|
HỘI ĐỒNG NHÀ NƯỚC
********
|
CỘNG HOÀ XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********
|
|
Số: 24-LCT/HĐNN8
|
Hà Nội, ngày 25
tháng 9 năm 1989
|
PHÁP LỆNH
HỢP
ĐỒNG KINH TẾ CỦA HỘI ĐỒNG NHÀ NƯỚC SỐ 24-LCT/HĐNN8
Để bảo đảm các quan hệ kinh tế
được thiết lập và thực hiện trên cơ sở tôn trọng quyền tự chủ sản xuất kinh
doanh của các đơn vị kinh tế nhằm đẩy mạnh sản xuất và lưu thông hàng hoá;
Để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp, đề cao trách nhiệm của các bên trong
quan hệ kinh tế; giữ vững trật tự, kỷ cương, tăng cường pháp chế xã hội chủ
nghĩa trong hoạt động kinh tế;
Căn cứ vào Điều 34 và Điều 100 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam;
Pháp lệnh này quy định chế độ hợp đồng kinh tế.
Chương 1:
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1
Hợp đồng
kinh tế là sự thoả thuận bằng văn bản, tài liệu giao dịch giữa các bên ký kết về
việc thực hiện công việc sản xuất, trao đổi hàng hoá, dịch vụ, nghiên cứu, ứng
dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật và các thoả thuận khác có mục đích kinh doanh
với sự quy định rõ ràng quyền và nghĩa vụ của mỗi bên để xây dựng và thực hiện
kế hoạch của mình.
Điều 2
Hợp đồng
kinh tế được ký kết giữa các bên sau đây:
a) Pháp nhân với pháp nhân;
b) Pháp nhân với cá nhân có đăng
ký kinh doanh theo quy định của pháp luật.
Điều 3
Hợp đồng
kinh tế được ký kết theo nguyên tắc tự nguyện, cùng có lợi, bình đẳng về quyền
và nghĩa vụ, trực tiếp chịu trách nhiệm tài sản và không trái pháp luật.
Điều 4
Ký kết hợp
đồng kinh tế là quyền của các đơn vị kinh tế. Không một cơ quan, tổ chức, cá
nhân nào được áp đặt ý chí của mình cho đơn vị kinh tế khi ký kết hợp đồng.
Không một đơn vị kinh tế nào được phép lợi dụng ký kết hợp đồng kinh tế để hoạt
động trái pháp luật.
Thực hiện nghiêm chỉnh hợp đồng
kinh tế đã ký kết là nghĩa vụ của đơn vị kinh tế. Không một cơ quan, tổ chức,
cá nhân nào được can thiệp trái pháp luật việc thực hiện hợp đồng kinh tế.
Điều 5
Các bên ký
kết hợp đồng kinh tế có quyền thoả thuận áp dụng các biện pháp bảo đảm thực hiện
hợp đồng kinh tế: thế chấp tài sản, cầm cố, bảo lãnh tài sản theo quy định của
pháp luật.
Điều 6
Nhà nước bảo
hộ quyền và lợi ích hợp pháp được thể hiện trong hợp đồng kinh tế của các bên
ký kết.
Các bên ký kết
có quyền yêu cầu làm chứng thư hợp đồng kinh tế tại cơ quan công chứng.
Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
thực hiện việc đăng ký một số loại hợp đồng kinh tế theo quy định của pháp luật.
Điều 7
Các tranh
chấp phát sinh khi thực hiện hợp đồng kinh tế được giải quyết bằng cách tự
thương lượng giữa các bên với nhau hoặc đưa ra Trọng tài kinh tế.
Điều 8
1- Những hợp đồng kinh tế sau
đây bị coi là vô hiệu toàn bộ:
a) Nội dung hợp
đồng kinh tế vi phạm điều cấm của pháp luật;
b) Một trong
các bên ký kết hợp đồng kinh tế không có đăng ký kinh doanh theo quy định của
pháp luật để thực hiện công việc đã thoả thuận trong hợp đồng;
c) Người ký hợp
đồng kinh tế không đúng thẩm quyền hoặc có hành vi lừa đảo.
2- Hợp đồng kinh tế bị coi là vô
hiệu từng phần khi nội dung của phần đó vi phạm điều cấm của pháp luật, nhưng
không ảnh hưởng đến nội dung các phần còn lại của hợp đồng.
3- Việc kết
luận hợp đồng kinh tế là vô hiệu toàn bộ hoặc từng phần thuộc thẩm quyền của Trọng
tài kinh tế.
Chương 2:
KÝ KẾT HỢP ĐỒNG KINH TẾ
Điều 9
Người ký hợp
đồng kinh tế phải là đại diện hợp pháp của pháp nhân hoặc người đứng tên đăng
ký kinh doanh.
Đại diện hợp
pháp của pháp nhân hoặc người đứng tên đăng ký kinh doanh có thể uỷ quyền bằng
văn bản cho người khác thay mình ký hợp đồng kinh tế.
Người được uỷ quyền chỉ được ký
hợp đồng kinh tế trong phạm vi được uỷ quyền và không được uỷ quyền lại cho người
thứ ba.
Điều 10
Các căn cứ
để ký kết hợp đồng kinh tế:
a) Định hướng kế hoạch của Nhà
nước, các chính sách, chế độ, các chuẩn mức kinh tế - kỹ thuật hiện hành;
b) Nhu cầu thị trường, đơn đặt
hàng, đơn chào hàng của bạn hàng;
c) Khả năng phát triển sản xuất
kinh doanh, chức năng hoạt động kinh tế của mình;
d) Tính hợp pháp của hoạt động sản
xuất kinh doanh và khả năng bảo đảm về tài sản của bên cùng ký hợp đồng.
Điều 11
Hợp đồng
kinh tế được ký kết bằng văn bản, tài liệu giao dịch: công văn, điện báo, đơn
chào hàng, đơn đặt hàng.
Hợp đồng kinh tế được coi là đã
hình thành và có hiệu lực pháp lý từ thời điểm các bên đã ký vào văn bản hoặc từ
khi các bên nhận được tài liệu giao dịch thể hiện sự thoả thuận về tất cả những
điều khoản chủ yếu của hợp đồng, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác đối
với từng loại hợp đồng kinh tế.
Điều 12
1- Hợp đồng kinh tế bao gồm các điều
khoản sau đây:
a) Ngày, tháng, năm ký hợp đồng
kinh tế; tên, địa chỉ, số tài khoản và ngân hàng giao dịch của các bên, họ, tên
người đại diện, người đứng tên đăng ký kinh doanh;
b) Đối tượng của hợp đồng kinh tế
tính bằng số lượng, khối lượng hoặc giá trị quy ước đã thoả thuận;
c) Chất lượng, chủng loại, quy
sách, tính đồng bộ của sản phẩm, hàng hoá hoặc yêu cầu kỹ thuật của công việc;
d) Giá cả;
đ) Bảo hành;
e) Điều kiện nghiệm thu, giao nhận;
g) Phương thức thanh toán;
h) Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng
kinh tế;
i) Thời hạn có hiệu lực của hợp
đồng kinh tế;
k) Các biện pháp bảo đảm thực hiện
hợp đồng kinh tế;
l) Các thoả thuận khác.
2- Các điều khoản quy định tại
các điểm a, b, c, d, khoản 1, Điều này là điều khoản chủ yếu của các hợp đồng
kinh tế. Các điều khoản khác liên quan trực tiếp đến đặc điểm của từng loại hợp
đồng kinh tế cũng là điều khoản chủ yếu của loại hợp đồng kinh tế đó.
Điều 13
Những thoả
thuận về chất lượng sản phẩm, hàng hoá, công việc trong hợp đồng kinh tế phải
phù hợp với quy định về chất lượng, tiêu chuẩn kỹ thuật của Nhà nước (TCVN,
TCN) hoặc tiêu chuẩn chất lượng của đơn vị đã đăng ký tại cơ quan tiêu chuẩn -
đo lường - chất lượng theo đúng quy định về đăng ký chất lượng và nhãn hiệu
hàng hoá.
Đối với sản phẩm, hàng hoá mới
chưa đăng ký tiêu chuẩn chất lượng hoặc công việc không thể hiện được bằng các
tiêu chuẩn chất lượng cụ thể thì nhất thiết phải ghi rõ trong hợp đồng kinh tế
sự thoả thuận về chất lượng sản phẩm, hàng hoá hoặc yêu cầu kỹ thuật của công
việc.
Điều 14
Những quy
định hiện hành của Nhà nước về bảo hành sản phẩm, hàng hoá, công việc phải được
tuân thủ khi ký kết hợp đồng kinh tế.
Đối với những
sản phẩm, hàng hoá, công việc chưa có quy định của Nhà nước về bảo hành, các
bên được quyền thoả thuận và ghi rõ trong hợp đồng kinh tế về phạm vi, nội dung
và thời hạn bảo hành.
Các bên có quyền thoả thuận những
quy định về việc sửa chữa hoặc xử lý các sai sót khi có vi phạm chất lượng sản
phẩm, hàng hoá, công việc trong thời hạn bảo hành.
Điều 15
Các bên
có quyền thoả thuận và ghi giá cả cụ thể vào hợp đồng kinh tế, có quyền thay đổi
giá trong quá trình thực hiện hợp đồng kinh tế.
Đối với sản phẩm, hàng hoá do
Nhà nước định giá thì giá ghi trong hợp đồng kinh tế phải phù hợp với giá do cơ
quan Nhà nước có thẩm quyền quy định.
Điều 16
Các bên
có quyền thoả thuận lịch nghiệm thu, giao nhận, địa điểm và phương thức giao nhận
sản phẩm, hàng hoá, công việc là đối tượng của hợp đồng kinh tế phù hợp với điều
kiện thực tế, thuận tiện và có lợi cho các bên.
Trong trường hợp các bên không
thoả thuận được với nhau thì địa điểm và phương thức giao nhận phải theo các
quy định của pháp luật đối với từng loại hợp đồng kinh tế.
Nếu trong hợp đồng kinh tế không
có sự thoả thuận của các bên và không có quy định của pháp luật đối với loại hợp
đồng kinh tế đó, thì địa điểm giao nhận là kho chính của bên giao hàng, bán
hàng và giao trên phương tiện vận chuyển của bên đặt hàng, mua hàng.
Điều 17
Phương thức
thanh toán do các bên thoả thuận phù hợp với quy định của pháp luật.
Điều 18
Thời hạn
có hiệu lực của hợp đồng kinh tế do các bên thoả thuận.
Điều 19
Các bên
được quyền thoả thuận về tiền thưởng để khuyến khích thực hiện tốt hợp đồng
kinh tế.
Tiền phạt vi phạm hợp đồng kinh
tế do các bên thoả thuận trong khung phạt đối với từng loại hợp đồng theo quy định
của pháp luật. Trong trường hợp không có quy định của pháp luật, các bên có quyền
thoả thuận về mức tiền phạt.
Điều 20
Các bên
có quyền đưa vào hợp đồng kinh tế những thoả thuận khác không trái pháp luật.
Điều 21
Các bên
có quyền ký các bản phụ lục hợp đồng để chi tiết và vụ thể hoá các điều khoản của
hợp đồng kinh tế. Nội dung phụ lục hợp đồng không được trái với nội dung hợp đồng
kinh tế.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng
kinh tế, các bên có quyền ký biên bản bổ sung những điều mới thoả thuận vào hợp
đồng kinh tế. Biên bản bổ sung có giá trị pháp lý như hợp đồng kinh tế.
Chương 3:
THỰC HIỆN, THAY ĐỔI, ĐÌNH
CHỈ THANH LÝ HỢP ĐỒNG KINH TẾ
Điều 22
Các bên
có nghĩa vụ thực hiện đúng và đầy đủ cam kết trong hợp đồng kinh tế trên tinh
thần hợp tác, tôn trọng lợi ích của nhau.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng
kinh tế, nếu một bên gặp khó khăn có thể dẫn đến vi phạm hợp đồng thì phải
thông báo ngay cho bên kia biết, đồng thời phải tìm mọi biện pháp khắc phục.
Bên nhận được thông báo, tuỳ theo khả năng của mình góp phần khắc phục khó khăn
đó và tìm mọi biện pháp hạn chế những thiệt hại có thể xảy ra.
Điều 23
Chỉ được
lập hoá đơn, giấy đòi tiền phù hợp với việc thực hiện từng phần hay toàn bộ hợp
đồng kinh tế, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Nghĩa vụ trả tiền phải được thực
hiện theo phương thức và thời hạn thanh toán đã thoả thuận trong hợp đồng kinh tế.
Nếu trong hợp đồng không ghi thời hạn, thì thời hạn trả tiền là mười lăm ngày,
kể từ ngày nhận được hoá đơn, giấy đòi tiền. Nghĩa vụ trả tiền được coi là hoàn
thành từ khi chuyển đủ tiền trên tài khoản của mình tại Ngân hàng cho bên đòi
hoặc khi bên đòi trực tiếp nhận đủ số tiền mặt theo hoá đơn.
Điều 24
Khi một
bên chuyển giao toàn bộ hay từng phần nhiệm vụ sản xuất kinh doanh cho một pháp
nhân hay cá nhân khác có đăng ký kinh doanh thì phải chuyển giao cả việc tiếp tục
thực hiện hợp đồng kinh tế có liên quan. Trong thời hạn ba mươi ngày trước khi
chuyển giao, bên chuyển giao phải thông báo bằng văn bản cho các bên có quan hệ
hợp đồng kinh tế biết nội dung của hợp đồng kinh tế phải chuyển giao và người
nhận chuyển giao.
Người nhận chuyển giao có nghĩa vụ
thực hiện hợp đồng kinh tế được chuyển giao. Trong trường hợp người nhận chuyển
giao không đủ điều kiện thực hiện hợp đồng kinh tế được chuyển giao thì yêu cầu
bên chuyển giao phải thanh lý hợp đồng kinh tế trước khi nhận chuyển giao.
Trong thời hạn mười ngày, kể từ
ngày nhận được thông báo, bên có quan hệ hợp đồng kinh tế với bên chuyển giao
có quyền yêu cầu thanh lý hợp đồng kinh tế bằng văn bản. Trong thời hạn đó, nếu
không có yêu cầu thanh lý hợp đồng kinh tế thì việc chuyển giao hợp đồng kinh tế
coi như đã được chấp nhận.
Điều 25
Khi một
bên ký kết hợp đồng kinh tế là pháp nhân phải giải thể thì trước khi giải thể
ba mươi ngày, bên bị giải thể phải thông báo bằng văn bản cho các bên có quan hệ
hợp đồng kinh tế biết và tiến hành thanh lý hợp đồng kinh tế.
Điều 26
Hợp đồng
kinh tế đã có hiệu lực pháp lý có thể được huỷ bỏ, sửa đổi theo sự thoả thuận bằng
văn bản của các bên.
Điều 27
Khi một
bên thừa nhận hoặc đã có kết luận của Trọng tài kinh tế là có vi phạm hợp đồng
thì bên bị vi phạm có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng kinh tế đó,
nếu việc tiếp tục thực hiện hợp đồng không có lợi cho mình. Thông báo đơn
phương đình chỉ thực hiện hợp đồng phải bằng văn bản và được gửi cho bên vi phạm
trong thời hạn mười ngày, kể từ ngày bên vi phạm thừa nhận hoặc có kết luận của
Trọng tài kinh tế. Nếu hợp đồng kinh tế có làm chứng thư hoặc đăng ký thì bên bị
vi phạm phải gửi thông báo đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng đến cơ quan
đã làm chứng thư hoặc đăng ký hợp đồng cùng ngày gửi cho bên vi phạm.
Điều 28
Các bên
phải cùng nhau thanh lý hợp đồng kinh tế trong trường hợp:
1- Hợp đồng kinh tế được thực hiện
xong;
2- Thời hạn có hiệu lực của hợp
đồng kinh tế đã hết và không có sự thoả thuận kéo dài thời hạn đó;
3- Hợp đồng kinh tế bị đình chỉ
thực hiện hoặc huỷ bỏ;
4- Khi hợp đồng kinh tế không được
tiếp tục thực hiện theo quy định tại đoạn 2, đoạn 3 Điều 24 hoặc
Điều 25 của Pháp lệnh này.
Chương 4:
TRÁCH NHIỆM DO VI PHẠM HỢP
ĐỒNG KINH TẾ VÀ XỬ LÝ HỢP ĐỒNG KINH TẾ VÔ HIỆU
Điều 29
1- Các bên phải chịu trách nhiệm
tài sản trực tiếp với nhau về việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp
đồng kinh tế.
2- Bên vi phạm hợp đồng phải trả
cho bên bị vi phạm tiền phạt vi phạm hợp đồng và trong trường hợp có thiệt hại
thì phải bồi thường thiệt hại theo quy định sau đây:
a) Mức tiền phạt vi phạm hợp đồng
từ 2% đến 12% giá trị phần hợp đồng kinh tế bị vi phạm. Hội đồng bộ trưởng quy
định chi tiết mức tiền phạt theo loại vi phạm đối với từng loại hợp đồng kinh tế.
b) Tiền bồi
thường thiệt hại bao gồm giá trị số tài sản mất mát, hư hỏng, số chi phí để
ngăn chặn và hạn chế thiệt hại do vi phạm gây ra; tiền phạt vi phạm hợp đồng và
tiền bồi thường thiệt hại mà bên bị vi phạm đã phải trả cho bên thứ ba là hậu
quả trực tiếp của sự vi phạm này gây ra.
Điều 30
Bên vi phạm
nghĩa vụ thanh toán phải bị phạt vi phạm hợp đồng. Mức phạt có thể bằng mức lãi
suất tín dụng quá hạn theo quy định của pháp luật.
Điều 31
Khi sản
phẩm, hàng hoá không đúng chất lượng, công việc không đúng yêu cầu kỹ thuật đã
thoả thuận trong hợp đồng kinh tế thì bên bị vi phạm có quyền không nhận; nếu
nhận, bên bị vi phạm có quyền yêu cầu giảm giá hoặc sửa chữa sai sót trước khi
nhận. Trong trường hợp do phải sửa chữa sai sót mà hợp đồng không được thực hiện
đúng thời hạn thì bên vi phạm bị phạt vi phạm hợp đồng và bồi thường thiệt hại
do việc không thực hiện hợp đồng kinh tế đúng thời hạn gây ra.
Điều 32
Trong thời
hạn bảo hành, nếu bên nhận sản phẩm, hàng hoá phát hiện có sai sót về chất lượng
thì phải thông báo kịp thời bằng văn bản cho bên kia biết để cùng nhau xác
minh. Việc xác minh sai sót về chất lượng phải được tiến hành không chậm quá mười
lăm ngày kể từ ngày nhận được thông báo. Việc xác minh phải được lập thành biên
bản.
Trong thời hạn mười lăm ngày, kể
từ ngày nhận được thông báo, nếu bên nhận thông báo không trả lời thì coi như
đã chấp nhận có sai sót.
Bên bảo hành có nghĩa vụ phải sửa
chữa các sai sót về chất lượng. Các bên có quyền thoả thuận thay thế việc sửa
chữa sai sót bằng cách giảm giá hoặc đổi lấy sản phẩm, hàng hoá khác.
Nếu sai sót không được sửa chữa
hoặc việc sửa chữa bị kéo dài dẫn đến việc sản phẩm, hàng hoá không thể sử dụng
đúng theo mục đích của hợp đồng thì bên bị vi phạm có quyền đòi phạt vi phạm hợp
đồng và bồi thường thiệt hại như trường hợp không thực hiện hợp đồng quy định tại
Điều 37 của Pháp lệnh này.
Nếu bên nhận sản phẩm, hàng hoá
tự sửa chữa sai sót về chất lượng theo sự thoả thuận của bên vi phạm thì có quyền
đòi bên vi phạm trả tiền chi phí sửa chữa.
Trong thời hạn bảo hành bắt buộc
theo quy định của pháp luật, nếu xảy ra thiệt hại do chất lượng của sản phẩm,
hàng hoá không đúng thoả thuận trong hợp đồng kinh tế thì bên vi phạm phải bồi
thường thiệt hại cho bên bị vi phạm.
Điều 33
Khi một
bên thực hiện hợp đồng kinh tế chậm so với thời hạn ghi trong hợp đồng thì bên
bị vi phạm có quyền không nhận sản phẩm, hàng hoá dù đã hoàn thành; có quyền
đòi phạt vi phạm hợp đồng và bồi thường thiệt hai.
Trong trường hợp từng phần hoặc
toàn bộ hợp đồng kinh tế được thực hiện trước thời hạn, bên đặt hàng có quyền
không nhận, nếu trong hợp đồng không có quy định khác.
Điều 34
Khi một
bên không hoàn thành sản phẩm, hàng hoá, công việc một cách đồng bộ theo thoả
thuận trong hợp đồng kinh tế, thì bên bị vi phạm có quyền không nhận sản phẩm,
hàng hoá, công việc đó cho đến khi được hoàn thành đồng bộ. Bên vi phạm bị phạt
vi phạm hợp đồng và bồi thường thiệt hại cho bên bị vi phạm do việc không thực
hiện hợp đồng đúng thời hạn gây ra.
Điều 35
Khi một
bên từ chối tiếp nhận sản phẩm, hàng hoá công việc đã hoàn thành theo đúng hợp
đồng thì bên kia có quyền đòi phạt vi phạm hợp đồng, đòi bồi thường các phí tổn
bảo quản, chuyên chở và thiệt hại khác do việc không tiếp nhận gây ra.
Điều 36
Khi một
bên đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng kinh tế không đúng với quy định tại Điều
27 của Pháp lệnh này thì bên đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bị phạt vi
phạm hợp đồng và bồi thường thiệt hại như trường hợp không thực hiện hợp đồng
quy định tại Điều 37 của Pháp lệnh này.
Điều 37
Bên nào
đã ký hợp đồng kinh tế mà không thực hiện thì bị phạt vi phạm hợp đồng ở mức
cao nhất của khung phạt theo quy định của pháp luật và phải bồi thường thiệt hại
do việc không thực hiện hợp đồng gây ra.
Điều
38
Khi xảy
ra vi phạm hợp đồng kinh tế, bên bị vi phạm có quyền gửi giấy đòi tiền phạt vi
phạm hợp đồng cho bên vi phạm.
Trong thời hạn mười lăm ngày, kể
từ ngày nhận được giấy đòi tiền phạt, bên vi phạm phải trả tiền phạt vi phạm hợp
đồng cho bên bị vi phạm; nếu quá hạn, bên vi phạm phải chịu lãi suất chậm trả
trên số tiền phạt theo quy định của pháp luật.
Khi có thiệt hại do vi phạm hợp
đồng kinh tế thì bên bị vi phạm có quyền đưa yêu cầu bồi thường thiệt hai.
Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu bồi thường thiệt
hai, nếu bên vi phạm không trả lời hoặc không chấp nhận yêu cầu đó thì bên bị
vi phạm có quyền yêu cầu Trọng tài kinh tế giải quyết.
Bên đòi bồi thường thiệt hại có
nghĩa vụ phải chứng minh việc đã áp dụng các biện pháp cần thiết để hạn chế thiệt
hại ngay sau khi được biết có vi phạm.
Thời hạn trả tiền bồi thường thiệt
hại là ba mươi ngày, kể từ ngày chấp nhận yêu cầu bồi thường thiệt hại hoặc
ngày có quyết định của Trọng tài kinh tế; nếu quá hạn, bên vi phạm phải chịu
lãi suất chậm trả trên số tiền bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.
Điều 39
1- Việc xử lý hợp đồng kinh tế bị
coi là vô hiệu toàn bộ theo quy định như sau:
a) Nếu nội dung công việc trong
hợp đồng chưa được thực hiện thì các bên không được phép thực hiện;
b) Nếu nội dung công việc trong
hợp đồng đã được thực hiện một phần thì các bên phải chấm dứt việc tiếp tục thực
hiện và bị xử lý về tài sản;
c) Nếu nội dung công việc trong
hợp đồng đã được thực hiện xong, thì các bên bị xử lý tài sản.
2- Việc xử lý tài sản quy định tại
điểm b, điểm c khoản 1, Điều này tiến hành theo các nguyên tắc sau đây:
a) Các bên có
nghĩa vụ hoàn trả cho nhau tất cả tài sản đã nhận được từ việc thực hiện hợp đồng.
Trong trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì phải trả bằng tiền,
nếu tài sản đó không bị tịch thu theo quy định của pháp luật;
b) Thu nhập bất hợp pháp phải nộp
vào ngân sách Nhà nước;
c) Thiệt hại
phát sinh, các bên phải chịu.
3- Người nào ký hợp đồng kinh tế
bị coi là vô hiệu toàn bộ, người nào cố ý thực hiện hợp đồng đã bị coi là vô hiệu
toàn bộ thì tuỳ theo mức độ nhẹ hoặc nặng của vi phạm pháp luật mà bị xử lý kỷ
luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của
pháp luật.
Trong trường hợp hợp đồng kinh tế
bị coi là vô hiệu từng phần thì các bên phải sửa đổi các điều khoản trái pháp
luật, khôi phục các quyền và lợi ích ban đầu và bị xử lý theo các quy định khác
của pháp luật.
Điều 40
Bên vi phạm
hợp đồng kinh tế được xét giảm hoặc miễn hoàn toàn trách nhiệm tài sản trong
các trường hợp sau đây:
1- Gặp thiên tai, địch hoạ và
các trở lực khách quan khác không thể lường trước được và đã thi hành mọi biện
pháp cần thiết để khắc phục.
2- Phải thi hành lệnh khẩn cấp của
cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
3- Do bên thứ ba vi phạm hợp đồng
kinh tế với bên vi phạm nhưng bên thứ ba không phải chịu trách nhiệm tài sản
trong các trường hợp quy định tại điểm 1 và điểm 2, Điều này.
4- Việc vi phạm hợp đồng kinh tế
của một bên là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sự vi phạm hợp đồng của bên kia.
Điều 41
Những hợp
đồng kinh tế mà các bên đã thoả thuận phương thức thanh toán bằng ngoại tệ và
phù hợp với pháp luật, thì tiền phạt hợp đồng và tiền bồi thường thiệt hại cũng
được tính bằng ngoại tệ tương ứng.
Chương 5:
ĐIỀU KHOẢN CUỐI CÙNG
Điều 42
Các quy định
của Pháp lệnh này có thể được áp dụng trong việc ký kết và thực hiện hợp đồng
kinh tế giữa các pháp nhân với người làm công tác khoa học - kỹ thuật, nghệ
nhân, hộ kinh tế gia đình, hộ nông dân, ngư dân cá thể.
Điều 43
Các quy định
của Pháp lệnh này được áp dụng trong việc ký kết và thực hiện hợp đồng giữa
pháp nhân Việt Nam với các tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam.
Điều 44
Những quy
định trước đây trái với Pháp lệnh này đều bãi bỏ.
Điều 45
Hội đồng
bộ trưởng quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh này và ban hành các quy định về
các loại hợp đồng kinh tế.
Đối với việc
ký kết và thực hiện hợp đồng kinh tế theo chỉ tiêu pháp lệnh, Hội đồng bộ trưởng
có thể ban hành quy định khác.
Hà Nội, ngày 25
tháng 9 năm 1989