Từ khoá: Số Hiệu, Tiêu đề hoặc Nội dung ngắn gọn của Văn Bản...

Đăng nhập

Quên mật khẩu?   Đăng ký mới
Đăng nhập bằng Google

Luật Thi hành án hình sự 2019 số 41/2019/QH14

Số hiệu: 41/2019/QH14 Loại văn bản: Luật
Nơi ban hành: Quốc hội Người ký: Nguyễn Thị Kim Ngân
Ngày ban hành: 14/06/2019 Ngày hiệu lực: Đã biết
Ngày công báo: Đã biết Số công báo: Đã biết
Tình trạng: Đã biết

Phạm nhân đồng tính, chuyển giới được bố trí giam giữ riêng

Đây là nội dung nổi bật trong Luật Thi hành án hình sự 2019 được Quốc hội khóa XIV thông qua ngày 14/6/2019.

Theo đó, những phạm nhân đồng tính, chuyển đổi giới tính, hoặc chưa xác định rõ giới tính có thể được bố trí giam giữ riêng.

Ngoài ra, việc giam giữ phạm nhân được thực hiện như sau:

- Căn cứ vào tính chất của tội phạm, mức hình phạt, đặc điểm nhân thân thì Giám thị trại giam sẽ quyết định phân loại, chuyển khu giam giữ; phạm nhân được chia thành các đội, tổ để lao động, học tập và sinh hoạt.

- Trong thời gian chấp hành án phạt tù, phạm nhân được nhận xét, đánh giá kết quả chấp hành án phạt theo tuần, tháng, quý, 06 tháng và 01 năm; đảm bảo tính liên tục, khách quan, công bằng, công khai, dân chủ.

- Phạm nhân được phép nhận quà là tiền, đồ vật do thân nhân gửi qua đường bưu chính, nhưng không được quá 02 lần trong 01 tháng.

Luật Thi hành án hình sự 2019 có hiệu lực từ ngày 01/01/2020.

QUỐC HỘI
--------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Luật số: 41/2019/QH14

 

 

LUẬT

THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ

Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

Quốc hội ban hành Luật Thi hành án hình sự.

Chương I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Luật này quy định nguyên tắc, trình tự, thủ tục, tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, người có thẩm quyền trong thi hành bản án, quyết định về hình phạt tù, tử hình, cảnh cáo, cải tạo không giam giữ, cấm cư trú, quản chế, trục xuất, tước một số quyền công dân, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, án treo, tha tù trước thời hạn có điều kiện, hình phạt đình chỉ hoạt động có thời hạn, đình chỉ hoạt động vĩnh viễn, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định, cấm huy động vốn, biện pháp tư pháp; quyền, nghĩa vụ của người, pháp nhân thương mại chấp hành án hình sự, biện pháp tư pháp; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong thi hành án hình sự, biện pháp tư pháp.

Điều 2. Bản án, quyết định được thi hành

1. Bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật và đã có quyết định thi hành.

2. Bản án, quyết định của Tòa án được thi hành ngay theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự hoặc kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật theo quy định của Bộ luật Hình sự.

3. Quyết định của Tòa án tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam chấp hành án và đã có quyết định thi hành; quyết định của Tòa án chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam cho nước ngoài.

4. Bản án, quyết định về áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh, giáo dục tại trường giáo dưỡng; buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu, buộc thực hiện một số biện pháp nhằm khắc phục, ngăn chặn hậu quả tiếp tục xảy ra đối với pháp nhân thương mại thuộc thẩm quyền của cơ quan thi hành án hình sự.

Điều 3. Giải thích từ ngữ

Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. Người chấp hành án là người bị kết án, phải chịu hình phạt theo bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật và đã có quyết định thi hành.

2. Phạm nhân là người đang chấp hành án phạt tù có thời hạn, tù chung thân.

3. Cơ sở giam giữ phạm nhân là nơi tổ chức quản lý, giam giữ và giáo dục cải tạo phạm nhân, bao gồm trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ.

4. Thi hành án phạt tù là việc cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của Luật này buộc người bị kết án phạt tù có thời hạn, tù chung thân phải chịu sự quản lý giam giữ, giáo dục cải tạo.

5. Thi hành án tử hình là việc cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của Luật này tước bỏ tính mạng của người bị kết án tử hình.

6. Thi hành án treo là việc cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của Luật này giám sát, giáo dục người bị kết án phạt tù được hưởng án treo trong thời gian thử thách.

7. Thi hành quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện là việc cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của Luật này quản lý người được tha tù trước thời hạn có điều kiện trong thời gian thử thách.

8. Thi hành án phạt cải tạo không giam giữ là việc cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của Luật này giám sát, giáo dục người chấp hành án tại nơi cư trú hoặc nơi làm việc, học tập; khấu trừ một phần thu nhập sung quỹ nhà nước, giám sát việc thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng theo bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

9. Thi hành án phạt cấm cư trú là việc cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của Luật này buộc người chấp hành án không được tạm trú, thường trú ở một số địa phương nhất định theo bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

10. Thi hành án phạt quản chế là việc cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của Luật này buộc người chấp hành án phải cư trú, làm ăn sinh sống và cải tạo ở một địa phương nhất định dưới sự kiểm soát, giáo dục của chính quyền và Nhân dân địa phương theo bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

11. Thi hành án phạt trục xuất là việc cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của Luật này buộc người chấp hành án phải rời khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

12. Thi hành án phạt tước một số quyền công dân là việc cơ quan có thẩm quyền theo quy định của Luật này tước một hoặc một số quyền công dân của người chấp hành án theo bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

13. Thi hành án phạt cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất địnhviệc cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền theo quy định của Luật này buộc người chấp hành án không được đảm nhiệm chức vụ, hành nghề hoặc làm công việc nhất định theo bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

14. Thi hành biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh là việc cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của Luật này buộc người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội hoặc người đang chấp hành án mắc bệnh tâm thần, bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình phải điều trị tại cơ sở chữa bệnh bắt buộc theo quyết định của Tòa án, Viện kiểm sát.

15. Thi hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng là việc cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của Luật này đưa người dưới 18 tuổi vào trường giáo dưỡng để giáo dục theo bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

16. Áp giải thi hành án là việc cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của Luật này buộc người chấp hành án phạt tù, tử hình, trục xuất đến nơi chấp hành án.

17. Trích xuất là việc thực hiện quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của Luật này đưa phạm nhân, người bị kết án tử hình hoặc người chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng ra khỏi nơi quản lý và chuyển giao cho cơ quan, người có thẩm quyền để phục vụ hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, khám bệnh, chữa bệnh, quản lý giam giữ, giáo dục cải tạo trong thời hạn nhất định.

18. Danh bản là bản ghi thông tin tóm tắt về lý lịch, nhân dạng, ảnh chụp ba tư thế, in dấu vân hai ngón tay trỏ của người chấp hành án, người chấp hành biện pháp tư pháp do cơ quan có thẩm quyền lập và lưu giữ.

19. Chỉ bản là bản ghi thông tin tóm tắt về lý lịch và in dấu vân tất cả các ngón tay của người chấp hành án do cơ quan có thẩm quyền lập và lưu giữ.

20. Pháp nhân thương mại chấp hành án là pháp nhân thương mại bị kết án, phải chịu hình phạt, biện pháp tư pháp theo bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

21. Thi hành hình phạt đình chỉ hoạt động có thời hạn là việc cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của Luật này buộc pháp nhân thương mại chấp hành án phải tạm dừng hoạt động đối với ngành, nghề trong một hoặc một số lĩnh vực bị đình chỉ hoạt động có thời hạn theo bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

22. Thi hành hình phạt đình chỉ hoạt động vĩnh viễn là việc cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của Luật này buộc pháp nhân thương mại chấp hành án phải chấm dứt ngay hoạt động đối với ngành, nghề trong một hoặc một số lĩnh vực bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn hoặc toàn bộ hoạt động bị đình chỉ vĩnh viễn theo bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

23. Thi hành hình phạt cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định là việc cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của Luật này buộc pháp nhân thương mại chấp hành án không được tiếp tục kinh doanh, hoạt động đối với ngành, nghề trong lĩnh vực bị cấm trong thời hạn theo bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

24. Thi hành hình phạt cấm huy động vốn là việc cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của Luật này buộc pháp nhân thương mại chấp hành án không được thực hiện một hoặc một số hình thức huy động vốn trong thời hạn bị cấm theo bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

25. Cơ quan quản lý nhà nước đối với pháp nhân thương mại chấp hành án là cơ quan có thẩm quyền đăng ký kinh doanh, cấp giấy chứng nhận đăng ký, cấp giấy phép, chấp thuận cho pháp nhân thương mại hoạt động, giám sát, theo dõi pháp nhân thương mại hoạt động được cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền yêu cầu thực hiện một hoặc một số nhiệm vụ để bảo đảm thi hành hình phạt, biện pháp tư pháp đối với pháp nhân thương mại chấp hành án.

Điều 4. Nguyên tắc thi hành án hình sự

1. Tuân thủ Hiến pháp, pháp luật, bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

2. Bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phải nghiêm chỉnh chấp hành.

3. Bảo đảm nhân đạo xã hội chủ nghĩa; tôn trọng danh dự, nhân phẩm, quyền, lợi ích hợp pháp của người chấp hành án, người chấp hành biện pháp tư pháp, quyền, lợi ích hợp pháp của pháp nhân thương mại chấp hành án.

4. Kết hợp trừng trị và giáo dục cải tạo trong việc thi hành án; áp dụng biện pháp giáo dục cải tạo phải trên cơ sở tính chất, mức độ phạm tội, độ tuổi, sức khỏe, giới tính, trình độ học vấn và các đặc điểm nhân thân khác của người chấp hành án.

5. Thi hành án đối với người dưới 18 tuổi chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành người có ích cho xã hội.

6. Khuyến khích người chấp hành án ăn năn hối cải, tích cực học tập, lao động cải tạo, tự nguyện bồi thường thiệt hại.

7. Bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo hành vi, quyết định trái pháp luật của cơ quan, người có thẩm quyền trong thi hành án hình sự.

8. Bảo đảm sự tham gia của cơ quan, tổ chức, cá nhân và gia đình trong hoạt động thi hành án hình sự, tái hòa nhập cộng đồng theo quy định của pháp luật.

Điều 5. Trách nhiệm phối hợp của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong thi hành án hình sự

Cơ quan, tổ chức, cá nhân, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn, nghĩa vụ của mình, có trách nhiệm phối hợp và thực hiện yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền trong thi hành án hình sự theo quy định của Luật này.

Điều 6. Giám sát việc thi hành án hình sự

Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận giám sát hoạt động của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan trong thi hành án hình sự theo quy định của pháp luật.

Điều 7. Kiểm sát việc thi hành án hình sự

Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan, người có thẩm quyền và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan trong thi hành án hình sự.

Điều 8. Phổ biến, giáo dục pháp luật về thi hành án hình sự

1. Chính phủ, Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có trách nhiệm tổ chức, chỉ đạo công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về thi hành án hình sự.

2. Ủy ban nhân dân các cấp, cơ quan, tổ chức khác, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm tổ chức thực hiện việc phổ biến, giáo dục pháp luật, vận động Nhân dân chấp hành pháp luật về thi hành án hình sự.

Điều 9. Hợp tác quốc tế trong thi hành án hình sự

Hợp tác quốc tế trong thi hành án hình sự giữa cơ quan có thẩm quyền của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với cơ quan có thẩm quyền tương ứng của nước ngoài được thực hiện trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi, phù hợp với Hiến pháp, pháp luật của Việt Nam và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Trường hợp giữa Việt Nam và nước có liên quan chưa có điều ước quốc tế thì việc hợp tác quốc tế trong thi hành án hình sự được thực hiện theo nguyên tắc có đi có lại nhưng không trái với Hiến pháp của Việt Nam, phù hợp với pháp luật quốc tế và tập quán quốc tế.

Điều 10. Các hành vi bị nghiêm cấm trong thi hành án hình sự

1. Phá hủy cơ sở quản lý, giam giữ; hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của cơ sở quản lý, giam giữ; tổ chức trốn hoặc trốn khỏi nơi quản lý, giam giữ; tổ chức trốn hoặc trốn khi đang bị áp giải, dẫn giải; đánh tháo phạm nhân, người chấp hành biện pháp tư pháp, người bị áp giải, dẫn giải.

2. Không chấp hành quyết định thi hành án hình sự; cản trở hoặc chống lại việc thực hiện nội quy, quy chế về thi hành án hình sự hoặc quyết định, yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền trong thi hành án hình sự.

3. Tổ chức, kích động, xúi giục, lôi kéo, dụ dỗ, giúp sức, cưỡng bức người khác vi phạm pháp luật về thi hành án hình sự; trả thù, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của người có trách nhiệm thi hành án hình sự.

4. Không ra quyết định thi hành án hình sự; không thi hành quyết định trả tự do theo quy định của pháp luật và quyết định khác của cơ quan, người có thẩm quyền trong thi hành án hình sự.

5. Đưa hối lộ, nhận hối lộ, môi giới hối lộ, nhũng nhiễu trong thi hành án hình sự.

6. Tha trái pháp luật người đang bị giam, người bị áp giải thi hành án; thiếu trách nhiệm trong việc quản lý, canh gác, áp giải thi hành án để người chấp hành án phạt tù, án tử hình hoặc án phạt trục xuất trốn.

7. Lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn để đề nghị miễn, giảm, hoãn, tạm đình chỉ, tha tù trước thời hạn có điều kiện, rút ngắn thời gian thử thách cho người không đủ điều kiện; không đề nghị cho người đủ điều kiện được miễn, giảm, hoãn, tạm đình chỉ, tha tù trước thời hạn có điều kiện, rút ngắn thời gian thử thách; đề nghị hoặc không đề nghị chấm dứt trước thời hạn việc chấp hành biện pháp tư pháp, hoãn, đình chỉ thi hành biện pháp tư pháp; cản trở người, pháp nhân thương mại chấp hành án thực hiện các quyền theo quy định của Luật này.

8. Tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục người chấp hành án, biện pháp tư pháp.

9. Kỳ thị, phân biệt đối xử hoặc xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người, pháp nhân thương mại chấp hành án.

10. Cấp hoặc từ chối cấp trái quy định của pháp luật quyết định, giấy chứng nhận, xác nhận hoặc giấy tờ khác về thi hành án hình sự.

11. Làm sai lệch hồ sơ, sổ sách về thi hành án hình sự.

Chương II

HỆ THỐNG TỔ CHỨC THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ, NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA CƠ QUAN CÓ THẨM QUYỀN TRONG THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ

Điều 11. Hệ thống tổ chức thi hành án hình sự

1. Cơ quan quản lý thi hành án hình sự bao gồm:

a) Cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an;

b) Cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Quốc phòng.

2. Cơ quan thi hành án hình sự bao gồm:

a) Trại giam thuộc Bộ Công an, trại giam thuộc Bộ Quốc phòng, trại giam thuộc quân khu (sau đây gọi là trại giam);

b) Cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi là cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh);

c) Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi là cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện);

d) Cơ quan thi hành án hình sự quân khu và tương đương (sau đây gọi là cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu).

3. Cơ quan được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự bao gồm:

a) Trại tạm giam thuộc Bộ Công an, trại tạm giam thuộc Bộ Quốc phòng, trại tạm giam thuộc Công an cấp tỉnh, trại tạm giam cấp quân khu (sau đây gọi là trại tạm giam);

b) Ủy ban nhân dân cấp xã;

c) Đơn vị quân đội cấp trung đoàn và tương đương (sau đây gọi là đơn vị quân đội).

4. Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định chi tiết tổ chức bộ máy của cơ quan quản lý thi hành án hình sự, cơ quan thi hành án hình sự.

Điều 12. Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an

1. Giúp Bộ trưởng Bộ Công an thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

a) Tổ chức thi hành pháp luật về thi hành án hình sự;

b) Chỉ đạo nghiệp vụ, hướng dẫn việc áp dụng thống nhất các quy định của pháp luật về thi hành án hình sự;

c) Tổng kết công tác thi hành án hình sự.

2. Kiểm tra công tác thi hành án hình sự.

3. Quyết định đưa người chấp hành án phạt tù đến nơi chấp hành án, đưa người dưới 18 tuổi vào trường giáo dưỡng.

4. Trực tiếp quản lý trại giam, trường giáo dưỡng thuộc Bộ Công an.

5. Thực hiện chế độ thống kê, báo cáo.

6. Giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án hình sự theo quy định của Luật này và Luật Tố cáo.

7. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của Luật này và nhiệm vụ, quyền hạn do Bộ trưởng Bộ Công an giao.

Điều 13. Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Quốc phòng

1. Giúp Bộ trưởng Bộ Quốc phòng thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

a) Tổ chức thi hành pháp luật về thi hành án hình sự;

b) Chỉ đạo nghiệp vụ, hướng dẫn việc áp dụng thống nhất các quy định của pháp luật về thi hành án hình sự trong quân đội;

c) Tổng kết công tác thi hành án hình sự trong quân đội.

2. Kiểm tra công tác thi hành án hình sự trong quân đội.

3. Quyết định đưa người chấp hành án phạt tù đến nơi chấp hành án.

4. Trực tiếp quản lý trại giam thuộc Bộ Quốc phòng.

5. Thực hiện chế độ thống kê, báo cáo.

6. Giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án hình sự theo quy định của Luật này và Luật Tố cáo.

7. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của Luật này và nhiệm vụ, quyền hạn do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng giao.

Điều 14. Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh

1. Giúp Giám đốc Công an cấp tỉnh quản lý, chỉ đạo công tác thi hành án hình sự trên địa bàn cấp tỉnh:

a) Chỉ đạo nghiệp vụ và kiểm tra công tác thi hành án hình sự đối với trại tạm giam thuộc Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện;

b) Tổng kết công tác thi hành án hình sự và thực hiện chế độ thống kê, báo cáo theo hướng dẫn của cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an.

2. Tiếp nhận bản án, quyết định của Tòa án, quyết định thi hành án; hoàn chỉnh hồ sơ, lập danh sách người chấp hành án phạt tù để báo cáo, đề nghị cơ quan, người có thẩm quyền quyết định; lập hồ sơ thi hành án đối với pháp nhân thương mại.

3. Đề nghị Tòa án có thẩm quyền xem xét, quyết định tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, giảm thời hạn chấp hành án phạt tù, tha tù trước thời hạn có điều kiện đối với phạm nhân và rút ngắn thời gian thử thách đối với người được tha tù trước thời hạn có điều kiện, trưng cầu giám định pháp y tâm thần theo quy định của pháp luật.

4. Tổ chức tiếp nhận người bị kết án phạt tù do nước ngoài chuyển giao về Việt Nam chấp hành án theo quyết định của Tòa án có thẩm quyền, hoàn chỉnh hồ sơ thi hành án, báo cáo cơ quan quản lý thi hành án hình sự ra quyết định đưa đến nơi chấp hành án.

5. Tổ chức thi hành án phạt trục xuất; tham gia thi hành án tử hình; quản lý số phạm nhân phục vụ việc tạm giữ, tạm giam theo quy định của Luật này.

6. Ra quyết định truy nã và tổ chức truy bắt người chấp hành án bỏ trốn.

7. Quyết định trích xuất hoặc thực hiện lệnh trích xuất theo yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền.

8. Tổ chức thi hành hình phạt, biện pháp tư pháp đối với pháp nhân thương mại theo quy định của Luật này.

9. Cấp giấy chứng nhận chấp hành xong hình phạt, giấy chứng nhận chấp hành xong biện pháp tư pháp theo thẩm quyền.

10. Giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án hình sự theo quy định của Luật này và Luật Tố cáo.

11. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của Luật này.

Điều 15. Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu

1. Giúp Tư lệnh quân khu quản lý, chỉ đạo công tác thi hành án hình sự trên địa bàn quân khu và tương đương:

a) Chỉ đạo nghiệp vụ và kiểm tra công tác thi hành án hình sự;

b) Quản lý trại giam thuộc quân khu;

c) Tổng kết công tác thi hành án hình sự và thực hiện thống kê, báo cáo theo hướng dẫn của cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Quốc phòng.

2. Tiếp nhận bản án, quyết định của Tòa án, quyết định thi hành án; hoàn chỉnh hồ sơ, lập danh sách người chấp hành án phạt tù để báo cáo, đề nghị cơ quan, người có thẩm quyền quyết định; lập hồ sơ thi hành án đối với pháp nhân thương mại.

3. Đề nghị Tòa án có thẩm quyền xem xét, quyết định tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, giảm thời hạn chấp hành án phạt tù, tha tù trước thời hạn có điều kiện đối với phạm nhân và rút ngắn thời gian thử thách đối với người được hưởng án treo, người được tha tù trước thời hạn có điều kiện, giảm thời hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ, buộc người được hưởng án treo vi phạm nghĩa vụ phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo, hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện đối với người được tha tù trước thời hạn có điều kiện vi phạm nghĩa vụ và buộc người đó phải chấp hành phần hình phạt tù còn lại chưa chấp hành, trưng cầu giám định pháp y tâm thần theo quy định của pháp luật.

4. Áp giải thi hành án đối với người bị kết án phạt tù đang được tại ngoại, được hoãn, tạm đình chỉ, người bị Tòa án buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo, người bị Tòa án hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện.

5. Tham gia thi hành án tử hình; quản lý số phạm nhân phục vụ việc tạm giữ, tạm giam theo quy định của Luật này.

6. Ra quyết định truy nã và tổ chức truy bắt người chấp hành án bỏ trốn.

7. Quyết định trích xuất hoặc thực hiện lệnh trích xuất theo yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền.

8. Tổ chức thi hành hình phạt, biện pháp tư pháp đối với pháp nhân thương mại theo quy định của Luật này.

9. Cấp giấy chứng nhận chấp hành xong hình phạt, giấy chứng nhận chấp hành xong biện pháp tư pháp theo thẩm quyền.

10. Giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án hình sự theo quy định của Luật này và Luật Tố cáo.

11. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của Luật này.

Điều 16. Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện

1. Giúp Trưởng Công an cấp huyện quản lý, chỉ đạo công tác thi hành án hình sự trên địa bàn cấp huyện:

a) Hướng dẫn nghiệp vụ công tác thi hành án hình sự theo thẩm quyền đối với Ủy ban nhân dân cấp xã; chỉ đạo, kiểm tra Công an cấp xã trong việc giúp Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện nhiệm vụ thi hành án hình sự theo quy định của Luật này;

b) Thực hiện thống kê, báo cáo theo hướng dẫn của cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an.

2. Tiếp nhận bản án, quyết định của Tòa án, quyết định thi hành án, các tài liệu có liên quan, lập hồ sơ và tổ chức thi hành án đối với người chấp hành án treo, án phạt cải tạo không giam giữ, cấm cư trú, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, tước một số quyền công dân, quản chế; tổ chức quản lý người được hoãn, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, người được tha tù trước thời hạn có điều kiện.

3. Lập hồ sơ và báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh đề nghị Tòa án có thẩm quyền xem xét, quyết định tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, giảm thời hạn chấp hành án phạt tù, tha tù trước thời hạn có điều kiện cho phạm nhân đang chấp hành án tại nhà tạm giữ, rút ngắn thời gian thử thách cho người được tha tù trước thời hạn có điều kiện.

4. Áp giải thi hành án đối với người bị kết án phạt tù đang được tại ngoại, được hoãn, tạm đình chỉ, người bị Tòa án buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo, người bị Tòa án hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện.

5. Trực tiếp quản lý số phạm nhân phục vụ việc tạm giữ, tạm giam tại nhà tạm giữ.

6. Tống đạt quyết định thi hành án cho người bị kết án phạt tù đang ở nhà tạm giữ và báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh.

7. Lập hồ sơ và báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh để đề nghị cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an ra quyết định đưa người bị kết án phạt tù đang ở nhà tạm giữ, người được hoãn, tạm đình chỉ chấp hành án, người bị Tòa án buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo, người bị Tòa án hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện đi chấp hành án.

8. Đề nghị Tòa án có thẩm quyền xem xét, quyết định hoãn chấp hành án phạt tù cho người bị kết án phạt tù đang tại ngoại, buộc người được hưởng án treo vi phạm nghĩa vụ phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo, hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện đối với người được tha tù trước thời hạn có điều kiện vi phạm nghĩa vụ và buộc người đó phải chấp hành phần hình phạt tù còn lại chưa chấp hành, rút ngắn thời gian thử thách đối với người được hưởng án treo, giảm thời hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ, miễn chấp hành thời hạn còn lại đối với người chấp hành án phạt quản chế, cấm cư trú.

9. Đề nghị cơ quan có thẩm quyền ra quyết định truy nã người trốn thi hành án; quyết định trích xuất hoặc thực hiện lệnh trích xuất theo yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền.

10. Cấp giấy chứng nhận chấp hành xong hình phạt theo thẩm quyền.

11. Giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án hình sự theo quy định của Luật này và Luật Tố cáo.

12. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của Luật này.

Điều 17. Nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của trại giam

1. Trại giam là cơ quan thi hành án phạt tù có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

a) Tiếp nhận, tổ chức quản lý giam giữ, giáo dục cải tạo phạm nhân;

b) Thông báo cho thân nhân của phạm nhân về việc tiếp nhận phạm nhân và tình hình chấp hành án của người đó;

c) Đề nghị Tòa án có thẩm quyền xem xét, quyết định giảm thời hạn chấp hành án phạt tù, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, tha tù trước thời hạn có điều kiện đối với phạm nhân theo quy định của pháp luật;

d) Thực hiện lệnh trích xuất của cơ quan, người có thẩm quyền;

đ) Nhận tài sản, tiền mà phạm nhân, thân nhân của phạm nhân tự nguyện nộp tại trại giam để thi hành án, chuyển cho cơ quan thi hành án dân sự nơi Tòa án đã xét xử sơ thẩm vụ án có trụ sở hoặc cơ quan thi hành án dân sự được ủy thác thi hành án; nhận tài sản, tiền do cơ quan thi hành án dân sự chuyển đến để giao cho phạm nhân theo quy định của Luật Thi hành án dân sự;

e) Phối hợp với cơ quan thi hành án dân sự trong việc cung cấp thông tin về nơi chấp hành án phạt tù và việc thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự của phạm nhân, thông tin nơi về cư trú của người chấp hành xong án phạt tù, người được đặc xá, người được miễn chấp hành án phạt tù, người được tha tù trước thời hạn có điều kiện; chuyển giao giấy tờ có liên quan đến phạm nhân phải thi hành hình phạt tiền, tịch thu tài sản, các nghĩa vụ dân sự;

g) Cấp giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù, giấy chứng nhận tha tù trước thời hạn có điều kiện;

h) Làm thủ tục giải quyết trường hợp phạm nhân chết;

i) Áp giải, bàn giao phạm nhân là người nước ngoài theo quyết định của Tòa án về việc chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; tiếp nhận, tổ chức quản lý giam giữ, giáo dục cải tạo phạm nhân là công dân Việt Nam phạm tội và bị kết án phạt tù ở nước ngoài được chuyển giao về Việt Nam để chấp hành án; thực hiện các quy định của Luật này về thi hành án phạt trục xuất;

k) Thực hiện thống kê, báo cáo về thi hành án phạt tù;

l) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.

2. Giám thị trại giam có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

a) Tổ chức thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của trại giam theo quy định tại khoản 1 Điều này;

b) Ra quyết định phân loại và tổ chức giam giữ phạm nhân theo loại; quyết định xếp loại chấp hành án phạt tù, quyết định nâng, hạ loại phạm nhân, quyết định công nhận phạm nhân vi phạm kỷ luật đã tiến bộ, quyết định một số biện pháp điều tra ban đầu theo quy định của pháp luật, quyết định đình nã khi bắt được phạm nhân trốn trại giam; quyết định khen thưởng, kỷ luật phạm nhân;

c) Quyết định kiểm tra, thu giữ, xử lý đồ vật, tài liệu thuộc danh mục cấm;

d) Quyết định trích xuất phạm nhân phục vụ yêu cầu khám bệnh, chữa bệnh, quản lý, lao động, học tập; phạm nhân đến khu điều trị tại bệnh viện để phục vụ phạm nhân bị bệnh nặng không tự phục vụ bản thân được, phạm nhân có con dưới 36 tháng tuổi theo mẹ vào trại giam bị bệnh phải đưa đi bệnh viện điều trị;

đ) Ra quyết định truy nã và phối hợp tổ chức truy bắt kịp thời phạm nhân trốn trại giam.

3. Phó Giám thị trại giam thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Giám thị theo sự phân công hoặc ủy quyền của Giám thị và chịu trách nhiệm trong phạm vi công việc được giao.

4. Trại giam được tổ chức như sau:

a) Trại giam có phân trại, khu giam giữ, nhà giam; công trình phục vụ việc quản lý giam giữ, học tập, sinh hoạt, chăm sóc y tế; khu lao động, dạy nghề do trại giam quản lý; công trình phục vụ làm việc, sinh hoạt của sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, chiến sĩ, công nhân công tác tại trại giam;

b) Tổ chức bộ máy quản lý của trại giam gồm có Giám thị, Phó Giám thị, Trưởng phân trại, Phó trưởng phân trại, Đội trưởng, Phó đội trưởng; sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan; chiến sĩ và công nhân.

Giám thị, Phó Giám thị, Trưởng phân trại, Phó trưởng phân trại, Đội trưởng, Phó đội trưởng phải là người có trình độ đại học cảnh sát, đại học an ninh hoặc cử nhân luật trở lên và bảo đảm các tiêu chuẩn khác theo quy định.

5. Chính phủ quy định chi tiết khoản 4 Điều này.

Điều 18. Nhiệm vụ, quyền hạn của trại tạm giam trong thi hành án hình sự

1. Trực tiếp quản lý, giam giữ, giáo dục cải tạo phạm nhân chấp hành án tại trại tạm giam theo quy định của Luật này.

2. Lập hồ sơ đề nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định giảm thời hạn chấp hành án, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, tha tù trước thời hạn có điều kiện cho phạm nhân.

3. Cấp giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù, giấy chứng nhận tha tù trước thời hạn có điều kiện cho phạm nhân chấp hành án tại trại tạm giam thuộc Bộ Công an, trại tạm giam thuộc Bộ Quốc phòng.

4. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của Luật này.

Điều 19. Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp xã trong thi hành án hình sự

1. Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn về giám sát, giáo dục người được hưởng án treo, người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ, cấm cư trú, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, tước một số quyền công dân; quản lý người được hoãn, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, người được tha tù trước thời hạn có điều kiện; kiểm soát, giáo dục người chấp hành án phạt quản chế.

2. Công an xã, phường, thị trấn (sau đây gọi là Công an cấp xã) tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại khoản 1 Điều này.

3. Đối với huyện không có đơn vị hành chính cấp xã thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại khoản 1 Điều này.

Điều 20. Nhiệm vụ, quyền hạn của đơn vị quân đội trong thi hành án hình sự

Đơn vị quân đội thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn về giám sát, giáo dục người được hưởng án treo, người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, tước một số quyền công dân; quản lý người được hoãn, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, người được tha tù trước thời hạn có điều kiện.

Điều 21. Nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án trong thi hành án hình sự

1. Ra quyết định thi hành án; quyết định thành lập Hội đồng thi hành án tử hình.

2. Ra quyết định hoặc hủy quyết định hoãn, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, tha tù trước thời hạn có điều kiện; quyết định đình chỉ thi hành án; quyết định miễn chấp hành án, giảm thời hạn chấp hành án; quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành án phạt tù; quyết định kéo dài thời hạn trục xuất; quyết định rút ngắn thời gian thử thách đối với người được hưởng án treo, người được tha tù trước thời hạn có điều kiện.

3. Xem xét, giải quyết việc cho nhận tử thi của người bị thi hành án tử hình.

4. Gửi bản án, quyết định được thi hành và quyết định quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, tài liệu có liên quan cho cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định của Luật này.

5. Ra quyết định tiếp nhận phạm nhân là công dân Việt Nam phạm tội và bị kết án phạt tù ở nước ngoài được chuyển giao về Việt Nam để chấp hành án, chuyển giao phạm nhân là người nước ngoài.

6. Ra quyết định trưng cầu giám định pháp y tâm thần đối với phạm nhân có dấu hiệu mắc bệnh tâm thần, bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình.

7. Thực hiện chế độ thống kê, báo cáo về thi hành án hình sự theo thẩm quyền.

8. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của Luật này.

Chương III

THI HÀNH ÁN PHẠT TÙ

Mục 1. THỦ TỤC THI HÀNH ÁN PHẠT TÙ VÀ CHẾ ĐỘ QUẢN LÝ GIAM GIỮ, GIÁO DỤC PHẠM NHÂN

Điều 22. Quyết định thi hành án phạt tù

1. Quyết định thi hành án phạt tù phải ghi rõ họ, tên, chức vụ người ra quyết định; bản án, quyết định được thi hành; tên cơ quan có nhiệm vụ thi hành quyết định thi hành án; họ, tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú của người bị kết án; thời hạn chấp hành án phạt tù, thời hạn chấp hành hình phạt bổ sung. Trường hợp người bị kết án đang tại ngoại, quyết định thi hành án phải ghi rõ trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được quyết định, người bị kết án phải có mặt tại cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người đó cư trú, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi người đó làm việc.

2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định thi hành án phạt tù, Tòa án phải gửi quyết định đó cho cá nhân, cơ quan sau đây:

a) Người chấp hành án và người đại diện trong trường hợp người chấp hành án là người dưới 18 tuổi;

b) Viện kiểm sát cùng cấp;

c) Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh hoặc cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu;

d) Trại tạm giam nơi người chấp hành án đang bị tạm giam hoặc cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người chấp hành án đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ hoặc đang tại ngoại;

đ) Sở Tư pháp nơi Tòa án đã ra quyết định thi hành án có trụ sở;

e) Bộ Ngoại giao trong trường hợp người chấp hành án là người nước ngoài.

Điều 23. Thi hành quyết định thi hành án phạt tù

1. Trường hợp người bị kết án phạt tù đang bị tạm giam thì trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định thi hành án, trại tạm giam thuộc Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người bị kết án phạt tù đang bị tạm giam phải tống đạt quyết định thi hành án cho người bị kết án và báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh hoàn chỉnh hồ sơ, lập danh sách người chấp hành án phạt tù để báo cáo cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an. Trường hợp người bị kết án phạt tù đang bị tạm giam tại trại tạm giam thuộc Bộ Công an thì trại tạm giam phải tống đạt quyết định thi hành án cho người bị kết án, hoàn chỉnh hồ sơ, lập danh sách để báo cáo cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an. Trường hợp người đang chấp hành án bị kết án về hành vi phạm tội khác thì trại giam tống đạt quyết định thi hành án của bản án mới cho người đó.

Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo của cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh hoặc trại tạm giam thuộc Bộ Công an, cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an ra quyết định đưa người chấp hành án đi chấp hành án.

2. Trường hợp người bị kết án phạt tù đang bị tạm giam tại trại tạm giam cấp quân khu thì trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định thi hành án, trại tạm giam phải tống đạt quyết định thi hành án cho người bị kết án và báo cáo cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu hoàn chỉnh hồ sơ, lập danh sách người chấp hành án phạt tù để báo cáo cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Quốc phòng. Trường hợp người bị kết án phạt tù đang bị tạm giam tại trại tạm giam thuộc Bộ Quốc phòng thì trại tạm giam phải tống đạt quyết định thi hành án cho người bị kết án, hoàn chỉnh hồ sơ, lập danh sách để báo cáo cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Quốc phòng. Trường hợp người đang chấp hành án bị kết án về hành vi phạm tội khác thì trại giam tống đạt quyết định thi hành án của bản án mới cho người đó.

Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo của cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu hoặc trại tạm giam thuộc Bộ Quốc phòng, cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Quốc phòng ra quyết định đưa người chấp hành án đi chấp hành án.

3. Trong thời gian chờ chuyển đến nơi chấp hành án phạt tù, người chấp hành án được hưởng chế độ như đối với phạm nhân.

4. Trường hợp người bị kết án phạt tù đang tại ngoại thì trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được quyết định thi hành án, người chấp hành án phải có mặt tại trụ sở cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện hoặc cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu được chỉ định trong quyết định thi hành án; quá thời hạn này mà người đó không có mặt, Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp hoặc Vệ binh hỗ trợ tư pháp thực hiện áp giải thi hành án.

Trường hợp người bị kết án phạt tù đang tại ngoại bỏ trốn thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu ra quyết định truy nã và tổ chức truy bắt; trường hợp người đó có dấu hiệu mắc bệnh tâm thần, bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện hoặc cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu thực hiện trưng cầu giám định; trường hợp kết quả giám định xác định người đó mắc bệnh tâm thần, bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu đề nghị Tòa án đã ra quyết định thi hành án quyết định áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh.

Trường hợp người bị kết án phạt tù đang tại ngoại chết thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu báo cáo Tòa án đã ra quyết định thi hành án để ra quyết định đình chỉ thi hành án.

Điều 24. Thủ tục hoãn chấp hành án phạt tù

1. Đối với người bị kết án phạt tù đang được tại ngoại, Chánh án Tòa án đã ra quyết định thi hành án có thể tự mình hoặc theo đơn đề nghị của người bị kết án, văn bản đề nghị của Viện kiểm sát cùng cấp, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người chấp hành án cư trú, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi người chấp hành án làm việc hoặc cư trú ra quyết định hoãn chấp hành án phạt tù. Đơn đề nghị hoặc văn bản đề nghị phải được gửi cho Tòa án đã ra quyết định thi hành án kèm theo các giấy tờ có liên quan.

2. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được đơn hoặc văn bản đề nghị hoãn chấp hành án phạt tù, Chánh án Tòa án đã ra quyết định thi hành án phải xem xét, quyết định. Trường hợp không đồng ý hoãn chấp hành án phạt tù thì Chánh án Tòa án phải có văn bản trả lời người có đơn đề nghị hoặc cơ quan có văn bản đề nghị và thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp, trong đó nêu rõ lý do không chấp nhận.

3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định hoãn chấp hành án phạt tù, Tòa án phải gửi quyết định đó cho cá nhân, cơ quan sau đây:

a) Người được hoãn chấp hành án và người đại diện trong trường hợp người được hoãn chấp hành án là người dưới 18 tuổi;

b) Viện kiểm sát cùng cấp;

c) Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện hoặc Cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi người được hoãn thi hành án cư trú, làm việc;

d) Sở Tư pháp nơi Tòa án đã ra quyết định thi hành án có trụ sở;

đ) Bộ Ngoại giao trong trường hợp người được hoãn chấp hành án là người nước ngoài.

Điều 25. Thi hành quyết định hoãn chấp hành án phạt tù

1. Khi nhận được quyết định hoãn chấp hành án phạt tù của Tòa án, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu phải ngừng việc làm thủ tục đưa người chấp hành án phạt tù đi chấp hành án, sao gửi quyết định hoãn chấp hành án phạt tù cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người được hoãn chấp hành án cư trú hoặc đơn vị quân đội được giao quản lý người đó và lập hồ sơ thi hành quyết định hoãn chấp hành án phạt tù.

2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định hoãn chấp hành án phạt tù, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu phải triệu tập người được hoãn chấp hành án đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú hoặc đơn vị quân đội đang quản lý người đó để thông báo quyết định và yêu cầu người đó cam kết bằng văn bản chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật. Người được hoãn chấp hành án phạt tù phải có mặt theo giấy triệu tập, trừ trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Trường hợp người được hoãn chấp hành án phạt tù không cam kết thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu lập biên bản và thông báo cho Tòa án đã ra quyết định hoãn chấp hành án phạt tù để xử lý theo thẩm quyền.

Trường hợp người được hoãn chấp hành án không có mặt theo yêu cầu triệu tập thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội để xác minh và yêu cầu họ có mặt tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội để làm thủ tục thông báo và cam kết chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật.

Trường hợp người được hoãn chấp hành án vì lý do bệnh nặng đang điều trị tại bệnh viện hoặc tại nhà mà không thể có mặt theo yêu cầu triệu tập thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội và bệnh viện nơi điều trị, gia đình người được hoãn để làm thủ tục thông báo và cam kết chấp hành pháp luật.

3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được bản sao quyết định hoãn chấp hành án phạt tù, Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý người được hoãn chấp hành án phải lập hồ sơ quản lý người được hoãn chấp hành án phạt tù.

Hằng tháng, Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý người được hoãn chấp hành án phạt tù phải báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu về việc quản lý người được hoãn chấp hành án.

Người được hoãn chấp hành án không được đi khỏi nơi cư trú trong thời gian được hoãn chấp hành án nếu không được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội và phải có mặt theo yêu cầu triệu tập của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý người được hoãn chấp hành án.

Việc thay đổi nơi cư trú, nơi làm việc của người được hoãn chấp hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật này.

Trường hợp người được hoãn chấp hành án vì lý do bệnh nặng đang điều trị tại bệnh viện ngoài nơi cư trú thì Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội có trách nhiệm phối hợp với gia đình để quản lý người đó.

4. Trong thời gian được hoãn chấp hành án mà người được hoãn chấp hành án phạt tù lại thực hiện hành vi phạm tội mới, bỏ trốn hoặc vi phạm pháp luật gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội thì Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý người được hoãn chấp hành án báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu để đề nghị Chánh án Tòa án có thẩm quyền xem xét ra quyết định hủy quyết định hoãn chấp hành án phạt tù.

Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định hủy quyết định hoãn chấp hành án phạt tù, Tòa án phải gửi quyết định đó cho cá nhân, cơ quan được quy định tại khoản 3 Điều 24 của Luật này. Ngay sau khi nhận được quyết định của Tòa án, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu tổ chức thi hành án.

Trường hợp người được hoãn chấp hành án bỏ trốn thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu ra quyết định truy nã và tổ chức truy bắt.

5. Trong thời gian được hoãn chấp hành án phạt tù mà người được hoãn chấp hành án chết thì Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý người được hoãn chấp hành án phải báo cáo cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu để thông báo cho Tòa án đã ra quyết định hoãn chấp hành án phạt tù ra quyết định đình chỉ thi hành án và giải quyết các thủ tục có liên quan.

6. Chậm nhất 07 ngày trước khi hết thời hạn hoãn chấp hành án phạt tù, Chánh án Tòa án đã quyết định hoãn chấp hành án phạt tù phải thông báo bằng văn bản về việc hết thời hạn hoãn và gửi ngay cho cá nhân, cơ quan quy định tại khoản 3 Điều 24 của Luật này. Sau thời hạn 07 ngày kể từ ngày hết thời hạn hoãn chấp hành án phạt tù mà người được hoãn không có mặt tại cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu để chấp hành án thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu ra quyết định áp giải thi hành án trừ trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan.

7. Đối với người được hoãn chấp hành án phạt tù vì lý do bị bệnh nặng, nếu xét thấy có dấu hiệu phục hồi sức khỏe mà vẫn lấy lý do về sức khỏe để trốn tránh việc chấp hành án hoặc người được hoãn chấp hành án phạt tù có dấu hiệu mắc bệnh tâm thần, bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người được hoãn chấp hành án phạt tù cư trú, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi đơn vị quân đội được giao quản lý người đó có trách nhiệm trưng cầu giám định y khoa tại bệnh viện cấp tỉnh, bệnh viện cấp quân khu trở lên hoặc trưng cầu giám định pháp y tâm thần tại tổ chức giám định pháp y tâm thần có thẩm quyền.

Trường hợp kết quả giám định xác định người được hoãn chấp hành án đã phục hồi sức khỏe thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu thực hiện việc đưa người đó đến nơi chấp hành án và thông báo cho Tòa án đã ra quyết định hoãn chấp hành án.

Trường hợp kết quả giám định xác định người đó mắc bệnh tâm thần, bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu đề nghị Chánh án Tòa án đã ra quyết định thi hành án để ra quyết định hủy quyết định hoãn chấp hành án và áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh.

Chi phí giám định do cơ quan trưng cầu giám định chi trả.

Điều 26. Hồ sơ đưa người bị kết án đến nơi chấp hành án phạt tù

1. Hồ sơ đưa người bị kết án đến nơi chấp hành án phạt tù phải có đủ các tài liệu sau đây:

a) Bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật; trường hợp xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm thì phải có bản án sơ thẩm kèm theo;

b) Quyết định thi hành án phạt tù;

c) Quyết định của cơ quan quản lý thi hành án hình sự đưa người chấp hành án phạt tù đến trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện;

d) Danh bản của người chấp hành án phạt tù;

đ) Bản sao hộ chiếu hoặc giấy tờ chứng minh quốc tịch đối với người chấp hành án phạt tù là người nước ngoài;

e) Phiếu khám sức khỏe và tài liệu khác có liên quan đến sức khỏe của người chấp hành án phạt tù;

g) Bản nhận xét việc chấp hành nội quy của trại tạm giam, nhà tạm giữ đối với người bị tạm giam;

h) Tài liệu khác có liên quan.

2. Trường hợp con của người bị kết án phạt tù theo mẹ vào trại giam thì phải có giấy khai sinh. Trường hợp chưa có giấy khai sinh thì phải có giấy chứng sinh do cơ quan y tế nơi trẻ em được sinh ra cấp hoặc văn bản của người làm chứng nếu trẻ em được sinh ra ngoài cơ sở y tế; trường hợp không có các giấy tờ nêu trên thì phải có báo cáo bằng văn bản của cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, trại tạm giam chuyển người bị kết án phạt tù đến trại giam để chấp hành án kèm theo giấy cam đoan của mẹ về việc sinh con. Trại giam có trách nhiệm tổ chức thực hiện việc đăng ký khai sinh cho trẻ em theo mẹ vào trại giam theo quy định của pháp luật về đăng ký, quản lý hộ tịch.

3. Cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an, cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Quốc phòng, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu có trách nhiệm hoàn chỉnh hồ sơ quy định tại khoản 1 Điều này, tổ chức đưa người bị kết án phạt tù và hồ sơ kèm theo đến bàn giao cho trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện đã được chỉ định để thi hành án.

Điều 27. Quyền và nghĩa vụ của phạm nhân

1. Phạm nhân có các quyền sau đây:

a) Được bảo hộ tính mạng, sức khỏe, tài sản, tôn trọng danh dự, nhân phẩm; được phổ biến quyền và nghĩa vụ của mình, nội quy cơ sở giam giữ phạm nhân;

b) Được bảo đảm chế độ ăn, ở, mặc, đồ dùng sinh hoạt cá nhân, chăm sóc y tế theo quy định; gửi, nhận thư, nhận quà, tiền; đọc sách, báo, nghe đài, xem truyền hình phù hợp với điều kiện của nơi chấp hành án;

c) Được tham gia hoạt động thể dục, thể thao, sinh hoạt văn hóa, văn nghệ;

d) Được lao động, học tập, học nghề;

đ) Được gặp, liên lạc với thân nhân, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân; đối với phạm nhân là người nước ngoài được thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự;

e) Được tự mình hoặc thông qua người đại diện để thực hiện giao dịch dân sự theo quy định của pháp luật;

g) Được bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo; được đề nghị xét đặc xá, bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật;

h) Được tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, hưởng chế độ, chính sách về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật;

i) Được sử dụng kinh sách, bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo theo quy định của pháp luật;

k) Được khen thưởng khi có thành tích trong quá trình chấp hành án.

2. Phạm nhân có các nghĩa vụ sau đây:

a) Chấp hành bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, quyết định của cơ quan quản lý thi hành án hình sự, cơ quan thi hành án hình sự trong quá trình thi hành án hình sự và các quyết định khác của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

b) Chấp hành nội quy của cơ sở giam giữ phạm nhân, các tiêu chuẩn thi đua chấp hành án;

c) Chấp hành yêu cầu, mệnh lệnh, hướng dẫn của cán bộ cơ sở giam giữ phạm nhân;

d) Lao động, học tập, học nghề theo quy định;

đ) Phạm nhân làm hư hỏng, làm mất hoặc hủy hoại tài sản của người khác thì phải bồi thường.

3. Phạm nhân có quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của Luật này.

Điều 28. Tiếp nhận người chấp hành án phạt tù

1. Trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện được chỉ định thi hành án phải tiếp nhận người chấp hành án phạt tù khi có đủ hồ sơ quy định tại khoản 1 Điều 26 của Luật này.

2. Khi tiếp nhận người chấp hành án phạt tù, trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện có trách nhiệm sau đây:

a) Kiểm tra thông tin để xác định đúng người chấp hành án phạt tù theo quyết định thi hành án của Tòa án;

b) Lập biên bản giao nhận người chấp hành án phạt tù; biên bản bàn giao hồ sơ, tài liệu;

c) Kiểm tra người chấp hành án phạt tù; kiểm tra và xử lý đồ vật mang theo trước khi đưa vào buồng giam;

d) Tổ chức khám sức khỏe cho người chấp hành án phạt tù và trẻ em dưới 36 tháng tuổi theo mẹ vào trại giam (nếu có);

đ) Giải thích quyền, nghĩa vụ của phạm nhân; phổ biến nội quy cơ sở giam giữ phạm nhân.

3. Cơ quan tiếp nhận phổ biến cho phạm nhân thực hiện các quy định sau đây:

a) Chỉ được đưa vào buồng giam những đồ dùng theo quy định; trường hợp có tư trang chưa dùng đến, có tiền, giấy tờ có giá, các loại thẻ thanh toán bằng hình thức điện tử, vàng, bạc, đá quý, kim loại quý thì phải gửi trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện quản lý; trường hợp phạm nhân có nhu cầu được chuyển số tiền, đồ dùng, tư trang cho thân nhân hoặc người đại diện và tự chịu chi phí thì trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện có trách nhiệm thực hiện việc chuyển hoặc giao trực tiếp cho thân nhân hoặc người đại diện của phạm nhân tại nơi chấp hành án;

b) Không được sử dụng tiền, giấy tờ có giá tại nơi chấp hành án. Việc phạm nhân mua lương thực, thực phẩm và các hàng hóa khác để phục vụ đời sống, sinh hoạt tại nơi chấp hành án được thực hiện bằng hình thức mua qua sổ lưu ký;

c) Không được đưa vào nơi chấp hành án đồ vật thuộc danh mục cấm do Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định.

4. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận người chấp hành án, trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện phải thông báo cho Tòa án đã ra quyết định thi hành án, thân nhân của người chấp hành án phạt tù biết và báo cáo cơ quan quản lý thi hành án hình sự.

Điều 29. Hồ sơ phạm nhân

1. Hồ sơ, tài liệu theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 26 của Luật này.

2. Biên bản giao nhận người chấp hành án phạt tù; biên bản bàn giao hồ sơ, tài liệu; biên bản giao nhận tiền, tài sản khác của người chấp hành án phạt tù gửi lưu ký hoặc giao cho thân nhân, người đại diện của họ quản lý; quyết định, biên bản xử lý đồ vật thuộc danh mục cấm (nếu có).

3. Tài liệu phản ánh kết quả chấp hành các quy định về thi hành án phạt tù; tài liệu về sức khỏe, khám bệnh, chữa bệnh; tài liệu liên quan đến việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của người chấp hành án phạt tù trong thời gian chấp hành án; tài liệu về việc thực hiện nghĩa vụ dân sự; biên bản, quyết định kỷ luật về việc vi phạm nội quy cơ sở giam giữ phạm nhân, pháp luật về thi hành án phạt tù, tài liệu liên quan đến việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, yêu cầu, đề nghị của người chấp hành án, tài liệu về thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự (nếu có).

4. Tài liệu khác có liên quan trong quá trình chấp hành án.

Điều 30. Giam giữ phạm nhân

1. Trại giam tổ chức giam giữ phạm nhân như sau:

a) Khu giam giữ đối với phạm nhân có mức án phạt tù trên 15 năm, tù chung thân, phạm nhân thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm;

b) Khu giam giữ đối với phạm nhân có mức án phạt tù từ 15 năm trở xuống; phạm nhân có mức án phạt tù trên 15 năm đã được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù và thời hạn chấp hành án còn lại dưới 15 năm; phạm nhân thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, đã chấp hành một phần hai thời hạn chấp hành án phạt tù và đã được giảm thời hạn chấp hành án;

c) Buồng kỷ luật đối với phạm nhân bị kỷ luật.

2. Trong các khu giam giữ quy định tại khoản 1 Điều này, những phạm nhân dưới đây được bố trí giam giữ riêng:

a) Phạm nhân nữ;

b) Phạm nhân là người dưới 18 tuổi;

c) Phạm nhân là người nước ngoài;

d) Phạm nhân là người mắc bệnh truyền nhiễm nhóm A theo quy định của Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm;

đ) Phạm nhân có dấu hiệu mắc bệnh tâm thần, bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình trong thời gian chờ quyết định của Tòa án;

e) Phạm nhân có con dưới 36 tháng tuổi theo mẹ vào trại giam;

g) Phạm nhân thường xuyên vi phạm nội quy cơ sở giam giữ phạm nhân.

3. Phạm nhân là người đồng tính, người chuyển đổi giới tính, người chưa xác định rõ giới tính có thể được giam giữ riêng.

4. Trong trại tạm giam, những phạm nhân quy định tại điểm a và điểm g khoản 2 Điều này được bố trí giam giữ riêng.

5. Phạm nhân được chia thành các đội, tổ để lao động, học tập và sinh hoạt. Căn cứ vào tính chất của tội phạm, mức hình phạt, đặc điểm nhân thân của phạm nhân, kết quả chấp hành án, Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam quyết định việc phân loại, chuyển khu giam giữ.

Điều 31. Chế độ học tập, học nghề của phạm nhân

1. Phạm nhân được phổ biến pháp luật, giáo dục công dân và được học văn hóa, học nghề. Phạm nhân chưa biết chữ phải học văn hóa để xóa mù chữ. Phạm nhân là người nước ngoài được khuyến khích học tiếng Việt. Phạm nhân được bố trí 01 ngày trong tuần để học tập, học nghề, trừ ngày chủ nhật, lễ, tết theo quy định của pháp luật.

2. Căn cứ yêu cầu quản lý, giáo dục cải tạo phạm nhân và thời hạn chấp hành án, trại giam, trại tạm giam tổ chức dạy học cho phạm nhân; căn cứ điều kiện thực tế, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện tổ chức dạy học cho phạm nhân.

3. Chương trình, nội dung học tập, học nghề của phạm nhân do Chính phủ quy định.

Điều 32. Chế độ lao động của phạm nhân

1. Phạm nhân được tổ chức lao động phù hợp với độ tuổi, sức khỏe và đáp ứng yêu cầu quản lý, giáo dục, hòa nhập cộng đồng. Phạm nhân lao động phải dưới sự giám sát, quản lý của trại giam, trại tạm giam. Thời giờ lao động của phạm nhân không quá 08 giờ trong 01 ngày và 05 ngày trong 01 tuần, được nghỉ vào các ngày chủ nhật, lễ, tết theo quy định của pháp luật. Trường hợp đột xuất hoặc thời vụ, Giám thị trại giam có thể yêu cầu phạm nhân làm thêm giờ nhưng không được vượt quá tổng số giờ làm thêm trong ngày theo quy định của pháp luật về lao động. Trường hợp phạm nhân lao động thêm giờ hoặc lao động trong ngày nghỉ thì được nghỉ bù hoặc được bồi dưỡng bằng tiền, hiện vật.

Trại giam phải áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động cho phạm nhân.

2. Phạm nhân nữ được bố trí làm công việc phù hợp với giới tính; không được bố trí làm công việc không sử dụng lao động nữ theo quy định của pháp luật về lao động.

3. Phạm nhân bị bệnh hoặc có nhược điểm về thể chất, tâm thần thì tùy mức độ, tính chất của bệnh và trên cơ sở chỉ định của y tế trại giam, trại tạm giam được miễn hoặc giảm thời gian lao động.

4. Phạm nhân được nghỉ lao động trong các trường hợp sau đây:

a) Phạm nhân bị bệnh, không đủ sức khỏe lao động và được y tế trại giam xác nhận;

b) Phạm nhân đang điều trị tại cơ sở y tế;

c) Phạm nhân có con dưới 36 tháng tuổi đang ở cùng mẹ trong trại giam mà bị bệnh, được y tế trại giam xác nhận;

d) Phạm nhân nữ có thai được nghỉ lao động trước và sau khi sinh con theo quy định của pháp luật về lao động.

Điều 33. Tổ chức lao động cho phạm nhân

1. Căn cứ vào độ tuổi, sức khỏe, giới tính, mức án, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của phạm nhân; điều kiện đất đai, tài nguyên, ngành, nghề, trang thiết bị, phương tiện, vật tư, nguồn vốn mà trại giam đang quản lý và điều kiện cụ thể của trại giam; khả năng hợp tác với tổ chức, cá nhân để tổ chức lao động cho phạm nhân, Giám thị trại giam lập kế hoạch tổ chức lao động cho phạm nhân trong năm, gửi cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an, cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Quốc phòng để phê duyệt.

2. Kế hoạch tổ chức lao động cho phạm nhân hằng năm phải có các nội dung cơ bản sau đây:

a) Tổng số phạm nhân, trong đó có số lượng phạm nhân đủ điều kiện lao động theo quy định của pháp luật;

b) Dự kiến chi phí cho lao động; trích khấu hao tài sản cố định;

c) Dự kiến kết quả lao động của phạm nhân; chênh lệch thu, chi trong tổ chức lao động của phạm nhân;

d) Dự kiến, đề xuất kế hoạch sử dụng kết quả lao động của phạm nhân.

3. Trại giam tổ chức lao động cho phạm nhân theo kế hoạch đã được cấp có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều này phê duyệt.

4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Điều 34. Sử dụng kết quả lao động của phạm nhân

1. Kết quả lao động của phạm nhân sau khi trừ các chi phí hợp lý được sử dụng như sau:

a) Bổ sung mức ăn cho phạm nhân;

b) Lập Quỹ hòa nhập cộng đồng để chi hỗ trợ cho phạm nhân khi chấp hành xong án phạt tù;

c) Bổ sung vào quỹ phúc lợi, khen thưởng của trại giam;

d) Chi hỗ trợ đầu tư trở lại cho trại giam phục vụ việc tổ chức lao động, giáo dục, dạy nghề cho phạm nhân; nâng cao tay nghề cho phạm nhân chuẩn bị chấp hành xong án phạt tù;

đ) Chi trả một phần công lao động cho phạm nhân trực tiếp tham gia lao động sản xuất; chi hỗ trợ cho phạm nhân bị tai nạn lao động.

2. Phạm nhân được sử dụng theo quy định số tiền thưởng quy định tại điểm c khoản 1 Điều này và số tiền được nhận quy định tại điểm đ khoản 1 Điều này hoặc gửi trại giam quản lý và được nhận lại khi chấp hành xong án phạt tù.

3. Việc thu, chi từ hoạt động lao động, học nghề của phạm nhân được thực hiện như sau:

a) Trại giam mở sổ sách kế toán và việc ghi chép, hạch toán nghiệp vụ thu, chi tài chính phát sinh, báo cáo tài chính thực hiện theo chế độ kế toán hành chính sự nghiệp. Mọi khoản thu, chi từ hoạt động lao động, học nghề của phạm nhân được phản ánh qua hệ thống sổ sách tài vụ - kế toán của trại giam;

b) Trại giam tập hợp đầy đủ các chi phí quy định tại khoản 1 Điều này vào giá thành sản phẩm;

c) Báo cáo kết quả thu, chi từ hoạt động lao động của phạm nhân trong các trại giam là báo cáo tổng hợp về số liệu, tình hình và kết quả thu, chi từ hoạt động tổ chức lao động cho phạm nhân. Giám thị trại giam chịu trách nhiệm lập báo cáo tổng hợp và báo cáo thuyết minh chi tiết về kết quả thu, chi từ hoạt động lao động của phạm nhân gửi cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng;

d) Cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng chịu trách nhiệm thẩm định và phê duyệt báo cáo kết quả thu, chi từ hoạt động lao động của phạm nhân và báo cáo cơ quan quản lý tài chính của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng để tổng hợp chung vào báo cáo quyết toán ngân sách hằng năm của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng theo quy định của pháp luật.

4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Điều 35. Xếp loại chấp hành án phạt tù

1. Trong thời gian chấp hành án phạt tù, phạm nhân được nhận xét, đánh giá kết quả chấp hành án phạt tù theo tuần, tháng, quý, 06 tháng, 01 năm. Việc nhận xét, đánh giá phải bảo đảm khách quan, công bằng, công khai, dân chủ và bảo đảm tính liên tục.

2. Căn cứ kết quả thực hiện các tiêu chuẩn thi đua chấp hành án phạt tù, nội quy cơ sở giam giữ phạm nhân, học tập, lao động cải tạo, kết quả khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội gây ra để nhận xét, đánh giá và xếp loại chấp hành án phạt tù cho phạm nhân theo một trong các mức tốt, khá, trung bình, kém.

3. Kết quả xếp loại chấp hành án phạt tù theo quý, 06 tháng, 01 năm phải bằng văn bản, được lưu hồ sơ phạm nhân. Phạm nhân lập công thì được nâng mức xếp loại chấp hành án phạt tù.

4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Điều 36. Thủ tục đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù

1. Thẩm quyền đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù được quy định như sau:

a) Trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng;

b) Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu;

c) Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu.

2. Cơ quan có thẩm quyền nơi phạm nhân đang chấp hành án quy định tại khoản 1 Điều này có trách nhiệm lập hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù và chuyển cho Tòa án có thẩm quyền xem xét, quyết định.

3. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh án Tòa án quân sự cấp quân khu nơi phạm nhân đang chấp hành án phải xem xét, quyết định. Trường hợp không đồng ý tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù thì Chánh án Tòa án phải có văn bản thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp và cơ quan đề nghị tạm đình chỉ, trong đó nêu rõ lý do không chấp nhận.

4. Việc tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù để xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm do người đã kháng nghị quyết định.

Điều 37. Thi hành quyết định tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù

1. Ngay sau khi ra quyết định tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, Tòa án phải gửi quyết định đó cho cá nhân, cơ quan sau đây:

a) Người được tạm đình chỉ và người đại diện trong trường hợp người được tạm đình chỉ là người dưới 18 tuổi;

b) Cơ quan đề nghị tạm đình chỉ, trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người được tạm đình chỉ đang chấp hành án;

c) Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người được tạm đình chỉ về cư trú, đơn vị quân đội được giao quản lý người đó;

d) Viện kiểm sát cùng cấp;

đ) Tòa án đã ra quyết định thi hành án;

e) Sở Tư pháp nơi Tòa án đã ra quyết định tạm đình chỉ có trụ sở;

g) Bộ Ngoại giao trong trường hợp người được tạm đình chỉ là người nước ngoài.

2. Trường hợp Viện trưởng Viện kiểm sát quyết định tạm đình chỉ thi hành án phạt tù thì phải gửi quyết định đó cho Sở Tư pháp nơi Viện kiểm sát đã ra quyết định có trụ sở và cá nhân, cơ quan quy định tại các điểm a, b, c, đ và g khoản 1 Điều này.

3. Trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện đang quản lý người được tạm đình chỉ tổ chức giao người được tạm đình chỉ cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó về cư trú, đơn vị quân đội được giao quản lý người đó; thân nhân của người được tạm đình chỉ có trách nhiệm tiếp nhận người được tạm đình chỉ.

Trường hợp người được tạm đình chỉ bị bệnh nặng đang phải điều trị tại bệnh viện thì trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện giao người được tạm đình chỉ cho thân nhân người đó tại bệnh viện, lập biên bản giao người, thông báo và gửi biên bản giao người cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu. Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người đó về cư trú, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu được giao quản lý có trách nhiệm phối hợp với thân nhân của người đó để theo dõi, quản lý người được tạm đình chỉ trong thời gian người đó điều trị tại bệnh viện. Trường hợp người được tạm đình chỉ xuất viện thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người đó về cư trú, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu được giao quản lý giao người được tạm đình chỉ cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó về cư trú, đơn vị quân đội được giao quản lý.

4. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi người được tạm đình chỉ về cư trú có trách nhiệm lập hồ sơ thi hành quyết định tạm đình chỉ.

Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận bàn giao người được tạm đình chỉ hoặc biên bản giao người được tạm đình chỉ, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người được tạm đình chỉ về cư trú, đơn vị quân đội được giao quản lý người được tạm đình chỉ có trách nhiệm lập hồ sơ quản lý người được tạm đình chỉ.

Trong thời gian tạm đình chỉ, người được tạm đình chỉ không được đi khỏi nơi cư trú nếu không được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó về cư trú, đơn vị quân đội được giao quản lý; báo cáo về tình hình chấp hành pháp luật theo yêu cầu của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó về cư trú, đơn vị quân đội được giao quản lý; phải tự giác trình báo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu khi hết thời hạn tạm đình chỉ hoặc khi sức khỏe hồi phục để tiếp tục chấp hành án.

Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó về cư trú, đơn vị quân đội được giao quản lý người được tạm đình chỉ có trách nhiệm theo dõi, giám sát người được tạm đình chỉ, xem xét, giải quyết cho người đó được đi khỏi nơi cư trú, nơi làm việc; triệu tập người được tạm đình chỉ để yêu cầu báo cáo việc chấp hành pháp luật trong thời gian tạm đình chỉ; hằng tháng phải báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu về việc quản lý người được tạm đình chỉ.

5. Việc tiếp tục thi hành án đối với người được tạm đình chỉ thực hiện như sau:

a) Chậm nhất 07 ngày trước khi hết thời hạn tạm đình chỉ, Chánh án Tòa án đã quyết định tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù phải thông báo bằng văn bản và gửi ngay thông báo đó cho cá nhân, cơ quan quy định tại khoản 1 Điều này. Sau thời hạn 07 ngày kể từ ngày hết thời hạn tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù mà người được tạm đình chỉ không có mặt tại cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu để chấp hành án thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu ra quyết định áp giải thi hành án, trừ trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan;

b) Đối với người được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù vì lý do bị bệnh nặng, nếu xét thấy có dấu hiệu phục hồi sức khỏe mà vẫn lấy lý do về sức khỏe để trốn tránh việc chấp hành án hoặc người được tạm đình chỉ chấp hành án có dấu hiệu mắc bệnh tâm thần, bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người được tạm đình chỉ cư trú, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi đơn vị được giao quản lý người đó có trách nhiệm trưng cầu giám định y khoa tại bệnh viện cấp tỉnh, bệnh viện cấp quân khu trở lên hoặc trưng cầu giám định pháp y tâm thần tại tổ chức giám định pháp y tâm thần có thẩm quyền.

Trường hợp kết quả giám định xác định người được tạm đình chỉ chấp hành án đã phục hồi sức khỏe thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu thực hiện việc đưa người đó đến nơi chấp hành án và thông báo cho Tòa án đã ra quyết định tạm đình chỉ.

Trường hợp kết quả giám định xác định người đó mắc bệnh tâm thần, bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu đề nghị Tòa án đã ra quyết định thi hành án để ra quyết định hủy quyết định tạm đình chỉ và áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh.

Chi phí giám định do cơ quan trưng cầu giám định chi trả.

6. Trong thời gian được tạm đình chỉ, người được tạm đình chỉ lại thực hiện hành vi phạm tội mới, bỏ trốn hoặc vi phạm pháp luật gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người được tạm đình chỉ cư trú, đơn vị quân đội được giao quản lý người tạm đình chỉ báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu để thông báo cho Tòa án đã ra quyết định tạm đình chỉ. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo, Tòa án đã ra quyết định tạm đình chỉ phải xem xét ra quyết định hủy quyết định tạm đình chỉ và gửi quyết định đó cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu, Viện kiểm sát cùng cấp.

Trường hợp người được tạm đình chỉ bỏ trốn, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu ra quyết định truy nã và tổ chức truy bắt.

7. Trường hợp người được tạm đình chỉ chết, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú, đơn vị quân đội được giao quản lý người đó báo cáo cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu để thông báo cho Tòa án đã ra quyết định tạm đình chỉ và Tòa án đã ra quyết định thi hành án. Trường hợp người được tạm đình chỉ chết khi đang điều trị tại bệnh viện theo quy định tại khoản 3 Điều này thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu thông báo cho Tòa án đã ra quyết định tạm đình chỉ và Tòa án đã ra quyết định thi hành án, Viện kiểm sát cùng cấp.

Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo, Tòa án đã ra quyết định thi hành án phải ra quyết định đình chỉ thi hành án và gửi cho cơ quan quy định tại các điểm b, c, d, e và g khoản 1 Điều này và Tòa án đã ra quyết định tạm đình chỉ thi hành án.

Điều 38. Thủ tục giảm thời hạn chấp hành án phạt tù

1. Cơ quan có thẩm quyền quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 36 của Luật này có quyền đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù.

2. Cơ quan có thẩm quyền đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù có trách nhiệm lập hồ sơ và chuyển cho Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu nơi phạm nhân đang chấp hành án xem xét, quyết định, đồng thời gửi 01 bộ hồ sơ đến Viện kiểm sát cùng cấp với Tòa án. Hồ sơ bao gồm:

a) Bản sao bản án; trường hợp xét giảm án từ lần hai thì bản sao bản án được thay bằng bản sao quyết định thi hành án;

b) Văn bản của cơ quan có thẩm quyền đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù;

c) Kết quả xếp loại chấp hành án phạt tù theo quý, 06 tháng, 01 năm; quyết định khen thưởng hoặc giấy xác nhận của cơ quan có thẩm quyền về việc phạm nhân lập công;

d) Kết luận của bệnh viện, hội đồng giám định y khoa cấp tỉnh, cấp quân khu trở lên về tình trạng bệnh tật đối với trường hợp phạm nhân bị bệnh hiểm nghèo hoặc tài liệu thể hiện phạm nhân là người quá già yếu;

đ) Bản sao quyết định giảm thời hạn chấp hành án phạt tù đối với trường hợp đã được giảm;

e) Tài liệu chứng minh kết quả bồi thường nghĩa vụ dân sự của người được đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù.

3. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù, Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh án Tòa án quân sự cấp quân khu nơi phạm nhân đang chấp hành án thành lập Hội đồng và tổ chức phiên họp để xét, quyết định giảm thời hạn chấp hành án phạt tù. Thành phần Hội đồng gồm 03 Thẩm phán; phiên họp có sự tham gia của Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp. Trường hợp hồ sơ phải bổ sung theo yêu cầu của Tòa án thì thời hạn mở phiên họp được tính từ ngày nhận được hồ sơ bổ sung.

4. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định về việc giảm thời hạn chấp hành án phạt tù, Tòa án phải gửi quyết định đó cho người chấp hành án, cơ quan đề nghị giảm thời hạn chấp hành án, Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp, Tòa án đã ra quyết định thi hành án, Sở Tư pháp nơi Tòa án ra quyết định giảm thời hạn chấp hành án phạt tù có trụ sở, Bộ Ngoại giao trong trường hợp người được giảm thời hạn chấp hành án là người nước ngoài.

5. Việc xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù được thực hiện mỗi năm 03 đợt. Người chấp hành án mỗi năm chỉ được xét giảm thời hạn chấp hành án 01 lần. Trường hợp sau khi được giảm thời hạn chấp hành án mà có lý do đặc biệt đáng được khoan hồng thêm như đã lập công, đã quá già yếu hoặc bị bệnh hiểm nghèo thì có thể được xét giảm tiếp nhưng không quá 02 lần trong 01 năm.

Điều 39. Thủ tục miễn chấp hành án phạt tù

1. Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu nơi người chấp hành án phạt tù đang cư trú hoặc làm việc lập hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu xét miễn chấp hành án phạt tù. Hồ sơ bao gồm:

a) Bản sao bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật;

b) Văn bản đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền;

c) Đơn xin miễn chấp hành án phạt tù của người bị kết án;

d) Đối với người bị kết án đã lập công hoặc lập công lớn thì phải có bản tường trình có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền; đối với người bị kết án bị bệnh hiểm nghèo thì phải có kết luận của bệnh viện, hội đồng giám định y khoa cấp tỉnh, cấp quân khu trở lên; đối với người bị kết án chấp hành tốt pháp luật, có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn thì phải có xác nhận của chính quyền địa phương nơi người đó cư trú.

2. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị miễn chấp hành án phạt tù, Chánh án Tòa án có thẩm quyền thành lập Hội đồng và tổ chức phiên họp để xét, quyết định miễn chấp hành án phạt tù. Thành phần Hội đồng gồm 03 Thẩm phán; phiên họp có sự tham gia của Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp. Trường hợp hồ sơ phải bổ sung theo yêu cầu của Tòa án thì thời hạn mở phiên họp được tính từ ngày nhận được hồ sơ bổ sung.

3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định về việc miễn chấp hành án phạt tù, Tòa án phải gửi quyết định đó cho người chấp hành án, Viện kiểm sát đề nghị, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp, cơ quan thi hành án hình sự cùng cấp, Tòa án đã ra quyết định thi hành án, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người được miễn chấp hành án cư trú, đơn vị quân đội được giao quản lý người đó, Sở Tư pháp nơi Tòa án đã ra quyết định có trụ sở, Bộ Ngoại giao trong trường hợp người được miễn chấp hành án là người nước ngoài.

4. Ngay sau khi nhận được quyết định miễn chấp hành án phạt tù, trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện phải làm thủ tục trả tự do cho người được miễn chấp hành án và báo cáo kết quả cho cơ quan quản lý thi hành án hình sự hoặc cơ quan thi hành án hình sự cấp trên.

Điều 40. Thực hiện trích xuất phạm nhân

1. Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng khi có yêu cầu trích xuất phạm nhân phải gửi văn bản yêu cầu cho cơ quan quản lý thi hành án hình sự, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có yêu cầu trích xuất để yêu cầu người có thẩm quyền quy định tại khoản 2 Điều này ra lệnh trích xuất. Khi nhận được yêu cầu trích xuất phạm nhân, người có thẩm quyền phải ra lệnh trích xuất.

2. Thẩm quyền trích xuất phạm nhân để phục vụ điều tra, truy tố, xét xử được thực hiện như sau:

a) Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an ra lệnh trích xuất đối với phạm nhân đang chấp hành án tại trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Công an;

b) Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Quốc phòng ra lệnh trích xuất đối với phạm nhân đang chấp hành án tại trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Quốc phòng; Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu ra lệnh trích xuất đối với phạm nhân đang chấp hành án tại trại giam, trại tạm giam cấp quân khu;

c) Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh ra lệnh trích xuất đối với phạm nhân đang chấp hành án tại trại tạm giam hoặc phạm nhân do cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện trực tiếp quản lý.

3. Trường hợp trích xuất phạm nhân để phục vụ yêu cầu quản lý giam giữ, giáo dục cải tạo, khám bệnh, chữa bệnh hoặc để chăm sóc con của phạm nhân đang ở cùng mẹ trong cơ sở giam giữ phạm nhân phải đưa đi khám và điều trị bệnh tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thì Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện ra lệnh trích xuất.

4. Lệnh trích xuất phạm nhân phải có các nội dung sau đây:

a) Cơ quan, họ, tên, chức vụ, cấp bậc người ra lệnh;

b) Họ, tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú, ngày bị bắt, tội danh, thời hạn và nơi phạm nhân đang chấp hành án phạt tù;

c) Mục đích và thời hạn trích xuất;

d) Cơ quan, người nhận phạm nhân được trích xuất (nếu có);

đ) Ngày, tháng, năm ra lệnh; chữ ký của người ra lệnh và đóng dấu.

5. Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện có trách nhiệm kiểm tra, bàn giao, lập biên bản giao nhận phạm nhân được trích xuất. Trường hợp thời hạn trích xuất từ 02 tháng trở lên và thời gian trích xuất bằng thời gian chấp hành án phạt tù còn lại của phạm nhân được trích xuất thì bàn giao phạm nhân cùng với hồ sơ và giấy tờ, đồ vật, tiền, tài sản khác (nếu có) của phạm nhân được trích xuất để cơ quan, người có thẩm quyền nhận phạm nhân trích xuất cấp giấy chứng nhận chấp hành xong hình phạt tù khi hết thời hạn và ghi sổ theo dõi trích xuất.

Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi cơ quan, người tiến hành tố tụng có yêu cầu trích xuất có nhiệm vụ tiếp nhận, áp giải, quản lý phạm nhân và hồ sơ phạm nhân được trích xuất trong thời gian trích xuất.

6. Trường hợp đưa phạm nhân được trích xuất ra khỏi nơi chấp hành án thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu tiếp nhận phạm nhân được trích xuất phải bảo đảm chế độ ăn, ở, sinh hoạt cho người đó theo quy định của pháp luật trong thời gian trích xuất. Căn cứ lệnh trích xuất, trại tạm giam hoặc nhà tạm giữ nơi cơ quan điều tra, truy tố, xét xử có yêu cầu phải quản lý phạm nhân được trích xuất theo quy định của pháp luật.

7. Trường hợp không đưa phạm nhân được trích xuất ra khỏi nơi chấp hành án thì trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện bảo đảm chế độ ăn, ở, sinh hoạt và quản lý phạm nhân đó ngoài thời gian cơ quan, người nhận phạm nhân được trích xuất làm việc với phạm nhân.

8. Hết thời hạn trích xuất, cơ quan nhận phạm nhân được trích xuất phải gửi thông báo cho cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu và bàn giao phạm nhân được trích xuất cho trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện để tiếp tục thi hành án, trừ trường hợp thời hạn trích xuất bằng thời gian chấp hành án phạt tù còn lại quy định tại khoản 5 Điều này; nếu có nhu cầu tiếp tục trích xuất thì đề nghị gia hạn trích xuất; thời hạn trích xuất và gia hạn trích xuất không được kéo dài hơn thời hạn chấp hành án phạt tù còn lại của phạm nhân.

9. Thời gian trích xuất được tính vào thời hạn chấp hành án phạt tù, trừ trường hợp phạm nhân đó bỏ trốn trong thời gian được trích xuất.

Việc trích xuất không ảnh hưởng đến việc xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù, tha tù trước thời hạn có điều kiện của phạm nhân.

Điều 41. Khen thưởng phạm nhân

1. Trong thời gian chấp hành án phạt tù, phạm nhân chấp hành tốt nội quy cơ sở giam giữ phạm nhân, có thành tích trong lao động, học tập hoặc lập công thì được khen thưởng theo một hoặc nhiều hình thức sau đây:

a) Biểu dương;

b) Thưởng tiền hoặc hiện vật;

c) Tăng số lần được liên lạc bằng điện thoại, số lần gặp thân nhân, số lần và số lượng quà được nhận.

2. Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam thuộc Bộ Công an, Giám thị trại tạm giam thuộc Bộ Quốc phòng, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu quyết định khen thưởng phạm nhân. Việc khen thưởng phải bằng văn bản, được lưu vào hồ sơ phạm nhân. Phạm nhân được khen thưởng có thể được đề nghị xét nâng mức giảm thời hạn chấp hành án phạt tù theo quy định của pháp luật.

Điều 42. Giải quyết trường hợp phạm nhân bỏ trốn

1. Khi phạm nhân bỏ trốn, trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu phải tổ chức truy bắt ngay, báo cáo về cơ quan quản lý thi hành án hình sự và thông báo cho Viện kiểm sát có thẩm quyền. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi phát hiện phạm nhân bỏ trốn mà việc truy bắt không có kết quả thì Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam thuộc Bộ Công an, Giám thị trại tạm giam thuộc Bộ Quốc phòng, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu phải ra quyết định truy nã và tổ chức truy bắt.

Mọi trường hợp phạm nhân bỏ trốn đều phải được lập biên bản, áp dụng các biện pháp ngăn chặn, điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự.

2. Phạm nhân đã bỏ trốn ra đầu thú thì cơ quan tiếp nhận phạm nhân đầu thú lập biên bản, xử lý theo thẩm quyền hoặc giao phạm nhân đó cho cơ quan thi hành án hình sự nơi gần nhất để xử lý theo quy định của pháp luật.

Điều 43. Xử lý phạm nhân vi phạm

1. Phạm nhân vi phạm nội quy cơ sở giam giữ phạm nhân hoặc có hành vi vi phạm pháp luật thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị kỷ luật bằng một trong các hình thức sau đây:

a) Khiển trách;

b) Cảnh cáo;

c) Giam tại buồng kỷ luật đến 10 ngày.

2. Trong thời gian bị giam tại buồng kỷ luật, phạm nhân không được gặp thân nhân và có thể bị cùm chân. Không áp dụng cùm chân đối với phạm nhân nữ, phạm nhân là người dưới 18 tuổi, phạm nhân là người già yếu.

3. Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện quyết định kỷ luật phạm nhân bằng văn bản và lưu hồ sơ phạm nhân.

4. Trường hợp hành vi vi phạm của phạm nhân có dấu hiệu của tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Giám thị trại giam thì Giám thị trại giam ra quyết định khởi tố vụ án, tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định của pháp luật. Trường hợp không thuộc thẩm quyền điều tra của mình thì phải kiến nghị cơ quan điều tra có thẩm quyền khởi tố theo quy định của pháp luật.

Trường hợp hành vi vi phạm của phạm nhân đang giam giữ tại trại tạm giam, nhà tạm giữ Công an cấp huyện có dấu hiệu của tội phạm thì Giám thị trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện kiến nghị cơ quan điều tra có thẩm quyền khởi tố theo quy định của pháp luật.

5. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Điều 44. Thông báo tình hình chấp hành án; phối hợp với gia đình phạm nhân, cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia giáo dục cải tạo phạm nhân

1. Trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện có trách nhiệm định kỳ 06 tháng 01 lần thông báo tình hình chấp hành án của phạm nhân cho thân nhân của họ.

2. Trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện phối hợp với gia đình phạm nhân, chính quyền địa phương, cơ quan, tổ chức, cá nhân quan tâm động viên phạm nhân tích cực học tập, lao động, rèn luyện để được hưởng sự khoan hồng của Nhà nước; hỗ trợ các hoạt động giáo dục, dạy nghề cho phạm nhân và chuẩn bị các điều kiện cần thiết để phạm nhân tái hòa nhập cộng đồng sau khi chấp hành xong án phạt tù.

Điều 45. Tái hòa nhập cộng đồng

1. Trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện có trách nhiệm tổ chức chuẩn bị tái hòa nhập cộng đồng trước khi phạm nhân chấp hành xong án phạt tù, được đặc xá, tha tù trước thời hạn có điều kiện. Nội dung chuẩn bị tái hòa nhập cộng đồng bao gồm:

a) Tư vấn tâm lý, hỗ trợ các thủ tục pháp lý;

b) Định hướng nghề nghiệp, tìm kiếm việc làm;

c) Hỗ trợ một phần kinh phí từ Quỹ hòa nhập cộng đồng của trại giam.

2. Kinh phí bảo đảm cho việc thực hiện tái hòa nhập cộng đồng bao gồm:

a) Kinh phí do ngân sách nhà nước cấp;

b) Quỹ hòa nhập cộng đồng của trại giam và các quỹ khác theo quy định của pháp luật;

c) Nguồn đóng góp tự nguyện của cơ quan, tổ chức, cá nhân và các nguồn thu hợp pháp khác.

3. Nhà nước khuyến khích cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân tạo điều kiện, giúp đỡ người chấp hành xong án phạt tù, người được đặc xá, người được tha tù trước thời hạn có điều kiện tái hòa nhập cộng đồng bằng các biện pháp sau đây:

a) Thông tin, truyền thông, giáo dục về tái hòa nhập cộng đồng;

b) Dạy nghề, giải quyết việc làm;

c) Trợ giúp về tâm lý và hỗ trợ các thủ tục pháp lý;

d) Các biện pháp hỗ trợ khác.

4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Điều 46. Trả tự do cho phạm nhân

1. Hai tháng trước khi phạm nhân hết thời hạn chấp hành án phạt tù, trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu thông báo cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã, cơ quan, tổ chức nơi người chấp hành xong án phạt tù về cư trú, làm việc, Bộ Ngoại giao trong trường hợp phạm nhân là người nước ngoài. Nội dung thông báo bao gồm kết quả chấp hành án phạt tù, hình phạt bổ sung mà phạm nhân còn phải chấp hành và thông tin cần thiết khác có liên quan để xem xét, sắp xếp, tạo lập cuộc sống bình thường cho người đó.

Trường hợp không xác định được nơi người chấp hành xong án phạt tù về cư trú thì trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu đề nghị với Ủy ban nhân dân cấp xã nơi phạm nhân chấp hành án hoặc cơ quan, tổ chức khác để tiếp nhận người chấp hành xong án phạt tù về cư trú.

2. Vào ngày cuối cùng của thời hạn chấp hành án phạt tù, trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu hoàn chỉnh thủ tục theo quy định của pháp luật để trả tự do cho phạm nhân; cấp giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù cho người đã chấp hành xong án phạt tù, cấp khoản tiền từ Quỹ hòa nhập cộng đồng, cấp tiền tàu xe, tiền ăn trong thời gian đi đường trở về nơi cư trú hoặc nơi làm việc; trả lại đầy đủ giấy tờ, đồ vật, tiền, tài sản khác mà phạm nhân đã gửi tại nơi chấp hành án phạt tù quản lý.

3. Trường hợp phạm nhân được trích xuất để phục vụ điều tra, truy tố, xét xử mà thời gian trích xuất từ 02 tháng trở lên và thời gian trích xuất bằng thời gian chấp hành án phạt tù còn lại thì cơ quan có thẩm quyền nhận phạm nhân được trích xuất có trách nhiệm thông báo theo quy định tại khoản 1 Điều này, cấp giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù, trả tự do cho người được trích xuất và giải quyết các thủ tục, nghĩa vụ, quyền, lợi ích có liên quan của người được trích xuất theo quy định tại khoản 2 Điều này nếu người đó không bị tạm giam về tội khác theo quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền.

4. Phạm nhân là người nước ngoài đã chấp hành xong án phạt tù thì được cấp giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù và lưu trú tại cơ sở lưu trú do cơ quan quản lý thi hành án hình sự chỉ định trong thời gian chờ làm thủ tục xuất cảnh.

5. Cơ quan đã cấp giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù có trách nhiệm gửi giấy chứng nhận đó cho Trung tâm lý lịch tư pháp quốc gia, Tòa án đã ra quyết định thi hành án, cơ quan chịu trách nhiệm thi hành các hình phạt bổ sung, cơ quan được thông báo quy định tại khoản 1 Điều này và thông báo bằng văn bản cho cơ quan thi hành phần dân sự trong bản án, quyết định hình sự.

Điều 47. Thi hành quyết định tiếp nhận, chuyển giao đối với người đang chấp hành án phạt tù

1. Thi hành quyết định tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù từ nước ngoài về Việt Nam để chấp hành án được thực hiện như sau:

a) Khi có quyết định thi hành quyết định tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù được chuyển giao từ nước ngoài về Việt Nam để chấp hành án, Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp tổ chức tiếp nhận và bàn giao người bị kết án cho trại giam theo quyết định của cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an;

b) Chế độ quản lý giam giữ, giáo dục cải tạo, quyền, nghĩa vụ của người chấp hành án phạt tù được chuyển giao được thực hiện theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.

2. Thi hành quyết định chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam cho nước ngoài được thực hiện như sau:

a) Khi nhận được quyết định thi hành quyết định chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam cho nước ngoài, trại giam có trách nhiệm bàn giao phạm nhân cho Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp. Việc bàn giao phải được lập biên bản, lưu hồ sơ phạm nhân;

b) Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp có nhiệm vụ áp giải người được chuyển giao đến địa điểm và vào thời gian do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam và nước yêu cầu chuyển giao thỏa thuận trước bằng văn bản.

3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Mục 2. CHẾ ĐỘ ĂN, MẶC, Ở, SINH HOẠT, CHĂM SÓC Y TẾ ĐỐI VỚI PHẠM NHÂN

Điều 48. Chế độ ăn, ở đối với phạm nhân

1. Phạm nhân được bảo đảm tiêu chuẩn định lượng về gạo, rau xanh, thịt, cá, đường, muối, nước mắm, dầu ăn, bột ngọt, chất đốt. Đối với phạm nhân lao động nặng nhọc, độc hại theo quy định của pháp luật thì định lượng ăn được tăng thêm nhưng không quá 02 lần tiêu chuẩn ăn ngày thường. Ngày lễ, tết theo quy định của pháp luật, phạm nhân được ăn thêm nhưng mức ăn không quá 05 lần tiêu chuẩn ăn ngày thường.

Căn cứ yêu cầu bảo đảm sức khỏe của phạm nhân trong quá trình giam giữ, lao động, học tập tại nơi chấp hành án, Chính phủ quy định cụ thể định mức ăn phù hợp với điều kiện kinh tế, ngân sách và biến động giá cả thị trường. Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện có thể quyết định hoán đổi định lượng ăn cho phù hợp với thực tế để phạm nhân có thể ăn hết tiêu chuẩn.

2. Ngoài tiêu chuẩn ăn quy định tại khoản 1 Điều này, phạm nhân được sử dụng quà, tiền của mình để ăn thêm nhưng không được quá 03 lần định lượng trong 01 tháng cho mỗi phạm nhân.

3. Phạm nhân được bảo đảm ăn, uống hợp vệ sinh. Việc nấu ăn cho phạm nhân do phạm nhân đảm nhiệm dưới sự giám sát, kiểm tra của trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện.

Bếp ăn cho phạm nhân được cấp các dụng cụ cần thiết cho việc nấu ăn, đun nước uống và chia đồ ăn cho phạm nhân theo khẩu phần tiêu chuẩn.

4. Phạm nhân được ở theo buồng giam tập thể, trừ phạm nhân đang bị giam riêng theo quy định tại các điểm d, đ, e, g khoản 2 và khoản 3 Điều 30 của Luật này. Chỗ nằm tối thiểu của mỗi phạm nhân là 02 m2. Đối với phạm nhân có con nhỏ ở cùng thì được bố trí chỗ nằm tối thiểu là 03 m2.

Điều 49. Chế độ mặc và tư trang của phạm nhân

Phạm nhân được cấp quần áo theo mẫu thống nhất, khăn mặt, chăn, chiếu, màn, dép, mũ hoặc nón, xà phòng, kem và bàn chải đánh răng; phạm nhân nữ được cấp thêm đồ dùng cần thiết cho vệ sinh của phụ nữ. Phạm nhân tham gia lao động được cấp thêm quần áo để lao động và căn cứ vào điều kiện công việc cụ thể được cấp dụng cụ bảo hộ lao động cần thiết.

Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Điều 50. Chế độ hoạt động thể dục, thể thao, sinh hoạt văn hóa, văn nghệ và sử dụng kinh sách, bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo của phạm nhân

1. Phạm nhân được hoạt động thể dục, thể thao, sinh hoạt văn hóa, văn nghệ, đọc sách, báo, nghe đài, xem truyền hình phù hợp với điều kiện của nơi chấp hành án.

Mỗi phân trại của trại giam có thư viện, khu vui chơi, sân thể thao, được trang bị một hệ thống truyền thanh nội bộ, mỗi buồng giam tập thể được trang bị 01 ti vi.

2. Thời gian hoạt động thể dục, thể thao, sinh hoạt văn hóa, văn nghệ, đọc sách, báo, nghe đài, xem truyền hình của phạm nhân được thực hiện theo nội quy trại giam.

3. Phạm nhân theo tôn giáo được sử dụng kinh sách xuất bản dưới hình thức sách in, phát hành hợp pháp và được bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo theo quy định của pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo.

Điều 51. Chế độ đối với phạm nhân nữ có thai, nuôi con dưới 36 tháng tuổi

1. Phạm nhân nữ có thai nếu không được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù thì được bố trí nơi giam hợp lý, được khám thai định kỳ hoặc đột xuất, được chăm sóc y tế trong trường hợp cần thiết, được giảm thời gian lao động, được hưởng chế độ ăn, uống bảo đảm sức khỏe.

2. Phạm nhân nữ có thai được nghỉ lao động trước và sau khi sinh con theo quy định của pháp luật về lao động. Trong thời gian nghỉ sinh con, phạm nhân được bảo đảm tiêu chuẩn, định lượng ăn theo chỉ dẫn của y sỹ hoặc bác sỹ, được cấp phát thực phẩm, đồ dùng cần thiết cho việc chăm sóc trẻ sơ sinh. Phạm nhân nữ nuôi con dưới 36 tháng tuổi được bố trí thời gian phù hợp để chăm sóc, nuôi dưỡng con.

3. Trẻ em dưới 36 tháng tuổi, trẻ em từ 36 tháng tuổi trở lên trong thời gian chờ đưa vào cơ sở bảo trợ xã hội là con của phạm nhân ở cùng mẹ trong trại giam được hưởng chế độ ăn, mặc, ở, cấp phát nhu yếu phẩm và được chăm sóc y tế, khám chữa bệnh để bảo đảm thực hiện quyền của trẻ em theo quy định của Luật Trẻ em.

4. Trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện có trách nhiệm làm thủ tục đề nghị đăng ký khai sinh cho con của phạm nhân. Ủy ban nhân dân cấp xã nơi phạm nhân chấp hành án có trách nhiệm đăng ký và cấp giấy khai sinh.

5. Phạm nhân nữ có con từ 36 tháng tuổi trở lên phải gửi con về cho thân nhân nuôi dưỡng. Trường hợp con của phạm nhân không có thân nhân nhận nuôi dưỡng thì trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu phải đề nghị cơ quan chuyên môn về lao động, thương binh và xã hội thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi phạm nhân chấp hành án chỉ định cơ sở bảo trợ xã hội tiếp nhận, nuôi dưỡng. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được đề nghị, cơ quan chuyên môn về lao động, thương binh và xã hội thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phải chỉ định cơ sở bảo trợ xã hội có trách nhiệm tiếp nhận, nuôi dưỡng. Người chấp hành xong án phạt tù được nhận lại con đang được cơ sở bảo trợ xã hội nuôi dưỡng.

6. Trại giam phải tổ chức nhà trẻ ngoài khu giam giữ để chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em là con của phạm nhân dưới 36 tháng tuổi và con của phạm nhân từ 36 tháng tuổi trở lên trong thời gian chờ làm thủ tục đưa vào cơ sở bảo trợ xã hội.

7. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Điều 52. Chế độ gặp, nhận quà của phạm nhân

1. Phạm nhân được gặp thân nhân 01 lần trong 01 tháng, mỗi lần gặp không quá 01 giờ. Căn cứ kết quả xếp loại chấp hành án, yêu cầu giáo dục cải tạo, thành tích lao động, học tập của phạm nhân, Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện quyết định kéo dài thời gian gặp thân nhân nhưng không quá 03 giờ hoặc được gặp vợ, chồng ở phòng riêng không quá 24 giờ. Phạm nhân được khen thưởng hoặc lập công thì được gặp thân nhân thêm 01 lần trong 01 tháng.

Phạm nhân vi phạm nội quy cơ sở giam giữ phạm nhân thì 02 tháng được gặp thân nhân 01 lần, mỗi lần không quá 01 giờ.

2. Trường hợp đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khác có đề nghị được gặp phạm nhân thì Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện xem xét, quyết định.

3. Khi gặp thân nhân, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khác, phạm nhân được nhận thư, tiền, đồ vật, trừ đồ vật thuộc danh mục cấm. Đối với tiền, phạm nhân phải gửi trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện quản lý. Việc quản lý, sử dụng đồ vật, tiền của phạm nhân được thực hiện theo quy định tại các điểm a, b và c khoản 3 Điều 28 của Luật này.

4. Phạm nhân được nhận quà là tiền, đồ vật do thân nhân gửi qua đường bưu chính không quá 02 lần trong 01 tháng. Trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện có trách nhiệm tiếp nhận tiền, đồ vật mà thân nhân của phạm nhân gửi cho phạm nhân và bóc, mở, kiểm tra để phát hiện và xử lý đồ vật thuộc danh mục cấm theo quy định của pháp luật.

5. Thân nhân của phạm nhân đến gặp phạm nhân phải mang theo sổ thăm gặp hoặc đơn xin gặp có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi người đó cư trú hoặc của cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, học tập. Trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện phải phổ biến cho thân nhân của phạm nhân về quy định thăm gặp phạm nhân; thân nhân của phạm nhân phải chấp hành các quy định này.

Đối với phạm nhân là người nước ngoài, trường hợp thân nhân là người nước ngoài thì phải có đơn xin gặp gửi cơ quan quản lý thi hành án hình sự, đơn phải viết bằng tiếng Việt hoặc được dịch ra tiếng Việt và có xác nhận của cơ quan đại diện ngoại giao hoặc lãnh sự của nước mà người đó mang quốc tịch hoặc cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế tại Việt Nam nơi người đó làm việc; trường hợp thân nhân là người Việt Nam thì đơn xin gặp phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được đơn, cơ quan quản lý thi hành án hình sự có trách nhiệm trả lời người có đơn; trường hợp đặc biệt có thể kéo dài nhưng thời hạn trả lời không quá 30 ngày.

6. Trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện bố trí nơi phạm nhân gặp thân nhân, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khác.

7. Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định chi tiết Điều này.

Điều 53. Thủ tục thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự

1. Cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự nước ngoài có yêu cầu thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự đối với phạm nhân mang quốc tịch nước mình đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam phải gửi văn bản đề nghị đến Bộ Ngoại giao. Nội dung văn bản đề nghị bao gồm:

a) Tên cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự gửi văn bản;

b) Họ, tên, quốc tịch phạm nhân cần thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự;

c) Trại giam nơi phạm nhân đang chấp hành án;

d) Họ, tên, chức vụ của những người đến thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự;

đ) Họ, tên người phiên dịch.

2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị, Bộ Ngoại giao có trách nhiệm thông báo cho cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an hoặc cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Quốc phòng. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo, cơ quan quản lý thi hành án hình sự có thẩm quyền phải trả lời bằng văn bản cho Bộ Ngoại giao để thông báo cho cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự nước ngoài đã đề nghị liên hệ với cơ quan quản lý thi hành án hình sự có thẩm quyền cấp giấy giới thiệu thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự.

Điều 54. Chế độ liên lạc của phạm nhân

1. Phạm nhân được gửi mỗi tháng 02 lá thư. Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện phải kiểm tra, kiểm duyệt thư mà phạm nhân gửi và nhận.

2. Phạm nhân được liên lạc điện thoại trong nước với thân nhân mỗi tháng 01 lần, mỗi lần không quá 10 phút, trừ trường hợp cấp bách. Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện xem xét, quyết định việc cho phạm nhân liên lạc bằng điện thoại và tổ chức kiểm soát việc liên lạc này.

3. Chi phí cho việc liên lạc của phạm nhân quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này do phạm nhân chi trả.

Điều 55. Chế độ chăm sóc y tế đối với phạm nhân

1. Phạm nhân được hưởng chế độ phòng, chống dịch bệnh. Trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện phối hợp với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cấp huyện hoặc bệnh viện quân đội nơi trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện đóng tổ chức khám sức khỏe cho phạm nhân.

2. Phạm nhân bị ốm, bị thương tích thì được khám bệnh, chữa bệnh và điều trị tại cơ sở y tế của trại giam, trại tạm giam hoặc tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước nơi gần nhất. Trường hợp phạm nhân bị bệnh nặng hoặc thương tích vượt quá khả năng điều trị của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đó thì được chuyển đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tuyến trên để điều trị; trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện phải thông báo cho thân nhân hoặc đại diện của người đó biết để phối hợp chăm sóc, điều trị. Chế độ ăn, cấp phát thuốc, bồi dưỡng cho phạm nhân do cơ sở khám bệnh, chữa bệnh chỉ định.

Trại giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu phối hợp với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tuyến huyện, tuyến tỉnh, bệnh viện quân đội xây dựng hoặc bố trí một số buồng riêng trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh để điều trị cho phạm nhân. Việc quản lý, giám sát phạm nhân trong thời gian điều trị tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh do trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện chịu trách nhiệm.

3. Đối với phạm nhân có dấu hiệu mắc bệnh tâm thần, bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh đề nghị Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu nơi phạm nhân chấp hành án phạt tù trưng cầu giám định pháp y tâm thần. Khi có kết luận giám định là người đó mắc bệnh tâm thần, bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi thì Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh án Tòa án quân sự cấp quân khu nơi phạm nhân chấp hành án ra quyết định tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù và áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh đối với người đó.

Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có trách nhiệm tiếp nhận, quản lý phạm nhân thuộc đối tượng bắt buộc chữa bệnh tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

4. Phạm nhân nghiện ma túy được trại giam tổ chức cai nghiện.

5. Kinh phí khám bệnh, chữa bệnh, tổ chức cai nghiện ma túy và kinh phí xây dựng, bố trí các buồng chữa bệnh dành cho phạm nhân tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh do Nhà nước cấp.

6. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Điều 56. Thủ tục giải quyết trường hợp phạm nhân chết

1. Khi phạm nhân chết tại trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước thì cơ quan, tổ chức đó có trách nhiệm báo ngay cho cơ quan điều tra và Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, cơ quan điều tra và Viện kiểm sát quân sự khu vực nơi có phạm nhân chết để xác định nguyên nhân. Trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện làm thủ tục đăng ký khai tử tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi phạm nhân chết và thông báo cho thân nhân hoặc đại diện của phạm nhân trước khi làm thủ tục mai táng. Trường hợp phạm nhân chết ở cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thì cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đó gửi giấy báo tử cho trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện.

Trường hợp phạm nhân là người nước ngoài, Giám thị trại giam phải báo ngay cho cơ quan điều tra và Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, cơ quan điều tra và Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu nơi có phạm nhân chết để xác định nguyên nhân; đồng thời báo cáo cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an hoặc cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Ngoại giao để thông báo cho cơ quan đại diện của nước mà người đó mang quốc tịch. Sau khi được cơ quan có thẩm quyền cho phép, trại giam có trách nhiệm tổ chức mai táng.

2. Khi cơ quan có thẩm quyền cho phép làm các thủ tục mai táng người chết thì trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện có trách nhiệm thông báo về việc mai táng cho thân nhân hoặc người đại diện của phạm nhân. Trường hợp thân nhân của người chết có đơn đề nghị thì bàn giao tử thi đó cho họ, trừ trường hợp có căn cứ cho rằng việc đó ảnh hưởng đến an ninh trật tự và vệ sinh môi trường. Sau thời hạn 24 giờ kể từ khi thông báo mà họ không nhận thì trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện tổ chức mai táng theo quy định của pháp luật và thông báo cho Tòa án đã ra quyết định thi hành án. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo, Tòa án đã ra quyết định thi hành án phải ra quyết định đình chỉ việc chấp hành án phạt tù và gửi cho thân nhân của người chết, trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi phạm nhân chết, Viện kiểm sát có thẩm quyền, Sở Tư pháp nơi Tòa án ra quyết định đình chỉ có trụ sở. Ủy ban nhân dân cấp xã nơi phạm nhân chết có trách nhiệm phối hợp với trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện trong việc mai táng và quản lý mộ của phạm nhân. Kinh phí cho việc mai táng được Nhà nước cấp.

Trường hợp phạm nhân chết là người nước ngoài, trong thời hạn 48 giờ kể từ khi thông báo về phạm nhân chết, nếu cơ quan đại diện của nước mà người đó mang quốc tịch không đề nghị nhận tử thi thì trại giam tổ chức mai táng.

3. Trường hợp thân nhân hoặc đại diện của phạm nhân có đơn đề nghị được nhận tử thi hoặc hài cốt của phạm nhân và tự chịu chi phí, thì trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện có thể xem xét, giải quyết, trừ trường hợp có căn cứ cho rằng việc đó ảnh hưởng đến an ninh, trật tự và vệ sinh môi trường. Việc nhận hài cốt chỉ được giải quyết sau thời hạn 03 năm kể từ ngày mai táng. Trường hợp phạm nhân là người nước ngoài thì việc nhận tử thi hoặc hài cốt phải được cơ quan quản lý thi hành án hình sự xem xét, quyết định.

Mục 3. THA TÙ TRƯỚC THỜI HẠN CÓ ĐIỀU KIỆN

Điều 57. Thời điểm xét tha tù trước thời hạn có điều kiện

Việc xét tha tù trước thời hạn có điều kiện được thực hiện mỗi năm 03 đợt vào thời điểm kết thúc quý I, kết thúc quý II và kết thúc năm xếp loại.

Điều 58. Hồ sơ đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện

1. Trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu có trách nhiệm lập hồ sơ đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện và chuyển cho Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu, Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu nơi phạm nhân đang chấp hành án phạt tù.

2. Hồ sơ đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện bao gồm:

a) Đơn xin tha tù trước thời hạn có điều kiện của phạm nhân kèm theo cam kết không vi phạm pháp luật, các nghĩa vụ phải chấp hành khi được tha tù trước thời hạn;

b) Bản sao bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật; quyết định thi hành án;

c) Tài liệu thể hiện phạm nhân có nhiều tiến bộ, có ý thức cải tạo tốt là các quyết định hoặc bản sao quyết định xếp loại chấp hành án phạt tù;

d) Bản sao quyết định giảm thời hạn chấp hành án phạt tù đối với người bị kết án về tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;

đ) Văn bản, tài liệu thể hiện việc chấp hành xong hình phạt bổ sung là hình phạt tiền, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại, án phí;

e) Tài liệu để xác định thời gian thực tế đã chấp hành án phạt tù;

g) Trường hợp phạm nhân là người có công với cách mạng hoặc thân nhân của người có công với cách mạng, người từ đủ 70 tuổi trở lên, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, người đang chấp hành án phạt tù dưới 18 tuổi thì phải có tài liệu chứng minh;

h) Văn bản đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện của trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu.

3. Người đã được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù hoặc người được áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh được bảo lưu kết quả xếp loại chấp hành án phạt tù và được tính liên tục liền kề với thời gian sau khi trở lại tiếp tục chấp hành án. Trường hợp này, nếu được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù về cư trú, đơn vị quân đội được giao quản lý hoặc cơ sở y tế điều trị người đó xác nhận chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật thì có thể được xem xét, đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện.

4. Trường hợp phạm nhân được trích xuất để phục vụ điều tra, truy tố, xét xử nhưng không thuộc đối tượng đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội khác thì trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi nhận phạm nhân trích xuất có văn bản đề nghị trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi đang quản lý hồ sơ phạm nhân xem xét, lập hồ sơ đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện, nếu họ có đủ điều kiện.

Điều 59. Thi hành quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện

1. Ngay sau khi nhận được quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện, trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện phải niêm yết danh sách phạm nhân được tha tù trước thời hạn có điều kiện tại cơ sở giam giữ phạm nhân. Ngay sau khi quyết định tha tù trước thời hạn có hiệu lực pháp luật, trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện cấp giấy chứng nhận tha tù trước thời hạn có điều kiện và tha phạm nhân. Thời gian thử thách được tính từ ngày quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện có hiệu lực pháp luật.

Trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện có trách nhiệm bàn giao hồ sơ phạm nhân cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người tha tù trước thời hạn có điều kiện về cư trú, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu.

2. Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người được tha tù trước thời hạn có điều kiện về cư trú, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu tiếp nhận, quản lý hồ sơ phạm nhân; lập hồ sơ quản lý người được tha tù trước thời hạn có điều kiện và giao cho Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội để tổ chức quản lý.

Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày được tha tù trước thời hạn có điều kiện, người được tha tù trước thời hạn có điều kiện phải trình diện Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý để cam kết chấp hành nghĩa vụ, trừ trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Trường hợp hết thời hạn 05 ngày mà người được tha tù trước thời hạn có điều kiện không trình diện, Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội triệu tập người đó đến trụ sở để cam kết việc chấp hành nghĩa vụ. Trường hợp người đó không có mặt theo đúng thời hạn triệu tập hoặc không cam kết thì Công an cấp xã, đơn vị quân đội lập biên bản vi phạm nghĩa vụ.

Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu kết quả việc trình diện và cam kết của người được tha tù trước thời hạn có điều kiện.

3. Trường hợp người được tha tù trước thời hạn có điều kiện do quân đội quản lý nhưng sau đó không còn phục vụ trong quân đội thì cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu bàn giao người đó kèm theo hồ sơ phạm nhân cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người đó về cư trú lập hồ sơ quản lý và giao cho Ủy ban nhân dân cấp xã để tổ chức quản lý.

4. Vào ngày cuối cùng của thời gian thử thách, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi đã quản lý người được tha tù trước thời hạn có điều kiện có trách nhiệm cấp giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù cho họ và gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp, Tòa án đã ra quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện, Tòa án đã ra quyết định thi hành án, trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi người đó đã chấp hành án, Trung tâm lý lịch tư pháp quốc gia, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó về cư trú.

5. Trường hợp người được tha tù trước thời hạn có điều kiện chết, Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý người đó thông báo cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu để thông báo cho Tòa án đã ra quyết định thi hành án. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo, Tòa án đã ra quyết định thi hành án phải ra quyết định đình chỉ thi hành án và gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu, Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý người đó, Sở Tư pháp nơi Tòa án đã ra quyết định có trụ sở.

Điều 60. Hồ sơ quản lý người được tha tù trước thời hạn có điều kiện

1. Hồ sơ quản lý người được tha tù trước thời hạn có điều kiện do cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu lập bao gồm:

a) Bản sao bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật; quyết định thi hành án;

b) Quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện;

c) Giấy chứng nhận tha tù trước thời hạn có điều kiện;

d) Bản nhận xét quá trình chấp hành án phạt tù của người được tha tù trước thời hạn có điều kiện;

đ) Cam kết của người được tha tù trước thời hạn có điều kiện;

e) Phiếu thông tin của người được tha tù trước thời hạn có điều kiện;

g) Tài liệu khác có liên quan.

2. Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý người được tha tù trước thời hạn có điều kiện có trách nhiệm tiếp nhận và bổ sung vào hồ sơ quản lý các tài liệu sau đây:

a) Bản nhận xét của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý người được tha tù trước thời hạn có điều kiện;

b) Báo cáo của người được tha tù trước thời hạn có điều kiện về việc thực hiện nghĩa vụ;

c) Trường hợp người được tha tù trước thời hạn có điều kiện bị kiểm điểm theo quy định tại Điều 66 của Luật này thì phải có bản kiểm điểm, biên bản cuộc họp kiểm điểm và tài liệu có liên quan;

d) Trường hợp người được tha tù trước thời hạn có điều kiện được rút ngắn thời gian thử thách thì phải có quyết định của Tòa án;

đ) Tài liệu khác có liên quan.

3. Trước khi hết thời gian thử thách 15 ngày, Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý người được tha tù trước thời hạn có điều kiện bàn giao hồ sơ quản lý cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu để cấp giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù khi kết thúc thời gian thử thách. Việc giao nhận hồ sơ được lập thành biên bản và lưu hồ sơ phạm nhân.

Điều 61. Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý người được tha tù trước thời hạn có điều kiện

1. Ủy ban nhân dân cấp xã được giao quản lý người được tha tù trước thời hạn có điều kiện có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

a) Tiếp nhận hồ sơ, tổ chức quản lý người được tha tù trước thời hạn có điều kiện; bàn giao hồ sơ cho cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền theo quy định của Luật này;

b) Yêu cầu người được tha tù trước thời hạn có điều kiện thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình; có biện pháp giáo dục, phòng ngừa khi người đó có dấu hiệu vi phạm pháp luật;

c) Biểu dương người được tha tù trước thời hạn có điều kiện có nhiều tiến bộ hoặc lập công;

d) Giải quyết cho người được tha tù trước thời hạn có điều kiện được vắng mặt ở nơi cư trú theo quy định của Luật này và pháp luật về cư trú;

đ) Phối hợp với các tổ chức chính trị - xã hội, gia đình và cơ quan, tổ chức nơi người được tha tù trước thời hạn có điều kiện làm việc, học tập trong việc quản lý người đó;

e) Lập hồ sơ, có văn bản đề nghị cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh đề nghị Tòa án cùng cấp xem xét, quyết định rút ngắn thời gian thử thách;

g) Báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện tiến hành trình tự, thủ tục đề nghị Tòa án có thẩm quyền hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện và buộc người được tha tù trước thời hạn có điều kiện phải chấp hành phần hình phạt tù còn lại chưa chấp hành trong trường hợp người đó vi phạm quy định tại khoản 4 Điều 66 của Bộ luật Hình sự;

h) Báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện khi người được tha tù trước thời hạn có điều kiện bỏ trốn;

i) Nhận xét bằng văn bản quá trình chấp hành nghĩa vụ trong thời gian thử thách của người được tha tù trước thời hạn có điều kiện;

k) Báo cáo cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền về kết quả quản lý người được tha tù trước thời hạn có điều kiện trong thời gian thử thách.

2. Công an cấp xã có nhiệm vụ tham mưu, trực tiếp giúp Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại khoản 1 Điều này.

3. Đơn vị quân đội được giao quản lý người được tha tù trước thời hạn có điều kiện có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

a) Các nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại các điểm a, b, c, i và k khoản 1 Điều này;

b) Phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã giải quyết cho người được tha tù trước thời hạn có điều kiện được vắng mặt ở nơi cư trú theo quy định của Luật này và pháp luật về cư trú;

c) Phối hợp với gia đình của người được tha tù trước thời hạn có điều kiện trong việc quản lý người đó;

d) Lập hồ sơ, có văn bản đề nghị cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu đề nghị Tòa án cùng cấp xem xét, quyết định rút ngắn thời gian thử thách;

đ) Báo cáo cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu tiến hành trình tự, thủ tục đề nghị Tòa án có thẩm quyền hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện và buộc người được tha tù trước thời hạn có điều kiện phải chấp hành phần hình phạt tù còn lại chưa chấp hành trong trường hợp người đó vi phạm quy định tại khoản 4 Điều 66 của Bộ luật Hình sự;

e) Báo cáo cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu khi người được tha tù trước thời hạn có điều kiện bỏ trốn.

Điều 62. Nghĩa vụ của người được tha tù trước thời hạn có điều kiện

1. Thực hiện nghiêm chỉnh cam kết trong việc tuân thủ pháp luật, nghĩa vụ công dân, nội quy, quy chế của nơi cư trú, nơi làm việc, học tập.

2. Trình diện và cam kết theo quy định tại khoản 2 Điều 59 của Luật này.

3. Chịu sự quản lý của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý.

4. Chấp hành quy định tại Điều 67 của Luật này.

5. Phải có mặt theo yêu cầu của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc đơn vị quân đội được giao quản lý.

6. Hằng tháng phải báo cáo bằng văn bản với Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý về tình hình chấp hành nghĩa vụ của mình. Trường hợp vắng mặt theo quy định tại khoản 1 Điều 67 của Luật này thì khi hết thời hạn vắng mặt, người được tha tù trước thời hạn có điều kiện phải báo cáo về tình hình chấp hành nghĩa vụ của mình.

Điều 63. Việc lao động, học tập của người được tha tù trước thời hạn có điều kiện

1. Người được tha tù trước thời hạn có điều kiện mà không phải là cán bộ, công chức, viên chức nếu được tiếp tục làm việc tại cơ quan, tổ chức, đơn vị thì được hưởng tiền lương và chế độ khác phù hợp với công việc đảm nhiệm, được tính vào thời gian công tác theo quy định của pháp luật.

2. Người được tha tù trước thời hạn có điều kiện được cơ sở giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp tiếp nhận học tập thì được hưởng quyền lợi theo quy định của pháp luật.

3. Người được tha tù trước thời hạn có điều kiện không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì được Ủy ban nhân dân cấp xã tạo điều kiện tìm việc làm.

Điều 64. Rút ngắn thời gian thử thách đối với người được tha tù trước thời hạn có điều kiện

1. Người được tha tù trước thời hạn có điều kiện được đề nghị rút ngắn thời gian thử thách khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Đã chấp hành được một phần hai thời gian thử thách;

b) Có nhiều tiến bộ trong thời gian thử thách.

2. Người được tha tù trước thời hạn có điều kiện mỗi năm có thể được rút ngắn thời gian thử thách 01 lần từ 03 tháng đến 02 năm. Trường hợp thời gian thử thách của người được tha tù trước thời hạn có điều kiện còn lại dưới 03 tháng thì Tòa án có thể quyết định rút ngắn hết thời gian thử thách còn lại.

Người được tha tù trước thời hạn có điều kiện có thể được rút ngắn thời gian thử thách nhiều lần, nhưng phải bảo đảm thực tế đã chấp hành ít nhất ba phần tư thời gian thử thách, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này.

3. Trường hợp người được tha tù trước thời hạn có điều kiện là người dưới 18 tuổi, người đã lập công, người đã quá già yếu hoặc người bị bệnh hiểm nghèo và có đủ điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này thì Tòa án có thể rút ngắn hết thời gian thử thách còn lại.

Điều 65. Thủ tục rút ngắn thời gian thử thách đối với người được tha tù trước thời hạn có điều kiện

1. Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý người được tha tù trước thời hạn có điều kiện có trách nhiệm rà soát người đủ điều kiện theo quy định của Bộ luật Hình sự, lập hồ sơ và có văn bản đề nghị rút ngắn thời gian thử thách gửi cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu.

2. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ và văn bản đề nghị của Ủy ban nhân dân cấp xã được giao quản lý người được tha tù trước thời hạn có điều kiện, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện xem xét, có văn bản đề nghị rút ngắn thời gian thử thách đối với những người có đủ điều kiện gửi kèm hồ sơ đến cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh. Trong thời hạn 07 ngày kể từ khi nhận được hồ sơ và văn bản đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh xem xét, có văn bản đề nghị rút ngắn thời gian thử thách đối với người được tha tù trước thời hạn có điều kiện gửi Tòa án nhân dân cùng cấp xem xét, quyết định, đồng thời gửi Viện kiểm sát cùng cấp.

3. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ và văn bản đề nghị của đơn vị quân đội được giao quản lý người được tha tù trước thời hạn có điều kiện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu xem xét, có văn bản đề nghị rút ngắn thời gian thử thách đối với những người có đủ điều kiện gửi Tòa án quân sự cấp quân khu xem xét, quyết định, đồng thời gửi Viện kiểm sát cùng cấp.

4. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ và văn bản đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu, Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh án Tòa án quân sự cấp quân khu nơi người được tha tù trước thời hạn có điều kiện cư trú, làm việc thành lập Hội đồng và tổ chức phiên họp để xét, quyết định rút ngắn thời gian thử thách. Thành phần Hội đồng gồm 03 Thẩm phán; phiên họp có sự tham gia của Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp. Trường hợp hồ sơ phải bổ sung theo yêu cầu của Tòa án thì thời hạn mở phiên họp được tính từ ngày nhận được hồ sơ bổ sung.

5. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định về việc rút ngắn thời gian thử thách, Tòa án phải gửi quyết định đó cho người chấp hành án, Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp, cơ quan đề nghị rút ngắn thời gian thử thách, Tòa án đã ra quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện, Sở Tư pháp nơi Tòa án ra quyết định rút ngắn thời gian thử thách có trụ sở.

Điều 66. Việc kiểm điểm người được tha tù trước thời hạn có điều kiện

1. Trong thời gian thử thách, người được tha tù trước thời hạn có điều kiện vi phạm lần đầu nghĩa vụ quy định tại Điều 62 của Luật này hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính lần đầu thì Ủy ban nhân dân cấp xã được giao quản lý phải phối hợp với cơ quan, tổ chức, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở cơ sở tổ chức họp tại cộng đồng dân cư nơi người được tha tù trước thời hạn có điều kiện cư trú để kiểm điểm người đó; trường hợp người được tha tù trước thời hạn có điều kiện đang làm việc tại đơn vị quân đội thì việc kiểm điểm được thực hiện tại đơn vị quân đội nơi người đó làm việc.

2. Việc kiểm điểm phải được lập thành biên bản, lưu hồ sơ quản lý người được tha tù trước thời hạn có điều kiện và báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu.

Điều 67. Việc vắng mặt tại nơi cư trú của người được tha tù trước thời hạn có điều kiện

1. Người được tha tù trước thời hạn có điều kiện có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú được tính vào thời gian thử thách nhưng mỗi lần không quá 60 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian thử thách, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó.

2. Người được tha tù trước thời hạn có điều kiện khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, trường hợp không đồng ý thì Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người được tha tù trước thời hạn có điều kiện khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người được tha tù trước thời hạn có điều kiện vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý.

3. Người được tha tù trước thời hạn có điều kiện không được xuất cảnh trong thời gian thử thách.

Điều 68. Giải quyết trường hợp người được tha tù trước thời hạn có điều kiện thay đổi nơi cư trú, nơi làm việc

1. Trường hợp người được tha tù trước thời hạn có điều kiện vì lý do chính đáng mà phải thay đổi nơi cư trú, nơi làm việc thì phải làm đơn có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý gửi cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được đơn của người được tha tù trước thời hạn có điều kiện, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu phối hợp với các đơn vị có liên quan kiểm tra, xác minh và giải quyết cho người đó thay đổi nơi cư trú, nơi làm việc. Trường hợp không đồng ý thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

2. Người được tha tù trước thời hạn có điều kiện được xem xét, giải quyết cho thay đổi nơi cư trú nếu bảo đảm các điều kiện sau đây:

a) Bảo đảm các yêu cầu theo quy định của pháp luật về cư trú;

b) Được sự đồng ý của cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện trong trường hợp thay đổi nơi cư trú trong phạm vi đơn vị hành chính cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh trong trường hợp thay đổi nơi cư trú ngoài phạm vi đơn vị hành chính cấp huyện, cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an trong trường hợp thay đổi nơi cư trú ngoài phạm vi đơn vị hành chính cấp tỉnh.

3. Việc thay đổi nơi làm việc của người được tha tù trước thời hạn có điều kiện trong phạm vi quân khu do cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu quyết định.

Việc thay đổi nơi làm việc của người được tha tù trước thời hạn có điều kiện ngoài phạm vi quân khu do cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Quốc phòng quyết định.

Trường hợp người được tha tù trước thời hạn có điều kiện không tiếp tục làm việc trong quân đội thì cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu làm thủ tục chuyển hồ sơ cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người được tha tù trước thời hạn có điều kiện về cư trú để quản lý theo quy định tại khoản 3 Điều 59 của Luật này.

4. Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định chi tiết Điều này.

Điều 69. Xử lý người được tha tù trước thời hạn có điều kiện vi phạm nghĩa vụ hoặc vi phạm pháp luật bị xử phạt vi phạm hành chính

1. Người được tha tù trước thời hạn có điều kiện cố ý vi phạm nghĩa vụ quy định tại Điều 62 của Luật này thì Công an cấp xã lập biên bản vi phạm; trường hợp cố ý vi phạm lần thứ hai thì lập biên bản vi phạm và báo cáo Ủy ban nhân dân cấp xã.

Người được tha tù trước thời hạn có điều kiện do đơn vị quân đội quản lý cố ý vi phạm nghĩa vụ quy định tại Điều 62 của Luật này thì đơn vị quân đội được giao quản lý lập biên bản vi phạm; trường hợp cố ý vi phạm lần thứ hai thì lập biên bản vi phạm và báo cáo cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu.

2. Trường hợp người được tha tù trước thời hạn có điều kiện vi phạm pháp luật bị xử phạt vi phạm hành chính từ 02 lần trở lên thì Công an cấp xã báo cáo Ủy ban nhân dân cấp xã.

Trường hợp người được tha tù trước thời hạn có điều kiện do đơn vị quân đội quản lý vi phạm pháp luật bị xử phạt vi phạm hành chính từ 02 lần trở lên thì đơn vị quân đội được giao quản lý báo cáo cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu.

3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo của Công an cấp xã, Ủy ban nhân dân cấp xã phải có văn bản đề nghị cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện kèm theo biên bản vi phạm nghĩa vụ hoặc quyết định xử phạt vi phạm hành chính và các tài liệu khác có liên quan đối với người được tha tù trước thời hạn có điều kiện để tiến hành thủ tục đề nghị hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện.

Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo kèm theo biên bản vi phạm nghĩa vụ hoặc quyết định xử phạt vi phạm hành chính và các tài liệu khác có liên quan của đơn vị quân đội được giao quản lý người được tha tù trước thời hạn có điều kiện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu tiến hành thủ tục đề nghị hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện.

Điều 70. Giải quyết trường hợp phạm nhân đã được đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện mà vi phạm nội quy cơ sở giam giữ phạm nhân hoặc có hành vi vi phạm pháp luật

1. Trường hợp phạm nhân đã được đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện mà vi phạm nội quy cơ sở giam giữ phạm nhân và bị xử lý kỷ luật hoặc có hành vi vi phạm pháp luật trước khi có quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện của Tòa án thì cơ quan đã đề nghị theo quy định tại khoản 1 Điều 368 của Bộ luật Tố tụng hình sự có văn bản gửi Viện kiểm sát, Tòa án đề nghị rút hồ sơ và xóa tên phạm nhân trong danh sách đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện.

2. Trường hợp phạm nhân đã có quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện của Tòa án nhưng chưa có hiệu lực pháp luật mà vi phạm nội quy cơ sở giam giữ phạm nhân và bị xử lý kỷ luật hoặc có hành vi vi phạm pháp luật thì hồ sơ, trình tự, thủ tục xem xét hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 71 của Luật này và Điều 368 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Điều 71. Hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện

1. Trường hợp người được tha tù trước thời hạn có điều kiện vi phạm quy định tại khoản 4 Điều 66 của Bộ luật Hình sự thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu lập hồ sơ chuyển đến Tòa án đã ra quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện để xem xét, hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện, đồng thời gửi 01 bộ hồ sơ đến Viện kiểm sát cùng cấp với Tòa án. Hồ sơ bao gồm:

a) Văn bản của cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu đề nghị hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện;

b) Biên bản vi phạm nghĩa vụ hoặc quyết định xử phạt vi phạm hành chính;

c) Báo cáo của cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu về việc thực hiện nghĩa vụ của người được tha tù trước thời hạn có điều kiện trong thời gian thử thách;

d) Bản sao bản án, quyết định của Tòa án; bản sao quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện;

đ) Tài liệu khác có liên quan.

2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày quyết định hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện có hiệu lực pháp luật, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu phải thông báo bằng văn bản cho người bị hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được thông báo, người bị hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện phải có mặt tại cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu để chấp hành phần hình phạt tù còn lại; quá thời hạn trên mà người đó không có mặt thì Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp hoặc Vệ binh hỗ trợ tư pháp thực hiện áp giải thi hành án. Trường hợp người bị hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện bỏ trốn thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu làm thủ tục đề nghị cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền ra quyết định truy nã.

3. Trường hợp phạm nhân vi phạm nội quy cơ sở giam giữ phạm nhân hoặc có hành vi vi phạm pháp luật thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 70 của Luật này thì cơ quan đã đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện lập hồ sơ, chuyển đến Tòa án đã ra quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện để xem xét, hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện, đồng thời gửi 01 bộ hồ sơ đến Viện kiểm sát cùng cấp với Tòa án. Hồ sơ bao gồm:

a) Văn bản đề nghị hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện;

b) Quyết định kỷ luật phạm nhân kèm theo biên bản vi phạm nội quy cơ sở giam giữ phạm nhân hoặc văn bản về việc vi phạm pháp luật;

c) Tài liệu khác có liên quan.

4. Trình tự, thủ tục Tòa án xem xét, quyết định hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện thực hiện theo quy định tại Điều 368 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Điều 72. Trách nhiệm của gia đình người được tha tù trước thời hạn có điều kiện

Gia đình người được tha tù trước thời hạn có điều kiện có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội trong việc quản lý người được tha tù trước thời hạn có điều kiện; thông báo kết quả chấp hành các nghĩa vụ của người được tha tù trước thời hạn có điều kiện với Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý khi có yêu cầu; có mặt tại cuộc họp kiểm điểm người được tha tù trước thời hạn có điều kiện theo yêu cầu của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý người đó.

Mục 4. QUY ĐỊNH ĐỐI VỚI PHẠM NHÂN LÀ NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI

Điều 73. Phạm vi áp dụng

Phạm nhân là người dưới 18 tuổi chấp hành án theo quy định tại Mục này và các quy định khác không trái với quy định tại Mục này; khi đủ 18 tuổi thì chuyển sang thực hiện chế độ quản lý giam giữ, giáo dục đối với người từ đủ 18 tuổi trở lên.

Điều 74. Chế độ quản lý, giáo dục, học văn hóa, học nghề, lao động

1. Phạm nhân là người dưới 18 tuổi được giam giữ theo chế độ riêng phù hợp với sức khỏe, giới tính và đặc điểm nhân thân.

2. Trại giam có trách nhiệm giáo dục phạm nhân là người dưới 18 tuổi về văn hóa, pháp luật và dạy nghề phù hợp với độ tuổi, học vấn, giới tính và sức khỏe, chuẩn bị điều kiện để họ hòa nhập cộng đồng sau khi chấp hành xong án phạt tù. Thực hiện phổ cập giáo dục tiểu học và giáo dục trung học cơ sở. Giáo dục tiểu học là bắt buộc đối với phạm nhân chưa học xong chương trình tiểu học.

Chương trình, nội dung học tập, học nghề của phạm nhân dưới 18 tuổi do Chính phủ quy định.

3. Phạm nhân là người dưới 18 tuổi được lao động ở khu vực riêng và phù hợp với độ tuổi; không phải làm công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại.

Điều 75. Chế độ ăn, mặc, chăm sóc y tế, sinh hoạt văn hóa, văn nghệ và vui chơi giải trí

1. Phạm nhân là người dưới 18 tuổi được bảo đảm tiêu chuẩn định lượng ăn và được chăm sóc y tế như phạm nhân là người từ đủ 18 tuổi trở lên được tăng thêm thịt, cá nhưng không quá 20% so với định lượng.

2. Ngoài tiêu chuẩn mặc và tư trang như phạm nhân là người đủ 18 tuổi trở lên, mỗi năm phạm nhân là người dưới 18 tuổi được cấp thêm quần áo theo mẫu thống nhất và đồ dùng cá nhân khác theo quy định.

3. Thời gian và hình thức tổ chức các hoạt động thể dục, thể thao, sinh hoạt văn hóa, văn nghệ, nghe đài, đọc sách, báo, xem truyền hình và các hình thức vui chơi giải trí khác phù hợp với đặc điểm của người dưới 18 tuổi.

4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Điều 76. Chế độ gặp, liên lạc điện thoại với thân nhân

1. Phạm nhân là người dưới 18 tuổi được gặp thân nhân không quá 03 lần trong 01 tháng, mỗi lần gặp không quá 03 giờ. Căn cứ kết quả xếp loại chấp hành án, yêu cầu giáo dục cải tạo, thành tích lao động, học tập của phạm nhân, Giám thị trại giam quyết định kéo dài thời gian gặp nhưng không quá 24 giờ.

Phạm nhân là người dưới 18 tuổi được khen thưởng thì được gặp thân nhân thêm 01 lần trong 01 tháng.

2. Phạm nhân là người dưới 18 tuổi được liên lạc bằng điện thoại trong nước với thân nhân không quá 04 lần trong 01 tháng, mỗi lần không quá 10 phút, có sự giám sát của cán bộ trại giam và tự chịu chi phí.

3. Nhà nước khuyến khích thân nhân của phạm nhân là người dưới 18 tuổi quan tâm gửi sách vở, đồ dùng học tập, dụng cụ thể dục, thể thao, vui chơi, giải trí cho phạm nhân.

Chương IV

THI HÀNH ÁN TỬ HÌNH

Điều 77. Quyết định thi hành án tử hình

1. Chánh án Tòa án đã xét xử sơ thẩm ra quyết định thi hành án tử hình. Quyết định phải ghi rõ ngày, tháng, năm ra quyết định, họ, tên, chức vụ của người ra quyết định; bản án, quyết định được thi hành; họ, tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú của người bị kết án.

2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định thi hành án tử hình, Tòa án phải gửi quyết định đó cho các cơ quan sau đây:

a) Viện kiểm sát, cơ quan thi hành án hình sự cùng cấp;

b) Trại tạm giam nơi người chấp hành án đang bị giam giữ;

c) Sở Tư pháp nơi Tòa án đã ra quyết định thi hành án có trụ sở.

Điều 78. Quyết định thành lập Hội đồng thi hành án tử hình

1. Ngay khi có quyết định thi hành án tử hình, Chánh án Tòa án đã ra quyết định thi hành án có văn bản yêu cầu Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh hoặc Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu cử đại diện lãnh đạo tham gia Hội đồng thi hành án tử hình. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu, Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh hoặc Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu phải có văn bản cử đại diện lãnh đạo tham gia Hội đồng thi hành án tử hình.

2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản cử đại diện lãnh đạo tham gia Hội đồng thi hành án tử hình của các cơ quan quy định tại khoản 1 Điều này, Chánh án Tòa án đã ra quyết định thi hành án phải ra quyết định thành lập Hội đồng thi hành án tử hình. Quyết định thành lập Hội đồng thi hành án tử hình phải ghi rõ ngày, tháng, năm ra quyết định, họ, tên, chức vụ của người ra quyết định; căn cứ ra quyết định; họ, tên, chức vụ của người tham gia Hội đồng.

3. Hội đồng thi hành án tử hình bao gồm:

a) Chánh án hoặc Phó Chánh án Tòa án đã ra quyết định thi hành án làm Chủ tịch Hội đồng;

b) Viện trưởng hoặc Phó Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp;

c) Thủ trưởng hoặc Phó Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự cùng cấp.

4. Giúp việc cho Hội đồng thi hành án tử hình có Thư ký là cán bộ, công chức của Tòa án, do Chánh án Tòa án có thẩm quyền ra quyết định thi hành án phân công.

Điều 79. Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng thi hành án tử hình

1. Hội đồng thi hành án tử hình có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

a) Quyết định kế hoạch và chuẩn bị các điều kiện bảo đảm cho việc thi hành án;

b) Tổ chức kiểm tra các điều kiện về người chấp hành án tử hình theo quy định của Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự; ra quyết định hoãn thi hành án và báo cáo Chánh án Tòa án đã ra quyết định thi hành án khi người bị kết án không đủ điều kiện để thi hành án;

c) Yêu cầu cơ quan, tổ chức có liên quan cung cấp thông tin, tài liệu cần thiết cho việc thi hành án; yêu cầu đơn vị vũ trang nhân dân, cơ quan, tổ chức hỗ trợ bảo đảm an toàn việc thi hành án trong trường hợp cần thiết;

d) Điều hành việc thi hành án theo kế hoạch;

đ) Thông báo kết quả thi hành án cho cơ quan quản lý thi hành án hình sự;

e) Hội đồng tự giải thể sau khi hoàn thành nhiệm vụ của mình.

2. Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử hình triệu tập họp, công bố các quyết định có liên quan đến việc thi hành án tử hình, quyết định thời gian thi hành án; những nội dung cần giữ bí mật; các điều kiện bảo đảm việc tổ chức thực hiện kế hoạch thi hành án; địa điểm mai táng đối với trường hợp không được nhận tử thi hoặc không có đơn đề nghị được nhận tử thi. Cuộc họp phải được lập biên bản, lưu hồ sơ thi hành án tử hình.

Điều 80. Hồ sơ thi hành án tử hình

1. Hồ sơ thi hành án tử hình gồm các tài liệu sau đây:

a) Bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật; bản án phúc thẩm trong trường hợp bản án sơ thẩm có kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm;

b) Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm (nếu có);

c) Quyết định không kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và quyết định không kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao;

d) Bản sao Quyết định của Chủ tịch nước bác đơn xin ân giảm hình phạt tử hình (nếu có);

đ) Quyết định thi hành án tử hình;

e) Quyết định thành lập Hội đồng thi hành án tử hình;

g) Biên bản họp Hội đồng thi hành án tử hình;

h) Kế hoạch thi hành án tử hình;

i) Danh bản, chỉ bản, biên bản kiểm tra căn cước người bị thi hành án tử hình;

k) Biên bản kiểm tra, xác minh người bị thi hành án tử hình không thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 40 của Bộ luật Hình sự;

l) Tài liệu có liên quan đến việc hoãn thi hành án tử hình trong trường hợp hoãn thi hành án tử hình;

m) Biên bản giám định pháp y tử thi người đã bị thi hành án tử hình;

n) 01 ảnh của người đã bị thi hành án tử hình;

o) Biên bản thi hành án tử hình;

p) Báo cáo kết quả thi hành án tử hình;

q) Tài liệu khác có liên quan.

2. Hồ sơ thi hành án tử hình do cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu lập, quản lý và được lưu giữ, bảo quản theo chế độ hồ sơ do Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định.

Điều 81. Hoãn thi hành án tử hình

1. Hội đồng thi hành án tử hình quyết định hoãn thi hành án tử hình nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Người bị kết án tử hình thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 40 của Bộ luật Hình sự;

b) Có lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan;

c) Ngay trước khi thi hành án người bị kết án tử hình khai báo những tình tiết mới về tội phạm.

2. Khi quyết định hoãn thi hành án tử hình, Hội đồng thi hành án tử hình phải lập biên bản ghi rõ ngày, giờ, tháng, năm, địa điểm thi hành án; họ, tên, chức vụ của thành viên Hội đồng; lý do hoãn thi hành án. Biên bản hoãn thi hành án phải được tất cả các thành viên Hội đồng ký, lưu hồ sơ thi hành án tử hình và báo cáo Chánh án Tòa án đã ra quyết định thi hành án, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu và cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu.

3. Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp hoặc Vệ binh hỗ trợ tư pháp áp giải, bàn giao người được hoãn thi hành án tử hình cho trại tạm giam để tiếp tục quản lý giam giữ người đó. Việc giao nhận người được hoãn thi hành án tử hình phải được lập thành biên bản.

4. Trường hợp hoãn thi hành án theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều này thì Hội đồng thi hành án tử hình hoãn thi hành án và báo cáo Chánh án Tòa án đã ra quyết định thi hành án để báo cáo Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét, quyết định.

Trường hợp hoãn thi hành án theo quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này mà lý do hoãn không còn thì Chánh án Tòa án ra quyết định thi hành án yêu cầu Hội đồng tiếp tục thực hiện việc thi hành án. Trường hợp có sự thay đổi thành viên Hội đồng thì Chánh án Tòa án đã ra quyết định thi hành án quyết định thay đổi thành viên Hội đồng hoặc thành lập Hội đồng thi hành án tử hình theo quy định tại Điều 78 của Luật này.

Điều 82. Hình thức và trình tự thi hành án tử hình

1. Thi hành án tử hình được thực hiện bằng tiêm thuốc độc. Quy trình thực hiện việc tiêm thuốc độc do Chính phủ quy định.

2. Trước khi thi hành án, Hội đồng thi hành án tử hình phải kiểm tra danh bản, chỉ bản, hồ sơ lý lịch của người chấp hành án tử hình; trường hợp người chấp hành án là nữ thì Hội đồng phải kiểm tra các tài liệu liên quan đến điều kiện không thi hành án tử hình theo quy định của Bộ luật Hình sự.

3. Trước khi bị đưa ra thi hành án tử hình, người chấp hành án được ăn, uống, viết thư, ghi âm lời nói gửi lại thân nhân.

4. Trình tự thi hành án tử hình được thực hiện như sau:

a) Căn cứ quyết định thi hành án tử hình và yêu cầu của Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử hình, Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp hoặc Vệ binh hỗ trợ tư pháp thực hiện áp giải người chấp hành án đến nơi làm việc của Hội đồng thi hành án tử hình;

b) Thực hiện yêu cầu của Hội đồng thi hành án tử hình, cán bộ chuyên môn thuộc Công an nhân dân hoặc Quân đội nhân dân tiến hành lăn tay, kiểm tra danh bản, chỉ bản, đối chiếu với hồ sơ, tài liệu có liên quan; chụp ảnh, ghi hình quá trình làm thủ tục lăn tay, kiểm tra và lập biên bản; báo cáo Hội đồng thi hành án tử hình về kết quả kiểm tra;

c) Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử hình công bố quyết định thi hành án, quyết định không kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và quyết định không kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao không chấp nhận kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao hoặc kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, quyết định của Chủ tịch nước bác đơn xin ân giảm hình phạt tử hình.

Ngay sau khi Chủ tịch Hội đồng thi hành án công bố các quyết định, Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp hoặc Vệ binh hỗ trợ tư pháp có nhiệm vụ giao các quyết định trên cho người chấp hành án để người đó tự đọc. Trường hợp người chấp hành án không biết chữ, không biết tiếng Việt hoặc không tự mình đọc được thì Hội đồng thi hành án tử hình chỉ định người đọc hoặc phiên dịch các quyết định trên cho người đó nghe. Quá trình công bố và đọc các quyết định phải được chụp ảnh, ghi hình, ghi âm và lưu vào hồ sơ thi hành án tử hình;

d) Theo lệnh của Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử hình, cán bộ chuyên môn do cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu chỉ định thực hiện việc thi hành án và báo cáo kết quả cho Chủ tịch Hội đồng;

đ) Theo lệnh của Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử hình, bác sỹ pháp y xác định tình trạng của người đã bị thi hành án tử hình và báo cáo kết quả cho Hội đồng;

e) Hội đồng thi hành án tử hình lập biên bản thi hành án; báo cáo về quá trình, kết quả thi hành án cho Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, cơ quan quản lý thi hành án hình sự. Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu làm thủ tục khai tử tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thi hành án;

g) Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu có trách nhiệm bảo quản tử thi, tổ chức mai táng, vẽ sơ đồ mộ người đã bị thi hành án. Ủy ban nhân dân cấp xã nơi mai táng có nhiệm vụ phối hợp với cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu trong việc mai táng và quản lý mộ của người đã bị thi hành án;

h) Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày thi hành án, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu thông báo cho thân nhân của người đã bị thi hành án biết, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 83 của Luật này.

Điều 83. Giải quyết việc xin nhận tử thi, tro cốt và hài cốt của người bị thi hành án tử hình

1. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định thi hành án tử hình, Chánh án Tòa án đã ra quyết định thi hành án phải thông báo cho thân nhân hoặc người đại diện của người bị thi hành án tử hình biết để làm đơn xin nhận tử thi của người đã bị thi hành án tử hình. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo, đơn xin nhận tử thi của người bị thi hành án tử hình phải được gửi cho Chánh án Tòa án đã ra thông báo. Đơn xin nhận tử thi về mai táng phải ghi rõ họ, tên, địa chỉ người nhận tử thi; quan hệ với người bị thi hành án; cam kết bảo đảm yêu cầu về an ninh, trật tự, vệ sinh môi trường và tự chịu chi phí. Đơn phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú, trường hợp người bị thi hành án tử hình là người nước ngoài thì đơn phải có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền hoặc cơ quan đại diện của nước mà người đó mang quốc tịch và phải được dịch sang tiếng Việt.

2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn xin nhận tử thi về mai táng của thân nhân hoặc người đại diện của người bị thi hành án tử hình, Chánh án Tòa án đã ra quyết định thi hành án tử hình phải thông báo bằng văn bản về việc chấp nhận hay không chấp nhận cho nhận tử thi về mai táng. Nếu không chấp nhận cho nhận tử thi về mai táng thì nêu rõ lý do.

3. Trước khi thi hành án tử hình 03 ngày làm việc, Chánh án Tòa án đã ra quyết định thi hành án tử hình phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh hoặc cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu biết để giải quyết việc cho nhận tử thi của người đã bị thi hành án tử hình về mai táng hoặc tổ chức việc mai táng người đã bị thi hành án tử hình.

4. Trường hợp Chánh án Tòa án đã ra quyết định thành lập Hội đồng thi hành án tử hình chấp nhận cho nhận tử thi của người đã bị thi hành án tử hình, nhưng trong quá trình triển khai thi hành án tử hình, Hội đồng thi hành án tử hình xét thấy việc cho nhận tử thi không bảo đảm an ninh, trật tự thì quyết định không cho nhận và thông báo bằng văn bản cho thân nhân của người đã bị thi hành án tử hình, đồng thời giao cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh hoặc cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu tổ chức mai táng và báo cáo lại Chánh án Tòa án đã ra quyết định.

5. Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu có trách nhiệm thông báo cho người có đơn đề nghị ngay sau khi thi hành án để đến nhận tử thi về mai táng. Việc giao, nhận tử thi của người đã bị thi hành án tử hình phải được thực hiện trong thời hạn 24 giờ kể từ khi thông báo và do cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu thực hiện. Việc giao, nhận tử thi phải được lập thành văn bản, có chữ ký của bên giao và bên nhận. Hết thời hạn này mà người có đơn đề nghị không đến nhận tử thi thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu có trách nhiệm mai táng.

6. Trường hợp thân nhân hoặc người đại diện của người bị thi hành án tử hình muốn nhận tro cốt của người bị thi hành án và tự chịu chi phí hỏa táng thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu bàn giao tử thi và hỗ trợ đưa tử thi về nơi hỏa táng.

7. Trường hợp cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu tổ chức việc mai táng người bị thi hành án tử hình thì sau 03 năm kể từ ngày thi hành án, thân nhân hoặc người đại diện của người đã bị thi hành án được làm đơn đề nghị cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi đã thi hành án cho nhận hài cốt. Đơn phải ghi rõ họ, tên, địa chỉ người nhận hài cốt; quan hệ với người đã bị thi hành án; cam kết bảo đảm yêu cầu về an ninh, trật tự, vệ sinh môi trường và tự chịu chi phí. Đơn phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú, trường hợp người bị thi hành án là người nước ngoài thì đơn đề nghị phải có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền hoặc cơ quan đại diện của nước mà người đó mang quốc tịch và phải được dịch ra tiếng Việt. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được đơn, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu có trách nhiệm xem xét giải quyết.

Chương V

THI HÀNH ÁN TREO, ÁN PHẠT CẢNH CÁO, CẢI TẠO KHÔNG GIAM GIỮ

Mục 1. THI HÀNH ÁN TREO

Điều 84. Quyết định thi hành án treo

1. Quyết định thi hành án treo phải ghi rõ họ, tên, chức vụ người ra quyết định; bản án, quyết định được thi hành; tên cơ quan có nhiệm vụ thi hành; họ, tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú của người được hưởng án treo; mức hình phạt tù và thời gian thử thách của người được hưởng án treo; hình phạt bổ sung, trừ hình phạt bổ sung là hình phạt tiền; hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định tại khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự; Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục người được hưởng án treo.

2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định thi hành án treo, Tòa án phải gửi quyết định đó cho cá nhân, cơ quan sau đây:

a) Người được hưởng án treo và người đại diện trong trường hợp người được hưởng án treo là người dưới 18 tuổi;

b) Viện kiểm sát cùng cấp;

c) Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục người được hưởng án treo, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi người được hưởng án treo làm việc;

d) Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục người được hưởng án treo;

đ) Sở Tư pháp nơi Tòa án đã ra quyết định thi hành án có trụ sở.

Điều 85. Thi hành quyết định thi hành án treo

1. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định thi hành án treo, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu phải triệu tập người được hưởng án treo, người đại diện trong trường hợp người được hưởng án treo là người dưới 18 tuổi đến trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú, đơn vị quân đội nơi người đó làm việc để cam kết việc chấp hành án. Người được hưởng án treo, người đại diện của người được hưởng án treo phải có mặt theo giấy triệu tập, trừ trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Trường hợp người được hưởng án treo không có mặt theo giấy triệu tập hoặc không cam kết thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu lập biên bản vi phạm nghĩa vụ.

2. Khi nhận được quyết định thi hành án, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu lập hồ sơ thi hành án và sao gửi cho Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục người được hưởng án treo. Hồ sơ bao gồm:

a) Bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật;

b) Quyết định thi hành án treo;

c) Cam kết của người được hưởng án treo. Đối với người được hưởng án treo là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thì bản cam kết của người đó phải có xác nhận của người đại diện;

d) Tài liệu khác có liên quan.

3. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày triệu tập người được hưởng án treo, Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục người được hưởng án treo phải lập hồ sơ giám sát, giáo dục người được hưởng án treo. Hồ sơ bao gồm:

a) Bản sao các tài liệu quy định tại khoản 2 Điều này;

b) Bản nhận xét của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục về việc chấp hành nghĩa vụ của người được hưởng án treo;

c) Bản tự nhận xét của người được hưởng án treo về việc thực hiện nghĩa vụ chấp hành pháp luật; trường hợp người được hưởng án treo bị kiểm điểm theo quy định tại Điều 91 của Luật này thì phải có bản kiểm điểm và biên bản cuộc họp kiểm điểm;

d) Trường hợp người được hưởng án treo được rút ngắn thời gian thử thách thì phải có quyết định của Tòa án;

đ) Tài liệu khác có liên quan.

4. Trước khi hết thời gian thử thách 03 ngày, Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục bàn giao hồ sơ giám sát, giáo dục cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu. Vào ngày cuối cùng của thời gian thử thách, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu phải cấp giấy chứng nhận chấp hành xong thời gian thử thách. Giấy chứng nhận phải gửi cho người được hưởng án treo, Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục, Tòa án đã ra quyết định thi hành án, Viện kiểm sát cùng cấp, Sở Tư pháp nơi Tòa án đã ra quyết định thi hành án có trụ sở.

5. Trường hợp người được hưởng án treo chết, Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục thông báo cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu để thông báo cho Tòa án đã ra quyết định thi hành án. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo, Tòa án đã ra quyết định thi hành án phải ra quyết định đình chỉ thi hành án và gửi cho cơ quan quy định tại các điểm b, c, d và đ khoản 2 Điều 84 của Luật này.

Điều 86. Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục người được hưởng án treo

1. Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục người được hưởng án treo có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

a) Lập hồ sơ, tổ chức giám sát, giáo dục người được hưởng án treo; bàn giao hồ sơ cho cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền theo quy định của Luật này;

b) Yêu cầu người được hưởng án treo thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình; có biện pháp giáo dục, phòng ngừa khi người đó có dấu hiệu vi phạm pháp luật;

c) Biểu dương người được hưởng án treo có nhiều tiến bộ hoặc lập công;

d) Giải quyết cho người được hưởng án treo được vắng mặt ở nơi cư trú theo quy định của Luật này và pháp luật về cư trú;

đ) Phối hợp với các tổ chức chính trị - xã hội, gia đình và cơ quan, tổ chức nơi người được hưởng án treo làm việc, học tập trong việc giám sát, giáo dục người đó;

e) Báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện để đề nghị Tòa án cùng cấp xem xét, quyết định việc rút ngắn thời gian thử thách;

g) Báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện tiến hành trình tự, thủ tục đề nghị Tòa án có thẩm quyền quyết định buộc người được hưởng án treo vi phạm nghĩa vụ phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định của Luật này;

h) Báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện khi người được hưởng án treo bỏ trốn;

i) Hằng tháng nhận xét bằng văn bản về quá trình chấp hành án của người được hưởng án treo và lưu hồ sơ giám sát, giáo dục;

k) Báo cáo cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền về kết quả thi hành án.

2. Công an cấp xã có nhiệm vụ tham mưu, trực tiếp giúp Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại khoản 1 Điều này.

3. Đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục người được hưởng án treo có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

a) Nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại các điểm a, b, c, i và k khoản 1 Điều này;

b) Phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã giải quyết cho người được hưởng án treo được vắng mặt ở nơi cư trú theo quy định của Luật này và pháp luật về cư trú;

c) Phối hợp với gia đình và Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người được hưởng án treo cư trú trong việc giám sát, giáo dục người đó;

d) Báo cáo cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu để đề nghị Tòa án quân sự khu vực xem xét, quyết định việc rút ngắn thời gian thử thách;

đ) Báo cáo cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền tiến hành trình tự, thủ tục đề nghị Tòa án có thẩm quyền quyết định buộc người được hưởng án treo vi phạm nghĩa vụ phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định của Luật này;

e) Báo cáo cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu khi người được hưởng án treo bỏ trốn.

Điều 87. Nghĩa vụ của người được hưởng án treo

1. Có mặt theo giấy triệu tập và cam kết việc chấp hành án theo quy định tại khoản 1 Điều 85 của Luật này.

2. Thực hiện nghiêm chỉnh cam kết trong việc tuân thủ pháp luật, nghĩa vụ công dân, nội quy, quy chế của nơi cư trú, nơi làm việc, học tập; chấp hành đầy đủ hình phạt bổ sung, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp vì lý do khách quan được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận.

3. Chịu sự giám sát, giáo dục của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi cư trú, nơi làm việc.

4. Chấp hành quy định tại Điều 92 của Luật này.

5. Phải có mặt theo yêu cầu của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu.

6. Hằng tháng phải báo cáo bằng văn bản với Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục về tình hình chấp hành nghĩa vụ của mình. Trường hợp vắng mặt theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật này thì khi hết thời hạn vắng mặt, người được hưởng án treo phải báo cáo về tình hình chấp hành nghĩa vụ của mình.

Điều 88. Việc lao động, học tập của người được hưởng án treo

1. Người được hưởng án treo là cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, chiến sĩ, công nhân và viên chức quốc phòng, công nhân công an, người lao động nếu được tiếp tục làm việc tại cơ quan, tổ chức thì được bố trí công việc bảo đảm yêu cầu giám sát, giáo dục, được hưởng tiền lương và chế độ khác phù hợp với công việc mà họ đảm nhiệm, được tính vào thời gian công tác, thời gian tại ngũ theo quy định của pháp luật.

2. Người được hưởng án treo được cơ sở giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp tiếp nhận học tập thì được hưởng quyền lợi theo quy chế của cơ sở đó.

3. Người được hưởng án treo không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú tạo điều kiện tìm việc làm.

4. Người được hưởng án treo thuộc đối tượng được hưởng chế độ ưu đãi người có công với cách mạng, người đang hưởng chế độ bảo hiểm xã hội thì thực hiện theo quy định của pháp luật.

Điều 89. Rút ngắn thời gian thử thách đối với người được hưởng án treo

1. Người được hưởng án treo được đề nghị rút ngắn thời gian thử thách khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Đã chấp hành được một phần hai thời gian thử thách;

b) Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo đã chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 87 của Luật này; tích cực học tập, lao động, sửa chữa lỗi lầm hoặc lập thành tích trong lao động, bảo vệ an ninh, trật tự được cơ quan nhà nước có thẩm quyền khen thưởng.

2. Người được hưởng án treo chỉ được xét rút ngắn thời gian thử thách mỗi năm 01 lần, mỗi lần từ 01 tháng đến 01 năm. Trường hợp thời gian thử thách còn lại không quá 01 tháng thì có thể được rút ngắn hết thời gian thử thách còn lại. Người được hưởng án treo có thể được rút ngắn thời gian thử thách nhiều lần, nhưng phải bảo đảm thực tế đã chấp hành ba phần tư thời gian thử thách.

3. Trường hợp người được hưởng án treo lập công hoặc bị bệnh hiểm nghèo và có đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này thì Tòa án có thể rút ngắn hết thời gian thử thách còn lại.

4. Trường hợp người được hưởng án treo đã được rút ngắn thời gian thử thách nhưng sau đó vi phạm nghĩa vụ quy định tại Điều 87 của Luật này và bị Tòa án quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo thì thời gian thử thách đã được rút ngắn không được tính để trừ vào thời gian chấp hành án phạt tù.

Điều 90. Thủ tục rút ngắn thời gian thử thách đối với người được hưởng án treo

1. Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục người được hưởng án treo có trách nhiệm rà soát người đủ điều kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 89 của Luật này, báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu kèm theo tài liệu có liên quan để đề nghị xét rút ngắn thời gian thử thách.

2. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được báo cáo, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện lập hồ sơ và có văn bản đề nghị rút ngắn thời gian thử thách đối với người có đủ điều kiện gửi đến Tòa án và Viện kiểm sát cùng cấp. Trường hợp xét thấy không đủ điều kiện lập hồ sơ rút ngắn thời gian thử thách, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện có văn bản thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục người được hưởng án treo.

Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được báo cáo, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu lập hồ sơ và có văn bản đề nghị rút ngắn thời gian thử thách đối với người có đủ điều kiện gửi đến Tòa án và Viện kiểm sát quân sự khu vực. Trường hợp xét thấy không đủ điều kiện lập hồ sơ rút ngắn thời gian thử thách, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu có văn bản thông báo cho đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục người được hưởng án treo.

3. Hồ sơ đề nghị rút ngắn thời gian thử thách bao gồm:

a) Đơn đề nghị rút ngắn thời gian thử thách của người được hưởng án treo;

b) Bản sao bản án. Đối với trường hợp xét rút ngắn thời gian thử thách từ lần thứ hai thì bản sao bản án được thay bằng bản sao quyết định thi hành án treo;

c) Văn bản đề nghị rút ngắn thời gian thử thách của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục người được hưởng án treo;

d) Trường hợp người được hưởng án treo được khen thưởng hoặc lập công thì hồ sơ phải có quyết định khen thưởng hoặc giấy xác nhận của cơ quan có thẩm quyền về việc người được hưởng án treo lập công; trường hợp bị bệnh hiểm nghèo thì phải có kết luận của bệnh viện cấp tỉnh, bệnh viện cấp quân khu trở lên về tình trạng bệnh của họ;

đ) Trường hợp người được hưởng án treo đã được rút ngắn thời gian thử thách thì phải có bản sao quyết định rút ngắn thời gian thử thách.

4. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị rút ngắn thời gian thử thách, Chánh án Tòa án nhân dân cấp huyện, Chánh án Tòa án quân sự khu vực nơi người được hưởng án treo cư trú hoặc làm việc thành lập Hội đồng và tổ chức phiên họp để xét, quyết định rút ngắn thời gian thử thách. Thành phần Hội đồng gồm 03 Thẩm phán; phiên họp có sự tham gia của Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp. Trường hợp hồ sơ phải bổ sung theo yêu cầu của Tòa án thì thời hạn mở phiên họp được tính từ ngày nhận được hồ sơ bổ sung.

5. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định về việc chấp nhận toàn bộ, chấp nhận một phần hoặc không chấp nhận rút ngắn thời gian thử thách của án treo, Tòa án phải gửi quyết định đó cho người chấp hành án, Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp, cơ quan đề nghị rút ngắn thời gian thử thách, Tòa án đã ra quyết định cho hưởng án treo, Sở Tư pháp nơi Tòa án ra quyết định cho hưởng án treo có trụ sở.

Điều 91. Việc kiểm điểm người được hưởng án treo

1. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo thuộc một trong các trường hợp sau đây thì Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục tổ chức kiểm điểm:

a) Vi phạm nghĩa vụ quy định tại các khoản 2, 3, 4, 5 và 6 Điều 87 của Luật này và đã bị nhắc nhở bằng văn bản về việc vi phạm mà tiếp tục vi phạm;

b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính.

2. Việc kiểm điểm phải được lập thành biên bản, lưu hồ sơ giám sát, giáo dục và báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu.

Điều 92. Giải quyết việc vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc của người được hưởng án treo

1. Người được hưởng án treo có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 60 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian thử thách, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó.

2. Người được hưởng án treo khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục; trường hợp không đồng ý thì Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người được hưởng án treo khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người được hưởng án treo vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan.

3. Việc giải quyết trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật này.

4. Người được hưởng án treo không được xuất cảnh trong thời gian thử thách.

Điều 93. Xử lý vi phạm đối với người được hưởng án treo

1. Trường hợp người được hưởng án treo vi phạm nghĩa vụ quy định tại khoản 1 Điều 87 của Luật này thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu lập biên bản vi phạm, đồng thời yêu cầu người được hưởng án treo phải có mặt trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày lập biên bản vi phạm. Hết thời hạn này mà người được hưởng án treo vẫn không có mặt thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu lập biên bản vi phạm và đề nghị Tòa án nhân dân cấp huyện nơi người được hưởng án treo cư trú, Tòa án quân sự khu vực nơi người được hưởng án treo làm việc quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo đã bị kiểm điểm theo quy định tại Điều 91 của Luật này nhưng sau khi kiểm điểm vẫn tiếp tục vi phạm và đã được nhắc nhở bằng văn bản mà vẫn cố ý vi phạm thì Công an cấp xã đề xuất Ủy ban nhân dân cấp xã báo cáo, đề nghị cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện tiến hành trình tự, thủ tục đề nghị Tòa án có thẩm quyền quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện lập hồ sơ đề nghị buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo gửi Tòa án nhân dân cấp huyện để xem xét, quyết định, đồng thời gửi Viện kiểm sát cùng cấp. Hồ sơ bao gồm:

a) Văn bản đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện;

b) Báo cáo của Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục người được hưởng án treo về việc người được hưởng án treo vi phạm nghĩa vụ từ 02 lần trở lên;

c) Biên bản người được hưởng án treo vi phạm nghĩa vụ;

d) Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với người được hưởng án treo trong trường hợp người đó bị xử phạt vi phạm hành chính;

đ) Biên bản kiểm điểm người được hưởng án treo vi phạm nghĩa vụ;

e) Tài liệu khác có liên quan.

4. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo do đơn vị quân đội giám sát, giáo dục đã bị kiểm điểm theo quy định tại Điều 91 của Luật này nhưng sau khi kiểm điểm vẫn tiếp tục vi phạm và đã được nhắc nhở bằng văn bản mà vẫn cố ý vi phạm thì đơn vị quân đội giám sát, giáo dục lập biên bản vi phạm và đề nghị cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu tiến hành trình tự, thủ tục đề nghị Tòa án có thẩm quyền quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo, đồng thời gửi Viện kiểm sát quân sự cùng cấp. Hồ sơ bao gồm:

a) Văn bản đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu;

b) Báo cáo của đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục người được hưởng án treo về việc người được hưởng án treo vi phạm nghĩa vụ từ 02 lần trở lên;

c) Biên bản người được hưởng án treo vi phạm nghĩa vụ;

d) Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với người được hưởng án treo trong trường hợp người đó bị xử phạt hành chính;

đ) Biên bản kiểm điểm người được hưởng án treo vi phạm nghĩa vụ;

e) Tài liệu khác có liên quan.

5. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị, Chánh án Tòa án nhân dân cấp huyện, Chánh án Tòa án quân sự khu vực nơi người được hưởng án treo cư trú hoặc làm việc thành lập Hội đồng và tổ chức phiên họp để xét, quyết định buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Thành phần Hội đồng gồm 03 Thẩm phán; phiên họp có sự tham gia của Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp. Trường hợp hồ sơ phải bổ sung theo yêu cầu của Tòa án thì thời hạn mở phiên họp được tính từ ngày nhận được hồ sơ bổ sung.

Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định về việc buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo, Tòa án phải gửi quyết định cho cá nhân, cơ quan quy định tại khoản 2 Điều 84 của Luật này.

6. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu phải làm thủ tục đưa người bị buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo đi chấp hành án phạt tù. Trường hợp người bị Tòa án quyết định chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo bỏ trốn thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu làm thủ tục đề nghị cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền ra quyết định truy nã.

Trường hợp Tòa án không chấp nhận đề nghị buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu lưu quyết định và các tài liệu có liên quan vào hồ sơ thi hành án treo và thông báo quyết định cho Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục người được hưởng án treo để tiếp tục giám sát, giáo dục.

Điều 94. Trách nhiệm giám sát, giáo dục của cơ quan, tổ chức và gia đình đối với người được hưởng án treo

1. Cơ quan, tổ chức có liên quan có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội trong việc giám sát, giáo dục người được hưởng án treo.

2. Gia đình người được hưởng án treo có trách nhiệm phối hợp trong việc giám sát, giáo dục và thông báo kết quả chấp hành án của người được hưởng án treo cho Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục khi có yêu cầu; phải có mặt tại cuộc họp kiểm điểm người được hưởng án treo theo yêu cầu của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục.

Mục 2. THI HÀNH ÁN PHẠT CẢNH CÁO

Điều 95. Thi hành án phạt cảnh cáo

1. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, Tòa án đã xét xử sơ thẩm phải gửi bản án cho người bị phạt cảnh cáo, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu, Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội nơi người bị phạt cảnh cáo cư trú hoặc làm việc, Sở Tư pháp nơi Tòa án đã xét xử sơ thẩm có trụ sở.

2. Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu có trách nhiệm theo dõi, thống kê, báo cáo theo quy định của Luật này.

Mục 3. THI HÀNH ÁN PHẠT CẢI TẠO KHÔNG GIAM GIỮ

Điều 96. Quyết định thi hành án phạt cải tạo không giam giữ

1. Quyết định thi hành án phạt cải tạo không giam giữ phải ghi rõ họ, tên, chức vụ người ra quyết định; bản án được thi hành; họ, tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú của người chấp hành án; thời hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ; hình phạt bổ sung, trừ hình phạt bổ sung là hình phạt tiền; tên cơ quan có nhiệm vụ thi hành; Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục người chấp hành án.

2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định thi hành án phạt cải tạo không giam giữ, Tòa án phải gửi quyết định đó cho cá nhân, cơ quan sau đây:

a) Người chấp hành án, người đại diện trong trường hợp người chấp hành án là người dưới 18 tuổi;

b) Viện kiểm sát cùng cấp;

c) Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục người chấp hành án, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi người chấp hành án làm việc;

d) Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục người chấp hành án;

đ) Sở Tư pháp nơi Tòa án đã ra quyết định thi hành án có trụ sở.

Điều 97. Thi hành quyết định thi hành án phạt cải tạo không giam giữ

1. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định thi hành án phạt cải tạo không giam giữ, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu phải triệu tập người chấp hành án, người đại diện trong trường hợp người chấp hành án là người dưới 18 tuổi đến trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú, đơn vị quân đội nơi người đó làm việc để cam kết việc chấp hành án. Người chấp hành án, người đại diện của người chấp hành án phải có mặt theo giấy triệu tập, trừ trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Trường hợp người chấp hành án không có mặt theo giấy triệu tập hoặc không cam kết thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu lập biên bản vi phạm nghĩa vụ.

2. Khi nhận được quyết định thi hành án, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu lập hồ sơ thi hành án và sao gửi cho Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục người chấp hành án. Hồ sơ bao gồm:

a) Bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật;

b) Quyết định thi hành án;

c) Cam kết của người chấp hành án. Đối với người chấp hành án là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thì bản cam kết của người đó phải có xác nhận của người đại diện;

d) Tài liệu khác có liên quan.

3. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày triệu tập người chấp hành án, Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục người chấp hành án phải lập hồ sơ giám sát, giáo dục người chấp hành án. Hồ sơ bao gồm:

a) Các tài liệu quy định tại khoản 2 Điều này;

b) Bản nhận xét của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục về việc chấp hành nghĩa vụ của người chấp hành án;

c) Bản tự nhận xét của người chấp hành án về việc thực hiện nghĩa vụ chấp hành pháp luật; trường hợp người chấp hành án bị kiểm điểm theo quy định tại Điều 105 của Luật này thì phải có bản kiểm điểm và biên bản cuộc họp kiểm điểm;

d) Trường hợp được giảm thời hạn chấp hành án, miễn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ thì phải có quyết định của Tòa án;

đ) Tài liệu khác có liên quan.

4. Trước khi hết thời gian chấp hành án 03 ngày, Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục bàn giao hồ sơ giám sát, giáo dục cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu. Vào ngày cuối cùng của thời hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu phải cấp giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt cải tạo không giam giữ. Giấy chứng nhận phải gửi cho người chấp hành án, Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục, Tòa án đã ra quyết định thi hành án, Viện kiểm sát cùng cấp, Sở Tư pháp nơi Tòa án đã ra quyết định thi hành án có trụ sở.

5. Trường hợp người chấp hành án chết, Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục thông báo cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu để thông báo cho Tòa án đã ra quyết định thi hành án. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo, Tòa án đã ra quyết định thi hành án phải ra quyết định đình chỉ thi hành án và gửi cho cơ quan quy định tại các điểm b, c, d và đ khoản 2 Điều 96 của Luật này.

Điều 98. Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ

1. Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục người chấp hành án có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

a) Lập hồ sơ, tổ chức giám sát, giáo dục người chấp hành án; bàn giao hồ sơ cho cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền theo quy định của Luật này;

b) Yêu cầu người chấp hành án thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình; có biện pháp giáo dục, phòng ngừa khi người đó có dấu hiệu vi phạm pháp luật;

c) Biểu dương người chấp hành án có nhiều tiến bộ hoặc lập công;

d) Giải quyết cho người chấp hành án được vắng mặt ở nơi cư trú theo quy định của Luật này và pháp luật về cư trú;

đ) Phối hợp với các tổ chức chính trị - xã hội, gia đình và cơ quan, tổ chức nơi người chấp hành án làm việc, học tập trong việc giám sát, giáo dục người đó;

e) Báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện để đề nghị Tòa án có thẩm quyền xem xét, quyết định giảm thời hạn chấp hành án, miễn chấp hành án;

g) Phối hợp với cơ quan thi hành án dân sự thực hiện khấu trừ một phần thu nhập của người chấp hành án theo quyết định của Tòa án để sung quỹ nhà nước;

h) Tổ chức giám sát người chấp hành án thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng;

i) Đề nghị cơ quan, người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính hoặc xem xét, truy cứu trách nhiệm hình sự người chấp hành án trong trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 105 của Luật này;

k) Hằng tháng nhận xét bằng văn bản về quá trình chấp hành án của người chấp hành án và lưu hồ sơ giám sát, giáo dục;

l) Báo cáo cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền về kết quả thi hành án.

2. Công an cấp xã có nhiệm vụ tham mưu, trực tiếp giúp Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại khoản 1 Điều này.

3. Đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục người chấp hành án có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

a) Nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại các điểm a, b, c, g, i, k và l khoản 1 Điều này;

b) Phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã giải quyết cho người chấp hành án được vắng mặt ở nơi cư trú theo quy định của Luật này và pháp luật về cư trú;

c) Phối hợp với gia đình và Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người chấp hành án cư trú trong việc giám sát, giáo dục người đó;

d) Báo cáo cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu để đề nghị Tòa án có thẩm quyền xem xét, quyết định giảm thời hạn chấp hành án, miễn chấp hành án.

Điều 99. Nghĩa vụ của người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ

1. Có mặt theo giấy triệu tập và cam kết việc chấp hành án theo quy định tại khoản 1 Điều 97 của Luật này.

2. Chấp hành nghiêm chỉnh cam kết tuân thủ pháp luật, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân, nội quy, quy chế của nơi cư trú, nơi làm việc; tích cực tham gia lao động, học tập; chấp hành đầy đủ nghĩa vụ bồi thường thiệt hại, các hình phạt bổ sung theo bản án của Tòa án.

3. Thực hiện nghĩa vụ nộp phần thu nhập bị khấu trừ; thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng theo quy định của pháp luật.

4. Chịu sự giám sát, giáo dục của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi cư trú, nơi làm việc.

5. Chấp hành quy định tại Điều 100 của Luật này.

6. Có mặt theo yêu cầu của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu.

7. Hằng tháng phải nộp bản tự nhận xét về việc thực hiện nghĩa vụ chấp hành án cho Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 100 của Luật này.

Điều 100. Giải quyết việc vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc của người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ

1. Người chấp hành án có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 30 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian chấp hành án, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó.

2. Người chấp hành án khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục; trường hợp không đồng ý thì Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người chấp hành án khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người chấp hành án vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan.

3. Việc giải quyết trường hợp người chấp hành án thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc trong quân đội thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật này.

4. Người chấp hành án không được xuất cảnh trong thời gian chấp hành án.

Điều 101. Việc lao động, học tập của người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ

1. Người chấp hành án là cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, chiến sĩ, công nhân và viên chức quốc phòng, công nhân công an, người lao động nếu được tiếp tục làm việc tại cơ quan, tổ chức thì được bố trí công việc bảo đảm yêu cầu giám sát, giáo dục, được hưởng tiền lương và chế độ khác phù hợp với công việc mà họ đảm nhiệm, được tính vào thời gian công tác, thời gian tại ngũ theo quy định của pháp luật.

2. Người chấp hành án được cơ sở giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp tiếp nhận học tập thì được hưởng quyền lợi theo quy chế của cơ sở đó.

3. Người chấp hành án không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó chấp hành án tạo điều kiện tìm việc làm.

4. Người chấp hành án thuộc đối tượng được hưởng chế độ ưu đãi người có công với cách mạng, người đang hưởng chế độ bảo hiểm xã hội thì thực hiện theo quy định của pháp luật.

5. Người chấp hành án không có việc làm hoặc bị mất việc làm trong thời gian chấp hành án thì phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng.

Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày người chấp hành án được xác định là không có việc làm hoặc bị mất việc làm, Công an cấp xã có trách nhiệm báo cáo bằng văn bản với Ủy ban nhân dân cùng cấp; trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo, Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện.

Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo của Ủy ban nhân dân cấp xã, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện phải xem xét, quyết định buộc người chấp hành án thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng.

Báo cáo của Ủy ban nhân dân cấp xã, quyết định của cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện phải nêu rõ loại công việc, thời gian lao động phục vụ cộng đồng dự kiến buộc người chấp hành án phải thực hiện.

Căn cứ quyết định buộc người chấp hành án phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng, Ủy ban nhân dân cấp xã giao cho người chấp hành án thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng dưới sự giám sát của Công an cấp xã.

Điều 102. Giảm thời hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ

1. Người chấp hành án có thể được Tòa án nhân dân cấp huyện, Tòa án quân sự khu vực quyết định giảm thời hạn chấp hành án khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Đã chấp hành được một phần ba thời hạn án phạt; đối với người dưới 18 tuổi thì phải chấp hành được một phần tư thời hạn án phạt;

b) Trong thời gian thử thách người chấp hành án đã chấp hành nghiêm chỉnh các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 99 của Luật này; tích cực học tập, lao động, sửa chữa lỗi lầm hoặc lập thành tích trong lao động, bảo vệ an ninh, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội được cơ quan nhà nước có thẩm quyền khen thưởng;

c) Bồi thường được một phần nghĩa vụ dân sự trong trường hợp có nghĩa vụ dân sự.

2. Người chấp hành án mỗi năm được xét giảm thời hạn chấp hành án 01 lần, mỗi lần có thể được giảm từ 03 tháng đến 09 tháng.

3. Người chấp hành án có thể được giảm thời hạn chấp hành án nhiều lần nhưng phải bảo đảm thời gian thực tế chấp hành án là một phần hai mức án, đối với người chấp hành án là người dưới 18 tuổi thì phải bảo đảm thời gian thực tế chấp hành án là hai phần năm mức án.

4. Người chấp hành án đã lập công, người đã quá già yếu hoặc người bị bệnh hiểm nghèo đã chấp hành được một phần tư thời hạn án phạt thì có thể được xét giảm thời hạn chấp hành án, mức giảm mỗi lần cao nhất là 01 năm nhưng phải bảo đảm thời gian thực tế chấp hành án là hai phần năm mức án.

5. Người chấp hành án là người dưới 18 tuổi nếu lập công hoặc bị bệnh hiểm nghèo thì được xét giảm ngay. Trường hợp đã chấp hành được hai phần năm mức án thì có thể được giảm hết thời hạn còn lại.

Điều 103. Thủ tục giảm thời hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ

1. Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục người chấp hành án có trách nhiệm rà soát người đủ điều kiện giảm thời hạn chấp hành án, báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu kèm theo tài liệu có liên quan để đề nghị giảm thời hạn chấp hành án.

2. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được báo cáo, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện lập hồ sơ và có văn bản đề nghị giảm thời hạn chấp hành án đối với người có đủ điều kiện gửi đến Tòa án và Viện kiểm sát cùng cấp. Trường hợp xét thấy không đủ điều kiện lập hồ sơ giảm thời hạn chấp hành án, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện có văn bản thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục người chấp hành án.

Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được báo cáo, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu lập hồ sơ và có văn bản đề nghị giảm thời hạn chấp hành án đối với người có đủ điều kiện gửi đến Tòa án và Viện kiểm sát quân sự khu vực. Trường hợp xét thấy không đủ điều kiện lập hồ sơ giảm thời hạn chấp hành án, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu có văn bản thông báo cho đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục người chấp hành án.

3. Hồ sơ đề nghị giảm thời hạn chấp hành án bao gồm:

a) Đơn đề nghị giảm thời hạn chấp hành án của người chấp hành án;

b) Bản sao bản án. Đối với trường hợp xét giảm thời hạn chấp hành án từ lần thứ hai thì bản sao bản án được thay bằng bản sao quyết định thi hành án;

c) Văn bản đề nghị giảm thời hạn chấp hành án của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục người chấp hành án;

d) Trường hợp người chấp hành án được khen thưởng hoặc lập công thì hồ sơ phải có quyết định khen thưởng hoặc giấy xác nhận của cơ quan có thẩm quyền về việc người chấp hành án lập công; trường hợp bị bệnh hiểm nghèo thì phải có kết luận của bệnh viện cấp tỉnh, bệnh viện cấp quân khu trở lên về tình trạng bệnh của họ; tài liệu thể hiện đã thực hiện được một phần nghĩa vụ dân sự;

đ) Trường hợp người chấp hành án đã được giảm thời hạn chấp hành án thì phải có bản sao quyết định giảm thời hạn chấp hành án;

e) Tài liệu khác có liên quan.

4. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị giảm thời hạn chấp hành án, Chánh án Tòa án nhân dân cấp huyện, Chánh án Tòa án quân sự khu vực nơi người chấp hành án cư trú hoặc làm việc thành lập Hội đồng và tổ chức phiên họp để xét, quyết định giảm thời hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ. Thành phần Hội đồng gồm 03 Thẩm phán; phiên họp có sự tham gia của Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp. Trường hợp hồ sơ phải bổ sung theo yêu cầu của Tòa án thì thời hạn mở phiên họp được tính từ ngày nhận được hồ sơ bổ sung.

5. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định về việc chấp nhận toàn bộ, chấp nhận một phần hoặc không chấp nhận giảm thời hạn chấp hành án, Tòa án phải gửi quyết định đó cho người chấp hành án, Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp, cơ quan đề nghị giảm thời hạn chấp hành án, Tòa án đã ra quyết định thi hành án, Sở Tư pháp nơi Tòa án ra quyết định cho giảm thời hạn chấp hành án có trụ sở.

Điều 104. Thủ tục miễn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ

1. Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, Viện kiểm sát quân sự khu vực nơi người chấp hành án đang cư trú, làm việc, tự mình hoặc theo đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu xem xét, lập hồ sơ đề nghị Tòa án cùng cấp xét miễn chấp hành án. Hồ sơ bao gồm:

a) Bản sao bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật;

b) Văn bản đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát;

c) Văn bản đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự trong trường hợp cơ quan này đề nghị;

d) Đơn xin miễn chấp hành án của người bị kết án hoặc người đại diện theo quy định của pháp luật;

đ) Xác nhận của cơ quan có thẩm quyền về việc người bị kết án đã lập công; kết luận của bệnh viện cấp tỉnh, bệnh viện cấp quân khu trở lên về tình trạng bệnh của người bị kết án bị bệnh hiểm nghèo; xác nhận của cơ quan có thẩm quyền về việc người bị kết án chấp hành tốt pháp luật, có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn.

2. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ quy định tại khoản 1 Điều này, Chánh án Tòa án có thẩm quyền thành lập Hội đồng và tổ chức phiên họp để xét, quyết định miễn chấp hành án. Thành phần Hội đồng gồm 03 Thẩm phán; phiên họp có sự tham gia của Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp. Trường hợp hồ sơ phải bổ sung theo yêu cầu của Tòa án thì thời hạn mở phiên họp được tính từ ngày nhận được hồ sơ bổ sung.

3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định về việc miễn chấp hành án, Tòa án phải gửi quyết định đó cho người bị kết án, Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp, Tòa án đã ra quyết định thi hành án, cơ quan thi hành án hình sự cùng cấp, Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục người chấp hành án, Sở Tư pháp nơi Tòa án đã ra quyết định miễn chấp hành án có trụ sở.

Điều 105. Xử lý vi phạm đối với người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ

1. Trường hợp người chấp hành án cố ý vi phạm nghĩa vụ quy định tại Điều 99 của Luật này thì Công an cấp xã, đơn vị quân đội lập biên bản về việc vi phạm. Trường hợp đã lập biên bản về việc vi phạm nghĩa vụ 02 lần nhưng người chấp hành án vẫn tiếp tục vi phạm thì Công an cấp xã đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục tổ chức kiểm điểm người đó; trường hợp người chấp hành án do đơn vị quân đội giám sát, giáo dục thì đơn vị quân đội tổ chức kiểm điểm người đó.

Việc kiểm điểm phải được lập thành biên bản, lưu hồ sơ giám sát, giáo dục và báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu.

2. Người chấp hành án đã bị kiểm điểm nhưng tiếp tục cố ý không chấp hành nghĩa vụ quy định tại Điều 99 của Luật này thì không được xem xét giảm thời hạn chấp hành án. Tùy theo tính chất, mức độ của hành vi vi phạm, Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục đề nghị cơ quan, người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính hoặc xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự.

Điều 106. Trách nhiệm giám sát, giáo dục của cơ quan, tổ chức và gia đình đối với người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ

1. Cơ quan, tổ chức có liên quan có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội trong việc giám sát, giáo dục người chấp hành án.

2. Gia đình người chấp hành án có trách nhiệm phối hợp trong việc giám sát, giáo dục và thông báo kết quả chấp hành án của người chấp hành án cho Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục khi có yêu cầu; phải có mặt tại cuộc họp kiểm điểm người chấp hành án theo yêu cầu của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục.

Chương VI

THI HÀNH ÁN PHẠT CẤM CƯ TRÚ, QUẢN CHẾ

Mục 1. THI HÀNH ÁN PHẠT CẤM CƯ TRÚ

Điều 107. Thủ tục thi hành án phạt cấm cư trú

1. Hai tháng trước khi hết thời hạn chấp hành án phạt tù đối với phạm nhân có hình phạt bổ sung là cấm cư trú, Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu có trách nhiệm thông báo bằng văn bản về nội dung quy định tại khoản 1 Điều 46 của Luật này cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người đó về cư trú và nơi người đó bị cấm cư trú, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó về cư trú và nơi người đó bị cấm cư trú.

2. Ngay sau khi phạm nhân có hình phạt bổ sung là cấm cư trú chấp hành xong án phạt tù, trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi người đó chấp hành án phải gửi giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù, bản sao bản án, bản sao quyết định thi hành án cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người chấp hành án về cư trú.

3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được các văn bản quy định tại khoản 2 Điều này, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người chấp hành án về cư trú có trách nhiệm lập hồ sơ thi hành án phạt cấm cư trú và sao gửi các tài liệu cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người chấp hành án về cư trú và Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người chấp hành án bị cấm cư trú. Hồ sơ bao gồm:

a) Bản sao bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật;

b) Bản sao quyết định thi hành án phạt tù;

c) Giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù;

d) Tài liệu khác có liên quan.

4. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được các tài liệu quy định tại khoản 3 Điều này, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người chấp hành án cư trú có trách nhiệm triệu tập người chấp hành án và yêu cầu cam kết việc chấp hành án, lập hồ sơ giám sát, giáo dục người chấp hành án. Hồ sơ bao gồm:

a) Các tài liệu quy định tại khoản 3 Điều này;

b) Cam kết của người chấp hành án; nhận xét về quá trình chấp hành án phạt cấm cư trú;

c) Biên bản vi phạm nghĩa vụ của người chấp hành án (nếu có);

d) Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với người chấp hành án (nếu có);

đ) Quyết định của Tòa án về miễn chấp hành thời hạn cấm cư trú còn lại (nếu có);

e) Tài liệu khác có liên quan.

5. Trước khi hết thời hạn cấm cư trú 03 ngày hoặc trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được quyết định miễn chấp hành thời hạn cấm cư trú còn lại, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người chấp hành án cư trú bàn giao hồ sơ giám sát, giáo dục người chấp hành án cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện để cấp giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt cấm cư trú. Giấy chứng nhận phải gửi cho người chấp hành án, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người chấp hành án cư trú, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người chấp hành án bị cấm cư trú, Tòa án đã ra quyết định thi hành án, Sở Tư pháp nơi cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện cấp giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt cấm cư trú có trụ sở.

6. Trường hợp người chấp hành án chết, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người chấp hành án cư trú thông báo cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện để thông báo cho Tòa án đã ra quyết định thi hành án. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo, Tòa án đã ra quyết định thi hành án phải ra quyết định đình chỉ thi hành án và gửi cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, Viện kiểm sát cùng cấp, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người chấp hành án cư trú, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người chấp hành án bị cấm cư trú, Sở Tư pháp nơi Tòa án đã ra quyết định thi hành án có trụ sở.

Điều 108. Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người chấp hành án về cư trú

1. Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người chấp hành án về cư trú có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

a) Tiếp nhận hồ sơ, tổ chức giám sát, giáo dục người chấp hành án; tạo điều kiện để họ lao động, học tập bình thường;

b) Triệu tập người chấp hành án để thông báo thi hành bản án; phổ biến quyền và nghĩa vụ và những quy định có liên quan đến việc chấp hành án;

c) Nhận xét bằng văn bản và lưu hồ sơ theo dõi về quá trình chấp hành án phạt cấm cư trú khi người đó chuyển nơi cư trú;

d) Yêu cầu người chấp hành án cam kết và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình; có biện pháp giáo dục, phòng ngừa khi người đó có dấu hiệu vi phạm pháp luật;

đ) Báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện để đề nghị Tòa án có thẩm quyền xem xét việc miễn chấp hành thời hạn cấm cư trú còn lại cho người chấp hành án;

e) Báo cáo cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền về kết quả thi hành án.

2. Công an cấp xã có nhiệm vụ tham mưu, trực tiếp giúp Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại khoản 1 Điều này.

Điều 109. Quyền và nghĩa vụ của người chấp hành án phạt cấm cư trú

1. Người chấp hành án phạt cấm cư trú có các quyền sau đây:

a) Khi có lý do chính đáng và được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi bị cấm cư trú thì người chấp hành án phạt cấm cư trú được đến địa phương đó; thời gian lưu trú do Ủy ban nhân dân cấp xã nơi đến quyết định nhưng mỗi lần không quá 05 ngày;

b) Khi có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật thì được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú đề nghị miễn chấp hành thời hạn cấm cư trú theo quy định của Luật này.

2. Người chấp hành án phạt cấm cư trú có các nghĩa vụ sau đây:

a) Không được cư trú ở những nơi đã bị cấm cư trú, trừ trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều này;

b) Chấp hành nghiêm chỉnh cam kết của mình trong việc tuân thủ pháp luật;

c) Có mặt theo yêu cầu của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người chấp hành án cư trú.

Điều 110. Thủ tục miễn chấp hành thời hạn cấm cư trú còn lại

1. Khi người chấp hành án phạt cấm cư trú có đủ điều kiện quy định tại khoản 6 Điều 62 của Bộ luật Hình sự, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người chấp hành án cư trú báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện lập hồ sơ đề nghị Tòa án cùng cấp xét miễn chấp hành thời hạn cấm cư trú còn lại, đồng thời sao gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp. Hồ sơ bao gồm:

a) Bản sao bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật; bản sao quyết định thi hành án;

b) Văn bản đề nghị của Ủy ban nhân dân cấp xã;

c) Văn bản đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện;

d) Đơn xin miễn chấp hành án của người bị cấm cư trú;

đ) Tài liệu khác có liên quan.

2. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ quy định tại khoản 1 Điều này, Chánh án Tòa án có thẩm quyền thành lập Hội đồng và tổ chức phiên họp để xét, quyết định miễn chấp hành thời hạn cấm cư trú còn lại. Thành phần Hội đồng gồm 03 Thẩm phán; phiên họp có sự tham gia của Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp. Trường hợp hồ sơ phải bổ sung theo yêu cầu của Tòa án thì thời hạn mở phiên họp được tính từ ngày nhận được hồ sơ bổ sung.

3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định về việc miễn chấp hành thời hạn cấm cư trú còn lại, Tòa án phải gửi quyết định đó cho người chấp hành án, Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp, Tòa án đã ra quyết định thi hành án, cơ quan thi hành án hình sự cùng cấp, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú và nơi người đó bị cấm cư trú, Sở Tư pháp nơi Tòa án đã ra quyết định miễn chấp hành án có trụ sở.

Điều 111. Xử lý người chấp hành án phạt cấm cư trú vi phạm nghĩa vụ

1. Trường hợp người chấp hành án đến lưu trú mà chưa được phép hoặc lưu trú quá thời hạn cho phép thì Trưởng Công an, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền, buộc họ rời khỏi địa phương và thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người chấp hành án cư trú.

2. Trường hợp người chấp hành án phạt cấm cư trú không chấp hành nghĩa vụ quy định tại điểm b và điểm c khoản 2 Điều 109 của Luật này thì không được xem xét miễn chấp hành thời hạn cấm cư trú còn lại.

Mục 2. THI HÀNH ÁN PHẠT QUẢN CHẾ

Điều 112. Thủ tục thi hành án phạt quản chế

1. Hai tháng trước khi hết thời hạn chấp hành án phạt tù đối với phạm nhân có hình phạt bổ sung là quản chế, Giám thị trại giam có trách nhiệm thông báo bằng văn bản về nội dung quy định tại khoản 1 Điều 46 của Luật này cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó về cư trú để chấp hành án phạt quản chế.

2. Khi phạm nhân có hình phạt bổ sung là quản chế chấp hành xong án phạt tù, trại giam phải giao người bị quản chế kèm theo bản sao bản án, bản sao quyết định thi hành án, giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù, nhận xét kết quả chấp hành án phạt tù và tài liệu có liên quan cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó về cư trú. Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện phải giao ngay người đó cho Ủy ban nhân dân cấp xã để kiểm soát, giáo dục.

3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận người chấp hành án, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện phải lập hồ sơ thi hành án phạt quản chế và sao gửi các tài liệu cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người chấp hành án về cư trú. Hồ sơ bao gồm:

a) Bản sao bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật;

b) Bản sao quyết định thi hành án phạt tù;

c) Giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù;

d) Biên bản giao người bị quản chế;

đ) Tài liệu về quá trình chấp hành án phạt tù và tài liệu khác có liên quan.

4. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được các tài liệu quy định tại khoản 3 Điều này, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người chấp hành án cư trú có trách nhiệm triệu tập người chấp hành án và yêu cầu cam kết việc chấp hành án, lập hồ sơ kiểm soát, giáo dục người chấp hành án phạt quản chế. Hồ sơ bao gồm:

a) Các tài liệu quy định tại khoản 3 Điều này;

b) Cam kết của người chấp hành án phạt quản chế;

c) Nhận xét về quá trình chấp hành án phạt quản chế;

d) Biên bản vi phạm nghĩa vụ của người chấp hành án (nếu có);

đ) Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với người chấp hành án (nếu có);

e) Quyết định của Tòa án về miễn chấp hành thời hạn quản chế còn lại (nếu có);

g) Tài liệu khác có liên quan.

5. Trước khi hết thời hạn quản chế 03 ngày hoặc trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án về miễn chấp hành thời hạn quản chế còn lại, Ủy ban nhân dân cấp xã bàn giao hồ sơ kiểm soát, giáo dục cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện để cấp giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt quản chế. Giấy chứng nhận phải gửi cho người chấp hành án, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú, Tòa án đã ra quyết định thi hành án, Sở Tư pháp nơi cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện cấp giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt quản chế có trụ sở.

6. Trường hợp người chấp hành án chết, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người chấp hành án cư trú thông báo cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện để thông báo cho Tòa án đã ra quyết định thi hành án. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo, Tòa án đã ra quyết định thi hành án phải ra quyết định đình chỉ thi hành án và gửi cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, Viện kiểm sát cùng cấp, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người chấp hành án cư trú, Sở Tư pháp nơi Tòa án đã ra quyết định thi hành án có trụ sở.

Điều 113. Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người chấp hành án phạt quản chế về cư trú

1. Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người chấp hành án về cư trú có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

a) Tiếp nhận người chấp hành án và hồ sơ thi hành án phạt quản chế; tổ chức kiểm soát, giáo dục người chấp hành án; tạo điều kiện để họ lao động, học tập bình thường tại nơi bị quản chế; nhận xét bằng văn bản và lưu hồ sơ theo dõi về quá trình chấp hành án;

b) Triệu tập người chấp hành án để thông báo thi hành bản án, phổ biến quyền và nghĩa vụ và những quy định có liên quan đến việc chấp hành án;

c) Yêu cầu người chấp hành án cam kết và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình; có biện pháp giáo dục, phòng ngừa khi người đó có dấu hiệu vi phạm pháp luật; triệu tập người bị quản chế trong trường hợp cần thiết; cấp giấy phép cho người chấp hành án đi khỏi nơi quản chế theo quy định tại Điều 115 của Luật này;

d) Định kỳ 03 tháng 01 lần nhận xét quá trình chấp hành án gửi cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện;

đ) Báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện để đề nghị Tòa án có thẩm quyền xem xét việc miễn chấp hành thời hạn quản chế còn lại cho người chấp hành án;

e) Báo cáo cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền về kết quả thi hành án.

2. Công an cấp xã có nhiệm vụ tham mưu, trực tiếp giúp Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại khoản 1 Điều này.

Điều 114. Quyền và nghĩa vụ của người chấp hành án phạt quản chế

1. Người chấp hành án có các quyền sau đây:

a) Sinh sống cùng gia đình tại nơi quản chế;

b) Lựa chọn việc làm thích hợp, trừ những ngành, nghề hoặc công việc mà người chấp hành án không được làm theo quy định của pháp luật; được hưởng thành quả lao động do mình làm ra;

c) Tự do đi lại trong phạm vi xã, phường, thị trấn nơi quản chế;

d) Được xét miễn chấp hành thời hạn quản chế còn lại theo quy định tại Điều 117 của Luật này.

2. Người chấp hành án có các nghĩa vụ sau đây:

a) Chịu sự kiểm soát, giáo dục của Ủy ban nhân dân cấp xã và nhân dân địa phương; không được tự ý rời khỏi nơi quản chế;

b) Mỗi tháng một lần vào tuần đầu của tháng, trình diện và báo cáo với Ủy ban nhân dân cấp xã nơi quản chế việc chấp hành quy định về quản chế;

c) Có mặt tại địa điểm quy định khi Ủy ban nhân dân cấp xã triệu tập, nếu vắng mặt phải có lý do chính đáng;

d) Chấp hành nghiêm chỉnh chính sách, pháp luật và quy định của chính quyền địa phương; tích cực lao động, học tập, cải tạo để trở thành người có ích cho xã hội;

đ) Trường hợp được phép đi khỏi nơi quản chế, người chấp hành án phạt quản chế phải khai báo tạm vắng; trình diện, xuất trình giấy phép, làm thủ tục đăng ký tạm trú, lưu trú với Công an cấp xã nơi đến theo quy định; trở về nơi quản chế đúng thời hạn và trình diện với Ủy ban nhân dân cấp xã.

Điều 115. Giải quyết trường hợp người chấp hành án phạt quản chế đi khỏi nơi quản chế

1. Trường hợp có lý do chính đáng, người chấp hành án có thể được cấp giấy phép đi khỏi nơi quản chế. Thẩm quyền cấp giấy phép như sau:

a) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nơi quản chế cấp giấy phép đi lại trong phạm vi cấp huyện nơi quản chế;

b) Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện cấp giấy phép đi lại trong phạm vi cấp tỉnh nơi quản chế;

c) Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh cấp giấy phép đi ra ngoài phạm vi cấp tỉnh nơi quản chế.

2. Thời hạn người chấp hành án được phép đi khỏi nơi quản chế do người có thẩm quyền cấp giấy phép quyết định, nhưng mỗi lần không quá 10 ngày. Trường hợp người chấp hành án phải đi chữa bệnh thì thời gian đi khỏi nơi quản chế theo thời gian điều trị của cơ sở chữa bệnh.

Điều 116. Xử lý người chấp hành án phạt quản chế vi phạm nghĩa vụ

1. Trường hợp người chấp hành án vi phạm nghĩa vụ quy định tại khoản 2 Điều 114 của Luật này thì Công an cấp xã lập biên bản vi phạm nghĩa vụ, lưu hồ sơ thi hành án.

2. Người chấp hành án phạt quản chế đi khỏi nơi quản chế mà không có giấy phép hoặc vi phạm quy định ghi trong giấy phép nếu không có lý do chính đáng thì thời gian này không được tính vào thời hạn chấp hành án phạt quản chế.

Người chấp hành án phạt quản chế vi phạm nghĩa vụ quy định tại khoản 2 Điều 114 của Luật này thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.

Điều 117. Thủ tục miễn chấp hành thời hạn quản chế còn lại

1. Khi người chấp hành án phạt quản chế có đủ điều kiện quy định tại khoản 6 Điều 62 của Bộ luật Hình sự, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi quản chế báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện lập hồ sơ đề nghị Tòa án cùng cấp xét miễn chấp hành thời hạn quản chế còn lại, đồng thời gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp. Hồ sơ bao gồm:

a) Bản sao bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật; bản sao quyết định thi hành án phạt tù;

b) Văn bản đề nghị của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi quản chế;

c) Văn bản đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện;

d) Đơn xin miễn chấp hành án của người chấp hành án phạt quản chế;

đ) Tài liệu khác có liên quan.

2. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ quy định tại khoản 1 Điều này, Chánh án Tòa án có thẩm quyền thành lập Hội đồng và tổ chức phiên họp để xét, quyết định miễn chấp hành thời hạn quản chế còn lại. Thành phần Hội đồng gồm 03 Thẩm phán; phiên họp có sự tham gia của Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp. Trường hợp hồ sơ phải bổ sung theo yêu cầu của Tòa án thì thời hạn mở phiên họp được tính từ ngày nhận được hồ sơ bổ sung.

3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định về việc miễn chấp hành thời hạn quản chế còn lại, Tòa án phải gửi quyết định đó cho người chấp hành án, Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp, Tòa án đã ra quyết định thi hành án, cơ quan thi hành án hình sự cùng cấp, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi quản chế, Sở Tư pháp nơi Tòa án đã ra quyết định miễn chấp hành án có trụ sở.

Chương VII

THI HÀNH ÁN PHẠT TRỤC XUẤT

Điều 118. Quyết định thi hành án phạt trục xuất

1. Trường hợp trục xuất là hình phạt chính hoặc là hình phạt bổ sung trong trường hợp hình phạt chính là phạt tiền thì Tòa án đã xét xử sơ thẩm phải ra quyết định thi hành án. Quyết định phải ghi rõ họ, tên, chức vụ người ra quyết định; bản án được thi hành; họ, tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú của người chấp hành án; hình phạt bổ sung; tên cơ quan có nhiệm vụ thi hành.

2. Trường hợp trục xuất là hình phạt bổ sung thì quyết định thi hành án phải ghi đầy đủ hình phạt chính và hình phạt bổ sung, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này.

Điều 119. Thông báo thi hành án phạt trục xuất

1. Trường hợp ra quyết định thi hành án phạt trục xuất theo quy định tại khoản 1 Điều 118 của Luật này, Tòa án phải gửi ngay quyết định cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh và Viện kiểm sát cùng cấp, Sở Tư pháp nơi Tòa án đã ra quyết định thi hành án có trụ sở. Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh phải tống đạt quyết định thi hành án cho người chấp hành án và thông báo ngay cho Bộ Ngoại giao Việt Nam, cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của nước mà người đó mang quốc tịch hoặc cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế mà người đó làm việc, cơ quan, tổ chức đã bảo lãnh người đó vào Việt Nam. Trường hợp người chấp hành án đang bị tạm giam thì phải gửi quyết định này cho trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi đang tạm giam người đó để tống đạt cho người chấp hành án.

2. Trường hợp phạm nhân có hình phạt bổ sung là trục xuất theo quy định tại khoản 2 Điều 118 của Luật này thì 02 tháng trước khi hết thời hạn chấp hành án phạt tù, Giám thị trại giam phải thông báo bằng văn bản cho phạm nhân đó và cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh nơi trại giam đóng. Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh phải thông báo cho Bộ Ngoại giao Việt Nam, cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của nước mà người đó mang quốc tịch hoặc cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế mà người đó làm việc, cơ quan, tổ chức đã bảo lãnh người đó vào Việt Nam.

Điều 120. Hồ sơ thi hành án phạt trục xuất

1. Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh lập hồ sơ thi hành án phạt trục xuất.

2. Hồ sơ thi hành án phạt trục xuất bao gồm:

a) Bản sao bản án có hiệu lực pháp luật; quyết định thi hành án phạt trục xuất hoặc bản sao quyết định thi hành án phạt tù trong trường hợp trục xuất là hình phạt bổ sung;

b) Bản sao hộ chiếu hoặc bản sao giấy tờ có giá trị thay hộ chiếu của người chấp hành án;

c) Giấy tờ chứng nhận đã chấp hành xong hình phạt, nghĩa vụ khác;

d) Tài liệu khác có liên quan.

Điều 121. Lưu trú trong thời gian chờ xuất cảnh

1. Trong thời gian chờ xuất cảnh, người chấp hành án phải lưu trú tại nơi được cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh chỉ định.

2. Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh đưa người chấp hành án phạt trục xuất vào cơ sở lưu trú của Bộ Công an nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Không có nơi thường trú, tạm trú;

b) Nhập cảnh trái phép hoặc phạm tội nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng;

c) Tự ý rời khỏi nơi lưu trú được chỉ định hoặc không chấp hành các biện pháp quản lý, giám sát của cơ quan có thẩm quyền;

d) Có hành vi vi phạm pháp luật hoặc có căn cứ cho rằng người đó có thể thực hiện hành vi vi phạm pháp luật trong thời gian chờ xuất cảnh;

đ) Có hành vi bỏ trốn, chuẩn bị bỏ trốn hoặc hành vi khác gây khó khăn cho việc thi hành án phạt trục xuất;

e) Mắc bệnh truyền nhiễm nhóm A theo quy định của Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm;

g) Tự nguyện xin vào cơ sở lưu trú.

3. Thủ tục đưa người chấp hành án phạt trục xuất vào cơ sở lưu trú được thực hiện như sau:

a) Trường hợp người chấp hành án đang tại ngoại thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh phải áp giải người chấp hành án đến cơ sở lưu trú;

b) Trường hợp người chấp hành án đang bị tạm giam thì sau khi nhận được quyết định thi hành án, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi tạm giam phải giao người chấp hành án cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh để áp giải vào cơ sở lưu trú;

c) Khi phạm nhân có hình phạt bổ sung là trục xuất chấp hành xong án phạt tù thì trại giam phải giao người chấp hành án cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh để áp giải vào cơ sở lưu trú.

4. Trường hợp người chấp hành án chết trong thời gian chờ xuất cảnh thì cơ sở lưu trú hoặc nơi lưu trú được chỉ định phải báo ngay cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có thẩm quyền để xác định nguyên nhân chết. Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh phải thông báo bằng văn bản hoặc bằng fax cho Tòa án đã ra quyết định thi hành án phạt trục xuất, Bộ Ngoại giao Việt Nam, cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của nước mà người đó mang quốc tịch hoặc cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế mà người đó làm việc, cơ quan, tổ chức đã bảo lãnh người đó vào Việt Nam. Sau khi được cơ quan có thẩm quyền cho phép, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh có trách nhiệm tổ chức mai táng. Trường hợp thân nhân hoặc đại diện hợp pháp của người chết đề nghị được nhận tử thi, tro cốt về mai táng và tự chịu chi phí thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh xem xét, giải quyết.

5. Chính phủ quy định chi tiết chế độ ăn, ở, sinh hoạt, thăm gặp, khám bệnh, chữa bệnh đối với người chấp hành án phạt trục xuất trong thời gian lưu trú tại cơ sở lưu trú, chi phí mai táng đối với người chấp hành án phạt trục xuất chết tại cơ sở lưu trú.

Điều 122. Giải quyết trường hợp người chấp hành án phạt trục xuất bỏ trốn

1. Trường hợp người chấp hành án bỏ trốn thì cơ sở lưu trú hoặc nơi lưu trú chỉ định phải lập biên bản và thông báo ngay cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh nơi có cơ sở lưu trú hoặc nơi lưu trú chỉ định. Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh nhận được thông báo phải tổ chức truy bắt ngay. Trường hợp truy bắt không có kết quả thì trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày người chấp hành án bỏ trốn, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh phải ra quyết định truy nã.

2. Người chấp hành án bỏ trốn ra đầu thú thì cơ quan tiếp nhận lập biên bản và thông báo cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh đến nhận và đưa người đó vào cơ sở lưu trú.

Điều 123. Thực hiện buộc rời khỏi lãnh thổ Việt Nam

1. Đến thời hạn người chấp hành án phải rời khỏi lãnh thổ Việt Nam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh phối hợp với cơ quan quản lý xuất nhập cảnh có thẩm quyền tiến hành kiểm tra căn cước của người chấp hành án phạt trục xuất và áp giải người đó đến địa điểm xuất cảnh và buộc rời khỏi lãnh thổ Việt Nam. Người chấp hành án phạt trục xuất được mang theo tài sản hợp pháp của mình khi rời khỏi lãnh thổ Việt Nam. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày thi hành xong án phạt trục xuất, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh phải thông báo việc thi hành án phạt trục xuất cho Tòa án đã ra quyết định thi hành án, Viện kiểm sát cùng cấp, Trung tâm lý lịch tư pháp quốc gia.

2. Tòa án đã ra quyết định thi hành án có thẩm quyền quyết định kéo dài thời hạn buộc phải rời khỏi lãnh thổ Việt Nam đối với người chấp hành án thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Đang ốm nặng, đang phải cấp cứu không thể đi lại được và được cơ quan y tế hoặc bệnh viện từ cấp tỉnh trở lên xác nhận;

b) Phải chấp hành bản án khác hoặc thực hiện nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật Việt Nam;

c) Có lý do chính đáng khác chưa thể rời khỏi lãnh thổ Việt Nam được Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh xác nhận.

3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định kéo dài thời hạn buộc phải rời khỏi lãnh thổ Việt Nam đối với người chấp hành án, Tòa án phải gửi quyết định đó cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh nơi Tòa án đã ra quyết định thi hành án có trụ sở, Viện kiểm sát cùng cấp.

Điều 124. Chi phí trục xuất

Người chấp hành án phạt trục xuất phải chịu chi phí vé máy bay, ô tô, tàu hỏa, tàu biển để rời khỏi lãnh thổ Việt Nam; trường hợp người chấp hành án phạt trục xuất không có khả năng tự chịu chi phí thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh phối hợp với cơ quan quản lý xuất nhập cảnh yêu cầu cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của nước mà người đó mang quốc tịch hoặc cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế mà người đó làm việc, cơ quan, tổ chức đã bảo lãnh người đó vào Việt Nam giải quyết kinh phí đưa người chấp hành án phạt trục xuất về nước; trường hợp đã yêu cầu mà cơ quan, tổ chức đó vẫn chưa giải quyết được kinh phí nhưng vì lý do an ninh quốc gia cần phải trục xuất ngay thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh báo cáo cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an quyết định việc sử dụng ngân sách nhà nước chi trả vé máy bay, ô tô, tàu hỏa, tàu biển cho người chấp hành án phạt trục xuất.

Chương VIII

THI HÀNH ÁN PHẠT TƯỚC MỘT SỐ QUYỀN CÔNG DÂN

Điều 125. Thủ tục thi hành án phạt tước một số quyền công dân

1. Hai tháng trước khi hết thời hạn chấp hành án phạt tù đối với phạm nhân có hình phạt bổ sung là tước một số quyền công dân, Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh trong trường hợp phạm nhân chấp hành án tại cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện có trách nhiệm thông báo bằng văn bản về nội dung quy định tại khoản 1 Điều 46 của Luật này cho Ủy ban nhân dân cấp xã, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, Sở Tư pháp nơi người đó về cư trú.

2. Ngay sau khi phạm nhân có hình phạt bổ sung là tước một số quyền công dân chấp hành xong án phạt tù, trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi người đó chấp hành án phải gửi giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù, bản sao bản án, bản sao quyết định thi hành án cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người chấp hành án về cư trú.

3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được các văn bản quy định tại khoản 2 Điều này, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người chấp hành án về cư trú có trách nhiệm lập hồ sơ thi hành án phạt tước một số quyền công dân và thông báo bằng văn bản cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó về cư trú. Hồ sơ bao gồm:

a) Bản sao bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật; bản sao quyết định thi hành án phạt tù;

b) Giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù;

c) Tài liệu khác có liên quan.

4. Trường hợp người chấp hành án phạt tước một số quyền công dân là người được hưởng án treo thì sau khi nhận được bản án, quyết định thi hành án do Tòa án ra quyết định thi hành án gửi, Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện lập hồ sơ và thông báo cho cơ quan nơi người chấp hành án làm việc, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú.

5. Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người bị tước một số quyền công dân về cư trú có nhiệm vụ theo dõi, giám sát việc thực hiện thi hành án phạt tước một số quyền công dân theo bản án của Tòa án; cung cấp danh sách người bị tước một số quyền công dân khi có đề nghị của cơ quan, đơn vị có thẩm quyền.

Khi hết thời hạn chấp hành án, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện phải cấp giấy chứng nhận đã chấp hành xong án phạt tước một số quyền công dân. Giấy chứng nhận phải gửi cho người chấp hành án, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú, Tòa án đã ra quyết định thi hành án, Sở Tư pháp nơi cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện cấp giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt có trụ sở.

6. Trường hợp người chấp hành án chết, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người chấp hành án cư trú thông báo cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện để thông báo cho Tòa án đã ra quyết định thi hành án. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo, Tòa án đã ra quyết định thi hành án phải ra quyết định đình chỉ thi hành án và gửi cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, Viện kiểm sát cùng cấp, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người chấp hành án cư trú, Sở Tư pháp nơi Tòa án đã ra quyết định thi hành án có trụ sở.

Điều 126. Tước quyền ứng cử đại biểu cơ quan quyền lực nhà nước

Trong thời gian bị tước quyền ứng cử đại biểu cơ quan quyền lực nhà nước, người chấp hành án không được tham gia ứng cử đại biểu cơ quan quyền lực nhà nước.

Điều 127. Tước quyền làm việc trong cơ quan nhà nước

1. Trong thời gian bị tước quyền làm việc trong cơ quan nhà nước, người chấp hành án không được dự tuyển hoặc tiếp tục làm việc trong cơ quan nhà nước.

2. Trường hợp người chấp hành án đang là cán bộ, công chức, viên chức trong cơ quan nhà nước mà bị tước quyền làm việc trong cơ quan nhà nước thì cơ quan nơi người đó làm việc phải ra quyết định hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền ra quyết định buộc thôi việc hoặc đình chỉ công tác trong thời hạn bị tước quyền làm việc trong cơ quan nhà nước đối với người đó.

Điều 128. Tước quyền phục vụ trong lực lượng vũ trang nhân dân

1. Trong thời gian bị tước quyền phục vụ trong lực lượng vũ trang nhân dân, người chấp hành án không được đăng ký nghĩa vụ quân sự, dự tuyển hoặc tiếp tục làm công chức, viên chức, công nhân quốc phòng trong Quân đội nhân dân, dự tuyển hoặc tiếp tục phục vụ trong Công an nhân dân.

2. Trường hợp người chấp hành án đang là quân nhân, công chức, viên chức, công nhân quốc phòng trong Quân đội nhân dân hoặc đang phục vụ trong cơ quan, đơn vị Công an nhân dân mà bị tước quyền phục vụ trong lực lượng vũ trang nhân dân thì cơ quan, đơn vị nơi người đó làm việc phải ra quyết định hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền ra quyết định buộc người đó ra khỏi lực lượng vũ trang nhân dân.

Chương IX

THI HÀNH ÁN PHẠT CẤM ĐẢM NHIỆM CHỨC VỤ, CẤM HÀNH NGHỀ HOẶC LÀM CÔNG VIỆC NHẤT ĐỊNH

Điều 129. Thủ tục thi hành án phạt cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định

1. Hai tháng trước khi hết thời hạn chấp hành án phạt tù đối với phạm nhân có hình phạt bổ sung là cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh nơi người đó đang chấp hành án phạt tù phải thông báo bằng văn bản về việc thi hành án phạt cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định cho Ủy ban nhân dân cấp xã, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện nơi người đó về cư trú, cơ quan thi hành án hình sự và Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu nơi có đơn vị quân đội người đó làm việc.

2. Ngay sau khi phạm nhân có hình phạt bổ sung cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định chấp hành xong án phạt tù, trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh phải gửi giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù, bản sao bản án, bản sao quyết định thi hành án cho Sở Tư pháp, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện nơi người chấp hành án về cư trú, cơ quan thi hành án hình sự và Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu nơi có đơn vị quân đội người đó làm việc.

3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được các văn bản quy định tại khoản 2 Điều này, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu lập hồ sơ thi hành án phạt cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định và thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người chấp hành án cư trú, đơn vị quân đội nơi người đó làm việc. Hồ sơ bao gồm:

a) Bản sao bản án có hiệu lực pháp luật; bản sao quyết định thi hành án phạt tù;

b) Giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù;

c) Tài liệu khác có liên quan.

4. Trường hợp người có hình phạt bổ sung là cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định phải chấp hành hình phạt chính là cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù cho hưởng án treo thì thời hạn bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Tòa án ra quyết định thi hành án phải gửi bản án, quyết định thi hành án cho Sở Tư pháp, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện nơi người đó cư trú, cơ quan thi hành án hình sự và Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu nơi có đơn vị người đó làm việc. Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nhận được quyết định thi hành án phải lập hồ sơ và thông báo cho cơ quan, tổ chức, đơn vị quân đội nơi người chấp hành án cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định làm việc, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú.

5. Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu có nhiệm vụ theo dõi, giám sát việc thi hành án phạt cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định theo bản án của Tòa án. Trong thời gian chấp hành án, nếu phát hiện người chấp hành án đảm nhiệm chức vụ, hành nghề hoặc làm công việc bị cấm thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu thông báo cho cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc để buộc người đó nghiêm chỉnh chấp hành bản án.

6. Khi hết thời hạn chấp hành án, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu cấp giấy chứng nhận đã chấp hành xong án phạt cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định. Giấy chứng nhận phải gửi cho người chấp hành án, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú, cơ quan, tổ chức, đơn vị quân đội nơi người đó làm việc, Tòa án đã ra quyết định thi hành án, Sở Tư pháp nơi cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện cấp giấy chứng nhận có trụ sở.

7. Trường hợp người chấp hành án chết, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú, đơn vị quân đội nơi người đó làm việc thông báo cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu để thông báo cho Tòa án đã ra quyết định thi hành án. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo, Tòa án đã ra quyết định thi hành án phải ra quyết định đình chỉ thi hành án và gửi cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu, Viện kiểm sát cùng cấp, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người chấp hành án cư trú, đơn vị quân đội nơi người chấp hành án làm việc, Sở Tư pháp nơi Tòa án đã ra quyết định thi hành án có trụ sở.

Điều 130. Nghĩa vụ của người chấp hành án phạt cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định

1. Báo cáo về chức vụ, nghề hoặc công việc bị cấm đảm nhiệm cho cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú.

2. Không được tiếp tục hoặc phải từ chối đảm nhiệm chức vụ, hành nghề hoặc làm công việc nhất định đã bị cấm.

3. Không được ứng cử vào chức vụ đã bị cấm.

4. Trường hợp không còn làm việc trong cơ quan, tổ chức hoặc thay đổi nơi làm việc phải báo cáo Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú.

5. Có mặt khi cơ quan có thẩm quyền triệu tập liên quan đến việc chấp hành án của mình.

Điều 131. Trách nhiệm thi hành án phạt cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định

1. Cơ quan, tổ chức nơi người chấp hành án làm việc có trách nhiệm sau đây:

a) Ra quyết định cách chức hoặc đề nghị cấp có thẩm quyền ra quyết định cách chức người chấp hành án khỏi chức vụ bị cấm đảm nhiệm và thông báo công khai trong cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc;

b) Không được đề cử, đề bạt, bổ nhiệm, bố trí người chấp hành án vào chức vụ, công việc, nghề bị cấm;

c) Báo cáo kết quả thi hành án cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu;

d) Thông báo cho cơ quan, tổ chức nơi người chấp hành án được chuyển đến làm việc về việc người đó đang chấp hành án; cơ quan, tổ chức nơi người chấp hành án chuyển đến có trách nhiệm thực hiện các quy định tại các điểm a, b và c khoản này.

2. Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người chấp hành án cư trú có trách nhiệm sau đây:

a) Thông báo công khai bản án tại nơi người chấp hành án về cư trú;

b) Báo cáo kết quả thi hành án cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện;

c) Trường hợp người chấp hành án chuyển đến nơi cư trú mới phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi chuyển đến về việc người đó đang chấp hành án. Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó chuyển đến có trách nhiệm thực hiện quy định tại điểm a và điểm b khoản này.

Chương X

THI HÀNH BIỆN PHÁP TƯ PHÁP

Mục 1. QUY ĐỊNH CHUNG VỀ THI HÀNH BIỆN PHÁP TƯ PHÁP

Điều 132. Quyết định áp dụng biện pháp tư pháp

1. Quyết định áp dụng biện pháp tư pháp bao gồm:

a) Quyết định của Tòa án, Viện kiểm sát về áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh;

b) Bản án, quyết định của Tòa án về áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng.

2. Quyết định áp dụng biện pháp tư pháp phải ghi rõ tên cơ quan, họ, tên, chức vụ người ra quyết định; họ, tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú của người chấp hành biện pháp tư pháp; tên cơ quan có nhiệm vụ thi hành.

3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định, cơ quan ra quyết định phải gửi quyết định đó cho cá nhân, cơ quan sau đây:

a) Người chấp hành biện pháp tư pháp, người đại diện của người đó;

b) Viện kiểm sát cùng cấp trong trường hợp Tòa án ra quyết định;

c) Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người chấp hành biện pháp tư pháp cư trú;

d) Cơ sở chữa bệnh tâm thần trong trường hợp bắt buộc chữa bệnh;

đ) Cơ quan đề nghị Tòa án, Viện kiểm sát áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh.

Điều 133. Cơ quan, tổ chức được giao nhiệm vụ thi hành biện pháp tư pháp

1. Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được giao nhiệm vụ bắt buộc chữa bệnh tâm thần có nhiệm vụ thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh cho người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh.

2. Trường giáo dưỡng có nhiệm vụ thi hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng.

Điều 134. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong thi hành biện pháp tư pháp

1. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong việc áp dụng và thi hành các biện pháp tư pháp được thực hiện theo quy định tại Chương này.

2. Viện kiểm sát thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc thi hành biện pháp tư pháp theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.

Điều 135. Bảo đảm điều kiện thi hành các biện pháp tư pháp

1. Nhà nước bảo đảm các điều kiện về cơ sở vật chất, kinh phí để thi hành các biện pháp tư pháp.

2. Nhà nước khuyến khích cơ quan, tổ chức, cá nhân và gia đình tham gia vào việc giáo dục người phải chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng.

Mục 2. THI HÀNH BIỆN PHÁP TƯ PHÁP BẮT BUỘC CHỮA BỆNH

Điều 136. Thẩm quyền đề nghị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh, hồ sơ đưa người vào cơ sở bắt buộc chữa bệnh

1. Thẩm quyền đề nghị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh được quy định như sau:

a) Cơ quan đang thụ lý giải quyết vụ án trong giai đoạn điều tra có quyền đề nghị Viện kiểm sát cùng cấp;

b) Trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh trong giai đoạn thi hành án có quyền đề nghị Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu nơi phạm nhân chấp hành án.

2. Cơ quan đề nghị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh có trách nhiệm lập hồ sơ đưa người vào cơ sở bắt buộc chữa bệnh. Hồ sơ bao gồm:

a) Quyết định của Viện kiểm sát hoặc Tòa án về áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh;

b) Kết luận của Hội đồng giám định pháp y tâm thần;

c) Lý lịch cá nhân của người chấp hành biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh;

d) Tài liệu khác có liên quan.

3. Trường hợp Viện kiểm sát, Tòa án tự mình quyết định áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh thì Viện kiểm sát, Tòa án đã ra quyết định có trách nhiệm lập hồ sơ và đề nghị cơ quan đang thụ lý giải quyết vụ án trong giai đoạn điều tra hoặc trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện trong giai đoạn thi hành án đưa người vào cơ sở bắt buộc chữa bệnh.

Điều 137. Đưa người vào cơ sở bắt buộc chữa bệnh

1. Ngay sau khi nhận được quyết định áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh, cơ quan đang giải quyết vụ án trong giai đoạn điều tra hoặc trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện trong giai đoạn thi hành án có nhiệm vụ giao người bị bắt buộc chữa bệnh và hồ sơ kèm theo cho cơ sở chữa bệnh tâm thần được chỉ định theo quyết định của Viện kiểm sát hoặc quyết định của Tòa án, đồng thời sao gửi quyết định áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh cho cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng.

2. Cơ sở chữa bệnh tâm thần được Viện kiểm sát hoặc Tòa án chỉ định có trách nhiệm tiếp nhận người bị bắt buộc chữa bệnh và hồ sơ kèm theo, lập biên bản giao nhận. Cơ quan có trách nhiệm đưa người vào cơ sở chữa bệnh tâm thần phải thông báo cho gia đình hoặc thân nhân của người bị bắt buộc chữa bệnh về nơi người đó đang chữa bệnh.

Điều 138. Tổ chức điều trị cho người bị bắt buộc chữa bệnh

1. Cơ sở chữa bệnh tâm thần có trách nhiệm quản lý, tổ chức điều trị bệnh cho người bị bắt buộc chữa bệnh và không được phân biệt đối xử.

2. Trong thời gian bắt buộc chữa bệnh, thân nhân của người bị bắt buộc chữa bệnh được gặp và phối hợp chăm sóc người bị bắt buộc chữa bệnh và phải chấp hành đúng quy định về thăm gặp, chăm sóc của cơ sở chữa bệnh tâm thần.

3. Trường hợp người bị bắt buộc chữa bệnh bỏ trốn, cơ sở chữa bệnh tâm thần phải lập biên bản và thông báo ngay cho cơ quan đề nghị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh và gia đình của người đó biết để phối hợp truy tìm, đưa người đó trở lại cơ sở chữa bệnh tâm thần.

4. Kinh phí điều trị do cơ quan đề nghị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh hoặc Viện kiểm sát, Tòa án tự mình quyết định áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh chi trả từ nguồn ngân sách nhà nước.

Điều 139. Đình chỉ thi hành biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh

1. Khi người bị bắt buộc chữa bệnh đã khỏi bệnh, thủ trưởng cơ sở chữa bệnh tâm thần thông báo cho cơ quan đề nghị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh để yêu cầu Hội đồng giám định y khoa tiến hành giám định về tình trạng bệnh của người đó.

Căn cứ vào kết luận của Hội đồng giám định y khoa về việc người đó đã khỏi bệnh, cơ quan đề nghị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh đề nghị Tòa án hoặc Viện kiểm sát đã ra quyết định áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh ra quyết định đình chỉ việc thi hành biện pháp này.

2. Tòa án hoặc Viện kiểm sát đã ra quyết định đình chỉ thi hành biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh có trách nhiệm gửi quyết định cho cơ quan đề nghị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh để thông báo cho cơ sở chữa bệnh tâm thần và thân nhân của người đó.

3. Sau khi nhận được quyết định đình chỉ, cơ quan đề nghị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh phải đến nhận người bị bắt buộc chữa bệnh. Việc giao nhận phải lập biên bản, trong đó ghi rõ thời gian chữa bệnh tại cơ sở chữa bệnh tâm thần.

Điều 140. Giải quyết trường hợp người bị bắt buộc chữa bệnh chết

1. Trường hợp người bị bắt buộc chữa bệnh chết, thủ trưởng cơ sở chữa bệnh tâm thần phải báo ngay cho cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có thẩm quyền để xác định nguyên nhân chết, thông báo cho thân nhân của người chết, cơ quan quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 136 của Luật này.

2. Sau khi được cơ quan điều tra và Viện kiểm sát có thẩm quyền cho phép, cơ sở chữa bệnh tâm thần có trách nhiệm mai táng. Kinh phí cho việc mai táng do ngân sách nhà nước cấp. Trường hợp thân nhân của người chết đề nghị nhận tử thi để mai táng và tự chịu chi phí thì cơ sở chữa bệnh tâm thần giao cho họ thực hiện. Việc tổ chức mai táng phải bảo đảm an ninh, trật tự, vệ sinh môi trường.

Mục 3. THI HÀNH BIỆN PHÁP TƯ PHÁP GIÁO DỤC TẠI TRƯỜNG GIÁO DƯỠNG

Điều 141. Thủ tục thi hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng

1. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra bản án, quyết định áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng, Tòa án phải gửi bản án, quyết định cho người đó, người đại diện của người đó và cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người dưới 18 tuổi cư trú.

2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được bản án, quyết định của Tòa án, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người dưới 18 tuổi cư trú phải báo cáo cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an để ra quyết định đưa người dưới 18 tuổi vào trường giáo dưỡng.

3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo của cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an ra quyết định đưa người dưới 18 tuổi vào trường giáo dưỡng và gửi cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện.

4. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định của cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện phải lập hồ sơ và bàn giao người dưới 18 tuổi vào trường giáo dưỡng. Hồ sơ bao gồm:

a) Bản sao bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật;

b) Quyết định đưa người dưới 18 tuổi vào trường giáo dưỡng;

c) Sơ yếu lý lịch có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã;

d) Danh bản;

đ) Tài liệu khác có liên quan.

5. Khi tiếp nhận người phải chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng (sau đây gọi là học sinh), Hiệu trưởng trường giáo dưỡng phải kiểm tra hồ sơ và lập biên bản giao nhận, tổ chức khám sức khỏe cho học sinh. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận học sinh, Hiệu trưởng trường giáo dưỡng phải thông báo việc đã tiếp nhận học sinh cho người đại diện của người đó.

Điều 142. Hoãn, tạm đình chỉ chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng

1. Người dưới 18 tuổi có thể được hoãn chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng trong trường hợp sau đây:

a) Bị bệnh nặng, đang cấp cứu hoặc vì lý do sức khỏe khác mà không thể đi lại được và được cơ sở khám bệnh, chữa bệnh từ cấp huyện trở lên xác nhận;

b) Có lý do chính đáng khác được Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện xác nhận.

2. Đối với trường hợp hoãn chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện có nhiệm vụ làm thủ tục đề nghị Tòa án đã ra quyết định áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng xem xét, quyết định hoãn. Hồ sơ bao gồm:

a) Đơn đề nghị của người phải chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc của người đại diện của họ;

b) Kết luận của cơ sở y tế từ cấp huyện trở lên về tình trạng bệnh của người phải chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng;

c) Giấy bảo lãnh của người đại diện của người phải chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng, có xác nhận của chính quyền địa phương.

3. Trường hợp học sinh trường giáo dưỡng bị bệnh nặng thì Hiệu trưởng trường giáo dưỡng lập hồ sơ và có văn bản đề nghị Tòa án cấp huyện nơi có trường giáo dưỡng xem xét, quyết định tạm đình chỉ. Hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều này.

4. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị, Chánh án Tòa án cấp huyện phải xem xét, quyết định.

5. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định về việc hoãn, tạm đình chỉ chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng, Tòa án đã ra quyết định hoãn, tạm đình chỉ phải gửi quyết định đó cho cá nhân, cơ quan sau đây:

a) Người phải chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng, người đại diện của người đó;

b) Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện đã đề nghị áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng;

c) Viện kiểm sát cùng cấp;

d) Tòa án đã ra quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng trong trường hợp tạm đình chỉ.

6. Khi không còn lý do hoãn, tạm đình chỉ, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người bị áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng cư trú phải thông báo cho Tòa án đã ra quyết định và đưa người đó vào trường giáo dưỡng.

Điều 143. Giải quyết trường hợp người phải chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng bỏ trốn

1. Trường hợp người đã có quyết định áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng bỏ trốn thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người đó cư trú phải ra quyết định truy tìm, đưa người đó vào trường giáo dưỡng và báo cáo kết quả cho cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an.

2. Khi phát hiện người phải chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng bỏ trốn đang bị truy tìm thì cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức có trách nhiệm báo cho cơ quan công an hoặc Ủy ban nhân dân nơi gần nhất hoặc bắt giữ và đưa đến các cơ quan này. Khi tiếp nhận, lưu giữ người đó, cơ quan công an phải lập biên bản và đưa ngay họ vào trường giáo dưỡng.

Điều 144. Chế độ quản lý học sinh

1. Học sinh phải chịu sự giám sát, quản lý của cán bộ, giáo viên trường giáo dưỡng và chấp hành nghiêm chỉnh nội quy của nhà trường.

2. Căn cứ vào độ tuổi, giới tính, sức khỏe, trình độ học vấn, tính chất và mức độ vi phạm, trường giáo dưỡng bố trí học sinh thành các đội, lớp, tổ, nhóm và phân công giáo viên trực tiếp phụ trách.

3. Trường hợp học sinh bỏ trốn thì Hiệu trưởng trường giáo dưỡng ra quyết định và tổ chức truy tìm. Thời gian học sinh bỏ trốn không được tính vào thời hạn chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng. Khi bắt giữ mà học sinh có hành vi chống đối thì được áp dụng biện pháp cưỡng chế cần thiết theo quy định của pháp luật. Ủy ban nhân dân và cơ quan công an các cấp có trách nhiệm phối hợp trong việc truy tìm, bắt giữ học sinh bỏ trốn. Khi phát hiện người bị truy tìm, người phát hiện có trách nhiệm báo ngay cho cơ quan công an, Ủy ban nhân dân nơi gần nhất hoặc bắt giữ và đưa đến các cơ quan này.

Khi bắt được người bỏ trốn hoặc nhận bàn giao người đó, cơ quan công an phải lập biên bản, lấy lời khai, lưu giữ và quản lý người bỏ trốn, thông báo ngay cho trường giáo dưỡng đã ra quyết định truy tìm. Khi nhận được thông báo, trường giáo dưỡng đã ra quyết định truy tìm phải cử người đến ngay để nhận và đưa học sinh bỏ trốn về trường giáo dưỡng. Việc giao, nhận học sinh bỏ trốn phải lập biên bản. Thời gian lưu giữ được tính vào thời hạn chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng.

Điều 145. Thực hiện lệnh trích xuất học sinh

1. Khi có văn bản yêu cầu của cơ quan, người tiến hành tố tụng có thẩm quyền về việc trích xuất học sinh thì cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an ra lệnh trích xuất.

2. Trường hợp cần trích xuất học sinh phục vụ yêu cầu giáo dục hoặc khám bệnh, chữa bệnh thì Hiệu trưởng trường giáo dưỡng ra lệnh trích xuất.

3. Nội dung lệnh trích xuất thực hiện theo quy định khoản 4 Điều 40 của Luật này.

4. Cơ quan yêu cầu trích xuất chịu trách nhiệm đưa và trả học sinh được trích xuất đến trường giáo dưỡng đúng thời gian đã ghi trong lệnh trích xuất; khi giao nhận phải lập biên bản. Chi phí cho việc đi lại, ăn, ở của học sinh được trích xuất do ngân sách nhà nước bảo đảm, trừ trường hợp học sinh được đưa về gia đình chữa bệnh quy định tại khoản 2 Điều 151 của Luật này.

Thời gian trích xuất được tính vào thời hạn chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng.

Điều 146. Chế độ học văn hóa, giáo dục hướng nghiệp, học nghề, lao động

1. Học sinh ở trường giáo dưỡng được học văn hóa, giáo dục hướng nghiệp, học nghề theo chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Công an, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.

Đối với học sinh chưa đạt trình độ phổ cập giáo dục tiểu học, trung học cơ sở thì việc học văn hóa là bắt buộc. Đối với học sinh khác thì tùy khả năng, điều kiện thực tế mà tổ chức cho họ học tập phù hợp.

2. Ngoài giờ học tập, học sinh phải tham gia lao động do trường tổ chức. Trường giáo dưỡng có trách nhiệm sắp xếp công việc phù hợp với lứa tuổi và sức khỏe của học sinh để bảo đảm sự phát triển bình thường về thể chất; không bố trí những công việc nặng nhọc, nguy hiểm, độc hại.

Thời gian lao động của học sinh không được nhiều hơn thời gian học tập. Thời gian học tập và lao động không quá 07 giờ trong 01 ngày và không quá 35 giờ trong 01 tuần.

Kết quả lao động của học sinh được sử dụng phục vụ sinh hoạt, học tập và bổ sung vào quỹ hòa nhập cộng đồng, quỹ khen thưởng của học sinh.

3. Học sinh được nghỉ ngày thứ bảy, chủ nhật, ngày lễ, tết theo quy định của pháp luật.

4. Kinh phí mua sách vở, đồ dùng học tập cho học sinh do ngân sách nhà nước cấp.

Điều 147. Kiểm tra, đánh giá, xếp loại học sinh và tổ chức thi

1. Trường giáo dưỡng có trách nhiệm tổ chức kiểm tra, đánh giá, xếp loại học sinh và tổ chức thi học kỳ, kết thúc năm học, chuyển cấp, thi tuyển chọn học sinh giỏi hoặc hình thức thi khác.

2. Sổ điểm, học bạ, hồ sơ và các biểu mẫu liên quan đến việc học tập của học sinh phải theo mẫu thống nhất của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

3. Chứng chỉ học văn hóa, học nghề do trường giáo dưỡng cấp cho học sinh có giá trị như chứng chỉ của cơ sở giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp.

Điều 148. Chế độ sinh hoạt văn hóa, văn nghệ, vui chơi giải trí

Ngoài giờ học văn hóa, học nghề, lao động, học sinh được tham gia các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao, đọc sách báo, xem truyền hình và các hoạt động vui chơi giải trí khác do trường giáo dưỡng tổ chức.

Điều 149. Chế độ ăn, mặc của học sinh

1. Học sinh được bảo đảm tiêu chuẩn định lượng về gạo, rau xanh, thịt, cá, đường, nước mắm, dầu ăn, bột ngọt, muối, chất đốt.

Ngày lễ, tết theo quy định của pháp luật, học sinh được ăn thêm nhưng mức ăn không quá 05 lần tiêu chuẩn ăn ngày thường.

Học sinh được bảo đảm ăn, uống hợp vệ sinh. Chế độ ăn đối với học sinh ốm đau, bệnh tật, thương tích do y sỹ hoặc bác sỹ chỉ định.

2. Hằng năm, học sinh được cấp quần áo, chăn, chiếu, màn và các đồ dùng sinh hoạt khác; học sinh nữ được cấp thêm đồ dùng cần thiết cho vệ sinh cá nhân.

3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Điều 150. Chế độ ở và đồ dùng sinh hoạt của học sinh

1. Căn cứ vào giới tính, độ tuổi, đặc điểm nhân thân, tính chất, mức độ phạm tội của học sinh, trường sắp xếp chỗ ở, sinh hoạt phù hợp trong các buồng tập thể. Buồng ở phải bảo đảm thoáng mát về mùa hè, kín gió về mùa đông, hợp vệ sinh môi trường. Diện tích chỗ nằm tối thiểu cho mỗi học sinh là 2,5 m2.

2. Học sinh được bố trí giường hoặc sàn nằm có chiếu trải và được phép sử dụng đồ dùng sinh hoạt cá nhân của mình, trừ những đồ vật bị cấm sử dụng trong trường giáo dưỡng. Đồ dùng cần thiết cho sinh hoạt của học sinh được trường cho mượn hoặc cấp.

Điều 151. Chế độ chăm sóc y tế đối với học sinh trường giáo dưỡng

1. Học sinh được khám sức khỏe định kỳ; trường hợp học sinh bị ốm đau, bệnh tật, thương tích được điều trị tại cơ sở y tế của trường giáo dưỡng; trường hợp ốm đau, bệnh tật, thương tích nặng vượt quá khả năng điều trị của trường thì Hiệu trưởng trường giáo dưỡng quyết định đưa họ đến điều trị tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước. Chi phí khám bệnh, chữa bệnh do trường giáo dưỡng chi trả.

2. Chi phí khám bệnh, chữa bệnh quy định tại khoản 1 Điều này do ngân sách nhà nước cấp. Kinh phí tổ chức cai nghiện ma túy, điều trị HIV/AIDS cho học sinh theo quy định của Bộ Tài chính. Trường hợp học sinh được nghỉ học để đưa về gia đình chữa bệnh thì gia đình học sinh phải chi trả chi phí khám bệnh, chữa bệnh.

3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Điều 152. Thủ tục giải quyết trường hợp học sinh chết

Trường hợp học sinh chết, Hiệu trưởng phải báo ngay cho cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện nơi có trường giáo dưỡng để xác định nguyên nhân chết; đồng thời phải báo ngay cho thân nhân của người chết biết.

Sau khi được cơ quan điều tra và Viện kiểm sát cho phép mai táng, trường giáo dưỡng có trách nhiệm tổ chức mai táng, báo cáo cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an và thông báo cho Tòa án đã ra quyết định áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng. Kinh phí cho việc mai táng do ngân sách nhà nước cấp. Trường hợp thân nhân của người chết đề nghị nhận tử thi để mai táng và tự chịu chi phí thì trường giáo dưỡng giao cho thân nhân của người chết thực hiện. Việc tổ chức mai táng phải bảo đảm an ninh, trật tự, vệ sinh môi trường.

Điều 153. Chế độ gặp thân nhân, liên lạc, nhận quà của học sinh trường giáo dưỡng

1. Học sinh được gặp thân nhân tại nơi tiếp đón của trường giáo dưỡng và phải chấp hành đúng quy định về thăm gặp.

2. Học sinh được gửi và nhận thư, nhận quà là tiền, đồ vật, trừ rượu, bia, thuốc lá, các chất kích thích khác, đồ vật và các loại văn hóa phẩm thuộc danh mục cấm. Trường giáo dưỡng có trách nhiệm kiểm tra thư, quà trước khi học sinh gửi hoặc nhận. Học sinh có tiền hoặc giấy tờ có giá thì phải gửi trường giáo dưỡng để quản lý và sử dụng theo quy định của trường giáo dưỡng.

Điều 154. Chấm dứt trước thời hạn việc chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng

Học sinh đã chấp hành được một phần hai thời hạn chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng, tích cực học tập, tu dưỡng và chấp hành tốt nội quy của trường thì Hiệu trưởng trường giáo dưỡng đề nghị Tòa án nhân dân cấp huyện nơi có trường xem xét, quyết định chấm dứt trước thời hạn việc chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng. Tòa án đã ra quyết định chấm dứt trước thời hạn phải gửi quyết định đó cho học sinh, trường giáo dưỡng, Tòa án đã ra quyết định áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng, Viện kiểm sát cùng cấp, cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an, người đại diện của học sinh. Ngay sau khi nhận được quyết định, Hiệu trưởng trường giáo dưỡng phải làm thủ tục cho học sinh ra trường.

Điều 155. Khen thưởng, xử lý vi phạm đối với học sinh

1. Học sinh chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, nội quy của trường giáo dưỡng, có kết quả học tập đạt từ loại khá trở lên hoặc lập công thì được Hiệu trưởng quyết định khen thưởng bằng một hoặc một số hình thức sau đây:

a) Biểu dương, tặng giấy khen, tặng quà;

b) Cho đi tham quan do trường giáo dưỡng tổ chức.

2. Học sinh vi phạm kỷ luật học tập, lao động hoặc có hành vi khác vi phạm nội quy của trường giáo dưỡng, thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà Hiệu trưởng quyết định xử lý bằng một trong các hình thức sau đây:

a) Khiển trách;

b) Cảnh cáo;

c) Giáo dục cá biệt tại phòng riêng không quá 05 ngày;

Học sinh bị giáo dục cá biệt phải làm bản kiểm điểm và tự kiểm điểm trước tổ hoặc lớp.

3. Quyết định khen thưởng hoặc xử lý vi phạm được lưu vào hồ sơ học sinh.

Điều 156. Thủ tục cho học sinh ra trường

1. Hai tháng trước khi học sinh hết thời hạn chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng, Hiệu trưởng trường giáo dưỡng phải thông báo bằng văn bản cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó về cư trú và gia đình họ biết ngày ra trường.

2. Vào ngày cuối cùng của thời hạn chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng, Hiệu trưởng trường giáo dưỡng phải cấp giấy chứng nhận đã chấp hành xong biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng cho học sinh ra trường và gửi giấy chứng nhận này cho cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an, Tòa án đã ra quyết định áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng và Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó về cư trú.

3. Học sinh khi ra trường phải trả lại đồ dùng được trường cho mượn; được nhận lại tiền, giấy tờ có giá, tài sản và đồ vật gửi trường quản lý, các chứng chỉ học văn hóa, học nghề; được cấp tiền tàu xe, tiền ăn trong thời gian đi đường trở về nơi cư trú. Trường hợp hết thời hạn chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng mà học sinh vẫn chưa tiến bộ thì Hiệu trưởng phải có bản nhận xét riêng và kiến nghị các biện pháp giáo dục tiếp theo gửi Ủy ban nhân dân cấp xã, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người đó về cư trú.

4. Đối với học sinh đã chấp hành xong biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng mà không rõ cha, mẹ, nơi cư trú thì trường có trách nhiệm liên hệ với Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có trường để đề nghị giúp đỡ, sắp xếp chỗ ăn, ở và tạo việc làm, học tập.

5. Đối với học sinh dưới 16 tuổi hoặc bị ốm đau, bệnh tật đến ngày được ra trường mà không có thân nhân đến đón thì trường giáo dưỡng phải cử người đưa về giao cho gia đình hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó về cư trú.

6. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra trường, học sinh đã chấp hành xong biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng phải trình báo Ủy ban nhân dân cấp xã nơi về cư trú.

Điều 157. Chi phí tổ chức thi hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng

1. Chi phí tổ chức thi hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng do ngân sách nhà nước cấp. Cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an có trách nhiệm xây dựng dự toán ngân sách hằng năm chi cho việc thi hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng, tổng hợp vào dự toán ngân sách hằng năm của cơ quan mình để Bộ Công an gửi Bộ Tài chính xem xét, trình cấp có thẩm quyền quyết định.

2. Trường giáo dưỡng được tiếp nhận sự giúp đỡ về vật chất của Ủy ban nhân dân địa phương, cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước, cá nhân và tổ chức nước ngoài để tổ chức dạy văn hóa, giáo dục hướng nghiệp và dạy nghề, mua sắm đồ dùng học tập và sinh hoạt cho học sinh.

Chương XI

THI HÀNH ÁN ĐỐI VỚI PHÁP NHÂN THƯƠNG MẠI

Điều 158. Cơ quan được giao nhiệm vụ thi hành án

1. Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu thi hành hình phạt, biện pháp tư pháp quy định tại các điều 78, 79, 80, 81 và điểm b, điểm c khoản 1 Điều 82 của Bộ luật Hình sự theo quy định của Luật này.

2. Cơ quan thi hành án dân sự thi hành hình phạt tiền quy định tại Điều 77, biện pháp tư pháp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 82 của Bộ luật Hình sự theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.

Điều 159. Quyết định thi hành án

1. Quyết định thi hành án phải ghi rõ họ, tên, chức vụ người ra quyết định; bản án, quyết định được thi hành; cơ quan thi hành án hình sự; tên, địa chỉ, mã số doanh nghiệp, mã số thuế; hình phạt chính, hình phạt bổ sung, biện pháp tư pháp; thời hạn chấp hành án.

2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định thi hành án, Tòa án đã ra quyết định phải gửi quyết định thi hành án cho các cơ quan, tổ chức sau đây:

a) Pháp nhân thương mại chấp hành án;

b) Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh hoặc cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu;

c) Viện kiểm sát cùng cấp;

d) Sở Tư pháp nơi Tòa án đã ra quyết định thi hành án có trụ sở;

đ) Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.

Điều 160. Thủ tục thi hành án

1. Pháp nhân thương mại chấp hành án thực hiện các thủ tục sau đây:

a) Khi được cơ quan thi hành án hình sự triệu tập để thông báo, yêu cầu thi hành hình phạt, biện pháp tư pháp, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại phải có mặt, trừ trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan;

b) Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định thi hành án, pháp nhân thương mại phải công bố quyết định đó trên trang thông tin điện tử, ấn phẩm của pháp nhân thương mại và niêm yết công khai tại trụ sở chính và địa điểm kinh doanh của pháp nhân thương mại trong thời gian chấp hành án; thông báo việc chấp hành hình phạt, biện pháp tư pháp cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan;

c) Pháp nhân thương mại bị đình chỉ hoạt động có thời hạn phải tạm dừng hoạt động đối với ngành, nghề trong một hoặc một số lĩnh vực bị đình chỉ hoạt động có thời hạn theo bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật;

d) Pháp nhân thương mại bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn phải chấm dứt ngay hoạt động đối với ngành, nghề trong một hoặc một số lĩnh vực bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn hoặc toàn bộ hoạt động bị đình chỉ vĩnh viễn theo bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật;

đ) Pháp nhân thương mại bị cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định thì không được tiếp tục kinh doanh, hoạt động đối với ngành, nghề trong lĩnh vực bị cấm trong thời hạn theo bản án, quyết định của Tòa án. Pháp nhân thương mại không được tiếp tục kinh doanh, hoạt động kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật;

e) Pháp nhân thương mại bị cấm huy động vốn thì không được thực hiện một hoặc một số hình thức huy động vốn trong thời hạn bị cấm theo bản án, quyết định của Tòa án. Pháp nhân thương mại không được thực hiện việc huy động vốn kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật;

g) Pháp nhân thương mại bị áp dụng biện pháp tư pháp buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu, buộc thực hiện một số biện pháp nhằm khắc phục, ngăn chặn hậu quả tiếp tục xảy ra thì phải thi hành theo bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật;

h) Pháp nhân thương mại chấp hành án phải báo cáo bằng văn bản cho cơ quan thi hành án hình sự và cơ quan quản lý nhà nước đối với pháp nhân thương mại về việc chấp hành hình phạt, biện pháp tư pháp theo bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật;

i) Thực hiện thủ tục khác theo quy định của pháp luật có liên quan.

2. Cơ quan thi hành án hình sự thực hiện các thủ tục sau đây:

a) Ngay sau khi nhận được quyết định thi hành án, cơ quan thi hành án hình sự phải công bố ngay quyết định đó trên trang thông tin điện tử của cơ quan mình và triệu tập người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại để thông báo, yêu cầu thi hành án. Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại được triệu tập hợp lệ mà không có mặt thì cơ quan thi hành án hình sự phải lập biên bản vắng mặt và tiếp tục tổ chức thi hành án;

b) Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định thi hành án, cơ quan thi hành án hình sự phải gửi văn bản yêu cầu cơ quan quản lý nhà nước đối với pháp nhân thương mại thực hiện một hoặc một số biện pháp quy định tại Điều 164 của Luật này;

c) Chủ trì, phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước đối với pháp nhân thương mại và cơ quan khác có liên quan kiểm tra, giám sát trong quá trình pháp nhân thương mại chấp hành án;

d) Ra quyết định cưỡng chế thi hành án theo quy định của Luật này; chủ trì, phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước đối với pháp nhân thương mại và cơ quan, tổ chức khác có liên quan cưỡng chế thi hành án đối với pháp nhân thương mại theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan;

đ) Cấp giấy chứng nhận chấp hành xong hình phạt, giấy chứng nhận chấp hành xong biện pháp tư pháp, công bố và gửi các văn bản này theo quy định tại Điều 166 của Luật này;

e) Thực hiện thủ tục khác theo quy định của pháp luật.

3. Cơ quan quản lý nhà nước đối với pháp nhân thương mại chấp hành án thực hiện các thủ tục sau đây:

a) Thực hiện biện pháp quy định tại Điều 164 của Luật này ngay sau khi nhận được văn bản yêu cầu của cơ quan thi hành án hình sự kèm theo bản sao quyết định thi hành án và thông báo cho cơ quan thi hành án hình sự kết quả thực hiện;

b) Công bố ngay trên cổng thông tin, trang thông tin điện tử của cơ quan mình, Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp quyết định thi hành án, các biện pháp đã được áp dụng đối với pháp nhân thương mại quy định tại Điều 164 của Luật này, giấy chứng nhận chấp hành xong hình phạt, giấy chứng nhận chấp hành xong biện pháp tư pháp;

c) Phối hợp với cơ quan thi hành án hình sự và cơ quan khác có liên quan kiểm tra, giám sát pháp nhân thương mại trong quá trình chấp hành án;

d) Phối hợp với cơ quan thi hành án hình sự và cơ quan, tổ chức khác có liên quan cưỡng chế thi hành án đối với pháp nhân thương mại theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan;

đ) Thực hiện thủ tục khác theo quy định của pháp luật.

4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Điều 161. Hồ sơ thi hành án

Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu có trách nhiệm lập hồ sơ thi hành án đối với pháp nhân thương mại. Hồ sơ bao gồm:

1. Bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật;

2. Quyết định thi hành án;

3. Giấy triệu tập người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại;

4. Văn bản của cơ quan thi hành án hình sự yêu cầu cơ quan quản lý nhà nước đối với pháp nhân thương mại thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trong thi hành án;

5. Thông báo của cơ quan quản lý nhà nước đối với pháp nhân thương mại cho cơ quan thi hành án hình sự về thực hiện yêu cầu trong thi hành án và việc chấp hành án của pháp nhân thương mại;

6. Báo cáo của pháp nhân thương mại về việc chấp hành án;

7. Tài liệu thể hiện việc công bố thông tin về thi hành án theo quy định của Luật này;

8. Biên bản về thi hành án;

9. Tài liệu về việc cưỡng chế thi hành án (nếu có);

10. Tài liệu về việc chấp hành xong hình phạt, chấp hành xong biện pháp tư pháp theo quy định của Luật này;

11. Tài liệu khác có liên quan.

Điều 162. Quyền, nghĩa vụ của pháp nhân thương mại chấp hành án

1. Pháp nhân thương mại chấp hành án có các quyền sau đây:

a) Được thông báo về việc thi hành án;

b) Được nhận các quyết định liên quan trong quá trình chấp hành án;

c) Được khiếu nại về thi hành án;

d) Được cấp giấy chứng nhận chấp hành xong hình phạt, giấy chứng nhận chấp hành xong biện pháp tư pháp theo quy định của Luật này;

đ) Được bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

2. Pháp nhân thương mại chấp hành án có các nghĩa vụ sau đây:

a) Chấp hành nghiêm chỉnh bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật; quyết định, yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền trong thi hành án;

b) Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại phải có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan thi hành án hình sự;

c) Công bố và niêm yết công khai quyết định thi hành án; thông báo việc chấp hành hình phạt và biện pháp tư pháp cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan theo quy định của Luật này;

d) Báo cáo cơ quan thi hành án hình sự về việc chấp hành án.

3. Pháp nhân thương mại chấp hành án có các quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.

Điều 163. Cưỡng chế thi hành án

1. Pháp nhân thương mại chấp hành án không chấp hành hoặc chấp hành không đầy đủ bản án, quyết định của Tòa án thì bị áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án. Pháp nhân thương mại phải chịu chi phí cưỡng chế thi hành án.

2. Cơ quan thi hành án hình sự ra quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án.

3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Điều 164. Trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước đối với pháp nhân thương mại

1. Căn cứ vào bản án, quyết định thi hành án và văn bản yêu cầu của cơ quan thi hành án hình sự, cơ quan quản lý nhà nước đối với pháp nhân thương mại, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm thực hiện một hoặc một số biện pháp sau đây:

a) Sửa đổi hoặc đình chỉ hiệu lực giấy phép thành lập và hoạt động hoặc văn bản khác có giá trị tương đương đối với pháp nhân thương mại trong thời gian bị đình chỉ hoạt động có thời hạn; áp dụng biện pháp khác theo quy định của pháp luật để bảo đảm thi hành hình phạt đình chỉ hoạt động có thời hạn theo bản án, quyết định của Tòa án;

b) Thu hồi hoặc xóa bỏ nội dung đăng ký của pháp nhân thương mại hoặc văn bản khác có giá trị tương đương; thu hồi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp của pháp nhân thương mại, không cấp lại giấy phép thành lập, hoạt động đối với pháp nhân thương mại đã bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn; áp dụng biện pháp khác theo quy định của pháp luật để bảo đảm thi hành hình phạt đình chỉ hoạt động vĩnh viễn theo bản án, quyết định của Tòa án;

c) Xóa bỏ nội dung đăng ký; sửa đổi, tạm dừng hiệu lực, thu hồi, từ chối hoặc không cấp lại một phần hoặc toàn bộ giấy phép hoặc văn bản khác có giá trị tương đương; đình chỉ một phần hoặc toàn bộ ngành, nghề, hoạt động của pháp nhân thương mại trong thời hạn bị cấm hoạt động, cấm kinh doanh đối với ngành, nghề trong lĩnh vực bị cấm; áp dụng biện pháp khác theo quy định của pháp luật để bảo đảm thi hành hình phạt cấm kinh doanh, cấm hoạt động theo bản án, quyết định của Tòa án;

d) Tự mình hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức thuộc lĩnh vực quản lý sửa đổi, đình chỉ, hủy bỏ, thu hồi giấy phép; từ chối cấp phép, chấp thuận, tiến hành thủ tục để huy động vốn trong thời hạn bị cấm đối với pháp nhân thương mại; áp dụng biện pháp khác theo quy định của pháp luật để bảo đảm thi hành hình phạt cấm huy động vốn theo bản án, quyết định của Tòa án;

đ) Áp dụng các biện pháp theo quy định của pháp luật để bảo đảm thi hành biện pháp tư pháp buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu, buộc thực hiện một số biện pháp nhằm khắc phục, ngăn chặn hậu quả tiếp tục xảy ra theo bản án, quyết định của Tòa án.

2. Phối hợp với cơ quan thi hành án hình sự và cơ quan khác có liên quan kiểm tra, giám sát pháp nhân thương mại trong quá trình chấp hành hình phạt, biện pháp tư pháp.

3. Thông báo bằng văn bản cho cơ quan thi hành án hình sự về việc thực hiện yêu cầu trong thi hành án và việc chấp hành án của pháp nhân thương mại.

4. Phối hợp với cơ quan thi hành án hình sự và cơ quan, tổ chức khác có liên quan thi hành biện pháp cưỡng chế thi hành án đối với pháp nhân thương mại theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.

5. Công bố quyết định, văn bản của cơ quan thi hành án hình sự và biện pháp được áp dụng đối với pháp nhân thương mại theo quy định của Luật này.

6. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Điều 165. Chuyển giao nghĩa vụ thi hành án trong trường hợp pháp nhân thương mại tổ chức lại

Trường hợp pháp nhân thương mại chấp hành án được chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp theo quy định của pháp luật thì pháp nhân thương mại kế thừa các quyền và nghĩa vụ của pháp nhân thương mại chấp hành án có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ thi hành án theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan. Pháp nhân thương mại không được lợi dụng việc chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp hoặc giải thể, phá sản để trốn tránh nghĩa vụ thi hành án.

Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Điều 166. Cấp giấy chứng nhận chấp hành xong hình phạt, giấy chứng nhận chấp hành xong biện pháp tư pháp

1. Pháp nhân thương mại chấp hành xong hình phạt, chấp hành xong biện pháp tư pháp thì được cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận chấp hành xong hình phạt, giấy chứng nhận chấp hành xong biện pháp tư pháp, trừ trường hợp pháp nhân thương mại bị kết án theo quy định tại Điều 79 của Bộ luật Hình sự.

2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày cấp giấy chứng nhận chấp hành xong hình phạt, giấy chứng nhận chấp hành xong biện pháp tư pháp cho pháp nhân thương mại, cơ quan thi hành án hình sự phải công bố trên trang thông tin điện tử của cơ quan mình và gửi cho cơ quan quản lý nhà nước đối với pháp nhân thương mại, Tòa án đã ra quyết định thi hành án, cơ quan quy định tại điểm d và điểm đ khoản 2 Điều 159 của Luật này.

Chương XII

KIỂM SÁT THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ

Điều 167. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong kiểm sát thi hành án hình sự

1. Yêu cầu Tòa án cùng cấp và cấp dưới ra quyết định thi hành án hình sự đúng quy định của pháp luật; yêu cầu Tòa án, cơ quan thi hành án hình sự, cơ quan được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự tự kiểm tra việc thi hành án hình sự và thông báo kết quả cho Viện kiểm sát; cung cấp hồ sơ, tài liệu có liên quan đến thi hành án hình sự.

2. Trực tiếp kiểm sát việc thi hành án hình sự của cơ quan thi hành án hình sự cùng cấp và cấp dưới, cơ quan được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự; kiểm sát hồ sơ thi hành án hình sự của cơ quan thi hành án hình sự cùng cấp và cấp dưới, cơ quan được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự. Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu trực tiếp kiểm sát việc thi hành án phạt tù của trại giam đóng tại địa phương, địa bàn; kiểm sát việc thi hành án đối với pháp nhân thương mại.

3. Quyết định trả tự do ngay cho người đang chấp hành án phạt tù không có căn cứ và trái pháp luật.

4. Đề nghị miễn, hoãn, tạm đình chỉ, đình chỉ chấp hành án; tham gia phiên họp xét giảm, miễn thời hạn chấp hành án, tha tù trước thời hạn có điều kiện, hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện, buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo, rút ngắn thời gian thử thách.

5. Kháng nghị, kiến nghị, yêu cầu Tòa án, cơ quan thi hành án hình sự cùng cấp, cấp dưới, cơ quan được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự, người có thẩm quyền và cá nhân có liên quan trong thi hành án hình sự; yêu cầu đình chỉ việc thi hành, sửa đổi hoặc bãi bỏ quyết định có vi phạm pháp luật trong thi hành án hình sự; chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật.

6. Tiếp nhận và giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quản lý, giáo dục người chấp hành án phạt tù; kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với việc thi hành án hình sự.

7. Khởi tố hoặc yêu cầu cơ quan điều tra khởi tố vụ án hình sự khi phát hiện vụ việc có dấu hiệu tội phạm trong thi hành án hình sự theo quy định của pháp luật.

8. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong kiểm sát thi hành án hình sự.

Điều 168. Kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong thi hành án hình sự

1. Viện kiểm sát trực tiếp kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của Tòa án, cơ quan quản lý thi hành án hình sự, cơ quan thi hành án hình sự, cơ quan được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự.

2. Khi kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong thi hành án hình sự, Viện kiểm sát có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan quản lý thi hành án hình sự, cơ quan thi hành án hình sự, cơ quan được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự cùng cấp và cấp dưới thực hiện nhiệm vụ sau đây:

a) Ra văn bản giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định tại Chương XIV của Luật này;

b) Kiểm tra việc giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền và của cấp dưới; thông báo kết quả giải quyết cho Viện kiểm sát;

c) Cung cấp hồ sơ, tài liệu liên quan đến việc giải quyết khiếu nại, tố cáo cho Viện kiểm sát.

Điều 169. Trách nhiệm thực hiện yêu cầu, quyết định, kháng nghị, kiến nghị của Viện kiểm sát về thi hành án hình sự

1. Đối với yêu cầu Tòa án ra quyết định thi hành án hình sự và cung cấp hồ sơ, tài liệu có liên quan đến thi hành án hình sự phải thực hiện ngay; đối với yêu cầu Tòa án, cơ quan thi hành án hình sự, cơ quan được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự tự kiểm tra việc thi hành án hình sự và thông báo kết quả cho Viện kiểm sát phải thực hiện trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu.

2. Đối với quyết định quy định tại khoản 3 Điều 167 của Luật này, cơ quan thi hành án hình sự phải thi hành ngay; nếu không nhất trí với quyết định đó thì vẫn phải thi hành, nhưng có quyền kiến nghị lên Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được kiến nghị, Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp phải giải quyết.

3. Đối với kháng nghị về quyết định quy định tại khoản 4 Điều 167 của Luật này thì việc giải quyết được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự.

4. Đối với kháng nghị quy định tại khoản 5 Điều 167 của Luật này, Tòa án, cơ quan thi hành án hình sự, cơ quan được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự có trách nhiệm trả lời bằng văn bản trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được kháng nghị; nếu không nhất trí với kháng nghị đó thì các cơ quan này có quyền khiếu nại lên Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp; Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp phải giải quyết trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại. Quyết định của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp phải được thi hành.

5. Đối với kiến nghị quy định tại khoản 5 Điều 167 của Luật này phải được xem xét, giải quyết, trả lời bằng văn bản trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được kiến nghị.

Chương XIII

BẢO ĐẢM ĐIỀU KIỆN CHO HOẠT ĐỘNG THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ

Điều 170. Biên chế, đào tạo, huấn luyện, bồi dưỡng cán bộ thi hành án hình sự

1. Nhà nước bảo đảm biên chế, cán bộ cần thiết cho các cơ quan quản lý thi hành án hình sự, cơ quan thi hành án hình sự.

2. Người làm công tác thi hành án hình sự phải được đào tạo, huấn luyện, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, pháp luật và kiến thức khác phù hợp với nhiệm vụ, quyền hạn được giao.

Điều 171. Bảo đảm cơ sở vật chất phục vụ hoạt động thi hành án hình sự

Căn cứ yêu cầu công tác thi hành án hình sự, địa bàn hoạt động và điều kiện kinh tế - xã hội, Nhà nước bảo đảm cơ sở vật chất của cơ quan quản lý thi hành án hình sự, cơ quan thi hành án hình sự, bao gồm đất đai, trụ sở, công trình; trang thiết bị, vũ khí, công cụ hỗ trợ, phương tiện giao thông, thông tin liên lạc, kỹ thuật nghiệp vụ và các điều kiện vật chất, kỹ thuật khác; ưu tiên bảo đảm cơ sở vật chất cho cơ quan đóng ở vùng sâu, vùng xa, miền núi, hải đảo, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, địa bàn trọng yếu về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.

Điều 172. Trang bị và sử dụng vũ khí, phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ, công cụ hỗ trợ trong thi hành án hình sự

Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, chiến sĩ Công an nhân dân, Quân đội nhân dân khi thực hiện nhiệm vụ thi hành án hình sự được trang bị và sử dụng vũ khí, phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ, công cụ hỗ trợ theo quy định của pháp luật.

Điều 173. Cơ sở dữ liệu về thi hành án hình sự

1. Cơ sở dữ liệu về thi hành án hình sự do Bộ Công an quản lý là một bộ phận của hệ cơ sở dữ liệu quốc gia về thông tin phòng, chống tội phạm nhằm phục vụ công tác quản lý nhà nước về thi hành án hình sự, đấu tranh phòng, chống tội phạm.

2. Việc xây dựng, thu thập, lưu trữ, xử lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng cơ sở dữ liệu về thi hành án hình sự do Chính phủ quy định.

Điều 174. Bảo đảm kinh phí cho hoạt động thi hành án hình sự

Nhà nước bảo đảm kinh phí cho hoạt động thi hành án hình sự. Việc lập dự toán, sử dụng và quyết toán kinh phí bảo đảm cho hoạt động thi hành án hình sự được thực hiện theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước.

Điều 175. Chế độ, chính sách đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong thi hành án hình sự

1. Cán bộ, công chức; công nhân công an; công nhân, viên chức quốc phòng và những người khác làm nhiệm vụ thi hành án hình sự được hưởng chế độ, chính sách theo quy định của pháp luật.

2. Sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ Công an nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, chiến sĩ Quân đội nhân dân làm nhiệm vụ thi hành án hình sự được phong, thăng cấp bậc hàm lực lượng vũ trang nhân dân và hưởng chế độ, chính sách theo quy định của pháp luật.

3. Cơ quan, tổ chức, cá nhân trong thi hành án hình sự có thành tích thì được khen thưởng; người bị thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản thì bản thân và gia đình được hưởng chế độ, chính sách theo quy định của pháp luật.

Chương XIV

GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO TRONG THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ

Mục 1. KHIẾU NẠI VÀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI TRONG THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ

Điều 176. Quyền khiếu nại trong thi hành án hình sự

1. Người, pháp nhân thương mại chấp hành án hình sự và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan (sau đây gọi là người khiếu nại) có quyền khiếu nại đối với quyết định, hành vi của cơ quan, người có thẩm quyền thi hành án hình sự nếu có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Việc khiếu nại của pháp nhân thương mại chấp hành án được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại.

2. Thời hiệu khiếu nại lần đầu là 30 ngày kể từ ngày nhận hoặc biết được quyết định, hành vi thi hành án hình sự mà người khiếu nại cho rằng có vi phạm pháp luật. Thời hiệu khiếu nại lần hai là 15 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại của người có thẩm quyền.

Trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mà người khiếu nại không thực hiện được quyền khiếu nại theo đúng thời hiệu thì thời gian có lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan đó không tính vào thời hiệu khiếu nại.

Điều 177. Các trường hợp khiếu nại về thi hành án hình sự không được thụ lý giải quyết

1. Quyết định, hành vi bị khiếu nại không liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khiếu nại.

2. Người khiếu nại là cá nhân không có năng lực hành vi dân sự đầy đủ mà không có người đại diện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

3. Người đại diện không có giấy tờ chứng minh về việc đại diện hợp pháp của mình.

4. Thời hiệu khiếu nại đã hết.

5. Việc khiếu nại đã có quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực thi hành.

Điều 178. Thẩm quyền giải quyết khiếu nại trong thi hành án hình sự

1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có liên quan trong quản lý, giám sát, giáo dục người chấp hành án hình sự ở xã, phường, thị trấn.

2. Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi sau đây:

a) Quyết định, hành vi trái pháp luật của Phó thủ trưởng, sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ thuộc quyền quản lý của cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, trừ trường hợp quy định tại khoản 8 Điều này;

b) Quyết định, hành vi trái pháp luật của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, Ủy ban nhân dân cấp xã được Tòa án giao giám sát, giáo dục đối với người chấp hành án;

c) Quyết định giải quyết khiếu nại của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã được Tòa án giao giám sát, giáo dục đối với người chấp hành án.

3. Trưởng Công an cấp huyện giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi sau đây:

a) Quyết định, hành vi trái pháp luật của Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện;

b) Quyết định giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện.

4. Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi sau đây:

a) Quyết định, hành vi trái pháp luật của sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ thuộc quyền quản lý của cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, trừ trường hợp quy định tại khoản 8 Điều này;

b) Quyết định, hành vi trái pháp luật của cơ quan, cá nhân có thẩm quyền trong thi hành án hình sự đối với pháp nhân thương mại.

5. Giám đốc Công an cấp tỉnh giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi sau đây:

a) Quyết định, hành vi trái pháp luật của Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh;

b) Quyết định giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, Trưởng Công an cấp huyện.

6. Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi trái pháp luật của sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ thuộc quyền quản lý của cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an, trừ trường hợp quy định tại khoản 8 Điều này.

7. Bộ trưởng Bộ Công an giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi sau đây, trừ trường hợp quy định tại khoản 8 Điều này:

a) Quyết định, hành vi trái pháp luật của Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an;

b) Quyết định giải quyết khiếu nại của Giám đốc Công an cấp tỉnh, Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an.

8. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi trái pháp luật trong quản lý, giáo dục phạm nhân của người được giao quản lý, giáo dục phạm nhân.

Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh giải quyết khiếu nại đối với quyết định giải quyết khiếu nại của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương giải quyết khiếu nại đối với quyết định giải quyết khiếu nại của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu. Quyết định giải quyết khiếu nại của Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên có hiệu lực thi hành.

Điều 179. Thẩm quyền giải quyết khiếu nại về thi hành án hình sự trong Quân đội nhân dân

1. Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi trái pháp luật trong thi hành án hình sự của sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, chiến sĩ của đơn vị quân đội, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu, trừ trường hợp quy định tại khoản 8 Điều 178 của Luật này.

2. Tư lệnh quân khu và tương đương giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi sau đây, trừ trường hợp quy định tại khoản 8 Điều 178 của Luật này:

a) Quyết định, hành vi trái pháp luật của Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu;

b) Quyết định giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu.

3. Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Quốc phòng giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi trái pháp luật của sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, chiến sĩ thuộc quyền quản lý của cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Quốc phòng, trừ trường hợp quy định tại khoản 8 Điều 178 của Luật này.

4. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi sau đây, trừ trường hợp quy định tại khoản 8 Điều 178 của Luật này:

a) Quyết định, hành vi trái pháp luật của Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Quốc phòng;

b) Quyết định, hành vi trái pháp luật của Tư lệnh quân khu và tương đương;

c) Quyết định giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Quốc phòng, Tư lệnh quân khu và tương đương.

Điều 180. Quyền và nghĩa vụ của người khiếu nại trong thi hành án hình sự

1. Người khiếu nại có các quyền sau đây:

a) Tự mình khiếu nại hoặc thông qua người đại diện để khiếu nại trong bất kỳ thời gian nào của quá trình thi hành án hình sự;

b) Rút khiếu nại trong bất kỳ thời gian nào của quá trình giải quyết khiếu nại;

c) Được nhận văn bản trả lời về việc thụ lý giải quyết khiếu nại, nhận quyết định giải quyết khiếu nại;

d) Được khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp đã bị xâm phạm, được bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.

2. Người khiếu nại có các nghĩa vụ sau đây:

a) Trình bày trung thực sự việc, cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến việc khiếu nại cho người giải quyết khiếu nại; chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung trình bày và việc cung cấp các thông tin, tài liệu đó;

b) Chấp hành quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực thi hành.

Điều 181. Quyền và nghĩa vụ của người bị khiếu nại trong thi hành án hình sự

1. Người bị khiếu nại có các quyền sau đây:

a) Được thông báo về nội dung khiếu nại;

b) Đưa ra bằng chứng về tính hợp pháp của quyết định, hành vi thi hành án hình sự bị khiếu nại;

c) Được nhận quyết định giải quyết khiếu nại.

2. Người bị khiếu nại có các nghĩa vụ sau đây:

a) Giải trình về quyết định, hành vi thi hành án hình sự bị khiếu nại, cung cấp thông tin, tài liệu liên quan khi cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền yêu cầu;

b) Chấp hành quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực thi hành;

c) Bồi hoàn, khắc phục hậu quả do quyết định, hành vi trái pháp luật của mình gây ra theo quy định của pháp luật.

Điều 182. Nhiệm vụ và quyền hạn của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại trong thi hành án hình sự

1. Tiếp nhận, giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi bị khiếu nại.

2. Yêu cầu người khiếu nại, người bị khiếu nại giải trình, cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến việc khiếu nại.

3. Thông báo bằng văn bản về việc thụ lý để giải quyết, gửi quyết định giải quyết cho người khiếu nại.

4. Chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc giải quyết khiếu nại của mình.

Điều 183. Thời hạn giải quyết khiếu nại trong thi hành án hình sự

1. Thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu là 15 ngày kể từ ngày thụ lý khiếu nại.

2. Thời hạn giải quyết khiếu nại lần hai là 30 ngày kể từ ngày thụ lý khiếu nại.

3. Trường hợp cần thiết, đối với những vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết khiếu nại quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này có thể kéo dài thêm nhưng không quá 30 ngày.

Điều 184. Tiếp nhận, thụ lý khiếu nại trong thi hành án hình sự

1. Cơ quan, người có thẩm quyền phải tiếp nhận các khiếu nại trong thi hành án hình sự. Đối với khiếu nại của phạm nhân quy định tại khoản 8 Điều 178 của Luật này thì trong thời hạn 24 giờ kể từ khi tiếp nhận, Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện phải chuyển ngay khiếu nại cho Viện kiểm sát có thẩm quyền.

2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được khiếu nại, cơ quan, người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều này, Điều 178 và Điều 179 của Luật này phải thụ lý để giải quyết và thông báo bằng văn bản cho người khiếu nại biết. Trường hợp không thụ lý khiếu nại để giải quyết thì phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do.

Điều 185. Hồ sơ giải quyết khiếu nại trong thi hành án hình sự

1. Hồ sơ giải quyết khiếu nại bao gồm:

a) Đơn khiếu nại hoặc văn bản ghi nội dung khiếu nại;

b) Văn bản giải trình của người bị khiếu nại;

c) Biên bản thẩm tra, xác minh, kết luận;

d) Quyết định giải quyết khiếu nại;

đ) Tài liệu khác có liên quan.

2. Hồ sơ giải quyết khiếu nại phải được đánh số bút lục và lưu giữ tại cơ quan giải quyết khiếu nại.

Điều 186. Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại lần đầu trong thi hành án hình sự

1. Sau khi thụ lý khiếu nại, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại quy định tại Điều 178 và Điều 179 của Luật này tiến hành xác minh, yêu cầu người khiếu nại, người bị khiếu nại giải trình, cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến việc khiếu nại; gặp cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để làm rõ nội dung khiếu nại và ra quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu.

2. Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu có hiệu lực thi hành nếu trong thời hiệu do Luật này quy định mà người khiếu nại không khiếu nại tiếp.

Điều 187. Nội dung quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu trong thi hành án hình sự

1. Ngày, tháng, năm ra quyết định.

2. Họ, tên, địa chỉ của người khiếu nại, người bị khiếu nại.

3. Nội dung khiếu nại.

4. Kết quả xác minh nội dung khiếu nại.

5. Căn cứ pháp luật để giải quyết khiếu nại.

6. Kết luận về nội dung khiếu nại là đúng, đúng một phần hoặc sai toàn bộ.

7. Giữ nguyên, sửa đổi, hủy bỏ hoặc yêu cầu sửa đổi, hủy bỏ một phần quyết định bị khiếu nại hoặc buộc chấm dứt việc thực hiện quyết định, hành vi bị khiếu nại.

8. Việc bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do quyết định, hành vi trái pháp luật gây ra (nếu có).

9. Hướng dẫn quyền khiếu nại tiếp theo của đương sự.

Điều 188. Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại lần hai trong thi hành án hình sự

1. Trường hợp tiếp tục khiếu nại thì người khiếu nại phải gửi đơn kèm theo bản sao quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu và tài liệu liên quan cho người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai.

2. Trong quá trình giải quyết khiếu nại lần hai, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại quy định tại Điều 178 và Điều 179 của Luật này có quyền yêu cầu người giải quyết khiếu nại lần đầu, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung khiếu nại; triệu tập người bị khiếu nại, người khiếu nại khi cần thiết; xác minh, tiến hành các biện pháp khác theo quy định của pháp luật để giải quyết khiếu nại. Cơ quan, tổ chức, cá nhân khi nhận được yêu cầu phải thực hiện đúng các yêu cầu đó.

3. Quyết định giải quyết khiếu nại lần hai có hiệu lực thi hành.

Điều 189. Nội dung quyết định giải quyết khiếu nại lần hai trong thi hành án hình sự

1. Ngày, tháng, năm ra quyết định.

2. Họ, tên, địa chỉ của người khiếu nại, người bị khiếu nại.

3. Nội dung khiếu nại.

4. Kết quả xác minh nội dung khiếu nại.

5. Căn cứ pháp luật để giải quyết khiếu nại.

6. Kết luận về nội dung khiếu nại và việc giải quyết của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu.

7. Giữ nguyên, sửa đổi, hủy bỏ hoặc yêu cầu sửa đổi, hủy bỏ một phần quyết định bị khiếu nại hoặc buộc chấm dứt thực hiện quyết định, hành vi bị khiếu nại; việc bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do quyết định, hành vi trái pháp luật gây ra.

Mục 2. TỐ CÁO VÀ GIẢI QUYẾT TỐ CÁO TRONG THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ

Điều 190. Người có quyền tố cáo trong thi hành án hình sự

Người chấp hành án và mọi công dân có quyền tố cáo với cơ quan, người có thẩm quyền về hành vi vi phạm pháp luật của bất kỳ người có thẩm quyền nào trong thi hành án hình sự mà gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

Điều 191. Quyền và nghĩa vụ của người tố cáo, người bị tố cáo trong thi hành án hình sự

Quyền và nghĩa vụ của người tố cáo, người bị tố cáo trong thi hành án hình sự được thực hiện theo quy định của Luật Tố cáo.

Điều 192. Thẩm quyền và thời hạn giải quyết tố cáo

1. Thẩm quyền giải quyết tố cáo như sau:

a) Người đứng đầu cơ quan, tổ chức giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật của người thuộc thẩm quyền quản lý của cơ quan, tổ chức đó;

b) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật của Trưởng Công an cấp xã;

c) Trưởng Công an cấp huyện giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật của Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện;

d) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã;

đ) Giám đốc Công an cấp tỉnh giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật của Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh;

e) Tư lệnh Quân khu và tương đương giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật của Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu;

g) Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật của Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc phạm vi quản lý.

h) Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật trong quản lý, giáo dục phạm nhân của người được giao quản lý, giáo dục phạm nhân.

2. Thời hạn giải quyết tố cáo là không quá 30 ngày kể từ ngày thụ lý giải quyết tố cáo; đối với vụ việc phức tạp thì có thể gia hạn giải quyết tố cáo một lần nhưng không quá 30 ngày; đối với vụ việc đặc biệt phức tạp thì có thể gia hạn giải quyết tố cáo 02 lần, mỗi lần không quá 30 ngày.

3. Tố cáo về hành vi vi phạm pháp luật có dấu hiệu tội phạm được giải quyết theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Điều 193. Trách nhiệm giải quyết tố cáo

1. Cơ quan, người có thẩm quyền, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết tố cáo kịp thời, đúng pháp luật; xử lý nghiêm minh người vi phạm; áp dụng biện pháp cần thiết nhằm ngăn chặn thiệt hại có thể xảy ra; bảo đảm cho quyết định giải quyết được thi hành nghiêm chỉnh và chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình.

2. Người có thẩm quyền giải quyết tố cáo mà không giải quyết, thiếu trách nhiệm trong việc giải quyết, giải quyết trái pháp luật thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

Chương XV

NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA CƠ QUAN NHÀ NƯỚC TRONG QUẢN LÝ CÔNG TÁC THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ

Điều 194. Nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ trong quản lý nhà nước về thi hành án hình sự

1. Thống nhất quản lý nhà nước về thi hành án hình sự trong phạm vi cả nước.

2. Chỉ đạo các cơ quan của Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong thi hành án hình sự.

3. Phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong thi hành án hình sự.

4. Hằng năm, báo cáo Quốc hội về công tác thi hành án hình sự.

Điều 195. Nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Công an trong quản lý công tác thi hành án hình sự

1. Bộ Công an chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về thi hành án hình sự và có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

a) Ban hành hoặc trình cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật về thi hành án hình sự; phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, cơ quan khác có liên quan trong việc ban hành thông tư liên tịch quy định về việc phối hợp giữa các cơ quan này trong việc thực hiện trình tự, thủ tục thi hành án hình sự;

b) Xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách, kế hoạch về thi hành án hình sự; chỉ đạo và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về thi hành án hình sự;

c) Đình chỉ, bãi bỏ theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền bãi bỏ những quy định về thi hành án hình sự trái với quy định của Luật này;

d) Ban hành các biểu mẫu, giấy tờ, sổ sách về thi hành án hình sự;

đ) Phổ biến, giáo dục pháp luật về thi hành án hình sự;

e) Quản lý hệ thống tổ chức, biên chế và hoạt động của cơ quan thi hành án hình sự trong Công an nhân dân; quyết định thành lập, sáp nhập, giải thể cơ quan thi hành án hình sự trong Công an nhân dân theo quy định của Luật này; đào tạo, bồi dưỡng, huấn luyện sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ, công nhân Công an trong thi hành án hình sự; bồi dưỡng, huấn luyện, chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ cho cán bộ, công chức, nhân viên cơ quan, tổ chức được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự;

g) Chỉ đạo việc truy bắt người chấp hành án bỏ trốn; áp giải người có quyết định thi hành án hình sự để thi hành án; giải tán, tạm giữ người có hành vi cản trở, chống đối việc thi hành án; phối hợp với đơn vị vũ trang nhân dân khác và chính quyền địa phương để chủ động triển khai lực lượng hỗ trợ thi hành án hình sự trong trường hợp cần thiết; thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của Luật này;

h) Kiểm tra, thanh tra, khen thưởng, xử lý vi phạm trong công tác thi hành án hình sự; giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án hình sự theo quy định của Luật này;

i) Quyết định kế hoạch phân bổ kinh phí, bảo đảm điều kiện cho hoạt động của cơ quan thi hành án hình sự;

k) Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực thi hành án hình sự;

l) Tổng kết công tác thi hành án hình sự;

m) Ban hành và thực hiện chế độ thống kê về thi hành án hình sự;

n) Báo cáo Chính phủ về công tác thi hành án hình sự.

2. Bộ trưởng Bộ Công an căn cứ yêu cầu quản lý người bị tạm giữ, tạm giam để quyết định đưa người chấp hành án phạt tù có thời hạn từ 05 năm trở xuống không phải là người dưới 18 tuổi, người nước ngoài, người mắc bệnh truyền nhiễm nguy hiểm hoặc nghiện ma túy để phục vụ việc tạm giữ, tạm giam. Số lượng người chấp hành án phạt tù phục vụ việc tạm giữ, tạm giam được tính theo tỷ lệ trên tổng số người bị tạm giữ, tạm giam nhưng không vượt quá 15%.

Điều 196. Nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Quốc phòng trong quản lý công tác thi hành án hình sự

1. Bộ Quốc phòng chịu trách nhiệm quản lý công tác thi hành án hình sự trong Quân đội nhân dân có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

a) Ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật về thi hành án hình sự trong Quân đội nhân dân; phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, cơ quan khác có liên quan trong việc ban hành thông tư liên tịch quy định về việc phối hợp giữa các cơ quan này trong việc thực hiện trình tự, thủ tục thi hành án hình sự;

b) Quản lý hệ thống tổ chức, biên chế và hoạt động của cơ quan thi hành án hình s trong Quân đội nhân dân; quyết định thành lập, sáp nhập, giải thể cơ quan thi hành án hình sự trong Quân đội nhân dân theo quy định của Luật này;

c) Phối hợp với Bộ Công an, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tư pháp trong việc xây dựng chương trình giáo dục pháp luật, giáo dục công dân; phối hợp với Bộ Công an trong việc tổng kết, thống kê, báo cáo Chính phủ về công tác thi hành án hình sự;

d) Hướng dẫn, chỉ đạo nghiệp vụ thi hành án hình sự cho cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu; phổ biến, giáo dục pháp luật về thi hành án hình sự trong Quân đội nhân dân;

đ) Khen thưởng, kỷ luật đối với quân nhân làm công tác thi hành án hình sự trong Quân đội nhân dân;

e) Chỉ đạo việc truy bắt người chấp hành án bỏ trốn; áp giải người có quyết định thi hành án hình sự để thi hành án; giải tán, tạm giữ người có hành vi cản trở, chống đối việc thi hành án; phối hợp với đơn vị vũ trang nhân dân khác và chính quyền địa phương để chủ động triển khai lực lượng hỗ trợ thi hành án hình sự trong trường hợp cần thiết; thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của Luật này;

g) Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm về thi hành án hình sự trong Quân đội nhân dân theo quy định của Luật này;

h) Quản lý, lập kế hoạch phân bổ kinh phí, bảo đảm cơ sở vật chất, phương tiện hoạt động thi hành án hình sự trong Quân đội nhân dân.

2. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng căn cứ yêu cầu quản lý người bị tạm giữ, tạm giam trong các cơ sở giam giữ của Bộ Quốc phòng để quyết định đưa người chấp hành án phạt tù có thời hạn từ 5 năm trở xuống không phải là người dưới 18 tuổi, người nước ngoài, người mắc bệnh truyền nhiễm nguy hiểm hoặc nghiện ma túy để phục vụ việc tạm giữ, tạm giam. Số lượng người chấp hành án phạt tù tại trại tạm giam được tính theo tỷ lệ trên tổng số người bị tạm giữ, tạm giam nhưng không vượt quá 15%.

Điều 197. Nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án nhân dân tối cao trong thi hành án hình sự

1. Phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp, cơ quan khác có liên quan trong việc ban hành thông tư liên tịch quy định về việc phối hợp giữa các cơ quan này trong việc thực hiện trình tự, thủ tục thi hành án hình sự.

2. Hướng dẫn Tòa án các cấp trong việc ra quyết định thi hành án hình sự; chỉ đạo Tòa án các cấp phối hợp với cơ quan quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 11 của Luật này trong công tác thi hành án hình sự.

3. Phối hợp với Bộ Công an, Bộ Quốc phòng trong việc tổng kết công tác thi hành án hình sự.

4. Phối hợp với Bộ Công an trong việc thực hiện chế độ thống kê, báo cáo về công tác thi hành án hình sự.

Điều 198. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong thi hành án hình sự

1. Phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp, cơ quan khác có liên quan trong việc ban hành thông tư liên tịch quy định về việc phối hợp giữa các cơ quan này trong việc thực hiện trình tự, thủ tục thi hành án hình sự.

2. Kiểm sát và chỉ đạo Viện kiểm sát các cấp thực hiện việc kiểm sát thi hành án hình sự theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.

3. Phối hợp với Bộ Công an, Bộ Quốc phòng trong việc tổng kết công tác thi hành án hình sự.

4. Phối hợp với Bộ Công an trong việc thực hiện chế độ thống kê, báo cáo về công tác thi hành án hình sự.

Điều 199. Nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Tư pháp trong thi hành án hình sự

1. Phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, cơ quan khác có liên quan ban hành thông tư liên tịch quy định về việc phối hợp giữa các cơ quan này trong việc thực hiện trình tự, thủ tục thi hành án hình sự.

2. Phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng trong việc xây dựng chương trình giáo dục pháp luật, giáo dục công dân; phổ biến, giáo dục pháp luật về thi hành án hình sự.

3. Chỉ đạo cơ quan thi hành án dân sự chủ trì, phối hợp với trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu trong việc cung cấp thông tin, chuyển giao giấy tờ, tiền, tài sản, việc thu, nộp tiền, tài sản có liên quan đến phạm nhân là người phải thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự; phối hợp với cơ quan thi hành án hình sự và cơ quan có liên quan trong thi hành án đối với pháp nhân thương mại.

Điều 200. Nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Y tế trong thi hành án hình sự

Phối hợp với Bộ Công an, Bộ Quốc phòng trong việc chỉ đạo, hướng dẫn việc phòng, chống dịch bệnh, khám bệnh, chữa bệnh cho phạm nhân, học sinh trường giáo dưỡng; chỉ đạo công tác giám định theo thẩm quyền; tổ chức các cơ sở chuyên khoa y tế để thực hiện biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh theo quy định của Luật này.

Điều 201. Nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội trong thi hành án hình sự

1. Phối hợp với Bộ Công an trong chỉ đạo, hướng dẫn việc tổ chức lao động, dạy nghề và thực hiện chế độ, chính sách cho phạm nhân, học sinh trường giáo dưỡng.

2. Chỉ đạo cơ quan chuyên môn về lao động, thương binh và xã hội thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và các cơ sở bảo trợ xã hội tiếp nhận, chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em là con phạm nhân không có người thân nhận chăm sóc, nuôi dưỡng theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.

Điều 202. Nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Giáo dục và Đào tạo trong thi hành án hình sự

Phối hợp với Bộ Công an, Bộ Quốc phòng chỉ đạo, hướng dẫn việc xây dựng chương trình, tài liệu, đào tạo giáo viên, tham gia dạy văn hóa cho phạm nhân, học sinh trường giáo dưỡng theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.

Điều 203. Trách nhiệm của Bộ, cơ quan ngang Bộ trong thi hành án hình sự

Bộ, cơ quan ngang Bộ, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình, có trách nhiệm phối hợp với Bộ Công an, Bộ Quốc phòng trong thi hành án hình sự.

Điều 204. Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong thi hành án hình sự

1. Chỉ đạo việc tổ chức phối hợp với các cơ quan có liên quan, Ủy ban nhân dân cấp dưới trong công tác thi hành án hình sự trên địa bàn theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.

2. Chỉ đạo cơ quan chuyên môn, Ủy ban nhân dân cấp dưới và có chính sách phù hợp để khuyến khích cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc tạo điều kiện để người chấp hành xong án phạt tù, người được đặc xá, người được tha tù trước thời hạn có điều kiện tìm việc làm, ổn định cuộc sống, học nghề, hòa nhập cộng đồng.

3. Yêu cầu Công an cấp tỉnh báo cáo công tác thi hành án hình sự ở địa phương.

Điều 205. Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp huyện trong thi hành án hình sự

1. Chỉ đạo việc tổ chức phối hợp với các cơ quan có liên quan, Ủy ban nhân dân cấp xã trong giám sát, giáo dục người được hưởng án treo, người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ, cấm cư trú, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, tước một số quyền công dân; quản lý người được hoãn, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, người được tha tù trước thời hạn có điều kiện; kiểm soát, giáo dục người chấp hành án phạt quản chế theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.

2. Chỉ đạo cơ quan chuyên môn, Ủy ban nhân dân cấp xã và có chính sách phù hợp để khuyến khích cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc tạo điều kiện để người chấp hành xong án phạt tù, người được đặc xá, người được tha tù trước thời hạn có điều kiện tìm việc làm, ổn định cuộc sống, học nghề, hòa nhập cộng đồng.

3. Yêu cầu Công an cấp huyện báo cáo công tác thi hành án hình sự ở địa phương.

Chương XVI

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 206. Hiệu lực thi hành

1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2020.

2. Luật Thi hành án hình sự số 53/2010/QH12 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 207 của Luật này.

Điều 207. Quy định chuyển tiếp

1. Đối với bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật mà đến ngày Luật này có hiệu lực chưa được thi hành hoặc chưa thi hành xong thì áp dụng các quy định của Luật này để thi hành, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.

2. Đối với việc thi hành án treo, án phạt cải tạo không giam giữ mà bản án được tuyên theo quy định của Bộ luật Hình sự số 15/1999/QH10 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 37/2009/QH12 thì vẫn áp dụng quy định của Luật Thi hành án hình sự số 53/2010/QH12 và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật.

3. Đối với việc thi hành bản án, quyết định theo Luật Thi hành án hình sự số 53/2010/QH12 nhưng đến ngày Luật này có hiệu lực mà còn khiếu nại, tố cáo thì việc giải quyết khiếu nại, tố cáo được áp dụng theo quy định của Luật Thi hành án hình sự số 53/2010/QH12 và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật.

Luật này được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2019.

 

 

CHỦ TỊCH QUỐC HỘI




Nguyễn Thị Kim Ngân

 

 

 

THE NATIONAL ASSEMBLY
-------

THE SOCIALIST REPUBLIC OF VIETNAM
Independence - Freedom - Happiness
---------------

The Law No. 41/2019/QH14

Hanoi, June 14, 2019

 

LAW

ON EXECUTION OF CRIMINAL JUDGMENTS

Pursuant to the Constitution of the Socialist Republic of Vietnam;

The National Assembly promulgates the Law on Execution of Criminal Judgments.

Chapter I

GENERAL PROVISIONS

Article 1. Scope

This Law sets forth principles, procedures, organization, tasks and powers of competent authorities and persons in the execution of judgments and decisions on prison sentences, death sentences, warnings, community sentences, prohibition from residence, mandatory supervision, expulsion sentences, deprivation of certain citizenship rights, prohibition from holding certain positions, practicing profession or performing certain jobs, suspended sentences, parole, suspension of operation, permanent shutdown, ban from doing business, ban from operating in certain fields, prohibition from raising capital, judicial measures; rights and obligations of persons and corporate legal entities serving sentences or judicial measures; responsibilities of agencies, organizations, and individuals related to execution of criminal judgments and judicial measures.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

1. Court judgments and decisions which have become legally effective and have had execution decisions:

2. Court judgments and decisions to be executed without delay under the Criminal Procedure Code or from their effective dates under the Criminal Code.

3. Decisions of courts to receive persons currently serving prison sentences in a foreign country to Vietnam to serve their sentences in Vietnam, which have had execution decisions; court decisions to transfer persons currently serving prison sentences in Vietnam to a foreign country.

4. Judgments and decisions to apply judicial measures of compulsory medical treatment, education in reformatories; compulsory restoration of original state; compulsory implementation of some measures for mitigation and prevention of consequences against corporate legal entities under power of criminal judgment execution agencies.

Article 3. Interpretation of terms

For the purposes of this Law, these terms below shall be construed as follows:

1. “sentenced person” means a person who has been convicted of a crime and subject to a penalty under a court judgment or decision which becomes legally effective and has had an execution decision.

2. “inmate” means a person who is currently serving a termed prison sentence or a life sentence.

3. “place of detention” means a place where inmates are supervised, incarcerated and educated, including prisons, detention centers, custody houses.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

5. “execution of death sentence” means that a competent authority or person defined in this Law deprives the life of a person sentenced to death.

6. “execution of suspended sentence” means that a competent authority or person defined in this Law supervises and educates a person who receives a suspended sentence during the probation period.

7. “execution of parole” means that a competent authority or person defined in this Law supervises a person on parole (hereinafter referred to as parolee) during probation period.

8. “execution of community sentence” means that that a competent authority or person defined in this Law supervises and educates a sentenced person at their place of residence, work or study; deducts partial amount from their income and transfer it to state budget, and supervises their performance of community services under a legally effective court judgment or decision.

9. “execution of prohibition from residence sentence” means that a competent authority or person defined in this Law forces a sentenced person not to temporarily or permanently reside in certain administrative divisions under a legally effective court judgment or decision.

10. “execution of mandatory supervision” means that a competent authority or person defined in this Law forces a sentenced person to reside, make a living and rehabilitate themselves in given administrative division under the supervision and education of the local administration and the people under a legally effective court judgment or decision.

11. “execution of expulsion sentence” means that a competent authority or person defined in this Law forces a sentenced person to leave the territory of the Socialist Republic of Vietnam under a legally effective court judgment or decision.

12. “execution of the sentence of deprivation of certain citizenship rights” means that a competent authority or person defined in this Law deprives a sentenced person of certain citizenship rights under a legally effective court judgment or decision.

13. “execution of the sentence of prohibition from holding certain positions, practicing certain professions or performing certain jobs” means that a competent authority or person defined in this Law forces a sentenced person not to hold certain positions, practicing certain professions or performing certain jobs under a legally effective court judgment or decision.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

15. “execution of the judicial measure of education in reformatories” means that a competent authority or person defined in this Law sends a person under 18 years of age (hereinafter referred to as minor) to a reformatory school for education under a legally effective court judgment or decision.

16. “escort for judgment execution” means that a competent authority or person defined in this Law forces a person receiving a prison sentence, death sentence, or expulsion sentence to a place where he/she will serve the sentence.

17. “transfer” means the implementation of a decision of a competent authority or person defined in this Law to take an inmate, a person sentenced to death or a person serving the judicial measure of education in a reformatory out of their place of supervision and deliver over him/her to a competent authority or person for the purposes of investigation, prosecution, trial, medical examination and treatment, incarceration management, and education for a certain period.

18. “personal identification statement” means a document containing brief information on the personal history, identification characteristics, photos of three positions, fingerprints of two index fingers of a sentenced person or a person serving a judicial measure, which is made and kept by competent authorities.

19. “fingerprint sheet” means a document containing brief information on the personal history and all fingerprints of a sentenced person, which is made and kept by competent authorities.

20. “sentenced corporate legal entity” means a corporate legal entity which has been convicted of a crime and has incurred a penalty or judicial measure under a legally effective court judgment or decision.

21. “execution of sentence of suspension of operation” means that a competent authority or person defined in this Law forces a sentenced corporate legal entity to suspend its operation in one or certain lines of business subject to suspension of operation under a legally effective court judgment or decision.

22. “execution of sentence of permanent shutdown” means that a competent authority or person defined in this Law forces a sentenced corporate legal entity to shut its operation down in one or certain lines of business or the entire operation subject to permanent shutdown under a legally effective court judgment or decision.

23. “execution of sentence of ban from doing business, ban from operating in certain fields” means that a competent authority or person defined in this Law forces a sentenced corporate legal entity to cease its operation in certain banned lines of business for a given period of time under a legally effective court judgment or decision.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

25. “regulatory agencies supervising sentenced corporate legal entity” means agencies which are competent to register business, issue a certificate of registration, issue an operation license or approval to a corporate legal entity and supervise the operation of the corporate legal entity, and are requested by criminal judgment execution agencies to perform one or certain tasks to ensure the execution of penalty or judicial measure against the sentenced corporate legal entity.

Article 4. Principles of execution of criminal judgments

1. Abidance by the Constitution and law, guarantee of the interests of the State and the legitimate rights and interests of agencies, organizations, and individuals.

2. Legally effective court judgments and decisions must be respected and strictly complied with by agencies, organizations, and individuals.

3. Guarantee of socialist humanism; respect for the dignity and legitimate rights and interests of sentenced persons, persons serving judicial measures, and legitimate rights and interests of sentenced corporate legal entities.

4. Combination of punishment and education in the execution of judgments; application of educational measures based on the nature and severity of crimes committed, age, gender, educational level and other personal characteristics of sentenced persons.

5. Execution of judgments against minors mainly aims to educate and help them correct their wrongful acts, develop healthily and become useful to the society.

6. Sentenced persons are encouraged to show their repentance, actively study and work to reform themselves and voluntarily pay compensations.

7. Guarantee of the right to complain and denounce illegal acts and decisions of competent authorities or persons in execution of criminal judgments.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

Article 5. Responsibilities of agencies, organizations, and individuals to cooperate in the execution of criminal judgments

Agencies, organizations and individuals shall, within the scope of their tasks, powers and obligations, cooperate with one another and comply with requests of competent agencies under this Law in the execution of criminal judgments.

Article 6. Supervision of execution of criminal judgments

The National Assembly, the People's Councils, the Vietnam Fatherland Front and affiliates thereof shall supervise activities of competent agencies and organizations and other relevant agencies and organizations in the execution of criminal judgments as per the law.

Article 7. Oversight of execution of criminal judgments

The People’s Procuracy shall oversee the adherence to law of competent authorities and persons and other agencies, organizations, and individuals involved in execution of criminal judgments.

Article 8. Raising public awareness and education of law on execution of criminal judgments

1. The Government, ministries, ministerial-level agencies and Governmental agencies shall organize and direct raising of public awareness and education of law on execution of criminal judgments.

2. The People's Committees and other agencies and organizations shall, within the ambit of their respective tasks and powers, organize raising of public awareness and education of law on execution of criminal judgments and mobilize the people to observe the law on execution of criminal judgments.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

If Vietnam and a country have not had any international treaty, their international cooperation in execution of criminal judgments shall be carried out in conformity with principle of reciprocity provided not in contravention of the Constitution of Vietnam and in accordance with international law and practices.

Article 10. Prohibited acts in the execution of criminal judgments

1. Destroying supervision and detention facilities; destroying and intentionally damaging property of supervision and detention facilities; organizing escape or escaping from supervision and detention places; organizing escape or escaping while being escorted for judgment execution; rescuing inmates, persons serving judicial measures or person being escorted for judgment execution.

3. Organizing, provoking, instigating, involving, enticing, abetting or forcing others to violate the law on execution of criminal judgments; taking revenge on or infringing upon the life, health, honor, dignity and property of persons in charge of executing criminal judgments.

4. Failing to issue decisions to execute criminal judgments; failing to execute decisions to set free persons who are released in accordance with law and other decisions of competent authorities or persons in execution of criminal judgments.

5. Giving, taking, brokering bribes, or causing harassment in execution of criminal judgments.

6. Illegally releasing persons who are in detention, are being escorted for judgment execution; showing irresponsibility in the management, guard and escort for judgment execution resulting in the escape of persons serving a prison sentence, death sentence or expulsion sentence.

7. Abusing positions and powers to request exemption from or reduction of the duration, postponement or suspension of the serving of a sentence, parole, or shortening probation period for ineligible persons; failing to request exemption from or reduction of the duration, postponement or suspension of serving a sentence, parole, or shortening probation period for eligible persons; requesting or failing to request early termination of serving judicial measures, postponement or suspension of serving judicial measures; obstructing sentenced persons or corporate legal entities from exercising the rights as specified in this Law.

8. Torturing and using brutal, inhuman or humiliating treatment or punishment against sentenced persons or persons serving judicial measures.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

10. Issuing or refusing to issue decisions, certificates or other papers regarding execution of criminal judgments in violation of law.

11. Falsifying dossiers and records related to execution of criminal judgments.

Chapter II

SYSTEM OF CRIMINAL JUDGMENT EXECUTION ORGANIZATION, TASKS AND POWERS OF COMPETENT AGENCIES IN THE EXECUTION OF CRIMINAL JUDGMENTS

Article 11. System of execution of criminal judgment organization

1. Criminal judgment execution management agencies, including:

a) Criminal judgment execution management agencies of the Ministry of Public Security;

b) Criminal judgment execution management agencies of the Ministry of National Defense.

2. Criminal judgment execution agencies, including:

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

b) Criminal judgment execution agencies of police departments of provinces and central-affiliated cities (hereinafter referred to as criminal judgment execution agencies of provincial-level police departments);

c) Criminal judgment execution agencies of police departments of districts, towns and provincial cities, cities affiliated to central-affiliated cities (hereinafter referred to as criminal judgment execution agencies of district-level police offices);

d) Criminal judgment execution agencies of military zones and equivalent level (hereinafter referred to as criminal judgment execution agencies of military zones).

3. Agencies which are assigned certain tasks of criminal judgment execution, including:

a) Detention centers of the Ministry of Public Security, detention centers of the Ministry of National Defense, detention centers of provincial-level departments and detention centers of military zones (hereinafter referred to as detention centers);

b) The People’s Committees of communes;

c) Military units of regiment and equivalent levels (hereinafter referred to as military units).

4. The Minister of Public Security and the Minister of National Defense shall specify the organizational apparatuses of criminal judgment execution management agencies and criminal judgment execution agencies.

Article 12. Tasks and powers of the criminal judgment execution management agency of the Ministry of Public Security

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

a) Organizing enforcement of the law on execution of criminal judgments;

b) Providing professional practices and instructions in consistence with application of regulations and laws on execution of criminal judgments;

c) Reviewing the execution of criminal judgments.

2. Examine the execution of criminal judgments.

3. Decide the sending of persons sentenced to prison to place where they will serve the sentences and sending of minors to reformatories.

4. Directly manage prisons, reformatories of the Ministry of Public Security.

5. Follow statistics and reporting regulations.

6. Settle complaints and denunciations about execution of criminal judgments under this Law and the Law on Denunciation.

7. Perform other tasks and powers in accordance with this Law and assigned by the Minister of Public Security.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

1. Assist the Minister of National Defense in performing the following tasks and powers:

a) Organizing enforcement of the law on execution of criminal judgments;

b) Providing professional practices and instructions in consistent application of regulations and laws on execution of criminal judgments in military;

c) Reviewing the execution of criminal judgments in military.

2. Examine the execution of criminal judgments in military.

3. Decide the sending of persons sentenced to prison to place where they will serve the sentences.

4. Directly manage prisons of the Ministry of National Defense.

5. Follow statistics and reporting regulations.

6. Settle complaints and denunciations about execution of criminal judgments under this Law and the Law on Denunciation.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

Article 14. Tasks and powers of the criminal judgment execution management agencies of provincial-level police departments

1. Assist directors of provincial-level police departments in managing and directing the execution of criminal judgments in their respective provinces:

a) Providing professional practices and instructions for and examining the execution of criminal judgments by, detention centers and criminal judgment execution agencies of district-level police offices;

b) Reviewing the execution of criminal judgments and following the statistics and reporting regulations as guided by the criminal judgment execution management agency of the Ministry of Public Security.

2. Receive court judgments and decisions, decisions on the execution of criminal judgments; complete dossiers and establish lists of persons sentenced to prison and submitting them to competent agencies or persons for decision; establish judgment execution dossiers for corporate legal entities.

3. Request competent courts to consider deciding suspension of the serving of prison sentences and reduction of the duration of serving prison sentences, parole granted to inmates and shortening probation period granted to parolees, and seek mental health assessment as per the law.

4. Receive persons sentenced to prison transferred from foreign countries to Vietnam to execute the judgments under decisions of competent courts, complete judgment execution dossiers, and report criminal judgment execution management agencies to issue decisions to send concerned persons to place where they will serve the sentences.

5. Organize execution of expulsion sentences; participate in execution of death sentences; manage inmates for custody and detention purposes as per this Law.

6. Release wanted notices and hunt sentenced persons escaping from prisons.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

8. Organize execution of penalties and judicial measures against corporate legal entities as per this Law.

9. Issue certificates of complete serving of sentence, and certificates of complete serving of judicial measure under their competence.

10. Settle complaints and denunciations about execution of criminal judgments under this Law and the Law on Denunciation.

11. Perform other tasks and powers under this Law.

Article 15. Tasks and powers of the criminal judgment execution management agencies of military zones

1. Assist commanders of military zones in managing and directing the execution of criminal judgments in their military zones or equivalent zones:

a) Providing professional practices and examining the execution of criminal judgments;

b) Managing prisons of military zones;

c) Reviewing the execution of criminal judgments and following the statistics and reporting regulations as guided by the criminal judgment execution management agency of the Ministry of National Defense.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

3. Request competent courts to consider deciding the suspension of the serving of prison sentences and reduction of the duration of serving prison sentences, parole granted to inmates and shortening probation period granted to persons serving suspended sentences, parolees, reduction of the duration of serving community sentences, force persons serving suspended sentences who violate the terms of probation to serve the remainder of the sentences in prison, cancel decisions on parole granted to persons who violate the terms of parole and compel such persons to serve the remainder of the sentences in prison, seek mental health assessment as per the law.

4. Escort for judgment execution against persons sentenced to prison while on bail, persons whose prison sentences are postponed or suspended, persons who are forced to serve the original suspended sentences, and persons whose decisions on parole are cancelled by the court.

5. Participate in execution of death sentences; manage inmates for custody and detention purposes as per this Law.

6. Release wanted notices and hunt sentenced persons escaping from prisons.

7. Decide to transfer inmates or follow inmate transfer orders of competent authorities or persons.

8. Organize execution of penalties and judicial measures against corporate legal entities as per this Law.

9. Issue certificates of complete serving of sentence, and certificates of complete serving of judicial measure under their competence.

10. Settle complaints and denunciations about execution of criminal judgments under this Law and the Law on Denunciation.

11. Perform other tasks and powers under this Law.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

1. Assist chiefs of district-level police offices in managing and directing the execution of criminal judgments in their respective districts:

a) Providing professional instructions on the execution of criminal judgments according to their competence for commune-level People's Committees; directing and examining commune-level police offices in their assistance for commune-level People's Committees in performing the tasks of executing criminal judgments under this Law:

b) Following the statistics and reporting regulations as guided by the criminal judgment execution management agency of the Ministry of Public Security.

2. Receive court judgments and decisions, judgment execution decisions, relevant documents, compile dossiers and organize execution of criminal judgments against persons serving suspended sentences, community sentences, prohibition from residence, prohibition from holding certain positions, practicing certain professions or performing certain jobs, deprivation of certain citizenship rights, mandatory supervision; management of persons whose prison sentences are postponed or suspended, parolees.

3. Compile dossiers and make reports to criminal judgment execution agencies of provincial-level police departments to request competent courts to consider deciding suspension of the serving of prison sentences, reduction of the duration of serving prison sentences, paroles granted to sentenced inmates who are held in custody houses, shortening probation period granted to parolees.

4. Escort for judgment execution against persons sentenced to prison while on bail, persons whose prison sentences are postponed or suspended, persons on probation who are forced to serve the original prison sentences, and persons whose decisions on parole are cancelled by the court.

5. Directly manage inmates for custody and detention purposes at custody houses.

6. Serve judgment execution decisions on persons sentenced to prison who are held in custody houses and send reports to criminal judgment execution agencies of provincial-level police departments.

7. Compile dossiers and make reports to criminal judgment execution agencies of provincial-level police departments for request to the criminal judgment execution management agency of the Ministry of Public Security to issue decisions to send persons sentenced to prison who are held in custody houses, persons whose prison sentences are postponed or suspended, persons on probation who are forced to serve the original prison sentences, persons whose decisions on parole are cancelled by the court to serve their sentences.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

9. Request competent authorities to release wanted notices against persons evading serving their sentences; issue decisions to transfer inmates or follow inmate transfer orders of competent authorities or persons.

10. Issue certificates of complete serving of sentence within their competence.

11. Settle complaints and denunciations about execution of criminal judgments under this Law and the Law on Denunciation.

12. Perform other tasks and powers under this Law.

Article 17. Tasks, powers and organizational structure of prisons

1. Prisons, as agencies executing prison sentences, have the following tasks and powers:

a) Admitting inmates and managing the incarceration, education and rehabilitation of inmates;

b) Notifying relatives of inmates of the admission of inmates and their serving of sentences;

c) Requesting competent courts to consider deciding reduction of the duration of serving prison sentences, suspension of the serving of prison sentences, parole granted to inmates as per the law;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

dd) Receiving personal possessions and money voluntarily handed by inmates and relatives of inmates at prisons for judgment execution, transfer them to civil judgment enforcement agencies of places in which the courts which have conducted first-instance trial of the cases are based or civil judgment enforcement agencies are delegated to enforce the judgments ; receiving personal possessions and money from civil judgment enforcement agencies and handing them to inmates under the Law on Enforcement of Civil Judgments;

e) Cooperating with civil judgment enforcement agencies in providing information about places where inmates serve their prison sentences, the exercise of civil rights and performance of civil obligations of inmates, to the places of residence of persons who are granted pardon, exempted from serving prison sentences or parolees; transferring documents related to inmates sentenced to payment of fines, confiscation of property and other civil obligations;

g) Issuing certificates of complete serving of prison sentence and certificates of parole;

h) Carrying out procedures for handling cases of deceased inmates;

i) Escorting, delivering foreign inmates under court decisions on the transfer of persons currently serving prison sentences; admitting, and managing the incarceration, education and rehabilitation of Vietnamese inmates who committed crimes and were sentenced to prison in foreign countries and have been transferred to Vietnam for serving their sentences; implementing the provisions of this Law on execution of the expulsion sentence;

k) Following statistics and report regulations on execution of prison sentences;

l) Performing other tasks and powers as per the law.

2. Superintendents have the following tasks and powers:

a) Organizing the performance of tasks and powers of prisons as provided in Clause 1 of this Article;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

c) Deciding to check, seize and handle articles and documents on the ban list;

d) Issuing decisions to transfer inmates for medical examination and treatment, management, labor and learning purposes; to transfer inmates who suffer illnesses so serious that they cannot take care of themselves or have children under 36 months of age residing with their mothers in prison and suffering illnesses which require treatment to treatment wards at hospitals;

dd) Releasing wanted notices and cooperating in organizing forces to promptly pursue inmates escaping from prison.

3. Deputy superintendents shall perform tasks and powers of a prison superintendent as assigned or authorized by the prison superintendent and take responsibility for assigned or authorized tasks.

4. A prison shall be organized as follows:

a) A prison has prison departments, incarceration sectors and prison cells, facilities serving incarceration management, daily living, education and health care of inmates; work and vocational zones under management of the prison; facilities serving work and daily living of officers, professional soldiers, non­commissioned officers, soldiers, and workers in the prison;

b) The management apparatus of a prison consists of superintendent, deputy superintendents, heads and deputy heads of prison departments, team leaders and deputy leaders; commissioned officers, professional soldiers, and non-commissioned officers; soldiers, and workers.

Superintendent, deputy superintendent, heads and deputy heads of prison departments, team leaders and deputy leaders must possess bachelor’s degrees or higher degrees in public security, security or law and satisfy other criteria as prescribed.

Article 18. Tasks and powers of detention centers in execution of criminal judgments

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

2. Request competent authorities to consider deciding reduction of the duration of serving prison sentences, suspension of the serving of prison sentences, parole granted to inmates.

3. Issue certificates of complete serving of prison sentence, certificates of parole to inmates in detention centers of the Ministry of Public Security, detention centers of the Ministry of National Defense.

4. Perform other tasks and powers under this Law.

Article 19. Tasks and powers of the People’s Committees of communes in execution of criminal judgments

1. The People's Committees of communes have the tasks and powers of supervising and educating persons who serve suspended sentences, community sentences, sentences of prohibition from residence, prohibition from holding certain positions, practicing certain professions or performing certain jobs, deprivation of certain citizenship rights; management of persons whose prison sentences are postponed or suspended, parolees; controlling and educating persons serving sentences of mandatory supervision.

2. Commune-level police offices shall advise and assist commune-level People's Committees in performing their tasks and powers as prescribed in Clause 1 of this Article.

3. With respect to districts which have no commune level, criminal judgment execution agencies of district-level police office shall perform tasks and powers as prescribed in Clause 1 of this Article.

Article 20. Tasks and powers of military units in execution of criminal judgments

Military units have the tasks and powers of supervising and educating persons who serve suspended sentences, community sentences, sentences of prohibition from residence, prohibition from holding certain positions, practicing certain professions or performing certain jobs, deprivation of certain citizenship rights; management of persons whose prison sentences are postponed or suspended, parolees.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

1. Issue judgment execution decisions; decisions to set up councils for execution of the death sentence.

2. Issue or cancel decisions to postpone, suspend the serving of prison sentences; parole; decisions to suspend judgment execution; decisions on exemption from or reduce the duration of the serving of sentences; decisions to force persons on probation to serve the original prison sentences; decisions to extend the time limit for expulsion; decisions to shorten the probation period for persons serving suspended sentences, parolees.

3. Consider and permit the receipt of corpses of persons sentenced to death.

4. Send judgments and decisions to be executed and decisions stated in Clauses 1 and 2 of this Article, and related documents to agencies, organizations and individuals under this Law.

5. Issue decisions to receive Vietnamese inmates who committed crimes and were sentenced to prison in foreign countries and have been transferred to Vietnam for serving their sentences, transfer foreign inmates.

6. Issue decisions to seek mental health assessment of inmates showing signs of mental diseases or other diseases that have deprived them of the consciousness or act control capacity.

7. Follow statistics and report regulations on execution of criminal judgments within their competence.

8. Perform other tasks and powers under this Law.

Chapter III

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

Section 1. PROCEDURES FOR EXECUTION OF PRISON SENTENCES AND REGIME OF MANAGEMENT OF INCARCERATION AND EDUCATION OF INMATES

Article 22. Decisions to execute prison sentences

1. A judgment execution decision must clearly indicate the full name and position of the decision maker; the judgment or decision to be executed; name of the agency responsible for executing the decision; full name, date of birth and place of residence of the convict; the duration of serving the prison sentence and the duration of serving additional penalty(ies). In case the convict is on bail, the decision must clearly state that, within 7 days after receiving the decision, the convict must present himself/herself at the criminal judgment execution agency of the district-level police office of the place where he/she resides or the criminal judgment execution agency of the military zone where he/she works.

2. Within 3 working days after issuing a decision to execute a prison sentence, the issuing court shall send the decision to the following individuals and agencies:

a) The sentenced person and his/her representative if the sentenced person is under 18 years of age;

b) The same-level procuracy;

c) The criminal judgment execution agency of the provincial-level police department or military zone;

d) The detention center where the sentenced person is held or the criminal judgment execution agency of the district-level police office in charge of the custody house where the sentenced person is held or the place of residence where the sentenced person is on bail;

dd) The Department of Justice of the province where the issuing court is based;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

Article 23. Execution of decisions to execute prison sentences

1. In case the person sentenced to prison is currently in detention, within 3 working days after receiving the judgment execution decision, the detention center of the provincial-level police department or the criminal judgment execution agency of the district-level police office shall serve the judgment execution decision on such person and report it to the criminal judgment execution agency of the provincial-level police department. Within 5 working days after receiving the report, the criminal judgment execution agency of the provincial-level police department shall complete the dossier and make a list of persons sentenced to prison for reporting to the criminal judgment execution management agency of the Ministry of Public Security. In case the person sentenced to prison is currently held in a detention center of the Ministry of Public Security, this detention center shall serve the judgment execution decision on such person, complete the dossier and report it to the criminal judgment execution management agency of the Ministry of Public Security. If the sentenced person is convicted of another criminal offense, the prison shall serve the new judgment execution decision on such person.

2. In case the person sentenced to prison is currently in detention center of military zone, within 3 working days after receiving the judgment execution decision, the prison shall serve the judgment execution decision on such person and report it to the criminal judgment execution management agency of military zone. Within 5 working days after receiving the report, the criminal judgment execution agency of military zone shall complete the dossier and make a list of persons sentenced to prison for reporting to the criminal judgment execution management agency of the Ministry of National Defense. In case the person sentenced to prison is currently held in a detention center of the Ministry of National Defense, this detention center shall serve the judgment execution decision on such person, complete the dossier and report it to the criminal judgment execution management agency of the Ministry of National Defense. If the sentenced person is convicted of another criminal offense, the prison shall serve the new judgment execution decision on such person.

Within 5 working days after receiving the report of the criminal judgment execution agency of military zone or detention center of the Ministry of National Defense, the criminal judgment execution management agency of the Ministry of National Defense shall issue a decision to send the sentenced person to serve the sentence.

3. Pending transfer to a place for serving his/her prison sentence, the sentenced person is eligible for the regime applicable to inmates.

4. If the person sentenced to prison is on bail, within 7 days after receiving the judgment execution decision, he/she must present himself/herself at the head office of the criminal judgment execution agency of the district-level police office or military zone indicated in the decision. If he/she fails to appear within the time limit, the criminal execution and judicial assistance police or judicial guards shall escort him/her to serve his/her sentence.

If the person sentenced to prison escapes while on bail, the criminal judgment execution agency of provincial-level police department or the criminal judgment execution agency of military zone shall release a wanted notice and organize the pursuit; if such person suffers a mental disease or another disease that has deprived him/her of the consciousness or act control capacity, the criminal judgment execution agency of district-level police office or of military zone shall seek mental health assessment; if the assessment report certifies that such person suffers a mental disease or another disease that has deprived him/her of the consciousness or act control capacity, the criminal judgment execution agency of district-level police office or of military zone shall request the court which issued the judgment execution decision to issue a decision on application of judicial measure of compulsory medical treatment.

If a person sentenced to prison dies while on bail, the criminal judgment execution agency of district-level police office or of military zone shall request the court which issued the judgment execution decision to issue a decision to suspend judgment execution.

Article 24. Procedures for postponement of the serving of a prison sentence

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

2. Within 7 days after receiving a written request for postponement of the serving of a prison sentence, the chief judge of the court which has issued the judgment execution decision shall consider it and make a decision. In case of non-approval for the request, the chief judge of the court shall give a written reply to the entity that made the request and a notice to the same-level procuracy, providing explanation in writing.

3. Within 3 working days after issuing a decision to postpone the serving of a prison sentence, the issuing court shall send the decision to the following individuals and agencies:

a) The person whose sentence is postponed and his/her representative if such person is under 18 years of age;

b) The same-level procuracy;

c) The criminal judgment execution agency of district-level police office or of military zone where the person whose sentence is postponed resides or works;

d) The Department of Justice of the province where the issuing court is based;

dd) Ministry of Foreign Affairs in a case where the person whose sentence is postponed is a foreigner.

Article 25. Execution of decisions to postpone the serving of prison sentences

1. Upon receiving a court decision to postpone the serving of the sentence, the criminal judgment execution agency of the district-level police office or the criminal judgment execution agency of the military zone shall stop carrying out procedures for sending the sentenced person to serve his/her sentence, send a copy of the decision to postpone the serving of the prison sentence to the People’s Committee of commune where the person whose sentence is postponed resides or the military unit which is authorized to control such person and establish dossier of execution of decision to postpone the serving of the prison sentence.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

If the person whose sentence is postponed fails to be present upon the subpoenas, the criminal judgment execution agency of district-level police office or of military zone shall cooperate with the People’s Committee of commune or military unit to conduct verification and requires the person to be present at the People’s Committee of commune or military unit to give the decision and require him/her to make a written commitment to strictly comply with law.

If person whose sentence is postponed cannot present himself/herself upon the subpoenas because he/she has received treatment at hospital or home due to his/her serious illness, the criminal judgment execution agency of district-level police office or of military zone shall cooperate with the People’s Committee of commune, military unit and the concerned hospital or family in carrying out the procedures for notice and commitment to comply with law.

3. Within 3 working days after receiving the copy of the decision to postpone the serving of the prison sentence, the People’s Committee of commune or military unit shall prepare the dossier of the person whose sentence is postponed.

The People’s Committee of commune or military unit in charge shall send monthly reports on management of the person whose sentence is postponed to the criminal judgment execution agency of district-level police office or of military zone.

The person whose sentence is postponed may not leave his/her place of residence during the postponement period without consent of the People’s Committee of commune or military unit in charge and must present himself/herself upon subpoenas of that People’s Committee of commune or military unit.

The change of place of residence or work of the person whose sentence is postponed shall conform to Article 68 of this Law.

If the person whose sentence is postponed has received treatment at a hospital located outside the place of residence due to his/her serious disease, the People’s Committee of commune or military unit in charge shall cooperate with his/her family to manage him/her.

4. During the postponement period, if the person whose sentence is postponed commits a new crime, escapes or violates the law adversely affecting the security, social safety and order, the People’s Committee of commune or military unit in charge shall report the criminal judgment execution agency of district-level police office or of military zone to request the competent chief judge to consider issuing a decision to cancel the decision to postpone the serving of the prison sentence.

Within 3 working days after issuing a decision to cancel the decision to postpone the serving of a prison sentence, the issuing court shall send the decision to the individuals and agencies prescribed in Clause 3 Article 24 of this Law. Immediately after obtaining the decision of the court, the criminal judgment execution agency of district-level police office or of military zone shall execute the judgment.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

5. During the postponement period, if the person whose sentence is postponed dies, the People’s Committee of commune or military unit in charge shall report the criminal judgment execution agency of district-level police office or of military zone to request the court which issued the decision to postpone the serving of the prison sentence to issue a decision to cancel the decision to postpone the serving of the prison sentence and carry out related procedures.

6. At least 7 days before the expiration of the postponement duration of the serving of a prison sentence, the chief judge of the court which has decided to postpone the serving of the prison sentence shall make a written notice and send it to the sentenced person and the agency referred to in Clause 3, Article 23 of this Law. After 7 days from the expiration of postponement duration of the serving of a prison sentence, if the person whose sentence is postponed fails to present him/herself at the criminal judgment execution agency of district-level police office or of military zone to serve the sentence, the head of the criminal judgment execution agency of district-level police office or of military zone shall issue a decision to escort the sentenced person for judgment execution except for force majeure events or objective hindrance.

7. With regard to a person who has his/her sentence postponed due to his/her serious disease, if he/she still gives the health reason to avoid the serving of sentence despite his/her signs of recovery from disease or he/she shows signs of mental disease or another disease that has deprived him/her of the consciousness or act control capacity, the criminal judgment execution agency of district-level police office where he/she resides or the criminal judgment execution agency of military zone which manages him/her shall seek health assessment from at least a provincial or military zone-level hospital or seek mental health assessment from a competent mental health assessment agency.

If the assessment report shows that the person whose sentence is postponed has made a recovery from disease, the criminal judgment execution agency of district-level police office or of military zone shall send that person to the place where he/she will serve the sentence and notify the court which has issued the decision to postpone the serving of the sentence.

If the assessment report shows that that person suffers mental disease or another disease that has deprived him/her of the consciousness or act control capacity, the criminal judgment execution agency of district-level police office or of military zone shall request the chief judge of court who has issued the judgment execution decision to issue a decision to cancel the decision to postpone the serving of the prison sentence and apply judicial measures of compulsory medical treatment.

The assessment costs shall be borne by the assessment agency.

Article 26. Dossiers of sending sentenced persons to serve their prison sentences

1. A dossier of sending of a sentenced person to serve his/her prison sentence must fully comprise the following documents:

a) The legally effective court judgment or decision; in case of appellate, cassation or re-opening trial, the first-instance judgment is also required;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

c) The decision of criminal judgment execution management agency to send the sentenced person to a prison or detention center, or a criminal judgment execution agency of district-level police office;

d) The personal identification statement of the sentenced person;

dd) A copy of the passport or proof of citizenship of the sentenced person who is a foreigner;

e) The medical certificate and other documents relevant to the health of the sentenced person;

g) A remark sheet on the observance of regulations of the detention center or custody house by the sentenced person while being held in temporary detention;

h) Other relevant documents.

2. If a mother brings her child to a prison with her, a birth certificate is required. If the birth certificate is not available, a certificate of live birth issued by the health facility where the child was born or document made by the witness if the child was born outside the health facility is required; if none of above document is available, a written report of the criminal judgment execution agency of district-level police office or detention center to send the sentenced person to the prison for judgment execution and a commitment made by the mother that she gave birth to a child. The prison shall register birth for the child being brought to the prison with his/her mother in accordance with law on civil registration and management.

3. The criminal judgment execution management agency of the Ministry of Public Security, the criminal judgment execution management agency of the Ministry of National Defense, criminal judgment execution agencies of provincial-level police departments, criminal judgment execution management agencies of district-level police offices, criminal judgment execution management agencies of military zones shall complete the dossiers prescribed in Clause 1 of this Article, send the sentenced persons and hand over enclosed dossiers to the prisons, detention centers, or criminal judgment execution management agencies of district-level police offices which are designated to execute the judgments.

Article 27. Rights and obligations of inmates

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

a) Have their lives, health, assets, dignity protected and respected; having been informed of their rights and obligations and regulations of places of detention;

b) Receive board and lodging, clothes, personal care, health care as prescribed; receive letters, gifts, money; read books, newspaper, listen to the radio, watch television in conformity with conditions of the place where they serve the sentence;

c) Participate in physical training and sports, cultural and performance activities;

d) Participate in work, study, apprenticeship activities;

dd) Meet and contact with relatives, representatives of agencies, organizations, and individuals; or have consular visit and contact in case of foreign inmates;

e) Conduct civil transactions as per the law by themselves or via their representatives;

g) Lodge complaints and denunciation; request amnesty or claim damages as per the law;

h) Participate in voluntary social insurance, enjoy policies on social insurance as per the law;

i) Use prayer books, express religious belief and faiths as per the law;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

2. Inmates have the following obligations to:

a) Serve the legally effective court judgment or decision, abide by decisions of criminal judgment execution management agencies, criminal judgment execution agencies during their serving time and other decisions of competent authorities;

b) Abide by regulations of the place of detention, serving emulation standards;

c) Abide by requests, orders and instructions of officials of places of detention;

d) Work, study and learn skilled trade as prescribed;

dd) Pay damages if they break, lose or destroy assets of other people.

3. Inmates have other rights and obligations as prescribed in this Law.

Article 28. Admission of persons sentenced to prison

1. The prisons, detention centers or criminal judgment execution agencies of district-level police offices designated for judgment execution shall receive persons sentenced to prison with complete dossiers as prescribed in Clause 1 Article 26 of this Law.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

a) Check if the person sentenced to prison and the one indicated in the judgment execution decision of the court is the same person;

b) Make an admission record of person sentenced to prison; transfer note of documents and materials;

c) Check the person sentenced to prison; check and deal with such person’s belongings before he/she brings them into the prison cell;

d) Provide health check-ups for persons sentenced to prison and children under 36 months of age residing with their mothers in prison (if any);

dd) Explain rights and obligations of inmates; inform internal regulations of the place of detention.

3. The admitting agencies shall inform inmates of the following regulations for compliance:

a) Only bringing necessary belongings to the prison cell; handing over unused personal possessions, cash, valuable papers, payment cards, gold, silver, gemstones and precious metals to the prison, detention center or the criminal judgment execution agency of the district-level police office for management. Should an inmate wishes to send cash and personal possessions to a relative or lawful representative at his/her own expenses, the prison or detention center or the criminal judgment execution agency of the district-level police office shall send such cash and possessions to that relative or lawful representative or hand them over in person to such person at the place in which the inmate serves his/her sentence;

b) May not use cash and valuable papers in the place in which they serve their sentences. Inmates may buy food, foodstuffs and other commodities for their daily needs at the place in which they serve their sentences in the form of making book entries;

c) May not bring the in place where they serve the sentences articles on the ban list promulgated by the Minister of Public Security or the Minister of National Defense.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

Article 29. Inmate dossiers

1. Inmate dossiers include those prescribed in Clause 1 and Clause 2 Article 26 of this Law.

2. Admission record of person sentenced to prison; transfer note of documents; transfer note of cash and other assets deposited by person sentenced to prison or to relatives or representatives of such person; decision or record of dealing with articles under the ban list (if any).

3. Documents on inmate’s compliance with regulations on serving of prison sentence; medical reports, examination and treatment records; documents on inmate's performance of civil rights and obligations; records or decisions on disciplinary measures against violations of internal regulations of place of detention, law on execution of prison sentence, relevant documents on handling of complaints and denunciation, requests of sentenced person, documents on consular visit and contact (if any).

4. Other relevant documents during the serving time.

Article 30. Incarceration of inmates

1. A prison shall organize inmate incarceration as follows:

a) Prison sectors for inmates serving sentences of over 15 years' imprisonment or life imprisonment and inmates committing dangerous recidivism;

b) Prison sectors for inmates serving sentences of 15 years or less in prison, inmates serving sentences of over 15 years’ imprisonment which have been reduced to under 15 years for good rehabilitation records; inmates who commit dangerous recidivism, have served half their sentences and have their sentences reduced;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

2. In prison sectors referred to in Clause 1 of this Article, the following inmates shall be held separately:

a) Female inmates;

b) Inmates under 18 years of age;

c) Foreign inmates;

d) Inmates with infectious diseases category A as prescribed in the Law on Prevention and Treatment of Infectious Diseases;

dd) Inmates showing signs of mental diseases or other diseases that have deprived them of the consciousness or act control capacity pending a court decision;

e) Inmates with children under 36 months of age residing with their mothers in prison;

g) Inmates who repeatedly violate detention internal regulations.

3. Inmates who are LGBT or whose gender is unidentified may be held in segregation.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

5. Inmates shall be divided into teams and groups for working, learning and other activities. Depending on the characteristics of crimes, sentence levels and personal characteristics of inmates and their rehabilitation records, superintendents of prisons or detention centers shall decide the classification and transfer of inmates between prison sectors.

Article 31. Regime for learning and vocational training of inmates

1. Inmates are entitled to learn law and civil education and learn literacy skills and jobs. Illiterate inmates are entitled to learn how to read and write. Foreign inmates are encouraged to learn Vietnamese. Learning and vocational training shall be held one day per week, except for Sunday and holidays as per the law.

2. Based on management and education requirements and length of imprisonment of inmates, prisons, detention centers shall provide teaching for inmates; according to actual conditions, criminal judgment execution agencies of district-level police offices shall provide teaching for inmates.

3. Learning and vocational training programs for inmates shall be regulated by the Government.

Article 32. Labor regime of inmates

1. Inmates shall be assigned jobs fit for their age, health and in conformity with management, education and community integration requirements. They shall work under surveillance and management of the prisons or detention centers. The working time of inmates may not exceed 8 hours per day and 5 days per week. They may have days off on Sundays and holidays as per the law. In unexpected or seasonal cases, the superintendent may ask inmates to work overtime but not exceeding the statutory extra hours of work per day as prescribed in labor law. Inmates working overtime or on days off are entitled to receive compensatory time-off or allowances in cash or kind.

Prisons must adopt necessary measures to ensure occupational safety and hygiene for inmates.

2. Female inmates shall be assigned jobs suitable to their gender; it is prohibited to assign them jobs on the list of jobs banned from employment of female laborers in accordance with labor law.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

4. An inmate may take days off in any of the following cases:

a) The inmate is sick or is unfit for work and is certified by the infirmary;

b) The inmate has received treatment at a health facility;

c) The child under 36 months of age residing with that female inmate is sick and certified by the infirmary;

d) The pregnant female inmate takes days off before and after giving birth as prescribed in labor law.

Article 33. Work organization for inmates

1. Based on age, health, gender, sentence level, nature and severity of criminal offenses of inmates; land, resources, fields, equipment, facilities, supplies and sources of funds under management of the prison and specific conditions of the prison; ability to cooperate with organizations and individuals to organize work for inmates, the superintendent shall prepare an annual plan for the work organization for inmates and send it to the criminal judgment execution management agency of the Ministry of Public Security or the criminal judgment execution management agency of the Ministry of National Defense for approval.

2. The annual plan for work organization for inmates must contain at least:

a) Total number of inmates, specifying number of inmates fit for work as per the law;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

c) Expected work performance of inmates; differences between revenue and expenditures in work organization for inmates;

d) Proposed plan for use of labor fruits of inmates.

3. The prison shall conduct the work organization for inmates in conformity with the plan approved by the competent authority prescribed in Clause 1 hereof.

4. The Government shall elaborate this Article.

Article 34. Use of inmates' labor fruits

1. Inmates’ labor fruits, less reasonable costs, shall be used for:

a) Increasing food rations for inmates;

b) Set up a community integration fund to support inmates after completely serving their full prison sentences;

c) Supplementing the prison's welfare and reward funds;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

dd) Pay partial remuneration to inmates who directly engage in labor; provide supports for inmates who meet with labor accidents.

2. Inmates may use their monetary rewards prescribed in Point c Clause 1 hereof and remuneration earned prescribed in Point dd Clause 1 hereof, or deposit them at their prisons' safekeeping and receive them back upon completely serving their full prison sentences.

3. The collection and spending of money generated from work and job learning activities of inmates is stipulated as follows:

a) The prison shall open accounting books and record and account all financial revenues earned and expenses incurred and make financial statements according to the non-business administrative accounting regime. All revenues earned and expenses incurred associated with work and job learning activities of inmates shall be reflected in the prison's accounting book system;

b) The prison shall include all expenses specified in Clause 1 of this Article in product costs;

c) A report on revenues from and expenditures for inmate labor in the prison is a consolidated report on figures, status and results of revenues and expenses arising from the organization of inmate labor. Superintendents shall make such consolidated reports and detailed explanation reports on results of revenues from and expenditures for inmate labor and send them to the criminal judgment execution management agency of the Ministry of Public Security or the Ministry of National Defense;

d) The criminal judgment execution management agencies of the Ministry of Public Security and the Ministry of National Defense shall evaluate and approve reports on results of revenues from and expenditures for inmate labor and report them to the financial management agencies of the Ministry of Public Security and the Ministry of National Defense for inclusion in annual budget settlement reports of the Ministry of Public Security and the Ministry of National Defense in accordance with law.

4. The Government shall elaborate this Article.

Article 35. Inmate's performance grade

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

2. Based on their satisfaction of emulation standards, compliance with internal regulations of places of detention, and their performance in study, rehabilitation efforts, their remedial measures for damages caused by their offense, inmates shall be remarked and graded from very good, good, average to poor.

3. Quarterly, biannual and annual Inmate’s performance grade shall be made in writing and included in the inmate dossier. An inmate making merits shall have his/her serving performance upgraded.

4. The Government shall elaborate this Article.

Article 36. Procedures for requesting suspension the serving of prison sentences

1. The competence to request suspension of the serving of a prison sentence rests with:

a) Prisons and detention centers of the Ministry of Public Security; detention centers of the Ministry of National Defense;

b) Criminal judgment execution agencies of the provincial-level police department and of military zones;

c) Provincial-level people's procuracies and military procuracies of military zones.

2. Competent agencies in the places in which inmates are serving their sentences referred to in Clause 1 of this Article shall compile dossiers to request suspension of the serving of prison sentences and send them to competent courts for consideration and decision.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

4. Suspension of the serving of a prison sentence for trial according to cassation or reopening procedures shall be decided by persons who have lodged protests.

Article 37. Execution of decisions to suspend the serving of prison sentences

1. Immediately after issuing a decision to suspend the serving of a prison sentence, the issuing court shall send this decision to the following individuals and agencies:

a) The person whose sentence is suspended and his/her representative if such person is under 18 years of age;

b) The agency requesting the suspension, the prison, detention center or criminal judgment execution agency of the district-level police office of the place in which the person concerned is serving his/her prison sentence;

c) The criminal judgment execution agency of the district-level police office, the People’s Committee of commune where the person whose sentence is suspended resides or the military unit manages him/her;

d) The same-level procuracy;

dd) The court that issued the judgment execution decision;

e) The Department of Justice of the province where the issuing court is based;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

2. If the director of a procuracy issues a decision to suspend the serving of a prison sentence, this decision shall be sent to the provincial-level Justice Department of the place in which the procuracy is based and to the individual and agencies specified at Points a, b, c, dd and g, Clause 1 of this Article.

3. The prison, detention center or criminal judgment execution agency of the district-level police office directly managing the person whose sentence is suspended shall deliver such person to the commune-level People's Committee of the place in which he/she comes to reside or to the army unit assigned to manage such person; his/her relatives are obliged to receive such person.

If the person whose sentence is suspended has suffered a serious disease and has received treatment at a hospital, the prison, detention center or criminal judgment execution agency of district-level police office shall deliver him/her to his/her relatives at the hospital, make a record of transfer of inmate, notify and send the record of transfer to the criminal judgment execution agency of district-level police office or military zone. The criminal judgment execution agency of district-level police office where such person resides or criminal judgment execution agency of military zone assigned to manage such person shall cooperate with his/her relatives in monitoring and managing him/her while he/she has being received treatment at the hospital. When such person is discharged from the hospital, the criminal judgment execution agency of district-level police office where such person resides or criminal judgment execution agency of military zone assigned to manage such person shall transfer him/her to the People’s Committee of commune where he/she comes to reside or the military unit assigned to manage him/her.

4. Within 3 working days after receiving the decision on suspension of the serving of prison sentence, the criminal judgment execution agency of district-level police office where such person resides or criminal judgment execution agency of military zone assigned to manage such person shall prepare a dossier on execution of the decision on suspension.

Within 3 working days after receiving the transfer or transfer note of the person whose sentence is suspended, the People’s Committee of commune where he/she comes to reside or the military unit assigned to manage him/her shall prepare a dossier on management of him/her.

During the suspension period, the person whose sentence is suspended may not leave his/her place of residence without consent of the People’s Committee of commune where he/she comes to reside or the army unit assigned to manage him/her; report his/her compliance with regulations at the request of the People’s Committee of commune where he/she comes to reside or the army unit assigned to manage him/her; and voluntarily notify the criminal judgment execution agency of district-level police office or of military zone of expiration of the suspension period or his/her recovery from the disease to keep serving the sentence.

The People’s Committee of commune where he/she comes to reside or the army unit assigned to manage him/her shall monitor and supervise him/her, consider granting his leaving the place of residence or place of work; convene him/her to report his/her compliance with law during the suspension period; and send monthly reports on management of such person to the criminal judgment execution agency of district-level police office or of military zone.

5. The resumption of the serving of a prison sentence by a person whose sentenced is suspended is as follows:

a) At least 7 days before the expiration of the suspension period, the chief judge of the court which issued the decision on suspension of serving the prison sentence shall make a written notice and send it to the individuals and agencies prescribed in Clause 1 hereof. After 7 days from the expiration of suspension period of the serving of a prison sentence, if the person whose sentence is suspended fails to present him/herself at the criminal judgment execution agency of district-level police office or of military zone to serve the sentence, the head of the criminal judgment execution agency of district-level police office or of military zone shall issue a decision to escort the sentenced person for judgment execution except for force majeure events or objective hindrance;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

If the assessment report shows that the person whose sentence is suspended has made a recovery from disease, the criminal judgment execution agency of district-level police office or of military zone shall send that person to the place where he/she will serve the sentence and notify the court which has issued the decision to suspend the serving of the sentence.

If the assessment report shows that that person suffers mental disease or another disease that has deprived him/her of the consciousness or act control capacity, the criminal judgment execution agency of district-level police office or of military zone shall request the chief judge of court who has issued the judgment execution decision to issue a decision to cancel the decision to suspend the serving of the prison sentence and apply judicial measures of compulsory medical treatment.

The assessment costs shall be borne by the assessment agency.

6. During the suspension period, if the person whose sentence is suspended commits a new crime, escapes or violates the law adversely affecting the security, social safety and order, the People’s Committee of commune or military unit in charge shall report the criminal judgment execution agency of district-level police office or of military zone to notify the court which issued the decision on suspension. Within 3 working days after receiving the notice, the court which issued the decision on suspension shall consider issuing a decision to cancel the decision to suspend the serving of a prison sentence and send the decision to the criminal judgment execution agency of district-level police office, the criminal judgment execution agency of military zone, and the same-level procuracy.

If the person whose sentence is suspended escapes, the criminal judgment execution agency of provincial-level police department or the criminal judgment execution agency of military zone shall release a wanted notice and organize the pursuit.

7. If the person whose sentence is suspended dies, the People’s Committee of commune or military unit in charge shall report the criminal judgment execution agency of district-level police office or of military zone to notify the court which issued the decision to suspend the serving of the prison sentence and the court which issued the judgment execution decision. If the person whose sentence is suspended dies while he/she has received treatment at hospital as prescribed in Clause 3 hereof, the criminal judgment execution agency of district-level police office or of military zone shall notify the court which issued the decision to suspend the serving of the prison sentence, the court which issued the judgment execution decision, and the same-level procuracy.

Within 3 working days after receiving the notice, the court which issued the judgment execution decision shall issue a decision to terminate judgment execution and send it to the agencies prescribed in Points b, c, d, e and g Clause 1 of this Article and the court which issued the decision to suspend the judgment execution.

Article 38. Procedures for reduction of the duration of serving prison sentence

1. Competent agencies specified at Points a and b, Clause 1, Article 31 of this Law may request reduction of the duration of serving prison sentences.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

a) A copy of the judgment: for consideration of reduction of the sentence from the second time on, a copy of the judgment execution decision is required instead;

b) A written request of the competent agency for the reduction;

c) Quarterly, biannual and annual assessment grades of the serving of the prison sentence; commendation decision(s) or certificate(s) of the inmate's merits issued by competent agency(ies);

d) The conclusion of a provincial- or military zone- or higher-level hospital or medical examination council on the illness, for inmates suffering a fatal disease or a document showing that inmate is a decrepit old person;

dd) A copy of the decision to reduce the duration of serving the prison sentence, for inmates who have been granted a reduction;

e) Proof of compensation for civil obligations paid by the person whose duration of serving prison sentence is requested for reduction.

3. Within 15 days after receiving a request dossier for reduction of the duration of serving the prison sentence, the chief judge of people's court of province or the chief judge of military court of the military zone in which the inmate is serving his/her sentence shall establish a council and hold a meeting to consider the request. The council is composed of 3 judges; the meeting must be attended by the procurator of the same-level procuracy. In case a dossier needs to be supplemented, the time limit for holding a meeting shall be counted from the date of receiving the supplemented dossier.

5. The consideration for reduction of the duration of serving prison sentences shall be carried out 3 times a year. A sentenced person may only be considered for reduction of the duration of serving prison sentence once a year. After the sentenced person is granted the reduction of duration of serving the prison sentence, if there are special grounds showing that he/she deserves greater leniency, such as he/she has made merits, is a decrepit old person or has suffered a fatal disease. He/she may be considered for further reduction of duration of serving prison sentence but not exceeding twice a year.

Article 39. Procedures for exemption from the serving of prison sentences

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

a) A copy of the legally effective court judgment;

b) The written request of the competent chief procurator;

c) The inmate's petition for exemption from serving the prison sentence;

d) The inmate's statement on the merit or great merit he/she has made, certified by a competent agency, for inmates who have recorded merits or great merits, or the conclusion of a provincial-or military zone- or higher-level hospital or medical examination council on the illness of the inmate, for inmates suffering a fatal disease; the local government’s certification of the inmate’s good observance of law or severely disadvantaged family, for inmates who has observed the law well and has a severely disadvantaged family.

2. Within 15 days after receiving a dossier, the chief judge shall establish a council and hold a meeting to consider the request. The council is composed of 3 judges; the meeting must be attended by the procurator of the same-level procuracy. In case a dossier needs to be supplemented, the time limit for holding a meeting shall be counted from the date of receiving the supplemented dossier.

3. Within 3 working days after issuing a decision to exempt the duration of serving the prison sentence, the court shall send this decision to the sentenced person concerned, the requesting agency, the immediate superior procuracy, the same-level criminal judgment execution agency, the court which has issued the judgment execution decision and the People’s Committee of commune where the sentenced person concerned resides, the military assigned to manage such person or Department of Justice of province where the court which issued the decision is based, Ministry of Foreign Affairs in a case where the sentenced person concerned is a foreigner.

4. Immediately after receiving the exemption decision, the prison, detention center or criminal judgment execution agency of the district-level police office shall carry out procedures to set free such person and report the result to the superior criminal judgment execution management agency or criminal judgment execution agency.

Article 40. Transfer of inmates

1. A presiding authority or officer shall, when requiring transfer of an inmate, send a written request to the criminal judgment management agency, the criminal judgment execution agency of the provincial-level police department or of military zone where the requesting presiding authority or officer is based for requesting the competent agencies specified in Clause 2 of this Article to issue a transfer order. Upon receiving the transfer request, the competent agency shall issue an order to transfer the inmate.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

a) The head of the criminal judgment execution management agency of the Ministry of Public Security shall issue transfer orders with respect to inmates in prisons and detention centers of the Ministry of Public Security;

b) The head of the criminal judgment execution management agency of the Ministry of National Defense shall issue transfer orders with respect to inmates in prisons and detention centers of the Ministry of National Defense; heads of criminal judgment execution agencies of military zones shall issue transfer orders with respect to inmates currently serving their sentences in prisons and detention centers of military zones;

c) Heads of criminal judgment execution agencies of provincial-level police departments shall issue transfer orders with respect to inmates currently serving sentences in detention centers or to inmates directly managed by criminal judgment execution agencies of district-level police offices.

3. In case of transfer of inmates for their incarceration, education and rehabilitation or medical examination and treatment or medical examination and treatment provided for children residing with mothers in prison at health facilities, the superintendent of prison or detention center or the head of criminal judgment execution agency of district-level police office shall issue transfer orders.

4. A transfer order must at least contain:

a) Agency, full name, position and rank of the issuer;

b) Full name, date of birth, registered place of residence of the inmate to be transferred, his/her date of arrest, crime, duration and place of serving the prison sentence;

c) Purpose and length of transfer;

d) Agency, the person to receive the transferred inmate (if any);

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

5. The superintendent of prison or detention center, or the head of criminal judgment execution agency of district-level police office shall check, deliver and make a report of the transfer of the transferred inmate. If the transfer length is at least 2 months and equals to the remainder of the sentence duration of the inmate concerned, his/her dossier and other articles, money and assets (if any) shall also be transferred with him/her in order for the receiving authority or person to issue a certificate of complete serving of sentence upon the expiration of the sentence and record it in the transfer monitoring book.

The criminal judgment execution agency of the provincial-level police department or of the military zone where the presiding authority or officer requesting the transfer is based or works shall receive, escort and manage the transferred inmate and his/her dossier during the time of transfer.

6. In case the transferred inmate needs to be taken out of the place in which he/she is serving his/her sentence, the criminal judgment execution agency of the provincial-level police department or military zone receiving such inmate must ensure board and lodging for him/her under law during the time of transfer. Pursuant to the transfer order, the detention center or custody house in the place of the investigation, prosecution or trial agency requesting the transfer shall manage the transferred inmate as per the law.

7. In case the transferred inmate is not taken out of the place in which he/she is serving his/her prison sentence, the prison, the detention center or the criminal judgment execution agency of the district-level police office shall provide board and lodging for and manage such inmate when the agency or person receiving the transferred inmate does not work with him/her.

8. At the expiration of the transfer duration, the agency receiving the transferred inmate shall send a notice to the criminal judgment execution management agency of the Ministry of Public Security or the Ministry of National Defense and the criminal judgment execution agency of the provincial-level police department or military zone and deliver the transferred inmate to the prison, detention center or district-level criminal judgment execution agency for further serving his/her sentence, unless the transfer length equals to the remainder of the sentence prescribed in Clause 5 hereof. If the relevant agency wishes to extend the transfer length, it shall request extension of the transfer length; the transfer length and extension of this length must not be longer than the remainder of the sentence served by the transferred inmate.

9. The transfer length shall be included in the duration of serving the prison sentence, unless the inmate escapes during the transfer duration.

The transfer will not affect the consideration for reduction of the duration of serving prison sentence or parole granted to inmates.

Article 41. Commendation given to inmates

1. While serving his/her prison sentence, an inmate who properly observes prison rules and regulations, makes achievements in work or records merits shall be commended and rewarded in one or more of the following forms:

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

b) Reward in cash or in kind;

c) Increase of the number of phone conversations and visits with relatives, the number of receipt and quantities of presents.

2. Superintendents of prisons or detention camps of the Ministry of Public Security, superintendents of detention camps of the Ministry of National Defense, heads of criminal judgment execution agencies of provincial-level police departments and heads of criminal judgment execution agencies of military zones shall decide commendation given to inmates. Commendation shall be expressed in writing and recorded in inmates' files. Commended inmates will be given priority in the process of requesting reduction of the duration of serving prison sentences under law.

Article 42. Handling of cases of escaped inmates

1. When an inmate escapes, the prison or detention camp, the criminal judgment execution agency of the provincial-level police department or district-level police office or the criminal judgment execution agency of the military zone shall promptly organize pursuit for such inmate and report the criminal judgment execution management agency and notify the competent people’s procuracy. Within 24 hours from the time of detecting that an inmate has escaped, if the pursuit is still in vain, the superintendent of the prison or detention camp of the Ministry of Public Security or the Ministry of National Defense, the head of the criminal judgment execution agency of the provincial-level police department or military zone shall release a wanted notice and organize the pursuit.

Every case of escape must be recorded in a report and subject to deterrent measures, investigation and handling under the criminal procedure law.

2. When an escaped inmate turns himself/herself in, the agency receiving him/her shall make a report and handle him/her according to its competence or deliver him/her to the nearest criminal judgment execution agency for handling under law.

Article 43. Handling of violating inmates

1. While serving his/her prison sentence, an inmate violating prison regulations or committing an illegal act shall be disciplined in any of the following forms:

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

b) Warnings;

c) Confinement to a disciplinary cell for up to 10 days.

2. When being confined to a disciplinary cell, the inmate is not allowed to meet his/her relatives and may have his/her feet fastened in the stocks. Having feet put in stocks is not applied to female, minor and old and weak inmates.

3. Superintendents of prisons, superintendents of detention camps or heads of criminal judgment execution agencies of district-level police offices shall issue decisions to discipline inmates and insert these decisions in their files.

4. If the violation of an inmate show signs of a crime failing under the investigatory power of the superintendent of the prison or detention camp, the superintendent of the prison or detention camp shall issue a decision to institute a criminal case and carry out investigative activities under law. If such violation does not fall under his/her investigatory power, the superintendent shall request a competent investigative agency to initiate prosecution as per the law.

If the violation of an inmate being held in detention center or custody house of district-level police office show signs of a crime, the superintendent of the detention center, the head of criminal judgment execution agency of district-level police office shall request a competent investigative agency to initiate prosecution as per the law.

5. The Government shall elaborate this Article.

Article 44. Notification of inmate’s serving of sentences; cooperation with inmates' families, agencies, organizations and individuals in educating and reforming inmates

1. Prisons, detention centers, criminal enforcement agencies of district-level police offices shall biannually notify the inmate’s serving of sentences to their relatives.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

Article 45. Community re-integration

1. Prisons, detention centers, criminal judgment execution agencies of district-level police offices shall prepare necessary conditions for their community re-integration before they have completely served their full prison sentences, are granted amnesty or parole. Preparations for community re-integration:

a) Psychological counseling, assistance in legal procedures;

b) Career orientation, job seeking;

c) An amount of financial support set aside from the community integration fund of the prison.

2. Financial support for community re-integration shall be set aside from:

a) Funding allocated by state budget;

b) The community integration of the prison and other funds as per the law;

c) Voluntary contribution of agencies, organizations, and individuals and other legal revenue sources.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

a) Communications, education in community re-integration;

b) Vocational training, job creation;

c) Psychological counseling and assistance in legal procedures;

d) Other types of assistance.

4. The Government shall elaborate this Article.

Article 46. Release of inmates

1. Two months before an inmate completes his/her full prison sentence, the prison or detention center of the Ministry of Public Security or the Ministry of National Defense or the criminal judgment execution agency of the provincial-level police department or the military zone shall notify the criminal judgment execution agency of the district-level police office, the commune-level People's Committee of the place and the agency or organization in which such person will return to reside and work, or Ministry of Foreign Affairs in case the inmate is a foreigner. Such a notice must state their performance of serving of the prison sentence, additional penalty(ies) which the inmate still has to serve, and other relevant information necessary for the consideration, arrangement and building of a normal life for such person.

In case the inmate, upon completing his/her full prison sentence, does not know where to live, the prison or detention center of the Ministry of Public Security or the Ministry of National Defense or the criminal judgment execution agency of the provincial-level police department shall request the commune-level People's Committee of the place in which the inmate serves his/her sentence or another agency or organization to receive such person.

2. On the final day of the prison sentence of an inmate, the prison or detention center of the criminal judgment execution agency of the provincial-level police department or of military zone shall complete procedures as prescribed by law to release the inmate; issue a certificate of complete serving of prison sentence to the inmate and provide him/her with a sum of money from the community integration support fund and travel and meal allowances for returning to his/her place of residence or workplace; return to the inmate all papers, objects, money and possessions which he/she deposited at the place of serving the prison sentence.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

4. Upon completing his/her full prison sentence, a foreign inmate shall be granted a certificate of complete serving of prison sentence and may stay at an accommodation establishment designated by the criminal judgment management agency pending completion of exit procedures.

5. The agency which has issued a certificate of complete serving of prison sentence shall send it to the National Center for Judicial Records (NCJR), the court which has issued the judgment execution decision, the agency responsible for executing additional penalty(ies) and the agency specified in Clause 1 of this Article, and send a written notice to the agency responsible for enforcing the civil part of the criminal judgment or decision.

Article 47. Execution of decisions to receive persons currently serving prison sentences

1. Execution of decisions to receive persons currently serving prison sentences overseas to Vietnam to serve their sentences:

a) Upon receiving a decision to execute the decision to receive a person currently serving a prison sentence from overseas to Vietnam to serve such sentence, the criminal execution and judicial assistance police shall receive such person and deliver him/her to a prison under a decision of the criminal judgment execution management agency of the Ministry of Public Security;

b) The regime for incarceration management, education and rehabilitation, rights and obligations applicable to delivered persons currently serving prison sentences shall conform to this Law and other relevant laws.

2. Execution of decisions to transfer persons currently serving prison sentences in Vietnam to overseas:

a) Upon receiving a decision to execute the decision to transfer a person currently serving a prison sentence in Vietnam to overseas, the prison shall deliver the inmate to the judicial assistance police. Such delivery shall be recorded in a minutes to be inserted in this person's dossier;

b) The criminal execution and judicial assistance police shall escort the transferred person to the place and at the time as agreed upon in writing by competent authorities of Vietnam and the transfer-requesting country.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

Section 2. REGIMES FOR BOARD, CLOTHING, LODGING, DAILY LIVING AND HEALTH CARE FOR INMATES

Article 48. Regime for board and lodging for inmates

1. Inmates shall be provided with prescribed rations of rice, green vegetable, meat, fish, sugar, salt, fish sauce, cooking oil, monosodium glutamate, and fuel. For inmates doing heavy and hazardous jobs as prescribed by law, their food rations shall be increased but not exceeding two times the standard rations for normal days. On holidays prescribed by law, inmates will have additional food but not exceeding five times the standard rations for normal days.

Based on requirements of ensuring the health of inmates during incarceration, work and learning at the places of serving their sentences, the Government shall prescribe specific food rations suitable to economic and budget conditions and market price fluctuations. Superintendents of prisons, superintendents of detention centers and heads of criminal judgment execution agencies of district-level police offices may decide to swap food rations to meet practical needs in order to ensure that inmates eat up their food rations.

2. In addition of food rations prescribed in Clause 1 of this Article, inmates may use their presents and money to afford more food but not higher than three times the monthly food ration per inmate.

3. Inmates shall be provided with hygienic food and drink. Cooking for inmates shall be done by inmates themselves under the supervision and examination of the prison or detention center or the criminal judgment execution agency of the district-level police office.

Kitchens for inmates shall be equipped with necessary utensils for cooking food, boiling water and dividing food to inmates according to standard rations.

4. Inmates shall live in communal prison cells, excluding those who must be separately held under Points d, dd, e and g, Clause 2 and Clause 3, Article 30 of this Law. The minimum sleeping area per inmate is 2 square meters (m2). For an inmate having a small child to raise, she must have a sleeping area of at least 3 m2.

Article 49. Regime for clothing and personal belongings of inmates

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

The Government shall elaborate this Article.

Article 50. Regime for physical exercise, sports and cultural and art activities and use of prayer books, expression of belief, religions of inmates

1. Inmates may participate in physical exercise, sports, cultural and art activities, read books, listen to radio and watch television suitable to the conditions of the places where they serve the sentences.

Each prison department may have a library, playing and sports grounds and be equipped with a public address system and each communal prison cell shall be equipped with a television set.

2. The timing of physical exercise, sports, cultural and art activities, reading books, listening to radio and watching television conforms to prison regulations.

3. Inmates practicing religions shall be entitled to use prayer books legally published in the printing form and express their belief and religions as per the law on belief and religions.

Article 51. Regimes toward female inmates who are pregnant or raising children under 36 months of age

1. Pregnant female inmates, unless they are allowed to postpone the serving of prison sentences, are entitled to regular or irregular prenatal check-ups and care when necessary; they are entitled to a shorter working time and a food and drink regime suitable to their health.

2. Pregnant female inmates are entitled to maternity leave before and after delivery under the labor law. During maternity leave, they shall be provided with food rations as prescribed by medical assistants or doctors, as well as food and necessary items for raising and caring their babies. Female inmates raising children under 36 months of age shall be given appropriate time to take care of and raise their children.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

4. Prisons, detention centers and criminal judgment execution agencies of district-level police offices shall carry out procedures to request birth registration for inmates' children. The People’s Committee of commune where the inmate serves his/her sentence shall register and issue the inmate with the birth certificate.

5. When the child reaches 36 months of age, a female inmate shall send him/her to his/her relatives for rearing. If no relative receives to rear such child, the prison or detention center of the Ministry of Public Security, detention center of the Ministry of National Defense or the criminal judgment execution agency of provincial-level police department shall request the provincial-level Department of Labor, War Invalids and Social Affairs of the place where the inmate serves her sentence to designate a social protection establishment to receive and rear the child. Within 15 days after receiving such request, the provincial-level Department of Labor, War Invalids and Social Affairs shall designate a social protection establishment to receive and rear the child. After completely serving her full prison sentence, the inmate is entitled to receive back her child from the social protection establishment.

6. A prison shall organize a nursery outside the incarceration sector to care for and rear children of inmates who are under 36 months of age or children of inmates who are 36 months of age or older pending admission to social protection establishments.

7. The Government shall elaborate this Article.

Article 52. Regime for visits of relatives and receipt of presents

1. Inmates may meet their relatives once a month for no more than one hour. According to the inmate's performance grade and requirements for education and rehabilitation, working and study achievements of inmates, the superintendent of prison or detention center, the head of criminal judgment execution agency of district-level police office shall consider granting extension of the visit duration but not exceeding 3 hours or granting a conjugal visit not exceeding 24 hours in a private room. Inmates who are commended or record merits may meet their relatives one more time in a month.

Inmates violating regulations of the place of detention may only meet relatives every 2 months for no more than one hour.

2. When a representative of an agency or organization or another individual requests to meet an inmate, the superintendent of the prison or detention center or the head of the criminal judgment execution agency of the district-level police office shall consider and settle the request.

3. When meeting their relatives and representatives of agencies or organizations or other individuals, inmates may receive letters, cash and articles, except those on the ban list. For cash, inmates shall deposit it with the prison, detention center or criminal judgment execution agency of the district-level police office for management. The management and use of articles and cash of inmates conforms with Points a, b and c Clause 3 Article 26 of this Law.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

5. In order to meet inmates, relatives of inmates shall bring with them visit books or visit applications certified by the commune-level People's Committee or police office of the place in which they reside or by the agency or organization at which they work or study. Prisons, detention centers and criminal judgment execution agencies of district-level police offices shall inform relatives of inmates of regulations on visits to inmates. Relatives of inmates shall observe these regulations.

A relative of a foreign inmate shall file an application with the criminal judgment execution management agency. Such application must be written in or translated to Vietnamese and certified by the diplomatic mission or consular office of the country of which the applicant is a citizen or the Vietnam-based representative office of the international organization in which the applicant works. If the relative of a foreign inmate is Vietnamese, such application must be certified by the commune-level People's Committee of the place in which the relative resides. Within 15 days after receiving an application, the criminal judgment execution management agency shall issue a reply to the applicant; in special cases, this time limit may be prolonged to 30 days at most.

6. Prisons, detention centers, criminal judgment execution agencies of district-level police offices shall arrange places for inmates to meet with their relatives and representatives of other agencies, organizations, and individuals.

7. The Minister of Public Security, the Minister of National Defense shall elaborate this Article.

Article 53. Consular visit and contact

1. A diplomatic mission or foreign consular office seeking consular visit and contact with an inmate who holds their nationality and has served a prison sentence in Vietnam shall send a written request to Ministry of Foreign Affairs. The request shall at least contain:

a) Name of the requesting diplomatic mission or consular office;

b) Full name, nationality of the inmate which they seek consular visit and contact with;

c) The prison where the inmate has served his/her sentence;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

dd) Full name of the interpreter.

2. Within 3 working days after receiving the request, Ministry of Foreign Affairs shall notify the criminal judgment execution management agency of the Ministry of Public Security or the Ministry of National Defense. Within 5 working days after receiving the notice, the competent criminal judgment execution management agency shall reply the request in writing to the diplomatic mission or consular office through Ministry of Foreign Affairs and require the diplomatic mission or consular office to apply for a letter of recommendation for consular visit and contact to the criminal judgment execution management agency.

Article 54. Regime for communication of inmates

1. Inmates may send 2 letters a month. Superintendents of prisons or detention centers and heads of criminal judgment execution agencies of district-level police offices shall examine and censor letters sent and received by inmates.

2. Inmates may have domestic telephone conversations with their relatives once a month for not more than 10 minutes each, except for urgent cases. Superintendents of prisons or detention centers and heads of criminal judgment execution agencies of district-level police offices shall consider allowing inmates to have telephone conversations and control this form of communication.

3. Inmates shall pay for their communication prescribed in Clauses 1 and 2 of this Article.

Article 55. Regime for medical care for inmates

1. Inmates are entitled to the disease prevention and control regime. Prisons, detention centers and criminal judgment execution agencies of district-level police offices shall cooperate with district-level health centers or military hospitals of the places in which the prisons, detention centers and criminal judgment execution agencies of district-level police offices are based in offering medical check-ups for inmates.

2. Sick or injured inmates shall be examined and treated at infirmaries of their prisons or detention centers or at the nearest health facilities. An inmate who suffers a serious disease or an injury beyond the treatment capability of these establishments shall be referred to a superior-level health facility for treatment; the prison, detention center or criminal judgment execution agency of district-level police office shall notify relatives of the inmate or his/her lawful representatives for joining in treating and caring for such inmate. His/her food, medicine and health restoration regimes shall be prescribed by the health facility.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

3. For an inmate suspected of suffering a mental disease or another disease which deprives him/her of perception or act control capacity, his/her prison, detention center or the criminal judgment execution agency of the provincial-level police department shall request the provincial-level court of the place or the military court of the military zone in which the inmate serves his/her sentence to seek mental health assessment. If the assessment concludes such inmate suffers a mental disease or another disease which deprives him/her of perception or act control capacity, the chief judge of the provincial-level court of the place or the military court of the military zone in which the inmate serves his/her sentence shall issue a decision to suspend the serving of prison sentence and apply execution of compulsory medical treatment against him/her.

The health facilities shall receive and manage inmates subject to execution of compulsory medical treatment at the health facilities.

4. A drug-addicted inmate shall be detoxified by his/her prison.

5. Funds for medical examination and treatment, drug detoxification and building and arrangement of separate medical treatment rooms for inmates in health facilities shall be financed by the State.

6. The Government shall elaborate this Article.

Article 56. Handling of cases of deceased inmates

1. When an inmate dies in the prison, detention center or criminal judgment execution agency of the district-level police office or a state-owned health facility, such agency or facility shall promptly notify the case to the district-level investigation agency and people's procuracy of the place or the military investigation agency and procuracy of the military zone in which the inmate dies for identifying the cause of his/her death. The prison, detention center or criminal judgment execution agency of the district-level police office shall apply for death registration to the People’s Committee of commune where the inmate dies and notify the relatives or lawful representative of the deceased inmate before conducting the burial. For an inmate who dies in a health facility, such health facility shall make a death notice and send it to the prison, detention center or criminal judgment execution agency of the district-level police office.

When a foreign inmate dies, the superintendent of his/her prison shall promptly notify such to the provincial-level investigation agency and people's procuracy of the place or the military investigation agency and procuracy of the military zone in which the inmate dies for identifying the cause of his/her death, and concurrently to the criminal judgment execution management agency of the Ministry of Public Security or the Ministry of National Defense, or Ministry of Foreign Affairs for notification to the representative mission of the country of which the deceased is a citizen. After obtaining permission of a competent agency, the prison shall conduct a burial for the foreign inmate.

2. After obtaining permission of a competent agency to conduct the burial for the deceased inmate, the prison, detention center or criminal judgment execution agency of the district-level police office shall notify the relatives or representatives of the inmate. In case the relative or lawful representative of the deceased inmate makes a petition for receiving the corpse of the deceased, the prison, detention center or criminal judgment execution agency of the district-level police office shall accept such petition, unless there is a ground to believe that such would affect security, order and environmental sanitation. Within 24 hours after sending the notice, if the relatives or representatives of the inmate fails to receive his/her corpse, the prison, detention center or criminal judgment execution agency of the district-level police office shall conduct the burial and notify it to the court which has issued the judgment execution decision. Within 3 working days after receiving the notice, the court which has issued the judgment execution decision shall issue a decision to terminate the serving of prison sentence and send it to a relative of the deceased and the prison, detention center or criminal judgment execution agency of the district-level police office in which the inmate died, the provincial-level Justice Department of the place in which the court which has issued the termination decision is based. The commune-level People's Committee of the place in which the inmate died shall cooperate with the prison, detention center or criminal judgment execution agency of the district-level police office in conducting the burial and managing his/her grave. Burial expenses shall be covered by the State.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

3. In case the relative or lawful representative of the deceased inmate makes a petition for receiving the corpse or mortal remains of the deceased and bear all related costs, the prison, detention center or criminal judgment execution agency of the district-level police office may consider accepting such petition, unless there is a ground to believe that such would affect security, order and environmental sanitation. The receipt of the mortal remains shall be considered and decided after three years from the date of burial. For a foreign inmate, the receipt of his/her corpse or mortal remains shall be considered and decided by the criminal judgment execution management agency.

Section 3. PAROLE

Article 57. Time for consideration of parole

The consideration of parole shall be carried out 3 times a year: at the end of the first quarter, the second quarter and the end of the year.

Article 58. Application for parole

1. Prisons, detention centers of the Ministry of Public Security, the Ministry of National Defense, criminal judgment execution agencies of provincial-level police departments or of military zones shall prepare applications for parole and send them to the provincial-level or military-level people’s procuracy, provincial-level or military-level people’s court where the inmates have served their prison sentences.

2. An application for parole shall consist of:

a) An application form for parole made by the inmate enclosed with commitment not to violate the law and obligations to be fulfilled after the parole is granted;

b) A copy of legally effective court judgment or decision; judgment execution decision;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

d) A copy of decision on reduction of the duration of serving prison sentence granted the person sentenced for serious crime or very serious crime or extremely serious crime;

dd) Documents showing that the inmate has completely served the additional sentence as a fine or compensation for damage or payment of court fee;

e) Documents showing the inmate’s actual duration of serving the prison sentence;

g) Relevant proof showing that inmate is a person who has meritorious services to the revolution or a relative thereof, is at least 70 years of age, has severe disabilities or extremely severe disabilities, raises a child under 36 months of age, or is a minor;

h) A request for parole made by the prison, detention center of the Ministry of Public Security, the Ministry of National Defense, criminal judgment execution agency of provincial-level police department or of military zone.

3. A person whose prison sentence is suspended or a person subject to execution of compulsory medical treatment may reserve his/her performance grade and resume the performance period after he/she continues to serve his/her sentence. In this case, if the People’s Committee of commune where the person whose prison sentence is suspended comes to resides, the military unit assigned to supervise this person, or the health facility receiving this person certifies that such person has strictly complied with laws and regulations, he/she may be considered to be granted parole.

4. If an inmate is transferred for investigation, prosecution, and trial purposes has not been prosecuted for another offense, the prison, detention center, or criminal judgment execution agency of district-level police office which receive the transferred inmate shall request the prison, detention center, or criminal judgment execution agency of district-level police office in charge to consider making an application for parole granted him/her if he/she is eligible.

Article 59. Execution of parole

1. After receiving a decision on parole, the prison, detention center, or criminal judgment execution agency of district-level police office shall post up a list of inmates granted parole at the place of detention. After the decision on parole takes effect, the prison, detention center, or criminal judgment execution agency of district-level police office shall issue certificates of parole to eligible inmates and release them. The probation period shall begin from the date on which decision on parole takes effect.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

2. The criminal judgment execution agency of district-level police office where the parolee comes to reside or the criminal judgment execution agency of military zone shall receive and maintain the inmate dossiers; prepare supervision dossiers of parolees and give them to the People’s Committee of commune or military unit in charge.

Within 5 days from the parole date, the parolee must present himself/herself at the People’s Committee of commune or the military unit in charge to commit to fulfill his/her obligations, except for force majeure events or objective hindrance. After the above 5-day time limit, if the parolee fails to present himself/herself, the People’s Committee of commune or the military unit in charge shall summon him/her to the head office to make the commitment. If he/she fails to present himself/herself as summoned or make such a commitment, the commune police or military unit shall make a report on his/her breach of obligations.

The People’s Committee of commune or military unit in charge shall send reports on parolees’ presence and commitments to district-level police office or criminal judgment execution agency of military zone.

3. If the parolee under management of the military has no longer served in the military, the criminal judgment execution agency of military zone shall deliver such parolee enclosed with his/her inmate dossier to the criminal judgment execution agency of district-level police office where he/she comes to reside; prepare supervision dossier of the parolee and give it to the People’s Committee of commune in charge.

4. On the final day of the probation period, the criminal judgment execution agency of district-level police office or of military zone in charge of the parolee shall issue a certificate of complete serving of prison sentence and send it to the same-level procuracy and court which has issued the decision on parole and the court which has issued the judgment execution decision, the prison, detention center, or criminal judgment execution agency of district-level police office or of military zone where such person has served the sentence, National Center for Judicial Records and the People’s Committee of commune where he/she comes to reside.

5. If the parolee dies, the People’s Committee of commune or military unit in charge shall report the criminal judgment execution agency of district-level police office or of military zone to notify the court which issued the judgment execution decision. Within 3 working days after receiving the notice, the court which issued the judgment execution decision shall issue a decision to terminate judgment execution and send it the same-level procuracy, criminal judgment execution agency of district-level police office or of military zone, the People’s Committee of commune or the military unit in charge and Department of Justice of province where the court which issued the decision is based.

Article 60. Supervision dossiers of parolees

1. A supervision dossier of parolee prepared by the criminal judgment execution agency of district-level police office or the criminal judgment execution agency of military zone shall include:

a) A copy of the legally effective court judgment; a copy of decision and the judgment execution decision;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

c) A certificate of parole;

d) A remark of the parolee’s performance during serving time;

dd) A commitment of the parolee;

e) A personal information sheet of the parolee;

g) Other relevant documents.

2. The People’s Committee of commune or the military unit in charge of the parolee shall receive and include additional documents below in the supervision dossier:

a) A remark of the parolee’s performance given by the People’s Committee of commune or the military unit in charge;

b) A report of the parolee on his/her fulfillment of obligations;

c) A criticism report, criticism meeting minutes and relevant documents if the parolee is formally criticized as prescribed in Article 66 of this Law;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

dd) Other relevant documents.

3. 15 days before the probation period expires, the People’s Committee of commune or the military unit in charge of the parolee shall hand over the supervision dossier to the criminal judgment execution agency of district-level police office or of military zone so as to issue a certificate of complete serving of prison sentence upon expiration of the probation period. The handing over of the management dossier shall be recorded and kept in the inmate dossier.

Article 61. Tasks and powers of the People’s Committee of commune or the military unit in charge of parolees

1. A People’s Committee of commune in charge of a parolee shall have the following tasks and powers:

a) Receive the supervision dossier of such parolee; hand over the dossier to the competent criminal judgment execution agency as per this Law;

b) Require the parolee to fulfill his/her obligations; adopt education and prevention measures when he/she shows any sign of violation of law;

c) Commend the parolee for his/her considerable progress or great merits (if any);

d) Give approval for the parolee's absence from his/her place of residence as prescribed in this Law and law on residence;

dd) Cooperate with socio-political organizations, parolee’s family and places where the parolee works or studies in supervising him/her;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

g) Report the criminal judgment execution agency of district-level police office to request the competent court to cancel to decision on parole and compel the parolee to serve the remainder of the sentence if he/she violates Clause 4 Article 66 of the Criminal Code;

h) Report on the parolee’s escape to the criminal judgment execution agency of district-level police office;

i) Give a written remark of the parolee’s fulfillment of his/her obligations during the probation period;

k) Report on supervision of the parolee during the probation period to the competent criminal judgment execution agency.

2. Commune-level police offices shall advise and assist commune-level People's Committees in performing their tasks and powers as prescribed in Clause 1 of this Article.

3. A military unit in charge of a parolee shall have the following tasks and powers:

a) The tasks and powers prescribed in Points a, b, c, i and k Clause 1 hereof;

b) Cooperate with the People’s Committee of commune in giving approval for the parolee's absence from his/her place of residence as prescribed in this Law and law on residence;

c) Cooperate with the parolee’s family in supervising him/her;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

dd) Report the criminal judgment execution agency of military zone to request the competent court to cancel to decision on parole and compel the parolee to serve the remainder of the sentence if he/she violates Clause 4 Article 66 of the Criminal Code;

e) Report on the parolee’s escape to the criminal judgment execution agency of military zone.

Article 62. Obligations of parolees

1. Strictly fulfill his/her commitments on compliance with law, civil obligations, internal regulations of the places of residence, work and study.

2. Present himself/herself and make commitments as prescribed in Clause 2 Article 59 of this Law.

3. Submit to the management of the People’s Committee of commune or the military unit in charge.

4. Abide by regulations prescribed in Article 67 of this Law.

5. Present himself/herself at the request of the People’s Committee of commune or the military unit in charge.

6. Send monthly reports on fulfillment of his/her obligations to the People’s Committee of commune or the military unit in charge. If the parolee is absent from his/her place of residence as prescribed in Clause 1 Article 67 of this Law, he/she must send a report on fulfillment of his/her obligations upon the expiry of the absence period.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

1. If a parolee who is not an official or public employee may continue to work in a non-public entity, he/she may earn salaries and benefit other polices in conformity with his/her job and this working duration shall be included in his/her working time as per the law.

2. If a parolee is admitted to study in a compulsory education institution or vocational education institution, he/she may benefit policies as per the law.

3. A parolee not falling under any case prescribed in Clause 1 and Clause 2 of this Article may be enabled to find a job by the People’s Committee of commune in charge.

Article 64. Shortening probation period imposed on parolees

1. A parolee may request shortening of the probation period when he/she:

a) has served a half of the probation period; and

b) has made great progress during his/her probation period.

2. A parolee may have his/her probation period shortened once a year for 3 months to 2 years. If the remainder of the probation period is under 3 months, the court may decide to eliminate it.

A parolee may have his/her probation period shortened multiple times provided that he/she in fact has served at least three-fourths of the probation period, except for the case prescribed in Clause 3 hereof.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

Article 65. Procedures for shortening probation period imposed on parolees

1. The People’s Committee of commune or the military unit in charge of parolees shall review eligible persons in accordance with the Criminal Code, prepare relevant documents and submit a request for shortening probation periods of eligible parolees to the criminal judgment execution agency of district-level police office or of military zone.

2. Within 7 days after receiving the documents and request of the People’s Committee of commune in charge of the parolees, the criminal judgment execution agency of district-level police office shall consider and submit its request for shortening probation periods of eligible parolees to the criminal judgment execution agency of provincial-level police department and enclosed documents. Within 7 days after receiving the documents and request of the criminal judgment execution agency of district-level police office, the criminal judgment execution agency of provincial-level police department shall consider and submit its request for shortening probation periods of eligible parolees to the same-level people’s court for consideration and to the same-level people’s Procuracy.

3. Within 7 days after receiving the documents and request of the military unit in charge, the criminal judgment execution agency of military zone shall consider and submit its request for shortening probation periods of eligible parolees to the military court for consideration and to the same-level people’s procuracy.

4. Within 7 days after receiving the documents and request of criminal judgment execution agency of provincial-level police department or military zone, the chief judge of provincial-level people’s court or military zone-level military court where the parolee resides or works shall establish a council and hold a meeting to consider shortening probation period. The council is composed of 3 judges; the meeting must be attended by the procurator of the same-level procuracy. In case a dossier needs to be supplemented, the time limit for holding a meeting shall be counted from the date of receiving the supplemented dossier.

5. Within 3 days from the date on which the decision to shorten probation period is issued, the court must send that decision to the sentenced person, the same-level procuracy, the immediate superior Procuracy, the agency which requests shortening of probation period, the court which issued the decision on parole, Department of Justice of province where the court which issued the decision to shorten probation period is based.

Article 66. Formal criticism against parolees

1. During the probation period, if a parolee commits the parole conditions prescribed in Article 62 of this Law for the first time or incurred an administrative penalty for the first time, the People’s Committee of commune in charge shall cooperate with relevant agencies, Vietnamese Fatherland Front to hold a public meeting at the community where the parolee resides for a formal criticism against him/her; if the parolee has worked at a military unit, the formal criticism shall be held at that military unit.

2. The formal criticism shall be recorded in writing and included in the supervision dossier and reported to the criminal judgment execution agency of district-level police office or the criminal judgment execution agency of military zone.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

1. A parolee may be absent from his/her place of residence if he/she has justifiable grounds, obtains the permission as prescribed in Clause 2 hereof and make a declaration of temporary absence as prescribed in law on residence. The absence duration from place of residence shall be included in the probation period but not exceeding 60 days each and total absence duration may not exceed one third of the probation period, unless the parolee has received treatment at a health facility due to his/her disease as prescribed by doctors and has been certified by that health facility.

2. When seeking permission for absence from place of residence, a parolee must submit a request for permission and obtain the permission from the People’s Committee of commune or the military unit in charge. If the request is rejected, the People’s Committee of commune or the military unit in charge must provided explanation in writing. When the parolee comes to the new place of residence, he/she must report his/her presence with the police office of the commune where he/she temporarily resides; upon expiry of the temporary residence duration, he/she must be certified by the People’s Committee of commune or police office of the commune. If the parolee commits a violation of law, the People’s Committee of commune where he/she temporarily resides shall notify the People’s Committee of commune or the military unit in charge.

3. The parolee may not leave Vietnam’s territory during his/her probation period.

Article 68. Dealing with parolee’s change of place of residence or work

1. If a parolee, for justifiable grounds, has to change his/her place of residence or work, he/she must obtain a certification of the People’s Committee of commune or the military unit in charge and send a request to the criminal judgment execution agency of district-level police office or of military zone.

Within 15 days after receiving the request for change of place of residence or work from the parolee, the criminal judgment execution agency of district-level police office or of military zone shall cooperate with relevant agencies in verifying and dealing with such request. If the request is rejected, they must provide explanation in writing.

2. The request for change of place of residence may be approved if the following conditions are satisfied:

a) The requirements prescribed in law on residence are met;

b) The parolee obtains a permission from the criminal judgment execution agency of district-level police office if he/she changes his/her place of residence within a district or from the criminal judgment execution agency of provincial-level police department if he/she changes his/her place of residence beyond the scope of a district, or from the criminal judgment execution agency of the Ministry of Public Security if he/she changes his/her place of residence beyond the scope of province.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

The change of the parolee’s place of work beyond the scope of a military zone shall be decided by the criminal judgment execution agency of the Ministry of National Defense.

If the parolee does not continue to work for military, the criminal judgment execution agency of military zone shall transfer his/her dossier to the criminal judgment execution agency of district-level police office where the parolee comes to reside for further supervision as prescribed in Clause 3 Article 59 of this Law.

4. The Minister of Public Security and the Minister of National Defense shall elaborate this Article.

Article 69. Dealing with parolees violating parole conditions or incurring penalties for administrative violations

1. If a parolee deliberately violates the parole conditions prescribed in Article 62 of this Law, the commune-level police office shall make a violation report; if he/she deliberately violates the parole conditions for the second time, the commune-level police office shall make another violation report and report the People’s Committee of commune.

If a parolee under supervision of a military unit deliberately violates the parole conditions prescribed in Article 62 of this Law, the military unit shall make a violation report; if he/she deliberately violates the parole conditions for the second time, the military unit shall make another violation report and report criminal judgment execution agency of military zone.

2. If a parolee incurs a penalty for administrative violation from the second time onwards, the commune-level police office shall report the People’s Committee of commune.

If a parolee under supervision of a military unit incurs a penalty for administrative violation from the second time onwards, the military unit shall report the criminal judgment execution agency of military zone.

3. Within 3 working days after receiving the report of the commune-level police office, the People’s Committee of commune shall send a written request the criminal judgment execution agency of district-level police office enclosed with the violation report or decision on penalty for administrative violation and other relevant documents so as to request the cancellation of the decision on parole.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

Article 70. Dealing with inmates to be considered for parole violating internal regulations of places of detention or committing violations of law

1. If an inmate to be considered for parole violates regulations of the place of detention and is disciplined or commits a violation of law before being granted a decision on parole by the court, the requesting agency prescribed in Clause 1 Article 368 of the Criminal Procedure Code shall request the people’s procuracy or the court in writing to withdraw the application and eliminate the inmate’s name from the list of proposed parolees.

2. If an inmate with a decision on parole by the court which has not taken effect violates regulations of the place of detention and is disciplined or commits a violation of law, the application and procedures for cancellation of the decision on parole shall conform with Clause 3 Article 71 of this Law and Article 368 of the Criminal Procedure Code.

Article 71. Cancellation of decision on parole

1. If a parolee commits a violation prescribed in Clause 4 Article 66 of the Criminal Code, the criminal judgment execution agency of district-level police office or of military zone shall send a request dossier to the court which issued the decision on parole granted him/her to consider canceling such decision and send this dossier to the same-level people’s procuracy. A request dossier includes:

a) A request for cancellation of the decision on parole made by the criminal judgment execution agency of district-level police office or of military zone;

b) A report on parole violation or decision on penalty for administrative violation;

c) A report on the parole’s compliance with parole conditions during his/her probation period made by the criminal judgment execution agency of district-level police office or of military zone;

d) A copy of the court judgment or decision; a copy of the decision on parole;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

2. Within 3 working days from the date on which the decision on cancellation of the decision on parole becomes effective, the criminal judgment execution agency of district-level police office or of military zone shall notify the parolee concerned in writing. Within 7 days after receiving such a notice, the parolee concerned must present himself/herself at the criminal judgment execution agency of district-level police office or of military zone to serve the remainder of the sentences in prison. If he/she fails to appear within the time limit, the criminal execution and judicial assistance police or judicial guard shall escort him/her to serve his/her sentence. If the parolee concerned escapes, the criminal judgment execution agency of district-level police office or of military zone shall request the competent criminal judgment execution agency to release a wanted notice.

3. If a parolee violates internal regulations of the place of detention or commits a violation prescribed in Clause 2 Article 70 of this Law, the agency which requested the parole shall send a request dossier to the court which issued the decision on parole granted him/her to consider canceling such decision and send this dossier to the same-level people’s procuracy. A request dossier includes:

a) A request for cancellation of the decision on parole;

b) A decision on discipline imposed on the inmate enclosed with a report on violation of internal regulations of the place of detention or a report on the violation of law;

c) Other relevant documents.

4. Procedures for the court to consider canceling decisions on parole shall conform to Article 368 of the Criminal Procedure Code.

Article 72. Responsibilities of parolees’ families

The family of a parolee shall cooperate with the People’s Committee of commune or the military unit in charge in supervising that parolee; notify the parolee's compliance with parole conditions as required by the People’s Committee of commune or the military unit in charge; and attend any formal criticism meeting against the parolee as required by the People’s Committee of commune or the military unit in charge.

Section 4. MINOR INMATES

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

A minor inmate shall serve his/her sentence in accordance with this Section and other regulations not in contravention of this Section. When the minor inmate reaches 18 years of age, he/she shall be subject to incarceration and education regime applicable to inmates aged 18 or older.

Article 74. Regime for management, education, study, vocation training, and work

1. A minor inmate shall be incarcerated under a separate regime suitable for his/her health, gender and personal characteristics.

2. Prisons shall provide academic education, legal knowledge and vocation training for minor inmates suitable for their age, educational level, gender and health, and make necessary preparations for them to re-integrate into the community after they completely serve their full prison sentences. Prisons shall universalize primary and lower secondary education for every inmate. Primary education is compulsory to inmates who have not finished their primary education programs.

Learning and vocational training programs for minor inmates shall be regulated by the Government.

3. Minor inmates are entitled to work in separate areas suitable for their age and exempt from doing heavy, dangerous jobs or jobs with exposure to toxic substances.

Article 75. Regime for board, clothing, healthcare, cultural and performance activities, entertainment

1. Minor inmates shall be provided with prescribed food and healthcare as the same as major inmates and their food rations may be increased but not exceeding 20% of the standard rations.

2. Apart from the standards for clothing and personal belongings as similar to major inmates, minor inmates may be provided with additional uniform clothing and other personal belongings as prescribed.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

4. The Government shall elaborate this Article.

Article 76. Regime for visits of and communication with relatives

1. Minor inmates may meet their relatives up to 3 times a month for no more than 3 hours. According to the inmate’s performance grade and requirements for education and rehabilitation, working and study achievements of inmates, the superintendent of prison shall consider granting extension of the visit duration but not exceeding 24 hours.

Minor inmates who are commended may meet their relatives one more time in 1 month.

2. Minor inmates may have domestic telephone conversations with their relatives 4 times a month for not more than 10 minutes each, under supervision of the prison officers and at their own expenses.

3. The state encourages relatives of minor inmates to send them books, school supplies, sporting and recreation equipment.

Chapter IV

EXECUTION OF THE DEATH SENTENCE

Article 77. Decision to execute the death sentence

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

2. Within 3 working days after issuing a decision to execute the death sentence, the court shall send it to the following agencies:

a) The same-level procuracy and criminal judgment execution agency;

b) The detention center where the sentenced person is held:

c) The Department of Justice of the province where the issuing court is based.

Article 78. Decision to form a death sentence execution council

1. Immediately after issuing a decision to execute the death sentence, the chief judge of the issuing court shall send a written request to the chief procurator of the same-level procuracy and the head of the criminal judgment execution agency of the provincial-level police department or of military zone to appoint representatives to participate in the death sentence execution council. Within 3 working days after receiving the request, the chief procurator of the same-level procuracy and the head of the criminal judgment execution agency of the provincial-level police department or of military zone shall appoint representatives in writing to participate in the death sentence execution council.

2. Within 3 working days after receiving the written appointment of representatives to participate in the death sentence execution council as prescribed in Clause 1 hereof, the chief judge of the court which issued the judgment execution decision shall issue a decision to form a death sentence execution council. A decision to form a death sentence execution council must clearly indicate the date of issuance, full name and position of the decision maker; ground for issuing the decision; and full names and positions of council members.

3. The death sentence execution council shall be composed of:

a) The council president who is the chief judge or deputy chief judge of the court which issued the judgment execution decision;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

c) The head or deputy head of the same-level criminal enforcement agency.

4. A secretary who is an official or public employee of the court appointed by the competent chief judge to assist the death sentence execution council.

Article 79. Tasks and powers of a death sentence execution council

1. A death sentence execution council has the following tasks and powers:

a) Decide the plan and make necessary preparations for ensuring the execution;

b) Examine eligibility requirements for the person to be executed as required by the Penal Code and the Criminal Procedure Code; issue a decision to postpone the execution and report it to the chief judge of the court having issued the execution decision, if the sentenced person is ineligible for execution;

c) Request related agencies and organizations to provide information and documents necessary for the execution; to request the people's armed forces unit, agencies and organizations to assist in assuring safety for the execution when necessary;

d) Administer the execution according to plan;

dd) Notify the execution result to the criminal judgment execution management agency;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

2. The president of the death sentence execution council shall hold a meeting to announce decisions related to the execution, decide the lime of execution; contents to be kept secret; conditions to ensure the implementation of the execution plan; and the burial location in case receipt of the corpse is disallowed or there is no petition for receipt of the corpse. The meeting must be recorded in a report to be included in the death sentence execution dossier.

Article 80. Death sentence execution dossier

1. A death sentence execution dossier shall consist of:

a) A legally effective first-instance judgment; an appellate judgment if the first-instance judgment is appealed;

b) A decision on cassation trial or reopening trial (if any);

c) A decision on non-appeal of the Chief Justice of the Supreme People’s Court and a decision on non-appeal of the Chief Procurator of the Supreme People’s Procuracy;

d) A copy of the decision on refutation of mercy petition for commutation of death sentence of the State President (if any);

dd) A decision to execute the death sentence;

e) A decision to form a death sentence execution council;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

h) A plan for execution of the death sentence;

i) A personal identification statement, fingerprint sheet, inspection report of identity of the person sentenced to death;

k) An inspection report verifying that the person sentenced to death does not fall under the case prescribed in Clause 3 Article 40 of the Criminal Code;

l) Documents relevant to the stay of execution of the death sentence (if any);

m) A report on autopsy of the executed inmate;

n) 1 photo of the executed inmate;

o) A report on execution of the death sentence;

p) A report on result of execution of the death sentence;

q) Other relevant documents.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

Article 81. Stay of execution of the death sentence

1. A death sentence execution council may decide to stay execution of the death sentence in the following cases:

a) The sentenced person falls into a case specified in Clause 3 Article 40 of the Penal Code;

b) There is a force majeure event or objective hindrance;

c) Immediately before the execution, the sentenced person reports new circumstances of the crime.

2. When deciding to stay execution of the death sentence, the council must make a report clearly indicating the hour, date and place of execution; full names and positions of the council members; and reason for the stay of execution. The minutes must be signed by all council members and included in the death sentence execution dossier and reported to the chief judge of the court which has issued the execution decision, the chairman of the provincial-level or military zone-level procuracy and the provincial-level or military zone-level criminal judgment execution agency.

3. The criminal execution and judicial assistance police or judicial guard shall escort and deliver the person whose execution is stayed to the detention center for continued incarceration. The delivery and receipt of the person whose execution is stayed shall be recorded in a minutes.

4. If the sentenced person falls into a case under Point a, Clause 1 of this Article, the councils for execution of the death sentence shall stay execution of the sentence and report the chief judge of the court which issued the judgment execution decision to report the Chief Justice of the Supreme People’s Court for consideration.

For cases of stayed execution under Points b and c Clause 1 of this Article, when the reason for stay no longer exists, the chief judge of the court which has issued the execution decision shall request the death sentence execution council to proceed with the execution. In case of change of a council member, the chief judge of the court which has issued the execution decision shall decide the addition of the council member or form a death sentence execution council under Article 78 of this Law.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

1. The death sentence shall be executed by lethal injection. The process of lethal injection shall be stipulated by the Government.

2. Prior to execution, the death sentence execution council shall examine the personal identification statement, fingerprint sheet and personal history records of the person to be executed; in case the person to be executed is a female, the council shall examine all documents related to conditions for non-execution as prescribed by the Penal Code.

3. Prior to being taken out for execution, the sentenced person shall be given food and drink, be entitled to write letters and have his/her messages recorded for sending to his/her relatives.

4. The death sentence shall be executed in the following order:

a) Pursuant to the death sentence execution decision and request of the president of the death sentence execution council, the criminal execution and judicial assistance police or judicial guard shall escort the person to be executed to the working place of the death sentence execution council;

b) At the request of the death sentence execution council, a professional officer of the people's police or army shall press the fingerprints, check the personal identification statement and fingerprint sheet and compare them with related dossiers and documents; take photo and record video of the process of carrying out the procedures of taking the fingerprints, checking and making a minutes; and report checking results to the death sentence execution council;

c) The president of the death sentence execution council shall announce the death sentence execution decision, the non-appeal decision of the Chief Justice of the Supreme People's Court and the non-appeal decision of the Chief Procurator of the Supreme People's Procuracy, the decision of the Council of Judges of the Supreme People's Court rejecting the appeal of the Chief Justice of the People's Supreme Court or the Chief Procurator of the Supreme People's Procuracy, the decision of the State President rejecting the petition for death sentence commutation.

Immediately after the president of the death sentence execution council announces the decisions, the criminal execution and judicial assistance police or judicial guard shall hand over these decisions to the person to be executed for reading. If such person does not know Vietnamese or cannot read these decisions, the death sentence execution council shall appoint a person to read or translate these decisions to such person. The process of announcing and reading the decisions shall be photographed, recorded in video or audio and included in the death sentence execution dossier;

d) By the order of the president of the death sentence execution council, professional officers of the provincial-level or military zone-level criminal judgment execution agency shall execute the sentence and report the result to the council president;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

e) The death sentence execution council shall make a report of the execution; report on the process and result of the execution to the Supreme People's Court, the Supreme People's Procuracy, and the criminal judgment management agency. The provincial-level or military zone-level criminal judgment execution agency shall register the death at the commune-level People's Committee of the place in which the execution is carried out;

g) The criminal judgment execution agency of the provincial-level police department or military zone shall preserve the corpse of the executed person, hold burial and draw a map of the grave. The commune-level People's Committee of the place in which the execution was carried out shall cooperate with the criminal judgment execution agency of the provincial-level police department or military zone in the burial and management of the grave of the executed person;

h) Within 3 days after the execution is carried out, the criminal judgment execution agency of the provincial-level police department or military zone shall inform relatives of the executed person of his/her death, except for the case specified in Clause 1, Article 83 of this Law.

Article 83. Settlement of petitions for receiving corpses, ashes and mortal remains of executed persons

1. Within 3 working days from the date of decision to execute the death sentence, the chief judge of the court which issued the judgment execution decision shall notify relatives or representatives of the executed person in writing for them to make a petition for receipt of corpse of the executed person. Within 3 working days after receiving such notice, the request for receipt of corpse of the executed person shall be submitted the chief judge of the court which issued the notice. The petition for receipt of corpse of the executed person shall specify full name and address of the recipient of the corpse; relationship with the executed person; commitment to ensure security, order and environmental sanitation requirements and to pay all arising expenses. The petition must be certified by the commune-level People's Committee of the place of his/her residence; if the sentenced person is a foreigner, such petition must be certified by a competent agency or a Vietnam-based representative mission of the country of which the sentenced person is a citizen, and be translated into Vietnamese.

2. Within 3 working days after receiving the petition for receipt of corpse of the executed person, the chief judge of the court which issued the judgment execution decision shall notify in writing whether to permit or reject the petition. The petition is rejected, the chief judge must provide explanation in writing.

3. Three working days before executing the death sentence, the chief judge of the court which issued judgment execution decision shall send a written notice to the criminal judgment execution agency of provincial-level police department or of military zone to give the corpse of the executed person for burial or hold a burial for the executed person.

4. If the chief judge of the court which issued the decision to form the death sentence execution council permits the petition, but the death sentence execution council considers that, during the execution process, there is a ground to believe that receipt of the corpse would affect security and order, it may reject the petition and notify the relatives of such rejection and assign the criminal judgment execution agency of provincial-level police department or of military zone shall hold a burial and report the chief judge of the court.

5. The criminal judgment execution agency of provincial-level police department or of military zone shall notify the petitioner as soon as practicable after the execution of receiving the corpse for burial. The delivery and receipt of the corpse shall be carried out within 24 hours after the notification by the criminal judgment execution agency of provincial-level police department or of military zone. The delivery and receipt of the corpse shall be recorded in a minutes signed by the delivering and receiving persons. After this time limit, if the petitioner fails to receive the corpse, the criminal judgment execution agency of the provincial-level police department or military zone shall hold a burial for such executed person.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

7. In a case where the criminal judgment execution agency of provincial-level police department or of military zone hold a burial for the executed person, 3 years after the date of execution, relatives or lawful representative of the executed person may send a petition to the criminal judgment execution agency of provincial-level police department or of military zone for receiving the executed person’s mortal remains. Such petition must clearly indicate the full name and address of the person to receive the remains, relationship with the executed person; and commitments to meet security, order and environmental sanitation requirements and to pay all arising expenses. The petition must be certified by the commune-level People's Committee of the place of his/her residence; if the sentenced person is a foreigner, such petition must be certified by a competent agency or a Vietnam-based representative mission of the country of which the sentenced person is a citizen, and be translated into Vietnamese. Within 7 days after receiving the petition the criminal judgment execution agency of the provincial-level police department or military zone shall consider and settle it.

Chapter V

EXECUTION OF SUSPENDED SENTENCE, WARNING PENALTY AND COMMUNITY SENTENCE

Section 1. EXECUTION OF SUSPENDED SENTENCE

Article 84. Decision to execute a suspended sentence

1. A decision to execute a sentence must clearly indicate the full name of the decision maker; the judgment or decision to be executed; name of the agency responsible for the execution; full name, date of birth and place of residence of the person serving the suspended sentence; the imprisonment sentence and probation period to be served by such person; additional penalty(ies) except for fines; penalties for probation violation prescribed in Clause 5 Article 65 of the Criminal Code; the commune-level People's Committee or military unit assigned to supervise and educate such persons serving suspended sentence.

2. Within 3 working days after issuing a decision to execute a suspended sentence, the issuing court shall send the decision to the following individuals and agencies:

a) The person serving the suspended sentence and his/her representative if such person is a minor;

b) The same-level procuracy;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

d) The People’s Committee of commune or the military unit in charge of the persons serving suspended sentence;

dd) The Department of Justice of the province where the issuing court is based.

Article 85. Execution of decisions to execute suspended sentences

1. Within 3 working days after receiving the judgment execution decision, the criminal judgment execution agency of the district-level police office or military zone shall summon the person serving the suspended sentence or a lawful representative of the minor serving suspended sentence to the head office of the commune-level People's Committee of the place in which such person resides or the military unit for which such person works and he/she shall commit to serve the sentence. The person serving suspended sentence or representative must present himself/herself upon the summons, except for force majeure events or objective hindrance. If the persons serving suspended sentence fails to present him/herself upon the summons or commit to serve the sentence, the criminal judgment execution agency of district-level police office or of military zone shall take a record of probation violation.

2. On receiving the judgment execution decision, the criminal judgment execution agency of district-level police office or of military zone shall prepare a judgment execution dossier and send a copy of dossier to the People’s Committee of commune or the military unit in charge assigned to supervise and educate the persons serving suspended sentence. Such dossier includes:

a) The legally effective court judgment or decision;

b) The decision to execute the suspended sentence;

c) Commitment of the person serving suspended sentence. If such person is between full 14 years and under 16 years old, his/her commitment must be certified by his/her lawful representative;

d) Other relevant documents.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

a) Copies of documents prescribed in Clause 2 of this Article;

b) Remark of the person serving suspended sentence’s compliance with probation conditions made by the People’s Committee of commune or the military unit in charge;

c) The self-evaluation of the person serving suspended sentence’s compliance with probation conditions; and a written self-criticism and a meeting minutes of formal criticism if the person serving suspended sentence is put on formal criticism as prescribed in Article 91 of this Law;

d) A decision on shortening probation period if the person serving suspended sentence is so granted by the court;

dd) Other relevant documents.

4. Three days before the probation period expires, the People’s Committee of commune or the military unit in charge shall hand over the dossier of the person serving suspended sentence to the criminal judgment execution agency of district-level police office or of military zone. On the final day of the probation period, the criminal judgment execution agency of district-level police office or of military zone in charge shall issue a certificate of complete serving of probation period. The certificate shall be sent to the person serving suspended sentence, the People’s Committee of commune or the military unit in charge, the court which issued the judgment execution decision, the same-level Procuracy and Department of Justice of province where the court which issued the judgment execution decision is based.

5. If the person serving suspended sentence dies, the People’s Committee of commune or military unit in charge shall report the criminal judgment execution agency of district-level police office or of military zone to notify the court which issued the judgment execution decision. Within 3 working days after receiving the notice, the court which issued the judgment execution decision shall issue a decision to terminate judgment execution and send it to the agencies prescribed in Points b, c, d, and dd Clause 2 Article 84 of this Law.

Article 86. Tasks and powers of the People’s Committee of commune or the military unit in charge of the persons serving suspended sentence

1. The People’s Committee of commune or the military unit in charge of a person serving suspended sentence has the following tasks and powers:

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

b) Require the person serving suspended sentence to fulfill his/her obligations; adopt education and prevention measures when he/she shows any sign of violation of law;

c) Commend the person serving suspended sentence for his/her considerable progress or great merits (if any);

d) Give approval for the person serving suspended sentence's absence from his/her place of residence as prescribed in this Law and law on residence;

dd) Cooperate with socio-political organizations, person serving suspended sentence’s family and places where the person serving suspended sentence works or studies in supervising him/her;

e) Report the criminal judgment execution agency of district-level police office to request the same-level court to consider shortening probation period;

g) Report the criminal judgment execution agency of district-level police office to request the competent court to compel the force the person serving suspended sentence who commits probation violation to serve the original prison sentence as prescribed in this Law;

h) Report on the escape of the person serving suspended sentence to the criminal judgment execution agency of district-level police office;

i) Make monthly remarks of the person serving suspended sentence’s compliance with the probation conditions and keep the dossier of supervision and education;

k) Report on the judgment execution result to the competent criminal judgment execution agency.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

3. The military unit in charge of a person serving suspended sentence has the following tasks and powers:

a) The tasks and powers prescribed in Points a, b, c, i and k Clause 1 hereof;

b) Cooperate with the People’s Committee of commune in giving approval for the person serving suspended sentence's absence from his/her place of residence as prescribed in this Law and law on residence;

c) Cooperate with the person serving suspended sentence’s family in supervising and educating him/her;

d) Report the criminal judgment execution agency of military zone to request the regional military court to consider shortening probation period;

dd) Report the competent criminal judgment execution agency to request the competent court to compel the force the person serving suspended sentence who commits probation violation to serve the original prison sentence as prescribed in this Law;

e) Report on the escape of the person serving suspended sentence to the criminal judgment execution agency of military zone.

Article 87. Obligations of persons serving suspended sentence

1. Present himself/herself upon the summons and commit to serve the sentence as prescribed in Clause 1 Article 85 of this Law.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

3. Submit to the supervision and education of the People’s Committee of commune or the military unit in charge, and the criminal judgment execution agency of district-level police office or of military zone where he/she resides or works.

4. Abide by regulations prescribed in Article 92 of this Law.

5. Present himself/herself at the request of the People’s Committee of commune or the military unit in charge, and the criminal judgment execution agency of district-level police office or of military zone.

6. Send monthly reports on compliance with his/her probation conditions to the People’s Committee of commune or the military unit in charge. If the person serving suspended sentence is absent from his/her place of residence as prescribed in Clause 1 Article 92 of this Law, he/she must send a report on compliance with his/her probation conditions upon the expiry of the absence period.

Article 88. Work and learning of persons serving suspended sentences

1. If a person serving a suspended sentence who is an official, public employee, commissioned officer, professional soldier, non­commissioned officer, soldier, defense worker, public security worker or another employee, is allowed to continue working at that workplace, he/she shall be given a job which meets supervision and education requirements, receive a pay and other benefits suitable to the job he/she performs, and this working duration shall be included in his/her working or service time under law.

2. If a person serving suspended sentence is admitted to study in a compulsory education institution or vocational education institution, he/she may benefit policies of such institution.

3. A person serving suspended sentence not falling under any case prescribed in Clause 1 and Clause 2 of this Article may be enabled to find a job by the People’s Committee of commune in charge.

4. A person serving suspended sentence who is eligible for preferences under the law on preferential treatment towards persons with meritorious services to the revolution or for social insurance benefits is still entitled to such benefits and policies as per the law.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

1. A person serving suspended sentence may request shortening of probation period when he/she:

a) has served a half of the probation period; and

b) has strictly complied with laws and regulations and probation conditions prescribed in Article 87 of this Law; has taken initiative in learning, working, redeeming his/her faults or making achievements in work, protecting security and order and has been commended by the competent authorities.

2. A person serving suspended sentence may have his/her probation period shortened once a year for 1 month to 1 year. If the remainder of the probation period is under 1 month, it may be eliminated. A person serving suspended sentence may have his/her probation period shortened multiple times provided that he/she in fact has served at least three-fourths of the probation period.

3. If a person serving suspended sentence has made merits or has suffered a fatal disease and he/she has satisfied all conditions prescribed in Clause 1 hereof, the court may eliminate the remainder of his/her probation period.

4. If a person serving suspended sentence has his/her probation period shortened but he/she commits probation violation as prescribed in Article 87 of this Law and the court compels him/her to serve the original prison sentence, the shortened period shall not be included in the serving time of the prison sentence.

Article 90. Procedures for shortening probation period imposed on persons serving suspended sentences

1. The People’s Committee of commune or the military unit in charge of a person serving a suspended sentence shall verify if he/she meets all conditions for shortening of the probation period as prescribed in Clause 1 Article 89 of this Law. If so, the People’s Committee of commune or the military unit in charge shall send a request for shortening of probation period enclosed with relevant documents to the criminal judgment execution agency of district-level police office or of military zone for consideration.

2. Within 7 days after receiving such a request, the criminal judgment execution agency of district-level police office shall send its request for shortening of probation period of eligible person enclosed with relevant documents to the same-level court and procuracy. If such person serving suspended sentence is not eligible for shortening of probation period, the criminal judgment execution agency of district-level police office shall notify the People’s Committee of commune in charge in writing of such ineligibility.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

3. A request dossier for shortening probation period shall comprise:

a) A written request for shortening probation period imposed on person serving suspended sentence;

b) A copy of the judgment. In case of consideration of the second-time shortening of the probation period, a copy of the suspended sentence execution decision is required instead;

c) A written request for shortening of the probation period made by the commune-level People's Committee or military unit assigned to supervise and educate the person serving the suspended sentence;

d) The commendation decision or certificate of merit issued by a competent agency, for those who have received commendation or made a great merit; or certification of fatal disease issued by at least a hospital of province or military zone, for those who have suffered a fatal disease;

dd) A copy of the decision to shorten the probation period, for those whose probation period was already shortened.

4. Within 7 days after receiving a dossier of request for shortening of the probation period, the chief judge of people’s court of district or military zone where the person serving suspended sentence resides or works shall form a council and hold a meeting to consider the request. The council is composed of 3 judges; the meeting must be attended by the procurator of the same-level procuracy. In case a dossier needs to be supplemented, the time limit for holding a meeting shall be counted from the date of receiving the supplemented dossier.

5. Within 3 days from the date on which the decision to accept totally or partially or not to accept the request for shortening of probation period is issued, the court must send that decision to the sentenced person, the same-level procuracy, the immediate superior Procuracy, the agency which requests shortening of probation period, the court which issued the decision on suspended sentence, the Department of Justice of province where the court which issued the decision on suspended sentence is based.

Article 91. Formal criticism against persons serving suspended sentence

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

a) He/she keeps breaching probation conditions prescribed in Clauses 2, 3, 4, 5, and 6 Article 87 of this Law though he/she has been warned in writing;

b) He/she has incurred a penalty for administrative violation.

2. The formal criticism shall be recorded in writing and included in the supervision dossier and reported to the criminal judgment execution agency of district-level police office or of military zone.

Article 92. Dealing with person serving suspended sentence’s change of place of residence or work

1. A person serving suspended sentence may be absent from his/her place of residence if he/she has justifiable grounds, obtains the permission as prescribed in Clause 2 hereof and make a declaration of temporary absence as prescribed in law on residence. The absence duration from place of residence shall not exceed 60 days each and total absence duration may not exceed one third of the probation period, unless the parolee has received treatment at a health facility due to his/her disease as prescribed by doctors and has been certified by that health facility.

2. When seeking permission for absence from place of residence, a person serving suspended sentence must submit a request for permission and obtain the permission from the People’s Committee of commune or the military unit in charge. If the request is rejected, the People’s Committee of commune or the military unit in charge must provided explanation in writing. When the person serving suspended sentence comes to the new place of residence, he/she must report his/her presence with the police office of the commune where he/she temporarily resides; upon expiry of the temporary residence duration, he/she must be certified by the People’s Committee of commune or police office of the commune. If the person serving suspended sentence commits a violation of law, the People’s Committee of commune where he/she temporarily resides shall send a notice enclosed with relevant documents to the People’s Committee of commune or the military unit in charge.

3. The person serving suspended sentence’s change of place of residence or work shall be dealt with in accordance with Article 68 of this Law.

4. A person serving suspended sentence may not leave Vietnam’s territory during his/her probation period.

Article 93. Actions against violations committed by persons serving suspended sentences

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

2. During the probation period, if a person serving suspended sentence who had been formally criticized as prescribed in Article 91 of this Law keeps breaching the probation condition and has been warned in writing, and then he/she still deliberately commits violation, the commune-level police office shall propose the People’s Committee of commune to request the criminal judgment execution agency of district-level police office to request the competent court to compel him/her to serve the original prison sentence.

3. Within 5 working days after receiving such a request, the criminal judgment execution agency of district-level police office shall make a dossier of request for forced serving of the original prison sentence to the people’s court of district for consideration and also to the same-level procuracy. Such dossier includes:

a) The request of the criminal judgment execution agency of district-level police office;

b) The report made by the People’s Committee of commune in charge specifying that the person serving suspended sentence having committed probation violations at least 2 times;

c) The record specifying the person serving suspended sentence’s probation violation;

d) The decision on penalty for administrative violation if the person serving suspended sentence incurred a penalty for administrative violation;

dd) The record of formal criticism against the person serving suspended sentence violating probation conditions;

e) Other relevant documents.

4. During the probation period, if a person serving suspended sentence who had been formally criticized as prescribed in Article 91 of this Law keeps breaching the probation condition and has been warned in writing, and then he/she still deliberately commits violation, the military unit shall take a violation record and propose the criminal judgment execution agency of military zone to request the competent court to compel him/her to serve the original prison sentence, and also send the request to the same-level procuracy. Such dossier includes:

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

b) The report made by the military unit in charge specifying that the person serving suspended sentence having committed probation violations at least 2 times;

c) The record specifying the person serving suspended sentence’s probation violation;

d) The decision on penalty for administrative violation if the person serving suspended sentence incurred a penalty for administrative violation;

dd) The record of formal criticism against the person serving suspended sentence violating probation conditions;

e) Other relevant documents.

5. Within 5 days after receiving a dossier of request for shortening of the probation period, the chief judge of people’s court of district or military zone where the person serving suspended sentence resides or works shall form a council and hold a meeting to consider issuing a decision to compel the serving of the original prison sentence. The council is composed of 3 judges; the meeting must be attended by the procurator of the same-level procuracy. In case a dossier needs to be supplemented, the time limit for holding a meeting shall be counted from the date of receiving the supplemented dossier.

Within 3 working days after issuing a decision to cancel compel the serving of the original prison sentence, the issuing court shall send the decision to the individuals and agencies prescribed in Clause 2 Article 84 of this Law.

6. Within 3 working days from the effective date of the court decision, the criminal judgment execution agency of district-level police office or of military zone shall send the person serving suspended sentence concerned to serve his/her original prison sentence. If the person serving suspended sentence concerned escapes, the criminal judgment execution agency of district-level police office or of military zone shall request the competent criminal judgment execution agency to release a wanted notice.

If the court rejects the request for forced serving of original prison sentence, the criminal judgment execution agency of district-level police office or of military zone shall keep that decision and relevant documents to the suspended sentence execution dossier and send the decision to the People’s Committee of commune or military unit in charge for further supervision and education.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

1. Relevant agencies and organizations shall cooperate with the People’s Committee of commune or the military unit in charge in supervising and educating the persons serving suspended sentence.

2. Families of persons serving suspended sentence shall cooperate in supervising and educating these persons and notify the results of serving of the sentences by these persons to the commune-level People's Committees in charge upon request; and attend formal criticism meetings against persons serving suspended sentences upon request of the People’s Committee of commune or the military unit in charge.

Section 2. EXECUTION OF WARNING PENALTY

Article 95. Execution of the warning penalty

1. Within 7 days after the judgment becomes legally effective, the court which has conducted the first-instance trial shall send the judgment to the person receiving the warning penalty, the criminal judgment execution agency of the district-level police office or military zone, the commune-level People's Committee or the military unit in which he/she resides or works, and the Justice Department of province where the first instance court is based.

2. Criminal judgment execution agencies of district-level police offices or military zones shall conduct supervision and make statistics and reports under this Law.

Section 3. EXECUTION OF COMMUNITY SENTENCE

Article 96. Decision on execution of community sentence

1. A decision on execution of community sentence must clearly indicate the full name of the decision maker; the judgment to be executed; the full name, date of birth and place of residence of the sentenced person; the community sentence term; additional penalty(ies) except for fines; the name of the agency in charge of execution; the commune-level People's Committee or military unit assigned to supervise and educate the sentenced person.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

a) The sentenced person and his/her representative if the sentenced person is under 18 years of age;

b) The same-level procuracy;

c) The criminal judgment execution agency of the district-level police office of the place in which the person concerned resides or the criminal judgment execution agency of the military zone in which such person works;

d) The People’s Committee of commune or the military unit in charge of the sentenced person;

dd) The Department of Justice of the province where the issuing court is based.

Article 97. Execution of decision on execution of community sentence

1. Within 3 working days after receiving the community sentence execution decision, the criminal judgment execution agency of the district-level police office or military zone shall summon the sentenced person or a lawful representative of the minor sentenced person to the head office of the commune-level People's Committee of the place in which such person resides or the military unit for which such person works and he/she shall commit to serve the sentence. The sentenced person or representative must present himself/herself upon the summons, except for force majeure events or objective hindrance. If the sentenced person fails to present him/herself upon the summons or commit to serve the sentence, the criminal judgment execution agency of district-level police office or of military zone shall take a record of violation.

2. On receiving the community sentence execution decision, the criminal judgment execution agency of district-level police office or of military zone shall prepare a judgment execution dossier and send a copy of dossier to the People’s Committee of commune or the military unit in charge assigned to supervise and educate the sentenced person. Such dossier includes:

a) A legally effective court judgment or decision;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

c) Commitment of the sentenced person. If such person is between full 14 years and under 16 years old, his/her commitment must be certified by his/her lawful representative;

d) Other relevant documents.

3. Within 7 days after summoning the sentenced person, the commune-level People's Committee or military unit assigned to supervise and educate the sentenced person shall prepare a dossier of supervision and education of such person. Such dossier includes:

a) Copies of documents prescribed in Clause 2 of this Article;

b) Remark of the sentenced person’s performance of community order requirements made by the People’s Committee of commune or the military unit in charge;

c) The self-evaluation of the sentenced person’s compliance with community order requirements; and a written self-criticism and a meeting minutes of formal criticism if the sentenced person is put on formal criticism as prescribed in Article 105 of this Law;

d) A decision on reduction of or exemption from the duration of serving community sentence issued by the court if the sentenced person is so granted;

dd) Other relevant documents.

4. 3 days before the serving time expires, the People’s Committee of commune or the military unit in charge shall hand over the dossier of supervision and education of the sentenced person to the criminal judgment execution agency of district-level police office or of military zone. On the final day of the serving time of the community sentence, the criminal judgment execution agency of district-level police office or of military zone shall issue the sentenced person with a certificate of complete serving of community sentence. The certificate shall be sent to the sentenced person, the People’s Committee of commune or the military unit in charge, the court which issued the judgment execution decision, the same-level Procuracy and Department of Justice of province where the court which issued the judgment execution decision is based.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

Article 98. Tasks and powers of the People’s Committee of commune or the military unit in charge of the persons serving community sentence

1. The People’s Committee of commune in charge of a sentenced person has the following tasks and powers:

a) Prepare relevant dossier and supervise and educate the sentenced person and hand over the dossier to the competent criminal judgment execution agency as per this Law;

b) Require the sentenced person to fulfill his/her obligations; adopt education and prevention measures when he/she shows any sign of violation of law;

d) Give approval for the sentenced person's absence from his/her place of residence as prescribed in this Law and law on residence;

dd) Cooperate with socio-political organizations, sentenced person’s family and places where the sentenced person works or studies in supervising him/her;

e) Report the criminal judgment execution agency of district-level police office to request the competent court to consider reduction of or exemption from the duration of serving sentence;

g) Cooperate with the civil enforcement agency in deducting particle amount from the sentenced person's income and transferring it to state budget under a legally effective court decision;

h) Supervise the sentenced person when he/she performs community services;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

k) Make monthly remarks of the sentenced person’s compliance with community order requirements and keep the dossier of supervision and education;

l) Report on the judgment execution result to the competent criminal judgment execution agency.

2. Commune-level police offices shall advise and assist commune-level People's Committees in performing their tasks and powers as prescribed in Clause 1 of this Article.

3. The military unit in charge of a compliance with community order requirements has the following tasks and powers:

a) The tasks and powers prescribed in Points a, b, c, g, I, k and l Clause 1 hereof;

b) Cooperate with the People’s Committee of commune in giving approval for the sentenced person's absence from his/her place of residence as prescribed in this Law and law on residence;

c) Cooperate with the sentenced person’s family and the People’s Committee of commune in supervising and educating him/her;

d) Report the criminal judgment execution agency of military zone to request the competent court to consider reduction of or exemption from the duration of serving sentence.

Article 99. Obligations of persons serving community sentences

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

2. Strictly abide by law compliance statement, fulfill citizen obligations, international regulations of their places of residence or work; actively participate in labor and study; fulfill obligation to pay damages and serve the additional penalty(ies) under the court judgment.

3. Pay partial amount of income which is deducted; perform certain community services as per the law.

4. Submit to the supervision and education of the People’s Committee of commune or the military unit in charge, and the criminal judgment execution agency of district-level police office or of military zone where he/she resides or works.

5. Abide by regulations prescribed in Article 100 of this Law.

6. Present himself/herself at the request of the People’s Committee of commune or the military unit in charge, and the criminal judgment execution agency of district-level police office or of military zone.

7. Send monthly self-remarks of the sentenced person’s compliance with community order requirements to the People’s Committee of commune or the military unit in charge, except for the case prescribed in Clause 1 Article 100 of this Law.

Article 100. Dealing with the person serving community sentence’s absence from or change of the place of residence or work

1. A person serving community sentence may be absent from his/her place of residence if he/she has justifiable grounds, obtains the permission as prescribed in Clause 2 hereof and make a declaration of temporary absence as prescribed in law on residence. The absence duration from place of residence shall not exceed 30 days each and total absence duration may not exceed one third of the serving time, unless the sentenced person has received treatment at a health facility due to his/her disease as prescribed by doctors and has been certified by that health facility.

2. When seeking permission for absence from place of residence, a sentenced person must submit a request for permission and obtain the permission from the People’s Committee of commune or the military unit in charge. If the request is rejected, the People’s Committee of commune or the military unit in charge must provide explanation in writing. When the sentenced person comes to the new place of residence, he/she must report his/her presence with the police office of the commune where he/she temporarily resides; upon expiry of the temporary residence duration, he/she must be certified by the People’s Committee of commune or police office of the commune. If the sentenced person commits a violation of law, the People’s Committee of commune where he/she temporarily resides shall send a notice enclosed with relevant documents to the People’s Committee of commune or the military unit in charge.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

4. The sentenced person may not leave Vietnam’s territory during his/her serving time.

Article 101. Work and learning of persons serving community sentences

1. If a sentenced person who is an official, public employee, commissioned officer, professional soldier, non­commissioned officer, soldier, defense worker, public security worker or another employee, is allowed to continue working at that workplace, he/she shall be given a job which meets supervision and education requirements, receive a pay and other benefits suitable to the job he/she performs, and this working duration shall be included in his/her working or service time under law.

2. If a sentenced person is admitted to study in a compulsory education institution or vocational education institution, he/she may benefit policies of such institution.

3. A sentenced person not falling under any case prescribed in Clause 1 and Clause 2 of this Article may be enabled to find a job by the People’s Committee of commune in charge.

4. A sentenced person who is entitled to incentives for persons with meritorious services to the revolution or on social insurance scheme may keep benefiting those policies as per the law.

5. A sentenced person who has no employment or losses a job during his/her serving time is required to perform certain community services.

Within 3 working days from the date on which the sentenced person is determined as unemployed or losing his/her job, the commune-level police office shall report the same-level People’s Committee in writing; within 3 working days after receiving the report, the People’s Committee of commune shall report the criminal judgment execution agency of district-level police office.

Within 3 working days after receiving the report of the People’s Committee of commune, the criminal judgment execution agency of district-level police office shall consider forcing the sentenced person to perform certain community services.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

Based on the decision to force the sentenced person to perform certain community services, the People’s Committee of commune shall assign the sentenced person certain community services under the supervision of the commune-level police office.

Article 102. Reduction of the duration of serving community sentences

1. The sentenced person may be granted the reduction of the duration of serving sentence by the People’s Court of district or regional military court when he/she:

a) has served one third of the serving time; or one fourth of the serving time in case of a minor;

b) has strictly complied with laws and regulations and probation conditions prescribed in Article 99 of this Law; has taken initiative in learning, working, redeeming his/her faults or making achievements in work, protecting security and order and has been commended by the competent authorities;

c) has paid partial civil damages if he/she incurs civil liability.

2. The sentenced person shall be considered for reduction of the duration of serving prison sentence once a year, with 3 to 9 months for each reduction.

3. The sentenced person may be granted reduction of the duration of serving prison sentence multiple times provided that he/she has served a half of the sentence in fact, or two-fifths of the sentence in case of a minor.

4. A sentenced person who has made merits, is a decrepit old person or has suffered a fatal disease and has served one-fourth of the sentence may be considered for reduction of the duration of serving sentence, with up to 1 year for each reduction provided that he/she has served two-fifths of the sentence.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

Article 103. Procedures for reduction of the duration of serving community sentences

1. The People’s Committee of commune or the military unit in charge of a sentenced person shall verify if he/she meets all conditions for reduction of the duration of serving sentence as prescribed. If so, the People’s Committee of commune or the military unit in charge shall send a request for reduction of the duration of serving sentence enclosed with relevant documents to the criminal judgment execution agency of district-level police office or of military zone for consideration.

2. Within 7 days after receiving such a request, the criminal judgment execution agency of district-level police office shall send its request for reduction of the duration of serving sentence of eligible persons enclosed with relevant documents to the same-level court and procuracy. If such sentenced person is not eligible for reduction of the duration of serving sentence, the criminal judgment execution agency of district-level police office shall notify the People’s Committee of commune in charge in writing.

Within 7 days after receiving such a request, the criminal judgment execution agency of military zone shall send its request for reduction of the duration of serving sentence of eligible person enclosed with relevant documents to the regional military court and procuracy. If such sentenced person is not eligible for reduction of the duration of serving sentence, the criminal judgment execution agency of military zone shall notify the military unit in charge in writing.

3. A request dossier for reduction of the duration of serving sentence shall include:

a) A request for reduction of the duration of serving sentence made by the sentenced person;

b) A copy of the judgment. In case of consideration of the second-time reduction of the duration of serving sentence, a copy of judgment execution decision is required instead;

c) The request for reduction of the duration of serving sentence made by the People’s Committee of commune or the military unit in charge of the sentenced person;

d) The commendation decision or certificate of merit issued by a competent agency, for those who have received commendation or made a great merit; or certification of fatal disease issued by at least a hospital of province or military zone, for those who have suffered a fatal disease; document proving that they have fulfilled a part of civil liability;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

e) Other relevant documents.

4. Within 07 days after receiving a request dossier for reduction of the duration of serving the prison sentence, the chief judge of people's court of district or the chief Judge of military court of the military zone in which the sentenced person resides or work shall establish a council and hold a meeting to consider the request for reduction of the duration of serving community sentence. The council is composed of 3 judges; the meeting must be attended by the procurator of the same-level procuracy. In case a dossier needs to be supplemented, the time limit for holding a meeting shall be counted from the date of receiving the supplemented dossier.

5. Within 3 working days after issuing a decision to wholly, partially accept or not accept the reduction of duration of serving the sentence, the court shall send this decision to the sentenced person concerned, the requesting agency, the same-level procuracy, the immediate superior procuracy, the court which has issued the judgment execution decision and the provincial-level Justice Department of the place in which such court is based.

Article 104. Procedures for exemption from the duration of serving community sentence

1. The people’s procuracy of district-level police office or of military zone where the sentenced person resides or works shall, at their discretion or at the request of the criminal judgment execution agency of district-level police office or of military zone, send a request dossier to the same-level procuracy court for exemption from serving sentence. Such dossier includes:

a) A copy of the legally effective court judgment;

b) The written request of the chief procurator;

c) A request made by the criminal judgment execution agency if this agency makes such a request;

d) A request for exemption from serving sentence made by the sentenced person or his/her representative as per the law;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

2. Within 15 days after receiving a dossier prescribed in Clause 1 hereof, the chief judge shall establish a council and hold a meeting to consider the request for exemption from serving sentence. The council is composed of 3 judges; the meeting must be attended by the procurator of the same-level procuracy. In case a dossier needs to be supplemented, the time limit for holding a meeting shall be counted from the date of receiving the supplemented dossier.

3. Within 3 working days after issuing a decision to exempt the duration of serving the sentence, the court shall send this decision to the sentenced person concerned, , the immediate superior procuracy, the same-level criminal judgment execution agency, the court which has issued the judgment execution decision and the People’s Committee of commune or military unit in charge or Department of Justice of province where the court which issued the decision is based.

Article 105. Actions against violations committed by persons serving community sentences

1. If the sentenced person deliberately violates the terms of community sentence as prescribed in Article 99 of this Law, the commune-level police office or military unit shall take a violation report. If two violation reports have been taken but the sentenced person still violates the terms of community sentence, the commune-level police office shall request the People’s Committee of commune in charge to hold a formal criticism against him/her; if the sentenced person is supervised by a military unit, such military unit shall hold a formal criticism against him/her.

The formal criticism shall be recorded in writing and included in the supervision dossier and reported to the criminal judgment execution agency of district-level police office or of military zone.

2. A sentenced person who was formally criticized but still intentionally violates the terms of community sentence as prescribed in Article 99 of this Law, he/she shall not be considered for reduction of the duration of serving sentence. Depending on nature and severity of the violation, the People’s Committee of commune or the military unit in charge shall request the competent authority to impose an administrative penalty or bring criminal prosecution against him/her.

Article 106. Responsibilities of agencies, organizations, families of persons serving community sentence in supervision and education

1. Relevant agencies and organizations shall cooperate with the People’s Committee of commune or the military unit in charge in supervising and educating the sentenced person.

2. Families of sentenced persons shall cooperate in supervising and educating these persons and notify the results of serving of the sentences by these persons to the commune-level People's Committees in charge upon request; and attend formal criticism meetings against persons serving suspended sentences upon request of the People’s Committee of commune or the military unit in charge.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

EXECUTION OF PROHIBITION FROM RESIDENCE SENTENCE, MANDATORY SUPERVISION

Section 1. EXECUTION OF PROHIBITION FROM RESIDENCE SENTENCE

Article 107. Procedures for execution of prohibition from residence sentence

1. Two months before the expiration of the term of the prison sentence against an inmate subject to the additional penalty of prohibition from residence, the superintendent of the prison or detention center or the head of the criminal judgment execution agency of the provincial-level police department or military zone shall notify such in writing the criminal judgment execution agency of the district-level police office of the place to which such person will come to reside and of the place in which he/she is prohibited from residing and the commune-level People's Committees of the place in which such person will come to reside and of the place in which he/she is prohibited from residing.

2. Immediately after an inmate subject to the additional penalty of prohibition from residence completely serves his/her full prison sentence, the prison or detention center or the criminal judgment execution agency of the district-level police office or military zone of the place in which he/she has served the sentence shall send a certificate of complete serving of the prison sentence or a copy of the judgment and a copy of the judgment execution decision to the criminal judgment execution agency of the district-level police office of the place in which the sentenced person will come to reside.

3. Within 5 working days after receiving documents specified in Clause 2 of this Article, the criminal judgment execution agency of the district-level police office of the place in which the sentenced person will come to reside shall compile and hand over a prohibition from residence sentence execution dossier to the commune-level People's Committee of the place in which such person will come to reside and of the place in which he/she is prohibited from residing. Such a dossier comprises:

a) A copy of the legally effective court judgment;

b) A copy of the decision to execute the prison sentence;

c) The certificate of complete serving of the prison sentence;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

4. Within 7 days after receiving the required documents prescribed in Clause 3 of this Article, the People’s Committee of commune where the sentenced person resides shall summon the sentenced person and require him/her to make a commitment to serve the sentence and prepare a dossier of supervision and education of such sentenced person. Such a dossier comprises:

a) Documents prescribed in Clause 3 of this Article;

b) A commitment of the sentenced person; remarks of the sentenced person’s performance during prohibition from residence sentence;

c) A report on violation of the sentenced person (if any);

d) A decision on penalty for administrative violation against the sentenced person (if any);

dd) A court decision on exemption from serving the remainder of the prohibition from residence sentence (if any);

e) Other relevant documents.

5. Three days before the expiration of the prohibition from residence term after receiving a decision on exemption from serving the remainder of the prohibition from residence sentence, the commune-level People's Committee shall deliver the judgment execution dossier to the criminal judgment execution agency of the district-level police office for granting a certificate of complete serving of the prohibition from residence sentence. Such certificate shall be sent to the sentenced person, the commune-level People's Committee of the place in which he/she resides, the court which has issued the judgment execution decision and the provincial-level Justice Department of the place in which the certificate-granting criminal judgment execution agency is based.

6. If the sentenced person dies, the People’s Committee of commune where the sentenced person resides shall report the criminal judgment execution agency of district-level police office to notify the court which issued the judgment execution decision. Within 3 working days after receiving the notice, the court which issued the judgment execution decision shall issue a decision to terminate judgment execution and send it the same-level procuracy, criminal judgment execution agency of district-level police office or of military zone, the People’s Committee of commune where the sentenced person resides and where the sentenced person is prohibited from residing, and Department of Justice of province where the court which issued the decision is based.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

1. A commune-level People's Committee of the place in which a sentenced person comes to reside has the following tasks and powers:

a) Receive the dossier and organize supervision and education of the sentenced person; to enable him/her to work and learn in normal condition;

b) Summon the sentenced person to notify the execution of sentence; inform rights and obligations and regulations relevant to the execution of sentence;

c) Give remarks in writing and keep dossier of the sentenced person’s serving of prohibition from residence sentence;

d) Require the sentenced person to commit and fulfill his/her obligations; adopt education and prevention measures when he/she shows any sign of violation of law;

dd) Report the criminal judgment execution agency of district-level police office to request the competent court to consider exemption from the remainder of prohibition from residence sentence;

e) Report on the judgment execution result to the competent criminal judgment execution agency.

2. Commune-level police offices shall advise and assist commune-level People's Committees in performing their tasks and powers as prescribed in Clause 1 of this Article.

Article 109. Rights and obligations of persons serving prohibition from residence sentence

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

a) Travel to places in which they are prohibited from residing when having a plausible reason and obtaining approval of commune-level People's Committees of these places. The duration of each sojourn shall be decided by commune-level People's Committees of places of destination but must not exceed 5 days;

b) Be considered for exemption from serving the prohibition from residence sentence proposed by the People’s Committee of commune where he/she resides as per the law.

2. A person serving prohibition from residence sentence shall have the following obligations:

a) Refrain from residing in areas in which they are prohibited from residing, except for Point a Clause 1 of this Article;

b) Strictly abide by his/her commitment to comply with law;

c) Present himself/herself at the request of the People’s Committee of commune where the sentenced person resides.

Article 110. Procedures for exemption from serving the remainder of the prohibition from residence sentence

1. At the request of the commune-level People's Committee of the place in which a person serving prohibition from residence sentence comes to reside as such person has met all conditions prescribed in Clause 6 Article 62 of the Criminal Code, the criminal judgment execution agency of the district-level police office shall compile a dossier to request the court at the same level to consider exemption from serving the remainder of the prohibition from residence sentence, and send a copy of dossier to the same-level procuracy. Such a dossier comprises:

a) A copy of the legally effective court judgment or decision; a copy of the judgment execution decision;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

c) The written request of the criminal judgment execution agency of the district-level police office;

d) A petition of the person serving prohibition from residence for the exemption;

dd) Other relevant documents.

2. Within 15 days after receiving a dossier prescribed in Clause 1 hereof, the chief judge shall establish a council and hold a meeting to consider the request for exemption from the remainder of the prohibition from residence sentence. The council is composed of 3 judges; the meeting must be attended by the procurator of the same-level procuracy. In case a dossier needs to be supplemented, the time limit for holding a meeting shall be counted from the date of receiving the supplemented dossier.

3. Within 3 working days after issuing a decision to exempt the remainder of the prohibition from residence sentence, the court shall send this decision to the sentenced person concerned, the same-level procuracy, the immediate superior procuracy, the same-level criminal judgment execution agency, the court which has issued the judgment execution decision and the People’s Committee of commune where he/she resides or Department of Justice of province where the court which issued the decision is based.

Article 111. Actions against persons violating the terms of prohibition from residence sentence

1. If the sentenced person comes to reside without permission or resides longer than the length of time he/she is allowed to reside, the Chief of police office or the president of People’s Committee of commune shall impose an administrative penalty on him/her within their competence, compel him/her to leave the commune and notify the People’s Committee of commune where the sentenced person resides.

2. If the sentenced person fails to fulfill obligations prescribed in Point b and Point c Clause 2 Article 109 of this Law, he/she shall not be considered for exemption from the remainder of the prohibition from residence sentence.

Section 2. EXECUTION OF MANDATORY SUPERVISION

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

1. Two months before the expiration of the term of the prison sentence against an inmate subject to the additional penalty of mandatory supervision, the superintendent of the prison shall notify such in writing as prescribed in Clause 1 Article 46 of this Law to the criminal judgment execution agency of the district-level police office and the commune-level People's Committee of the place in which the inmate comes to reside for serving the mandatory supervision.

2. After an inmate subject to the additional penalty of mandatory supervision completely serves the prison sentence, the prison shall hand over the person subject to mandatory supervision together with copies of the judgment and judgment execution decision, the certificate of complete serving of the prison sentence, written assessment of results of the serving of the prison sentence and related documents to the criminal judgment execution agency of the district-level police office at the office of the commune-level People's Committee of the place in which such person will come to reside. The criminal judgment execution agency of the district-level police office shall immediately hand over such person to the commune-level People's Committee for supervision and education.

3. Within 5 working days after receiving the sentenced person, the criminal judgment execution agency of the district-level police office shall compile and deliver a mandatory supervision execution dossier to the commune-level People's Committee. Such a dossier comprises:

a) A copy of the legally effective court judgment;

b) A copy of the decision to execute the prison sentence;

c) The certificate of complete serving of the prison sentence;

c) A minutes on the handover of the person subject to mandatory supervision;

dd) Documents on the process of the serving of the prison sentence and other related documents.

4. Within 7 days after receiving the required documents prescribed in Clause 3 of this Article, the People’s Committee of commune where the sentenced person resides shall summon the sentenced person and require him/her to make a commitment to serve the sentence and prepare a dossier of supervision and education of such sentenced person. Such a dossier comprises:

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

b) Commitment of the person subject to mandatory supervision;

c) Remarks of sentenced person’s performance of mandatory supervision;

d) A report on violation of the sentenced person (if any);

dd) A decision on penalty for administrative violation against the sentenced person (if any);

e) A court decision on exemption from serving the remainder of the prohibition from residence sentence (if any);

g) Other relevant documents.

5. Three days before the expiration of the mandatory supervision term or within three days after receiving a decision on exemption from serving the remainder of the mandatory supervision, the commune-level People's Committee shall deliver the judgment execution dossier to the criminal judgment execution agency of the district-level police office for granting a certificate of complete serving of the mandatory supervision. Such certificate shall be sent to the sentenced person, the commune-level People's Committee of the place in which he/she resides, the court which has issued the judgment execution decision and the provincial-level Justice Department of the place in which the certificate-granting criminal judgment execution agency is based.

6. If the sentenced person dies, the People’s Committee of commune where the sentenced person resides shall report the criminal judgment execution agency of district-level police office to notify the court which issued the judgment execution decision. Within 3 working days after receiving the notice, the court which issued the judgment execution decision shall issue a decision to terminate judgment execution and send it the criminal judgment execution agency of district-level police office, the same-level procuracy, the People’s Committee of commune where the sentenced person resides, and Department of Justice of province where the court which issued the decision is based.

Article 113. Tasks and powers of commune-level People's Committees of places in which person subject to mandatory supervision comes to reside

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

a) Receive the sentenced person and the mandatory supervision execution dossier; organize supervision and education of the sentenced person; enable him/her to normally work and learn in the place of mandatory supervision; make a written remark of the process of the serving of the sentence to be included in the supervision dossier;

b) Summon the sentenced person to notify the execution of sentence; inform rights and obligations and regulations relevant to the execution of sentence;

c) Request the sentenced person to commit and fulfill his/her obligations and fulfill such obligations; take educational and preventive measures when he/she shows signs of law violation; to summon him/her when necessary; to grant permission for him/her to leave the place of mandatory supervision under Article 115 of this Law;

d) Make and send a written remark of the process of the serving of the sentence to the criminal judgment execution agency of the district-level police office once every 3 months;

dd) Report the criminal judgment execution agency of district-level police office to request the competent court to consider exemption from the remainder of mandatory supervision;

e) Report on the judgment execution result to the competent criminal judgment execution agency.

2. Commune-level police offices shall advise and assist commune-level People's Committees in performing their tasks and powers as prescribed in Clause 1 of this Article.

Article 114. Rights and obligations of persons serving mandatory supervision

1. A person subject to mandatory supervision shall have the following rights:

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

b) Choose appropriate jobs, except for occupations, sectors or jobs which they are banned from doing or working as specified by law; to enjoy their labor fruits.

c) freely travel within communes, wards or townships of mandatory supervision;

d) Be considered for exemption from the serving of the remainder of the mandatory supervision under Article 117 of this Law.

2. A person subject to mandatory supervision shall have the following obligations:

a) Submit to the supervision and education of the commune-level People’s Committee of commune and local people; refrain from leaving the place of mandatory supervision without permission;

b) Present him/herself and report on his/her observance of mandatory supervision rules to the commune-level People's Committee in the place of mandatory supervision once in the first week of a month;

c) Be present at a prescribed place when summoned by the commune-level People's Committee or to give a plausible reason in case of absence;

d) Strictly observe policies, laws and regulations of the local administration; to actively work, learn and reform him/herself into a person useful for the society;

dd) Declare his/her permitted temporary absence from the place of mandatory supervision; present him/herself, produce the written permission and register his/her temporary residence or sojourn with the commune-level police office of the place of destination under regulations; return to the place of mandatory supervision within the prescribed time limit and present him/herself to the commune-level People's Committee.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

1. When having a plausible reason, a person subject to mandatory supervision may be permitted to leave his/her place of mandatory supervision. The competence to grant permission is as follows:

a) The chairperson of the commune-level People's Committee in the place of mandatory supervision shall grant permission for travel within the district of the place of mandatory supervision;

b) The head of the criminal judgment execution agency of the district-level police office shall grant permission for travel within the province of the place of mandatory supervision;

c) The head of the criminal judgment execution agency of the provincial-level police department shall grant permission for travel out of the province of the place of mandatory supervision.

2. The duration in which a person subject to mandatory supervision is permitted to be absent from the place of mandatory supervision shall be decided by the person competent to grant the permission but must not exceed 10 days. In case such person needs medical treatment, his/her duration of absence from the place of mandatory supervision may be equal to the duration of medical treatment at a health facility.

Article 116. Actions against persons violating the mandatory supervision rules

1. If the sentenced person deliberately violates the mandatory supervision rules as prescribed in Clause 2 Article 144 of this Law, the commune-level police office or military unit shall take a violation report and include it in the judgment execution dossier.

2. The person subject to mandatory supervision leaves the place of mandatory supervision without justifiable reasons, the leaving duration shall not be included in the serving time of mandatory supervision.

The person subject to mandatory supervision who violates the obligations prescribed in Clause 2 Article 114 of this Law shall, depending on nature and severity of the violation, face penalties for administrative violations or criminal prosecution.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

1. At the request of the commune-level People's Committee of place of mandatory supervision as such person has met all conditions prescribed in Clause 6 Article 62 of the Criminal Code, the criminal judgment execution agency of the district-level police office shall compile a dossier to request the court at the same level to consider exemption from serving the remainder of the mandatory supervision, and send a copy of dossier to the same-level procuracy. Such a dossier comprises:

a) A copy of the legally effective court judgment or decision; a copy of the judgment execution decision;

b) The written request of the commune-level People's Committee of the place of mandatory supervision;

c) The written request of the criminal judgment execution agency of the district-level police office;

d) A petition of the person subject to the mandatory supervision for exemption from serving the sentence;

dd) Other relevant documents.

2. Within 15 days after receiving a dossier prescribed in Clause 1 hereof, the chief judge shall establish a council and hold a meeting to consider the request for exemption from the remainder of the mandatory supervision. The council is composed of 3 judges; the meeting must be attended by the procurator of the same-level procuracy. In case a dossier needs to be supplemented, the time limit for holding a meeting shall be counted from the date of receiving the supplemented dossier.

3. Within 3 working days after issuing a decision to exempt the remainder of mandatory supervision, the court shall send this decision to the sentenced person concerned, the same-level procuracy, the immediate superior procuracy, the same-level criminal judgment execution agency, the court which has issued the judgment execution decision and the People’s Committee of commune of place of mandatory supervision or Department of Justice of province where the court which issued the decision is based.

Chapter VII

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

Article 118. Expulsion sentence execution decisions

1. In case expulsion is the principal penalty or an additional penalty while the principal penalty is a fine, the court which has conducted the first-instance trial shall issue a judgment execution decision. Such a decision must clearly indicate the full name and position of the decision maker; the judgment to be executed; the full name, date of birth and place of residence of the sentenced person; additional penalty(ies); and the name of the agency responsible for executing the sentence.

2. In case expulsion is an additional penalty, the judgment execution decision must fully indicate the principal penalty and the additional penalty, except the case specified in Clause 1 of this Article.

Article 119. Notification of expulsion sentence execution

1. A court which issues an expulsion sentence execution decision under Clause 1 of Article 118 of this Law shall promptly send this decision to the criminal judgment execution agency of the provincial-level police department, the same-level procuracy and the provincial-level Justice Department of the place in which the issuing court is based. The criminal judgment execution agency of the provincial-level police department shall deliver the judgment execution decision to the sentenced person and promptly notify such to the Ministry of Foreign Affairs of Vietnam, the diplomatic representation mission or the consular office of the country of which the sentenced person is a citizen or the representative office of the international organization in which he/she works, and the agency or organization which has sponsored his/her entry in Vietnam. In case the sentenced person is held in a detention center, the decision shall be sent to the detention center and the criminal judgment execution agency of the district-level police office in the place of detention for subsequent delivery to such person.

2. In case an inmate is subject to the additional penalty of expulsion under Clause 2, Article 118 of this Law, 2 months before the expiration of the prison sentence term, the superintendent of the prison notify in writing to such inmate and the criminal judgment execution agency of the provincial-level police department of the place in which the prison is based. The criminal judgment execution agency of the provincial-level police department shall notify such to the Ministry of Foreign Affairs of Vietnam, the diplomatic representation mission or the consular office of the country of which the person subject to the expulsion sentence is a citizen or the representative office of the international organization in which he/she works, and the agency or organization which has sponsored his/her entry in Vietnam.

Article 120. Expulsion sentence execution dossiers

1. Criminal judgment execution agencies of provincial-level police departments shall compile expulsion sentence execution dossiers.

2. An expulsion sentence execution dossier comprises:

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

b) A copy of the passport or a copy of a valid substitute paper of the sentenced person;

c) Written certification of complete serving of other penalties or fulfillment of other obligations;

d) Other relevant documents.

Article 121. Stay pending exit

1. Pending his/her exit from Vietnam, a person subject to the expulsion sentence shall stay in a place designated by the criminal judgment execution agency of the provincial-level police department.

2. The criminal judgment execution agency of the provincial-level police department shall send a person subject to expulsion to an accommodation establishment of the Ministry of Public Security in case he/she:

a) has no place of permanent residence or temporary residence:

b) has illegally entered the country or committed a serious, very serious or extremely serious crime;

c) has left the previously designated accommodation establishment without permission or failed to comply with management and supervision measures of a competent agency;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

dd) has escaped, prepared for escape or otherwise obstructed the execution of the expulsion sentence;

e) has contracted an infectious disease category A specified in the Law on Prevention and Control of Infectious Diseases; or

g) wishes to stay in an accommodation establishment.

3. Procedures for sending a person subject to the expulsion sentence to an accommodation establishment are as follows:

a) In case he/she is on bail, the criminal judgment execution agency of the provincial-level police department shall escort him/her to an accommodation establishment;

b) In case he/she is held in a detention center, the criminal judgment execution agency of the district-level police office of the place of detention shall, upon receiving the judgment execution decision, hand over him/her to the criminal judgment execution agency of the provincial-level police department for escorting him/her to an accommodation establishment;

c) If the inmate subject to the additional penalty of expulsion has completely served the prison sentence, the prison shall hand over him/her to the criminal judgment execution agency of the provincial-level police department for escorting him/her to an accommodation establishment.

4. In case a person subject to the expulsion sentence dies pending his/her exit from Vietnam, the designated accommodation establishment or place of stay shall promptly notify the death to the criminal judgment execution agency of the provincial-level police department, an investigative agency or a competent procuracy for identifying the cause of the death. The criminal judgment execution agency of the provincial-level police department shall notify the death in writing or via fax to the court which has issued the expulsion sentence execution decision, the Ministry of Foreign Affairs of Vietnam, the diplomatic mission or consular office of the country of which he/she is a citizen or the representative office of the international organization in which he/she works and the agency or organization which has guaranteed his/her entry in Vietnam. After obtaining permission of a competent agency, the criminal judgment execution agency of the provincial-level police department shall organize his/her burial. In case his/her relative or lawful representative requests to receive his/her corpse for burial and bear burial expenses, the criminal judgment execution agency of the provincial-level police department shall consider and settle the request.

5. The Government shall specify food rations, accommodation and other daily-life activities, visits, medical examination and treatment for persons subject to the expulsion sentence during their stay in accommodation establishments, and expenses for burial of those who die in these establishments.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

1. In case a person subject to the expulsion sentence escapes, the designated accommodation establishment or place of stay shall take a record thereon and promptly notify such to the criminal judgment execution agency of the provincial-level police department of the place in where the designated accommodation establishment or place of stay is located. Upon receiving such notice, the criminal judgment execution agency of the provincial-level police department shall promptly organize the pursuit of the escaped person. If the pursuit is in vain, the criminal judgment execution agency of provincial-level police department shall release a wanted notice within 7 days.

2. If the escaped person turns him/herself in, the receiving agency shall take a report thereon and notify such to the criminal judgment execution agency of the provincial-level police department for the latter to receive and send him/her to an accommodation establishment.

Article 123. Compulsion of exit from Vietnamese territory

1. Upon the expiration of the time limit for a person subject to the expulsion sentence to leave the Vietnamese territory, the criminal judgment execution agency of the provincial-level police department shall cooperate with a competent immigration management agency in checking the personal identity paper of such person and escort him/her to the place of exit and compel his/her to leave the Vietnamese territory. Such person may carry along his/her lawful personal possessions on his/her exit. Within 10 days after completely executing the expulsion sentence, the criminal judgment execution agency of the provincial-level police department shall notify the execution to the court which has issued the judgment execution decision, the same-level procuracy and the national center for personal judicial records.

2. The court which has issued the judgment execution decision is competent to decide on extension of the time limit for compelled exit from the Vietnamese territory of the sentenced person who:

a) is seriously ill or under intensive medical care and therefore unable to move as certified by a medical agency or a provincial- or higher-level hospital;

b) is currently serving another judgment or performing another obligation under Vietnam's law; or

c) cannot leave the Vietnamese territory for a plausible reason as certified by the head of the criminal judgment execution agency of the provincial-level police department.

3. Within 3 working days from the date on which the decision on extension of the time limit for compelled exit from the Vietnamese territory is issued, the court shall send it to criminal judgment execution agency of provincial-level police department where the court which has issued the judgment execution decision is based and the same-level procuracy.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

Persons serving the expulsion sentence shall bear all air, road, railway and sea travel fares for their exit from the Vietnamese territory. In case such a person is unable to bear these expenses him/herself, the criminal judgment execution agency of the provincial-level police department shall cooperate with the immigration management agency in requesting the diplomatic mission or consular office of the country of which such person is a citizen or the representative office of the international organization in which he/she works or the agency or organization which has sponsored his/her entry in Vietnam to pay expenses for sending him/her to his/her country. In case a request has already been made but such agency or organization still fails to pay expenses and expulsion must be executed immediately for a national security reason, the head of the criminal judgment execution agency of the provincial-level police department shall report such to the criminal judgment execution management agency of the Ministry of Public Security for decision on use of the slate budget to pay air, road, railway and sea travel fares for such person.

Chapter VIII

EXECUTION OF THE SENTENCE OF DEPRIVATION OF CERTAIN CIVIL RIGHTS

Article 125. Procedures for execution of the sentence of deprivation of certain civil rights

1. Two months before the expiration of the term of the prison sentence against an inmate subject to the additional sentence of deprivation of certain civil rights, the superintendent of the prison or detention center, or the head of the criminal judgment execution agency of the provincial-level police department in case this inmate serves the sentence at the criminal judgment execution agency of the district-level police office, shall notify in writing the execution of the additional penalty to the commune-level People's Committee, the criminal judgment execution agency of the district-level police office and the district-level people's procuracy, and Department of Justice of the place in which this inmate will come to reside.

2. After an inmate subject to the additional sentence of deprivation of certain civil rights completely serves the prison sentence, the prison, detention center, criminal judgment execution agency of district-level police office or of military zone shall send the certificate of complete serving of the prison sentence and copies of the judgment and judgment execution decision to the criminal judgment execution agency of the district-level police office of the place in which this inmate will come to reside.

3. Within 5 working days after receiving the documents specified in Clause 2 of this Article, the criminal judgment execution agency of the district-level police office of the place in which the inmate will come to reside shall compile a dossier for execution of the sentence of deprivation of certain civil rights and notify such to the commune-level People's Committee of the place in which the inmate comes to reside. Such a dossier comprises:

a) A copy of the legally effective court judgment or decision; a copy of the judgment execution decision;

b) The certificate of complete serving of the prison sentence;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

4. In case a person subject to the sentence of deprivation of certain civil rights is allowed to serve a suspended sentence, the court which has issued the judgment execution decision shall send copies of the judgment and the judgment execution decision to the criminal judgment execution agency of the district-level police office. The criminal judgment execution agency of the district-level police office shall compile a dossier and notify such to the agency in which such person works or the commune-level People's Committee of the place in which such person resides.

5. The criminal judgment execution agency of the district-level police office shall monitor and supervise the execution of the sentence of deprivation of certain civil rights under the court judgment; provide a list of persons subject to deprivation of certain citizenship rights upon request of competent agencies.

Upon the expiration of the sentence term, the criminal judgment execution agency of the district-level police office shall grant a certificate of complete serving of the sentence of deprivation of certain civil rights. Such certificate shall be sent to the sentenced person, the commune-level People's Committee of the place in which he/she resides, the court which has issued the judgment execution decision and the provincial-level Justice Department of the place in which the certificate-issuing criminal judgment execution agency is based.

6. If the sentenced person dies, the People’s Committee of commune where the sentenced person resides shall report the criminal judgment execution agency of district-level police office to notify the court which issued the judgment execution decision. Within 3 working days after receiving the notice, the court which issued the judgment execution decision shall issue a decision to terminate judgment execution and send it the criminal judgment execution agency of district-level police office, the same-level procuracy, the People’s Committee of commune where the sentenced person resides, and Department of Justice of province where the court which issued the decision is based.

Article 126. Deprivation of the right to stand for candidates for deputies to a state power agency

During the period of deprivation of the right to stand for a candidate for a deputy to a state power agency, a sentenced person may not stand for a candidate for a deputy to a state power agency.

Article 127. Deprivation of the right to work in state agencies

1. During the period of deprivation of the right to work in state agencies, a sentenced person may neither apply for a job nor continue working in a state agency.

2. In case a sentenced person who is an official or public employee in a state agency is deprived of the right to work in state agencies, the agency in which he/she works shall issue a decision or request a competent state agency to issue a decision to compel such person to resign from office or stop working during the period of deprivation of the right to work in state agencies.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

1. During the period of deprivation of the right to serve in people's armed forces, a sentenced person may not conscript him/herself into military service; may neither be recruited nor continue working as a civil servant, public employee or defense worker in the People's Army; may neither be recruited nor continue serving in the People's Public Security Force.

2. In case a sentenced person who is a serviceman, civil servant, public employee or defense worker in the People's Army or who serves in a People's Public Security Force agency or unit is deprived of the right to serve in people's armed forces, the unit in which he/she serves or works shall issue a decision or request a competent agency to issue a decision to compel him/her to leave people's armed forces.

Chapter IX

EXECUTION OF THE SENTENCE OF PROHIBITION FROM HOLDING CERTAIN POSITIONS, PRACTICING CERTAIN PROFESSIONS OR PERFORMING CERTAIN JOBS

Article 129. Procedures for execution of the sentence of prohibition from holding certain positions, practicing certain professions or performing certain jobs

1. Two months before the expiration of the term of the prison sentence against an inmate subject to the additional sentence of prohibition from holding certain positions, practicing certain professions or performing certain jobs, the superintendent of the prison or detention center, or the head of the criminal judgment execution agency of the district-level police office of the place in which this inmate serves the prison sentence shall notify in writing the execution of the sentence of prohibition from holding certain positions, practicing certain professions or performing certain jobs to the commune-level People's Committee, the criminal judgment execution agency of the district-level police office and the district-level people's procuracy of the place in which this inmate will come to reside or to the criminal judgment execution agency and the procuracy of the military zone in which the unit such person will work in is based.

2. Right after an inmate subject to the additional sentence of prohibition from holding certain positions, practicing certain professions or performing certain jobs completely serves the prison sentence, the prison, detention center or criminal judgment execution agency of the provincial-level police department shall send the certificate of complete serving of the prison sentence and copies of the judgment and the judgment execution decision to the Department of Justice, the criminal judgment execution agency of the district-level police office and the district-level procuracy of the place in which this inmate will come to reside or to the criminal judgment execution agency and the procuracy of the military zone in which the unit such person will work in is based.

3. Within 5 working days after receiving the documents specified in Clause 2 of this Article, the criminal judgment execution agency of the district-level police office or military zone shall compile a dossier for execution of the sentence of prohibition from holding certain positions, practicing certain professions or performing certain jobs and notify such in writing to the commune-level People's Committee of the locality in which the sentenced person will reside. Such a dossier comprises:

a) A copy of the legally effective court judgment or decision; a copy of the judgment execution decision;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

c) Other relevant documents.

4. In case a person subject to an additional penalty of prohibition from holding certain positions, practicing certain professions or performing certain jobs is obliged to serve the principal penalty of warning, fine or community sentence or is allowed to serve a suspended sentence, the term of the prohibition from holding certain positions, practicing certain professions or performing certain jobs shall be counted from the date the judgment becomes legally effective. The court which has issued the judgment execution decision shall send copies of the judgment and the judgment execution decision to the Department of Justice, the criminal judgment execution agency of the district-level police office and procuracy of the place in which such person will reside or the criminal judgment execution agency and procuracy of the military zone in which the unit such person will work in is based. Upon receiving the judgment execution decision, the criminal judgment execution agency of the district-level police office or military zone shall compile a dossier and notify such to the agency, organization or military unit in which the person serving the sentence will work or the commune-level People's Committee of the place in which such person will reside.

5. The criminal judgment execution agency of the district-level police office or military zone shall monitor and supervise the serving of the sentence of prohibition from holding certain positions, practicing certain professions or performing certain jobs under the court judgment. During the serving time, if the sentenced person is found holding a prohibited position, practicing a prohibited profession or performing a prohibited job, the criminal judgment execution agency of district-level police office or of military zone shall notify his/her place of work of such violation to compel him/her to strictly serve the judgment.

6. Upon the expiration of the sentence term, the criminal judgment execution agency of the district-level police office or of military zone shall grant a certificate of complete serving of the sentence. Such certificate shall be sent to the sentenced person, the commune-level People's Committee of the place in which he/she resides, the agency, organization or military unit in which he/she works, the court which has issued the judgment execution decision and the provincial-level Justice Department of the place in which the certificate-issuing criminal judgment execution agency is based.

7. If the sentenced person dies, the People’s Committee of commune where he/she resides or military unit where he/she works shall report the criminal judgment execution agency of district-level police office or of military zone to notify the court which issued the judgment execution decision. Within 3 working days after receiving the notice, the court which issued the judgment execution decision shall issue a decision to terminate judgment execution and send it the criminal judgment execution agency of district-level police office or of military zone, the same-level procuracy, the People’s Committee of commune where the sentenced person resides or the military unit where the sentenced person works, and Department of Justice of province where the court which issued the decision is based.

Article 130. Obligations of persons serving the sentence of prohibition from holding certain positions, practicing certain professions or performing certain jobs

1. Report on positions, professions or jobs he/she is prohibited from holding, practicing or performing to the agency or organization in which he/she works and to the commune-level People's Committee of the place in which he/she resides.

2. Refrain from further holding, practicing or doing or to be forced to refuse holding, practicing or doing certain positions, professions or jobs subject to the prohibition.

3. Refrain from standing for the prohibited positions.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

5. Present him/herself when being summoned by a competent agency in relation to his/her judgment execution.

Article 131. Responsibilities to execute the sentence of prohibition from holding certain positions, practicing certain professions or performing certain jobs

1. The agency or organization in which a sentenced person works shall:

a) Issue a decision to dismiss him/her from a position he/she is prohibited from holding or request a competent authority to issue such a decision and publicly notify it within the agency or organization;

b) Refrain from nominating, promoting, appointing or arranging him/her to a position, job or profession from which he/she is prohibited;

c) Report judgment execution results to the criminal judgment execution agency of the district-level police office or military zone;

d) Notify the agency or organization in which he/she is transferred to work of his/her serving of the sentence. This agency or organization shall comply with Points a, b and c of this Clause.

2. A commune-level People's Committee of the place in which a sentenced person comes to reside has the following responsibilities:

a) Publicly notify the judgment in the place in which he/she comes to reside;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

c) In case he/she moves to a new place of residence, notify the commune-level People's Committee in this place of his/her serving of the sentence. The commune-level People's Committee the new place of residence shall comply with Points a and b of this Clause.

Chapter X

EXECUTION OF JUDICIAL MEASURES

Section I. GENERAL PROVISIONS ON EXECUTION OF JUDICIAL MEASURES

Article 132. Decisions to apply judicial measures

1. Decisions to apply judicial measures include:

a) Decisions of courts or procuracies to apply the measure of compulsory medical treatment;

b) Judgments or decisions of courts to apply the measure of sending minor offenders to a reformatory.

2. A decision to apply a judicial measure must clearly indicate the name of the agency and full name and position of the decision maker; full name, date of birth and place of residence of the person subject to the judicial measure; and name of the agency responsible for the execution.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

a) The person subject to the judicial measure or his/her lawful representative;

b) The same-level procuracy, in case the decision is issued by a court;

c) The criminal judgment execution agency of the district-level police office of the place in which the person subject to the judicial measure resides;

d) The mental hospital, in case of compulsory medical treatment;

dd) The agency which has requested the court or procuracy to apply the measure of compulsory medical treatment.

Article 133. Agencies tasked to execute judicial measures

1. Health facilities tasked to compulsory medical treatment of mental diseases shall provide medical examination and treatment for the person subject to compulsory medical treatment.

2. Reformatories shall execute the judicial measure of education in reformatories.

Article 134. Tasks and powers of procuracies in executing judicial measures

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

2. Procuracies shall supervise the observance of law by agencies, organizations and individuals in executing judicial measures under this Law and relevant laws.

Article 135. Guarantee of conditions for execution of judicial measures

1. The State guarantees facilities and funds for execution of judicial measures.

2. The State encourages agencies, organizations, individuals and families to participate in educating persons subject to judicial measures in reformatories.

Section 2. EXECUTION OF THE MEASURE OF COMPULSORY MEDICAL TREATMENT

Article 136. Competence to request application of the judicial measure of compulsory medical treatment, dossiers for sending persons to an establishment for compulsory medical treatment

1. The competence to request application of the judicial measure of compulsory medical treatment is as follows:

a) An agency which has accepted and is handling a case at the stage of investigation is competent to request application of the measure by the same-level procuracy;

b) A prison, detention center or criminal judgment execution agency of a provincial-level police department at the stage of judgment execution is competent to request application of the measure by a provincial-level people's court of the place or the military court of the military zone where the inmate serves the sentence.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

a) A decision of a procuracy or court to apply the