ; lãi trong hạn là 5.183.270.790đ và lãi quá hạn là
121.836.970đ
(tính đến ngày 25/9/2016). Do Công ty H đã vi phạm các kỳ hạn trả nợ nên Ngân
hàng khởi kiện
đề nghị Tòa án buộc Công ty H trả nợ 32.834.248.529đ, trong đó: 21.014.865.000đ nợ gốc, 2.539.919.640đ lãi
trong hạn và 9.279.463.889đ lãi quá hạn (tính đến ngày 12/7/2019), lãi phát
sinh theo hợp đồng tín dụng và giấy nhận nợ kể từ ngày 13/7/2019 cho đến khi hết nợ. Trường hợp Công ty H
không trả được nợ vay, Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền kê
biên, phát mại tài sản bảo đảm là Tàu biển R 268 để thu hồi nợ. Nếu số tiền thu được từ việc
phát mại tài sản
bảo đảm không đủ để thu hồi nợ thì Công ty H phải có nghĩa vụ trả nợ gốc và nợ lãi phát sinh cho
Ngân hàng theo lãi suất nợ quá hạn đã nêu trong Hợp đồng tín dụng và Giấy nhận
nợ cho đến khi trả xong nợ.
[3] Về yêu cầu của Công ty
cổ phần đóng tàu Đ (Công ty Đ), do Tàu P 06 tại thời điểm thế chấp Ngân hàng đã
bị hư hỏng nghiêm trọng nên Ngân hàng và Công ty H thỏa thuận để Công ty H sửa chữa, nâng
cấp Tàu P 06 thành Tàu vận tải biển R 268. Công ty H đã ký hợp đồng với Công ty Đ về việc sửa
chữa, nâng cấp và trông giữ tàu. Cho đến ngày Ngân hàng khởi kiện vụ án, Công ty H
chưa thanh toán cho Công ty Đ toàn bộ chi phí sửa chữa và tiền trông giữ tàu
Tàu R 268. Ngày 26/12/2017, Công ty Đ có yêu cầu độc lập đề nghị Công ty H trả
cho Công ty Đ chi phí sửa chữa tàu là 8.194.157.849đ, gồm tiền lương công nhân
trong quá trình sửa tàu là 4.303.138.651đ; tiền điện nước khấu hao thiết bị là
1.527.796.391đ,
tiền vật tư thiết bị thay thế là 2.363.322.807đ; tiền thuế giá trị gia tăng là
819.415.785đ và chi phí trông giữ neo đậu tàu từ ngày 06/11/2017 đến khi thanh lý hợp đồng.
Trường hợp Công ty H không thanh toán được thì đề nghị phát mại tài sản là Tàu R
268 để trả các khoản
nợ cho Công ty Đ.
[4] Quá trình giải quyết vụ
án, Công ty H
xác nhận số tiền nợ gốc và lãi đối với Ngân hàng; xác nhận số tiền còn nợ Công
ty Đ. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm xử buộc Công ty H phải trả cho Công ty trách nhiệm hữu hạn
Q Việt Nam (là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của Ngân hàng) và Công
ty Đ các khoản còn nợ là có căn cứ.
[5] Tại Quyết định kháng
nghị số 06/QĐKNGĐT-VC1-KDTM của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội nhận định: “... Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm đều xử buộc Công ty H
phải trả cho Công ty trách nhiệm hữu hạn Q Việt Nam (là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của
Ngân hàng) tổng số tiền nợ gốc và nợ lãi tính đến ngày 12/7/2019 là
32.834.248.529đ; buộc Công ty H phải trả cho Công ty Đ tiền sửa chữa tàu và tiền
trông coi Tàu R 268 tổng là 11.967.073.634đ là có căn cứ”; chỉ đề nghị giải quyết lại
về thứ tự ưu tiên thanh toán, nhưng lại đề nghị hủy cả bản án phúc thẩm và sơ thẩm để giải quyết lại là không
phù hợp.
[6] Về thứ tự ưu tiên
thanh toán, thấy rằng, việc sửa chữa nâng cấp và trông giữ Tàu R 268 giữa Công ty H
và Công ty Đ là có thật; Ngân hàng biết và thống nhất việc Công ty H sửa chữa nâng cấp giá trị tàu. Cho đến
khi xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, Công ty H chưa thanh toán cho Công ty Đ các khoản chi phí
sửa chữa và trông giữ theo các hợp đồng đã ký. Tòa án sơ thẩm và Tòa án phúc thẩm đã viện dẫn quy định tại Điều 307 Bộ luật
Dân sự năm 2015 và điểm b khoản 12 Điều 1 Nghị định số
11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 để quyết định khi xử lý tài sản thế chấp thì ưu tiên thanh toán
trước cho Công ty Đ khoản chi phí là tiền lương công nhân, tiền thuế và tiền trông giữ tàu là có căn cứ, hợp tình, hợp lý, bảo đảm quyền lợi của người lao động, bảo đảm
thực hiện nghĩa vụ nộp thuế với Nhà nước. Do đó, cần giữ nguyên quyết định của
bản án sơ thẩm
và bản án phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm
a khoản 1 Điều 337, khoản 1 Điều 343 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
1. Không chấp nhận Quyết định
kháng nghị giám đốc thẩm số 06/QĐKNGĐT-VC1-KDTM ngày 24/7/2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân cấp cao tại Hà Nội.
2. Giữ nguyên Bản án kinh
doanh, thương mại
phúc thẩm số
19/2019/KDTM-PT ngày 25/11/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng về vụ án “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”
giữa nguyên đơn là Ngân hàng thương mại cổ phần A với bị đơn là Công ty cổ phần
Hàng hải H; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Công ty cổ phần đóng tàu Đ.
NỘI DUNG ÁN LỆ
“[6] Về thứ tự ưu tiên
thanh toán, thấy rằng, việc sửa chữa nâng cấp và trông giữ Tàu R 268 giữa Công ty H và Công ty Đ
là có thật; Ngân hàng biết và thống nhất việc Công ty H sửa chữa nâng cấp giá trị tàu. Cho đến khi xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, Công ty H chưa thanh
toán cho Công ty Đ các khoản chi phí sửa chữa và trông giữ theo các hợp đồng đã ký. Tòa án sơ thẩm và Tòa án phúc thẩm đã viện dẫn quy định tại Điều 307 Bộ luật Dân sự năm 2015 và điểm b khoản
12 Điều 1 Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 để quyết định khi xử lý tài sản thế chấp thì ưu tiên thanh toán trước
cho Công ty Đ khoản chi phí là tiền lương công nhân tiền thuế và tiền trông giữ
tàu là có căn cứ, hợp tình, hợp lý, bảo đảm quyền lợi của người lao động, bảo đảm
thực hiện nghĩa vụ nộp thuế với Nhà nước. Do đó cần giữ nguyên quyết định của bản
án sơ thẩm và bản
án phúc thẩm.”
ÁN LỆ SỐ 86/2026/AL[*]
Về sự kiện pháp lý làm phát
sinh căn cứ để xem xét kháng nghị theo thủ tục tái thẩm
Được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 21
tháng 5 năm 2026 và được công bố theo Quyết định số 162/QĐ-CA ngày 29 tháng 5 năm 2026 của
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
Nguồn án lệ:
Quyết định tái thẩm số
05/2022/KDTM-TT ngày 25/02/2022 của Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội về vụ án kinh
doanh, thương mại “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” giữa nguyên đơn là Ngân
hàng thương mại cổ phần Q với bị đơn là Công ty trách nhiệm hữu hạn T; người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan là Công ty trách nhiệm hữu hạn H.
Vị trí nội dung án lệ:
Đoạn 1 và 2 phần “Nhận định
của Tòa án”.
Khái quát nội dung của
án lệ:
- Tình huống án lệ:
Tranh chấp hợp đồng tín dụng
giữa nguyên đơn (tổ chức tín dụng) và bị đơn (doanh nghiệp) đã được giải quyết
bằng bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án buộc bị đơn phải trả
tiền cho nguyên đơn. Sau đó, Cơ quan điều tra xác định người đại diện theo pháp
luật của bị đơn có hành vi gian dối trong việc trả nợ để chiếm đoạt tiền của nguyên đơn nên đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối
với người này và có văn bản, tài liệu kèm theo đề nghị người có thẩm quyền xem
xét kháng nghị đối với bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật nêu trên.
- Giải pháp pháp lý:
Trường hợp này, Tòa án phải
xác định quyết định khởi tố bị can và văn bản, tài liệu kèm theo nêu trên của
Cơ quan điều tra là sự kiện pháp lý làm phát sinh căn cứ để xem xét kháng nghị
theo thủ tục tái thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của
Tòa án.
Quy định của pháp luật
liên quan đến án lệ:
Điều 351, Điều
352 và khoản 1 Điều 353 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung
năm 2019, 2020, 2022, 2023, 2024 và 2025).
Từ khóa của án lệ:
“Hợp đồng tín dụng”; “Quyết
định khởi tố bị can”; “Tình tiết mới”; “Sự kiện pháp lý làm phát sinh căn cứ để
xem xét kháng nghị theo thủ tục tái thẩm”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày
19/7/2018 và quá trình tố tụng, nguyên đơn là Ngân hàng thương mại cổ phần Q
(do người đại diện) trình bày: Ngày 21/3/2011, Công ty trách nhiệm hữu hạn T
(sau đây viết tắt là Công ty T) ký hợp đồng tín dụng hạn mức số 29.11.066.899998.TD với
Ngân hàng thương mại cổ phần Q (sau đây viết tắt là Ngân hàng Q). Theo đó, Ngân
hàng Q đồng ý cấp cho Công ty T các khoản tín dụng với tổng số tiền cam kết tối đa
tại mọi thời điểm là 300.000.000.000 đồng trong đó giá trị hạn mức bảo lãnh thanh
toán tối đa là 200.000.000.000
đồng để tài trợ vốn lưu động, mở L/C nhập khẩu phục vụ cho hoạt động sản xuất
kinh doanh thép, phôi thép và các loại than năm 2011.
Ngân hàng Q đã giải ngân
cho Công ty T số tiền 246.000.000.000 đồng thông qua 06 khế ước nhận nợ, thời hạn vay
vốn là 03 tháng tính từ ngày giải ngân của từng khế ước.
Tài sản bảo đảm cho khoản
vay nêu trên của Công ty T bao gồm:
- Quyền đòi nợ đối với
Công ty TNHH thương mại và xây dựng H theo hợp đồng thế chấp số
18.11.066.899998.ĐB ngày 21/3/2011 (sửa đổi ngày 14/11/2011) được đăng ký thế
chấp tại Trung tâm đăng ký giao dịch tài sản tại Hà Nội ngày 29/3/2011, giá trị
607.550.000.000 đồng.
- Quyền đòi nợ đối với
Công ty TNHH thương mại và xây dựng H theo hợp đồng thế chấp số
78.11.066.899998.ĐB ngày 30/9/2011 được đăng ký thế chấp tại Trung tâm đăng ký
giao dịch tài sản tại Hà Nội ngày 04/10/2011, giá trị 65.620.480.302 đồng.
Ngoài ra, khoản vay còn được
bảo đảm bằng tài sản là bất động sản khác nhưng đã được hai bên thỏa thuận xử
lý trong quá trình Ngân hàng thu hồi nợ đối với Công ty T và đã giải chấp đối với
các bất động sản thế chấp.
Quá trình thực hiện hợp đồng,
do Công ty T vi phạm nghĩa vụ trả nợ dẫn đến các khoản nợ theo các khế ước nêu
trên bị chuyển
sang nợ quá hạn nên Ngân hàng khởi kiện đề nghị Tòa án buộc Công ty T phải trả
nợ Ngân hàng tính đến ngày xét xử sơ thẩm 22/8/2020 với tổng số tiền là
535.605.196.882 đồng; trong đó nợ gốc là 133.783.843.161 đồng; lãi trong hạn là
4.979.395.772 đồng; lãi quá hạn là 396.841.957.949 đồng và có quyền yêu cầu cơ
quan có thẩm quyền xử lý các tài sản bảo đảm là quyền đòi nợ theo hợp đồng thế
chấp số 18.11.066.899998.ĐB
ngày 21/3/2011 (sửa đổi ngày 14/11/2011) và quyền đòi nợ theo hợp đồng thế chấp
số 78.11.066.899998.ĐB ngày 30/9/2011 trong trường hợp Công ty T không trả được
khoản vay nợ nêu trên đối với Ngân hàng.
Bị đơn là Công ty trách
nhiệm hữu hạn thương mại và dịch vụ du lịch T (do người đại diện là ông Đoàn Hồng
D tại Biên bản lấy lời khai ngày 04/6/2020) trình bày: Ông nhất trí với lời trình bày của đại diện Ngân hàng về việc
ký kết hợp đồng tín dụng hạn mức số 29.11.066.899998.TD, về số tiền giải ngân
theo 06 khế ước nhận nợ đã ký. Tài sản bảo đảm cho khoản vay nêu trên là 02 quyền đòi nợ đối với Công ty
trách nhiệm hữu hạn thương mại và xây dựng H (sau đây viết tắt là Công ty H) và một
số các bất động sản khác. Quá trình thực hiện nghĩa vụ trả nợ, Công ty T và
Ngân hàng Q đã
thỏa thuận xử lý các tài sản bảo đảm là một số các bất động sản để thu hồi nợ,
Ngân hàng Q đã giải chấp các bất động sản. Tuy nhiên, do khấu trừ các giá trị bất
động sản quá thấp dẫn đến dư nợ của hợp đồng vẫn còn như yêu cầu khởi kiện hiện
nay của Ngân hàng Q. Theo nội dung đơn khởi kiện và các tài liệu mà Tòa án
thông báo, Công ty T được biết tạm tính đến ngày 14/7/2018, Công ty T còn nợ Ngân
hàng tổng số tiền là 407.316.591.766 đồng, trong đó nợ gốc là 133.783.843.161 đồng;
nợ lãi là 313.532.748.605 đồng. Đây là số liệu do Ngân hàng Q cung cấp, phía Công ty T không còn hoạt
động, bản thân ông là đại diện theo pháp luật của Công ty T nhưng bị tạm giam đã lâu nên không nhớ và
không còn bất cứ một tài liệu chứng cứ nào để đối
chiếu và chứng minh nên ông không có cơ sở để xác nhận số dư nợ nêu trên. Vì vậy,
ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Q. Do hiện nay Công ty T không còn hoạt động và
không có khả năng tài chính để thực hiện nghĩa vụ trả nợ nên đề nghị Tòa án căn cứ quy định
của pháp luật để
giải quyết. Đối
với việc xử lý tài sản thế chấp là 02 quyền đòi nợ của Công ty T đối với Công
ty H theo các hợp đồng đã ký giữa các bên. Do hiện nay Công ty H cũng không còn
hoạt động và không còn khả năng tài chính, đại diện theo pháp luật của Công ty
H là bà Nguyễn Thị Thanh S và các thành viên của Công ty H hiện đang làm gì, ở
đâu ông không biết, các hợp đồng mua bán giữa Công ty T và Công ty H cũng đã tất
toán nên không còn tài sản để Ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản thế chấp là 02 quyền đòi nợ
với Công ty H, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là
Công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại và xây dựng H có trụ sở theo Giấy chứng
nhận đăng ký doanh nghiệp tại Cụm tiểu thủ công nghiệp, làng nghề Đ, xã H1, huyện D, tỉnh Hà Nam. Qua xác minh tại chính quyền địa
phương, hiện Công ty H không còn hoạt động tại địa chỉ nêu trên, bà Nguyễn Thị
Thanh S là người đại diện theo pháp luật của Công ty H cũng không còn sinh sống
tại nơi đăng ký hộ khẩu thường trú. Địa chỉ số 425 đường M, phường V, quận B,
thành phố Hà Nội đã bị giải tỏa cho dự án mở đường M, hiện bà S đi đâu chính
quyền địa phương không biết.
Tại Bản án kinh doanh,
thương mại sơ thẩm số 15/2020/KDTM-ST ngày 22/8/2020, Tòa án nhân dân quận Hai
Bà Trưng, thành phố Hà Nội quyết định:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu
khởi kiện của Ngân hàng Q đối với Công ty T.
Buộc Công ty T phải trả
cho Ngân hàng Q số dư nợ theo hợp đồng tín dụng hạn mức số 29.11.066.899998.TD
ngày 21/3/2011 và 06 khế ước nhận nợ kèm theo tạm tính đến ngày 22/8/2020 số tiền
là:
- Nợ gốc: 133.783.843.161 đồng.
- Nợ lãi trong hạn:
4.979.395.772 đồng.
- Nợ lãi quá hạn:
396.841.957.949 đồng.
Tổng cộng: 535.605.196.882
đồng (Năm trăm ba mươi lăm tỷ sáu trăm linh năm triệu một trăm chín sáu nghìn
tám trăm tám hai đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày
xét xử sơ thẩm
cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi
của số tiền nợ gốc còn phải thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn mà các bên thỏa
thuận trong hợp đồng tín dụng nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật.
Trường hợp Công ty T không
trả hoặc trả không đầy đủ khoản nợ trên, Ngân hàng Q có quyền đề nghị cơ quan
thi hành án có thẩm quyền xử lý các tài sản đảm bảo gồm:
- Quyền đòi nợ của Công ty T đối
với Công ty TNHH thương mại và xây dựng H có giá trị là 607.550.000.000 đồng theo hợp đồng thế chấp số 18.11.066.899998. ĐB ngày
21/03/2011 và Văn bản sửa đổi hợp đồng số 90.11.066.899998 ngày 14/11/2011;
- Quyền đòi nợ của Công ty T đối với
Công ty TNHH thương mại và xây dựng H có giá trị là 65.620.480.302 đồng theo hợp
đồng thế chấp số 76.11.066.899998.ĐB
ngày 30/9/2011.
Ngoài ra bản án còn quyết
định về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 15/11/2021, Cơ quan điều
tra hình sự - Bộ Quốc phòng có Văn bản số 258/ĐTHS-P1 đề nghị xem xét kháng nghị
theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đối với bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm nêu trên của Tòa án
nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.
Tại Quyết định kháng nghị
tái thẩm số 23/2021/KN-KDTM ngày 10/12/2021, Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại
Hà Nội kháng nghị Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 15/2020/KDTM-ST ngày
22/8/2020 của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội; đề nghị Ủy
ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử tái thẩm hủy toàn bộ bản án kinh
doanh, thương mại sơ thẩm nêu trên; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân quận Hai Bà
Trưng, thành phố Hà Nội giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm đúng quy định của pháp
luật.
Tại phiên tòa tái thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại
Hà Nội đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội chấp nhận kháng nghị của
Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Theo xác minh của Cơ
quan điều tra hình sự Bộ Quốc phòng xác định, sau khi ký kết hợp đồng tín dụng
số 29.11.066.899998.TD ngày 21/3/2011 với Ngân hàng Q, Công ty T đã lập hồ sơ
vay tiền của Ngân hàng Q - Chi nhánh L, thành phố Hà Nội mua phôi thép của Công
ty S1 Việt Nam
bán cho Công ty O.
Thực tế, Công ty T đã không chuyển số tiền bán phôi thép vào tài khoản của Công ty T mở tại
Ngân hàng Q để
trả nợ cho Ngân hàng mà yêu cầu Công ty O chuyển tiền về tài khoản của Công ty T mở tại Ngân hàng B - Chi
nhánh H2 để sử
dụng vào mục
đích khác nên có căn cứ xác định ông Đoàn Hồng D - Giám đốc Công ty T đã có hành vi gian dối trong việc trả
nợ để chiếm đoạt
của Ngân hàng Q số tiền 86.000.000.000 đồng nợ gốc. Ngày 26/9/2021, Cơ quan điều
tra hình sự Bộ Quốc phòng ra quyết định khởi tố vụ án và quyết định khởi tố bị
can đối với Đoàn Hồng D và Nguyễn Thị Thanh S về hành vi “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy
định tại khoản 4 Điều 175 Bộ luật Hình sự.
[2] Như vậy, hành vi của
ông Đoàn Hồng D được Cơ quan điều tra hình sự Bộ Quốc phòng xác định là hành vi
phạm tội, đây là tình tiết mới dược phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của Bản
án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 15/2020/KDTM-ST ngày 22/8/2020 của Tòa án nhân dân quận
Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội, là căn cứ để kháng nghị vụ án theo thủ tục tái thẩm. Do đó, cần hủy bản án kinh doanh,
thương mại sơ thẩm nêu trên theo thủ tục tái thẩm để giao cho Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại.
[3] Khi thụ lý lại vụ án,
Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng cần căn cứ điểm d khoản 1 Điều 214 Bộ luật Tố tụng dân sự tạm đình chỉ giải
quyết vụ án để
chờ kết quả giải quyết vụ án hình sự đối với các bị can Đoàn Hồng D và Nguyễn
Thị Thanh S. Nếu
các hành vi nêu trên và khoản tiền vay theo hợp đồng tín dụng hạn mức số
29.11.066.899998.TD ngày 21/3/2011 được xử lý theo quy định của pháp luật hình
sự bằng bản án, quyết định có hiệu lực thì Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ giải quyết
vụ án kinh doanh, thương mại theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 192 và điểm g Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự
năm 2015.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều
351; khoản 2 Điều 356 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
1. Chấp nhận Quyết định
kháng nghị tái thẩm số 23/2021/KN-KDTM ngày 10/12/2021 của Chánh án Tòa án nhân
dân cấp cao tại Hà Nội.
2. Hủy Bản án kinh doanh,
thương mại sơ thẩm số 15/2020/KDTM-ST ngày 22/8/2020 của Tòa án nhân dân quận
Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội về vụ án “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” giữa
nguyên đơn là Ngân hàng Q với bị đơn là Công ty T; người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan là Công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại và xây dựng H.
3. Giao hồ sơ vụ án cho
Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội giải quyết lại theo thủ tục
sơ thẩm theo
quy định của pháp luật.
NỘI DUNG ÁN LỆ
“[1] Theo xác minh của
Cơ quan điều tra hình sự Bộ Quốc phòng xác định, sau khi ký kết hợp đồng tín dụng số 29.11.066.899998.TD ngày 21/3/2011 với Ngân hàng Q, Công ty
T đã lập hồ sơ vay tiền của Ngân hàng Q - Chi nhánh L, thành phố Hà Nội mua phôi thép của Công ty S1 Việt Nam bán cho Công ty O. Thực tế, Công ty T đã
không chuyển số tiền bán phôi thép vào tài khoản của Công ty T mở tại Ngân hàng
Q để trả nợ cho
Ngân hàng mà yêu cầu Công ty O chuyển tiền về tài khoản của Công ty T mở tại Ngân hàng B - Chi
nhánh H2 để sử
dụng vào mục
đích khác nên có căn cứ xác định ông Đoàn Hồng D - Giám đốc Công ty T đã có hành vi gian dối trong việc trả nợ để chiếm đoạt của Ngân hàng Q số tiền 86.000.000.000 đồng nợ gốc.
Ngày 26/9/2021, Cơ quan điều tra hình sự Bộ Quốc phòng ra quyết định khởi tố vụ án và quyết định khởi tố bị can đối với Đoàn Hồng D và Nguyễn Thị Thanh S về hành
vi “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 4 Điều
175 Bộ luật Hình sự.
[2] Như vậy, hành vi của
ông Đoàn Hồng D được Cơ quan điều tra hình sự Bộ Quốc phòng xác định là hành vi
phạm tội, đây là tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 15/2020/KDTM-ST ngày
22/8/2020 của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội, là căn cứ để kháng nghị vụ án theo thủ
tục tái thẩm.
Do đó, cần hủy
bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm nêu trên theo thủ tục tái thẩm để giao cho Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại.”
ÁN LỆ SỐ 85/2026/AL[*]
Về việc tham gia tố tụng của
doanh nghiệp bảo hiểm thành viên theo hợp đồng nguyên tắc đồng bảo hiểm
Được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân
dân tối cao
thông qua ngày 21 tháng 5 năm 2026 và được công bố theo Quyết định số 162/QĐ-CA ngày 29 tháng 5 năm 2026 của
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
Nguồn án lệ:
Bản án phúc thẩm số
64/2024/DS-PT ngày 03/6/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam về vụ án dân sự
“Tranh chấp hợp đồng bảo hiểm” giữa nguyên đơn là ông Lương Văn H với bị
đơn là Tổng
Công ty bảo hiểm B; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm 02 người.
Vị trí nội dung án lệ:
Đoạn 7, 8, 10 và 11 phần
“Nhận định của Tòa án”.
Khái quát nội dung án lệ:
- Tình huống án lệ:
Hợp đồng nguyên tắc đồng bảo
hiểm giữa các doanh nghiệp bảo hiểm xác định doanh nghiệp bảo hiểm đứng đầu có
nghĩa vụ giao kết hợp đồng bảo hiểm với bên mua bảo hiểm, giải quyết bồi thường,
chi trả tiền bồi thường khi xảy ra sự kiện bảo hiểm và có quyền yêu cầu các doanh nghiệp bảo hiểm
thành viên góp tiền bồi thường theo tỷ lệ đồng bảo hiểm khi có sự kiện bảo hiểm xảy
ra; không quy định doanh nghiệp bảo hiểm thành viên trực tiếp có trách nhiệm với
bên mua bảo hiểm.
Bên mua bảo hiểm không
giao kết hợp đồng với các doanh nghiệp bảo hiểm thành viên mà giao kết với
doanh nghiệp bảo hiểm đứng đầu và phát sinh tranh chấp hợp đồng này. Quá trình
giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm, doanh nghiệp bảo hiểm đứng đầu không
yêu cầu đưa các doanh nghiệp bảo hiểm thành viên vào tham gia tố tụng với tư
cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
- Giải pháp pháp lý:
Trường hợp này, Tòa án phải
xác định các doanh nghiệp bảo hiểm thành viên không phải là người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan trong vụ án và không đưa vào tham gia tố tụng.
Quy định của pháp luật
liên quan đến án lệ:
Khoản 4 Điều
68 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019, 2020, 2022, 2023, 2024 và 2025).
Từ khóa của án lệ:
“Hợp đồng bảo hiểm”; “Hợp
đồng nguyên tắc đồng bảo hiểm”; “Doanh nghiệp bảo hiểm đứng đầu”; “Doanh nghiệp bảo hiểm thành
viên”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, trong quá trình
giải quyết vụ
án cũng như tại phiên tòa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên
đơn trình bày:
Ngày 27/8/2019, ông Lương
Văn H đã ký hợp đồng bảo hiểm tàu cá số QNA.BHHS.19.1611 với Công ty Bảo hiểm B1 về việc mua bảo hiểm cho tàu
cá số hiệu QNa-909xx-TS của ông H làm chủ sở hữu. Cụ thể: số tiền bảo hiểm là 2.450.000.000 đồng (Hai tỷ
bốn trăm năm mươi triệu đồng), thời hạn bảo hiểm từ ngày 28/8/2019 đến ngày
28/8/2020.
Lúc 12 giờ 20 phút ngày
02/6/2020, tàu cá số hiệu QNa-909xx-TS của ông Lương Văn H do ông H làm thuyền
trưởng xuất bến tại Trạm kiểm soát Biên phòng A, huyện N, tỉnh Quảng Nam, trên
tàu có 05 thuyền viên ra khơi để hành nghề câu mực, có đủ điều kiện xuất bến theo quy định
kiểm soát phương tiện của Trạm kiểm soát Biên phòng A. Khi đang di chuyển ra khơi đến 19 giờ
cùng ngày tàu đang ở tại vị trí tọa độ 15°32’N 109°16’E thì tàu của ông Lương Văn
H bất ngờ bị gió dông, sóng biển lớn đánh khiến tàu bị vỡ be hai bên mũi làm nước tràn vào
tàu. Ông H đã hô hào thuyền viên sử dụng 02 máy bơm để bơm nước và lấy can nhựa tát nước ra khỏi tàu, nhưng do
bị vỡ be to quá nên không khắc phục được. Lúc đó, ông H thấy cách khoảng 08 đến
09 hải lý có ánh sáng điện nên ông H cho tàu chạy đến nhờ hỗ trợ, nhưng đến gần
cách khoảng 500m thì tàu bị chết máy và chìm dần. Nhận thấy không thể cứu tàu
được nên ông H cho các thuyền viên lên 04 chiếc thúng câu rời tàu và chèo đến 01 tàu cá gần
đó là tàu số hiệu QNg-98772-TS của tỉnh Quảng Ngãi và được tàu cá này cứu vớt
ông H cùng toàn bộ thuyền viên lên tàu.
Sau khi được cứu và đưa vào bờ, ông
H đã trình báo toàn bộ sự việc cho Trạm kiểm soát Biên phòng A và thực hiện đầy
đủ thủ tục pháp lý khai báo, làm hồ sơ đề nghị Công ty Bảo hiểm B1 chi trả tiền bảo hiểm tàu
cá cho ông H theo hợp đồng bảo hiểm và đã hoàn thành đầy đủ hồ sơ hợp lệ vào
ngày 19/12/2020. Nhưng phía Công ty Bảo hiểm B1 không thực hiện việc chi trả tiền bảo hiểm tàu cá cho ông H
theo hợp đồng đã ký.
Nay ông Lương Văn H yêu cầu
Tòa án buộc Tổng
Công ty Bảo hiểm B chi trả tiền bảo hiểm tàu cá QNa-909xx-TS với số tiền bảo hiểm
sau khi khấu trừ 02% số tiền bồi thường theo hợp đồng là 2.401.000.000 đồng (Hai tỷ, bốn trăm lẻ một triệu
đồng) và lãi suất chậm thanh toán tiền bảo hiểm kể từ ngày 19/12/2020 (ngày nộp
đủ hồ sơ yêu cầu bảo hiểm theo xác nhận tại Báo cáo giám định của Công ty cổ phần
V) tạm tính đến ngày 07/7/2023 là 02 năm 06 tháng với mức lãi suất 10%, thành
tiền là 600.250.000đồng.
Trong quá trình giải quyết
vụ án cũng như tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình
bày:
Thống nhất với nội dung trình bày của người bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp cho nguyên đơn.
Trong quá trình giải quyết
vụ án cũng như tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày:
Tổng Công ty Bảo hiểm B (gọi
tắt là Bảo hiểm B) thừa nhận ông Lương Văn H có tham gia bảo hiểm đối với tàu
cá số hiệu QNa-909xx-TS theo hợp đồng bảo hiểm tàu cá số QNA.BHHS.19.1611 ngày
27/8/2019. Ngày 02/6/2020, tàu cá số hiệu QNa-909xx-TS gặp nạn trên vùng biển Việt Nam. Ngày
03/6/2020, ông Lương Văn H đã có thông báo tổn thất và Bảo hiểm B đã cử nhân viên đến nhà ông H để thu thập
hồ sơ. Ngày 09/6/2020, Bảo hiểm B đã có yêu cầu giám định gửi Công ty cổ phần V
để yêu cầu giám định tổn thất đối với tàu cá số hiệu QNa- 909xx-TS. Tuy nhiên,
căn cứ vào Báo cáo giám định cuối cùng về tổn thất thân tàu cá số 36 TT/20VJC ngày 11/5/2023 của Công ty
cổ phần V thì nguyên nhân tàu cá QNa-909xx-TS bị chìm theo khai báo của chủ tàu
là do gió Tây Nam cấp 5 đến cấp 6, kèm theo gió dông lốc dẫn đến sóng lớn va đập
vào xỏ mũi gây bể
vỡ chìm tàu đã không phù hợp với tình hình thời tiết thực tế tại khu vực tàu bị
chìm như văn bản số 174/ĐKTTVTTTB ngày 06/5/2022 của Đài khí tượng thủy văn Khu
vực Trung Trung bộ xác báo. Mặt khác, theo báo cáo giám định thì nhận thấy tàu
QNa-909xx-TS đã được sử dụng 08 năm, thời gian tàu được đưa lên đã bảo dưỡng hồ xảm, sơn vỏ
tàu cũng đã 11 tháng, trong điều kiện thời tiết bình thường của chuyến hành
trình mà tàu xảy ra tai nạn thì khả năng lớn là do hao mòn mục thủng tự nhiên vỏ
tàu nên khi hành trình đi biển chịu tác động của sóng gió gây phá nước chìm tàu.
Trên cơ sở Báo cáo giám định
cuối cùng về tổn thất thân tàu cá số 36 TT/20VJC ngày 11/5/2023 thì Bảo hiểm B
không thống nhất với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Lương Văn H.
Về đơn vị giám định độc lập
là Công ty cổ phần V là đơn vị do Bảo hiểm B chỉ định giám định và có trách nhiệm
thay mặt Bảo hiểm B làm việc, yêu cầu người được bảo hiểm cung cấp hồ sơ để ban hành báo cáo giám định
và chịu trách nhiệm về báo cáo giám định của mình. Việc Bảo hiểm B yêu cầu Công
ty cổ phần V giám định thì Bảo hiểm B tự yêu cầu, không hỏi ý kiến của ông
Lương Văn H.
Về thời điểm Công ty cổ phần V nhận đủ hồ sơ yêu
cầu bảo hiểm của ông Lương Văn H thì Bảo hiểm B không nắm được vì ông H tự nộp cho
Công ty cổ phần
V.
Bảo hiểm B chỉ chấp nhận
hay không chấp nhận yêu cầu bảo hiểm của ông Lương Văn H trên cơ sở hồ sơ yêu cầu
bảo hiểm đầy đủ và thời hạn để chấp nhận hay không chấp nhận bảo hiểm là 30 ngày kể từ ngày nhận
đủ hồ sơ. Ngày nhận đủ hồ sơ theo Bảo hiểm B xác định là ngày 11/5/2023 - ngày
Công ty cổ phần V có Báo cáo giám định cuối cùng về tổn thất thân tàu cá số 36
TT/20VJC. Tính từ ngày 11/5/2023 đến nay thì Bảo hiểm B vẫn chưa có văn bản chấp
nhận hay không chấp
nhận yêu cầu bảo hiểm của ông Lương Văn H. Tuy nhiên, ông Lương Văn H đã khởi
kiện thì phía bị đơn có ý kiến không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
Bị đơn không thống nhất
ngày mà nguyên đơn cho rằng đã nộp đủ hồ sơ yêu cầu bồi thường là ngày
19/12/2020 vì ngày 28/6/2022 Công ty cổ phần V đã có văn bản số 146/VJC yêu cầu ông H bổ
sung thêm chứng cứ và đã gửi qua bưu điện cho ông H, nhưng không rõ thời gian gửi.
Tuy nhiên, hiện nay phía bị đơn chưa cung cấp được chứng cứ về việc gửi văn bản
yêu cầu cho ông H.
Trong quá trình giải quyết
vụ án cũng như tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, bà Bùi Thị P trình bày:
Tàu cá số hiệu
QNa-909xx-TS là tài sản chung vợ chồng tôi (Lương Văn H và Bùi Thị P). Tôi thống
nhất với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lương Văn H và trình bày của người
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn.
Trong quá trình giải quyết
vụ án cũng như tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan Ngân hàng A trình bày:
Căn cứ Hợp đồng tín dụng số
4208LAV202000189 ngày 12/02/2020, ông Lương Văn H có vay vốn tại Ngân hàng A,
huyện N, tỉnh Quảng Nam, số tiền: 2.700.000.000 đồng (Hai tỷ bảy trăm triệu đồng). Tài sản thế
chấp bảo đảm cho khoản vay là tàu cá số hiệu QNa-909xx-TS theo Hợp đồng thế chấp tài sản số
17B/01/2019-HĐTC ngày 21/01/2019 đã được đăng ký giao dịch bảo đảm.
Tàu cá đăng ký số hiệu
QNa-909xx-TS đã gặp tai nạn và bị chìm trên biển, ông Lương Văn H khởi kiện yêu
cầu Bảo hiểm B phải bồi thường tiền bảo hiểm. Vì vậy, Ngân hàng A đề nghị Tòa án nhân dân
thành phố Tam Kỳ xem xét, nếu chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lương Văn H
thì đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ xem xét giải quyết:
Buộc Bảo hiểm B phải chuyển
tiền bồi thường bảo hiểm tàu cá số hiệu QNa-909xx-TS của ông Lương Văn H cho
Ngân hàng A là người thụ hưởng đầu tiên và duy nhất theo nội dung thỏa thuận tại
Điều 3 của Cam kết chuyển quyền thụ hưởng bảo hiểm số QNA.BHHS.19.161 ngày
27/08/2019 ký giữa 03 bên là Ngân hàng A - Chi nhánh huyện N, tỉnh Quảng Nam với
ông Lương Văn H và Công ty Bảo hiểm B1. Tạm tính đến ngày 05/7/2023, ông Lương Văn H phải trả cho
Ngân hàng A khoản nợ theo Hợp đồng tín dụng số 4208LAV202000189 ngày
12/02/2020, gồm: nợ gốc: 2.700.000.000 đồng (Hai tỷ, bảy trăm triệu đồng); nợ lãi:
1.041.616.653 đồng (Một tỷ, không trăm bốn mươi mốt triệu, sáu trăm mười sáu
ngàn, sáu trăm năm mươi ba đồng). Tổng cộng: 3.741.616.653 đồng (Ba tỷ, bảy trăm bốn mươi mốt triệu,
sáu trăm mười sáu ngàn, sáu trăm năm mươi ba đồng).
Đề nghị Hội đồng xét xử buộc Bảo hiểm B chuyển số tiền chi trả bảo
hiểm tàu cá số hiệu QNa-909xx-TS cho ông Lương Văn H vào số tài khoản: 459901 của
Ngân hàng A - Chi nhánh huyện N, tỉnh Quảng Nam để thanh toán cho khoản nợ vay
và lãi vay của ông H theo hợp đồng tín dụng.
Với nội dung như trên, tại
Bản án dân sự sơ thẩm số 141/2023/DS-ST ngày 07 tháng 7 năm 2023 của Tòa án
nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam đã căn cứ: Điều 12, Điều
13, Điều 14, Điều 15, điểm a khoản 3 Điều 16, Điều 18, Điều 28, Điều 29, Điều 30, Điều 32, Điều 40, Điều
46 và Điều 47 của Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm
2010 và năm 2019); Điều 117, Điều 274, Điều 275, Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa
án. Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn ông Lương Văn H đối với bị đơn Bảo hiểm B về việc: “Tranh chấp hợp
đồng bảo hiểm”.
Buộc Bảo hiểm B phải bồi
thường tiền bảo hiểm thân vỏ, máy móc và trang thiết bị của tàu cá số hiệu QNa-909xx-TS cho ông
Lương Văn H và bà Bùi Thị P theo Giấy chứng nhận bảo hiểm khai thác hải sản số
QNA.BHHS.19.1611 ngày 27/8/2019, số tiền: 2.401.000.000 đồng (Hai tỷ, bốn trăm
lẻ một triệu đồng) và tiền lãi do chậm thanh toán tiền bảo hiểm, số tiền:
599.583.056 đồng (Năm trăm chín mươi chín triệu, năm trăm tám mươi ba ngàn,
không trăm năm mươi sáu đồng). Tổng cộng: 3.000.583.056 đồng (Ba tỷ, năm trăm tám mươi ba ngàn,
không trăm năm mươi sáu đồng).
Buộc Bảo hiểm B phải chuyển
trả số tiền bồi thường bảo hiểm đối với tàu cá số hiệu QNa-909xx-TS và tiền lãi do chậm thanh toán tiền bảo
hiểm, tổng cộng: 3.000.583.056 đồng (Ba tỷ,
năm trăm tám mươi ba ngàn, không trăm năm mươi sáu đồng) cho người thụ hưởng là
Ngân hàng A (chuyển vào tài khoản số: 459901 của Ngân hàng A - Chi nhánh huyện
N, tỉnh Quảng Nam) để thực hiện nghĩa vụ trả nợ của ông Lương Văn H theo Hợp đồng
tín dụng số 4208LAV202000189 ngày 12/02/2020.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án
phí, chi phí tố
tụng, nghĩa vụ thi hành án, nghĩa vụ chậm trả tiền và quyền kháng cáo của các
đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm,
ngày 19 tháng 7 năm 2023, bị đơn Bảo hiểm B kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại
diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp
luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn phúc thẩm: Thẩm phán được phân công trực
tiếp giải quyết vụ án đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về việc thụ
lý vụ án, về thời hạn giải quyết vụ án, về việc chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nghiên cứu để tham gia xét xử. Tại
phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục
theo quy định của pháp luật. Các đương sự đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình
theo quy định của pháp luật.
- Về việc giải quyết vụ
án: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố
tụng dân sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của Bảo hiểm B.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Căn cứ vào các tài liệu,
chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến
phát biểu của đại
diện Viện kiểm
sát, Hội đồng
xét xử phúc thẩm nhận định:
[2] Về tố tụng:
[3] Tại phiên tòa phúc thẩm,
nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, bị đơn Bảo hiểm B không rút đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét toàn bộ bản án
sơ thẩm.
[4] Về thời hạn kháng cáo:
bị đơn Bảo hiểm B kháng cáo trong thời hạn nên Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam
thụ lý phúc thẩm
vụ án theo quy định tại Điều 285 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[5] Những người đại diện
theo ủy quyền của Bảo hiểm B gồm bà Đỗ Phương A, ông Đinh Duy H1 và bà Đỗ Minh A1 đã được tống đạt hợp lệ lần
thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[6] Xét kháng cáo của bị
đơn Bảo hiểm B thì thấy:
[7] Bảo hiểm B cho rằng cấp
sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng khi không đưa các Công ty bảo
hiểm thành viên gồm Bảo hiểm M, Bảo hiểm P, Bảo hiểm I vào tham gia tố tụng trong
vụ án với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, làm ảnh hưởng đến quyền, ích hợp pháp của các
Công ty này.
[8] Hội đồng xét xử xét thấy,
tại cấp sơ thẩm và phúc thẩm Bảo hiểm B không cung cấp được cho Tòa án hợp đồng
bảo hiểm ký kết giữa ông Lương Văn H với các Công ty bảo hiểm thành viên gồm Bảo hiểm M, Bảo hiểm P,
Bảo hiểm I và Bảo
hiểm B. Hơn nữa, theo Hợp đồng nguyên tắc đồng bảo hiểm khai thác hải sản số
01/2014/ĐBH và Biên bản thỏa thuận phương án đồng bảo hiểm khai thác hải sản số
01/2014 được ký giữa Bảo hiểm B và Bảo hiểm M, Bảo hiểm P, bảo hiểm I thì Bảo
hiểm B là doanh nghiệp bảo hiểm đứng đầu (Leader) tại địa bàn tỉnh Quảng Nam với
tỷ lệ bảo hiểm là 55%; các Doanh nghiệp tham gia đồng bảo hiểm còn lại Bảo hiểm M, Bảo hiểm P, Bảo hiểm I (Follower) với tỷ lệ
bảo hiểm là 15%. Tại Điều 2, trong Hợp đồng nguyên tắc đồng bảo hiểm khai thác
hải sản số
01/2014/ĐBH ghi rõ Trách nhiệm và quyền hạn của Công ty bảo hiểm đứng đầu (Leader) là Bảo
hiểm B phải có nghĩa vụ ký hợp đồng bảo hiểm, giải quyết bồi thường, chi trả tiền
bồi thường và có quyền yêu cầu các Công ty đồng bảo hiểm góp tiền bồi thường theo tỷ lệ đồng bảo hiểm khi
có sự kiện bảo hiểm xảy ra. Trong vụ án này Bảo hiểm B ký hợp đồng bảo hiểm với
ông Lương Văn H nên Bảo hiểm B phải có nghĩa vụ giải quyết bồi thường, chi trả tiền bồi thường cho ông Lương Văn
H. Do vậy, Bảo hiểm B cho rằng cấp sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng khi không đưa các
Công ty bảo hiểm thành viên gồm Bảo hiểm M, Bảo hiểm P, Bảo hiểm I vào tham gia tố tụng
trong vụ án với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là không có
cơ sở chấp nhận.
[9] Tàu cá số hiệu
QNa-909xx-TS là tài sản chung của vợ chồng ông Lương Văn H và bà Bùi Thị P được Chi cục Thủy sản tỉnh Quảng
Nam cấp Giấy chứng
nhận đăng ký tàu cá số 0001/2019/GCNĐK ngày 03/10/2019 đứng tên chủ tàu là ông Lương Văn H và được cấp
Giấy phép khai thác thủy sản số 0925/2020/QNa-GPKTTS ngày 22/5/2020 với nghề
chính là câu mực trên vùng khơi biển Việt Nam.
[10] Theo Giấy chứng nhận
bảo hiểm khai thác hải sản số QNA.BHHS.19.1611 ngày 27/8/2019 thì tàu cá số hiệu
QNa-909xx-TS của ông Lương Văn H được Công ty bảo hiểm B1 (thuộc Tổng Công ty Bảo hiểm B) bảo
hiểm, gồm: Thân
vỏ tàu, máy móc và trang thiết bị với tổng giá trị bảo hiểm: 2.450.000.000 đồng (Hai tỷ bốn trăm năm
mươi triệu đồng). Trong đó: vỏ tàu là 1.500.000.000 đồng, máy móc là
450.000.000 đồng và trang thiết bị là 500.000.000 đồng; Bảo hiểm tai nạn thuyền
viên: 3.220.000.000 đồng; thời hạn bảo hiểm kể từ 00 giờ 00 phút ngày 28/8/2019
đến 24 giờ 00 phút ngày 27/8/2020.
[11] Giấy chứng nhận bảo
hiểm khai thác hải sản số QNA.BHHS.19.1611 ngày 27/8/2019 đối với tàu cá số hiệu QNa-909xx-TS
là một dạng của hợp đồng bảo hiểm, đảm bảo về hình thức, nội dung, điều kiện có hiệu
lực của giao dịch dân sự được quy định tại Điều 117 của Bộ luật
Dân sự năm 2015 và Điều 12, Điều 13, Điều 14 và Điều 15 Luật
Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2010 và năm 2019) nên
phát sinh hiệu lực kể từ 00 giờ 00 phút ngày 28/8/2019 đến 24 giờ 00 phút ngày 27/8/2020 được
ghi trong Giấy chứng nhận bảo hiểm khai thác hải sản số QNA.BHHS.19.1611 ngày
27/8/2019.
[12] Về nguyên nhân dẫn đến
sự kiện pháp lý làm phát sinh trách nhiệm bảo hiểm đối với tàu cá số hiệu
QNa-909xx-TS theo Giấy chứng nhận bảo hiểm khai thác hải sản số
QNA.BHHS.19.1611 ngày 27/8/2019:
[13] Theo ông Lương Văn H
và các thuyền viên trên tàu khai báo: Trong khi tàu cá số hiệu QNa-909xx-TS
đang di chuyển ra khơi đến 19 giờ ngày 02/6/2020 tàu đang ở tại vị trí tọa độ
15032’N 109016’E thì bất ngờ bị gió dông, sóng biển lớn đánh khiến tàu bị vỡ be hai bên mũi nước tràn vào làm
tàu bị chìm, mặc dù ông Lương Văn H và các thuyền viên trên tàu đã sử dụng mọi biện pháp để cứu tàu nhưng không được nên đã bỏ tàu.
[14] Phía Bảo hiểm B căn cứ
Báo cáo giám định số 36TT/20JVC ngày 11/5/2023 của Công ty cổ phần V (đơn vị được Bảo hiểm B yêu cầu thực hiện giám định
nguyên nhân và tổn thất do chìm tàu) cho rằng nguyên nhân tàu cá số hiệu
QNa-909xx-TS bị chìm theo khai báo của ông H không phù hợp với thời tiết tại
khu vực theo thông báo tại văn bản số 174/ĐKTTVTTTB ngày 06/5/2022 của Đài khí
tượng thủy văn Khu vực Trung Trung Bộ và việc tàu cá QNa-909xx-TS đã được sử dụng
08 năm, thời gian tàu được đưa lên đã bảo dưỡng hồ xảm, sơn vỏ tàu cũng đã 11 tháng thì “...khả năng lớn là do hao
mòn mục thủng tự nhiên vỏ tàu nên khi hành trình đi biển chịu tác động của sóng
gió gây phá nước chìm tàu.” để không chấp nhận chi trả tiền bảo hiểm theo yêu cầu của ông
Lương Văn H.
[15] Xét thấy rằng: Về văn
bản số 174/ĐKTTVTTTB ngày 06/5/2022 của Đài khí tượng thủy văn Khu vực Trung
Trung Bộ cung cấp thông tin thời tiết trên vùng biển tàu cá QNa-909xx-TS bị
chìm cho Công ty cổ phần V xác báo về thời tiết lúc 19 giờ ngày 02/6/2020 tại vị
trí tọa độ 15032’N 109016’E dựa trên cơ sở ảnh mây vệ tinh và quan trắc khí tượng
thủy văn. Kết
quả này không thể
ghi nhận những hình thái thời tiết cục bộ diễn biến nhanh vào những thời điểm nhất định trên vùng biển được xác báo. Việc báo cáo giám định cho rằng nguyên nhân tai nạn làm
tàu chìm là do mòn, thủng tự nhiên là không có cơ sở, bởi lẽ: theo Giấy chứng nhận an toàn kỹ
thuật tàu cá số 4800855 cấp ngày 20/12/2019 của Chi cục Thủy sản Q thì tàu cá
QNa-909xx-TS đủ điều kiện an toàn kỹ thuật để hoạt động đến hết ngày 18/12/2020. Hơn nữa, tàu không được
Bảo hiểm B và Công ty cổ phần V trục vớt để giám định nguyên nhân làm chìm tàu, đây chỉ là suy luận
mang tính chủ quan về nguyên nhân chìm tàu mà không có chứng cứ để chứng minh nên không được chấp nhận. Do đó, có
cơ sở để xác định
nguyên nhân dẫn đến sự kiện pháp lý làm phát sinh trách nhiệm bảo hiểm đối với
tàu cá số hiệu QNa-909xx-TS theo Giấy chứng
nhận bảo hiểm khai thác hải sản số QNA.BHHS.19.1611 ngày 27/8/2019 là do bị gió dông, sóng biển
lớn đánh khiến tàu bị vỡ be hai bên mũi nước tràn vào làm tàu bị chìm như lời
trình bày của ông Lương Văn H và các thuyền viên là có căn cứ.
[16] Về việc Bảo hiểm B
không đồng ý trả tiền lãi do chậm trả tiền bảo hiểm cho ông Lương Văn H.
[17] Bảo hiểm B cho rằng
thời hạn để chấp
nhận hay không chấp nhận bảo hiểm là 30 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ. Ngày nhận
đủ hồ sơ theo Bảo hiểm B xác định là ngày 11/5/2023 - ngày Công ty cổ phần V có
Báo cáo Giám định cuối cùng về tổn thất thân tàu cá số 36 TT/20VJC là không có
cơ sở để chấp
nhận. Bởi lẽ: Đại diện theo pháp luật của Bảo hiểm B là ông Nguyễn Xuân V1 - Tổng Giám đốc đã xác nhận tại
bản tự khai ngày 26/6/2023: “... Ngay sau khi xảy ra sự cố, chủ tàu đã thông báo tổn
thất tới Công ty bảo hiểm B1, UBND xã Tam Giang và Đồn biên phòng An Hòa để
trình báo vụ việc... Ngày 09/12/2022, Bảo hiểm B nhận được Báo cáo giám định cuối
cùng số
36TT/20VJC ... Báo cáo giám định cuối cùng số 36TT/20VJC ngày 09/12/2022 do
Công ty cổ phần V phát hành…”.
[18] Tiếp sau đó, Công ty
cổ phần V lại ra Báo cáo Giám định cuối cùng về tổn thất thân tàu cá số 36
TT/20VJC ngày 11/5/2023 sau khi Tòa án thụ lý vụ án. Báo cáo này có nội dung
tương tự với Báo cáo giám định cuối cùng số 36TT/20VJC ngày 09/12/2022 do Công ty cổ phần V phát hành,
chỉ có phần xác định nguyên nhân dẫn đến tàu cá số hiệu QNa-909xx-TS bị chìm
ghi rõ hơn, nhưng
nội dung cơ bản
không thay đổi.
[19] Tại phiên tòa, người
bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn xác định các giấy tờ trên do ông Lương Văn H sao công chứng và nộp cho Công ty bảo
hiểm N và Công ty cổ phần V đầy đủ hồ sơ vào khoảng thời gian nửa cuối tháng 6 năm 2020 nhưng không có lập giấy biên nhận. Lời trình bày của người bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn có cơ sở để
chấp nhận vì phù hợp với thời điểm công chứng
các giấy tờ trên và phù hợp với nội dung Công văn số 221/VJC ngày 29/9/2020 của
Công ty cổ phần V yêu cầu ông H cung cấp thêm một số tài liệu đều nằm ngoài các
tài liệu bắt buộc quy định tại Điều 8 của Quy tắc, điều khoản biểu phí bảo hiểm
thân tàu khai thác hải sản xa bờ, tàu dịch vụ hậu cần khai thác hải sản xa bờ
(Được chấp thuận đăng ký theo Công văn số 18759/BTC-QLBH ngày 16/12/2015 của Bộ Tài chính). Do đó, không có cơ sở để chấp nhận việc đại diện
Tổng Công ty Bảo
hiểm B cho rằng ông H không nộp đầy đủ hồ sơ yêu cầu bồi thường.
[20] Như vậy, sau khi sự cố tai
nạn chìm tàu xảy ra ngày 02/6/2020 đến ngày 09/12/2022 thì Công ty cổ phần V mới
ban hành Báo cáo giám định cuối cùng số 036TT/20VJC (lần đầu) là chậm trễ, kéo
dài thời gian giám định (02 năm 06 tháng) mặc dù đã xác định không tiến hành trục
vớt tàu do chi phí trục vớt cao hơn giá trị bảo hiểm theo hợp đồng (báo giá trục vớt ngày
15/6/2020 của Công ty TNHH và Dịch vụ xây dựng Nguyễn Văn V2 là 2.500.000.000 đồng,
báo giá trục vớt ngày 15/6/2020 của Công ty Trục vớt T là 3.000.000.000 đồng)
và phía Bảo hiểm B sau khi nhận báo cáo giám định cũng không có văn bản thông
báo cho ông Lương Văn H biết việc có chấp nhận hay không chấp nhận chi trả tiền
bồi thường đối
với tổn thất của
tàu cá số hiệu QNa-909xx-TS hay không, đã làm ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của người
được bảo hiểm tài sản. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để chấp nhận lời khai của người đại diện hợp pháp cho nguyên đơn, xác
định ngày ông Lương Văn H nộp hồ sơ yêu cầu bồi thường hợp lệ là thời điểm Công ty cổ phần V nhận được Giấy yêu cầu bồi thường, chi trả tiền bảo
hiểm của ông Lương Văn H vào ngày 19/12/2020 theo xác nhận tại mục IX của Báo cáo
giám định cuối cùng số 036TT/20VJC ngày 09/12/2022.
[21] Theo quy định tại Điều
10 của Quy tắc, điều khoản biểu phí bảo hiểm thân tàu khai thác hải sản xa bờ,
tàu dịch vụ hậu cần khai thác hải sản xa bờ (Được chấp thuận đăng ký theo Công
văn số 18759/BTC-QLBH ngày 16/12/2015 của Bộ Tài chính), thì: “Khi xảy ra sự kiện
bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải bồi thường trong thời hạn 15 ngày làm việc
kể từ ngày nhận được hồ sơ yêu cầu bồi thường đầy đủ và hợp lệ. Trường hợp từ
chối bồi thường
phải giải thích rõ lý do bằng văn bản”.
[22] Do đó, xác định ngày
Bảo hiểm B vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền bảo hiểm cho ông Lương Văn H là từ
ngày 08/01/2021.
[23] Tại Giấy chứng nhận bảo
hiểm khai thác hải sản số QNA.BHHS.19.1611 ngày 27/8/2019 đối với tàu cá số hiệu
QNa-909xx-TS, các bên không thỏa thuận về lãi suất chậm thanh toán tiền bảo hiểm. Vì vậy, mức lãi suất chậm trả
được áp dụng là 10%/năm theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của
Bộ luật Dân sự năm 2015.
[24] Tại phiên tòa, đại diện
Bảo hiểm B xác nhận là không thực hiện trục vớt tàu được tàu cá số hiệu
QNa-909xx-TS do chi phí trục vớt, sửa chữa tàu lớn hơn giá trị hợp đồng bảo hiểm.
Do đó, Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét giao xác tàu cá số hiệu QNa-909xx-TS cho Bảo hiểm B
được. Như vậy, tổn thất của tàu cá số hiệu QNa-909xx-TS trong vụ tai nạn được
xác định là 100%.
[25] Do tàu cá số hiệu
QNa-909xx-TS là tài sản chung vợ chồng ông Lương Văn H, bà Bùi Thị P. Vì vậy,
có cơ sở buộc Bảo hiểm B chi trả tiền bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm và trả tiền
lãi suất chậm thanh toán tiền bảo hiểm tàu cá số hiệu QNa-909xx-TS cho ông H, bà P.
[26] Buộc Bảo hiểm B chi
trả tiền bảo hiểm thân vỏ, máy móc và trang thiết bị của tàu cá số hiệu
QNa-909xx-TS cho ông Lương Văn H và bà Bùi Thị P sau khi đã khấu trừ 02% số tiền
bồi thường, tương ứng số tiền: 2.450.000.000 đồng - (2.450.000.000 đồng x 02%) = 2.401.000.000 đồng
(Hai tỷ, bốn trăm lẻ một triệu đồng) theo Giấy chứng nhận bảo hiểm khai thác hải
sản số QNA.BHHS.19.1611 ngày 27/8/2019.
[27] Đối với yêu cầu trả
tiền lãi do chậm thanh toán tiền bảo hiểm: Ngày Bảo hiểm B vi phạm nghĩa vụ
thanh toán tính từ ngày 08 tháng 01 năm 2021 đến ngày xét xử sơ thẩm vụ án
(ngày 07/7/2023) là 02 năm 05 tháng 29 ngày, lãi suất 10%/năm, thành tiền:
2.401.000.000 đồng x 10% x 02 năm 05 tháng 29 ngày = 599.583.056 đồng (Năm trăm chín mươi
chín triệu, năm trăm tám mươi ba ngàn, không trăm năm mươi sáu đồng). Tổng cộng:
3.000.583.056 đồng (Ba tỷ, năm trăm tám mươi ba ngàn, không trăm năm mươi sáu đồng).
[28] Từ những nhận định
trên. Hội đồng xét xử phúc thẩm không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của Bảo hiểm B.
[29] Về việc chuyển quyền
thụ hưởng tiền bảo hiểm tàu cá số hiệu QNa- 909XX-TS:
[30] Theo Hợp đồng tín dụng
số 4208LAV202000189 ngày 12/02/2020, ông Lương Văn H vay Ngân hàng A - Chi
nhánh huyện N, số tiền 2.700.000.000 đồng (Hai tỷ bảy trăm triệu đồng), tài sản
thế chấp bảo đảm cho khoản vay là tàu cá số hiệu QNa-909xx-TS theo Hợp đồng thế
chấp tài sản số 17B/01/2019-HĐTC ngày 21/01 /2019 đã được đăng ký giao dịch bảo
đảm theo quy định của pháp luật.
[31] Theo Cam kết chuyển
quyền thụ hưởng bảo hiểm số: QNA.BHHS. 19.161 ngày 27/8/2019 giữa Công ty Bảo
hiểm B1, ông
Lương Văn H và Ngân hàng A - Chi nhánh huyện N thì Ngân hàng A - Chi nhánh huyện
N là đơn vị thụ hưởng duy nhất số tiền bảo hiểm tàu cá số hiệu QNa-909xx-TS
trong phạm vi khoản nợ (gốc và lãi vay). Tạm tính đến thời điểm xét xử sơ thẩm
ngày 07/7/2023 thì dư nợ của ông Lương Văn H theo Hợp đồng tín dụng số
4208LAV202000189 ngày 12/02/2020, gồm: nợ gốc 2.700.000.000 đồng (Hai tỷ bảy
trăm triệu đồng), nợ lãi 1.041.616.653 đồng (Một tỷ, không trăm bốn mươi mốt triệu, sáu trăm mười sáu
ngàn, sáu trăm năm mươi ba đồng). Tổng cộng: 3.741.616.653 đồng (Ba tỷ, bảy
trăm bốn mươi mốt triệu, sáu trăm mười sáu ngàn, sáu trăm năm mươi ba đồng). Vì
vậy, có đủ cơ sở để buộc Bảo hiểm B phải chuyển trả số tiền bồi thường bảo hiểm tàu cá số hiệu
QNa-909xx-TS theo Giấy chứng nhận bảo hiểm khai thác hải sản số
QNA.BHHS.19.1611 ngày 27/8/2019 và tiền lãi do chậm thanh toán tiền bảo hiểm, tổng cộng: 3.000.583.056 đồng
(Ba tỷ, năm trăm tám mươi ba ngàn, không trăm năm mươi sáu đồng) cho người thụ
hưởng là Ngân hàng A (chuyển vào tài khoản số: 459901 của Ngân hàng A - Chi nhánh huyện
N, tỉnh Quảng Nam) để thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay và lãi vay của ông Lương
Văn H theo Hợp đồng tín dụng số 4208LAV202000189 ngày 12/02/2020.
[32] Về án phí:
[33] Về án phí dân sự sơ
thẩm: Buộc Bảo hiểm B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, số tiền: 92.011.660 đồng (Chín mươi hai triệu, không trăm
mười một ngàn, sáu trăm sáu mươi đồng).
[34] Hoàn trả cho ông
Lương Văn H số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp: 45.808.000 đồng (Bốn
mươi lăm triệu, tám trăm lẻ tám ngàn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009953
ngày 03 tháng 01 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tam Kỳ, tỉnh
Quảng Nam.
[35] Án phí dân sự phúc thẩm:
Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Bảo hiểm B, nên
bị đơn Bảo hiểm B phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản
1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bị
đơn Bảo hiểm B, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 141/2023/DS-ST ngày 07
tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.
Căn cứ: Điều
12, Điều 13, Điều 14, Điều 15, điểm a khoản 3 Điều 16, Điều
18, Điều 28, Điều 29, Điều 30, Điều 32,
Điều 40, Điều 46 và Điều 47 của Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (sửa đổi,
bổ sung năm 2010 và năm 2019); Điều 117, Điều 274, Điều 275,
Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và
sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn ông Lương Văn H đối với bị đơn Bảo hiểm B về việc: “Tranh
chấp hợp đồng bảo hiểm”;
Buộc Bảo hiểm B phải bồi
thường tiền bảo hiểm thân vỏ, máy móc và trang thiết bị của tàu cá số hiệu
QNa-909xx-TS cho ông Lương Văn H và bà Bùi Thị P theo Giấy chứng nhận bảo hiểm
khai thác hải sản số QNA.BHHS.19.1611 ngày 27/8/2019, số tiền: 2.401.000.000 đồng
(Hai tỷ, bốn
trăm lẻ một triệu đồng) và tiền lãi do chậm thanh toán tiền bảo hiểm, số tiền:
599.583.056 đồng (Năm trăm chín mươi chín triệu, năm trăm tám mươi ba ngàn,
không trăm năm mươi sáu đồng). Tổng cộng: 3.000.583.056 đồng (Ba tỷ, năm trăm tám mươi ba ngàn,
không trăm năm mươi sáu đồng).
Buộc Bảo hiểm B phải chuyển
trả số tiền bồi thường bảo hiểm đối với tàu cá số hiệu QNa-909xx-TS và tiền lãi
do chậm thanh toán tiền bảo hiểm, tổng cộng: 3.000.583.056 đồng (Ba tỷ, năm trăm tám mươi ba ngàn, không
trăm năm mươi sáu đồng) cho người thụ hưởng là Ngân hàng A (chuyển vào tài khoản số:
459901 của Ngân hàng A - Chi nhánh huyện N, tỉnh Quảng Nam) để thực hiện nghĩa
vụ trả nợ của ông Lương Văn H theo Hợp đồng tín dụng số 4208LAV202000189 ngày
12/02/2020.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực
pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án đối với khoản
tiền mà người phải thi hành án có nghĩa vụ phải trả cho người được thi hành án
cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải
thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của
Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Về án phí:
+ Án phí dân sự sơ thẩm:
Buộc Bảo hiểm B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, số tiền: 92.011.660 đồng (Chín
mươi hai triệu, không trăm mười một ngàn, sáu trăm sáu mươi đồng).
Hoàn trả cho ông Lương Văn
H số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp: 45.808.000 đồng (Bốn mươi lăm
triệu, tám trăm lẻ tám ngàn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa
án số 0009953 ngày 03 tháng 01 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố
Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.
+ Án phí dân sự phúc thẩm:
Bị đơn Bảo hiểm B phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự phúc
thẩm.
Trường hợp bản án được thi
hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì
người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận
thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế
thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành
án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực
pháp luật kể từ ngày tuyên án (03/06/2024).
NỘI DUNG ÁN LỆ
“[7] Bảo hiểm B cho rằng cấp sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục
tố tụng khi
không đưa các Công ty bảo hiểm thành viên gồm Bảo hiểm M, Bảo hiểm P, Bảo hiểm I vào tham gia tố tụng trong vụ án với tư
cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, làm ảnh hưởng đến quyền, ích hợp pháp của các
Công ty này.
[8] Hội đồng xét xử xét
thấy, tại cấp sơ thẩm và phúc thẩm Bảo hiểm B không cung cấp được cho Tòa án hợp đồng bảo hiểm ký kết giữa ông Lương
Văn H với các Công ty bảo hiểm thành viên gồm Bảo hiểm M, Bảo hiểm P, Bảo hiểm I và Bảo hiểm B. Hơn nữa,
theo Hợp đồng
nguyên tắc đồng bảo hiểm khai thác hải
sản số
01/2014/ĐBH và
Biên bản thỏa thuận phương án đồng bảo hiểm khai thác hải sản số 01/2014 được ký giữa Bảo
hiểm B và Bảo hiểm M, Bảo hiểm P, bảo hiểm I thì Bảo hiểm B là doanh nghiệp bảo hiểm đứng đầu (Leader) tại địa bàn tỉnh
Quảng Nam với tỷ lệ bảo hiểm là 55%; các Doanh nghiệp tham gia đồng bảo hiểm còn lại Bảo hiểm M, Bảo hiểm P, Bảo hiểm
I (Follower) với tỷ lệ bảo hiểm là 15%. Tại Điều 2, trong Hợp đồng nguyên tắc đồng bảo hiểm khai thác hải
sản số
01/2014/ĐBH ghi
rõ Trách nhiệm và quyền hạn của Công ty bảo hiểm đứng đầu (Leader) là Bảo hiểm B phải có nghĩa vụ ký hợp đồng bảo hiểm, giải quyết
bồi thường, chi trả tiền bồi thường và có quyền yêu cầu các Công ty
đồng bảo hiểm
góp tiền bồi
thường theo tỷ lệ đồng bảo hiểm khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra. Trong vụ án này Bảo hiểm B ký hợp đồng bảo hiểm với ông
Lương Văn H nên Bảo hiểm B phải có nghĩa vụ giải quyết bồi thường, chi trả tiền bồi thường cho ông
Lương Văn H. Do vậy, Bảo hiểm B cho rằng cấp sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng khi không đưa các Công
ty bảo hiểm
thành viên gồm Bảo hiểm M, Bảo hiểm P, Bảo hiểm I vào tham gia tố tụng trong vụ án với tư
cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là không có cơ sở chấp nhận.”.
“[10] Theo Giấy chứng
nhận bảo hiểm khai thác hải sản số QNA.BHHS.19.1611 ngày 27/8/2019 thì tàu cá số hiệu QNa-909xx-TS của ông Lương Văn H được Công ty bảo hiểm B1 (thuộc Tổng Công ty Bảo hiểm B) bảo
hiểm, gồm: Thân
vỏ tàu, máy móc và trang thiết bị với tổng giá trị bảo hiểm: 2.450.000.000 đồng (Hai tỷ bốn trăm năm mươi triệu đồng). Trong đó: vỏ tàu là 1.500.000.000 đồng, máy móc là 450.000.000
đồng và trang thiết bị là 500.000.000 đồng; Bảo hiểm tai nạn thuyền viên: 3.220.000.000 đồng; thời hạn bảo hiểm
kể từ 00 giờ 00
phút ngày 28/8/2019 đến 24 giờ 00 phút ngày 27/8/2020.
[11] Giấy chứng nhận bảo
hiểm khai thác hải sản số QNA.BHHS.19.1611 ngày 27/8/2019 đối với tàu cá số hiệu QNa-909xx-TS là một
dạng của hợp đồng bảo hiểm, đảm bảo về hình thức, nội dung, điều kiện có hiệu lực của
giao dịch dân sự được quy định tại Điều 117 của Bộ luật Dân sự
năm 2015 và Điều 12 Điều 13, Điều 14 và Điều 15 Luật Kinh
doanh bảo hiểm năm 2000 (sửa đổi bổ sung năm 2010 và năm 2019) nên phát
sinh hiệu lực kể
từ 00 giờ 00 phút ngày 28/8/2019 đến 24 giờ 00 phút ngày 27/8/2020 được ghi
trong Giấy chứng nhận bảo hiểm khai thác hải sản số QNA.BHHS.19.1611 ngày 27/8/2019.”.
ÁN LỆ SỐ 84/2026/AL*
Về chấm dứt việc nuôi con
nuôi là người chưa thành niên khi người nhận con nuôi là người độc thân chết
Được Hội đồng Thẩm phán
Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 21 tháng 5 năm 2026 và được công bố theo
Quyết định số 162/QĐ-CA ngày 29 tháng 5 năm 2026 của Chánh án Tòa án nhân dân tối
cao.
Nguồn án lệ:
Quyết định giám đốc thẩm số
06/2024/DS-GĐT ngày 22/4/2024 của Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại
Thành phố Hồ Chí Minh về việc dân sự “Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi ”
giữa người yêu cầu là ông Ngô Thành M, bà Cao Thị G; người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan là cháu Ngô Phát T.
Vị trí nội dung án lệ:
Đoạn 1, 3, 4 và 8 phần “Nhận
định của Tòa án”.
Khái quát nội dung của
án lệ:
- Tình huống án lệ:
Quan hệ nuôi con nuôi giữa
người nhận con nuôi là người độc thân với con nuôi chưa thành niên được xác lập
hợp pháp. Sau khi người nhận con nuôi chết, cha mẹ đẻ của con nuôi chưa thành
niên yêu cầu Tòa án chấm dứt việc nuôi con nuôi.
- Giải pháp pháp lý:
Trường hợp này, Tòa án chấp
nhận yêu cầu của cha mẹ đẻ của con nuôi chưa thành niên về việc chấm dứt việc
nuôi con nuôi.
Quy định của pháp luật
liên quan đến án lệ:
- Khoản 5 Điều
29 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019, 2020, 2022,
2023, 2024 và 2025);
- Điều
25, khoản 3 Điều 26, khoản 2 và khoản 3 Điều 27 Luật Nuôi con nuôi năm 2010;
- Các điều
15, 22, 23, 24 và 27 Luật Trẻ em năm 2016.
Từ khóa của án lệ:
“Chấm dứt việc nuôi con
nuôi”; “Con nuôi chưa thành niên”; “Người nhận con nuôi chết”; “Người nhận con
nuôi là người độc thân”.
NỘI DUNG VỤ VIỆC
Người yêu cầu giải quyết
việc dân sự ông Ngô Thành M và bà Cao Thị G trình bày như sau:
Ông Ngô Thành M và bà Cao
Thị G đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện V, tỉnh Bạc Liêu theo Giấy
chứng nhận đăng ký kết hôn số 225, quyển số 04/2003 ngày 12/8/2004. Trong thời
kỳ hôn nhân, ông bà có 03 người con là Ngô Kim N, sinh ngày 04/10/2002; Ngô
Thành P, sinh ngày 02/11/2004; Ngô Phát T, sinh ngày 14/01/2011.
Sau khi sinh cháu Ngô Phát
T, ông M và bà G đồng ý cho bà Ngô Ngọc T1 (chị ruột của ông M) nhận cháu T làm
con nuôi. Ngày 28/01/2011, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã L, huyện V ra Quyết định
số 18/QĐ-UBND, công nhận việc nuôi con nuôi giữa bà Ngô Ngọc T1 và cháu Ngô
Phát T.
Ngày 16/9/2020, bà Ngô Ngọc
T1 chết (giấy khai tử số 289/TLKT-BS ngày 02/3/2021 của Ủy ban nhân dân xã L,
huyện V).
Ông M và bà G yêu cầu chấm
dứt việc nuôi con nuôi giữa bà T1 và cháu T; đồng thời, khôi phục các quyền,
nghĩa vụ của cha mẹ đối với con đẻ là cháu Ngô Phát T cho ông bà.
Cụ Trần Thị G1 trình bày:
cụ là mẹ của bà Ngô Ngọc T1 và ông Ngô Thành M. Thời điểm bà T1 còn sống, có nhận
nuôi cháu Ngô Phát T là con ruột của ông Ngô Thành M và bà Cao Thị G. Tháng
9/2020, bà T1 chết. Do bà T1 không có gia đình nên sau khi bà T1 chết, không ai
là người đại diện cho cháu T, cụ G1 đã lớn tuổi, đi lại khó khăn nên cụ đồng ý
giao cháu T cho ông Ngô Thành M và bà Cao Thị G trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng
và giáo dục.
Tại Quyết định giải quyết
việc dân sự sơ thẩm số 02/2021/QĐDS-ST ngày 21/9/2021, Tòa án nhân dân huyện
Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu quyết định:
Không chấp nhận yêu cầu của
ông Ngô Thành M và bà Cao Thị G về việc yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa
bà Ngô Ngọc T1 và cháu Ngô Phát T.
Ngoài ra Quyết định số thẩm
còn tuyên về lệ phí giải quyết việc dân sự.
Ngày 30/9/2021, ông Ngô
Thành M kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu chấm dứt việc
nuôi con nuôi giữa bà Ngô Ngọc T1 và cháu Ngô Phát T.
Tại Quyết định giải quyết
việc dân sự phúc thẩm số 01/2021/QĐDS-PT ngày 08/11/2021, Tòa án nhân dân tỉnh
Bạc Liêu quyết định:
Không chấp nhận yêu cầu
kháng cáo của ông Ngô Thành M; giữ nguyên quyết định giải quyết việc dân sự sơ
thẩm nêu trên.
Ngày 19/7/2022, ông Ngô
Thành M có đơn đề nghị xem xét quyết định phúc thẩm nêu trên theo thủ tục giám
đốc thẩm.
Tại Quyết định kháng nghị
giám đốc thẩm số 06/2023/KN-HNGĐ ngày 07/11/2023, Chánh án Tòa án nhân dân cấp
cao tại Thành phố Hồ Chí Minh kháng nghị đối với quyết định phúc thẩm nêu trên.
Đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét
xử giám đốc thẩm, sửa Quyết định giải quyết việc dân sự phúc thẩm số
01/2021/QĐDS-PT ngày 08/11/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu theo hướng chấp
nhận yêu cầu của ông Ngô Thành M và bà Cao Thị G; chấm dứt việc nuôi con nuôi
giữa bà Ngô Ngọc T1 và cháu Ngô Phát T; đồng thời, khôi phục mối quan hệ cha mẹ
đẻ với con đẻ giữa ông Ngô Thành M, bà Cao Thị G và cháu Ngô Phát T.
Tại phiên tòa giám đốc thẩm,
đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng
giám đốc thẩm chấp nhận kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại
Thành phố Hồ Chí Minh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Ông Ngô Thành M và bà
Cao Thị G đăng ký kết hôn ngày 12/8/2004 tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện V, tỉnh
Bạc Liêu. Vợ chồng ông M và bà G có 03 (ba) người con chung, trong đó có cháu
Ngô Phát T, sinh ngày 04/01/2011. Sau khi sinh cháu T, ông M và bà G đồng ý cho
bà Ngô Ngọc T1 (là chị ruột của ông M) nhận cháu T làm con nuôi. Việc cho, nhận
con nuôi đã được thực hiện đúng thủ tục và ghi nhận tại Quyết định số
18/QĐ-UBND ngày 28/01/2011 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã L, huyện V, tỉnh Bạc
Liêu.
[2] Khi biết bản thân bị mắc
bệnh hiểm nghèo (bệnh ung thư), ngày 06/7/2017, bà T1 có nguyện vọng xin trả
cháu T cho vợ chồng ông M và bà G; ông M và bà G đồng ý nhận lại cháu T để chăm
sóc, nuôi dưỡng và có đơn yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi. Tại Quyết định
giải quyết việc dân sự sơ thẩm số 03/2017/QĐDS-ST ngày 01/8/2017, Tòa án nhân
dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu không chấp nhận yêu cầu của ông Ngô Thành M.
[3] Ngày 16/9/2020, bà T1
chết. Sau khi bà T1 chết, ông M và bà G có nguyện vọng đón cháu T về nuôi; đồng
thời, xác lập lại mối quan hệ cha mẹ đẻ và con đẻ, nên đã nộp đơn yêu cầu chấm
dứt việc nuôi con nuôi giữa bà T1 và cháu T. Vì sự kiện bà T1 chết không thuộc
một trong các trường hợp chấm dứt việc nuôi con nuôi theo quy định tại Điều 25 và Điều 13 của Luật Nuôi con nuôi năm 2010 nên Tòa án
cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu của ông M và bà G
là đúng quy định của pháp luật.
[4] Tuy nhiên, việc Tòa án
cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu của ông M, bà G đã
làm ảnh hưởng trực tiếp và nghiêm trọng đến quyền lợi của cháu Ngô Phát T, bởi
vì:
[5] Theo quy định tại khoản 4 Điều 24 Luật Nuôi con nuôi năm 2010, kể từ thời điểm
cháu T được bà T1 nhận làm con nuôi (ngày 28/01/2011) thì vợ chồng ông M và bà
G (cha mẹ đẻ của cháu T) không còn quyền, nghĩa vụ gì với cháu T;
[6] Thời điểm bà T1 chết,
cháu T mới 09 (chín) tuổi; hiện tại cháu T cũng mới 13 (mười ba) tuổi, đang là
trẻ em, là đối tượng cần được bảo vệ, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục; đồng thời,
cháu T còn có quyền được đoàn tụ cùng cha mẹ đẻ theo quy định tại các Điều 15, 22, 23, 24 và 27 Luật Trẻ em năm
2016;
[7] Người đại diện theo
pháp luật cho cháu T là cụ Trần Thị G1 (sinh năm 1934) đã cao tuổi, không đủ điều
kiện về kinh tế, sức khỏe, minh mẫn; trong khi cháu T đang là trẻ em cần phải
được bảo đảm điều kiện về chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Cụ G1 cũng có yêu cầu
giao cháu T cho cha mẹ ruột nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
[8] Để bảo đảm quyền của
cháu Ngô Phát T được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trong trường hợp mẹ nuôi của
cháu đã chết và trong khi các quy định của pháp luật chưa điều chỉnh cho phép
chấm dứt việc nuôi con nuôi trong trường hợp cha (mẹ) nuôi chết, cần căn cứ vào
các quy định mang tính nguyên tắc của pháp luật về “quyền nhân thân” để giải
quyết vụ việc. Theo đó, quyền nhận nuôi con nuôi, quyền được nhận làm con nuôi
là quyền nhân thân trong hôn nhân và gia đình. Quyền nhân thân là quyền dân sự
gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, nên quyền nhân
thân tồn tại song hành cùng với cuộc sống sinh học của cá nhân và sẽ mặc nhiên
chấm dứt khi cá nhân đó chết. Do đó, việc ông M và bà G yêu cầu chấm dứt việc
nuôi con nuôi giữa bà Ngô Ngọc T1 và cháu Ngô Phát T là phù hợp với quy định tại
khoản 3 Điều 26; khoản 2, khoản 3 Điều 27 Luật Nuôi con nuôi
năm 2010; phù hợp với tinh thần của Án lệ số 61/2023/AL được Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua vào các ngày 01, 02, 03 tháng 02/2023 và
được công bố theo Quyết định số 39/QĐ-CA ngày 24/02/2023 của Chánh án Tòa án
nhân dân tối cao.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều
325; Điều 334; Điều 337 và Điều 343 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
1/ Chấp nhận Quyết định
kháng nghị giám đốc thẩm số 06/2023/KN-HNGĐ ngày 07/11/2023 của Chánh án Tòa án
nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
2/ Sửa Quyết định giải quyết
việc dân sự phúc thẩm số 01/2021/QĐDS-PT ngày 08/11/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh
Bạc Liêu như sau:
Chấp nhận yêu cầu của ông
Ngô Thành M và bà Cao Thị G về việc yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa bà
Ngô Ngọc T1 và cháu Ngô Phát T.
Ông Ngô Thành M và bà Cao
Thị G có đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của cha mẹ đẻ đối với con đẻ là cháu Ngô
Phát T theo quy định của pháp luật.
3/ Quyết định giám đốc thẩm
có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
NỘI DUNG ÁN LỆ
“[1] Ông Ngô Thành M và
bà Cao Thị G đăng ký kết hôn ngày 12/8/2004 tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện V,
tỉnh Bạc Liêu. Vợ chồng ông M và bà G có 03 (ba) người con chung, trong đó có
cháu Ngô Phát T, sinh ngày 04/01/2011. Sau khi sinh cháu T, ông M và bà G đồng
ý cho bà Ngô Ngọc T1 (là chị ruột của ông M) nhận cháu T làm con nuôi. Việc
cho, nhận con nuôi đã được thực hiện đúng
thủ tục và ghi nhận tại Quyết định số 18/QĐ-UBND ngày 28/01/2011 của Chủ tịch Ủy
ban nhân dân xã L, huyện V, tỉnh Bạc Liêu.”.
“[3] Ngày 16/9/2020, bà
T1 chết. Sau khi bà T1 chết, ông M và bà G có nguyện vọng đón cháu T về nuôi; đồng
thời, xác lập lại mối quan hệ cha mẹ đẻ và con đẻ, nên đã nộp đơn yêu cầu chấm
dứt việc nuôi con nuôi giữa bà T1 và cháu T. Vì sự kiện bà T1 chết không thuộc
một trong các trường hợp chấm dứt việc nuôi con nuôi theo quy định tại Điều 25 và Điều 13 của Luật Nuôi con nuôi năm 2010 nên Tòa án
cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu của ông M và bà G
là đúng quy định của pháp luật.
[4] Tuy nhiên, việc Tòa
án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu của ông M, bà G
đã làm ảnh hưởng trực tiếp và nghiêm trọng đến quyền lợi của cháu Ngô Phát
T...”.
“[8]... Do đó, việc ông
M và bà G yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa bà Ngô Ngọc T1 và cháu Ngô
Phát T là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 26; khoản 2, khoản
3 Điều 27 Luật Nuôi con nuôi năm 2010;...”.
ÁN LỆ SỐ 83/2026/AL*
Về trách nhiệm bồi thường của
doanh nghiệp bảo hiểm khi cơ quan có thẩm quyền chưa xác định được người gây ra
thiệt hại về tài sản
Được Hội đồng Thẩm phán
Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 21 tháng 5 năm 2026 và được công bố theo
Quyết định số 162/QĐ-CA ngày 29 tháng 5 năm 2026 của Chánh án Tòa án nhân dân tối
cao.
Nguồn án lệ:
Bản án phúc thẩm số
73/2023/DS-PT ngày 26/8/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam về vụ án dân sự
“Tranh chấp hợp đồng bảo hiểm xe cơ giới” giữa nguyên đơn là ông Vương
Ngọc A với bị đơn là Tổng công ty cổ phần bảo hiểm H; người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan là bà Vũ Hoàng U.
Vị trí nội dung án lệ:
Đoạn 10 và 11 phần “Nhận định
của Tòa án”.
Khái quát nội dung của
án lệ:
- Tình huống án lệ:
Hợp đồng bảo hiểm xe cơ giới
có hiệu lực pháp luật. Xe cơ giới bị cháy dẫn đến thiệt hại về tài sản là sự kiện
bảo hiểm. Cơ quan giám định kết luận nguyên nhân xe cơ giới bị cháy do con người
gây ra. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền chưa xác định được ai là người gây ra
thiệt hại về tài sản.
- Giải pháp pháp lý:
Trường hợp này, Tòa án phải
xác định doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tài sản
cho người được bảo hiểm, nhưng được bảo lưu quyền yêu cầu bồi hoàn hoặc được
chuyển quyền yêu cầu bồi hoàn tiền bồi thường theo quy định của pháp luật.
Quy định của pháp luật
liên quan đến án lệ:
Điểm e khoản
1 Điều 17, Điều 49 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm
2010, 2019); tương ứng với điểm e khoản 1 Điều 20, Điều 54 Luật
Kinh doanh bảo hiểm năm 2022 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Từ khóa của án lệ:
“Hợp đồng bảo hiểm xe cơ
giới”; “Thiệt hại do con người gây ra”; “Chưa xác định được người gây ra thiệt
hại”; “Bồi thường thiệt hại cho người được bảo hiểm”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá
trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn, đồng thời là đại diện theo
ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Vương Ngọc A trình bày:
Ngày 16/12/2018, ông Vương
Ngọc A ký hợp đồng bảo hiểm xe cơ giới số: 03186274/F02 (Hợp đồng bảo hiểm) với
Công ty bảo hiểm H1 thuộc Tổng công ty bảo hiểm H (gọi tắt là Bảo hiểm H), tài
sản được bảo hiểm là xe ô tô nhãn hiệu Ford Ranger biển kiểm soát 92C-100.xx do
ông A đứng tên chủ sở hữu, loại bảo hiểm được mua là bảo hiểm tự nguyện xe ô tô
và bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe ô tô với loại hình bảo hiểm
và mức trách nhiệm bảo hiểm gồm: Bảo hiểm tai nạn lái phụ và người ngồi trên
xe, số tiền bảo hiểm 20.000.000 đồng/người/vụ, số người 05; bảo hiểm vật chất
xe giá trị thực tế 650.000.000đ, số tiền bảo hiểm 650.000.000đ và phí bảo hiểm
là 9.966.300đ. Sau khi ký hợp đồng bảo hiểm, ông đã nộp đầy đủ phí bảo hiểm và
được Bảo hiểm H1 cấp giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện xe ô tô số: 001317 ngày
16/12/2018 và giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe ô
tô số 021729 ngày 16/12/2018, thời hạn bảo hiểm tính từ 14 giờ 00 phút ngày
16/12/2018 đến 16 giờ 00 phút ngày 16/12/2019. Sau khi mua bảo hiểm, trong quá
trình sử dụng xe ông A đã thực hiện việc đăng kiểm theo quy định và bảo trì định
kỳ theo quy định của nhà sản xuất là Công ty Ford.
Khoảng 02 giờ ngày
16/07/2019, khi xe đang đậu tại bãi đỗ xe gần nhà thì xe bùng cháy ở phần đầu,
người dân phát hiện, hô hoán và tiến hành chữa cháy, đến khoảng 02 giờ 20 phút
cùng ngày thì đám cháy được dập tắt. Hậu quả phần đầu xe và khoan động cơ bị
nhiệt tác động do đám cháy, phần nhựa và cao su hầu như đều bị cháy, không có
thiệt hại về người.
Sau khi xe bị cháy, ngay
trong ngày 16/7/2019, ông A đã liên hệ với Bảo hiểm H1 đơn vị trực tiếp ký hợp
đồng bảo hiểm, cấp giấy chứng nhận bảo hiểm và được ông Nguyễn Công T - Cán bộ
của Bảo hiểm H1 đến giám định hiện trường và hướng dẫn lấy lời khai ban đầu.
Ông cũng đã gửi Thông báo tai nạn và hồ sơ yêu cầu bồi thường ngày 16/7/2019 đến
Bảo hiểm H, tiếp theo đó vào các ngày 22/9/2019, 01/10/2019 và 20/12/2019 ông A
tiếp tục gửi đơn yêu cầu Bảo hiểm H bồi thường nhưng đều bị từ chối với lý do
phải đợi kết luận điều tra của Cơ quan điều tra mới xem xét, giải quyết bồi thường.
Điều này cho thấy phía Bảo hiểm H đã cố ý trì hoãn bồi thường, vi phạm nội dung
hợp đồng bảo hiểm đã ký, vi phạm các quy định trong Quy tắc bảo hiểm kết hợp xe
cơ giới ban hành kèm theo Quyết định số 80/2015/QĐ-BHHK ngày 06/5/2015 của Tổng
Công ty cổ phần bảo hiểm H (gọi tắt là Quy tắc 80), vi phạm quy định của pháp
luật, cụ thể như sau:
Về trách nhiệm bồi thường:
Theo Hợp đồng bảo hiểm và Quy tắc 80 thì phạm vi bảo hiểm xe ô tô BKS
92C-100.xx bị cháy rơi vào rủi ro theo điểm 2 khoản 1 Điều 12 thuộc phạm vi bảo
hiểm, không thuộc trường hợp loại trừ bảo hiểm theo Điều 13 Quy tắc 80 như Bảo
hiểm H đã nêu.
Về giá trị bồi thường:
Theo khoản 2 Điều 15 của Quy tắc 80 quy định “VNI bồi thường tổn thất toàn bộ
trong trường hợp xe bị thiệt hại trên 75% giá trị thực tế; hoặc chi phí sửa chữa
thiệt hại bằng hoặc trên 75% giá trị thực tế của xe tại thời điểm trước khi xảy
ra tổn thất”. Theo kết quả giám định của Công ty giám định T thì giá trị tổn thất
của xe ô tô BKS 92C-100.xx là 724.031.850 đồng. Giá trị thiệt hại này cao hơn
giá trị thực của xe khi ký hợp đồng bảo hiểm ngày 16/12/2018 nên thuộc trường hợp
tổn thất toàn bộ. Khoản 2 Điều 15 của Quy tắc 80 quy định “Số tiền bồi thường tổn
thất toàn bộ bằng giá trị thực tế của xe trước khi xảy ra tổn thất cùng chủng
loại và thông số kỹ thuật và không vượt quá số tiền ghi trên Giấy chứng nhận bảo
hiểm hoặc Hợp đồng bảo hiểm”. Như vậy Bảo hiểm H phải giải quyết bồi thường giá
trị 650.000.000 đồng như ghi trên giấy chứng nhận và hợp đồng bảo hiểm.
Bảo hiểm H nêu “Thông báo
kết luận giám định số 213/TB-KLGĐ ngày 03/09/2019 của Cơ quan CSĐT Công an huyện
Núi Thành chưa được xem là tài liệu đầy đủ và hợp lệ” là vi phạm khoản 2 Điều
10 Quy tắc 80. Khoản 2 Điều 10 Quy tắc 80 quy định: Tài liệu “5” do VNI (Bảo hiểm
H) phối hợp với chủ xe để thu thập khi có yêu cầu trong hồ sơ bồi thường gồm:
Thông báo sơ bộ kết quả điều tra ban đầu vụ tai nạn (nếu có); Biên bản giải quyết
vụ tai nạn (nếu có); Bản kết luận điều tra tai nạn (nếu có). Trong quy tắc yêu
cầu hồ sơ “nếu có” không bắt buộc phải có đầy đủ. Trường hợp nếu yêu cầu hồ sơ
phải có thì trách nhiệm thuộc về VNI chứ không phải chủ xe.
Từ sau khi xe bị cháy đến
nay, Cơ quan điều tra chưa có văn bản nào yêu cầu giao nộp, lưu giữ chiếc xe.
Ông A cũng đã có đơn yêu cầu Bảo hiểm H đưa xe đến garage để giám định làm cơ sở
bồi thường nhưng Bảo hiểm H không thực hiện. Việc Bảo hiểm H nói tài sản (chiếc
xe) đang trong quá trình lưu giữ phục vụ khám nghiệm điều tra để trì hoãn bồi
thường là không đúng. Tại khoản 1 Điều 9 Quy tắc 80 quy định “Khi xảy ra tổn thất,
Công ty cổ phần bảo hiểm H hoặc người được VNI ủy quyền sẽ tiến hành giám định
các tổn thất về tài sản với sự có mặt của chủ xe ... VNI chịu trách nhiệm về
chi phí giám định.”. Như vậy, việc giám định thiệt hại là trách nhiệm của Bảo
hiểm H, nhưng Bảo hiểm H đã không thực hiện trách nhiệm của mình trong khi xe
không bị thu giữ.
Ngoài ra, Bảo hiểm H đề
nghị khi có kết luận chính thức của Cơ quan điều tra mới tiến hành bồi thường
là tiếp tục vi phạm Điều 8 Quy tắc 80. Bảo hiểm H viện cớ là chưa xác định được
có người phá hoại hay không để trì hoãn bồi thường là không phù hợp. Theo hồ sơ
và thực tế thì phạm vi bảo hiểm thuộc Bảo hiểm H, hồ sơ thuộc trách nhiệm chủ
xe đã cung cấp đầy đủ, thời hạn bồi thường cũng đã đến. Bảo hiểm H phải bồi thường
cho chủ xe. Khi có kết luận điều tra cuối cùng, nếu xác định có vi phạm hình sự
hoặc lỗi do bên thứ 3 thì Bảo hiểm H sẽ được thế quyền đòi lại số tiền thiệt hại
theo quy định của pháp luật.
Xét thấy, việc Bảo hiểm H
cố tình từ chối bồi thường với lý do đã nêu là trái với các thỏa thuận trong Hợp
đồng bảo hiểm mà Bảo hiểm H đã ký, trái với quy định của Quy tắc 80, làm ảnh hưởng
nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Do đó, ông A khởi kiện yêu cầu
Tòa án giải quyết tuyên buộc Bảo hiểm H thực hiện bồi thường thiệt hại với các
chi phí như gồm:
1. Tổn thất vật chất toàn
bộ chiếc xe với số tiền 650.000.000 đồng.
2. Tiền lãi suất chậm trả
do Bảo hiểm H chậm giải quyết bồi thường tổn thất thiệt hại tính từ ngày
02/8/2019 đến ngày xét xử sơ thẩm, ngày 09/11/2022 là 03 năm, 03 tháng với số
tiền 211.250.000đ (10% năm);
3. Tiền phí giám định là
27.500.000 đồng.
Đối với các yêu cầu gồm tiền
thuê xe sử dụng và tiền lãi suất vay ngân hàng ông A rút yêu cầu, không tiếp tục
yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện theo ủy quyền
của bị đơn ông Thái Văn C trình
bày:
Việc giữa Bảo hiểm H và
ông Vương Ngọc A ký Hợp đồng bảo hiểm xe cơ giới số: 03186274/F02, đối tượng được
bảo hiểm là xe ô tô nhãn hiệu Ford Ranger biển kiểm soát 92C-100.xx do ông
Vương Ngọc A đứng tên chủ sở hữu thông qua chi nhánh Bảo hiểm H1 với loại bảo
hiểm được mua, mức trách nhiệm bảo hiểm và phí bảo hiểm như ông A trình bày là
đúng. Bảo hiểm H khẳng định không từ chối bồi thường cho ông A. Tuy nhiên, xe ô
tô nhãn hiệu Ford Ranger biển kiểm soát 92C-100.xx, đối tượng được bảo hiểm bị
cháy theo kết luận giám định của Cơ quan điều tra là do có sự tác động từ bên
ngoài, có dấu hiệu của sự phá hoại và đã ra quyết định khởi tố vụ án nhưng chưa
có kết quả, chưa xác định được đối tượng phá hoại, việc xe bị cháy không phải
do thiên tai, tai nạn bất ngờ nên không nằm trong phạm vi được bảo hiểm theo
quy định tại Điều 12 Quy tắc bảo hiểm số 80; hơn nữa Kết luận tạm đình chỉ điều
tra vụ án của Công an tỉnh Quảng Nam không phải là kết quả điều tra vụ án hình
sự, chưa kết luận được có hay không hành vi phá hoại, có thuộc trường hợp loại
trừ trách nhiệm bồi thường hay không. Do đó, Bảo hiểm H chưa có căn cứ để bồi
thường cho ông A. Khi nào có kết quả điều tra xác định nguyên nhân cháy không
phải là do bị phá hoại, không thuộc trường hợp loại trừ nghĩa vụ bồi thường,
khi đó Bảo hiểm H tiến hành bồi thường cho ông A theo Hợp đồng đã ký. Tuy
nhiên, trên tinh thần đồng hành, chia sẻ khó khăn cùng khách hàng, quá trình giải
quyết vụ án, Bảo hiểm H đã có ý kiến đồng ý ứng trước cho ông A 50% giá trị bồi
thường, khi nào có kết luận chính thức từ cơ quan điều tra thì Bảo hiểm H tiếp
tục bồi thường phần còn lại nhưng ông A không đồng ý. Do đó đề nghị Tòa án giải
quyết theo quy định của pháp luật.
Với nội dung như trên, tại
Bản án dân sự sơ thẩm số 125/2022/DS-ST ngày 09 tháng 11 năm 2022 của Tòa án
nhân dân huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam đã căn cứ các điều
26, 35, 40, 147, 217, 266, 267, 271
và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 357 và khoản 2 Điều
468 Bộ luật Dân sự; các điều 12, 13, 14, 15, 17, 18, 28, 29, 40, 41,
46, 47, 48 và 49 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH13 ngày 30/12/2016/UBTVQH13 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ
phí Tòa án. Xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn ông Vương Ngọc A đối với bị đơn Tổng công ty cổ phần bảo
hiểm H về việc “Tranh chấp hợp đồng bảo hiểm xe cơ giới”.
- Buộc Tổng công ty cổ phần
bảo hiểm H bồi thường cho ông Vương Ngọc A, bà Vũ Hoàng U tiền bảo hiểm vật chất
xe ô tô biển kiểm soát 92C-100.xx bị cháy ngày 16/07/2019 số tiền 650.000.000 đồng
và tiền lãi chậm trả 199.096.000 đồng. Tổng cộng là 849.096.000 đồng;
- Buộc Tổng công ty cổ phần
bảo hiểm H trả lại cho ông Vương Ngọc A tiền chi phí giám định 27.500.000 đồng.
- Không chấp nhận yêu cầu
của nguyên đơn ông Vương Ngọc A về việc buộc Tổng công ty cổ phần bảo hiểm H trả
lãi do chậm bồi thường số tiền 12.154.000 đồng.
- Đình chỉ giải quyết đối
với các yêu cầu chi phí thuê xe để sử dụng và tiền lãi vay ngân hàng của nguyên
đơn ông Vương Ngọc A.
- Ông Vương Ngọc A, bà Vũ
Hoàng U có nghĩa vụ chuyển giao giấy đăng ký xe ô tô và quyền sở hữu xe ô tô biển
kiểm soát 92C-100.xx cho Tổng công ty cổ phần bảo hiểm H ngay sau khi Tổng công
ty cổ phần bảo hiểm H thực hiện xong việc bồi thường;
- Ông A, bà U có trách nhiệm
bảo lưu quyền khiếu nại, chuyển giao quyền đòi bồi thường cho Tổng công ty cổ phần
bảo hiểm H kèm theo toàn bộ hồ sơ, tài liệu cần thiết và phối hợp chẽ với Tổng
công ty cổ phần bảo hiểm H trong việc đòi lại người thứ ba trong phạm vi số tiền
mà Tổng công ty cổ phần bảo hiểm H đã bồi thường nếu có;
Kể từ ngày bản án có hiệu
lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi
hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải
thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo
mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm
2015.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm
còn quyết định án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm,
ngày 17/11/2022, bị đơn Tổng công ty cổ phần bảo hiểm H có đơn kháng cáo toàn bộ
bản án sơ thẩm. Ngày 06/12/2022, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam có Quyết
định kháng nghị phúc thẩm số 01/QĐ-VKS-DS, đề nghị hủy Bản án dân sự sơ thẩm số
125/2022/DS-ST ngày 09 tháng 11 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Núi Thành, tỉnh
Quảng Nam.
Tại phiên tòa, đại diện Viện
kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp
luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn phúc thẩm: Thẩm phán
được phân công trực tiếp giải quyết vụ án đã thực hiện đúng các quy định của
pháp luật về việc thụ lý vụ án, về thời hạn giải quyết vụ án, về việc chuyển hồ
sơ vụ án cho Viện kiểm sát nghiên cứu để tham gia xét xử. Tại phiên tòa, Hội đồng
xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của
pháp luật. Các đương sự đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định
của pháp luật.
- Về việc giải quyết vụ
án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố
tụng dân sự 2015, chấp nhận kháng cáo của bị đơn, chấp nhận kháng nghị của
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam, hủy Bản án dân sự sơ thẩm số
125/2022/DS-ST ngày 09 tháng 11 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Núi Thành, tỉnh
Quảng Nam.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Căn cứ vào các tài liệu,
chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến
phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[2] Nguyên đơn giữ nguyên
yêu cầu khởi kiện; bị đơn giữ nguyên kháng cáo, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm
xem xét toàn bộ bản án sơ thẩm.
[3] Xét kháng cáo của bị
đơn Tổng công ty cổ phần bảo hiểm H thì thấy:
[4] Xét tính có hiệu lực của
Hợp đồng bảo hiểm xe cơ giới số: 03186274/F02 ngày 16/12/2018 giữa ông Vương Ngọc
A và Tổng công ty cổ phần bảo hiểm H và thời điểm phát sinh trách nhiệm bảo hiểm:
[5] Ngày 16/12/2018, giữa
ông Vương Ngọc A và Công ty bảo hiểm H1 thuộc Tổng công ty cổ phần bảo hiểm H
ký Hợp đồng bảo hiểm xe cơ giới số: 03186274/F02, tài sản được bảo hiểm là xe ô
tô nhãn hiệu Ford Ranger biển kiểm soát 92C-100.xx do ông A đứng tên chủ sở hữu;
bảo hiểm vật chất xe giá trị thực tế 650.000.000 đồng, số tiền bảo hiểm
650.000.000 đồng và phí bảo hiểm là 9.966.300 đồng. Sau khi ký hợp đồng, ông A
đã nộp phí bảo hiểm và được Công ty bảo hiểm H1 cấp Giấy chứng nhận bảo hiểm tự
nguyện xe ô tô số: 001317, ngày 16/12/2018, thời hạn bảo hiểm là 12 tháng tính
từ 14 giờ 00 phút ngày 16/12/2018 đến 16 giờ 00 phút ngày 16/12/2019.
[6] Do đó, cấp sơ thẩm căn
cứ các điều 12, 13 và 14 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000
thì Hợp đồng bảo hiểm xe cơ giới số: 03186274/F02, tài sản được bảo hiểm là xe
ô tô nhãn hiệu Ford Ranger biển kiểm soát 92C-100.xx được ký kết ngày
16/12/2018 giữa ông Vương Ngọc A và Công ty bảo hiểm H1 thuộc Tổng công ty cổ phần
bảo hiểm H có hiệu lực pháp luật, có giá trị bắt buộc thi hành đối với các bên
và thời điểm phát sinh trách nhiệm bảo hiểm đối với Bảo hiểm H tính từ ngày
16/12/2018 là có cơ sở.
[7] Về hưởng quyền bảo hiểm:
Tại Điều 7 Hợp đồng bảo hiểm ngày 16/12/2018, quy định người hưởng quyền bảo hiểm
là Ngân hàng T - Chi nhánh Q. Tuy nhiên, ngày 25/6/2020, Ngân hàng T - Chi
nhánh Q xác nhận Hợp đồng tín dụng do ông Vương Ngọc A, bà Vũ Hoàng U vay tại
Ngân hàng với tài sản thế chấp, bảo đảm khoản vay là xe ô tô biển kiểm soát
92C-100.xx đã được giải chấp. Do đó, cấp sơ thẩm xác định người thụ hưởng bảo
hiểm trong Hợp đồng bảo hiểm ngày 16/12/2018 là ông A, bà U là có cơ sở.
[8] Về sự kiện bảo hiểm:
Theo nguyên đơn ông A trình bày thì khoảng 02 giờ ngày 16/07/2019, khi đang đậu
tại bãi đỗ xe, xe ô tô biển kiểm soát 92C-100.xx bùng cháy; tại Thông báo số:
94/TB-CSĐT ngày 10/3/2020 của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Núi
Thành, tỉnh Quảng Nam và Công văn số 685/CSHS-Đ4 ngày 13/5/2020 của Cơ quan Cảnh
sát điều tra - Công an tỉnh Quảng Nam thể hiện ngày 16/7/2019, tại thôn Đ, xã
N, huyện T, tỉnh Quảng Nam có xảy ra việc xe ô tô nhãn hiệu Ford Ranger, biển
kiểm soát 92C-100.xx bị cháy và hiện đang được điều tra, xác minh, làm rõ và tại
Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 10/9/2020 cho thấy phần đầu xe của xe
ô tô nhãn hiệu Ford Ranger, biển kiểm soát 92C-100.xx đang đậu tại bãi đất trống
thuộc thôn P, xã N, huyện T, tỉnh Quảng Nam bị cháy xém ở phần đầu xe; đại diện
bị đơn thừa nhận biết việc xe ô tô bị cháy. Do đó, Tòa cấp sơ thẩm xác định xe
ô tô biển kiểm soát 92C-100.xx đối tượng của hợp đồng bảo hiểm xe cơ giới bị
cháy là sự kiện bảo hiểm đã phát sinh là đúng.
[9] Về loại trừ bảo hiểm:
[10] Tại khoản 1 Điều 13
Quy tắc số 80 của Bảo hiểm 11 quy định: Bảo hiểm H không chịu trách nhiệm bồi
thường bảo hiểm trong một số trường hợp, trong đó có trường hợp: “Hành động cố
ý gây thiệt hại của chủ xe, người điều khiển xe và những người có quyền lợi
liên quan đến sở hữu, khai thác và sử dụng xe.”.
[11] Theo Bản kết luận
giám định số 788/C09C (Đ3, Đ4) ngày 14/8/2019 của Phân Viện khoa học hình sự tại
thành phố Đà Nẵng và theo Kết luận giám định lại số 6995/C09 - P2 ngày
06/12/2019 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an xác định xe ô tô nhãn hiệu Ford
Ranger, biển kiểm soát 92C-100.xx bị cháy là do con người gây ra. Do đó, ngày
20/12/2019, Cơ quan CSĐT Công an huyện Núi Thành đã ra Quyết định khởi tố vụ án
“Hủy hoại tài sản” số 03/QĐ đối với vụ việc trên, đồng thời chuyển toàn bộ hồ
sơ vụ án cho Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Quảng Nam để điều tra, xử lý theo thẩm
quyền. Do chưa xác định được ai là người gây ra vụ cháy nên Cơ quan CSĐT Công
an tỉnh Quảng Nam ra quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự. đến nay Cơ
quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Quảng Nam chưa có kết luận điều tra vụ án
về việc xe ô tô bị cháy, chưa xác định được ai là người phá hoại nên không có
cơ sở xác định có hay không “Hành động cố ý gây thiệt hại của chủ xe, người điều
khiển xe và những người có quyền lợi liên quan đến sở hữu, khai thác và sử dụng
xe” như khoản 1 Điều 13 Quy tắc số 80 đã quy định; hơn nữa, tại khoản 8 Điều 7
Quy tắc số 80, điểm e khoản 1 Điều 17, Điều 49 Luật Kinh doanh
bảo hiểm đã quy định rõ việc bảo lưu quyền khiếu nại và chuyển quyền đòi bồi
thường cho Bảo hiểm H trong trường hợp có liên quan đến trách nhiệm của người
thứ ba hoặc yêu cầu người được bồi thường trả lại tiền đã nhận bồi thường và bồi
thường thiệt hại nếu họ có lỗi trong việc phát sinh sự kiện bảo hiểm theo quy định
của pháp luật. Do đó, có thể thấy quyền lợi của Bảo hiểm H luôn được bảo đảm ngay
cả trong trường hợp sau khi chi trả tiền bồi thường cho ông A mà Cơ quan điều
tra kết luận, xác định được người thứ ba hoặc chính ông A có lỗi trong việc xe
ô tô bị cháy. Như vậy, trường hợp của ông A không thuộc trường hợp loại trừ bảo
hiểm theo khoản 1 Điều 13 Quy tắc số 80.
[12] Về mức độ và giá trị
thiệt hại: Theo Bảng báo cáo giám định về tổn thất xe ô tô ngày 07/4/2022 của
Công ty giám định T, trụ sở 110 đường N, thành phố T, tỉnh Quảng Nam giám định
giá trị thiệt hại của xe ô tô là 724.031.851 đồng. Các giá trị trên, Tòa án cấp
sơ thẩm đã thông báo đến Bảo hiểm H, Bảo hiểm H có văn bản trả lời không đồng ý
với báo giá và báo cáo giá trị xe ô tô bị thiệt hại nêu trên. Tuy nhiên, Bảo hiểm
H đã không thực hiện việc giám định theo quy định cũng không yêu cầu giám định
độc lập. Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Bảo hiểm H thừa nhận tình trạng thiệt
hại của xe ô tô trên 75% là đúng. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào Báo
cáo giám định về tổn thất xe ô tô ngày 07/4/2022 của Công ty giám định T do
nguyên đơn cung cấp, xác định mức độ thiệt hại của xe ô tô biển kiểm soát
92C-100.xx là 100% so với giá trị xe lúc ký hợp đồng bảo hiểm là 650.000.000 đồng
là có cơ sở.
[13] Xét yêu cầu của
nguyên đơn ông Vương Ngọc A buộc Tổng công ty Cổ phần bảo hiểm H bồi thường
toàn bộ giá trị xe ô tô nhãn hiệu Ford Ranger biển kiểm soát 92C-100.xx bị cháy
theo Hợp đồng bảo hiểm xe cơ giới đã ký ngày 16/12/2018 với số tiền 650.000.000
đồng thì thấy:
[14] Căn cứ Hợp đồng bảo
hiểm ngày 16/12/2018 và Giấy chứng nhận bảo hiểm thì thời điểm xe ô tô bị cháy
trong thời gian được bảo hiểm; ngay sau khi sự kiện bảo hiểm phát sinh ngày
16/7/2019, ông A đã thực hiện các thủ tục theo đúng quy định tại Điều 6 Hợp đồng
và Điều 18 Luật Kinh doanh bảo hiểm và được nhân viên Bảo
hiểm H1 đến hướng dẫn lấy lời khai, giữ nguyên hiện trường vụ cháy, thông báo đến
cơ quan chức năng, gửi đơn cùng hồ sơ yêu cầu bồi thường.
[15] Sau khi nhận được đơn
và hồ sơ yêu cầu bồi thường của ông A, tại các Văn bản số: 99/BHHK-VNI ĐN ngày
26/9/2019, số: 2192/BHHK-GĐBT ngày 11/10/2019, số: 2671/BHHK-GĐBT ngày
25/12/2019, trả lời ông A về việc giải quyết bồi thường liên quan đến tổn thất
xe 92C-100.xx của Bảo hiểm H1 và Tổng công ty Cổ phần bảo hiểm H thì không có nội
dung thể hiện hồ sơ yêu cầu bồi thường của ông A là chưa đầy đủ và hướng dẫn
hay yêu cầu ông A bổ sung tài liệu, hồ sơ mà chỉ có nội dung “Đợi kết quả điều
tra của cơ quan điều tra”; hơn nữa, căn cứ chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ
cho thấy sau khi sự việc xảy ra, ông A đã cung cấp đầy đủ tài liệu, hồ sơ yêu cầu
bồi thường cho Bảo hiểm H theo đúng quy định tại khoản 1 Điều 10 Quy tắc 80,
quy định hồ sơ bồi thường. Do vậy, việc Bảo hiểm H cho rằng hồ sơ yêu cầu bồi
thường của ông A “chưa đầy đủ” là không phù hợp.
[16] Từ những căn cứ trên
cho thấy việc Bảo hiểm H viện lý do: Hồ sơ yêu cầu bồi thường của ông A là chưa
đầy đủ hay chờ kết luận điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh
Quảng Nam xác định về việc xe ô tô BKS 92C-100.xx bị cháy do ai gây ra mới tiến
hành xem xét bồi thường, trong khi Cơ quan điều tra đã có quyết định tạm đình
chỉ điều tra vụ án; ông A đã gửi đơn, hồ sơ yêu cầu bồi thường đầy đủ và trong
thời hạn quy định. Các tài liệu có trong hồ sơ không có chứng cứ nào chứng minh
việc xe bị cháy là do “Hành động cố ý gây thiệt hại của chủ xe, người điều khiển
xe và những người có quyền lợi liên quan đến sở hữu, khai thác và sử dụng xe”
thuộc trường hợp loại trừ trách nhiệm bồi thường.
[17] Do vậy, việc ông A
yêu cầu Bảo hiểm H có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại vật chất xe ô tô theo Hợp đồng
bảo hiểm xe cơ giới đã ký ngày 16/12/2018 là có căn cứ nên được chấp nhận. Vì
giá trị thiệt hại của xe như đã nêu là 100%, lớn hơn giá trị thiệt hại quy định
trong Quy tắc 80 là 75% nên cần buộc Bảo hiểm H có trách nhiệm bồi thường cho
ông A bằng 100% mức bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm, tương đương số tiền
650.000.000 đồng.
[18] Đối với yêu cầu tính
lãi chậm trả:
[19] Hội đồng xét xử xét
thấy: Sau khi sự kiện bảo hiểm xảy ra, ông A đã nộp đơn và hồ sơ yêu cầu bồi
thường, thực hiện đúng đầy đủ, nghĩa vụ của mình. Bảo hiểm H biết việc xe ô tô
bị cháy, biết sự kiện bảo hiểm phát sinh cũng như đã nhận đơn và hồ sơ yêu cầu
bồi thường của ông A, thừa nhận thiệt hại của xe sau khi bị cháy là trên 75%
nhưng không thực hiện việc chi trả tiền bồi thường cho ông A đúng thời hạn là
trái với quy định tại Điều 6 của Hợp đồng bảo hiểm, trái với quy định tại các điều
8, 9, 12 và 15 Quy tắc 80, điểm c khoản 2 Điều 17 Luật Kinh
doanh bảo hiểm và nguyên tắc thiệt hại phải được bồi thường nhanh chóng, kịp
thời theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015. Vì vậy việc ông A yêu cầu Bảo
hiểm H trả tiền lãi do chậm trả tiền bồi thường với mức lãi suất 10%/năm là có
căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468
Bộ luật Dân sự nên được chấp nhận.
[20] Tuy nhiên, về thời
gian tính lãi chậm trả: Tại khoản 2 Điều 8 Quy tắc số 80 quy định “Bảo hiểm H
có trách nhiệm trả tiền trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ yêu cầu
đầy đủ, hợp lệ; không quá 30 ngày trong trường hợp VNI phải tiến hành xác minh
hồ sơ. Trong trường hợp VNI không đủ thẩm quyền để xác minh các yếu tố có trong
hồ sơ thì hồ sơ bồi thường được coi là đầy đủ, hợp lệ sau khi có kết luận chính
thức của cơ quan chức năng có thẩm quyền. Sau 90 ngày kể từ ngày VNI có công
văn đề nghị cơ quan chức năng có thẩm quyền tiến hành xác minh mà chưa có kết
quả xác minh thì VNI phải chủ động xác minh, xem xét, bồi thường”. Như vậy, thời
hạn để Bảo hiểm H thực hiện việc chi trả tiền bảo hiểm trong trường hợp VNI có
công văn đề nghị cơ quan chức năng có thẩm quyền tiến hành xác minh mà chưa có
kết quả xác minh thì VNI phải chủ động xác minh, xem xét, bồi thường là 90 ngày
kể từ ngày VNI có công văn đề nghị cơ quan chức năng có thẩm quyền tiến hành xác
minh. Trong vụ án này, Công ty cổ phần bảo hiểm H ban hành Công văn số
100/BHHK-VNI ĐN ngày 26/9/2019 gửi Cơ quan Công an huyện Núi Thành và Cơ quan Cảnh
sát điều tra được xác định là Công văn đầu tiên đề nghị cơ quan chức năng có thẩm
quyền tiến hành xác minh nên thời điểm tính lãi được tính từ ngày 26/12/2019 đến
ngày xét xử sơ thẩm là ngày 09/11/2022 là 02 năm 10 tháng 14 ngày với số tiền bảo
hiểm 650.000.000 đồng, mức lãi là 10%/năm. Nên tiền lãi mà Công ty bảo hiểm H
phải trả cho ông A là 186.808.219 đồng. Việc cấp sơ thẩm tính lãi kể từ thời điểm
90 ngày tính từ ngày Bảo hiểm H nhận được đơn kèm theo hồ sơ yêu cầu bồi thường
của ông A là ngày 16/7/2019 tức là tính lãi từ ngày 16/10/2019 là không đúng
quy định tại khoản 2 Điều 8 Quyết định số 80/2015/QĐ-BHHK ngày 6/5/2015 của
Công ty bảo hiểm H.
[21] Do đó cấp phúc thẩm
chấp nhận một phần kháng cáo của Tổng Công ty cổ phần bảo hiểm H sửa phần tính
lãi chậm trả của bản án sơ thẩm.
[22] Xét kháng nghị của Viện
kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam: Đề nghị hủy Bản án dân sự sơ thẩm số
125/2022/DS-ST ngày 09 tháng 11 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Núi Thành, tỉnh
Quảng Nam.
[23] Hội đồng xét xử xét
thấy:
[24] Tòa án nhân dân huyện
Núi Thành thụ lý giải quyết vụ án về “Tranh chấp Hợp đồng bảo hiểm xe cơ giới”
giữa ông Vương Ngọc A và Tổng Công ty cổ phần bảo hiểm H là đúng thẩm quyền
theo khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Căn
cứ pháp lý ông Vương Ngọc A khởi kiện là Hợp đồng bảo hiểm xe cơ giới số:
03186274/F02 ngày 16/12/2018 ký kết giữa Công ty H1 thuộc Tổng công ty bảo hiểm
H (VNI) với ông Vương Ngọc A. Về quy định tại Điều 30 Bộ luật
Tố tụng hình sự năm 2015, giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự được
tiến hành cùng với việc giải quyết vụ án hình sự là giải quyết về bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng. Nên vụ việc cháy xe ô tô đã được Cơ quan điều tra
Công an huyện Núi Thành khởi tố vụ án hình sự và chuyển hồ sơ đến Cơ quan điều
tra Công an tỉnh Quảng Nam, do đã hết thời hạn điều tra nhưng chưa xác định được
bị can nên Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Quảng Nam ban hành Quyết định tạm đình chỉ
điều tra số 14/TB-CSHS ngày 22/12/2020, không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ
án về “Tranh chấp Hợp đồng bảo hiểm xe cơ giới” giữa ông Vương Ngọc A và Tổng
công ty cổ phần bảo hiểm H.
[25] Về việc tính sai thời
điểm tính lãi suất bồi thường thiệt hại do chậm thanh toán tiền bảo hiểm của cấp
sơ thẩm đối với Tổng công ty cổ phần bảo hiểm H, đã được Hội đồng xét xử chấp
nhận và nhận định trong phần [18], [19], [20], [21].
[26] Đối với nội dung cấp
sơ thẩm đã tuyên: “Nguyên đơn có trách nhiệm bảo lưu quyền khiếu nại, chuyển
giao quyền đòi bồi thường cho bị đơn kèm theo toàn bộ hồ sơ, tài liệu cần thiết
và phối hợp chặt chẽ với bị đơn trong việc đòi lại người thứ 3 trong phạm vi số
tiền mà Bị đơn đã bồi thường nếu có” là đúng quy định của pháp luật như đã phân
tích tại mục [9], [10], [11].
[27] Từ sự phân tích trên,
Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn Tổng công ty
cổ phần bảo hiểm H và một phần kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng
Nam, sửa Bản án sơ thẩm số 125/2022/DS-ST ngày 09 tháng 11 năm 2022 của Tòa án
nhân dân huyện Núi Thành.
[28] Về chi phí tố tụng:
[29] Quá trình giải quyết
vụ án, ông Vương Ngọc A yêu cầu Công ty TNHH giám định T định giá tài sản thiệt
hại là xe ô tô biển kiểm soát 92C-100.xx với số tiền phí giám định là
27.500.000 đồng, ông A yêu cầu Bảo hiểm H hoàn trả lại cho ông. Xét thấy, do
yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc Bảo hiểm H bồi thường tổn thất vật chất xe
ô tô theo hợp đồng bảo hiểm được chấp nhận nên bị đơn Bảo hiểm H phải chịu chi
phí giám định. Hiện chi phí giám định này nguyên đơn ông A đã trả cho Công ty
TNHH giám định T nên cần buộc Bảo hiểm H hoàn trả lại số tiền trên cho ông
Vương Ngọc A theo quy định của pháp luật.
[30] Về án phí:
[31] Án phí dân sự sơ thẩm:
Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận một phần nên bị đơn Công ty bảo hiểm H
phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên phần yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận;
bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với phần yêu cầu không được chấp nhận
theo quy định.
[32] Án phí dân sự phúc thẩm:
Do kháng cáo của Công ty bảo hiểm H được chấp nhận một phần, nên nguyên đơn ông
Vương Ngọc A phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản
2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Chấp nhận một phần kháng
cáo của bị đơn Công ty bảo hiểm H và chấp nhận một phần kháng nghị của Viện kiểm
sát nhân dân tỉnh Quảng Nam, sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 125/2022/DS-ST ngày
09 tháng 11 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam.
Căn cứ các điều
26, 35, 40, 147, 217, 266, 267, 271
và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 357 và khoản 2 Điều
468 Bộ luật Dân sự; các điều 12, 13, 14, 15, 17, 18, 28, 29, 40, 41,
46, 47, 48 và 49 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000; Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH13 ngày 30/12/2016/UBTVQH13 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
Buộc Tổng công ty cổ phần
bảo hiểm H bồi thường cho ông Vương Ngọc A, bà Vũ Hoàng U tiền bảo hiểm vật chất
xe ô tô biển kiểm soát 92C-100.xx bị cháy ngày 16/07/2019 theo Hợp đồng bảo hiểm
xe cơ giới số: 03186274/F02 ngày 16/12/2018 ký kết giữa Công ty bảo hiểm H1 thuộc
Tổng công ty bảo hiểm H với ông Vương Ngọc A số tiền 650.000.000 đồng (Sáu trăm
năm mươi triệu đồng) và tiền lãi chậm trả 186.808.219 đồng (Một trăm tám mươi
sáu triệu, tám trăm lẻ tám nghìn hai trăm mười chín đồng). Tổng cộng là
836.808.219 đồng (Tám trăm ba mươi sáu triệu tám trăm lẻ tám nghìn hai trăm mười
chín đồng);
Buộc Tổng công ty cổ phần
bảo hiểm H trả lại cho ông Vương Ngọc A tiền chi phí giám định 27.500.000 đồng
(Hai mươi bảy triệu năm trăm nghìn đồng).
Không chấp nhận yêu cầu của
nguyên đơn ông Vương Ngọc A về việc buộc Tổng công ty cổ phần bảo hiểm H trả
lãi do chậm bồi thường số tiền 24.441.781 đồng (Hai mươi tư triệu bốn trăm bốn
mươi mốt nghìn bảy trăm tám mươi mốt đồng).
Đình chỉ giải quyết đối với
các yêu cầu chi phí thuê xe để sử dụng và tiền lãi vay ngân hàng của nguyên đơn
ông Vương Ngọc A.
Ông Vương Ngọc A, bà Vũ
Hoàng U có nghĩa vụ chuyển giao giấy đăng ký xe ô tô và quyền sở hữu xe ô tô biển
kiểm soát 92C-100.xx cho Tổng công ty cổ phần bảo hiểm H ngay sau khi Tổng công
ty cổ phần bảo hiểm H thực hiện xong việc bồi thường;
Ông A, bà U có trách nhiệm
bảo lưu quyền khiếu nại, chuyển giao quyền đòi bồi thường cho Tổng công ty cổ phần
bảo hiểm H kèm theo toàn bộ hồ sơ, tài liệu cần thiết và phối hợp chẽ với Tổng
công ty cổ phần bảo hiểm H trong việc đòi lại người thứ ba trong phạm vi số tiền
mà Tổng công ty cổ phần bảo hiểm H đã bồi thường nếu có;
Án phí dân sự sơ thẩm Tổng
công ty cổ phần bảo hiểm H phải chịu là 37.104.000 đồng (Ba mươi bảy triệu một
trăm lẻ bốn nghìn đồng).
Án phí dân sự sơ thẩm ông
Vương Ngọc A phải chịu là 1.222.000 đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Trả lại cho ông A 15.086.000 đồng (Mười lăm triệu, không trăm tám mươi sáu
nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0004605 ngày 12/02/2020 của
Chi cục Thi hành án dân sự huyện Núi Thành, Quảng Nam.
Án phí dân sự phúc thẩm:
Ông Vương Ngọc A phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc
thẩm. Hoàn trả cho bị đơn Bảo hiểm H số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng
(Ba trăm nghìn đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Núi Thành, tỉnh Quảng
Nam theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011469 ngày
30/11/2022.
Kể từ ngày bản án có hiệu
lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi
hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải
thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo
mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm
2015.
Trường hợp bản án được thi
hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì
người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận
thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế
thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành
án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực
pháp luật kể từ ngày tuyên án (26/8/2023).
NỘI DUNG ÁN LỆ
“[10] Tại khoản 1 Điều
13 Quy tắc số 80 của Bảo hiểm H quy định: Bảo hiểm H không chịu trách nhiệm bồi
thường bảo hiểm trong một số trường hợp, trong đó có trường hợp: “Hành động cố
ý gây thiệt hại của chủ xe, người điều khiển xe và những người có quyền lợi
liên quan đến sở hữu, khai thác và sử dụng xe.”.
[11] Theo Bản kết luận
giám định số 788/C09C (Đ3, Đ4) ngày 14/8/2019 của Phân Viện khoa học hình sự tại
thành phố Đà Nẵng và theo Kết luận giám định lại số 6995/C09 - P2 ngày
06/12/2019 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an xác định xe ô tô nhãn hiệu Ford
Ranger, biển kiểm soát 92C-100.xx bị cháy là do con người gây ra. Do đó, ngày
20/12/2019, Cơ quan CSĐT Công an huyện Núi Thành đã ra Quyết định khởi tố vụ án
“Hủy hoại tài sản” số 03/QĐ đối với vụ việc trên, đồng thời chuyển toàn bộ hồ
sơ vụ án cho Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Quảng Nam để điều tra, xử lý theo thẩm
quyền. Do chưa xác định được ai là người gây ra vụ cháy nên Cơ quan CSĐT Công
an tỉnh Quảng Nam ra quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự. Đến nay Cơ
quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Quảng Nam chưa có kết luận điều tra vụ án
về việc xe ô tô bị cháy, chưa xác định được ai là người phá hoại nên không có
cơ sở xác định có hay không “Hành động cố ý gây thiệt hại của chủ xe, người điều
khiển xe và những người có quyền lợi liên quan đến sở hữu, khai thác và sử dụng
xe” như khoản 1 Điều 13 Quy tắc số 80 đã
quy định; hơn nữa, tại khoản 8 Điều 7 Quy tắc số 80, điểm e khoản
1 Điều 17, Điều 49 Luật Kinh doanh bảo hiểm đã quy định rõ việc bảo lưu quyền
khiếu nại và chuyển quyền đòi bồi thường cho Bảo hiểm H trong trường hợp có
liên quan đến trách nhiệm của người thứ ba hoặc yêu cầu người được bồi thường
trả lại tiền đã nhận bồi thường và bồi thường thiệt hại nếu họ có lỗi trong việc
phát sinh sự kiện bảo hiểm theo quy định của pháp luật. Do đó, có thể thấy quyền
lợi của Bảo hiểm H luôn được bảo đảm ngay cả trong trường hợp sau khi chi trả
tiền bồi thường cho ông A mà Cơ quan điều tra kết luận, xác định được người thứ
ba hoặc chính ông A có lỗi trong việc xe ô tô bị cháy. Như vậy, trường hợp của
ông A không thuộc trường hợp loại trừ bảo hiểm theo khoản 1 Điều 13 Quy tắc số
80.”.
* Án lệ này do Vụ Giám đốc, kiểm tra IV Tòa án nhân
dân tối cao và Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị đề xuất.
* Án lệ này do Vụ Giám đốc, kiểm tra IV Tòa án nhân
dân tối cao đề xuất.
* Án lệ này do Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ đề
xuất.
[*] Án lệ này do Vụ Pháp chế
và Quản lý khoa học Tòa án nhân dân tối cao đề xuất.
[*] Án lệ này do Vụ Pháp chế
và Quản lý khoa học Tòa án nhân dân tối cao đề xuất.
[*] Án lệ này do NCS. Nguyễn
Văn Dũng, Chánh tòa Tòa Hành chính Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng đề xuất.
* Án lệ này do Vụ Pháp chế
và Quản lý khoa học Tòa án nhân dân tối cao đề xuất.
* Án lệ này do Tòa án nhân
dân thành phố Đà Nẵng đề xuất.