|
VIỆN
KIỂM SÁT NHÂN DÂN
TỐI CAO
- BỘ CÔNG AN - BỘ QUỐC PHÒNG
-------
|
CỘNG
HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 01/2026/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP
|
Hà Nội, ngày 28 tháng 01 năm 2026
|
THÔNG TƯ
LIÊN TỊCH
QUY ĐỊNH VỀ PHỐI HỢP GIỮA
CƠ QUAN ĐIỀU TRA VÀ VIỆN KIỂM SÁT TRONG VIỆC THỰC HIỆN MỘT SỐ QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT
TỐ TỤNG HÌNH SỰ
Căn cứ Bộ luật Tố tụng hình sự
số 101/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 02/2021/QH15, Luật số 34/2024/QH15, Luật số 59/2024/QH15 và Luật số 99/2025/QH15;
Căn cứ Luật Ban hành văn bản
quy phạm pháp luật số 64/2025/QH15 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều
theo Luật số 87/2025/QH15;
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ
Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng liên tịch ban hành Thông tư quy định về phối hợp
giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc thực hiện một số quy định của
Bộ luật Tố tụng hình sự.
Điều 1. Phạm vi điều
chỉnh
Thông tư liên tịch này quy định về phối
hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc thực hiện một số quy định
của Bộ luật Tố tụng hình sự về khởi tố, điều
tra và truy tố.
Điều 2. Đối tượng
áp dụng
1. Cơ quan điều tra các cấp của Công an
nhân dân, Cơ quan điều tra các cấp trong Quân đội nhân dân, Cơ quan điều tra của
Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Điều tra viên trung cấp, Điều tra viên cao cấp
là Trưởng Công an cấp xã hoặc Phó trưởng Công an cấp xã được Thủ trưởng Cơ quan
điều tra cấp tỉnh phân công tiến hành hoạt động khởi tố, điều tra vụ án (sau
đây gọi tắt là Cơ quan điều tra).
2. Viện kiểm sát nhân dân, Viện kiểm
sát quân sự các cấp (sau đây gọi tắt là Viện kiểm sát).
3. Người tiến hành tố tụng thuộc các cơ
quan quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.
4. Cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có
liên quan.
Điều 3. Nguyên tắc
phối hợp
1. Bảo đảm tuân thủ đúng chức năng, nhiệm
vụ của mỗi cơ quan theo quy định của pháp luật.
2. Được thực hiện thường xuyên, bảo đảm
giải quyết vụ việc, vụ án nhanh chóng, kịp thời, đúng pháp luật.
3. Bảo đảm bí mật nhà nước, bí mật công
tác theo quy định của pháp luật và quy định của mỗi cơ quan.
Điều 4. Thay đổi
người tiến hành tố tụng
1. Nếu Thủ trưởng Cơ quan điều tra hình
sự khu vực, Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp tỉnh, Thủ trưởng Cơ quan điều tra quân
sự cấp quân khu tiến hành tố tụng đối với vụ án thuộc một trong những trường hợp
phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi quy định tại Điều
49 và Điều 51 của Bộ luật Tố tụng hình sự thì Cơ quan điều tra có văn bản đề
nghị Viện kiểm sát có thẩm quyền ra quyết định chuyển vụ án đến Cơ quan điều
tra cấp trên trực tiếp để tiến hành điều tra.
Trường hợp Thủ trưởng Cơ quan điều tra
cấp trung ương tiến hành tố tụng đối với vụ án thuộc một trong những trường hợp
phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi, thì Bộ trưởng Bộ Công an (nếu
Thủ trưởng Cơ quan điều tra của Công an nhân dân), Bộ trưởng Bộ Quốc phòng (nếu
Thủ trưởng Cơ quan điều tra thuộc Bộ Quốc phòng), Lãnh đạo Viện kiểm sát nhân
dân tối cao (nếu Thủ trưởng Cơ quan điều tra thuộc Cơ quan điều tra của Viện kiểm
sát nhân dân tối cao) quyết định giao một Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra tiến
hành tố tụng đối với vụ án.
2. Trường hợp Phó Thủ trưởng Cơ quan điều
tra thuộc một trong những trường hợp phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị
thay đổi, thì Thủ trưởng Cơ quan điều tra quyết định phân công Phó Thủ trưởng
khác hoặc Thủ trưởng Cơ quan điều tra quyết định trực tiếp tiến hành tố tụng đối
với vụ án.
3. Trường hợp Điều tra viên trung cấp,
Điều tra viên cao cấp là Trưởng Công an cấp xã hoặc Phó trưởng Công an cấp xã
được Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp tỉnh (hoặc Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra
cấp tỉnh được Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp tỉnh ủy quyền) phân công tiến
hành hoạt động khởi tố, điều tra vụ án (sau đây gọi tắt là Điều tra viên là Trưởng
Công an cấp xã hoặc Phó trưởng Công an cấp xã được phân công) thuộc một trong
những trường hợp phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi, thì người có
thẩm quyền đã phân công có quyền quyết định thay đổi.
4. Khi Điều tra viên, Cán bộ điều tra
thuộc một trong những trường hợp phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi,
thì Kiểm sát viên trao đổi ngay để Điều tra viên, Cán bộ điều tra từ chối tiến
hành tố tụng; trường hợp Điều tra viên, Cán bộ điều tra không nhất trí thì Kiểm
sát viên có văn bản yêu cầu Thủ trưởng hoặc Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra hoặc
Điều tra viên là Trưởng Công an cấp xã hoặc Phó Trưởng Công an cấp xã được phân
công xem xét, thay đổi Điều tra viên, Cán bộ điều tra hoặc báo cáo Viện trưởng,
Phó Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền có văn bản yêu cầu Thủ trưởng hoặc
Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra hoặc Điều tra viên là Trưởng Công an cấp xã hoặc
Phó Trưởng Công an cấp xã được phân công xem xét, thay đổi Điều tra viên, Cán bộ
điều tra.
Trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày nhận
được văn bản yêu cầu của Viện trưởng, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên Viện kiểm
sát có thẩm quyền, thì Thủ trưởng hoặc Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra hoặc Điều
tra viên là Trưởng Công an cấp xã hoặc Phó trưởng Công an cấp xã được phân công
phải ra quyết định thay đổi Điều tra viên, Cán bộ điều tra; nếu không nhất trí
thì Thủ trưởng hoặc Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra hoặc Điều tra viên là Trưởng
Công an cấp xã hoặc Phó trưởng Công an cấp xã được phân công trả lời Viện kiểm
sát có thẩm quyền bằng văn bản, nêu rõ lý do.
5. Trường hợp Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân
khu vực, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự khu vực, Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân cấp tỉnh, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu thuộc một
trong những trường hợp phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi quy định
tại Điều 49 và Điều 52 của
Bộ luật Tố tụng hình sự, thì Viện kiểm sát phải
báo cáo ngay với Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp để ra quyết định
phân công một Phó Viện trưởng của Viện kiểm sát đó thay thế và gửi quyết định
phân công cho Cơ quan điều tra đang thụ lý vụ án. Trường hợp Viện kiểm sát đó
không có Phó Viện trưởng hoặc Phó Viện trưởng thuộc một trong những trường hợp
phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm
sát báo cáo Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp của Viện kiểm
sát có thẩm quyền để Cơ quan điều tra cấp trên trực tiếp rút vụ án để điều tra;
trường hợp Viện kiểm sát có thẩm quyền là Viện kiểm sát nhân dân khu vực thì Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh phân công Phó Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân cấp tỉnh thay thế và gửi quyết định phân công cho Cơ quan điều tra
đang thụ lý vụ án.
6. Trường hợp Phó Viện trưởng Viện kiểm
sát thuộc một trong những trường hợp phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị
thay đổi, thì Viện trưởng Viện kiểm sát quyết định phân công Phó Viện trưởng
khác hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát quyết định trực tiếp tiến hành tố tụng đối
với vụ án.
7. Trường hợp nhận thấy Phó Viện trưởng,
Kiểm sát viên, Kiểm tra viên thuộc một trong những trường hợp phải từ chối tiến
hành tố tụng hoặc bị thay đổi thì Cơ quan điều tra có văn bản đề nghị nêu rõ lý
do để Viện trưởng hoặc Phó Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền xem xét, quyết
định.
Trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày nhận
được văn bản của Cơ quan điều tra, nếu thấy có căn cứ thì Viện trưởng hoặc Phó
Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền ra quyết định thay đổi Phó Viện trưởng,
Kiểm sát viên, Kiểm tra viên; nếu thấy không có căn cứ thì trả lời Cơ quan điều
tra bằng văn bản, nêu rõ lý do.
8. Trường hợp Thủ trưởng Cơ quan điều
tra và Viện trưởng Viện kiểm sát trực tiếp tiến hành tố tụng đối với vụ án thì
Thủ trưởng Cơ quan điều tra phải có văn bản thông báo gửi cho Viện kiểm sát có
thẩm quyền và Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền phải có văn bản thông báo
gửi cho Cơ quan điều tra.
9. Các văn bản về việc phân công, thay
đổi Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng, Điều tra viên, Cán bộ điều tra của Cơ quan điều
tra quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 8 Điều này phải được gửi cho Viện kiểm
sát có thẩm quyền và đưa vào hồ sơ vụ án.
Các văn bản về việc phân công, thay đổi
Viện trưởng, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên quy định tại các khoản
5, 6, 7 và 8 Điều này phải được gửi cho Cơ quan điều tra và đưa vào hồ sơ vụ
án.
Điều 5. Thay đổi,
hủy bỏ lệnh, quyết định của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều
tra viên là Trưởng Công an cấp xã hoặc Phó trưởng Công an cấp xã được phân công
1. Đối với lệnh, quyết định của Thủ trưởng
Cơ quan điều tra đã gửi đến Viện kiểm sát có thẩm quyền mà phát hiện có căn cứ
cần thay đổi hoặc hủy bỏ thì Thủ trưởng Cơ quan điều tra có văn bản đề nghị rút
lệnh, quyết định đó để ra quyết định thay đổi hoặc đề nghị Viện kiểm sát có thẩm
quyền hủy bỏ; trường hợp Viện kiểm sát có thẩm quyền phát hiện thì yêu cầu Thủ
trưởng Cơ quan điều tra ra quyết định thay đổi hoặc có văn bản đề nghị Viện kiểm
sát có thẩm quyền hủy bỏ; trường hợp Cơ quan điều tra không đồng ý thì Viện kiểm
sát có thẩm quyền xem xét, quyết định việc thay đổi hoặc hủy bỏ theo quy định của
Bộ luật Tố tụng hình sự.
2. Đối với lệnh, quyết định của Phó Thủ
trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên là Trưởng Công an cấp xã hoặc Phó trưởng
Công an cấp xã được phân công đã gửi đến Viện kiểm sát có thẩm quyền mà phát hiện
có căn cứ cần thay đổi hoặc hủy bỏ thì phối hợp xử lý như sau:
a) Thủ trưởng Cơ quan điều tra hoặc Phó
Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp tỉnh được Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp tỉnh ủy
quyền (sau đây gọi tắt là Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra được ủy quyền) có văn
bản đề nghị rút lệnh, quyết định của Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra
viên là Trưởng Công an cấp xã hoặc Phó trưởng Công an cấp xã được phân công và
ra quyết định thay đổi hoặc hủy bỏ;
b) Trường hợp Viện kiểm sát có thẩm quyền
phát hiện thì yêu cầu Thủ trưởng Cơ quan điều tra hoặc Phó Thủ trưởng Cơ quan
điều tra được ủy quyền ra quyết định thay đổi hoặc hủy bỏ; trường hợp Cơ quan
điều tra không đồng ý thì Viện kiểm sát có thẩm quyền xem xét, quyết định việc
thay đổi hoặc hủy bỏ theo quy định của Bộ luật
Tố tụng hình sự.
3. Đối với lệnh, quyết định của Thủ trưởng,
Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên là Trưởng Công an cấp xã hoặc
Phó trưởng Công an cấp xã được phân công đã được Viện kiểm sát có thẩm quyền
phê chuẩn mà phát hiện có căn cứ cần thay đổi hoặc hủy bỏ, thì Thủ trưởng Cơ
quan điều tra và Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền phối hợp xử lý như
sau:
a) Trường hợp Cơ quan điều tra phát hiện
thì Thủ trưởng Cơ quan điều tra hoặc Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra được ủy
quyền có văn bản đề nghị Viện kiểm sát có thẩm quyền hoặc kiến nghị Viện kiểm
sát cấp trên trực tiếp xem xét, quyết định việc thay đổi hoặc hủy bỏ; nếu Viện
kiểm sát không nhất trí thì thông báo bằng văn bản nêu rõ lý do;
b) Trường hợp Viện kiểm sát có thẩm quyền
phát hiện thì Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền trao đổi với Thủ trưởng
Cơ quan điều tra hoặc Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra được ủy quyền trước khi
xem xét, quyết định việc thay đổi hoặc hủy bỏ;
c) Sau khi hủy bỏ, nếu thấy cần ra lệnh,
quyết định khác thì Viện kiểm sát có thẩm quyền có văn bản yêu cầu Cơ quan điều
tra ra lệnh, quyết định để Viện kiểm sát có thẩm quyền phê chuẩn. Trường hợp Cơ
quan điều tra không thực hiện thì Viện kiểm sát có thẩm quyền xem xét, quyết định
theo thẩm quyền.
Điều 6. Trách nhiệm
của Cơ quan điều tra trong việc thực hiện yêu cầu, quyết định của Viện kiểm sát
1. Trong giai đoạn khởi tố, điều tra,
truy tố, Cơ quan điều tra phải thực hiện yêu cầu, quyết định của Viện kiểm sát
theo quy định tại các điều 162, 167, 236 và 238 của Bộ luật Tố tụng
hình sự.
2. Đối với quyết định quy định tại khoản 1 và khoản 6 Điều 159, điểm b khoản 1 Điều 161, khoản 4 và
khoản 5 Điều 165 của Bộ luật Tố tụng hình sự nếu không nhất trí, Cơ quan điều
tra vẫn phải thực hiện nhưng có quyền kiến nghị với Viện kiểm sát cấp trên trực
tiếp của Viện kiểm sát có thẩm quyền xem xét, giải quyết; nếu là Cơ quan điều
tra ở cấp trung ương thì kiến nghị với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối
cao, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương xem xét, giải quyết. Trường hợp
nhất trí với kiến nghị của Cơ quan điều tra thì Viện kiểm sát cấp trên hủy bỏ
quyết định của Viện kiểm sát cấp dưới; nếu không nhất trí thì thông báo bằng
văn bản nêu rõ lý do cho Cơ quan điều tra đã kiến nghị và Viện kiểm sát cấp dưới.
Điều 7. Khởi tố vụ
án; thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự
1. Trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày
nhận được quyết định khởi tố vụ án hình sự và các tài liệu có liên quan của Cơ
quan điều tra, Viện kiểm sát có thẩm quyền phải xem xét, xử lý như sau:
a) Nếu thấy quyết định khởi tố vụ án
hình sự có căn cứ và hợp pháp thì ra quyết định phân công Kiểm sát viên, Kiểm
tra viên thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều tra vụ án và gửi
cho Cơ quan điều tra;
b) Nếu thấy chưa rõ căn cứ để khởi tố vụ
án thì có văn bản yêu cầu Cơ quan điều tra bổ sung chứng cứ, tài liệu để làm
rõ;
c) Nếu thấy quyết định khởi tố vụ án
hình sự không có căn cứ thì có văn bản yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết định hủy
bỏ quyết định đó; trường hợp Cơ quan điều tra không nhất trí hoặc là quyết định
khởi tố vụ án hình sự của Thủ trưởng Cơ quan điều tra thì Viện kiểm sát có thẩm
quyền ra quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự theo quy định tại khoản 6 Điều 159 và khoản 1 Điều 161 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
2. Trong thời hạn 02 ngày, kể từ ngày
nhận được quyết định không khởi tố vụ án hình sự và các tài liệu có liên quan của
Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có thẩm quyền phải xem xét, xử lý như sau:
a) Nếu thấy quyết định không khởi tố vụ
án hình sự có căn cứ thì thông báo bằng văn bản cho Cơ quan điều tra;
b) Nếu thấy chưa đủ căn cứ thì có văn bản
yêu cầu Cơ quan điều tra bổ sung chứng cứ, tài liệu để làm rõ;
c) Nếu thấy quyết định không khởi tố vụ
án hình sự không có căn cứ thì có văn bản yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết định
hủy bỏ quyết định đó và ra quyết định khởi tố vụ án hình sự; nếu Cơ quan điều
tra không thực hiện thì Viện kiểm sát có thẩm quyền ra quyết định hủy bỏ quyết
định không khởi tố vụ án hình sự và ra quyết định khởi tố vụ án hình sự theo
quy định tại điểm a khoản 3 Điều 153, khoản 6 Điều 159 của Bộ luật
Tố tụng hình sự và gửi cho Cơ quan điều tra để tiến hành điều tra.
3. Trường hợp Viện kiểm sát có thẩm quyền
yêu cầu khởi tố vụ án hình sự thì chậm nhất 03 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu,
Cơ quan điều tra phải ra quyết định khởi tố vụ án hình sự; nếu Cơ quan điều tra
không thực hiện thì Viện kiểm sát có thẩm quyền quyết định việc khởi tố theo
quy định tại khoản 3 Điều 153 và điểm d khoản 1 Điều 161 của Bộ luật
Tố tụng hình sự và gửi cho Cơ quan điều tra để tiến hành điều tra.
4. Trường hợp khởi tố vụ án hình sự
theo yêu cầu của Hội đồng xét xử thì trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định
khởi tố vụ án, Viện kiểm sát có thẩm quyền chuyển quyết định khởi tố và các tài
liệu có liên quan cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền để tiến hành điều tra.
5. Trường hợp khởi tố vụ án hình sự
theo yêu cầu của bị hại, thì yêu cầu khởi tố của bị hại hoặc người đại diện của
bị hại phải thể hiện bằng văn bản có chữ ký hoặc điểm chỉ của họ; trường hợp bị
hại hoặc người đại diện của bị hại đến trực tiếp trình bày thì Cơ quan điều
tra, Viện kiểm sát phải lập biên bản ghi rõ nội dung yêu cầu khởi tố để họ ký
hoặc điểm chỉ vào biên bản. Biên bản do Viện kiểm sát lập phải được chuyển ngay
cho Cơ quan điều tra để xem xét việc khởi tố vụ án hình sự và đưa vào hồ sơ vụ
án.
Sau khi khởi tố vụ án hình sự mà bị hại
hoặc người đại diện của họ rút yêu cầu khởi tố, nếu đang điều tra hoặc đã có bản
kết luận điều tra nhưng hồ sơ chưa chuyển cho Viện kiểm sát có thẩm quyền thì
Cơ quan điều tra xem xét, quyết định việc đình chỉ điều tra; nếu đã chuyển hồ
sơ cho Viện kiểm sát có thẩm quyền thì Viện kiểm sát có thẩm quyền xem xét, quyết
định việc đình chỉ vụ án.
Điều 8. Thay đổi
hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự
1. Trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày
nhận được quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự và
các tài liệu có liên quan của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có thẩm quyền phải
xem xét, xử lý như sau:
a) Nếu thấy chưa rõ căn cứ thì có văn bản
yêu cầu Cơ quan điều tra bổ sung chứng cứ, tài liệu để làm rõ;
b) Nếu thấy quyết định thay đổi hoặc
quyết định bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự không có căn cứ thì có văn
bản yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết định hủy bỏ quyết định đó; trường hợp Cơ
quan điều tra không nhất trí thì Viện kiểm sát có thẩm quyền ra quyết định hủy
bỏ quyết định thay đổi hoặc quyết định bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự
theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 161 của Bộ luật Tố tụng
hình sự.
2. Khi có căn cứ thay đổi hoặc bổ sung
quyết định khởi tố vụ án hình sự, Viện kiểm sát có thẩm quyền có văn bản yêu cầu;
chậm nhất 03 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu, Cơ quan điều tra phải
ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự; nếu đã
yêu cầu mà Cơ quan điều tra không thực hiện thì Viện kiểm sát có thẩm quyền ra
quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự.
3. Không thay đổi quyết định khởi tố vụ
án hình sự nếu qua điều tra xác định được hành vi của bị can phạm vào khoản
khác của tội danh đã khởi tố.
Ví dụ: Quyết định khởi tố vụ án hình sự,
khởi tố bị can đối với Nguyễn Văn A về tội trộm cắp tài sản theo khoản
2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự; quá trình điều tra xác định được hành vi trộm
cắp của Nguyễn Văn A phạm vào khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình
sự hoặc phạm vào khoản 3 Điều 173 của Bộ luật Hình sự,
thì không phải ra quyết định thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự.
Điều 9. Khởi tố bị
can, thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can
1. Việc khởi tố bị can, thay đổi hoặc bổ
sung quyết định khởi tố bị can được thực hiện theo quy định tại các điều 179, 180 và 433 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Sau khi khởi tố bị can, việc hỏi cung bị
can, lấy lời khai người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại được
thực hiện theo quy định tại Điều 183 và Điều 442 của Bộ luật Tố
tụng hình sự.
2. Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi ra
quyết định khởi tố bị can, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố
bị can, Cơ quan điều tra phải có văn bản đề nghị Viện kiểm sát có thẩm quyền
phê chuẩn, nêu rõ lý lịch bị can, căn cứ khởi tố, tổng số tài liệu liên quan đến
việc khởi tố bị can, việc thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can để Viện
kiểm sát có thẩm quyền xét phê chuẩn.
3. Trường hợp Cơ quan điều tra, Viện kiểm
sát có thẩm quyền thay đổi quyết định khởi tố bị can theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 180 của Bộ luật Tố tụng hình sự hoặc bổ sung
quyết định khởi tố bị can, nếu quyết định khởi tố vụ án hình sự chưa khởi tố về
tội đó thì trước khi ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị
can phải ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự.
Ví dụ 1: Cơ quan điều tra quyết định khởi
tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Nguyễn Văn A về tội lạm dụng tín nhiệm
chiếm đoạt tài sản. Quá trình điều tra xác định hành vi của A cấu thành tội lừa
đảo chiếm đoạt tài sản, thì trước khi Cơ quan điều tra ra quyết định thay đổi
quyết định khởi tố bị can đối với A từ tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
sang tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Cơ quan điều tra phải ra quyết định thay đổi
quyết định khởi tố vụ án hình sự từ tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
sang tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Ví dụ 2: Cơ quan điều tra quyết định khởi
tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Nguyễn Văn B về tội lạm dụng tín nhiệm
chiếm đoạt tài sản. Quá trình điều tra xác định B còn thực hiện hành vi lừa đảo
chiếm đoạt tài sản, thì trước khi Cơ quan điều tra ra quyết định bổ sung quyết
định khởi tố bị can đối với B về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Cơ quan điều
tra phải ra quyết định bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự đối với tội lừa
đảo chiếm đoạt tài sản.
4. Không thay đổi quyết định khởi tố bị
can khi quá trình điều tra làm rõ hành vi của bị can phạm vào khoản khác trong
cùng tội danh, điều luật đã khởi tố đối với bị can.
5. Trường hợp Viện kiểm sát có thẩm quyền
đã có văn bản yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố bị can, quyết định
thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can nhưng Cơ quan điều tra không thực
hiện thì Viện kiểm sát ra quyết định khởi tố bị can, quyết định thay đổi hoặc bổ
sung quyết định khởi tố bị can.
6. Việc ra quyết định khởi tố vụ án
hình sự, khởi tố bị can hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự, bổ sung
quyết định khởi tố bị can trong trường hợp bị can có nhiều hành vi phạm tội
nhưng cùng tội danh và trường hợp bị can phạm nhiều tội, được thực hiện như
sau:
a) Nếu một người thực hiện nhiều hành
vi phạm tội nhưng cùng một tội danh và bị phát hiện cùng một thời điểm, thì chỉ
ra một quyết định khởi tố vụ án hình sự, một quyết định khởi tố bị can đối với
tất cả các lần phạm tội đó. Nếu trong quá trình điều tra, truy tố phát hiện bị
can còn thực hiện hành vi phạm tội có cùng tội danh mà chưa bị khởi tố thì ra
quyết định bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự về hành vi phạm tội đó.
Ví dụ 1: Ngày 01/4/2025, Cơ quan điều
tra Công an tỉnh T làm rõ: Từ tháng 01/2025 đến tháng 3/2025, Nguyễn Văn A đã
thực hiện 05 hành vi phạm tội trộm cắp tài sản tại địa bàn phường H, tỉnh T.
Trong trường hợp này, Cơ quan điều tra Công an tỉnh T chỉ ra 01 quyết định khởi
tố vụ án, về tội “Trộm cắp tài sản” xảy ra tại phường H và ra 01 quyết định khởi
tố bị can về tội “Trộm cắp tài sản” đối với Nguyễn Văn A về 05 hành vi trộm cắp
tài sản.
Ví dụ 2: Quá trình điều tra vụ án Nguyễn
Văn A phạm tội trộm cắp tài sản nêu tại Ví dụ 1 trên, Cơ quan điều tra Công an
tỉnh T làm rõ: Tháng 01/2025, Nguyễn Văn A còn thực hiện hành vi phạm tội trộm
cắp tài sản tại phường M, tỉnh T. Trong trường hợp này, Cơ quan điều tra Công
an tỉnh T phải ra quyết định bổ sung quyết định khởi tố vụ án về hành vi trộm cắp
tài sản xảy tại phường M để tiến hành điều tra;
b) Nếu tại một thời điểm mà một người
thực hiện nhiều hành vi phạm tội khác nhau và được phát hiện cùng thời điểm,
thì chỉ ra một quyết định khởi tố vụ án hình sự, một quyết định khởi tố bị can
đối với tất cả các hành vi phạm tội, trong đó ghi rõ từng tội danh và điều, khoản
của Bộ luật Hình sự được áp dụng.
Ví dụ: Ngày 01/01/2025, Nguyễn Văn A thực
hiện hành vi phạm tội giết người, cướp tài sản tại phường H, tỉnh T thì bị bắt
trong trường hợp phạm tội quả tang. Trong trường hợp này, Cơ quan điều tra Công
an tỉnh T chỉ ra 01 quyết định khởi tố vụ án, 01 quyết định khởi tố bị can đối
với Nguyễn Văn A về 02 tội “Giết người” và “Cướp tài sản”, trong quyết định phải
ghi rõ điểm, khoản áp dụng theo Điều 123, Điều 168 của Bộ luật
Hình sự;
c) Nếu một người thực hiện nhiều hành
vi phạm tội khác nhau mà hành vi phạm tội trước là để thực hiện hành vi phạm tội
sau hoặc các hành vi phạm tội có liên quan đến nhau, thì chỉ ra một quyết định
khởi tố vụ án hình sự, một quyết định khởi tố bị can đối với các hành vi phạm tội,
trong đó ghi rõ từng tội danh và điều, khoản của Bộ
luật Hình sự được áp dụng.
Ví dụ: Để thực hiện hành vi phạm tội lừa
đảo chiếm đoạt tài sản, Nguyễn Văn A đã thực hiện hành vi phạm tội làm giả tài
liệu, con dấu của cơ quan, tổ chức để bị hại tin tưởng, chuyển tiền cho Nguyễn
Văn A. Trong trường hợp này, Cơ quan điều tra chỉ ra 01 quyết định khởi tố vụ
án, 01 quyết định khởi tố bị can đối với Nguyễn Văn A về 02 tội “Lừa đảo chiếm
đoạt tài sản” và “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”, trong quyết
định phải ghi rõ điểm, khoản áp dụng theo Điều 174, Điều 341 của
Bộ luật Hình sự;
d) Nếu một người thực hiện nhiều hành
vi phạm tội ở những thời điểm khác nhau và thuộc nhiều tội danh khác nhau nhưng
bị phát hiện cùng một thời điểm, thì chỉ ra một quyết định khởi tố vụ án hình sự,
một quyết định khởi tố bị can đối với các hành vi phạm tội, trong đó ghi rõ từng
tội danh và điều, khoản của Bộ luật Hình sự
được áp dụng.
Ví dụ: Ngày 01/4/2025, Cơ quan điều tra
tỉnh T làm rõ: Tháng 01/2025, Nguyễn Văn A thực hiện hành vi phạm tội lừa đảo
chiếm đoạt tài sản và tháng 02/2025, Nguyễn Văn A thực hiện hành vi phạm tội lạm
dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh T. Trường hợp này, Cơ quan
điều tra tỉnh T chỉ ra 01 quyết định khởi tố vụ án, 01 quyết định khởi tố bị
can đối với Nguyễn Văn A về 02 tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Lạm dụng
tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, trong quyết định phải ghi rõ điểm, khoản áp dụng
theo Điều 174, Điều 175 của Bộ luật Hình sự;
đ) Trường hợp khởi tố bị can về nhiều tội,
trong đó có tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra cấp trên
thì Cơ quan điều tra cấp dưới phải trao đổi, thống nhất với Viện kiểm sát có thẩm
quyền để chuyển toàn bộ vụ án cho Cơ quan điều tra cấp trên tiến hành điều tra.
Ví dụ: Quá trình điều tra vụ án Nguyễn
Văn A về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 168
của Bộ luật Hình sự, Cơ quan điều tra hình sự khu vực, Quân khu T phát hiện
Nguyễn Văn A còn thực hiện hành vi phạm tội “Giết người” theo quy định tại khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự (thuộc thẩm quyền điều
tra của Cơ quan điều tra hình sự Quân khu T). Trường hợp này, Cơ quan điều tra
hình sự khu vực phải trao đổi, thống nhất với Viện kiểm sát quân sự khu vực có
thẩm quyền để chuyển toàn bộ vụ án cho Cơ quan điều tra hình sự Quân khu T tiến
hành điều tra;
e) Trường hợp khởi tố bị can về nhiều tội,
trong đó có tội thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan An ninh điều tra, có tội
thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra mà nếu tách vụ án để điều
tra theo thẩm quyền sẽ ảnh hưởng đến tính khách quan, toàn diện của vụ án, thì
Cơ quan điều tra đang thụ lý vụ án phải trao đổi, thống nhất với Viện kiểm sát
có thẩm quyền đánh giá, xác định tội phạm nào là tội phạm chính. Tội phạm chính
thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra nào thì Cơ quan điều tra đó tiến
hành điều tra toàn bộ vụ án.
7. Sau khi nhận hồ sơ vụ án và bản kết
luận điều tra của Cơ quan điều tra, nếu Viện kiểm sát có thẩm quyền phát hiện
thấy có cá nhân, pháp nhân thương mại đã thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án
chưa bị khởi tố hoặc có căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị can không phạm
vào tội đã bị khởi tố hoặc còn hành vi phạm tội khác chưa bị khởi tố, thì Viện
kiểm sát xem xét, quyết định việc khởi tố bị can theo quy định tại khoản 4 Điều 179 của Bộ luật Tố tụng hình sự hoặc trả hồ sơ
cho Cơ quan điều tra để điều tra bổ sung, yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết định
khởi tố bị can, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can và
tiến hành các hoạt động điều tra theo thủ tục chung. Nếu đã yêu cầu mà Cơ quan
điều tra không thực hiện thì Viện kiểm sát ra quyết định khởi tố bị can, quyết
định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can và gửi cho Cơ quan điều
tra để tiến hành điều tra.
Điều 10. Giao nhận,
xét phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết
định khởi tố bị can
1. Cơ quan điều tra chủ động trao đổi với
Viện kiểm sát có thẩm quyền trước khi quyết định khởi tố bị can, quyết định
thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can.
2. Trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày
nhận được quyết định khởi tố bị can, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định
khởi tố bị can, Viện kiểm sát có thẩm quyền phải ra quyết định phê chuẩn hoặc hủy
bỏ quyết định khởi tố bị can, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi
tố bị can. Trường hợp xét thấy chưa đủ căn cứ để phê chuẩn, Kiểm sát viên kịp
thời trao đổi với Điều tra viên nội dung cần bổ sung chứng cứ, tài liệu và báo
cáo lãnh đạo mỗi ngành để xin ý kiến, thống nhất các nội dung cần bổ sung. Yêu
cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu của Viện kiểm sát phải được thể hiện bằng văn bản.
Trường hợp không bổ sung được chứng cứ, tài liệu thì Cơ quan điều tra phải có
văn bản nêu rõ lý do.
Sau khi thực hiện việc bổ sung chứng cứ,
tài liệu theo yêu cầu của Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra phải có văn bản tiếp
tục đề nghị phê chuẩn hoặc rút quyết định khởi tố bị can, quyết định thay đổi
hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can kèm theo các chứng cứ, tài liệu bổ sung
theo yêu cầu của Viện kiểm sát để Viện kiểm sát xem xét, quyết định theo thẩm
quyền.
3. Trường hợp xét phê chuẩn quyết định
khởi tố bị can đối với người đang bị tạm giữ thì thời hạn xét phê chuẩn không
quá thời hạn tạm giữ hoặc gia hạn tạm giữ. Chậm nhất trước khi hết thời hạn tạm
giữ hoặc gia hạn tạm giữ 24 giờ, Cơ quan điều tra phải chuyển hồ sơ đề nghị xét
phê chuẩn quyết định khởi tố bị can cho Viện kiểm sát có thẩm quyền. Trường hợp
Viện kiểm sát yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu làm căn cứ xét phê chuẩn, thì
thời gian bổ sung chứng cứ, tài liệu không quá thời hạn gia hạn tạm giữ; nếu
không bổ sung được chứng cứ, tài liệu trong thời hạn gia hạn tạm giữ thì Cơ
quan điều tra phải có văn bản nêu rõ lý do và đề nghị Viện kiểm sát xem xét,
quyết định.
4. Để bổ sung chứng cứ, tài liệu xem
xét, quyết định việc phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, quyết định thay đổi
hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can, nếu Kiểm sát viên và Điều tra viên cùng
hỏi cung bị can, lấy lời khai người đại diện theo pháp luật của pháp nhân
thương mại, người làm chứng, bị hại, đương sự thì Điều tra viên có trách nhiệm
sao chụp và chuyển ngay biên bản hỏi cung, biên bản lấy lời khai đó cho Kiểm
sát viên; nếu Kiểm sát viên trực tiếp tiến hành hỏi cung, lấy lời khai thì Kiểm
sát viên phải chuyển ngay biên bản hỏi cung, biên bản lấy lời khai đó cho Điều
tra viên để đưa vào hồ sơ vụ án.
5. Hồ sơ đề nghị Viện kiểm sát xét phê
chuẩn quyết định khởi tố bị can, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi
tố bị can gồm các chứng cứ, tài liệu sau:
a) Văn bản đề nghị xét phê chuẩn quyết
định khởi tố bị can, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị
can;
b) Quyết định khởi tố vụ án hình sự,
quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự;
c) Quyết định khởi tố bị can, quyết định
thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can;
d) Biên bản hỏi cung bị can (nếu có),
biên bản lấy lời khai người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại (nếu
có); biên bản lấy lời khai của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố,
người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ, người
làm chứng, bị hại và những người tham gia tố tụng khác (nếu có);
đ) Các chứng cứ, tài liệu khác làm căn
cứ khởi tố, thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can.
6. Việc thống kê, đóng dấu bút lục và
bàn giao tài liệu trong hồ sơ đề nghị phê chuẩn quy định tại Điều này được thực
hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 35 Thông tư liên tịch này.
7. Sau khi nhận được quyết định phê chuẩn
hoặc hủy bỏ quyết định khởi tố bị can; quyết định phê chuẩn hoặc hủy bỏ quyết định
thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố bị can; quyết định khởi tố bị can, quyết định
thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can của Viện kiểm sát có thẩm quyền
thì Cơ quan điều tra thực hiện theo quy định của Bộ
luật Tố tụng hình sự và lập biên bản về việc giao, nhận các quyết định này.
Điều 11. Đề ra yêu
cầu điều tra và thực hiện yêu cầu điều tra của Kiểm sát viên
1. Kiểm sát viên phải kịp thời trao đổi
với Điều tra viên, Cán bộ điều tra được phân công điều tra vụ án về vấn đề cần
điều tra ngay từ khi nhận được quyết định khởi tố vụ án hình sự và trong quá
trình điều tra, bảo đảm để Điều tra viên, Cán bộ điều tra kịp thời thu thập đầy
đủ các chứng cứ, tài liệu của vụ án.
Kiểm sát viên có thể đề ra yêu cầu điều
tra bằng lời nói trong quá trình trực tiếp kiểm sát các hoạt động khám nghiệm
hiện trường, khám nghiệm tử thi, khám xét, hỏi cung bị can, lấy lời khai người
làm chứng, bị hại, đương sự, đối chất, nhận dạng, thực nghiệm điều tra, nhận biết
giọng nói. Đối với các hoạt động điều tra khác, Kiểm sát viên phải đề ra yêu cầu
điều tra bằng văn bản, nêu rõ ràng, cụ thể những vấn đề cần điều tra, chứng cứ,
tài liệu cần thu thập. Văn bản yêu cầu điều tra phải được đưa vào hồ sơ vụ án.
2. Điều tra viên, Cán bộ điều tra được
phân công điều tra vụ án phải thực hiện yêu cầu điều tra của Kiểm sát viên; nếu
thấy cần thiết, Điều tra viên, Cán bộ điều tra có thể trao đổi với Kiểm sát
viên để làm rõ nội dung của yêu cầu điều tra. Trường hợp có nội dung yêu cầu điều
tra mà Điều tra viên, Cán bộ điều tra không nhất trí, thì Điều tra viên, Cán bộ
điều tra báo cáo Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên là
Trưởng Công an cấp xã hoặc Phó trưởng Công an cấp xã được phân công; Kiểm sát
viên báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền để thống
nhất về nội dung yêu cầu điều tra. Trường hợp Cơ quan điều tra không thực hiện
yêu cầu điều tra của Viện kiểm sát hoặc đã tiến hành các hoạt động điều tra
nhưng do trở ngại khách quan mà không thể thực hiện được yêu cầu điều tra của
Viện kiểm sát thì Cơ quan điều tra phải nêu rõ lý do trong bản kết luận điều
tra.
Điều 12. Viện kiểm
sát trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra
1. Trong giai đoạn điều tra, khi thuộc
một trong các trường hợp quy định tại khoản 7 Điều 165 của Bộ luật
Tố tụng hình sự thì Kiểm sát viên trực tiếp tiến hành hỏi cung bị can, lấy
lời khai người bị tạm giữ, người bị bắt, bị hại, đương sự, người làm chứng, người
chứng kiến, đối chất, thực nghiệm điều tra và các hoạt động điều tra khác theo
quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trường
hợp cần thiết, Kiểm sát viên thông báo trước cho Điều tra viên trước khi tiến
hành. Điều tra viên có trách nhiệm phối hợp với Kiểm sát viên để thực hiện các
hoạt động điều tra khi được yêu cầu; trường hợp Điều tra viên vắng mặt thì chậm
nhất 02 giờ trước khi Kiểm sát viên tiến hành một số hoạt động điều tra, Điều
tra viên phải thông báo cho Kiểm sát viên biết.
2. Trường hợp Viện kiểm sát trực tiếp
tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định tại khoản 3
Điều 236 và khoản 1 Điều 246 của Bộ luật Tố tụng hình sự mà thấy cần phối hợp
với Cơ quan điều tra thì chậm nhất 24 giờ trước khi tiến hành một số hoạt động
điều tra, Viện kiểm sát thông báo cho Cơ quan điều tra thời gian, địa điểm tiến
hành một số hoạt động điều tra để phân công Điều tra viên cùng phối hợp thực hiện;
trường hợp Điều tra viên vắng mặt thì chậm nhất 02 giờ trước khi Kiểm sát viên
tiến hành một số hoạt động điều tra, Điều tra viên phải thông báo cho Kiểm sát
viên biết.
3. Biên bản tiến hành một số hoạt động
điều tra của Kiểm sát viên phải được đưa vào hồ sơ vụ án.
Điều 13. Thông
báo, chuyển biên bản về các hoạt động điều tra
1. Chậm nhất 24 giờ trước khi tiến hành
đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói và thực nghiệm điều tra, Điều tra viên
phải thông báo cho Kiểm sát viên thời gian, địa điểm tiến hành. Trường hợp Kiểm
sát viên không thể tham gia được, thì chậm nhất 02 giờ trước khi Điều tra viên
tiến hành, Kiểm sát viên phải thông báo cho Điều tra viên biết lý do để ghi vào
biên bản.
2. Ngay sau khi Viện kiểm sát có thẩm
quyền phê chuẩn lệnh khám xét, Điều tra viên trao đổi, thống nhất với Kiểm sát
viên về thời gian và địa điểm tiến hành khám xét để Kiểm sát viên tham gia. Trường
hợp bất khả kháng, Kiểm sát viên vắng mặt thì chậm nhất 02 giờ trước khi Điều
tra viên tiến hành, Kiểm sát viên phải thông báo cho Điều tra viên biết lý do để
ghi vào biên bản.
3. Trường hợp Kiểm sát viên không tham
gia kiểm sát các hoạt động điều tra nêu tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, thì
sau khi kết thúc hoạt động điều tra, Điều tra viên phải chuyển biên bản, tài liệu
về các hoạt động điều tra này cho Kiểm sát viên theo đúng quy định tại khoản 5 Điều 88 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Điều 14. Tính thời
hạn tố tụng trong trường hợp nhập vụ án hình sự, bị can phạm vào tội nặng hơn
hoặc nhẹ hơn, khởi tố, điều tra bổ sung về một tội phạm khác
1. Trường hợp nhập vụ án hình sự để điều
tra theo quy định tại khoản 1 Điều 170 của Bộ luật Tố tụng hình
sự, thì thời hạn điều tra của vụ án và thời hạn tạm giam bị can được tính
theo tội nặng nhất đã khởi tố đối với bị can. Thời hạn điều tra được tính từ
ngày khởi tố vụ án đầu tiên.
2. Trường hợp đang điều tra vụ án mà
xác định hành vi của bị can phạm vào khoản có khung hình phạt nặng hơn trong
cùng một điều luật và trường hợp quyết định thay đổi quyết định khởi tố bị can sang
tội nặng hơn ở điều luật khác, thì thời hạn điều tra, thời hạn tạm giam được
tính theo tội nặng hơn nhưng phải trừ thời hạn đã điều tra, tạm giam trước đó.
Ví dụ 1: Ngày 01/01/2025, Cơ quan điều
tra khởi tố bị can, áp dụng biện pháp tạm giam đối với Nguyễn Văn A về tội trộm
cắp tài sản theo khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự (loại
tội phạm nghiêm trọng). Đến ngày 30/01/2025, căn cứ kết quả điều tra xác định
hành vi trộm cắp của bị can phạm vào khoản 3 Điều 173 của Bộ luật
Hình sự (loại tội phạm rất nghiêm trọng); do đó, từ ngày 30/01/2025, thời hạn
điều tra, tạm giam đối với bị can Nguyễn Văn A được tính theo tội phạm rất
nghiêm trọng và phải trừ thời gian đã điều tra, đã tạm giam bị can Nguyễn Văn A
trước đó (01 tháng).
Ví dụ 2: Ngày 01/01/2025, Cơ quan điều
tra khởi tố bị can, áp dụng biện pháp tạm giam đối với Nguyễn Văn B về tội cố ý
gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Ngày 30/01/2025, Cơ quan
điều tra ra quyết định thay đổi quyết định khởi tố bị can đối với Nguyễn Văn B
sang tội giết người theo khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự;
do đó, thời hạn điều tra, thời hạn tạm giam bị can được tính theo tội giết người
kể từ ngày 30/01/2025 và phải trừ thời gian đã điều tra, đã tạm giam bị can về
tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trước đó
(01 tháng).
3. Trường hợp đang điều tra vụ án mà
quyết định bổ sung quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can về một tội phạm
khác, thì thời hạn điều tra, thời hạn tạm giam được tính theo tội nặng nhất. Tổng
thời hạn điều tra không vượt quá thời hạn quy định tại Điều 172
của Bộ luật Tố tụng hình sự; tổng thời hạn tạm giam theo quy định tại Điều 173 của Bộ luật Tố tụng hình sự nhưng không vượt quá thời
hạn điều tra.
4. Trường hợp thay đổi quyết định khởi
tố bị can từ tội nặng hơn sang tội nhẹ hơn hoặc xác định được hành vi của bị
can phạm vào khoản có khung hình phạt nhẹ hơn trong cùng tội danh, thì thời hạn
điều tra và thời hạn tạm giam được tính theo tội nhẹ hơn. Ngay sau khi thay đổi
quyết định khởi tố bị can, Cơ quan điều tra phải trao đổi, thống nhất với Viện
kiểm sát có thẩm quyền để xem xét, quyết định về việc áp dụng hoặc hủy bỏ, thay
thế biện pháp ngăn chặn đối với bị can phù hợp với tội nhẹ hơn.
5. Trường hợp trong cùng vụ án có nhiều
bị can, có bị can phạm tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, có bị can phạm tội rất
nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng (có bị can tội nhẹ, có bị can tội nặng),
thì căn cứ vào vụ án cụ thể, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát phối hợp thống nhất
tính thời hạn điều tra, truy tố vụ án, thời hạn áp dụng biện pháp ngăn chặn đối
với bị can theo quy định của pháp luật.
Điều 15. Áp dụng
biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt người bị giữ trong trường hợp
khẩn cấp
1. Khi đề nghị Viện kiểm sát có thẩm
quyền phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, Cơ quan điều
tra phải có văn bản nêu rõ lý do, kèm theo chứng cứ, tài liệu chứng minh căn cứ
bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, cụ thể như sau:
a) Nếu giữ người trong trường hợp khẩn
cấp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 110 của Bộ luật Tố tụng
hình sự thì trong hồ sơ phải có chứng cứ, tài liệu chứng minh rõ căn cứ để
xác định người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm
đặc biệt nghiêm trọng;
b) Nếu giữ người trong trường hợp khẩn
cấp theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 110 của Bộ luật Tố tụng
hình sự thì trong hồ sơ phải có biên bản ghi lời khai của người cùng thực hiện
tội phạm hoặc bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt nhìn
thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm và các tài liệu hoặc căn cứ
xác định người đó bỏ trốn nếu không bị giữ;
c) Nếu giữ người trong trường hợp khẩn
cấp theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 110 của Bộ luật Tố tụng
hình sự thì trong hồ sơ phải có chứng cứ, tài liệu xác định có dấu vết, tài
liệu, đồ vật của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở hoặc nơi làm việc hoặc trên
phương tiện của người bị nghi thực hiện tội phạm đó; tài liệu, căn cứ xác định
người đó bỏ trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ.
2. Trường hợp Kiểm sát viên trực tiếp gặp,
hỏi người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp để xem xét, quyết định phê chuẩn hoặc
quyết định không phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, thì
Kiểm sát viên thông báo cho Điều tra viên, Cán bộ điều tra để phối hợp thực hiện.
Điều tra viên, Cán bộ điều tra có trách nhiệm phối hợp với Kiểm sát viên trong
việc gặp, hỏi người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp. Biên bản ghi lời khai của
người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp do Kiểm sát viên lập phải được đưa vào hồ
sơ vụ án.
3. Việc ra quyết định tạm giữ người bị
giữ trong trường hợp khẩn cấp được thực hiện trong thời hạn 12 giờ kể từ khi Cơ
quan điều tra giữ người hoặc nhận người bị giữ (chưa cần có quyết định phê chuẩn
lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp của Viện kiểm sát). Quyết định
tạm giữ người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp được ra trước hoặc cùng với lệnh
bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp.
4. Sau khi nhận được quyết định phê chuẩn
lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, Điều tra viên phải lập biên bản
bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp tại cơ sở giam giữ. Người chứng kiến
việc lập biên bản là cán bộ của cơ sở giam giữ.
5. Trường hợp Cơ quan điều tra đang thụ
lý hồ sơ vụ án đề nghị Cơ quan điều tra khác hoặc những người quy định tại điểm b và điểm c khoản 2 Điều 110 của Bộ luật Tố tụng hình sự
phối hợp giữ người trong trường hợp khẩn cấp, thì ngay sau khi thực hiện việc
giữ người, Cơ quan điều tra và những người được đề nghị phối hợp phải thông báo
ngay cho Cơ quan điều tra đã đề nghị đến nhận người bị giữ và các tài liệu có
liên quan; đồng thời phối hợp trong việc áp giải người bị giữ trong trường hợp
khẩn cấp về đến trụ sở Cơ quan điều tra. Tài liệu đề nghị phối hợp giữ người
trong trường hợp khẩn cấp phải được đưa vào hồ sơ vụ án.
Cơ quan điều tra đã ra lệnh giữ người
trong trường hợp khẩn cấp có thể fax hoặc gửi bản ảnh lệnh đó qua phương tiện
điện tử hoặc lệnh ký chữ ký số cho cơ quan, người được đề nghị phối hợp thực hiện
việc giữ người nhưng sau đó phải gửi bản chính để đưa vào hồ sơ vụ án.
Điều 16. Phê chuẩn
lệnh tạm giam trong trường hợp người đang bị tạm giữ bị khởi tố bị can
1. Trường hợp khởi tố bị can đối với
người đang bị tạm giữ thì chậm nhất 24 giờ trước khi hết thời hạn tạm giữ hoặc
gia hạn tạm giữ, Cơ quan điều tra phải chuyển hồ sơ đề nghị phê chuẩn quyết định
khởi tố bị can, lệnh tạm giam cho Viện kiểm sát có thẩm quyền. Khi hồ sơ đã
chuyển cho Viện kiểm sát để xét phê chuẩn, nếu có chứng cứ, tài liệu bổ sung
thì Cơ quan điều tra phải chuyển ngay cho Viện kiểm sát. Việc xét phê chuẩn quyết
định khởi tố bị can được tiến hành cùng với việc xét phê chuẩn lệnh tạm giam bị
can.
Trường hợp chưa hết thời hạn tạm giữ,
Cơ quan điều tra đề nghị phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, lệnh tạm giam, nếu
chưa đủ căn cứ khởi tố, tạm giam bị can nhưng có căn cứ gia hạn tạm giữ thì Viện
kiểm sát có thẩm quyền yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết định gia hạn tạm giữ
và gửi ngay cho Viện kiểm sát phê chuẩn. Trong thời hạn gia hạn tạm giữ, Cơ
quan điều tra phải khẩn trương thu thập, củng cố chứng cứ, tài liệu và chuyển
ngay cho Viện kiểm sát để xét phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, lệnh tạm
giam.
2. Trường hợp Viện kiểm sát không phê
chuẩn quyết định khởi tố bị can, lệnh tạm giam thì ra quyết định hủy bỏ quyết định
khởi tố bị can, quyết định không phê chuẩn lệnh tạm giam và yêu cầu Cơ quan điều
tra trả tự do ngay cho người bị tạm giữ; trường hợp Viện kiểm sát đã phê chuẩn
quyết định gia hạn tạm giữ thì Viện kiểm sát ra quyết định trả tự do cho người
bị tạm giữ.
3. Trường hợp xét thấy việc khởi tố bị
can có căn cứ, nhưng không cần thiết phải tạm giam bị can thì Viện kiểm sát ra quyết
định phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, quyết định không phê chuẩn lệnh tạm
giam; nếu thấy cần thiết thì yêu cầu Cơ quan điều tra áp dụng biện pháp ngăn chặn
khác đối với bị can.
4. Hồ sơ đề nghị xét phê chuẩn quyết định
khởi tố bị can, lệnh tạm giam quy định tại khoản 1 Điều này gồm:
a) Văn bản đề nghị xét phê chuẩn nêu rõ
lý do, kèm theo hồ sơ liên quan đến việc tạm giam; lệnh tạm giam bị can;
b) Hồ sơ đề nghị xét phê chuẩn quyết định
khởi tố bị can theo quy định tại khoản 5 Điều 10 Thông tư liên tịch
này.
Điều 17. Tính thời
hạn tạm giam trong trường hợp bị can đã bị tạm giữ và cách ghi thời hạn trong lệnh
tạm giam, lệnh bắt bị can để tạm giam đối với bị can đã bị tạm giữ
1. Thời hạn tạm giữ được trừ vào thời hạn
tạm giam để điều tra. Nếu việc tạm giam liên tục với việc tạm giữ thì thời hạn
tạm giam được tính tiếp từ ngày hết thời hạn tạm giữ. Nếu việc tạm giam không
liên tục với việc tạm giữ thì thời hạn tạm giam được tính kể từ ngày bắt bị can
để tạm giam cho đến ngày kết thúc được ghi trong lệnh (đã trừ đi số ngày bị tạm
giữ). Thời điểm cuối cùng của thời hạn tạm giam là 24 giờ 00 phút của ngày cuối
cùng được ghi trong lệnh. Khi tính thời hạn tạm giữ, tạm giam phải căn cứ vào
thời hạn thực tế được ghi trong quyết định tạm giữ, lệnh tạm giam, lệnh bắt bị
can để tạm giam và tính liên tục cả ngày nghỉ (thứ bảy, chủ nhật, ngày lễ, ngày
tết), 01 tháng tạm giam được tính bằng 30 ngày.
2. Cách ghi thời hạn trong lệnh tạm
giam, lệnh bắt bị can để tạm giam trong trường hợp trước đó bị can đã bị tạm giữ
được thực hiện như sau: thời hạn tạm giam được tính theo ngày, bắt đầu kể từ
ngày cuối cùng của thời hạn tạm giữ hoặc ngày bắt bị can để tạm giam và kết
thúc vào ngày cuối cùng của thời hạn tạm giam (sau khi đã trừ đi số ngày tạm giữ).
Ví dụ 1: Nguyễn Văn A bị tạm giữ 03
ngày, từ 10 giờ 00 phút ngày 01/3/2025 đến 10 giờ 00 phút ngày 04/3/2025, sau
đó A bị khởi tố bị can và bị ra lệnh tạm giam 02 tháng, thì thời hạn tạm giam
thực tế đối với bị can là 01 tháng 27 ngày (đã trừ 03 ngày tạm giữ). Do đó, thời
hạn trong lệnh tạm giam, quyết định phê chuẩn lệnh tạm giam ghi là: tạm giam
trong thời hạn 01 tháng 27 ngày, kể từ ngày 04/3/2025 đến hết ngày 29/4/2025 đối
với bị can Nguyễn Văn A.
Ví dụ 2: Trần Thị B bị tạm giữ 06 ngày,
từ 14 giờ 00 phút ngày 05/3/2025 đến 14 giờ 00 phút ngày 11/3/2025 thì được áp
dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Đến ngày 11/4/2025 bị can B bị bắt để tạm
giam thời hạn là 02 tháng, thì thời hạn tạm giam đối với bị can B là 01 tháng
24 ngày (đã trừ 06 ngày tạm giữ). Do đó, thời hạn trong lệnh bắt bị can để tạm
giam, quyết định phê chuẩn lệnh bắt bị can để tạm giam ghi là: tạm giam trong
thời hạn 01 tháng 24 ngày, kể từ ngày 11/4/2025 đến hết ngày 03/6/2025 đối với
bị can Trần Thị B.
Điều 18. Sử dụng lệnh
tạm giam của Cơ quan điều tra và quyết định gia hạn thời hạn tạm giam của Viện
kiểm sát trong giai đoạn truy tố
1. Khi kết thúc điều tra đề nghị truy tố
và chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát có thẩm quyền, Cơ quan điều tra phải
thông báo cho cơ sở giam giữ nơi bị can đang bị tạm giam.
2. Ngay sau khi nhận hồ sơ vụ án, Kiểm
sát viên phải kiểm tra thời hạn tạm giam bị can để báo cáo Viện trưởng, Phó Viện
trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền xem xét, quyết định như sau:
a) Nếu thời hạn tạm giam để điều tra
theo lệnh tạm giam của Cơ quan điều tra hoặc theo quyết định gia hạn tạm giam của
Viện kiểm sát vẫn còn mà bằng hoặc dài hơn thời hạn quyết định việc truy tố quy
định tại khoản 1 Điều 240 của Bộ luật Tố tụng hình sự đối với
tội phạm đang xem xét quyết định việc truy tố và xét thấy cần thiết phải tiếp tục
tạm giam bị can trong giai đoạn truy tố thì Viện kiểm sát có thẩm quyền tiếp tục
sử dụng lệnh tạm giam hoặc quyết định gia hạn tạm giam đó mà không phải ra lệnh
tạm giam mới;
b) Nếu thời hạn tạm giam để điều tra
theo lệnh tạm giam của Cơ quan điều tra hoặc theo quyết định gia hạn tạm giam của
Viện kiểm sát vẫn còn nhưng không đủ để hoàn thành việc truy tố thì trước khi hết
thời hạn tạm giam ít nhất 05 ngày, Viện kiểm sát có thẩm quyền ra lệnh tạm giam
mới; thời hạn tạm giam còn lại và thời hạn tạm giam mới không vượt quá thời hạn
quyết định việc truy tố quy định tại khoản 1 Điều 240 của Bộ luật
Tố tụng hình sự đối với tội phạm đang xem xét quyết định việc truy tố. Sau
khi ra lệnh tạm giam mới, Viện kiểm sát có thẩm quyền giao ngay lệnh tạm giam
cho bị can, cơ sở giam giữ nơi bị can đang bị tạm giam;
c) Trường hợp vụ án có bị can phạm tội
ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng và bị can phạm tội đặc
biệt nghiêm trọng, thì chậm nhất 05 ngày trước khi hết thời hạn tạm giam đối với
bị can phạm tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng, Kiểm
sát viên phải báo cáo để Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền
quyết định truy tố đối với các bị can trong vụ án hoặc áp dụng biện pháp ngăn
chặn khác đối với bị can phạm tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng, tội rất
nghiêm trọng.
Điều 19. Sử dụng lệnh
tạm giam, quyết định gia hạn tạm giam trong trường hợp trả hồ sơ để điều tra bổ
sung khi còn thời hạn tạm giam và việc tạm giam bị can khi chuyển vụ án để điều
tra, truy tố theo thẩm quyền
1. Trường hợp Viện kiểm sát có thẩm quyền
trả hồ sơ để điều tra bổ sung mà còn thời hạn tạm giam theo lệnh tạm giam của
Cơ quan điều tra hoặc lệnh tạm giam, quyết định gia hạn tạm giam của Viện kiểm
sát, thì Cơ quan điều tra tiếp tục sử dụng lệnh tạm giam hoặc quyết định gia hạn
tạm giam đó mà không phải ra lệnh tạm giam mới; nếu thời hạn điều tra bổ sung
chưa hết mà thời hạn tạm giam theo lệnh tạm giam của Cơ quan điều tra hoặc theo
lệnh tạm giam, quyết định gia hạn tạm giam của Viện kiểm sát không đủ để hoàn
thành việc điều tra bổ sung thì trước khi hết thời hạn tạm giam, gia hạn tạm
giam ít nhất 05 ngày, Cơ quan điều tra ra lệnh tạm giam và đề nghị Viện kiểm
sát có thẩm quyền phê chuẩn; thời hạn tạm giam trong trường hợp này được tính từ
ngày kế tiếp của ngày tạm giam cuối cùng ghi trong lệnh tạm giam hoặc quyết định
gia hạn tạm giam trước đó và không được quá thời hạn điều tra bổ sung quy định
tại khoản 2 Điều 174 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
2. Trường hợp chuyển
vụ án để điều tra, truy tố theo thẩm quyền thì việc tạm giam bị can được thực
hiện như sau:
a) Nếu còn thời hạn tạm giam để điều
tra theo lệnh tạm giam hoặc quyết định gia hạn tạm giam trước đó của Cơ quan điều
tra, Viện kiểm sát nơi chuyển vụ án và xét thấy cần tiếp tục tạm giam bị can
thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nơi nhận thụ lý vụ án tiếp tục sử dụng lệnh
tạm giam hoặc quyết định gia hạn tạm giam trước đó mà không phải ra lệnh tạm
giam mới; nếu thời hạn tạm giam còn lại không đủ để kết thúc điều tra và xét thấy
cần tiếp tục tạm giam bị can thì trước khi hết thời hạn tạm giam, gia hạn tạm
giam ít nhất 05 ngày, Cơ quan điều tra nơi nhận thụ lý vụ án có văn bản đề nghị
Viện kiểm sát có thẩm quyền gia hạn tạm giam theo quy định tại Điều
173 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
b) Nếu còn thời hạn tạm giam để truy tố
theo lệnh tạm giam hoặc quyết định gia hạn tạm giam của Viện kiểm sát nơi chuyển
vụ án và xét thấy cần tiếp tục tạm giam thì Viện kiểm sát nơi nhận thụ lý vụ án
tiếp tục sử dụng lệnh tạm giam hoặc quyết định gia hạn tạm giam của Viện kiểm
sát nơi chuyển vụ án mà không phải ra lệnh tạm giam mới; nếu thời hạn tạm giam
còn lại không đủ để hoàn thành việc truy tố và xét thấy cần tiếp tục tạm giam bị
can, thì Viện kiểm sát nơi nhận thụ lý vụ án phải ra lệnh tạm giam đối với bị
can.
Điều 20. Gia hạn
thời hạn áp dụng, hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều
tra
1. Trong giai đoạn điều tra, trước khi
hết thời hạn áp dụng biện pháp ngăn chặn 10 ngày, Cơ quan điều tra phải có văn
bản nêu rõ căn cứ, lý do và đề nghị Viện kiểm sát có thẩm quyền gia hạn thời hạn
áp dụng, hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp ngăn chặn.
2. Hồ sơ đề nghị gia hạn thời hạn áp dụng,
hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp ngăn chặn gồm:
a) Văn bản đề nghị của Cơ quan điều tra
nêu rõ căn cứ, lý do đề nghị gia hạn thời hạn áp dụng, hủy bỏ hoặc thay thế biện
pháp ngăn chặn;
b) Chứng cứ, tài liệu là căn cứ để Cơ
quan điều tra đề nghị gia hạn thời hạn áp dụng, hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp
ngăn chặn.
Điều 21. Áp dụng
biện pháp bảo lĩnh
1. Trường hợp Cơ quan điều tra quyết định
cho bị can được bảo lĩnh thì ngay sau khi ra quyết định áp dụng biện pháp bảo
lĩnh, Cơ quan điều tra có văn bản nêu rõ lý do, kèm theo chứng cứ, tài liệu gửi
Viện kiểm sát có thẩm quyền đề nghị xét phê chuẩn.
2. Hồ sơ đề nghị xét phê chuẩn quyết định
áp dụng biện pháp bảo lĩnh gồm:
a) Văn bản đề nghị xét phê chuẩn và quyết
định áp dụng biện pháp bảo lĩnh;
b) Giấy cam đoan có xác nhận của người đứng
đầu cơ quan, tổ chức nhận bảo lĩnh đối với trường hợp cơ quan, tổ chức nhận bảo
lĩnh cho bị can;
c) Giấy cam đoan có xác nhận của Ủy ban
nhân dân cấp xã nơi người nhận bảo lĩnh cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người
nhận bảo lĩnh làm việc, học tập đối với trường hợp cá nhân nhận bảo lĩnh cho bị
can (phải có giấy cam đoan của ít nhất 02 người bảo lĩnh);
d) Giấy cam đoan thực hiện các nghĩa vụ
của bị can được bảo lĩnh theo các nội dung quy định tại khoản 3
Điều 121 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
đ) Chứng cứ, tài liệu về hành vi phạm tội,
nhân thân của bị can để xác định tính chất, mức độ hành vi của bị can không cần
thiết phải áp dụng biện pháp tạm giam.
3. Trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày
nhận được hồ sơ đề nghị của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có thẩm quyền phải
ra quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn hoặc có văn bản yêu cầu Cơ quan điều
tra bổ sung chứng cứ, tài liệu để xét phê chuẩn quyết định áp dụng biện pháp bảo
lĩnh.
4. Khi có căn cứ xác định bị can vi phạm
nghĩa vụ cam đoan quy định tại khoản 3 Điều 121 của Bộ luật Tố
tụng hình sự, thì Cơ quan điều tra có văn bản nêu rõ lý do, kèm theo các
tài liệu xác định vi phạm của bị can và đề nghị Viện kiểm sát có thẩm quyền hủy
bỏ biện pháp bảo lĩnh. Cơ quan điều tra phải ra lệnh bắt bị can để tạm giam và
có văn bản đề nghị Viện kiểm sát có thẩm quyền phê chuẩn; thời hạn tạm giam
trong trường hợp này không được quá thời hạn điều tra vụ án.
5. Trường hợp Viện kiểm sát có căn cứ
xác định bị can vi phạm nghĩa vụ cam đoan thì có văn bản yêu cầu Cơ quan điều
tra thực hiện các thủ tục hủy bỏ biện pháp bảo lĩnh và áp dụng biện pháp tạm
giam theo quy định tại khoản 4 Điều này.
6. Trường hợp đã kết thúc điều tra chuyển
sang giai đoạn truy tố, Viện kiểm sát thấy cần thiết tiếp tục áp dụng biện pháp
bảo lĩnh đối với bị can thì Viện kiểm sát ra quyết định áp dụng biện pháp bảo
lĩnh. Thời hạn bảo lĩnh không quá thời hạn quyết định việc truy tố, tính từ
ngày kế tiếp của ngày cuối cùng ghi trong quyết định áp dụng biện pháp bảo lĩnh
của Cơ quan điều tra.
Điều 22. Áp dụng
biện pháp đặt tiền để bảo đảm
1. Trường hợp Cơ quan điều tra quyết định
cho bị can hoặc người thân thích của bị can được đặt tiền để bảo đảm, thì ngay
sau khi ra quyết định áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm, Cơ quan điều tra
có văn bản nêu rõ lý do, kèm theo chứng cứ, tài liệu gửi Viện kiểm sát có thẩm
quyền đề nghị xét phê chuẩn.
2. Hồ sơ đề nghị xét phê chuẩn quyết định
áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm gồm:
a) Văn bản đề nghị xét phê chuẩn và quyết
định áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm;
b) Chứng cứ, tài liệu thể hiện tính chất,
mức độ hành vi nguy hiểm cho xã hội, nhân thân và tình trạng tài sản của bị
can;
c) Tài liệu xác định bị can hoặc người
thân thích của bị can đã đặt tiền để bảo đảm;
d) Giấy cam đoan của bị can về việc cam
đoan thực hiện các nghĩa vụ quy định tại khoản 2 Điều 122 của Bộ
luật Tố tụng hình sự;
đ) Giấy cam đoan của người thân thích của
bị can theo quy định tại khoản 5 Điều 122 của Bộ luật Tố tụng
hình sự đối với trường hợp người thân thích của bị can đặt tiền để bảo đảm.
3. Trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày
nhận được hồ sơ đề nghị của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có thẩm quyền phải
ra quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn hoặc có văn bản yêu cầu Cơ quan điều
tra bổ sung chứng cứ, tài liệu để xét phê chuẩn quyết định áp dụng biện pháp đặt
tiền để bảo đảm.
4. Khi có căn cứ xác định bị can vi phạm
nghĩa vụ cam đoan quy định tại khoản 2 Điều 122 của Bộ luật Tố
tụng hình sự, thì Cơ quan điều tra có văn bản nêu rõ lý do, kèm theo các
tài liệu xác định vi phạm của bị can và đề nghị Viện kiểm sát có thẩm quyền hủy
bỏ biện pháp đặt tiền để bảo đảm. Cơ quan điều tra phải ra lệnh bắt bị can để tạm
giam và có văn bản đề nghị Viện kiểm sát phê chuẩn; thời hạn tạm giam trong trường
hợp này không được quá thời hạn điều tra vụ án.
5. Trường hợp Viện kiểm sát có căn cứ
xác định bị can vi phạm nghĩa vụ cam đoan thì có văn bản yêu cầu Cơ quan điều
tra thực hiện các thủ tục hủy bỏ biện pháp đặt tiền để bảo đảm và áp dụng biện
pháp tạm giam theo quy định tại khoản 4 Điều này.
6. Trường hợp đã kết thúc điều tra chuyển
sang giai đoạn truy tố, Viện kiểm sát thấy cần thiết tiếp tục áp dụng biện pháp
đặt tiền để bảo đảm đối với bị can thì Viện kiểm sát ra quyết định áp dụng biện
pháp đặt tiền để bảo đảm. Thời hạn đặt tiền để bảo đảm không quá thời hạn quyết
định việc truy tố, tính từ ngày kế tiếp của ngày cuối cùng ghi trong quyết định
áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm của Cơ quan điều tra.
Điều 23. Áp dụng một
số biện pháp ngăn chặn khi gia hạn thời hạn điều tra, gia hạn thời hạn quyết định
việc truy tố
1. Khi gia hạn thời hạn điều tra, gia hạn
thời hạn quyết định việc truy tố mà thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn
xuất cảnh, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm của bị can đã hết thì Cơ quan điều
tra, Viện kiểm sát có thẩm quyền ra lệnh, quyết định mới. Cơ quan điều tra đề
nghị Viện kiểm sát phê chuẩn đối với quyết định áp dụng biện pháp bảo lĩnh và
quyết định áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm trước khi thi hành. Thời hạn
áp dụng các lệnh, quyết định mới của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát đối với
các bị can không quá thời hạn gia hạn điều tra, gia hạn thời hạn quyết định việc
truy tố.
2. Nếu thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú,
tạm hoãn xuất cảnh, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm của Cơ quan điều tra vẫn còn
mà bằng hoặc dài hơn thời hạn quyết định việc truy tố theo quy định tại khoản 1 Điều 240 của Bộ luật Tố tụng hình sự, mà xét thấy cần
tiếp tục áp dụng các biện pháp ngăn chặn đó, thì Viện kiểm sát tiếp tục sử dụng
lệnh, quyết định của Cơ quan điều tra.
Nếu thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm
hoãn xuất cảnh, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm của Cơ quan điều tra vẫn còn
nhưng không đủ thời hạn để hoàn thành việc truy tố, mà xét thấy cần tiếp tục áp
dụng các biện pháp ngăn chặn đó, thì chậm nhất 05 ngày trước khi hết thời hạn
được ghi trong lệnh, quyết định, Viện kiểm sát phải ra lệnh, quyết định mới. Thời
hạn cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm mới
không vượt quá thời hạn quyết định việc truy tố theo quy định tại khoản 1 Điều 240 của Bộ luật Tố tụng hình sự đối với tội phạm
đang xem xét quyết định việc truy tố.
Điều 24. Áp dụng
biện pháp tạm đình chỉ có thời hạn hoạt động của pháp nhân thương mại liên quan
đến hành vi phạm tội của pháp nhân thương mại, buộc nộp một khoản tiền để bảo đảm
thi hành án
1. Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi ra
quyết định tạm đình chỉ có thời hạn hoạt động của pháp nhân thương mại hoặc quyết
định buộc pháp nhân thương mại phải nộp một khoản tiền để bảo đảm thi hành án,
Cơ quan điều tra phải có hồ sơ gồm các chứng cứ, tài liệu sau đề nghị Viện kiểm
sát có thẩm quyền phê chuẩn:
a) Văn bản đề nghị xét phê chuẩn nêu rõ
lý do, căn cứ;
b) Quyết định tạm đình chỉ có thời hạn
hoạt động của pháp nhân thương mại hoặc quyết định buộc pháp nhân thương mại phải
nộp một khoản tiền để bảo đảm thi hành án;
c) Chứng cứ, tài liệu chứng minh căn cứ
áp dụng biện pháp tạm đình chỉ có thời hạn hoạt động của pháp nhân thương mại
hoặc quyết định buộc pháp nhân thương mại phải nộp một khoản tiền để bảo đảm thi
hành án.
2. Trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày
nhận được hồ sơ đề nghị của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có thẩm quyền phải
ra quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn hoặc có văn bản yêu cầu Cơ quan điều
tra bổ sung chứng cứ, tài liệu để xét phê chuẩn quyết định tạm đình chỉ có thời
hạn hoạt động của pháp nhân thương mại hoặc quyết định buộc pháp nhân thương mại
phải nộp một khoản tiền để bảo đảm thi hành án.
Điều 25. Quyết định,
phê chuẩn áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt
1. Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi ra
quyết định áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt theo quy định tại Điều 223 và Điều 224 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Thủ trưởng
Cơ quan điều tra cấp tỉnh, Thủ trưởng Cơ quan điều tra quân sự cấp quân khu trở
lên phải có hồ sơ đề nghị Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn quyết định
áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt.
2. Trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày
nhận được hồ sơ đề nghị của Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp tỉnh, Thủ trưởng Cơ
quan điều tra quân sự cấp quân khu trở lên, Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp
phải ra quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn hoặc có văn bản yêu cầu Thủ
trưởng Cơ quan điều tra cấp tỉnh, Thủ trưởng Cơ quan điều tra quân sự cấp quân
khu trở lên bổ sung chứng cứ, tài liệu để xét phê chuẩn quyết định áp dụng biện
pháp điều tra tố tụng đặc biệt.
3. Hồ sơ đề nghị xét phê chuẩn quyết định
áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt gồm:
a) Văn bản đề nghị xét phê chuẩn nêu rõ
lý do, căn cứ áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt và các thông tin, tài
liệu cần thiết thu thập khi áp dụng biện pháp này;
b) Quyết định áp dụng biện pháp điều
tra tố tụng đặc biệt của Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp tỉnh, Thủ trưởng Cơ
quan điều tra quân sự cấp quân khu trở lên theo quy định tại khoản
2 Điều 225 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
c) Các tài liệu khác là căn cứ để Thủ
trưởng Cơ quan điều tra cấp tỉnh, Thủ trưởng Cơ quan điều tra quân sự cấp quân
khu trở lên đề nghị xét phê chuẩn.
4. Trường hợp vụ án do Cơ quan điều tra
hình sự khu vực thụ lý, điều tra; vụ án được phân công cho Điều tra viên là Trưởng
Công an cấp xã hoặc Phó trưởng Công an cấp xã tiến hành khởi tố, điều tra mà thấy
cần thiết và có căn cứ áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt, thì Thủ trưởng
Cơ quan điều tra hình sự khu vực, Điều tra viên là Trưởng Công an cấp xã hoặc
Phó trưởng Công an cấp xã được phân công trao đổi với Viện trưởng Viện kiểm sát
có thẩm quyền về căn cứ và biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt có thể áp dụng.
Đồng thời, Thủ trưởng Cơ quan điều tra hình sự khu vực, Điều tra viên là Trưởng
Công an cấp xã hoặc Phó trưởng Công an cấp xã được phân công có văn bản kèm
theo hồ sơ đề nghị Thủ trưởng Cơ quan điều tra quân sự cấp quân khu, Thủ trưởng
Cơ quan điều tra cấp tỉnh ra quyết định áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc
biệt. Quyết định áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt của Thủ trưởng Cơ
quan điều tra cấp tỉnh, Thủ trưởng Cơ quan điều tra quân sự cấp quân khu; thời
hạn, trình tự, thủ tục đề nghị Viện trưởng Viện kiểm sát phê chuẩn thực hiện
theo quy định tại khoản 1 Điều này.
Điều 26. Thực hiện
biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt
1. Quá trình thực hiện biện pháp điều
tra tố tụng đặc biệt, Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp tỉnh, Thủ trưởng Cơ quan
điều tra quân sự cấp quân khu trở lên phải thường xuyên kiểm tra việc áp dụng
biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt, thông báo thông tin, tài liệu thu thập được
bằng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt cho Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp
và thống nhất việc sử dụng, xử lý đối với thông tin, tài liệu thu thập được
theo quy định tại Điều 227 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
2. Trường hợp xét thấy cần gia hạn thời hạn áp dụng
biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt, thì trước khi hết thời hạn áp dụng biện
pháp điều tra tố tụng đặc biệt 10 ngày, Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp tỉnh,
Thủ trưởng Cơ quan điều tra quân sự cấp quân khu trở lên phải có văn bản nêu rõ
lý do kèm theo chứng cứ, tài liệu là căn cứ đề nghị Viện trưởng Viện kiểm sát
cùng cấp xem xét, quyết định việc gia hạn. Trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày
nhận được văn bản đề nghị kèm theo chứng cứ, tài liệu của Thủ trưởng Cơ quan điều
tra cấp tỉnh, Thủ trưởng Cơ quan điều tra quân sự cấp quân khu trở lên, Viện
trưởng Viện kiểm sát cùng cấp phải ra quyết định gia hạn hoặc không gia hạn hoặc
có văn bản yêu cầu Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp tỉnh, Thủ trưởng Cơ quan điều
tra quân sự cấp quân khu trở lên bổ sung chứng cứ, tài liệu để xét gia hạn thời
hạn áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt.
Điều 27. Hủy bỏ, kết
thúc việc áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt
1. Khi xét thấy không cần thiết tiếp tục
áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt, Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp tỉnh,
Thủ trưởng Cơ quan điều tra quân sự cấp quân khu trở lên phải có văn bản đề nghị
Viện trưởng Viện kiểm sát đã phê chuẩn ra quyết định hủy bỏ quyết định áp dụng
biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt.
2. Khi thấy có căn cứ để hủy bỏ quyết định
áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt theo quy định tại khoản
2 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Viện trưởng Viện kiểm
sát đã phê chuẩn ra quyết định hủy bỏ quyết định đó và gửi cho Thủ trưởng Cơ
quan điều tra đã ra quyết định trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định hủy
bỏ để chuyển ngay quyết định đó đến cơ quan tiến hành biện pháp điều tra tố tụng
đặc biệt để kết thúc ngay việc áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt.
Điều 28. Việc quyết
định áp dụng thủ tục rút gọn
1. Trường hợp xét thấy vụ án có đủ điều
kiện áp dụng thủ tục rút gọn theo quy định tại Điều 456 của Bộ luật
Tố tụng hình sự mà Cơ quan điều tra không ra quyết định áp dụng thủ tục rút
gọn, thì Viện kiểm sát có thẩm quyền có văn bản yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết
định áp dụng thủ tục rút gọn. Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi nhận được văn bản
yêu cầu của Viện kiểm sát có thẩm quyền, Cơ quan điều tra phải ra quyết định áp
dụng thủ tục rút gọn hoặc có văn bản nêu rõ lý do không áp dụng thủ tục rút gọn.
Trường hợp nhận được văn bản nêu rõ lý do không áp dụng thủ tục rút gọn của Cơ
quan điều tra mà Viện kiểm sát có thẩm quyền thấy phải áp dụng thủ tục rút gọn
thì Viện kiểm sát ra quyết định và chuyển cho Cơ quan điều tra để thực hiện.
2. Trường hợp xét thấy quyết định áp dụng
thủ tục rút gọn của Cơ quan điều tra không có căn cứ và trái pháp luật, thì
trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi nhận được quyết định, Viện kiểm sát có thẩm
quyền phải ra quyết định hủy bỏ quyết định đó.
3. Trong giai đoạn
điều tra, nếu thấy không còn một trong các điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn
theo quy định tại các điểm
b, c và d khoản 1 Điều 456 của Bộ luật Tố tụng hình sự hoặc vụ án, bị can được tạm đình chỉ điều tra thì việc hủy
bỏ quyết định áp dụng thủ tục rút gọn được thực hiện như sau:
a) Trường hợp Cơ quan điều tra ra quyết
định áp dụng thủ tục rút gọn, thì Cơ quan điều tra phải ra quyết định hủy bỏ
quyết định áp dụng thủ tục rút gọn; nếu Cơ quan điều tra không thực hiện thì Viện
kiểm sát có thẩm quyền ra quyết định hủy bỏ;
b) Trường hợp Viện kiểm sát ra quyết định
áp dụng thủ tục rút gọn thì Viện kiểm sát ra quyết định hủy bỏ.
4. Trong giai đoạn truy tố, nếu thấy
không còn một trong các điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn theo quy định tại các
điểm b, c và d khoản 1 Điều 456 của Bộ luật Tố tụng hình sự
hoặc vụ án, bị can được tạm đình chỉ thì Viện kiểm sát có thẩm quyền ra quyết định
hủy bỏ quyết định áp dụng thủ tục rút gọn.
Điều 29. Chuyển vụ
án để điều tra, truy tố theo thẩm quyền; nhập, tách vụ án hình sự
1. Trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày
có căn cứ xác định vụ án không thuộc thẩm quyền điều tra, Cơ quan điều tra đang
điều tra vụ án trao đổi, thống nhất với Viện kiểm sát đang thực hành quyền công
tố, kiểm sát điều tra vụ án để có văn bản gửi Cơ quan điều tra có thẩm quyền điều
tra, Viện kiểm sát có thẩm quyền thực hành quyền công tố, kiểm sát việc giải
quyết vụ án, kèm theo các tài liệu xác định thẩm quyền điều tra để trao đổi về
việc chuyển hồ sơ vụ án để điều tra theo thẩm quyền. Trong thời hạn 05 ngày, kể
từ ngày nhận được văn bản trao đổi, Cơ quan điều tra có thẩm quyền điều tra phải
trao đổi với Viện kiểm sát có thẩm quyền thực hành quyền công tố, kiểm sát việc
giải quyết vụ án để có văn bản trả lời. Tùy từng trường hợp, việc chuyển vụ án
được xử lý như sau:
a) Trường hợp Cơ quan điều tra có thẩm
quyền điều tra nhất trí tiếp nhận hồ sơ vụ án để điều tra thì Cơ quan điều tra
đang điều tra có văn bản đề nghị chuyển vụ án gửi Viện kiểm sát đang thực hành
quyền công tố, kiểm sát điều tra vụ án để quyết định việc chuyển vụ án theo thẩm
quyền;
b) Trường hợp Cơ quan điều tra có thẩm quyền điều
tra không nhất trí tiếp nhận hồ sơ vụ án để điều tra thì phải có văn bản nêu rõ
lý do; nêu lý do không có căn cứ thì Cơ quan điều tra đang điều tra vụ án có
văn bản đề nghị chuyển vụ án gửi Viện kiểm sát đang thực hành quyền công tố, kiểm
sát điều tra vụ án để quyết định việc chuyển vụ án theo thẩm quyền, Cơ quan điều
tra có thẩm quyền điều tra phải tiếp nhận hồ sơ vụ án khi có quyết định chuyển
vụ án của Viện kiểm sát; nếu lý do không nhất trí do tranh chấp về thẩm quyền
điều tra thì Cơ quan điều tra đang điều tra vụ án phối hợp cùng Viện kiểm sát
đang thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra vụ án báo cáo, đề nghị Viện kiểm
sát có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về thẩm quyền điều tra xem xét giải quyết
về thẩm quyền điều tra theo quy định tại khoản 3 Điều 166 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
2. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày có
căn cứ xác định vụ án thuộc thẩm quyền thực hành quyền công tố, kiểm sát việc
giải quyết của Viện kiểm sát nhân dân khác trong cùng tỉnh, thành phố thì Viện
kiểm sát đang thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra vụ án chuyển việc thực
hiện thẩm quyền thực hành quyền công tố, kiểm sát việc giải quyết vụ án cho Viện
kiểm sát nhân dân có thẩm quyền và thông báo cho Cơ quan điều tra để phối hợp
trong quá trình điều tra vụ án.
3. Trường hợp Viện kiểm sát chuyển vụ
án để truy tố theo thẩm quyền thì Cơ quan điều tra kết thúc điều tra vụ án có
trách nhiệm phối hợp cùng Viện kiểm sát đã thực hành quyền công tố, kiểm sát điều
tra vụ án thực hiện yêu cầu, quyết định chuyển vật chứng (nếu có) và quyết định
khác của Viện kiểm sát có thẩm quyền truy tố.
4. Trường hợp có
căn cứ để nhập, tách vụ án hình sự theo quy định tại Điều 170, Điều 242 của Bộ luật Tố tụng
hình sự thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có thẩm
quyền trao đổi, thống nhất trước khi ra quyết định. Trường hợp có đủ căn cứ, điều
kiện nhập, tách vụ án hình sự nhưng Cơ quan điều tra không thực hiện thì Viện
kiểm sát có thẩm quyền có văn bản yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết định nhập,
tách vụ án hình sự để tiến hành điều tra.
Điều 30. Phân công
Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên
trong trường hợp ủy thác điều tra
Khi nhận được ủy thác điều tra mà xét
thấy hoạt động điều tra được ủy thác phức tạp, kéo dài thì Cơ quan điều tra được
ủy thác phải phân công Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra hoặc Điều tra viên là
Trưởng Công an cấp xã hoặc Phó trưởng Công an cấp xã, Điều tra viên tiến hành
điều tra những việc được ủy thác; Viện kiểm sát có thẩm quyền thực hành quyền
công tố, kiểm sát đối với hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra được ủy thác
phải phân công Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát
việc tiến hành hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra được ủy thác.
Điều 31. Chuẩn bị
kết thúc điều tra vụ án
1. Chậm nhất 10 ngày đối với vụ án ít
nghiêm trọng và nghiêm trọng, 15 ngày đối với vụ án rất nghiêm trọng, 20 ngày đối
với vụ án đặc biệt nghiêm trọng trước khi kết thúc điều tra hoặc hết thời hạn
điều tra vụ án, Điều tra viên và Kiểm sát viên phải phối hợp để đánh giá toàn bộ
chứng cứ, tài liệu và các thủ tục tố tụng của vụ án, nếu thấy có đủ căn cứ kết
thúc điều tra thì thống nhất để Điều tra viên báo cáo Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng
Cơ quan điều tra, Điều tra viên là Trưởng Công an cấp xã hoặc Phó trưởng Công
an cấp xã được phân công kết thúc điều tra vụ án; nếu thấy cần phải tiếp tục điều
tra thì báo cáo Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên là
Trưởng Công an cấp xã hoặc Phó trưởng Công an cấp xã được phân công, Viện trưởng,
Phó Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền để gia hạn thời hạn điều tra, biện
pháp ngăn chặn đối với bị can theo quy định của Bộ
luật Tố tụng hình sự.
Đối với vụ án đặc biệt nghiêm trọng, phức
tạp hoặc Điều tra viên và Kiểm sát viên không thống nhất quan điểm đánh giá chứng
cứ, tội danh, thì Điều tra viên trao đổi với Kiểm sát viên báo cáo Thủ trưởng
Cơ quan điều tra, Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền để tổ chức họp liên
ngành đánh giá kết quả điều tra vụ án, chỉ đạo giải quyết những vấn đề chưa thống
nhất, khó khăn, vướng mắc, bảo đảm việc kết thúc điều tra, giải quyết vụ án
đúng quy định của pháp luật.
2. Điều tra viên, Kiểm sát viên phải lập
biên bản thống nhất nội dung đánh giá chứng cứ, tài liệu và lưu hồ sơ nghiệp vụ
của Cơ quan điều tra, hồ sơ kiểm sát.
Điều 32. Tạm đình
chỉ điều tra
1. Khi có căn cứ tạm đình chỉ điều tra,
Điều tra viên và Kiểm sát viên phối hợp rà soát chứng cứ, tài liệu bảo đảm việc
tạm đình chỉ điều tra theo đúng quy định của Bộ
luật Tố tụng hình sự. Trước khi ra quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án,
quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án đối với bị can, quyết định tạm đình chỉ
điều tra bị can, Cơ quan điều tra phải xử lý các vấn đề liên quan (nếu có) theo
quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và các quy định khác của pháp luật có liên
quan.
2. Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát phải
mở sổ theo dõi và quản lý các vụ án, bị can tạm đình chỉ điều tra. Điều tra
viên và Kiểm sát viên thường xuyên rà soát để thống nhất các vụ án, bị can tạm
đình chỉ điều tra. Khi thấy lý do tạm đình chỉ điều tra không còn thì Cơ quan
điều tra phải ra quyết định phục hồi điều tra vụ án, phục hồi điều tra vụ án đối
với bị can, phục hồi điều tra bị can. Đối với trường hợp đã hết thời hiệu truy
cứu trách nhiệm hình sự hoặc do thay đổi quy định của pháp luật mà hành vi phạm
tội không bị coi là tội phạm, thì Cơ quan điều tra trao đổi với Viện kiểm sát
trước khi ra quyết định đình chỉ điều tra theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
3. Quan hệ phối hợp giữa các cơ quan tiến
hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có
liên quan trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về quản lý, giải quyết
các vụ việc, vụ án tạm đình chỉ được thực hiện theo các quy định của pháp luật
có liên quan.
Điều 33. Đình chỉ
điều tra
1. Khi có căn cứ đình chỉ điều tra, Điều
tra viên và Kiểm sát viên phải phối hợp rà soát chứng cứ, tài liệu bảo đảm việc
đình chỉ điều tra theo đúng quy định của Bộ luật
Tố tụng hình sự; nếu thấy đủ căn cứ thì Điều tra viên báo cáo Thủ trưởng hoặc
Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra hoặc Điều tra viên là Trưởng Công an cấp xã hoặc
Phó trưởng Công an cấp xã được phân công ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án,
quyết định đình chỉ điều tra vụ án đối với bị can, quyết định đình chỉ điều tra
bị can; nếu thấy không đủ căn cứ thì Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra.
2. Khi ra quyết định đình chỉ điều tra
vụ án, quyết định đình chỉ điều tra vụ án đối với bị can, quyết định đình chỉ
điều tra bị can, Cơ quan điều tra phải hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng
chế, trả lại tài liệu, đồ vật đã tạm giữ (nếu có), xử lý vật chứng, những vấn đề
khác có liên quan và thực hiện việc thông báo, gửi cho Viện kiểm sát có thẩm
quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự;
đối với biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế do Viện kiểm sát có thẩm quyền
đã phê chuẩn, Cơ quan điều tra có văn bản đề nghị Viện kiểm sát có thẩm quyền
quyết định việc hủy bỏ.
Điều 34. Chuyển,
giao nhận biên bản, tài liệu trong trường hợp quy định tại khoản 5 Điều 88 của
Bộ luật Tố tụng hình sự
1. Việc chuyển biên bản, tài liệu về hoạt
động điều tra mà Viện kiểm sát không trực tiếp kiểm sát giữa Cơ quan điều tra
và Viện kiểm sát trong trường hợp quy định tại khoản 5 Điều 88
của Bộ luật Tố tụng hình sự được chuyển giao trực tiếp hoặc được gửi bảo đảm
qua dịch vụ bưu chính; trường hợp do trở ngại khách quan, Điều tra viên không
thể chuyển giao biên bản, tài liệu cho Viện kiểm sát thì có thể chuyển giao bằng
hình thức fax.
Trường hợp biên bản, tài liệu đã được số
hóa theo quy định tại khoản 5 Điều 131 của Bộ luật Tố tụng hình
sự thì việc chuyển giao được thực hiện theo quy định của Thông tư liên tịch
này và pháp luật có liên quan.
2. Trường hợp chuyển giao trực tiếp thì
ngày chuyển là ngày lập biên bản giao nhận.
Trường hợp gửi bảo đảm qua dịch vụ bưu
chính thì ngày chuyển là ngày theo dấu bưu điện nơi gửi; bì thư gửi biên bản,
tài liệu được đưa vào hồ sơ vụ án. Người trực tiếp nhận biên bản, tài liệu của
Viện kiểm sát phải kiểm tra niêm phong; nếu niêm phong không còn nguyên vẹn thì
phải lập biên bản ngay xác nhận tình trạng, có xác nhận của nhân viên bưu chính
và báo cáo lãnh đạo Viện kiểm sát, đồng thời thông báo ngay cho Cơ quan điều
tra để phối hợp giải quyết. Trường hợp niêm phong còn nguyên vẹn nhưng biên bản,
tài liệu thiếu so với bản thống kê biên bản, tài liệu thì phải báo cáo lãnh đạo
Viện kiểm sát để lập biên bản ngay và thông báo cho Cơ quan điều tra biết để phối
hợp giải quyết.
Trường hợp chuyển giao bằng hình thức
fax, ngay sau khi không còn trở ngại khách quan, Điều tra viên phải chuyển biên
bản, tài liệu gốc cho Viện kiểm sát. Kiểm sát viên phải kiểm tra, đối chiếu, nếu
thấy biên bản, tài liệu tiếp nhận đúng với biên bản, tài liệu nhận được qua bản
fax thì xác nhận ngày Cơ quan điều tra đã chuyển biên bản, tài liệu là ngày Viện
kiểm sát nhận biên bản, tài liệu bằng bản fax.
Trường hợp chuyển giao biên bản, tài liệu
số hóa thì thời điểm chuyển giao là khi Viện kiểm sát nhận được dữ liệu số hóa
và thực hiện việc xác nhận theo quy định của pháp luật.
3. Việc giao nhận biên bản, tài liệu phải
được lập biên bản theo quy định tại Điều 133 của Bộ luật Tố tụng
hình sự.
Điều 35. Thống kê,
đóng dấu và đánh số bút lục hồ sơ vụ án trong giai đoạn điều tra, truy tố
1. Việc thống kê và đóng dấu bút lục
vào biên bản, tài liệu trong hồ sơ vụ án trong giai đoạn điều tra được thực hiện
như sau:
a) Trước khi chuyển cho Viện kiểm sát
có thẩm quyền biên bản, tài liệu về hoạt động điều tra mà Viện kiểm sát không
trực tiếp kiểm sát, biên bản, tài liệu điều tra để Viện kiểm sát kiểm sát việc
lập hồ sơ vụ án hoặc hồ sơ đề nghị Viện kiểm sát xét phê chuẩn lệnh, quyết định
của Cơ quan điều tra thì Điều tra viên phải thống kê đầy đủ tên biên bản, tài
liệu, ghi số thứ tự trong bản thống kê biên bản, tài liệu và đóng dấu bút lục của
Cơ quan điều tra (nhưng chưa đánh số bút lục) vào góc trên bên phải của từng tờ
biên bản, tài liệu;
b) Kiểm sát viên đóng dấu bút lục của
Viện kiểm sát (không phải đánh số bút lục) vào góc dưới bên phải của từng tờ
biên bản, tài liệu quy định tại điểm a khoản này và biên bản, tài liệu do Kiểm
sát viên thu thập trong quá trình điều tra trước khi chuyển cho Cơ quan điều
tra.
2. Việc thống kê, đánh số và đóng dấu
bút lục biên bản, tài liệu trong hồ sơ vụ án khi kết thúc điều tra và trong
giai đoạn truy tố được thực hiện như sau:
a) Khi kết thúc điều tra, các biên bản,
tài liệu trong quá trình khởi tố, điều tra do Điều tra viên, Kiểm sát viên thu
thập đều phải đưa vào hồ sơ vụ án theo đúng trình tự tố tụng. Điều tra viên
đóng dấu bút lục của Cơ quan điều tra ở góc trên bên phải của từng tờ biên bản,
tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đánh số bút lục một lần và lập bảng thống kê đầy
đủ các biên bản, tài liệu theo thứ tự từ 01 cho đến hết. Quá trình đóng dấu và
đánh số bút lục, nếu có sự nhầm lẫn hoặc tẩy xóa bút lục thì Điều tra viên phải
tổng hợp, ký xác nhận vào bảng thống kê biên bản, tài liệu và có báo cáo giải
trình về lý do việc nhầm lẫn, tẩy xóa bút lục; báo cáo giải trình của Điều tra
viên được đưa vào hồ sơ vụ án;
b) Trong giai đoạn truy tố, biên bản,
tài liệu do Kiểm sát viên thu thập phải được đưa vào hồ sơ vụ án, đóng dấu bút
lục ở góc trên bên phải của từng tờ biên bản, tài liệu và đánh số thứ tự tiếp
theo số bút lục trong hồ sơ vụ án do Điều tra viên chuyển đến; không được thay
đổi thứ tự bút lục trong hồ sơ vụ án. Quá trình đóng dấu và đánh số bút lục, nếu
có sự nhầm lẫn hoặc tẩy xóa bút lục thì Kiểm sát viên phải tổng hợp, ký xác nhận
vào bảng thống kê biên bản, tài liệu và có báo cáo giải trình về lý do việc nhầm
lẫn, tẩy xóa bút lục; báo cáo giải trình của Kiểm sát viên được đưa vào hồ sơ vụ
án.
3. Đối với hồ sơ vụ án được số hóa, văn
bản tố tụng được ký chữ ký số được thực hiện theo quy định tại khoản
5 Điều 131 và khoản 3 Điều 132 của Bộ luật Tố tụng hình sự và quy định khác
của pháp luật có liên quan.
Điều 36. Giao nhận
hồ sơ vụ án kết thúc điều tra và vật chứng
1. Điều tra viên, Cán bộ điều tra trực tiếp giao hồ sơ, vật chứng
(nếu có) cho Viện kiểm sát có thẩm quyền. Việc giao nhận hồ sơ được thực hiện
theo quy định tại Điều 238 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
2. Thủ tục giao nhận vật chứng giữa Cơ
quan điều tra và Viện kiểm sát có thẩm quyền được thực hiện như sau:
a) Vật chứng đi kèm hồ sơ vụ án là vật
chứng được đánh số bút lục đưa vào hồ sơ vụ án và được chuyển giao cùng hồ sơ vụ
án;
b) Đối với vật chứng không đi kèm hồ sơ
vụ án thì khi ra quyết định truy tố, Viện kiểm sát có thẩm quyền ra quyết định
chuyển vật chứng đến cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền nơi Tòa án có thẩm
quyền xét xử vụ án. Trong thời hạn 02 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định
chuyển vật chứng của Viện kiểm sát có thẩm quyền, Cơ quan điều tra có trách nhiệm
thực hiện các thủ tục bàn giao vật chứng cho cơ quan thi hành án dân sự theo
quyết định chuyển vật chứng của Viện kiểm sát có thẩm quyền; sau khi giao nhận
vật chứng, Cơ quan điều tra chuyển biên bản giao nhận cùng các tài liệu có liên
quan đến việc giao nhận vật chứng cho Viện kiểm sát có thẩm quyền để đưa vào hồ
sơ vụ án.
Điều 37. Áp dụng một
số quy định của Thông tư liên tịch trong quan hệ phối hợp giữa cơ quan được
giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra của Công an nhân dân, cơ quan
được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trong Quân đội nhân dân,
Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát
1. Trường hợp cấp trưởng của cơ quan được
giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra của Công an nhân dân, cơ quan
được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trong Quân đội nhân dân
thay đổi hoặc hủy bỏ quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của cấp phó,
thay đổi cấp phó trong việc điều tra vụ án hình sự thì được thực hiện như quy định
tại Điều 4, Điều 5 Thông tư liên tịch này.
2. Sau khi ra quyết định khởi tố vụ án
hoặc quyết định không khởi tố vụ án, áp dụng biện pháp ngăn chặn theo thẩm quyền,
cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra của Công an nhân
dân, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trong Quân
đội nhân dân phải gửi ngay các quyết định đó cho Viện kiểm sát có thẩm quyền
truy tố để giải quyết như quy định tại Điều 7, Điều 15 Thông tư
liên tịch này. Trường hợp hủy bỏ quyết định không khởi tố vụ án hình sự của
cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra của Công an nhân
dân, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trong Quân
đội nhân dân thì Viện kiểm sát có thẩm quyền truy tố ra quyết định khởi tố vụ
án hình sự và yêu cầu cơ quan đó chuyển toàn bộ tài liệu có liên quan cho Cơ
quan điều tra có thẩm quyền để tiến hành điều tra.
3. Hồ sơ đề nghị Viện kiểm sát có thẩm
quyền xét phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp của người
có thẩm quyền quy định tại điểm b, điểm c khoản 2 Điều 110 của
Bộ luật Tố tụng hình sự và việc xét phê chuẩn quyết định khởi tố bị can của
cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra của Công an nhân
dân, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trong Quân
đội nhân dân được thực hiện theo quy định tại Điều 10, Điều 15
Thông tư liên tịch này.
4. Việc cơ quan được giao nhiệm vụ tiến
hành một số hoạt động điều tra của Công an nhân dân, cơ quan được giao nhiệm vụ
tiến hành một số hoạt động điều tra trong Quân đội nhân dân đóng dấu bút lục,
đánh số bút lục hồ sơ vụ án và chuyển giao hồ sơ, vật chứng của vụ án cho Viện
kiểm sát có thẩm quyền hoặc cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền được thực hiện
theo quy định tại các điều 34, 35 và 36 Thông tư liên tịch này.
Điều 38. Hiệu lực
thi hành
1. Thông tư liên tịch này có hiệu lực
thi hành kể từ ngày 15 tháng 3 năm 2026, thay thế Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP ngày 19/10/2018 của
Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng quy định về phối hợp
giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc thực hiện một số quy định của
Bộ luật Tố tụng hình sự.
2. Quan hệ phối hợp giữa các cơ quan tiến
hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có
liên quan trong việc khởi tố, điều tra, truy tố đối với người chưa thành niên
thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng
hình sự, Luật Tư pháp người chưa thành niên,
Thông tư liên tịch này và các quy định của pháp luật có liên quan.
3. Quan hệ phối hợp giữa các cơ quan tiến
hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có
liên quan trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự trong điều tra, truy
tố vắng mặt bị can được thực hiện theo các quy định của pháp luật có liên quan.
Điều 39. Tổ chức
thực hiện
1. Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ
Công an, Bộ Quốc phòng chịu trách nhiệm tổ chức, thực hiện Thông tư liên tịch
này.
2. Trong quá trình thực hiện Thông tư
liên tịch này, nếu có vướng mắc hoặc phát sinh những vấn đề cần phải hướng dẫn
hoặc bổ sung, thì kịp thời phản ánh về Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công
an, Bộ Quốc phòng để xem xét, giải quyết./.
|
KT. BỘ TRƯỞNG
BỘ CÔNG AN
THỨ TRƯỞNG
Thượng tướng Lê Quốc Hùng
|
KT. BỘ TRƯỞNG
BỘ QUỐC PHÒNG
THỨ TRƯỞNG
Thượng tướng Võ Minh Lương
|
KT. VIỆN TRƯỞNG
VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO
PHÓ VIỆN TRƯỞNG
Hồ Đức Anh
|
|
Nơi nhận:
- Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
- Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội;
- Ban Nội chính Trung ương;
- Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương;
- Văn phòng Quốc hội;
- Văn phòng Chủ tịch nước;
- Văn phòng Chính phủ (02 bản);
- Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
- Bộ Công an;
- Bộ Quốc phòng;
- Bộ Tư pháp;
- Công báo;
- Cổng thông tin điện tử của VKSNDTC, BCA, BQP;
- Lưu: VT (VKSNDTC, BCA, BQP), V3.
|