|
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỐI CAO
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 04/2017/CT-CA
|
Hà Nội, ngày 03
tháng 10 năm 2017
|
CHỈ THỊ
VỀ
VIỆC TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC HÒA GIẢI TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN
Hòa giải trong tố tụng dân sự ngày càng đóng vai
trò quan trọng đối với việc giải quyết tranh chấp tại Tòa án; là phương thức hiệu
quả để bảo đảm quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự. Hòa giải thành
giúp giải quyết triệt để, hiệu quả các tranh chấp mà không phải mở phiên tòa
xét xử; tiết kiệm chi phí, thời gian, công sức của đương sự và Nhà nước; tạo
thuận lợi cho việc thi hành án, vì phần lớn quyết định công nhận sự thỏa thuận
của các đương sự được tự nguyện thi hành; hạn chế việc kháng cáo, kháng nghị;
nâng cao tỷ lệ và rút ngắn thời gian giải quyết vụ án. Kết quả hòa giải còn có
ý nghĩa làm rõ yêu cầu, tình tiết, quan hệ tranh chấp giữa các đương sự nhằm giải
quyết đúng đắn vụ án trong trường hợp phải mở phiên tòa xét xử; từ đó nâng cao
chất lượng, hiệu quả hoạt động của Tòa án. Đồng thời, hòa giải góp phần hàn gắn
những rạn nứt, ngăn ngừa các tranh chấp trong tương lai giữa các đương sự; nâng
cao ý thức pháp luật của người dân; giữ gìn ổn định trật tự xã hội, tạo sự đồng
thuận và xây dựng khối đoàn kết trong nhân dân - đây cũng là kinh nghiệm của
nhiều quốc gia có nền tư pháp tiến bộ trên thế giới.
Xuất phát từ vai trò, ý nghĩa quan trọng của công
tác hòa giải, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị về Chiến
lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã đề ra nhiệm vụ: “Khuyến khích việc giải
quyết một số tranh chấp thông qua thương lượng, hòa giải, trọng tài...”.
Ngày 25-11-2015, tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII đã thông qua Bộ luật Tố tụng dân sự số
92/2015/QH13, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01-7-2016. Theo quy định của Bộ
luật này thì hòa giải vừa là một trong những nguyên tắc cơ bản vừa là trình tự,
thủ tục bắt buộc trong tố tụng dân sự. Các quy định về hòa giải trong Bộ luật Tố
tụng dân sự đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc tổ chức hòa giải, khuyến
khích việc giải quyết tranh chấp thông qua hòa giải tại Tòa án nhân dân.
Thực tiễn giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và
gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi chung là vụ án dân sự)
thời gian qua cho thấy, các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về hòa giải bước
đầu đã đi vào cuộc sống; các Tòa án đã chú trọng tới công tác hòa giải và hòa
giải thành được nhiều vụ án phải giải quyết. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả
đạt được, công tác hòa giải tại Tòa án vẫn còn những tồn tại, hạn chế nhất định
như: Vẫn còn Thẩm phán chưa xác định đúng vị trí, vai trò, ý nghĩa của hòa giải
trong tố tụng dân sự; chưa coi trọng đúng mức công tác hòa giải; kinh nghiệm, kỹ
năng, phương pháp hòa giải còn có những hạn chế, thiếu hiệu quả; công tác tập
huấn, đào tạo chuyên sâu về kỹ năng hòa giải chưa được tổ chức thường xuyên
v.v...
Để nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả của công
tác hòa giải trong tố tụng dân sự, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao chỉ thị:
I. Yêu cầu, chỉ tiêu hòa giải
1. Yêu cầu của công tác hòa giải
a) Thẩm phán, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án phải
nâng cao nhận thức về vai trò quan trọng và ý nghĩa to lớn của công tác hòa giải
khi giải quyết vụ án dân sự để chủ động, tích cực, kiên trì hòa giải.
b) Các vụ án dân sự phải được Tòa án tiến hành hòa
giải, trừ những vụ án không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được.
Đây là quy định bắt buộc của Bộ luật Tố tụng dân sự.
c) Tòa án có trách nhiệm tổ chức, chuẩn bị các điều
kiện cần thiết để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án.
d) Thẩm phán phải giải thích, phổ biến đầy đủ,
khách quan các quy định của pháp luật liên quan đến việc giải quyết vụ án cho
đương sự; phân tích hậu quả pháp lý của việc hòa giải thành.
đ) Trình tự, thủ tục hòa giải phải được tiến hành
theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nghiêm cấm việc lợi dụng hòa
giải để tiêu cực, trục lợi trong quá trình giải quyết vụ án dân sự.
e) Bảo đảm dân chủ, bình đẳng, tôn trọng sự tự nguyện
thỏa thuận và quyền tự định đoạt của các đương sự; không được lừa dối, cưỡng
ép, đe dọa, dùng vũ lực bắt buộc các đương sự phải thỏa thuận không phù hợp với
ý chí của họ.
g) Nội dung thỏa thuận giữa các đương sự không được
vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
2. Chỉ tiêu hòa giải thành
a) Phấn đấu số lượng vụ án dân sự, hôn nhân và gia
đình, kinh doanh, thương mại, lao động được hòa giải thành so với số lượng vụ
án dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động mà Tòa án cấp
sơ thẩm đã giải quyết trong một năm đạt tỷ lệ từ 60% trở lên.
b) Phấn đấu 100% Quyết định công nhận sự thỏa thuận
của các đương sự không bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm; không có Quyết
định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự khó thi hành hoặc không thi hành
án được.
II. Nhiệm vụ
1. Nghiên cứu, xây dựng giáo trình về kỹ năng hòa
giải vụ án dân sự, sổ tay Thẩm phán về hòa giải vụ án dân sự và các tài liệu hướng
dẫn quy trình, kỹ năng hòa giải vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân.
2. Tổ chức tập huấn cho Thẩm phán, Thẩm tra viên,
Thư ký Tòa án các quy định của pháp luật về hòa giải, kỹ năng, quy trình hòa giải
trong tố tụng dân sự.
3. Tổ chức nghiên cứu, trao đổi kinh nghiệm quốc tế
về hòa giải trong tố tụng dân sự. Trước mắt, từ tháng 12-2017, triển khai việc
áp dụng thí điểm một số kỹ năng hòa giải trong tố tụng dân sự tại Tòa án nhân
dân thành phố Hải Phòng trên cơ sở chia sẻ kinh nghiệm của chuyên gia quốc tế.
4. Tổ chức sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm về
công tác hòa giải trong tố tụng dân sự.
5. Tiếp tục đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị,
bố trí kinh phí phục vụ cho công tác hòa giải.
6. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật
nhằm nâng cao nhận thức về hòa giải; kịp thời thông tin, biểu dương những Thẩm
phán, Tòa án có tỷ lệ hòa giải thành cao.
7. Phát động phong trào thi đua: “Nâng cao số lượng,
chất lượng, hiệu quả hòa giải vụ án dân sự đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp”;
gắn kết quả của phong trào thi đua này với việc bình xét các danh hiệu thi đua;
đổi mới, hoàn thiện chỉ tiêu thi đua khen thưởng theo hướng coi trọng công tác
hòa giải; trước mắt, 01 vụ án hòa giải thành được tính chỉ tiêu thi đua bằng 02
vụ án đã xét xử.
III. Tổ chức thực hiện
1. Thủ trưởng các đơn vị thuộc Tòa án nhân dân tối
cao, Chánh án các Tòa án nhân dân trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
của mình, chịu trách nhiệm quán triệt và tổ chức thực hiện nghiêm túc các yêu cầu,
chỉ tiêu và nhiệm vụ trong Chỉ thị này.
2. Giao Học viện Tòa án, Vụ Pháp chế và Quản lý
khoa học phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức thực hiện nhiệm vụ nêu tại mục 1 và 2 Phần II Chỉ thị này;
3. Giao Học viện Tòa án, Vụ Pháp chế và Quản lý
khoa học và Vụ Hợp tác quốc tế phối hợp tổ chức thực hiện nhiệm vụ nêu tại mục 3 Phần II Chỉ thị này;
4. Giao Cục Kế hoạch-Tài chính, Văn phòng bố trí, đề
xuất kinh phí bảo đảm cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ công tác hòa giải;
5. Giao Tạp chí Tòa án nhân dân, Báo Công lý, Văn
phòng, Vụ Thi đua- Khen thưởng và các đơn vị liên quan tổ chức thực hiện nhiệm
vụ nêu tại mục 6 Phần II Chỉ thị này;
6. Giao Vụ Thi đua-Khen thưởng phối hợp với các đơn
vị liên quan tổ chức thực hiện nhiệm vụ nêu tại mục 7 Phần II Chỉ
thị này;
7. Giao Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học phối hợp với
các đơn vị liên quan tổ chức thực hiện nhiệm vụ nêu tại mục 4 Phần
II Chỉ thị này; là đơn vị thường trực theo dõi, tổng hợp tình hình thực hiện
Chỉ thị này và báo cáo Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
|
Nơi nhận:
- Ủy ban Tư pháp của Quốc hội;
- Ủy ban Pháp luật của Quốc hội;
- Ban Nội chính TW;
- Ban Chỉ đạo CCTPTW;
- Các Đ/c Phó Chánh án TANDTC (để chỉ đạo thực hiện);
- Các Đ/c Thẩm phán TANDTC;
- Thủ trưởng các đơn vị thuộc TANDTC;
- Các Tòa án nhân dân;
- Cổng TTĐT TANDTC (để đăng tải);
- Lưu: VT VP, Vụ PC&QLKH (TANDTC).
|
CHÁNH ÁN
Nguyễn Hòa Bình
|
HƯỚNG DẪN
QUY
TRÌNH, KỸ NĂNG HÒA GIẢI VỤ ÁN DÂN SỰ, HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH, KINH DOANH, THƯƠNG
MẠI, LAO ĐỘNG
(Ban hành kèm theo Chỉ thị số 04/CT-CA ngày 03-10-2017 của Chánh án Tòa án
nhân dân tối cao)
Phần I
CHUẨN BỊ HÒA GIẢI
Bước 1. Lập, nghiên cứu hồ sơ vụ án
1. Việc lập, nghiên cứu hồ sơ vụ án thực hiện
theo quy định tại Chương VII về chứng minh và chứng cứ, Chương XIII về thủ tục
hòa giải và chuẩn bị xét xử của Bộ luật Tố tụng dân sự.
2. Trong quá trình lập, nghiên cứu hồ sơ vụ
án Thẩm phán có trách nhiệm xác định đúng, làm rõ các nội dung sau:
- Quan hệ pháp luật tranh chấp;
- Yêu cầu cụ thể của các đương sự;
- Nguyên nhân phát sinh tranh chấp;
- Tính chất, mức độ tranh chấp;
- Vấn đề mấu chốt của tranh chấp;
- Xác định tư cách tham gia tố tụng của các đương sự,
người tham gia tố tụng khác;
- Quan hệ giữa các đương sự (quan hệ tình cảm, quan
hệ làng xóm, láng giềng, quan hệ hợp tác kinh doanh,...);
- Tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của
đương sự;
- Quy định pháp luật là căn cứ pháp lý để giải quyết
yêu cầu của đương sự;
- Các nội dung khác (nếu có).
3. Để thực hiện những yêu cầu trên đây, tùy từng
vụ án mà Thẩm phán phải thực hiện các công việc sau:
- Xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ;
- Tìm hiểu thái độ tâm lý, nhân thân của các đương
sự; tiếp xúc, tác động tích cực, phân tích, giải thích đối với từng đương sự về
tình tiết vụ án, tài liệu, chứng cứ, các quy định của pháp luật, án lệ, lẽ công
bằng để các đương sự nhận thức được tính hợp pháp trong từng yêu cầu của họ,
trên cơ sở đó thuyết phục các đương sự hòa giải;
- Tham khảo ý kiến của cơ quan quản lý nhà nước, tổ
chức có chuyên môn về lĩnh vực tranh chấp;
- Tiếp xúc, đề nghị những người có ảnh hưởng, có uy
tín hoặc có khả năng vận động, thuyết phục đương sự hỗ trợ cho công tác hòa giải;
- Tìm hiểu phong tục, tập quán liên quan đến việc
giải quyết tranh chấp giữa các đương sự.
4. Thẩm phán xây dựng kế hoạch hòa giải, trừ
trường hợp vụ án dân sự không được hòa giải quy định tại Điều
206 hoặc trường hợp vụ án không tiến hành hòa giải được quy định tại khoản 3 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bước 2. Xây dựng kế hoạch hòa giải
Khi xây dựng kế hoạch hòa giải, Thẩm phán phải dự
kiến những nội dung sau:
1. Xác định nội dung hòa giải
- Những vấn đề các đương sự đã thống nhất, những vấn
đề chưa thống nhất, còn tranh chấp;
- Những vấn đề mấu chốt mà nếu tháo gỡ được sẽ tác
động trực tiếp đến việc giải quyết tranh chấp giữa các đương sự;
- Thứ tự ưu tiên các vấn đề cần hòa giải (tùy từng
trường hợp mà Thẩm phán có thể tiến hành hòa giải vấn đề có mâu thuẫn lớn trước
hoặc vấn đề có mâu thuẫn nhỏ trước);
- Những yếu tố, điều kiện thuận lợi đối với từng
đương sự để đạt đến sự thỏa thuận;
- Phương án tháo gỡ, giải quyết mâu thuẫn giữa các
đương sự.
2. Tình huống phát sinh và phương án xử lý tại
phiên họp
Dự kiến các tình huống phát sinh và phương án xử lý
đối với từng vấn đề tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai
chứng cứ và hòa giải (sau đây gọi tắt là phiên họp) như:
- Về sự vắng mặt của đương sự;
- Về yêu cầu mới, yêu cầu sửa đổi, bổ sung của
đương sự;
- Về các tài liệu, chứng cứ được cung cấp, giao nộp;
- Về các tình huống căng thẳng, xung đột, bất hợp
tác của đương sự;
- Các vấn đề khác (nếu có).
3. Thành phần tham gia phiên họp
Thẩm phán xác định thành phần tham gia phiên hợp
như sau:
- Thành phần tham gia phiên họp theo quy định tại Điều 209 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Đại diện cơ quan quản lý nhà nước; đại diện tổ chức
có chuyên môn, chuyên gia về lĩnh vực tranh chấp tham gia phiên họp (nếu cần
thiết);
- Người có uy tín, ảnh hưởng hoặc có khả năng vận động,
thuyết phục các đương sự (nếu cần thiết).
4. Thời gian hòa giải
Căn cứ vào tính chất, mức độ tranh chấp, điều kiện,
hoàn cảnh của các đương sự để lựa chọn thời điểm, thời gian hòa giải thích hợp
đối với từng vụ án để đạt được hiệu quả hòa giải cao nhất.
Bước 3. Chuẩn bị phòng hòa giải
Thẩm phán chuẩn bị phòng hòa giải như sau:
1. Bố trí phòng hòa giải chuyên dụng hoặc phòng họp
khác phù hợp với số lượng người tham gia hòa giải;
2. Sắp xếp vị trí chỗ ngồi của Thẩm phán, Thư ký,
các đương sự hợp lý, tạo không khí thân thiện, cởi mở: Bàn hình vuông hoặc hình
chữ nhật; Thẩm phán, Thư ký ngồi cạnh nhau; phía bên phải Thẩm phán, Thư ký là
chỗ ngồi của nguyên đơn; phía bên trái của Thẩm phán, Thư ký là chỗ ngồi của bị
đơn; phía đối diện Thẩm phán, Thư ký là chỗ ngồi của những người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan (nếu có);
3. Trường hợp vụ án có đương sự là người chưa thành
niên, người khuyết tật, người có nhược điểm về thể chất và tinh thần thì bố trí
phòng hòa giải phù hợp với đặc điểm về thể chất và tâm lý của họ.
Bước 4. Triệu tập thành phần tham gia phiên họp
1. Thông báo cho đương sự, người đại diện hợp pháp
của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự về thời gian,
địa điểm tiến hành phiên họp và nội dung của phiên họp theo quy định tại Điều 208 Bộ luật Tố tụng dân sự.
2. Gửi giấy mời cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân
có liên quan để tham gia phiên họp theo dự kiến tại mục 3
Bước 2 Hướng dẫn này.
Phần II
PHIÊN HỌP KIỂM TRA VIỆC
GIAO NỘP,TIẾP CẬN, CÔNG KHAI CHỨNG CỨ VÀ HÒA GIẢI1
Bước 1. Thủ tục bắt đầu phiên họp
1. Thủ tục bắt đầu phiên họp thực hiện theo quy định
tại khoản 1 Điều 210 Bộ luật Tố tụng dân sự.
2. Khi kiểm tra sự có mặt và căn cước của những người
tham gia phiên họp, Thẩm phán phải lưu ý những vấn đề sau:
- Trường hợp có người vắng mặt thì phải xem xét thận
trọng, xác định có thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định
tại Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự hay không để ra quyết định.
- Trường hợp đương sự phải có người đại diện theo
quy định của pháp luật thì kiểm tra sự có mặt và tư cách tham gia phiên hòa giải
của người đại diện; trường hợp có người đại diện theo ủy quyền thì xác định
tính hợp pháp của việc ủy quyền (thủ tục và phạm vi ủy quyền).
Bước 2. Kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công
khai chứng cứ
Trình tự, thủ tục kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận,
công khai chứng cứ thực hiện theo quy định tại khoản 2 và khoản
3 Điều 210 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bước 3. Tiến hành hòa giải
Thủ tục tiến hành hòa giải được thực hiện theo quy
định tại khoản 4 Điều 210 Bộ luật Tố tụng dân sự. Khi tiến
hành hòa giải, Thẩm phán thực hiện các yêu cầu và kỹ năng sau:
1. Các yêu cầu mà Thẩm phán phải thực hiện
bao gồm:
a) Khi thực hiện quy định tại điểm
a khoản 4 Điều 210 Bộ luật Tố tụng dân sự, Thẩm phán phải giải thích, phổ
biến đầy đủ, khách quan các quy định của pháp luật liên quan đến việc giải quyết
vụ án cho đương sự; phân tích hậu quả pháp lý của việc hòa giải thành, hòa giải
không thành (án phí, các chi phí tố tụng khác, chi phí thi hành án) để đương sự
nhận thức được tính hợp pháp trong từng yêu cầu của họ, biết những lợi ích của
hòa giải thành mà không phân tích tính đúng, sai của đương sự, không tiết lộ đường
lối xét xử vụ án;
b) Sau khi từng đương sự, người tham gia phiên họp
trình bày ý kiến theo quy định tại điểm b, c, d và đ khoản 4 Điều
210 Bộ luật Tố tụng dân sự mà còn có nội dung chưa rõ, chưa đầy đủ thì Thẩm
phán yêu cầu họ trình bày bổ sung ngay về nội dung chưa rõ, chưa đầy đủ đó.
c) Thẩm phán phân tích nội dung vụ án, quan hệ pháp
luật tranh chấp, yêu cầu cụ thể của đương sự, nguyên nhân phát sinh tranh chấp,
các quy định có liên quan đến nội dung tranh chấp để đương sự tự đánh giá được phần
đúng, phần sai của mình để đi đến thỏa thuận với nhau những vấn đề chưa thống
nhất.
d) Sau khi thực hiện quy định tại điểm
e khoản 4 Điều 210 Bộ luật Tố tụng dân sự mà còn có nội dung chưa rõ thì Thẩm
phán tiếp tục yêu cầu đương sự trình bày bổ sung để làm rõ nội dung chưa rõ.
đ) Sau khi thực hiện quy định tại điểm
e khoản 4 Điều 210 Bộ luật Tố tụng dân sự mà còn có nội dung chưa thống nhất
thì Thẩm phán phải:
- Nêu đầy đủ, ngắn gọn, rõ ràng nội dung chưa thống
nhất cần tiếp tục hòa giải;
- Đưa ra một số phương án giải quyết tranh chấp để
các đương sự lựa chọn;
- Phân tích lợi ích của việc giữ gìn mối quan hệ,
tình cảm giữa các đương sự (tình cảm gia đình, tình cảm vợ chồng, quan hệ láng
giềng, quan hệ đối tác kinh doanh,...) nhằm tác động tâm lý tích cực giúp họ
nghĩ đến quan hệ, tình cảm mà hòa giải; đồng thời quan sát, nắm bắt kịp thời diễn
biến tâm tư của các đương sự, chọn đúng thời điểm tác động đến suy nghĩ, nhận
thức của mỗi đương sự;
- Trường hợp đa số các đương sự đã thỏa thuận được
việc giải quyết tranh chấp, chỉ một hoặc một số đương sự không thiện chí thỏa
thuận hoặc còn một số điểm chưa thống nhất thì Thẩm phán có thể giải thích,
thuyết phục riêng để đạt được sự thống nhất;
e) Trường hợp nội dung các đương sự đã thống nhất
có vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội thì Thẩm phán phải giải thích
quy định của pháp luật, chuẩn mực đạo đức liên quan để các đương sự thỏa thuận
lại.
2. Để thực hiện những yêu cầu trên đây, tùy từng
trường hợp mà Thẩm phán thực hiện kỹ năng sau:
a) Thẩm phán phải giữ vai trò trung gian, vô tư,
khách quan, công bằng, không áp đặt khi tiến hành hòa giải;
b) Điều hành việc hòa giải linh hoạt, mềm dẻo (lắng
nghe ý kiến của các đương sự, giảm căng thẳng, tránh để các đương sự tổn thương
tâm lý, bị xúc phạm,...);
c) Cử chỉ, tác phong, thái độ thể hiện sự thân thiện;
sử dụng ngôn ngữ dễ nghe, dễ hiểu, kết hợp hài hòa giữa ngôn ngữ pháp lý và
ngôn ngữ đời thường;
d) Phong cách giao tiếp thư thái, tự tin; sâu sắc
nhưng chia sẻ; mềm dẻo, quyết đoán đúng thời điểm; vô tư và thân thiện; tập
trung vào mâu thuẫn giữa các đương sự; không tập trung vào quan hệ, đặc điểm tốt,
xấu của mỗi đương sự; tập trung vào lợi ích chung, không tập trung vào thái độ,
cách cư xử của đương sự; không dùng ngôn ngữ tạo sự kích động cho đương sự;
đ) Sử dụng linh hoạt nhiều loại câu hỏi để tháo gỡ
hiệu quả mâu thuẫn, tranh chấp giữa các đương sự như: câu hỏi đánh giá; câu hỏi
mở; câu hỏi đóng; câu hỏi gợi ý; câu hỏi yêu cầu; câu hỏi tác động suy nghĩ;
...;
e) Kết hợp việc sử dụng lời nói với các tài liệu,
chứng cứ và ý kiến của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan được mời tham
gia phiên họp để thuyết phục đương sự.
Bước 4. Lập Biên bản về kiểm tra việc giao nộp,
tiếp cận, công khai chứng cứ, Biên bản về việc hòa giải và Biên bản hòa giải
thành
1. Việc lập Biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp
cận, công khai chứng cứ và Biên bản về việc hòa giải được thực hiện theo quy định
tại khoản 1,2 và 3 Điều 211 Bộ luật Tố tụng dân sự và theo
Mẫu số 34-DS, Mẫu số 35-DS ban hành kèm theo Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP ngày
13-01-2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành một số biểu
mẫu trong tố tụng dân sự.
2. Trường hợp các đương sự thỏa thuận được với nhau
về tất cả các vấn đề phải giải quyết trong vụ án thì Tòa án lập Biên bản hòa giải
thành theo quy định tại khoản 5 Điều 211 Bộ luật Tố tụng dân sự
và theo Mẫu số 36-DS ban hành kèm theo Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP ngày
13-01-2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành một số biểu
mẫu trong tố tụng dân sự.
Phần III
KẾT THÚC HÒA GIẢI
1. Trường hợp hòa giải thành thì Thẩm phán
thực hiện việc ra Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự theo quy
định tại Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự. Cần lưu ý nội
dung Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự phải đúng theo nội
dung các đương sự đã thỏa thuận được thể hiện trong Biên bản hòa giải thành.
2. Trường hợp qua hòa giải, nguyên đơn rút
toàn bộ yêu cầu khởi kiện, bị đơn rút (hoặc không có) yêu cầu phản tố, người có
quyền lợi. nghĩa vụ liên quan rút (hoặc không có) yêu cầu độc lập thì Thẩm phán
căn cứ điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự ra
quyết định đình chỉ giải quyết vụ án.
3. Trường hợp các bên đương sự chưa thỏa thuận được
với nhau về việc giải quyết vụ án nhưng Thẩm phán nhận thấy các đương sự có thiện
chí hoặc còn có khả năng tiếp tục hòa giải thì kiên trì tổ chức các phiên họp
tiếp theo. Trường hợp Thẩm phán nhận thấy không còn khả năng, cơ hội hòa giải
thành thì tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
1 Trường hợp vụ án được xét
xử theo thủ tục rút gọn quy định tại Chương XVIII của Bộ luật Tố tụng dân sự
thì sau khi khai mạc phiên tòa, Thẩm phán tiến hành hòa giải theo quy định tại Điều
320 Bộ luật Tố tụng dân sự. Kỹ năng hòa giải được thực hiện theo Hướng dẫn tại Phần
này.