|
BỘ Y TẾ
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ
NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 776/QĐ-BYT
|
Hà Nội, ngày 08 tháng
3 năm 2017
|
QUYẾT
ĐỊNH
VỀ VIỆC PHÊ DUYỆT TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN QUỐC GIA
VỀ DINH DƯỠNG CHO PHỤ NỮ CÓ THAI VÀ BÀ MẸ CHO CON BÚ
BỘ TRƯỞNG
BỘ Y TẾ
Căn cứ Luật khám bệnh, chữa bệnh;
Căn cứ Nghị định số 63/2012/NĐ-CP ngày 31 tháng 8 năm 2012 của Chính
phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Y tế;
Xét đề nghị của Vụ
trưởng Vụ Sức khỏe Bà mẹ - Trẻ em, Bộ Y tế;
QUYẾT ĐỊNH
Điều 1. Phê
duyệt tài liệu “Hướng dẫn quốc gia về dinh dưỡng cho Phụ nữ có thai và bà mẹ
cho con bú" kèm theo Quyết định này.
Điều 2. Quyết
định này có hiệu lực kể từ ngày ký, ban hành.
Điều 3. Các
ông, bà: Chánh Văn phòng Bộ, Vụ trưởng Vụ Sức khỏe Bà mẹ - Trẻ em, Cục trưởng
Cục Quản lý Khám, chữa bệnh, Chánh thanh tra Bộ, Thủ trưởng các Vụ, Cục, Tổng
cục thuộc Bộ Y tế; Giám đốc các Sở Y tế tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
Giám đốc các Bệnh viện, Viện có giường bệnh; Giám đốc các Học viện, Hiệu trưởng
các trường đại học, cao đẳng và trung cấp có đào tạo nhân lực y tế; Thủ trưởng
các đơn vị liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.
|
Nơi nhận:
-
Như Điều 3;
- Bộ trưởng Bộ Y tế (để báo cáo);
- Các Thứ trưởng (để phối hợp chỉ đạo);
- Cổng Thông tin điện tử Bộ Y tế ;
- Lưu: VT, BMTE.
|
KT. BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG
Nguyễn Viết Tiến
|
HƯỚNG
DẪN
QUỐC GIA DINH DƯỠNG CHO PHỤ NỮ CÓ THAI VÀ BÀ MẸ
CHO CON BÚ
(Ban
hành kèm theo Quyết định số 776/QĐ-BYT ngày 08 tháng 3 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ
Y tế)
LỜI
GIỚI THIỆU
Dinh dưỡng đóng vai trò
rất quan trọng cho sức khỏe phụ nữ trong suốt thời gian mang thai, sinh đẻ và
cho con bú. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng dinh dưỡng trong các giai đoạn
này không những là yếu tố quyết định cho sức khỏe bà mẹ mà còn cho sự hình
thành, phát triển thai và cả sự tăng trưởng của trẻ nhỏ, sức khỏe của trẻ khi
trưởng thành.
Thiếu hụt dinh dưỡng
trong quá trình mang thai có thể làm tăng nguy cơ bị tai biến sản khoa và sinh
non/nhẹ cân. Đặc biệt, sự thiếu hụt một số vi chất dinh dưỡng trong khẩu phần
ăn khi mang thai như acid folic, iod có thể dẫn đến dị tật ống thần kinh hoặc
các tật thiểu năng trí tuệ.
Dinh dưỡng cho mẹ trong
giai đoạn cho con bú có những ảnh hưởng rõ rệt đến tình trạng sức khỏe của trẻ.
Thiếu dinh dưỡng ảnh hưởng đến sức khỏe mẹ gây khó khăn trong việc chăm sóc con
và cho con bú. Mẹ thiếu dinh dưỡng có thể hạn chế khối lượng và chất lượng sữa,
giảm nguồn cung cấp thức ăn lý tưởng nhất cho trẻ, là nguyên nhân suy dinh
dưỡng, tăng nguy cơ mắc bệnh và tử vong cho trẻ.
Mặc dù hiện nay có rất
nhiều hướng dẫn về dinh dưỡng cho phụ nữ trong thời kỳ mang thai và nuôi con
nhỏ, tuy nhiên còn tản mạn, thiếu đồng bộ và nhất quán, chưa tập trung vào các
thực hành cụ thể dẫn tới khó khăn cho nhân viên y tế làm công tác tư vấn dinh
dưỡng, hạn chế việc chuyển tải thông tin đến khách hàng.
Nhằm nâng cao kiến
thức, cải thiện hoạt động tư vấn dinh dưỡng của cán bộ y tế, Vụ Sức khỏe Bà mẹ
Trẻ em, Bộ Y tế biên soạn “Hướng dẫn quốc gia về dinh dưỡng cho phụ nữ có thai
và bà mẹ cho con bú”, với sự tham gia của các giáo sư, bác sĩ đầu ngành đang
công tác trong lĩnh vực dinh dưỡng, sản phụ khoa và nhi khoa với sự hỗ trợ về
tài chính và kỹ thuật của Abbott Laboratories. Trong quá trình xây dựng Tài
liệu, Bộ Y tế cũng đã nhận được nhiều ý kiến đóng góp quý báu của các cán bộ y
tế ở các tuyến qua thử nghiệm ở một số địa phương.
Đây là lần đầu tiên Bộ
Y tế xây dựng, ban hành và xuất bản “Hướng dẫn quốc gia về dinh dưỡng cho phụ
nữ có thai và bà mẹ cho con bú”, vì thế mặc dù đã rất cố gắng nhưng cũng không
thể tránh khỏi có thiếu sót về mặt nội dung và in ấn. Bộ Y tế rất mong tiếp tục
nhận được những ý kiến đóng góp để tài liệu được hoàn thiện hơn trong những lần
xuất bản sau.
Xin trân trọng cảm ơn.
CÁC
TỪ VIẾT TẮT
|
PNCT
|
Phụ nữ có thai
|
|
BMCCB
|
Bà mẹ cho con bú
|
|
DHA
|
Decosahexaenoic Acid
|
|
NCDDKN
|
Nhu cầu dinh dưỡng
khuyến nghị
|
|
UNICEF
|
Quỹ nhi đồng của Liên
hợp quốc
|
|
WHO
|
Tổ chức Y tế Thế giới
|
|
FAO
|
Tổ chức nông nghiệp
và thực phẩm của Liên hợp quốc
|
|
EAR
|
Nhu cầu trung bình
ước tính
|
|
AI
|
Lượng ăn vào vừa đủ
|
|
PL
|
Pyridoxal
|
|
PN
|
Pyridoxine
|
|
PM
|
Pyridoxamine
|
|
Protein
|
Chất đạm
|
|
Lipid
|
Chất béo
|
|
BMI
|
Chỉ số khối cơ thể
|
|
TC, BP
|
Thừa cân, béo phì
|
|
NCBSM
|
Nuôi con bằng sữa mẹ
|
CHỦ
BIÊN
Ts. Trần Đăng Khoa
Phó Vụ trưởng Vụ Sức
khỏe Bà mẹ - Trẻ em
CÁC
TÁC GIẢ
|
Gs. Ts. Lê Thị Hợp
|
Hội Dinh dưỡng
|
|
PGs. Ts. Lê Bạch Mai
|
Viện Dinh dưỡng
|
|
PGs. Ts. Đinh Thị
Phương Hòa
|
Trường Đại học Y tế
Công cộng
|
|
Ts. Bùi Thị Nhung
|
Viện Dinh dưỡng
|
|
Bs. CK2 Đỗ Thị Huệ
|
Bệnh viện Phụ sản
Trung ương
|
|
Ts. Nguyễn Thị Lan
Hương
|
Bệnh viện Phụ sản
Trung ương
|
|
Ths. Nguyễn Thị Thủy
|
Bệnh viện Phụ sản
Trung ương
|
|
Ths. Võ Thị Đem
|
Bệnh viện Từ Dũ
|
|
Bs CK1. Nguyễn Thị Mỹ
Linh
|
Bệnh viện Phụ sản -
Nhi Đà Nẵng
|
|
Ths. Nguyễn Đức Vinh
|
Vụ Sức khỏe Bà mẹ -
Trẻ em
|
|
Bs. Hoàng Anh Tuấn
|
Vụ Sức khỏe Bà mẹ -
Trẻ em
|
MỤC
LỤC
Nội
dung
Tầm quan trọng của chăm
sóc dinh dưỡng cho phụ nữ có thai và bà mẹ cho con bú
Nhu cầu dinh dưỡng của
phụ nữ có thai và bà mẹ cho con bú
Khuyến nghị sử dụng sữa
và chế phẩm sữa cho phụ nữ có thai và bà mẹ cho con bú
Dinh dưỡng cho phụ nữ
có thai và bà mẹ cho con bú
Dinh dưỡng trong trường
hợp bệnh lý khi mang thai
Tư vấn dinh dưỡng cho
phụ nữ có thai và bà mẹ cho con bú
Phụ lục: Bảng tóm tắt
nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị
TẦM QUAN TRỌNG CỦA CHĂM SÓC DINH DƯỠNG CHO PHỤ
NỮ CÓ THAI VÀ BÀ MẸ CHO CON BÚ
Dinh dưỡng là yếu tố
rất quan trọng đối với sức khỏe, thể lực và trí tuệ của con người trong suốt cả
vòng đời, đặc biệt là trong thời gian phụ nữ có thai và cho con bú. Phụ nữ có
thai cần thêm nguồn dinh dưỡng cho cả mẹ, hình thành và phát triển thai nhi.
Phụ nữ cho con bú cần bổ sung thức ăn để tăng cường sản xuất sữa cho con bú.
Dinh dưỡng tốt khi mang thai, cho con bú là một trong các yếu tố quyết định bảo
đảm sức khỏe cho bà mẹ, sự lớn lên và phát triển của trẻ.
I. Tầm quan trọng của dinh
dưỡng trong thời kỳ mang thai.
1. Dinh dưỡng của người
mẹ trong thời kỳ mang thai có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của thai
nhi
1.1. Dinh dưỡng trong
thai kỳ liên quan đến cân nặng khi sinh của trẻ
Chế độ dinh dưỡng của
mẹ trong thời gian mang thai là yếu tố liên quan rõ rệt nhất đến cân nặng của
trẻ khi đẻ. Rất nhiều nghiên cứu đã khẳng định rằng, nếu bà mẹ được cung cấp
thức ăn đầy đủ và cân đối trong thời gian mang thai sẽ bảo đảm cho thai nhi
tăng cân tốt, kể cả con của các bà mẹ suy dinh dưỡng. Ngược lại, nếu bà mẹ mang
thai thiếu ăn sẽ tăng nguy cơ sinh con non tháng, nhẹ cân.
Trẻ sinh non tháng, nhẹ
cân khi lớn lên tăng nguy cơ mắc bệnh mạch vành, tăng huyết áp, tiểu đường,
giảm dự trữ thận, giảm chức năng phổi, chậm dậy thì, dễ bị trầm cảm và tỷ lệ tử
vong vì bệnh tim mạch cao. Riêng đối với trẻ gái sinh nhẹ cân có nguy cơ suy
dinh dưỡng khi trưởng thành, lại tiếp tục là một yếu tố nguy cơ sinh con nhẹ
cân cho thế hệ kế tiếp.
1.2. Dinh dưỡng trong
thai kỳ liên quan đến một số dị tật bẩm sinh
Khi mang thai, đặc biệt
là trong 3 tháng đầu nếu người mẹ dinh dưỡng không đủ sẽ bị giảm sức đề kháng,
tăng nguy cơ mắc một số bệnh truyền nhiễm có thể để lại các khuyết tật cho trẻ
như tim bẩm sinh, sứt môi hở hàm ếch….
Thiếu axit folic là
nguyên nhân chính gây dị tật ống thần kinh ở trẻ sơ sinh. Can thiệp cung cấp đủ
acid folic cho mẹ trước và trong thời gian mang thai sẽ làm giảm được khoảng
50% khuyết tật này ở trẻ.
1.3. Dinh dưỡng trong
thai kỳ liên quan đến sự phát triển trí tuệ của trẻ
Ngay từ ngày thứ 18 của
phôi đã có mầm mống hình thành não và khi phôi được 3 tháng tuổi thì não đã có
đủ các thành phần. Thời điểm 20 tuần tuổi là cột mốc quan trọng trong sự phát
triển của thai nhi, khi não bộ thai nhi tăng mạnh về khối lượng và dần hoàn
thiện về chức năng. Từ tuần thứ 20 đến khi chào đời, kích thước não bộ tăng gấp
6 lần và tế bào thần kinh kết nối phức tạp hơn. Sự trưởng thành của não bộ rất
quan trọng cho khả năng học hỏi và trí nhớ về sau. Quá trình này cần rất nhiều
dưỡng chất như axit folic, vitamin B6, B12, mangan, đồng, iod, vitamin D,
cholin, sắt và kẽm.
Giai đoạn 3 tháng cuối
thai kỳ là giai đoạn não bộ tăng trưởng và trưởng thành nhanh nhất. Vì vậy, cần
cung cấp đủ nhu cầu tăng lên về năng lượng và các chất dinh dưỡng của người mẹ
khi mang thai.
Chế độ ăn của người mẹ
đủ acid béo không no cần thiết, đủ DHA (Decosahexaenoic Acid) sẽ giúp trẻ trí
thông minh, thị giác tốt và có hệ tim mạch khỏe mạnh. Nghiên cứu ảnh hưởng của
trẻ sinh nhẹ cân do người mẹ thiếu dinh dưỡng trong thai kỳ lên chỉ số IQ cho
thấy với mỗi 1kg nhẹ hơn khi sinh ra (so với anh/chị em sinh đôi) IQ ngôn ngữ
về sau sẽ thấp hơn 13 điểm.
Chất béo chuỗi dài DHA
có vai trò rất quan trọng trong hình thành tế bào não và thị giác, cụ thể là:
- Tham gia hình thành
tế bào não, DHA:
+ Là thành phần chủ yếu
của các acid béo tham gia cấu tạo não.
+ Cần thiết cho quá
trình Myelin hóa tế bào thần kinh.
+ Tác động đến màng
xináp - bộ phận điều khiển sự phóng thích và tiếp nhận chất dẫn truyền thần
kinh, giúp sự truyền tín hiệu giữa các tế bào não hiệu quả hơn.
- Tham gia hình thành
tế bào thị giác, DHA là:
+ Thành phần quan trọng
cấu tạo tế bào võng mạc mắt.
+ Thành phần chính
trong các tế bào tiếp nhận hình ảnh.
1.4. Dinh dưỡng trong
thai kỳ liên quan đến một số bệnh mạn tính không lây của trẻ khi trưởng thành:
Một số nghiên cứu cho
thấy rằng thiếu dinh dưỡng trong từng giai đoạn thai kỳ liên quan đến một số
bệnh mạn tính khác nhau. Mẹ thiếu dinh dưỡng vào đầu thai kỳ, trẻ có nguy cơ
béo phì và bệnh tim mạch cao khi trưởng thành. Ngược lại, mẹ thiếu dinh dưỡng
vào cuối thai kỳ, trẻ sẽ có nguy cơ rối loạn khả năng dung nạp glucoza cao hơn.
2. Dinh dưỡng thai kỳ
với sức khỏe của người mẹ
Để chuẩn bị cho mang
thai, quan trọng nhất là phải đảm bảo dinh dưỡng trong nhiều tuần trước khi
mang thai để đảm bảo máu của người mẹ có đầy đủ các vitamin, khoáng chất và
dưỡng chất khác để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của bào thai. Hơn thế nữa, giai
đoạn đầu thai kỳ, thai phụ thường bị nghén không ăn uống được, quá trình trao
đổi chất bị ảnh hưởng vì thế nguồn dự trữ trước khi mang thai là rất quan
trọng.,.
Một chế độ dinh dưỡng
đa dạng, cân đối là cần thiết để có sức khỏe tốt cho cả người mẹ lẫn thai nhi.
Dinh dưỡng đầy đủ sẽ giúp mẹ có sức đề kháng tốt, tránh mắc bệnh, đủ sức để
“vượt cạn” trong cuộc đẻ, mau phục hồi sức khỏe sau sinh, có đủ sữa cho con bú.
2.1. Dinh dưỡng tốt
trong thai kỳ giúp người mẹ tăng cân phù hợp
Khi mang thai, cơ thể
người phụ nữ có nhiều thay đổi, đặc biệt nhất là sự thay đổi về khối lượng, cấu
trúc cơ thể và thành phần của máu. Thông thường, trong một kỳ mang thai bà mẹ
tăng 10-12kg bao gồm bào thai, rau thai, nước ối, máu, dịch mô, tử cung, vú.
Nếu người mẹ tăng cân ít trong thai kỳ dễ có nguy cơ đẻ con nhẹ cân, thiếu vi
chất (thiếu sắt, thiếu máu, can xi...). Nếu mẹ tăng cân quá nhiều trong thai kỳ
sẽ sinh khó, nguy cơ bị tiểu đường thai kỳ.

2.2. Dinh dưỡng hợp lý
trong thời kỳ góp phần hạn chế một số tai biến sản khoa cho mẹ
Dinh dưỡng đủ trong
thời gian mang thai giúp bà mẹ khỏe mạnh, thai phát triển tốt là yếu tố quan
trọng để bà mẹ vượt qua cuộc đẻ một cách thuận lợi.
Thiếu dinh dưỡng ở mẹ
trong thời gian mang thai không những gây hậu quả thiếu các chất dinh dưỡng cho
mẹ và phát triển thai và là điều kiện thuận lợi cho nhiễm độc thai nghén, làm
tăng nguy cơ sẩy thai, thai lưu, khó sinh, sinh non/nhẹ cân, và một số tai biến
khác.
2.3. Dinh dưỡng hợp lý
trong thai kỳ tăng khả năng tạo sữa sau sinh của mẹ
Dinh dưỡng hợp lý trong
thai kỳ giúp mẹ tăng cân đủ (10-12 kg/thai kỳ) và dự trữ đủ các chất dinh dưỡng
cho tạo sữa sau sinh. Thiếu dinh dưỡng trong thai kỳ, người mẹ sẽ không đủ khả
năng để tạo đủ số lượng sữa và đảm bảo chất lượng sữa cho sự phát triển toàn
diện của bé.
2.4. Dinh dưỡng hợp lý
trong thai kỳ giảm nguy cơ mắc một số bệnh cho mẹ
- Dinh dưỡng đủ sẽ giảm
nguy cơ thiếu folate (vitamin B9), là một thành phần tham gia vào quá trình tạo
máu. Thiếu folate thường gây bệnh thiếu máu hồng cầu khổng lồ, nguy cơ sẩy thai
cao, sinh non, sinh con nhẹ cân.
- Dinh dưỡng không đầy
đủ trong thai kỳ sẽ làm suy giảm miễn dịch của cả mẹ và thai nhi. Thiếu vi chất
dinh dưỡng, đặc biệt là kẽm sẽ ảnh hưởng xấu tới sự phát triển và chức năng của
hầu hết các tế bào miễn dịch, tế bào T, tế bào B và đại thực bào làm giảm sản
xuất globulin miễn dịch, IgA, IgM và IgG..
- Chế độ ăn nghèo dinh
dưỡng hoặc không cân đối trong thời kỳ mang thai có thể dẫn đến một số bệnh lý
như thiếu máu do thiếu sắt, thiếu kẽm, tiểu đường thai kỳ, tăng huyết áp thai
kỳ.

2.5. Dinh dưỡng hợp
lý trong thai kỳ giảm một số vấn đề thường gặp khi mang thai
Khi mang thai, phụ nữ
có thể bị chán ăn một hoặc nhiều món ăn, buồn nôn, nôn, ợ nóng, táo bón thường
do một số nguyên nhân liên quan đến dinh dưỡng như:
- Buồn nôn, nôn thường
liên quan đến thiếu vitamin B6
- Rối loạn tiêu hóa,
tiêu chảy do ăn phải thức ăn khó tiêu hoặc không an toàn.
- Táo bón: liên quan
đến thiếu chất xơ, ít uống nước, số lượng thực phẩm tiêu thụ không đủ và cả do
giảm nhu động ruột khi mang thai
- Phù có thể do chèn ép
hoặc cũng có thể do thiếu dinh dưỡng.
- Chuột rút do thiếu
Can xi và vitamin D
Cung cấp đủ các thành
phần dinh dưỡng, vi chất sẽ giảm các biểu hiện trên cho phụ nữ có thai.
II. Tầm quan trọng của
Dinh dưỡng đối với bà mẹ trong thời gian cho con bú
Không cần một chế độ ăn
đặc biệt hay ăn kiêng trong thời gian cho con bú, tuy nhiên phụ nữ cho con bú
cần được dinh dưỡng tốt và nhiều hơn vì 2 lý do chính: sản xuất đủ sữa cho con
bú và bảo đảm sức khỏe cho chính mình để nuôi con và tiếp tục làm việc.
Dinh dưỡng cho mẹ đối
với nguồn sữa mẹ: Thành
phần sữa mẹ nói chung là tương đối hằng định ở tất cả các bà mẹ và nguồn năng
lượng dự trữ của bà mẹ luôn được huy động để sản xuất sữa khi cần, tuy nhiên
nhiều nghiên cứu khẳng định là dinh dưỡng cho bà mẹ vẫn có ảnh hưởng đến một số
vi chất và số lượng của sữa mẹ. Chế độ ăn của bà mẹ thiếu vitamin, đặc biệt là
B1, A và D thì các vitamin này cũng sẽ thiếu trong sữa của những người mẹ đó.
Hơn thế nữa, trong 6 tháng đầu, lượng kháng thể của con được truyền trực tiếp
qua sữa mẹ, vì thế bảo đảm đủ năng lượng và chất dinh dưỡng cho mẹ là cách
phòng bệnh tốt nhất cho con chống đỡ bệnh tật, đặc biệt là các bệnh nhiễm khuẩn
đường hô hấp, tiêu hóa.
Sữa mẹ là nguồn thức ăn
lý tưởng, an toàn cho trẻ nhưng có một số thức ăn, nước uống có thể qua sữa gây
hại hoặc khó chịu cho trẻ. Vì vậy phụ nữ trong thời gian cho con bú không nên
uống rượu, bia và hạn chế các chất kích thích như cà phê, ớt, hành, tỏi.
Dinh dưỡng bảo đảm sức
khỏe cho mẹ: Mặc
dù nguồn dinh dưỡng dự trữ trong thời gian mang thai vẫn chưa phải tiêu thụ hết
nhưng đã mất khá nhiều vì mất máu khi sinh đẻ, sản xuất sữa non trong những
tháng cuối của kỳ thai và tiếp đến sữa sau khi sinh. Vì vậy chú ý đến dinh
dưỡng cho bà mẹ trong thời gian cho con bú không chỉ là cho sản xuất sữa mà còn
bảo đảm sức khỏe cho bà mẹ tiếp tục với chức năng làm mẹ và các công việc hàng
ngày. Một chế độ ăn đa dạng với đủ chất dinh dưỡng, đặc biệt thức ăn nhiều Can
xi, vitamin A, D cần được chú ý vì bà mẹ đã mất nhiều cho thai nhi và sản xuất
sữa.
Việc bổ sung thức ăn
cho các bà mẹ cho con bú phụ thuộc nhiều vào tình trạng dinh dưỡng của mỗi bà
mẹ, mức tăng cân trong thời gian mang thai. Theo khuyến nghị về nhu cầu năng
lượng cho người Việt Nam, các bà mẹ cho con bú cần được cung cấp thêm 500 kcl/ngày.
NHU CẦU DINH DƯỠNG CỦA PHỤ NỮ CÓ THAI VÀ BÀ MẸ
CHO CON BÚ
Khi phụ nữ có thai, cho
con bú, nhu cầu về năng lượng và các chất dinh dưỡng cao hơn so với mức bình
thường vì ngoài nhu cầu cho các hoạt động của cơ thể còn thêm nhu cầu cho sự
biến đổi về chuyển hóa, tích lũy mỡ, tăng cân, sự tăng về khối lượng của tử
cung, vú, phát triển của thai nhi và tạo sữa cho con bú. Nếu chế độ ăn của
người mẹ không hợp lý, thiếu về số lượng và chất lượng sẽ là nguyên nhân của
suy dinh dưỡng bào thai, trẻ đẻ nhẹ cân. Một số nghiên cứu còn cho thấy mối
liên quan giữa chế độ dinh dưỡng trong 1000 ngày đầu đời và sự đóng mở gen của
các bệnh mạn tính không lây.
Nhu cầu khuyến nghị
năng lượng và các chất dinh dưỡng cho bà mẹ có thai và cho con bú được tính dựa
theo bảng nhu cầu khuyến nghị cho người Việt Nam năm 2016.
I.
Nhu cầu khuyến nghị năng lượng và chất dinh dưỡng
1. Nhu cầu khuyến nghị
năng lượng
Trong thời kì mang thai
và cho con bú, hoạt động chuyển hóa của cơ thể tăng, khối lượng cơ thể tăng dẫn
đến nhu cầu năng lượng của bà mẹ khi có thai và cho con bú tăng lên so với chưa
mang thai. Nếu năng lượng cung cấp không đủ trong một thời gian dài, bà mẹ dễ
bị thiếu năng lượng trường diễn, trẻ dễ có nguy cơ bị suy dinh dưỡng bào thai.
Ngược lại, cung cấp năng lượng vượt quá nhu cầu kéo dài sẽ dẫn đến tích lũy
năng lượng thừa dưới dạng mỡ, bà mẹ tăng cân quá mức dẫn đến nguy cơ đái tháo
đường thai nghén và trẻ sinh ra nặng cân hơn bình thường (trên 4.000 gam).
Đối với phụ nữ có thai
và bà mẹ cho con bú, nhu cầu năng lượng khuyến nghị được tính dựa theo Bảng nhu
cầu năng lượng khuyến nghị cho người Việt Nam năm 2016:
Bảng
1. Nhu cầu khuyến nghị năng lượng (kcal/ngày)
|
Nhóm
tuổi
|
Hoạt
động thể lực nhẹ
|
Hoạt
động thể lực trung bình
|
|
20-29 tuổi
|
1.760
|
2.050
|
|
30 - 49 tuổi
|
1.730
|
2.010
|
|
Phụ nữ có thai 3
tháng đầu
|
+
50
|
|
Phụ nữ có thai 3
tháng giữa
|
+
250
|
|
Phụ nữ có thai 3 tháng
cuối
|
+
450
|
|
Bà mẹ cho con bú
|
+
500
|
2. Nhu cầu khuyến nghị
chất dinh dưỡng
2.1. Nhu cầu protein
(chất đạm)
Protein là thành phần
cơ bản của các vật chất sống. Protein tham gia vào thành phần cấu tạo nên tế
bào. Protein là thành phần quan trọng của các hormon, các enzym (men), tham gia
quá trình sản xuất kháng thể. Protein cũng tham gia vào hoạt động điều hòa
chuyển hoá, duy trì cân bằng dịch thể. Ngoài ra, protein còn có vai trò quan
trọng trong vận chuyển các chất dinh dưỡng qua thành ruột vào máu và từ máu đến
các mô của cơ thể và qua màng tế bào.
Khi mang thai, nhu cầu
protein của người mẹ tăng lên giúp việc xây dựng và phát triển cơ thể của trẻ.
Bữa ăn của bà mẹ cần phối hợp giữa protein động vật và protein thực vật. Các
thực phẩm cung cấp protein động vật bao gồm thịt, cá, trứng, sữa, tôm, cua,
thủy hải sản... Các thực phẩm cung cấp protein thực vật bao gồm đậu tương, đậu
xanh, các loại đậu khác và vừng lạc.
Nhu cầu khuyến nghị
protein cho bà mẹ có thai và cho con bú được ước tính theo bảng dưới đây:
Bảng
2. Nhu cầu khuyến nghị protein
|
Nhóm
tuổi
|
Tỷ
lệ % năng lượng từ protein/tổng năng lượng khẩu phần
|
Nhu
cầu khuyến nghị protein (g/ngày)
|
Yêu
cầu tỷ lệ protein động vật (%)
|
|
g/kg/ngày
|
(g/ngày)
|
|
20-29 tuổi
|
13-20
|
1,13
|
60
|
>=30
|
|
30-49 tuổi
|
13-20
|
1,13
|
60
|
>=30
|
|
Phụ nữ có thai
|
|
|
|
3 tháng đầu
|
|
+
1
|
>=
35
|
|
3 tháng giữa
|
|
+
10
|
>=35
|
|
3 tháng cuối
|
|
+
31
|
>=
35
|
|
Bà mẹ cho con bú
|
|
|
|
6 tháng đầu
|
|
+
19
|
>=
35
|
|
6-12 tháng
|
|
+
13
|
>=35
|
Nhu cầu khuyến nghị
amino acid thiết yếu:
Bên cạnh việc đảm bảo
nhu cầu tổng số protein khẩu phần thì chất lượng protein hay thành phần các
acid amin, đặc biệt là các acid amin thiết yếu là các amino acid mà cơ thể
không thể tự tổng hợp được mà cần phải được cung cấp từ thực phẩm cũng cần được
đảm bảo. Tổng nhu cầu amino acid thiết yếu là 251mg/kg/ngày
2.2. Nhu cầu lipid
(chất béo)
Lipid trong cơ thể đóng
vai trò quan trọng trong cấu trúc màng tế bào và dự trữ trong các mô như nguồn
năng lượng dự trữ của cơ thể. Lipid là dung môi để hòa tan các vitamin tan
trong chất béo, mặt khác lipid cũng là thành phần cung cấp năng lượng quan
trọng trong khẩu phần. Nguồn cung cấp lipid là dầu, mỡ và các loại hạt có dầu
như lạc, vừng, hạt điều...
Thực phẩm có nguồn gốc
động vật và thực vật chứa nhiều loại lipid khác nhau với chất lượng khác nhau.
Vì vậy, cần phải có sự cân bằng các loại thực phẩm trên trong khẩu phần để đảm
bảo nhu cầu lipid đối với cơ thể không chỉ về số lượng và còn cả về chất lượng.
Để giúp cơ thể tăng cường hấp thu các loại vitamin tan trong chất béo (vitamin
A, D, E, K), đồng thời chủ động phòng thừa cân, béo phì, nhu cầu lipid được
khuyến nghị từ 25 đến 30% năng lượng tổng số, tối thiểu cũng đạt 20% năng lượng
của khẩu phần. Khuyến nghị về tỷ lệ lipid động vật/lipid tổng số đối với người
trưởng thành hiện nay là không nên vượt quá 60%.
Lipid đặc biệt quan trọng
trong thời gian mang thai và cho con bú, quan trọng nhất là lipid tham gia vào
quá trình hình thành và phát triển não trong quá trình mang thai và bảo đảm
chất lượng của sữa mẹ. Tiêu thụ lipid quá thấp trong bữa ăn hàng ngày, không
những ảnh hưởng đến sự phát triển não bộ và thần kinh mà còn nhiều cơ quan khác
của của thai nhi. Thiếu Lipit trong bữa ăn làm giảm sự hấp thu các chất dinh
dưỡng, ảnh hưởng đến sức khỏe bà mẹ và dự trữ mỡ cho tạo sữa sau sinh. Bà mẹ
mang thai ăn thiếu lipit có thể dẫn đến hậu quả là không đạt mức tăng cân trong
thai kỳ, không bài tiết đủ lượng sữa và thiếu dinh dưỡng do thiếu protein năng
lượng. Ngược lại, tiêu thụ quá nhiều lipid có thể dẫn đến thừa cân, béo phì,
ảnh hưởng đến phát triển của thai cũng như một số bệnh mạn tính không lây và
hội chứng rối loạn chuyển hoá cho mẹ.
Bảng
3. Nhu cầu khuyến nghị lipid
|
Nhóm
tuổi/ Tình trạng sinh lý
|
%
năng lượng khẩu phần (kcal)
|
Nhu
cầu khuyến nghị lipid (g/ngày)
|
|
20-29 tuổi
|
20-25
|
46-
57
|
|
30 - 49 tuổi
|
20-25
|
45-
56
|
|
Phụ nữ có thai
|
20-30
|
|
|
3 tháng đầu
|
-
|
+
1,5 g
|
|
3 tháng giữa
|
-
|
+
7,5 g
|
|
3 tháng cuối
|
-
|
+
15 g
|
|
Bà mẹ cho con bú
|
20-30
|
+
10 g
|
Nhu cầu khuyến nghị về
chất lượng lipid:
Khuyến nghị đầu tiên và
quan trọng nhất vẫn là các acid béo no không được vượt quá 10% năng lượng khẩu
phần. Để làm được điều này, có thể tăng cường sử dụng các loại dầu thực vật và
hạn chế tiêu thụ các loại mỡ động vật.
Các acid béo không no
(như acid linoleic, linolenic, decosahexaenoic và các acid béo không no khác)
phải đảm bảo cung cấp 11-15% năng lượng. Để đạt được điều này, cần tăng cường
tiêu thụ các loại dầu thực vật và cá mỡ.
2.3. Nhu cầu glucid
(chất bột)
Glucid là nguồn cung
cấp năng lượng chính cho cơ thể. Trong khẩu phần ăn hàng ngày hơn 1/2 số năng
lượng là do glucid cung cấp. Trong cơ thể 1g glucid được oxy hóa cho 4 kcal, đó
là nguồn năng lượng chính cho hoạt động của cơ, não bộ và tránh gây toan hóa
máu. Nguồn glucid chủ yếu trong khẩu phần là từ gạo, bún, miến, phở, khoai, củ…
Ngoài vai trò sinh năng
lượng, glucid có cả vai trò tạo hình và điều hòa hoạt động của cơ thể.
Phụ nữ có thai cần ăn
thêm nhiều thức ăn có nhiều glucid để bổ sung năng lượng, tham gia vào quá
trình cấu tạo tế bào, tổ chức. Ăn đủ lượng glucide cũng góp phần thúc đẩy quá
trình chuyển hoá lipid.
Nhu cầu khuyến nghị
glucid:
Nhu cầu khuyến nghị cho
người Việt Nam là: Năng lượng do glucid cung cấp dao động trong khoảng 55-65%
năng lượng tổng số, trong đó các glucid phức hợp nên chiếm 70%. Không nên ăn
quá nhiều glucid tinh chế như đường, bánh kẹo, bột tinh chế hoặc gạo đã xay xát
kỹ.
Bảng
4. Nhu cầu khuyến nghị glucid *
|
Nhóm
tuổi
|
Nhu
cầu khuyến nghị glucid (g/ngày)
|
|
20-29 tuổi
|
320-360
|
|
30 - 49 tuổi
|
290-320
|
|
Phụ nữ có thai
|
|
|
3 tháng đầu
|
+
(7-10)
|
|
3 tháng giữa
|
+
(35-40)
|
|
3 tháng cuối
|
+
(65-70)
|
|
Bà mẹ cho con bú
|
+
(50-55)
|
(*) Tính theo nhu cầu
khuyến nghị năng lượng cho mức độ lao động trung bình
2.4. Nhu cầu khuyến
nghị chất xơ (fiber)
Hầu hết các chất xơ
không có giá trị dinh dưỡng, nhưng được coi là một thực phẩm chức năng. Chất xơ
có tác dụng nhuận tràng, kích thích khả năng hoạt động của ruột già, tăng khả
năng tiêu hóa đồng thời cũng là tác nhân tham gia thải loại các sản phẩm oxi
hóa, các chất độc hại trong thực phẩm ra khỏi cơ thể, giảm được nguy cơ về các
bệnh ung thư đại tràng, ruột kết. Ngoài ra chất xơ còn có tác dụng giảm lượng
cholesterol trong máu, giảm các bệnh tim mạch, điều hòa đường huyết và làm giảm
đậm độ năng lượng trong khẩu phần. Đối với phụ nữ có thai, chất xơ giúp giảm
táo bón, làm nhẹ các dấu hiệu nghén và giúp ăn ngon miệng hơn.Tuy nhiên, chất xơ
còn hấp thụ một số chất có hại cho sức khoẻ. Chất xơ có nhiều trong rau, hoa
quả, ngũ cốc (nhất là các loại hạt toàn phần), khoai củ.
Bảng
5. Nhu cầu khuyến nghị chất xơ
|
Nhóm tuổi
|
Nhu
cầu khuyến nghị chất xơ (g/ngày)
|
|
20-29 tuổi
|
25
|
|
30-49 tuổi
|
25
|
|
Phụ nữ có thai
|
28
|
|
Bà mẹ cho con bú
|
29
|
II.
Nhu cầu khuyến nghị Vitamin và chất khoáng
Tăng cường chất khoáng
và Vitamin giúp thai nhi phát triển và đáp ứng nhu cầu cho người mẹ: Các chất
khoáng và vi chất là các chất dinh dưỡng tuy chỉ cần một lượng nhỏ nhưng lại có
vai trò quan trọng, đặc biệt là giai đoạn cơ thể có nhu cầu cao về các chất
dinh dưỡng cho phát triển như thời kỳ có thai, cho con bú. Sau đây là những
vitamin và khoáng chất thiết yếu cần chú ý bổ sung cho phụ nữ có thai và nuôi
con bằng sữa mẹ
1.
Nhu cầu khuyến nghị các chất khoáng
1.1. Nhu cầu khuyến
nghị can xi
Can xi giúp cơ thể hình
thành hệ xương và răng vững chắc, đảm bảo chức phận thần kinh và sự đông máu
bình thường. Các quá trình chuyển hoá trong cơ thể, tạo xương cho thai nhi và
cung cấp can xi trong bài tiết sữa đều cần can xi.
Can xi là một chất
khoáng rất quan trọng cần cho quá trình phát triển xương của trẻ trong giai
đoạn bào thai và tuổi nhỏ. Phụ nữ có thai và bà mẹ cho con bú có nhu cầu can xi
cao hơn so với bình thường. Nếu khẩu phần thiếu hụt can xi, cơ thể phải cân
bằng can xi trong máu bằng huy động can xi từ xương. Vì vậy, nếu nhu cầu can xi
của người mẹ không được đáp ứng đủ trong những giai đoạn này, sẽ ảnh hưởng tới
sự phát triển chiều cao của trẻ và tăng nguy cơ loãng xương của người mẹ sau
này.
Nhu cầu can xi đối với
cơ thể được xác định trong mối tương quan với Phospho: tỷ số Ca/P mong muốn là
tối thiểu là > 0,8 đối với mọi lứa tuổi, tốt nhất là 1-1,5. Nhu cầu dinh
dưỡng khuyến nghị về can xi (mg/ngày) theo tuổi và tình trạng sinh lý.
Bảng
6. Nhu cầu khuyến nghị can xi (mg/ngày)
|
Đối
tượng
|
Nhu
cầu khuyến nghị
|
|
Phụ nữ có thai
|
1200
|
|
Bà mẹ cho con bú
|
1300
|
1.2. Nhu cầu khuyến
nghị sắt
Sắt đóng vai trò hết
sức quan trọng trong cơ thể. Sắt cùng với protein tạo thành huyết sắc tố (hemoglobin),
vận chuyển O2
và CO2,
phòng bệnh thiếu máu và tham gia vào thành phần các men oxy hóa khử.
Sắt trong thực phẩm ở 2
loại, dạng sắt heme hoặc không heme. Dạng heme có trong thức ăn nguồn gốc động
vật, trừ trứng (như phoscidin) và sữa (như lactoferrin). Sắt heme có thể dễ
dàng được hấp thu ở ruột, trong khi hấp thu sắt không heme phụ thuộc vào sự có
mặt của một số chất làm tăng hay cản trở hấp thu sắt. Vì vậy, hàm lượng sắt của
thực phẩm không nhất thiết phản ánh sự đầy đủ sắt trong chế độ ăn. Nhu cầu sắt
phụ thuộc vào lượng sắt có thể hấp thu được trong khẩu phần.
Nhu cầu sắt được tính
toán dựa trên hai cấp độ giá trị sinh học của sắt trong khẩu phần ăn, thay đổi
nhu cầu sắt ở phụ nữ có thai và hiệu chỉnh theo cân nặng nên có của người Việt Nam.
Sắt do thức ăn cung cấp thường không đáp ứng được nhu cầu gia tăng trong suốt
thời gian mang thai, cho con bú. Vì vậy, bà mẹ có thai cần được bổ sung viên
sắt trong thời gian mang thai và ăn các thức ăn giàu sắt trong thời gian nuôi
con bằng sữa mẹ.
Bảng
7. Nhu cầu khuyến nghị sắt (mg/ngày)
|
Nhóm
tuổi
|
Nhu
cầu khuyến nghị theo giá trị sinh học của khẩu phần
|
|
10% **
|
15% ***
|
|
20-29 tuổi
|
26,1
|
17,4
|
|
30-49 tuổi
|
26,1
|
17,4
|
|
Phụ nữ có thai (trong
suốt cả quá trình)
|
+15****
|
+ 10****
|
|
Bà mẹ cho con bú
|
Chưa có kinh nguyệt
trở lại
|
13,3
|
8,9
|
|
Đã có kinh nguyệt trở
lại
|
26,1
|
17,4
|
** Loại khẩu phần có
giá trị sinh học sắt trung bình (khoảng 10% sắt được hấp thu): Khi khẩu phần có
lượng thịt hoặc cá từ 30g-90g/ngày hoặc lượng vitamin C từ 25 mg-75 mg/ngày.
*** Loại khẩu phần có
giá trị sinh học sắt cao (khoảng 15% sắt được hấp thu): Khi khẩu phần có lượng
thịt hoặc cá > 90g/ngày hoặc lượng vitamin C > 75 mg/ngày.
**** Bổ sung viên sắt
được khuyến nghị cho tất cả phụ nữ có thai trong suốt thai kỳ. Những phụ nữ có
thai bị thiếu máu cần dùng liều điều trị theo phác đồ hiện hành.
1.3. Nhu cầu khuyến
nghị kẽm
Kẽm là một vi khoáng
cần thiết cho sự tăng trưởng và phát triển hợp lý. Kẽm đóng vai trò xúc tác cho
gần 200 enzym bao gồm cả alcohol dehydrogenase, phosphatase, RNA polymerases.
Kẽm cần thiết cho cấu trúc của một số protein, một trong số đó liên quan đến
biểu hiện gen như các yếu tố phiên mã gắn acid deoxyribonucleic. Kẽm cũng tham
gia chức năng cấu trúc cho một số enzyme, đáng chú ý nhất trong số đó là
đồng-kẽm superoxide dismutase. Ngoài ra kẽm đóng một vai trò trong biểu hiện
gen và đã cho thấy ảnh hưởng đến cả hoạt động của protein kinase C và diệt tế
bào (apoptosis).
Trong thời gian mang
thai cho con bú, vai trò quan trọng của kẽm là tham gia sản xuất Insulin và
Enzyme, hình thành các tổ chức và giúp cơ thể chuyển hóa năng lượng.
Nhu cầu khuyến nghị
kẽm:
Bảng
8. Nhu cầu khuyến nghị kẽm (mg/ngày)
|
Nhóm
tuổi
|
Nhu
cầu khuyến nghị
|
|
|
Mức
hấp thu kém
|
Mức
hấp thu vừa
|
Mức
hấp thu tốt
|
|
Phụ nữ có thai
|
3
tháng đầu
|
20,0
|
10,0
|
6,0
|
|
3
tháng giữa
|
20,0
|
10,0
|
6,0
|
|
3
tháng cuối
|
20,0
|
10,0
|
6,0
|
|
Bà mẹ cho con bú
|
0
- 3 tháng
|
22,0
|
11,0
|
6,6
|
|
4
- 6 tháng
|
22,0
|
11,0
|
6,6
|
|
7
- 12 tháng
|
22,0
|
11,0
|
6,6
|
Hấp thu tốt: giá trị
sinh học kẽm tốt = 50 % (khẩu phần có nhiều protid động vật hoặc cá); Hấp thu
vừa: giá trị sinh học kẽm trung bình = 30 % (khẩu phần có vừa phải protid động
vật hoặc cá: tỷ số phytate-kẽm phân tử là 5 : 15). Hấp thu kém: giá trị sinh
học kẽm thấp = 15 % (khẩu phần ít hoặc không có protid động vật hoặc cá).
1.4. Nhu cầu khuyến
nghị Iod
Iod là một chất cần
thiết trong cơ thể với một lượng rất nhỏ chỉ từ 15 đến 20mg (WHO 1996). Iod là
thành phần thiết yếu của các hormone tuyến giáp là thyroxine (T4) và
TriIodothyronin (T3). Thiếu Iod ảnh hưởng rõ rệt đến tăng trưởng và phát triển,
đặc biệt là não bộ. Bà mẹ ăn đủ Iod trong thời gian mang thai và cho con bú
giúp giảm nguy cơ thiếu Iod cho thai nhi, giảm lệ tử vong trước hoặc sau khi
sinh và chứng đần độn ở trẻ nhỏ (cretinism).
Bảng
9. Nhu cầu khuyến nghị Iod (μg/ngày)
|
Đối
tượng
|
Nhu
cầu khuyến nghị
|
|
Phụ nữ có thai
|
220
|
|
Bà mẹ cho con bú
|
250
|
2.
Nhu cầu khuyến nghị các Vitamin
2.1. Nhu cầu khuyến
nghị Vitamin A:
Vitamin A là loại tan
trong dầu, có tác dụng bảo vệ mắt, chống quáng gà và bệnh khô mắt, đảm bảo sự
phát triển bình thường của bộ xương, răng, bảo vệ niêm mạc và da, tăng cường
sức đề kháng của cơ thể chống lại các bệnh nhiễm khuẩn.
Vitamin A ngoài tác
dụng bảo vệ mắt, tăng đề kháng, còn có tác dụng tạo xương cho trẻ giúp cho trẻ
có chiều cao tối đa theo tiềm năng. Thiếu vitamin A sẽ làm tăng tỉ lệ mắc các
bệnh nhiễm trùng và tử vong, gây khô mắt, có thể dẫn đến mù lòa vĩnh viễn nếu
không được điều trị. Người phụ nữ có thai cần đảm bảo đủ vitamin A trong suốt
thời gian mang thai. Sau khi sinh, người mẹ cần đủ vitamin A để cung cấp
vitamin A cho sữa nuôi con. Sữa, gan, trứng... là nguồn vitamin A động vật, dễ
dàng hấp thu và dự trữ trong cơ thể để dùng dần. Các loại rau xanh, nhất là rau
ngót, rau dền rau muống và các loại củ quả có màu vàng, màu đỏ như cà rốt, đu
đủ, xoài, bí đỏ, là những thức ăn có nhiều caroten cũng gọi là tiền vitamin A,
vào cơ thể sẽ chuyển thành vitamin A.
Bảng
10. Nhu cầu khuyến nghị vitamin A*(μg/ngày)
|
Tuổi
|
Nhu
cầu khuyến nghị
|
|
20-29 tuổi
|
650
|
|
30-49 tuổi
|
650
|
|
PN có thai (+)
3 tháng đầu
3 tháng giữa
3 tháng cuối
|
+0
+0
+80
|
|
Bà
mẹ cho con bú (+)
|
+450
|
Phụ nữ đang có thai
không nên dùng quá liều Vitamin A 3000 µg (10000IU)/1 ngày hoặc 7500 µg (25000
IU)/ 1 tuần.
2.2. Nhu cầu khuyến
nghị Vitamin D:
Vitamin D giúp cơ thể
sử dụng tốt can xi và phosphor để hình thành và duy trì hệ xương, răng vững
chắc.
Vitamin D giúp hấp thu
và chuyển hóa các chất khoáng cần thiết như can xi, phospho vào cơ thể, khi
mang thai nếu cơ thể thiếu vitamin D dễ gây các hậu quả như trẻ còi xương ngay
trong bụng mẹ.
Trong tự nhiên, rất ít
thực phẩm có lượng đáng kể vitamin D. Các thực phẩm có vitamin D gồm một số dầu
gan cá, nhất là ở các loại cá béo, gan và chất béo của động vật có vú ở biển
(hải cẩu và gấu vùng cực), trứng gà được nuôi có bổ sung vitamin D, dầu tăng
cường vitamin D hoặc các thức ăn bổ sung khác ví dụ bột ngũ cốc. Hầu hết trong
cá có từ 5 mcg/100g tới 15 mcg/100g (tương ứng 200 IU/100g tới 600 IU/100g), cá
trích có thể có tới 40 mcg/100g (1.600 IU/100g).
Bảng
11. Nhu cầu khuyến nghị vitamin D (mcg/ngày)
|
Đối tượng
|
Nhu
cầu khuyến nghị
|
|
Phụ nữ có thai
|
20
|
|
Bà mẹ cho con bú
|
20
|
* 1 đơn vị quốc tế (IU)
tương đương với 0,03 mcg vitamin D3 (chole can xi ferol).
Hoặc:
01 mcg vitamin D3 = 40 đơn vị quốc tế (IU).
2.3. Nhu cầu khuyến
nghị Vitamin E:
Chức năng quan trọng
của Vitamin E là phòng chống ung thư, phòng bệnh đục thủy tinh thể, phát triển
và sinh sản... mà vai trò chính là chống oxy hóa. Hàm lượng Vitamin E khá cao
trong các loại dầu thực vật, quả hạch, hạt hướng dương, mầm lúa mì, hạt ngũ cốc
toàn phần, lạc, rau bina, cải xoăn.
Bảng
12. Nhu cầu khuyến nghị Vitamin E
|
Đối tượng
|
Nhu
cầu khuyến nghị
|
|
Phụ nữ có thai
|
6,5
|
|
Bà mẹ cho con bú
|
7,0
|
2.4. Nhu cầu khuyến nghị
vitamin K:
Vitamin K có chức năng
chính như một coenzyme trong quá trình tổng hợp nhiều thể hoạt động sinh học
của protein tham gia quá trình đông máu như protein của prothrombin.
Bà mẹ mang thai và cho
con bú cần chú ý ăn nhiều thức ăn giàu Vitamin K cũng có nhiều trong một vài
loại dầu ăn như dầu đậu tương, dầu hướng dương, dầu hạt nho nhằm phòng thiếu
vitamin K, gây xuất huyết ở trẻ nhỏ.
Bảng
13. Nhu cầu khuyến nghị Vitamin K *
|
Đối tượng
|
Nhu
cầu khuyến nghị vitamin K, mcg/ngày
|
|
Phụ nữ có thai
|
150
|
|
Bà mẹ cho con bú
|
150
|
2.5. Nhu cầu khuyến
nghị Vitamin B1 (Thiamin):
Vitamin B1 tham gia
chuyển hoá glucid và năng lượng. Vitamin B1 có nhiều trong lớp vỏ cám và mầm
của các loại ngũ cốc, trong đậu đỗ, thịt nạc và phủ tạng động vật.
Bảng
14. Nhu cầu khuyến nghị vitamin B1 (thiamin)
|
Nhóm tuổi
|
Nhu cầu khuyến nghị
|
|
20-29 tuổi
|
1,1
|
|
30-49 tuổi
|
1,0
|
|
Phụ nữ có thai
|
+
0,2
|
|
Bà mẹ cho con bú
|
+
0,2
|
Dựa
vào năng lượng cho hoạt động thể lực ở mức trung bình
2.6. Nhu cầu khuyến
nghị vitamin B2 (Riboflavin):
Vitamin B2 tham gia vào
sự chuyển hoá thức ăn thành năng lượng thông qua chuyển hóa glucid, lipid và
protein bằng các enzym.Vitamin B2 cũng rất cần thiết cho mắt, da, móng tay và
tóc. Nguồn vitamin B2 tốt nhất là phủ tạng, sữa, rau xanh, phô mai và trứng.
Bảng
15.Nhu cầu khuyến nghị vitamin B2 (Riboflavin)(mg/ngày)
|
Nhóm
tuổi
|
Nhu
cầu khuyến nghị
|
|
20-29 tuổi
|
1,2
|
|
30-49 tuổi
|
1,2
|
|
Phụ nữ có thai
|
(+)
0,3
|
|
Bà mẹ cho con bú
|
(+)
0,6
|
2.7. Nhu cầu khuyến
nghị vitamin B6 (pyridoxyl):
Vai trò: Vitamin B6 có 3 dạng
trong tự nhiên là pyridoxal (PL), pyridoxine (PN), và pyridoxamine (PM), và 3
dẫn chất có 5’-phosphates trong phân tử gồm PLP, PNP và PMP. Dạng chính của vitamin
B6 trong mô động vật là PLP và PMP, còn trong thực vật là PN và PNP. Vitamin B6
có vai trò quan trọng đối với các enzyme cần cho quá trình chuyển hóa amino
acid, glycogen, và các gốc sphingoid.
Vitamin B6 có nhiều
trong cá đặc biệt cá ngừ, thịt gà, thịt lợn nạc, thịt bò nạc, chuối, quả bơ
hoặc rau xà lách
Bảng
16. Nhu cầu khuyến nghị Vitamin B6 (mg/ngày)
|
Nhóm
tuổi
|
Nhu
cầu khuyến nghị
|
|
Phụ nữ có thai
|
1,9
|
|
Bà mẹ cho con bú
|
2,0
|
Do vitamin B6 tham gia
vào cấu thành nhiều enzyme chuyển hóa amino acid nên việc ăn nhiều protein sẽ
dẫn đến nhu cầu vitamin B6 tăng lên.
2.8. Nhu cầu khuyến
nghị Folate:
Vai trò: Folate (hay còn gọi là
vitamin B9) là một vitamin nhóm B tan trong nước đóng vai quan trọng trong các
phản ứng vận chuyển carbon khi chuyển hóa acid nucleic và các acid amino.
Tham gia vào quá trình
phát triển và phân chia tất cả các loại tế bào của người, động vật, thực vật và
vi khuẩn.
Bảng
17. Nhu cầu khuyến nghị Folate (µg/ngày)
|
Nhóm
tuổi
|
Nhu
cầu khuyến nghị
|
|
Phụ nữ có thai
|
600
|
|
Bà mẹ cho con bú
|
500
|
2.9. Nhu cầu khuyến
nghị vitamin B12:
Vitamin B12 rất quan
trọng trong quá trình mang thai, giúp tạo năng lượng, phát triển hệ thần kinh,
hỗ trợ hình thành cơ thể. Các thực phẩm như thịt, cá, gia cầm, sữa, sò, gan… là
nguồn thức ăn giàu vitamin B12.
Bảng
18. Nhu cầu khuyến nghị Vitamin B12 (mg/ngày)
|
Nhóm
tuổi
|
Nhu
cầu khuyến nghị
|
|
Phụ nữ có thai
|
2,6
|
|
Bà mẹ cho con bú
|
2,8
|
2.10. Nhu cầu khuyến
nghị vitamin C (Acid Ascrobic):
Vitamin C cần thiết cho
cả mẹ và con trong suốt thời kỳ mang thai và cho con bú. Vitamin cần thiết để
tao collagen, protein cho cơ thể. Vitamin C đóng vai trò như một chất
chống oxy hóa để bảo vệ cơ thể, chống nhiễm khuẩn. Hoa quả tươi và rau lá rất
giàu vitamin C là những thực phẩm sẵn có tại Việt nam.
Bảng
19. Nhu cầu khuyến nghị vitamin C
|
Nhóm
tuổi
|
Nhu
cầu khuyến nghị
|
|
20-29 tuổi
|
100
|
|
30-49 tuổi
|
100
|
|
Phụ nữ có thai
|
(+)
10
|
|
Bà mẹ cho con bú
|
(+)
45
|
(*) Chưa tính lượng hao
hụt do chế biến, nấu nướng do Vitamin C dễ bị phá hủy bởi quá trình oxy hóa,
ánh sáng, kiềm và nhiệt độ.
2.11. Nhu cầu khuyến
nghị Choline:
Choline đóng vai trò là
tiền chất của acetylcholine, các phospholipid và các loại đường betain cung cấp
nhóm methyl. Choline có vai trò quan trọng trong cấu trúc toàn vẹn của màng tế
bào, chuyển hóa methyl, các dẫn truyền thần kinh kiểu Choline, và tín hiệu màng
tế bào. Nó cũng có vai trò quan trọng trong vận chuyển và chuyển hóa lipid và
cholesterol. Tế bào cơ thể rất cần Choline, nếu không có Choline các tế bào sẽ
chết. Chuyển hóa Choline có liên quan chặt chẽ với chu trình chuyển hóa Folate
và methionine. Nhu cầu Choline của cơ thể thay đổi liên quan tới chuyển hóa
trao đổi methyl giữa choline với methionine, Folate và vitamin B12. Các thực
phẩm giàu Cholin gồm sữa, gan, trứng và các loại hạt.
Bảng
20. Nhu cầu khuyến nghị Choline(mg/ngày)
|
Đối
tượng
|
Nhu
cầu khuyến nghị
|
|
Phụ
nữ có thai
|
450
|
|
Bà
mẹ cho con bú
|
550
|
3.
Nhu cầu nước và các chất điện giải
Nước cùng với ba chất
điện giải chính (Na, K và Cl) là những thành phần cần thiết phải được đưa vào
theo thức ăn và đồ uống hàng ngày để duy trì cân bằng acid - ba giơ và áp lực
thẩm thấu của màng tế bào trong cơ thể.
3.1. Nhu cầu nước đối
với cơ thể
Bảng
21. Lượng nước uống vào và thải ra hàng ngày của người trưởng thành
|
Uống/ăn vào
|
Thải ra
|
|
Đường vào
|
ml / ngày
|
Đường ra
|
ml / ngày
|
|
Theo đường miệng
|
1.100-1.400
|
Qua nước tiểu
|
1.200-1.500
|
|
Theo các thực phẩm
|
800-1.000
|
Theo đường ruột
|
100-200
|
|
Theo hơi thở
|
400
|
|
Theo mồ hôi
|
500-600
|
|
Nước chuyển hóa (oxy
hoá thực phẩm)
|
300
|
|
|
|
Tổng cộng
|
2.200-2.700 (Trung
bình 2.500 ml/ngày)
|
|
2.200-2.700 (trung
bình 2.500 ml/ngày)
|
3.2. Nhu cầu các chất
điện giải
3.2.1. Nhu cầu các
chất điện giải):
Na, cùng với Kali
(potassium - K) và chloride (Cl) là các chất cần thiết phải có trong khẩu phần,
nhưng không giống như hầu hết các chất dinh dưỡng khác, rất hiếm khi bị thiếu
Na trong khẩu phần hàng ngày. Phụ nữ có thai nên tiêu thụ Na ít hơn bình thường
để giảm nguy cơ tăng huyết áp.
Bảng
22. Nhu cầu khuyến nghị về natri (Na)
|
Đối
tượng
|
Mục
tiêu chế độ ăn (DG)
|
|
Na,
mg/ngày
|
Muối,
g/ngày
|
|
Phụ nữ có thai
|
<
2000
|
<
5,0
|
|
Bà mẹ cho con bú
|
<
2000
|
<
5,0
|
3.2.2. Nhu cầu Ka li -
K:
Cùng với Na và Cl, K là
chất cần thiết trong khẩu phần hàng ngày. K là cation chính trong dịch tế bào
đóng vai trò cân bằng điện giải, cân bằng acid và rất quan trọng đối với hoạt
động hệ thống liên kết và cơ tim. Cùng với Mg, K hoạt động như là nhân tố giãn
cơ ngược với Ca (kích thích cơ). K có vai trò góp phần vận chuyển các xung động
thần kinh và duy trì huyết áp bình thường. Trong tế bào K có vai trò đặc hiệu
trong các phản ứng enzyme như tổng hợp protein và glycogen, có vai trò chuyển
glucose dư thừa thành glycogen dự trữ và dự trữ nitơ trong protein cơ.
Bảng
23. Nhu cầu khuyến nghị Kali (mg/ngày)
|
Đối
tượng
|
Mức
tiêu thụ đủ K
(AI-
mg/ngày)
|
Mục
tiêu chế độ ăn K
(mg/ngày)
|
|
Phụ nữ có thai
|
2000
|
>3510
|
|
Bà mẹ cho con bú
|
2000
|
>3510
|
3.2.3. Nhu cầu Clo -
Cl (Chloride):
Cl được phân bố rộng
rãi trong cơ thể dưới dạng ion Chloride. Khác với ion dương Na và K, Cl ở dạng
ion âm. Hàm lượng Cl cao nhất ở dịch não tủy, và chất tiết dạ dày, thấp hơn ở
các tổ chức cơ và thần kinh. Cùng với Na và K, ion Cl giúp duy trì cân bằng
nước và điều áp lực nội môi và cân bằng acid. Cl có vai trò đặc biệt duy trì pH
máu, và tham gia vào thành phần dịch vị.
Bảng
24. Nhu cầu khuyến nghị Clo (Cl) (mg/ngày)
|
Nhóm
tuổi
|
Mức
tiêu thụ đủ (AI)
(mg/ngày)
|
Mục
tiêu chế độ ăn
(DG)
(mg/ngày)
|
|
20
-29 tuổi
|
900
|
<
2900
|
|
30
- 49 tuổi
|
900
|
<
2900
|
KHUYẾN NGHỊ SỬ DỤNG SỮA VÀ CHẾ PHẨM SỮA CHO PHỤ
NỮ CÓ THAI VÀ BÀ MẸ CHO CON BÚ
Số liệu thống kê cho
thấy khẩu phần can xi của người trưởng thành dường như không thay đổi trong các
thập kỷ qua với mức đáp ứng can xi khẩu phần khoảng 50-60% nhu cầu khuyến nghị.
Một trong những nguyên nhân là do thói quen ít sử dụng sữa, chế phẩm sữa và các
thực phẩm nguồn gốc thủy sản. Mặt khác, chế độ ăn không đảm bảo tỷ lệ thích hợp
giữa can xi và phospho, vì vậy thì cơ thể không hấp thu tốt cả 2 chất khoáng
này. Trong khi, đối với người trưởng thành tỷ số can xi/phospho khẩu phần cần
đạt mức ≥ 0,8, thì tỷ số này ở người Việt Nam chỉ đạt 0,6-0,7. .
Sữa và chế phẩm sữa rất
giàu can xi và là nguồn can xi có giá trị sinh học cao. Nghiên cứu trên phụ nữ
Nhật Bản cho thấy phụ nữ có thai sử dụng phô mai trong thai kỳ đã giúp cải
thiện sức khỏe răng và giảm nguy cơ sâu răng của trẻ sau này. Một số nghiên cứu
cho thấy khẩu phần can xi của phụ nữ có thai và bà mẹ cho con bú chỉ đáp ứng
khoảng 50% nhu cầu khuyến nghị.
Nghiên cứu can thiệp sử
dụng sữa bổ sung vi chất dinh dưỡng cho 228 bà mẹ có thai từ 26-29 tuần thai
cho đến 3 tháng sau sinh của Viện Dinh Dưỡng cho thấy cân nặng sơ sinh trung
bình của các con ở những bà mẹ thuộc nhóm can thiệp đã cao hơn so với cân nặng
sơ sinh trung bình thuộc nhóm chứng một cách có ý nghĩa thống kê (p=0.0312). Tỷ
lệ trẻ có cân nặng sơ sinh thấp dưới 2500g, chiều dài và vòng đầu dưới - 2 độ
lệch chuẩn (-2SD Z-Score) ở nhóm can thiệp có xu hướng thấp hơn so với nhóm
chứng..
Sữa và chế phẩm sữa
không chỉ là nguồn cung cấp can xi quan trọng cho bà mẹ trong những giai đoạn
đặc biệt này mà còn là những thực phẩm có đầy đủ các chất dinh dưỡng thiết yếu
và ở tỷ lệ cân đối rất tốt cho sức khỏe bà mẹ và trẻ em. Sử dụng sữa và chế
phẩm sữa hợp lý trong thời kỳ mang thai và nuôi con bú, giúp cải thiện khẩu
phần can xi, cải thiện tỷ số can xi/phospho thấp của khẩu phần, giúp hấp thu và
chuyển hóa can xi tốt hơn.
- Chất đạm: Chất
đạm (Protein) của sữa rất quý vì thành phần acid amin cân đối và độ đồng hóa
cao.
- Chất béo: Chất
béo (Lipid) của sữa có nhiều loại acid béo khác nhau bao gồm acid béo no và
không no. Khoảng 29% acid béo không no có một nối đôi và 6% acid béo không no
có nhiều nối đôi.
- Là dung môi hòa tan
và tăng khả năng hấp thu các vitamin vitamin A, D, E, K.
- Chất khoáng: Sữa
có nhiều chất khoáng khác nhau như can xi, đồng, sắt, kẽm, magie, kali, selen…
Đặc biệt, sữa có hàm lượng can xi cao, 100ml sữa cung cấp 100-120mg can xi.
- Can xi trong sữa ở dạng
kết hợp với casein, tỷ số can xi/phospho thích hợp nên dễ hấp thu.
- Vitamin: Sữa
chứa rất nhiều loại vitamin như vitamin nhóm B (vitamin B1, B3, B5, B6 và B9…),
vitamin C, vitamin D, vitamin E và vitamin K. Đặc biệt có hàm lượng cao vitamin
A, vitamin B2 và vitamin B12.
|
1.2. Sữa chua: Là chế phẩm từ sữa
nên có đầy đủ thành phần các chất dinh dưỡng của sữa [3]. Ngoài ra có 1 số
điểm nổi trội sau:
|

|
- Ít đường lactose: Trong
sữa chua, đường lactose được lên men chuyển thành acid lactic, giúp cơ thể hấp
thu các chất dinh dưỡng dễ dàng hơn, thích hợp cho người không dung nạp đường
lactose.
- Vi khuẩn có ích: Sữa
chua cung cấp cho cơ thể một lượng lớn các vi khuẩn có lợi giúp cân bằng hệ vi
khuẩn đường ruột, bảo vệ hệ tiêu hóa, tăng cường hấp thu các chất dinh dưỡng.
|
1.3. Phô mai: Là chế phẩm từ sữa
nên phô mai có đầy đủ thành phần các chất dinh dưỡng của sữa [4-5].
|

|
- Đậm độ dinh dưỡng
cao: Phô mai có tất cả các thành phần dinh dưỡng tương tự như sữa, nhưng ở
đậm độ cao hơn. Chất đạm của phô mai đã được thủy phân một phần nên hấp thu dễ
dàng hơn.
- Ít đường lactose: Phô
mai có rất ít đường lactose nên có thể sử dụng cho người không dung nạp đường
lactose.
- Giàu can xi: Hàm
lượng can xi trong phô mai cao gấp 3-6 lần sữa và sữa chua.
2.
Khuyến nghị sử dụng sữa và chế phẩm sữa cho phụ nữ có thai và bà mẹ cho con bú
2.1. Đơn vị quy đổi can
xi khẩu phần (1 đơn vị ăn của sữa và chế phẩm sữa)

Một đơn vị ăn của sữa
và chế phẩm sữa cung cấp 100mg can xi tương đương:
- 1 miếng phô
mai có trọng lượng bằng 15g.
- 1 hộp sữa chua
100g.
- 1 cốc sữa dạng lỏng
100ml. Sữa dạng lỏng có thể là sữa tươi, sữa tiệt trùng hoặc sữa bột pha có hàm
lượng can xi là 100mg can xi trong 100ml sữa.
2.2. Khuyến nghị sử
dụng sữa và chế phẩm sữa cho phụ nữ có thai và bà mẹ cho con bú

- Phụ nữ có thai mỗi
ngày nên sử dụng 6 đơn vị ăn sữa và chế phẩm sữa, tương đương 30g phô mai (2
miếng phô mai), 200ml sữa chua (2 hộp sữa chua) và 200ml sữa dạng lỏng (2 ly
sữa nhỏ).
- Bà mẹ cho con bú mỗi
ngày nên sử dụng 6,5 đơn vị ăn sữa và chế phẩm sữa, tương đương 30g phô mai (2
miếng phô mai), 200ml sữa chua (2 hộp sữa chua) và 250ml sữa dạng lỏng (2,5 ly
sữa nhỏ).
3.
Cách chọn sữa và chế phẩm sữa cho phụ nữ có thai và bà mẹ cho con bú
3.1. Nguyên tắc chung
- Xem kỹ nhãn mác về
hạn sử dụng, thành phần dinh dưỡng, đặc biệt là hàm lượng chất đạm, can xi và
chất béo, lượng đường bổ sung…để lựa chọn được sản phẩm phù hợp.
- Nên chọn lựa sữa bổ
sung dinh dưỡng dựa trên các công thức bổ sung vi chất cho phụ nữ có thai và bà
mẹ cho con bú.Sữa bổ sung vi chất cho phụ nữ có thai và bà mẹ cho con bú: là
sữa có công thức dinh dưỡng được thiết kế một cách khoa học đáp ứng nhu cầu
tăng cao trong suốt thời kỳ mang thai và cho con bú.
- Nên chọn sữa và sữa
chua ít đường hoặc không đường.
- Chọn các sản phẩm đã
được cấp phép của các cơ quan quản lý có thẩm quyền.
- Không nên ăn sữa chua
vào lúc đói dễ bị cồn ruột và các vi khuẩn có ích trong sữa chua dễ bị chết bởi
độ acid cao trong dạ dày làm giảm tác dụng của các vi khuẩn có lợi.
- Sữa chua và sữa thanh
trùng cần được bảo quản trong ngăn mát của tủ lạnh.
3.2. Lưu ý lựa chọn sữa
và chế phẩm sữa cho phụ nữ có thai và bà mẹ cho con bú
3.2.1. Lưu ý khi lựa
chọn sữa cho phụ nữ có thai và bà mẹ cho con bú
- Phụ nữ có thai và bà
mẹ cho con bú có thể lựa chọn sữa tươi hoặc sữa bột dành cho phụ nữ có thai
hoặc bà mẹ cho con bú. Trong các giai đoạn này, nhu cầu các vi chất dinh dưỡng
đều tăng cao hơn so với bình thường vì vậy khi lựa chọn sữa cần chú ý hàm lượng
can xi và các vi chất dinh dưỡng bổ sung, có thể lựa chọn các sữa bổ sung vi
chất cho phụ nữ có thai và nuôi con bú. Nên lựa chọn những sản phẩm đã được
chứng minh lâm sàng
- Đối với những người
tăng cân quá nhiều hoặc có rối loạn đường máu cần lưu ý về hàm lượng đường và
chất béo trong sữa.
- Với những người không
dung nạp đường lactose có thể tập uống sữa với lượng tăng dần hoặc thay thế
bằng sữa chua và phô mai.
3.2.2. Lưu ý khi lựa
chọn sữa chua cho phụ nữ có thai và bà mẹ cho con bú: Sữa chua là một thực
phẩm rất tốt trong chế độ ăn hàng ngày của phụ nữ có thai và bà mẹ cho con bú.
Đặc biệt trong thời kỳ có thai, bà mẹ có thể bị nghén gây chán ăn, sữa chua có
các chủng vi khuẩn có lợi cho đường ruột, giúp tiêu hóa thức ăn tốt hơn và ăn
ngon miệng hơn, đặc biệt sữa chua rất phù hợp cho những người không dung nạp
đường lactose.
3.2.3. Lưu ý khi lựa
chọn phô mai cho phụ nữ có thai và bà mẹ cho con bú: Phô mai có đậm độ chất
dinh dưỡng cao trong 1 thể tích nhỏ, điều này rất có lợi cho những bà mẹ bị
nghén khi mang thai. Bà mẹ có thể ăn phô mai trực tiếp hoặc dùng phô mai để chế
biến nhiều món ăn khác nhau để thay đổi khẩu vị và chất lượng món ăn như phô
mai chiên với trứng, cá hồi sốt phô mai, súp rau củ phô mai.
DINH DƯỠNG CHO PHỤ NỮ CÓ THAI VÀ BÀ MẸ CHO CON
BÚ
1.
Chăm sóc dinh dưỡng cho phụ nữ thời kỳ có thai
Chế độ dinh dưỡng có
ảnh hưởng rất lớn tới sức khỏe của mẹ và sự phát triển của thai nhi. Dinh dưỡng
tốt, không chỉ giúp người mẹ đáp ứng đầy đủ các hoạt động, sinh hoạt hàng ngày
của cơ thể, mà còn đáp ứng những thay đổi sinh lý về chuyển hóa, tích lũy mỡ,
tăng cân, tăng khối lượng tử cung do mang thai.
Dinh dưỡng hợp lý khi
mang thai còn giúp người mẹ có đủ dự trữ cần thiết để có đủ sữa sau sinh. Vì
vậy, chế độ dinh dưỡng, cách ăn uống của người phụ nữ khi mang thai đặc biệt
quan trọng, mỗi người phụ nữ cần quan tâm tới khẩu phần ăn của mình lúc mang
thai một cách khoa học, đạt được mức tăng cân phù hợp với tình trạng dinh dưỡng
trước khi mang thai.
Những người mẹ bị thiếu
năng lượng trường diễn từ trước khi mang thai và chế độ dinh dưỡng kém trong
thời gian mang thai dễ sinh ra những đứa trẻ nhẹ cân, suy dinh dưỡng.
Mức tăng cân trong thai
kỳ: Tăng
cân là biểu hiện tích cực cho thấy sự phát triển của thai nhi, tăng cân của
người mẹ lúc mang thai phụ thuộc vào giai đoạn thai kỳ và tình trạng dinh dưỡng
trước khi mang thai.
Tùy theo tình trạng
dinh dưỡng (chỉ số khối cơ thể: BMI) trước khi có thai của người mẹ để khuyến
nghị mức tăng cân:
- Tình trạng dinh dưỡng
bình thường (BMI: 18,5-24,9): Mức tăng cân của người mẹ nên đạt là 10-12kg. Mức
tăng cân cụ thể như sau:
+ 3 tháng đầu (quý I):
1 kg
+ 3 tháng giữa (quý
II): 4-5 kg
+ 3 tháng cuối (quý
III): 5 - 6 kg
- Tình trạng dinh dưỡng
gầy (BMI <18,5): mức tăng cân nên đạt 25% cân nặng trước khi có thai.
- Tình trạng dinh dưỡng
thừa cân, béo phì (TC, BP) (BMI ≥25): mức tăng cân nên đạt 15% cân nặng trước
khi có thai
Cân nặng của mẹ trước
khi có thai và sự tăng cân trong thai kỳ ảnh hưởng rõ rệt đến cân nặng của trẻ
sơ sinh. Mẹ có cân nặng trước khi có thai dưới 40 kg, cân nặng trước khi đẻ
dưới 47 kg và tăng cân trong khi có thai dưới 5 kg có nguy cơ đẻ con nhẹ cân
< 2.500g.
1.1. Chế độ dinh dưỡng
trong các giai đoạn của thời kỳ mang thai
1.1.1. Dinh dưỡng trong
giai đoạn thai 3 tháng đầu:
Đây là giai đoạn hình
thành các cơ quan, tổ chức của thai nhi như tủy sống, não, tim, phổi, gan… nên
cần ăn tăng cường các thực phẩm giàu đạm như: trứng, sữa, thịt, đậu đỗ và chia
lượng thức ăn trong ngày thành nhiều bữa nhỏ để bớt cảm giác nghén
Ngoài việc bổ sung đầy
đủ dinh dưỡng trong chế độ ăn, bà mẹ cần uống bổ sung sắt và acid folic hoặc đa
vi chất theo qui định của y tế.
Phác đồ bổ sung viên
sắt/folic cho phụ nữ có thai:
+ Uống ngày 1 viên
trong suốt thời gian có thai đến sau đẻ 1 tháng. Mỗi viên gồm 60 mg sắt và 400
mcg acid folic.
+ Nếu thai phụ có thiếu
máu: cần được điều trị theo phác đồ.
+ Việc cung cấp viên
sắt/acid folic cần được thực hiện ngay từ lần đầu khám thai.
+ Kiểm tra việc sử dụng
và cung cấp tiếp viên sắt/acid folic trong các lần khám thai sau.
- Dinh dưỡng hợp lý,
khắc phục tình trạng nghén để đạt mức tăng cân phù hợp với tình trạng dinh
dưỡng trước khi mang thai (bình thường là tăng 1kg).
1.1.2. Dinh dưỡng trong
giai đoạn 3 tháng giữa:
Đây là giai đoạn thai
phát triển nhanh vì vậy cần tăng đáp ứng năng lượng cho bà mẹ khi có thai Theo
nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị của Viện Dinh dưỡng - Bộ Y tế năm 2016, mức năng
lượng khuyến nghị hàng ngày khi có thai 3 tháng giữa thai kỳ, khẩu phần ăn nên
nhiều hơn sao cho năng lượng cung cấp tăng 250 kcal/ngày (tương đương 1 bát cơm
và thức ăn hợp lý).
Giai đoạn 3 tháng giữa
của thai kỳ là giai đoạn phát triển về khung xương, chiều cao của trẻ nên chú ý
ăn các thực phẩm giàu can xi, kẽm như: tôm, cua, trứng, sữa, thủy sản. Cần bảo
đảm cung cấp đủ can xi 1200mg/ngày, vì thế ngoài chế độ ăn thông thường cần
uống thêm 6 đơn vị sữa/ngày.
Thai phụ tiếp tục uống
bổ sung viên sắt/acid folic hoặc viên đa vi chất theo qui định.
1.1.3. Dinh dưỡng trong
giai đoạn 3 tháng cuối
Giai đoạn 3 tháng cuối
thai kỳ là giai đoạn tốc độ phát triển cân nặng của thai nhi nhanh nhất, vì vậy
dinh dưỡng thai phụ cần đảm bảo đầy đủ, đa dạng đáp ứng nhu cầu của thai nhi,
đặc biệt cần:
- Tăng năng lượng bữa
ăn như: nhu cầu về năng lượng của thai phụ theo nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị
của Viện Dinh dưỡng về mức năng lượng khuyến nghị hàng ngày khi có thai 3 tháng
cuối là năng lượng cung cấp tăng 450 kcal/ngày (tương đương 2 miệng bát cơm và
thức ăn hợp lý). Về tính cân đối của khẩu phần cần đảm bảo số lượng chất béo và
chất lượng chất béo (cân đối giữa chất béo động vật và thực vật, đủ các acid
béo không no cần thiết).
- Tăng cường bổ sung
dinh dưỡng thông qua đa dạng thực phẩm: Bổ sung chất đạm, chất béo giúp xây
dựng và phát triển cơ thể thai nhi: Ngoài cơm (và lương thực khác) ăn đủ
no, bữa ăn của bà mẹ có thai cần bổ sung thêm chất đạm, chất béo giúp việc xây
dựng và phát triển cơ thể của trẻ. Trước hết cần chú ý đến các nguồn chất đạm
từ các thức ăn sẵn có như: trứng, cá, tôm, cua, thịt, đậu đỗ các loại (đậu
tương, đậu xanh…) và vừng, lạc. Đây là những thức ăn có hàm lượng đạm cao, lại
có thêm lượng chất béo giúp tăng năng lượng bữa ăn và giúp hấp thu tốt các
nguồn vitamin tan trong chất béo. Nên cố gắng sử dụng sữa và chế phẩm sao cho
đạt 6 đơn vị sữa/ngày (tương đương 600 mg can xi bao gồm: 2 miếng phô mai, 2
hộp sữa chua và 200 ml sữa)… Chất đạm đặc biệt quan trọng ở 3 tháng đầu cho
việc tạo hình và xây dựng các tổ chức nội tạng trong cơ thể như: tim, gan, phổi
và nhất là tế bào thần kinh. Nhu cầu chất đạm cần tăng hơn so với khi chưa có
thai.
1.2. Chất khoáng và
vitamin: giúp
thai nhi phát triển và đáp ứng nhu cầu cho người mẹ: Các vi chất là những chất
dinh dưỡng tuy chỉ cần một lượng rất nhỏ nhưng lại có vai trò rất quan trọng,
đặc biệt là giai đoạn cơ thể có nhu cầu cao về các chất dinh dưỡng cho phát
triển như thời kỳ có thai.
1.2.1. Can xi:
Có vai trò quan trọng
tham gia cấu tạo khung xương cho thai nhi và đảm bảo cho nhu cầu can xi của
thai phụ. Khi có thai, nhu cầu can xi tăng lên 1200mg/ngày cao hơn khi chưa
mang thai (800mg/ngày).
Phụ nữ có thai thiếu
can xi có thể thấy mệt mỏi, đau nhức bắp cơ, tê chân, đau lưng, đau khớp, răng
tưởng như lung lay, chuột rút, nặng hơn nữa thì lên cơn co giật do hạ can xi
huyết quá mức mà biểu hiện đặc trưng là co giật các cơ mặt và chi trên với bàn
tay co rúm, các ngón tay chụm lại giống như “bàn tay người đỡ đẻ”. Đối với thai,
thiếu can xi sẽ dẫn đến suy dinh dưỡng ngay khi còn trong bụng mẹ, bị còi xương
bẩm sinh, biến dạng các xương gây dị hình, giảm chiều dài sơ sinh… Nếu người mẹ
không được cung cấp đủ lượng can xi mỗi ngày thì bào thai sẽ lấy lượng can xi
thiếu đó từ chính xương của cơ thể mẹ, ảnh hưởng đến sức khỏe sau này của mẹ.
Vì thế bổ sung can xi đủ và đúng liều khi mang thai là hết sức cần thiết.
Thiếu can xi, người mẹ
dễ tăng huyết áp. Trong giai đoạn sau của thai kỳ, do nhu cầu can xi để phát
triển xương của thai nhi nên cuống rốn tiết ra một lượng estrogen cản trở việc
tái hấp thu can xi của xương trong cơ thể mẹ. Khi can xi trong máu mẹ giảm,
hoạt động bài tiết hormon của tuyến cận giáp tăng lên làm hòa tan phốt pho
trong xương, chuyển vào máu đồng thời gia tăng sự hấp thu can xi trong đường
ruột để giữ mức can xi trong máu. Nồng độ hormon của tuyến cận giáp cao sẽ gây
nên tăng huyết áp. Vì vậy, nếu được bổ sung can xi đầy đủ có thể giảm nhẹ sự
bài tiết hormon của tuyến cận giáp do hạ nồng độ can xi trong máu gây ra, làm
cho huyết áp ổn định và duy trì ở mức bình thường. Ngoài ra, việc bổ sung can
xi có thể giảm tính nhạy cảm trong mạch máu, ức chế sự phản ứng của cơ trơn
mạch máu. Do đó, đáp ứng đủ nhu cầu can xi có thể phòng ngừa chứng tăng huyết
áp ở phụ nữ có thai.
Cung cấp can xi khi
mang thai: Cách tốt nhất là sử dụng can xi từ thực phẩm. Sữa là nguồn cung cấp
can xi tốt nhất, hàm lượng tương đối nhiều (100-120mg/100ml sữa nước pha
chuẩn), tỷ lệ hấp thu cao; Các thức ăn hải sản như tôm, cua, ngao, sò và trứng
có hàm lượng can xi cũng khá phong phú. Trong các loại rau xanh và các loại đậu
đỗ tuy cũng là nguồn can xi, nhưng can xi trong các loại thực phẩm này dễ bị
tương tác với acid oxalic và các loại acid hữu cơ vốn có trong các thực phẩm
nguồn thực vật tạo ra những hợp chất can xi khó hòa tan. Vì vậy, việc ăn uống
đầy đủ với thức ăn đa dạng, nhiều rau, củ, quả, không quá kiêng khem, chọn lựa
thức ăn có nhiều can xi cho bà mẹ mang thai là điều cần thiết hoặc có thể uống
bổ sung can xi để tránh tình trạng thiếu can xi cho cả mẹ và thai nhi.
1.2.2. Sắt:
Tham gia quá trình tạo
máu, có nhiều trong thịt màu đỏ, trứng, trong đậu đỗ các loại, vừng lạc và các
rau củ màu xanh đậm. Sắt do các thức ăn động vật cung cấp dễ hấp thu hơn nguồn
sắt từ các thức ăn thực vật. Lượng vitamin C và chất đạm trong khẩu phần làm
tăng khả năng hấp thu sắt, ngược lại, tannin và phytat lại cản trở sự hấp thu
sắt. Do nhu cầu sắt của người phụ nữ tăng cao khi mang thai nên khẩu phần hàng
ngày không thể đáp ứng được nhu cầu. Vì vậy, phụ nữ có thai cần được uống bổ
sung viên sắt (60mg sắt nguyên tố/ngày) hoặc viên đa vi chất theo qui định.
Tình trạng thiếu sắt dẫn đến thiếu máu ở người mẹ ảnh hưởng đến mức tăng cân
của mẹ trong thời gian mang thai cũng như cân nặng của trẻ sơ sinh làm tăng nguy
cơ bị biến chứng sản khoa.
1.2.3. Kẽm:
Tham gia vào phát triển
chiều cao của trẻ từ trong bào thai và tăng miễn dịch cho trẻ. Nguồn cung cấp
kẽm tốt nhất là thịt, cá, thủy hải sản, đặc biệt là nhuyễn thể như: ốc, hến,
trai, trùng trục hay nghêu sò... Các thức ăn thực vật cũng có kẽm nhưng hàm
lượng thấp và hấp thu kém. Thiếu kẽm gây nên vô sinh, sẩy thai, sinh non hoặc
sinh già tháng, thai chết lưu gần ngày sinh và sinh không bình thường.
1.2.4. Iod:
Thiếu iod ở phụ nữ thời
kỳ mang thai có thể gây sẩy thai tự nhiên, thai chết lưu, đẻ non. Khi thiếu iod
nặng, trẻ sinh ra có thể bị đần độn với tổn thương não vĩnh viễn. Trẻ sơ sinh
có thể bị các khuyết tật bẩm sinh như liệt tay hoặc chân, nói ngọng, điếc, câm,
mắt lác. Nguồn thức ăn giàu iốt là những thức ăn từ biển như cá biển, sò, rong
biển... Ngoài ra, phụ nữ có thai nên sử dụng muối, bột canh có tăng cường iốt.
1.2.5. Vitamin A:
Ngoài các tác dụng như
sáng mắt, tăng đề kháng, còn có tác dụng hỗ trợ tăng trưởng giúp trẻ có chiều
cao tối ưu theo tiềm năng di truyền. Thiếu vitamin A sẽ làm tăng tỷ lệ mắc các
bệnh nhiễm trùng và tử vong, gây khô mắt, có thể dẫn đến mù lòa vĩnh viễn nếu
không được điều trị kịp thời. Chế độ ăn của phụ nữ có thai cần đảm bảo đủ nhu
cầu vitamin A trong suốt thời gian mang thai. Sau khi sinh, người mẹ cần đủ nhu
cầu vitamin A để cung cấp vitamin A cho trẻ qua sữa mẹ. Sữa, trứng… là nguồn
vitamin A động vật, dễ dàng hấp thu và dự trữ trong cơ thể. Các loại rau xanh,
nhất là rau ngót, rau dền, rau muống và các loại củ quả có màu vàng, màu đỏ như
cà rốt, đu đủ, xoài, bí đỏ, là những thức ăn có nhiều beta caroten vào cơ thể
sẽ chuyển thành vitamin A. Chế độ ăn đủ chất béo sẽ giúp tăng hấp thu vitamin A
và các vitamin tan trong chất béo khác như vitamin D, E, K. Tuyệt đối không
uống vitamin A liều cao (200.000IU) trong thai kỳ vì có thể gây dị dạng thai
nhi.
1.2.6. Vitamin D:
Giúp hấp thu và chuyển
hóa các chất khoáng cần thiết như can xi, phospho vào cơ thể, khi mang thai nếu
cơ thể thiếu vitamin D dễ gây các hậu quả như trẻ còi xương ngay trong bụng mẹ
hay trẻ đẻ ra bình thường nhưng thóp sẽ lâu liền. Những phụ nữ có thai nên dành
thời gian tắm nắng khoảng 20-30’/ngày hoặc bổ sung vitamin D 15mcg/ngày, sử
dụng các thực phẩm giàu vitamin D như phomát, cá, trứng, sữa, hoặc các thực
phẩm có tăng cường vitamin D. Ngoài ra người mẹ có thể phòng còi xương cho con
bằng cách uống vitamin D 200.000 IU khi thai được 7 tháng.
1.2.7. Vitamin B1:
Là yếu tố cần thiết để
chuyển hóa glucid. Ngũ cốc và các loại hạt họ đậu là nguồn cung cấp vitamin B1.
Để có đủ vitamin B1 nên ăn gạo không giã trắng quá, không bị mục, mốc. Ăn nhiều
đậu đỗ là cách tốt nhất để bổ sung đủ vitamin B1 cho nhu cầu của cơ thể và
chống lại bệnh tê phù.
1.2.8. Vitamin B2:
Giúp cơ thể tạo năng
lượng, thúc đẩy sự phát triển của thai nhi; tốt cho tế bào thị giác, tham gia
trong quá trình hình thành da, tạo máu. Vitamin B2 còn đóng vai trò quan trọng
đối với phát triển xương, cơ, tế bào thần kinh của trẻ. Vì vậy cung cấp đủ
vitamin B2 là rất cần thiết cho bà mẹ mang thai và cho con bú. Vitamin B2 có
nhiều trong thức ăn động vật, sữa, các loại rau, đậu... Các hạt ngũ cốc toàn
phần là nguồn B2 tốt nhưng bị giảm đi nhiều qua quá trình xay xát.
1.2.9. Acid folic:
Tham gia tạo máu và
hình thành ống thần kinh. Thiếu acid folic ở người mẹ có thể dẫn đến thiếu máu,
khiếm tật của ống thần kinh ở thai nhi. Nguồn cung cấp acid folic có nhiều
trong các trái cây, rau xanh, trứng nhưng trong khẩu phần thường không đủ, vì
vậy người mẹ cần được bổ sung khi mang thai.
1.2.10. Vitamin C:
Có vai trò lớn trong việc
làm tăng sức đề kháng của cơ thể, hỗ trợ hấp thu sắt từ bữa ăn, góp phần phòng
chống thiếu máu do thiếu sắt. Vitamin C có nhiều trong các quả chín. Rau xanh
có nhiều vitamin C nhưng bị hao hụt nhiều trong quá trình nấu nướng.
1.3. Một số lưu ý khi
có thai
1.3.1. Đồ ăn, thức uống
nên hạn chế
- Không nên dùng các
loại đồ uống chứa chất kích thích như rượu, cà phê, thuốc lá, nước chè đặc..
- Giảm ăn các loại gia
vị như ớt, hạt tiêu, tỏi.
- Giảm ăn mặn nhất là
đối với những người mẹ có phù, tăng huyết áp hoặc bị nhiễm độc thai nghén để
tránh tai biến khi đẻ.
1.3.2. Không nên quá
kiêng khem:
Phụ nữ có thai không
nên chỉ ăn một vài loại thức ăn hoặc ăn quá nhiều thức ăn chua hoặc cay…, vì dễ
gây thiếu dinh dưỡng cho cả mẹ và thai nhi. Bữa ăn cần đa dạng với nhiều loại
thực phẩm khác nhau (nên có ít nhất 10 loại thực phẩm/1 bữa chính).
Trong trường hợp bị
nghén nhẹ như buồn nôn, nôn hay sợ ăn một số thức ăn, người mẹ cố gắng thay thế
sang một số thức ăn khác hoặc đồ uống khác để đáp ứng được nhu cầu dinh dưỡng
khi có thai. Phụ nữ có thai không nên quá kiêng khem, ít ăn rau, củ, quả, cá
hay mỡ… gây bất lợi cho sức khỏe, ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng của mẹ và
thai nhi, giảm lượng sữa sau sinh. Những thực phẩm sẵn có như cua, ốc, tôm,
tép, trứng, rau xanh, quả chín nên được ưu tiên lựa chọn.
2.
Dinh dưỡng cho bà mẹ cho con bú:
Sau khi sinh, người mẹ
cần cho con bú sớm (trong vòng 1h đầu sau sinh), cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong
6 tháng đầu và tiếp tục cho trẻ bú đến 24 tháng hoặc lâu hơn.
Trong thời kỳ nuôi con
bằng sữa mẹ (NCBSM), nhất là trong 6 tháng đầu tiên sau khi sinh, chế độ dinh
dưỡng của bà mẹ cần đảm bảo cho người mẹ tiết đủ sữa với chất lượng tốt để
NCBSM và duy trì tình trạng dinh dưỡng, sức khỏe của chính mình.
- Chế độ ăn nhiều hơn về
số lượng (đủ nhu cầu) và đảm bảo tính đa dạng thực phẩm (có ít nhất 5 trong 8
nhóm thực phẩm/bữa chính). Thức ăn dễ tiêu hóa, giàu chất dinh dưỡng
- Khẩu phần cả ngày của
bà mẹ cho con bú nên chia làm nhiều bữa trong ngày (3-6 bữa/ngày).
- Uống đủ nước: 2,5 - 3
lít nước/ngày (từ 12 đến 15 cốc nước).
Nhu cầu cụ thể của bà
mẹ cho con bú tùy theo tình trạng dinh dưỡng của bà mẹ trước và trong thời kỳ
mang thai, cụ thể:
- Nhóm các bà mẹ trước
khi mang thai và trong thai kỳ có chế độ dinh dưỡng tốt, đạt mức tăng cân từ 9
- 12kg: Cần ăn nhiều hơn để đảm bảo năng lượng tăng thêm 500 kcal/ngày (tương
đương 3 bát cơm và thức ăn hợp lý) và đạt mức 2260 kcal/ngày đối với người lao
động nhẹ và 2550 kcal/ngày đối với người lao động trung bình.
- Nhóm các bà mẹ thời
kỳ chưa mang thai và thời kỳ mang thai có chế độ dinh dưỡng không đầy đủ, có
mức tăng cân ít hơn 9kg: Cần phải cố gắng ăn nhiều và đa dạng hơn các loại thực
phẩm khác nhau, để đảm bảo năng lượng tăng thêm 675 k cal/ngày.
Protein: Lượng chất đạm cần được
cung cấp đầy đủ trong quá trình cho con bú theo khuyến cáo cho người Việt Nam:
thêm 19 gam/ngày so với nhu cầu bình thường, nâng tổng số lên 78g/gam ngày.
Lượng protein động vật nên đạt ≥ 35% protein tổng số. Nên lựa chọn các thực
phẩm có protein chất lượng (thịt, cá, trứng, sữa, đậu đỗ). Số lượng thực phẩm
có thể ước tính là 100g thịt/cá cung cấp khoảng 20g protein, 100g đậu phụ cung
cấp khoảng 10g protein, 6,5 đơn vị sữa/ngày (uống sữa hoặc ăn các chế phẩm từ
sữa như sữa chua, phomai). Nên ăn cá ít nhất 3 lần/tuần.
Chất béo: Lượng chất béo ăn vào
cần cung cấp 30-35% năng lượng khẩu phần. Khuyến khích sử dụng các chất béo có
nhiều các acid béo không no chuỗi dài đa nối đôi như n3, n6, EPA, DHA (có nhiều
một số loại dầu thực vật, dầu cá, một số loại cá mỡ). Lượng chất béo này rất
quan trọng cho sự phát triển tối ưu trí não và thị lực của bé.
Vitamin và khoáng chất:
Các
vitamin và khoáng chất rất cần bổ sung cho người mẹ nuôi con bú. Ngoài việc bổ
sung bằng các thực phẩm tự nhiên trong bữa ăn hàng ngày cần đủ rau xanh (≥400g
trái cây, rau củ/ngày) và đủ chất xơ để tránh táo bón.
- Bà mẹ cho con bú cần
được bổ sung 1 liều vitamin A 200.000 đơn vị trong vòng 1 tháng sau khi sinh để
đảm bảo cung cấp vitamin A cho trẻ qua sữa. Trong trường hợp cần thiết, người
mẹ cần tuân thủ chỉ định của thầy thuốc về bổ sung các vitamin và khoáng chất,
đặc biệt là sắt, kẽm, vitamin D và can xi.
- Ngoài ra mẹ cần có
nhiều thời gian dành cho giấc ngủ, tránh căng thẳng và cho trẻ bú thường xuyên
để kích thích tạo sữa.
Những điều cần tránh
khi cho con bú mẹ
- Không nên ăn uống
kiêng khem quá mức (ăn ít rau, không chú ý uống nước, quá nhiều gia vị cay,
mặn…).
- Không ăn các thức ăn
dễ ôi thiu hoặc nghi ngờ ôi thiu vì dễ gây ngộ độc.
- Hạn chế ăn các thức
ăn có nhiều gia vị (hành, tỏi, ớt..), không uống rượu, cà phê và hút thuốc lá.
- Tránh lao động quá
mức.
- Tránh lo lắng, buồn
phiền, bực tức, giận dữ.
- Khi cho con bú nếu
cần dùng thuốc phải hỏi ý kiến thầy thuốc, không nên tự động dùng thuốc vì có
thể nguy hại cho con và có thể làm cạn nguồn sữa mẹ.
- Các bà mẹ cho con bú
sẽ giảm cân tốt hơn so với các bà mẹ không nuôi con bằng sữa mẹ do mỡ tích lũy
trong thời gian mang thai sẽ được chuyển hóa thành sữa cho con bú. Do đó các bà
mẹ không ăn kiêng trong giai đoạn này vì người mẹ sẽ cần có bữa ăn đa dạng,
nhiều năng lượng hơn bình thường để đáp ứng nhu cầu năng lượng của mình và tạo
đủ sữa cho con. Vào giai đoạn này, muốn giảm cân, bà mẹ chỉ cần có chế độ dinh
dưỡng cân bằng và tập thể dục đều đặn mỗi ngày, đồng thời, giảm bớt lượng đường
và không nên sử dụng đồ uống có cồn.

DINH DƯỠNG TRONG TRƯỜNG HỢP BỆNH LÝ KHI MANG
THAI
Thai nghén là một trạng
thái sinh lý đặc biệt nhưng với người bình thường cũng đã dễ mất ổn định nên
đối với một số trường hợp bệnh lý (thiếu máu, bệnh tim, bệnh gan) thì bệnh dễ
nặng thêm, thậm chí ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, đe dọa cuộc sống của
người mẹ và sự phát triển bình thường của thai nhi. Chế độ dinh dưỡng của những
đối tượng này cần có sự quan tâm đặc biệt để đảm bảo sức khỏe của mẹ và sự phát
triển của thai nhi.
I.
Dinh dưỡng đối với thai phụ bị thiếu máu và thiếu vi chất dinh dưỡng
1. Dinh dưỡng đối với
thai phụ bị thiếu máu
Phụ nữ có thai được coi
là thiếu máu khi hàm lượng Hemoglobin trong máu thấp <11g/dl. Có nhiều
nguyên nhân có thể gây thiếu máu nhưng thường gặp nhất ở phụ nữ có thai là
thiếu máu thiếu sắt. Thiếu máu thiếu sắt là tình trạng cơ thể không có đủ lượng
sắt cần thiết để tạo hemoglobin - một protein quan trọng của hồng cầu. Thiếu
máu không chỉ ảnh hưởng không tốt đến thai phụ mà còn gây ra nhiều hậu quả xấu
cho trẻ sau này. Chính vì vậy việc duy trì hemoglobin trong giới hạn bình
thường là rất quan trọng.
Theo Tổ chức y tế thế
giới WHO, hiện có khoảng 30% dân số thế giới bị thiếu máu, chủ yếu là thiếu máu
do thiếu sắt. Phụ nữ mang là đối tượng bị thiếu máu thường gặp nhất và là vấn
đề sức khỏe cộng đồng quan trọng tại nhiều quốc gia. Điều tra của Viện Dinh
dưỡng quốc gia năm 2015 cho thấy 32,8% phụ nữ có thai tại Việt Nam bị thiếu máu
trong đó thiếu máu do thiếu sắt chiếm gần 70%.
Nguyên nhân chủ yếu của
thiếu máu và thiếu vi chất ở phụ nữ có thai là do chế độ ăn không cung cấp đủ
nhu cầu. Nhu cầu sắt của phụ nữ có thai cao hơn để cung cấp cho thai nên tình
trạng thiếu máu thiếu sắt càng phổ biến. Phụ nữ bị suy dinh dưỡng trước khi
mang thai cũng gây thiếu máu nhiều hơn.
Thiếu máu ở phụ nữ có
thai gây nên tình trạng thiếu ôxy ở các tổ chức, đặc biệt ở một số cơ quan như
tim, não…có thể gây nhiều hậu quả nặng nề cho cả mẹ và con. Mẹ dễ bị sẩy thai,
nhau tiền đạo, nhau bong non, tăng huyết áp thai kỳ, tiền sản giật, ối vỡ sớm,
băng huyết sau sanh, nhiễm trùng hậu sản. Con bị nhẹ cân, sinh non tháng, suy
thai, thời gian điều trị hồi sức kéo dài, dễ mắc bệnh sơ sinh hơn so với trẻ
không thiếu máu. Con của những bà mẹ thiếu máu giai đoạn sớm của thai kỳ có
nguy cơ bệnh tim mạch cao hơn trẻ khác. Vì vậy, người ta đã coi thiếu máu,
thiếu sắt trong thời kỳ thai nghén là một đe dọa sản khoa.
Để kiểm soát tình trạng
thiếu máu thiếu sắt và thiếu vi chất ở phụ nữ có thai cần chủ động có chế độ ăn
đáp ứng đủ nhu cầu năng lượng và các chất dinh dưỡng, bổ sung viên sắt và acid
folic, kiểm soát tình trạng nhiễm ký sinh trùng đường ruột và sốt rét.
Sắt có nhiều trong thịt
đỏ, cá, gan, lòng đỏ trứng, đậu đỗ, rau xanh... Sắt từ thức ăn có nguồn gốc
động vật sẽ hấp thu tốt hơn sắt từ nguồn thực vật. Trứng gà là nguồn thực phẩm
dồi dào chất dinh dưỡng như protein, can xi, photpho, sắt, chất khoáng và nhiều
vitamin có lợi cho sự phát triển của thai nhi cũng như sức khỏe thai phụ. Đặc
biệt hầu như các chất dinh dưỡng trong quả trứng gà đều tập trung ở lòng đỏ.
Ngoài ra, lòng đỏ trứng có cả các vitamin tan trong nước (B1, B6) và vitamin
tan trong chất béo (vitamin A, D, K) rất tốt cho phụ nữ có thai. Mỗi tuần thai
phụ có thể ăn từ 3-4 quả trứng gà.
Ngoài việc lựa chọn các
thực phẩm giàu chất sắt từ nguồn thức ăn động vật, còn cần phối hợp với các loại
trái cây tươi giàu vitamin C sau bữa ăn như cam, bưởi, thanh long, táo… sẽ giúp
hấp thu sắt tốt hơn; hạn chế những chất ức chế hấp thu sắt như tannin, phytat
có trong ngũ cốc thô, trà...
Cần thực hiện uống viên
sắt và acid folic hoặc viên đa vi chất theo hướng dẫn quốc gia về phòng chống
thiếu vi chất dinh dưỡng.
2. Thiếu acid folic và
một số vi chất dinh dưỡng
Phụ nữ có thai thường
dễ bị thiếu acid folic. Một điều tra của Viện Dinh dưỡng cho thấy có tới 63%
phụ nữ có mức folat hồng cầu thấp. Thiếu acid folic không chỉ gây thiếu máu
hồng cầu to mà còn có thể gây những dị tật ống thần kinh của thai nhi như vô
sọ, thoát vị cột sống.
Ngoài ra, tình trạng
thiếu một số vi chất khác ở người mẹ cũng ảnh hưởng đến sự phát triển toàn diện
của thai nhi, đặc biệt là tỷ lệ thiếu kẽm lên tới gần 80% ở phụ nữ có thai,
khẩu phần can xi thấp của hầu hết các PNCT ảnh hưởng đến chiều dài sơ sinh..
Thiếu iod ở phụ nữ có
thai làm tăng nguy cơ sẩy thai, tai biến sản khoa như sinh non, con dễ bị suy
giáp bẩm sinh, chậm phát triển tâm vận động.
Để phòng chống thiếu vi
chất dinh dưỡng, bữa ăn cần đa dạng. Phụ nữ có thai nên lựa chọn các thực phẩm
giàu acid folic là rau lá xanh, nấm rơm, mầm lúa mì, đậu đỗ, các loại hạt, trái
cây đặc biệt là cam, dâu tây, lê, dưa hấu… không chỉ giúp phòng ngừa khuyết tật
ống thần kinh mà còn là 1 thành phần tạo máu, góp phần phòng chống thiếu máu
cho phụ nữ có thai.
Do nhu cầu sắt và acid
folic ở của phụ nữ có thai tăng cao nhưng chế độ ăn khó có thể đáp ứng đủ nên
phụ nữ có thai cần uống bổ sung sắt và acid folic với liều 60 mg sắt nguyên tố
và 400 mcg acid folic mỗi ngày theo khuyến nghị WHO. Uống bổ sung sắt và acid
folic cần uống đều đặn hàng ngày kể từ khi phát hiện có thai cho đến sau khi
sinh 1 tháng.
Sử dụng muối iod trong
chế biến món ăn hàng ngày là giải pháp đơn giản nhưng hiệu quả cao trong phòng
chống thiếu hụt iod ở các bà mẹ tương lai.
Tăng sử dụng các thực
phẩm được tăng cường vi chất dinh dưỡng, tiêu thụ sữa có tăng cường sắt, acid
folic và các vi chất dinh dưỡng khác….
II.
Dinh dưỡng đối với thai phụ bị bệnh tim:
Bệnh tim là nguyên nhân
hàng đầu khiến phụ nữ có thai tử vong. Tỷ lệ thai lưu của phụ nữ bệnh tim cũng
cao gấp 5 lần và con của họ bị tử vong trong giai đoạn sơ sinh cũng cao gấp 1,5
lần so với các bà mẹ sức khỏe bình thường. Vì vậy, cần quan tâm hơn đến vấn đề
tim mạch của phụ nữ có thai và cần tầm soát tốt hơn. Nếu phụ nữ bệnh tim được
điều trị và theo dõi bệnh tốt thì tỷ lệ biến chứng thấp. Trong thai kỳ, việc
chẩn đoán bệnh tim rất khó khăn vì các triệu chứng của bệnh tim thường bị nhầm
lẫn với những triệu chứng của mang thai như khó thở, mệt mỏi và ợ nóng hoặc
bệnh cơ tim có thể chỉ biểu hiện triệu chứng khi mang thai. Vì vậy, đối với
thai phụ, cần khám thai đầy đủ để được phát hiện sớm và theo dõi của bác sĩ
chuyên khoa.
Khi chăm sóc thai phụ
mắc bệnh tim mạch cần chú ý đến chế độ dinh dưỡng sẽ giúp chăm sóc phụ nữ có
thai tốt hơn. Trong chế độ dinh dưỡng cân bằng, hợp lý, cần chú ý đặc biệt 1 số
nội dung sau:
- Ăn hạn chế natri: ăn
giảm muối, hạn chế muối để giảm gánh nặng cho tim (dưới 4g muối/ngày hoặc thấp
hơn nữa theo chỉ định của bác sĩ tim mạch).
- Hạn chế các chất kích
thích như trà, cà phê, bia rượu. Không hút thuốc lá.
- Ăn đủ chất xơ để
tránh táo bón (>=400g rau/ngày)
- Không ăn quá no, nên
chia nhiều bữa nhỏ để tránh khó thở (4-6 bữa/ngày).
- Lao động, vận động và
nghỉ ngơi hợp lý.
III. Dinh dưỡng đối với
thai phụ bị bệnh gan
Theo thống kê của Hội
gan mật Việt Nam, nước ta có khoảng 10 đến 20% dân số mắc các bệnh về gan,
trong đó viêm
gan B chiếm
đa số. Có khoảng 12 triệu người mắc viêm gan B trong đó có hơn 2 triệu phụ nữ
trong độ tuổi sinh đẻ bị viêm gan siêu vi B mạn tính. Viêm gan B có thể lây
truyền từ mẹ sang con. Tỷ lệ truyền bệnh từ mẹ sang con tùy thời điểm người mẹ
bị mắc bệnh. Cụ thể, mẹ mắc bệnh trong ba tháng đầu thai kỳ thì tỷ lệ truyền
bệnh từ mẹ sang con là 1%, nếu mắc trong ba tháng giữa thai kỳ là 10%, còn mắc
ở ba tháng cuối thai kỳ là 60%.
Ảnh hưởng của viêm gan
B đối với thai phụ và thai nhi:
Khi mang thai thì sức
đề kháng của phụ nữ thường giảm, do đó khi bị nhiễm bệnh sẽ dễ dẫn đến bệnh
nặng hơn và tử vong cao hơn do suy gan cấp hoặc tối cấp và nếu hồi phục thì
cũng dễ diễn tiến mạn tính hơn người thường.
Nếu mắc viêm gan B,
thai phụ sẽ cảm thấy mệt mỏi, đau bụng, buồn nôn, chán ăn và vàng da (mắt và
màu da trở nên vàng nhợt).
Người mẹ bị viêm gan B
còn có thể gây ảnh hưởng đến thai như nguy cơ sinh non, chuyển dạ sớm có biến
chứng, xuất huyết trước sinh, tiểu đường thai kỳ, bé sinh ra dễ bị suy hô
hấp...
Khi chuyển dạ hoặc bị sẩy
thai, người mẹ có nguy cơ tử vong cao do mất các yếu tố đông máu và rơi vào
tình trạng hôn mê do gan mất chức năng chống độc.
Khi thai phụ bị viêm
gan do nhiễm siêu vi B, ngoài việc dùng thuốc, cần có chế độ ăn uống và sinh
hoạt điều độ giúp làm chậm thời gian tiến triển bệnh từ viêm gan mạn sang xơ gan. Chế độ ăn uống nên chú
ý 1 số điểm sau:
- Ăn uống đầy đủ, cân
đối các chất dinh dưỡng, không nên quá kiêng cữ để duy trì sức khỏe, giúp phục
hồi tốt chức năng gan.
- Chia nhỏ bữa ăn để
giảm áp lực tiết mật cùng một lúc trong thời gian dài cho gan.
- Ăn uống đúng giờ,
không để cơ thể bị đói vì khi bị đói gan sẽ phải lấy các glucogen dự trữ để
tiêu hao cho hoạt động của cơ thể. Điều này khiến gan trở nên mệt mỏi hơn.
- Nên tạo thói quen ăn
uống tại nhà, tự nấu ăn, hạn chế đồ ăn nhanh, đồ ăn bày bán sẵn để đảm bảo an
toàn thực phẩm, hạn chế các chất phụ gia độc hại, phẩm màu tổng hợp, các chất
bảo quản thực phẩm.
- Nên chế biến những
món luộc, hạn chế các món nướng cháy, các loại chiên xào nhiều dầu mỡ, nội tạng
động vật vì những đồ ăn chứa nhiều dầu mỡ sẽ khiến gan đang bị bệnh phải làm
việc vất vả hơn, nó sẽ làm cho gan càng trở nên mệt mỏi, suy yếu hơn.
- Nên ăn nhiều rau xanh
và hoa quả tươi giúp tăng cường vitamin cho cơ thể (>400g/ngày).
- Bổ sung lượng
carbohydrates một cách đầy đủ cho cơ thể từ các loại gạo, ngũ cốc để cung cấp
lượng đường cần thiết cho gan.
Thai phụ viêm gan B
ngoài việc tuân thủ chế độ ăn uống hợp lý như trên thì cần kết hợp tăng cường
nghỉ ngơi, thư giãn tinh thần, luyện tập thể dục thể thao như: đi bộ, dưỡng
sinh, yoga… việc điều trị bệnh sẽ nhanh chóng và hiệu quả hơn.
IV. Dinh dưỡng đối với
thai phụ bị tiền sản giật:
Tiền sản giật là sự
xuất hiện cao huyết áp với protein niệu và/hoặc phù, do thai nghén hoặc ảnh
hưởng của một thai nghén rất gần. Tiền sản giật, sản giật thường xảy ra sau
tuần lễ thứ 20 của thai kỳ và chấm dứt sau 6 tuần sau đẻ. Tuy nhiên, tiền sản
giật nặng có thể phát triển sớm trước thời điểm đó với sự hiện diện của bệnh lá
nuôi.
Trước đây người ta
thường gọi là nhiễm độc thai nghén, hội chứng protein niệu, nhưng ngày nay
người ta nhận thấy chính huyết áp cao đã gây nên các biến chứng trầm trọng cho
mẹ và thai nhi và là triệu chứng thường gặp nhất. Tiền sản giật xảy ra khoảng
5-10 % và sản giật chiếm khoảng 0,2- 0,5% trong tổng số thai nghén.
1. Chế độ ăn trong tiền
sản giật
Nhu cầu năng lượng:
- 3 tháng đầu thai kỳ:
E= 30-35 kcal/kg cân nặng lý tưởng/ngày +50 kcal
- 3 tháng giữa thai kỳ:
E= 30-35 kcal/kg cân nặng lý tưởng/ngày + 250 kcal
- 3 tháng cuối thai kỳ:
E= 30-35 kcal/kg cân nặng lý tưởng/ngày + 450 kcal
Trong đó:
- Glucid: 55-60%
- Protein : 15-20%
(protein động vật > 50%)
- Lipid: 20-25%: (acid
béo không no chiếm 2/3)
- Tăng cường chất xơ:
28g/ ngày
- Muối: < 6g/ ngày. 2-3
g / ngày ở những tháng cuối thai kỳ
- Đầy đủ vitamin và vi
chất dinh dưỡng: Sắt, acid folic, Ca, Mg
- Lượng nước hàng ngày
rút bớt so với hàng ngày không quá 1 lít.
2. Lựa chọn thực phẩm
- Thực phẩm nên dùng
+ Các loại gạo, mỳ,
ngô, khoai, sắn, bún, phở, bánh đúc...(nên chọn các loại gạo lức, bánh mì đen
hoặc ngũ cốc ngũ cốc xay xác dối thay cho gạo trắng, bún, phở, bánh đúc, .....)
+ Các thực phẩm giàu
đạm nguồn gốc động vật ít béo, giàu sắt và can xi như thịt nạc, cá nạc, tôm, cá
nhỏ ăn cả xương, cua .....
+ Các chất béo bao gồm
bơ động vật, dầu oliu, dầu nành, dầu điều, dầu mè, dầu hạnh nhân, hạt hướng
dương, hạt điều, trứng, thực phẩm đậu nành,quả ốc chó và omega-3 được tìm thấy
trong cá béo
+ Ăn đa dạng các loại
rau xanh, đặc biệt các loại rau có tính nhuận tràng như rau khoai lang, rau
mồng tơi, ra đay (400- 600g/ngày)
+ Ăn đa dạng các loại
quả (nên ăn thanh long, cam, bưởi, đu đủ chín, chuối...)
+ Các loại sữa ít béo
và các sản phẩm chế biến từ sữa như sữa chua.
- Thực phẩm hạn chế
dùng:
+ Phủ tạng động vạt:
như tim, gan, cật (thận)
+ Mỡ động vật, bơ
+ Một số gia vị cay
nóng như: Hạt tiêu, gừng, ớt
+ Các loại bánh kẹo
ngọt, mứt chứa nhiều đường, các loại nước ngọt
- Thực phẩm không nên
dùng:
+ Thực phẩm chế biến
sẵn như: Ngũ cốc ăn sáng, mì ăn liền, giò chả, lạp xưởng, đồ hộp, mì chính, bột
ngọt, hạt nêm.
+ Dưa, cà muối.
+ Các loại quả sấy khô.
+ Rượu, bia, nước ngọt
có đường, đồ uống có ga...
+ Thực phẩm sống( thịt
sống, trứng trần...), gỏi
Chế biến thực phẩm:
- Hạn chế các món rán,
quay, xào.
- Hạn chế sử dụng các
loại quả ép, xay sinh tố; nên ăn cả múi, miếng để có chất xơ.
BẢNG
ĐƠN VỊ CHUYỂN ĐỔI THỰC PHẨM
I. Nhóm gạo, tinh
bột, khoai củ: 01 suất thực phẩm chứa 45 g bột đường tương đương.
I. Nhóm gạo, tinh
bột, khoai củ, các loại hạt: 01 đơn vị chuyển đổi bằng 20g glucid.
|
Thực
phẩm
|
1
đơn vị
(g)
|
Trọng
lượng kể cả
thải bỏ (g)
|
Tương
đương
|
|
Cơm gạo tẻ
|
55
|
55
|
1/2 lưng bát ăn cơm
|
|
Xôi
|
40
|
40
|
1/5 miệng bát ăn cơm
|
|
Ngô tươi
|
51
|
51
|
1/2 bắp trung bình
|
|
Bánh mì
|
38
|
38
|
1 lát trung bình
|
|
Bánh phở
|
62
|
62
|
1 lưng bát ăn cơm
|
|
Bún tươi
|
78
|
78
|
1 lưng bát ăn cơm
|
|
Khoai lang
|
76
|
88
|
1/2 củ trung bình
|
|
Khoai sọ
|
79
|
93
|
1 củ trung bình
|
|
Miến dong
|
24
|
24
|
1/2 bát con miến chín
|
|
Đậu xanh
|
37,7
|
38,4
|
|
|
Đậu đen
|
37,5
|
38,3
|
|
|
Đậu hà lan (hạt)
|
33,3
|
33,3
|
|
II. Nhóm quả chín: 01 đơn
vị chuyển đổi bằng 10g glucid
|
Thực
phẩm
|
1
đơn vị
(g)
|
Trọng
lượng kể cả
thải bỏ (g)
|
Tương
đương
|
|
Bưởi
|
137
|
185
|
3 múi trung bình
|
|
Cam
|
119
|
149
|
1/2 quả to
|
|
Chuối tây
|
67
|
83
|
1/2 quả trung bình
|
|
Chuối tiêu
|
45
|
59
|
1/2 quả trung bình
|
|
Dưa hấu
|
281
|
416
|
3 miếng nhỏ
|
|
Đu đủ chín
|
130
|
145
|
1 miếng nhỏ
|
|
Hồng xiêm
|
100
|
110
|
1 quả trung bình
|
|
Na
|
69
|
103
|
1/2 quả trung bình
|
|
Nhãn
|
91
|
132
|
12 quả to
|
|
Nho
|
61
|
67
|
7 quả to
|
|
Thanh long
|
115
|
115
|
¼ quả trung bình
|
|
Táo ta
|
118
|
134
|
3 quả trung bình
|
|
Xoài chín
|
63
|
75
|
1/2 quả trung bình
|
|
Vú sữa
|
106
|
130
|
1/2 quả trung bình
|
III. Nhóm rau: 1 Đơn vị
chuyển đổi = 4 g glucid
|
Thực
phẩm
|
1
đơn vị
(g)
|
Trọng
lượng kể cả thải bỏ (g)
|
Tương
đương
|
|
Bầu
|
178,6
|
207,1
|
|
|
Bí xanh
|
208,3
|
264,6
|
|
|
Bí ngô
|
104,2
|
118,8
|
|
|
Cà bát
|
113,6
|
119,3
|
|
|
Cà chua
|
131,6
|
138,2
|
|
|
Cà pháo
|
125
|
137,5
|
|
|
Cà rốt
|
65,8
|
75,7
|
|
|
Cà tím
|
113,6
|
119,3
|
|
|
Cải bắp
|
86,2
|
94,8
|
|
|
Cải cúc
|
178,6
|
223,2
|
|
|
Cải xoong
|
178,6
|
232,1
|
|
|
Cải thìa
|
156,3
|
195,3
|
|
|
Cải xanh
|
166,7
|
206,7
|
|
|
Cần ta
|
250
|
300
|
|
|
Cần tây
|
53,2
|
61,7
|
|
|
Chuối xanh
|
34,7
|
45,8
|
|
|
Củ cải đỏ
|
52,1
|
62,5
|
|
|
Củ cải trắng
|
119
|
136,9
|
|
|
Củ đậu
|
89,3
|
102,7
|
|
|
Dọc mùng
|
500
|
600
|
|
|
Dưa chuột
|
166,7
|
175
|
|
|
Dưa gang
|
227,3
|
238,6
|
|
|
Đậu côve
|
34,2
|
37,7
|
|
|
Đu đủ xanh
|
113,6
|
142
|
|
|
Giá đậu xanh
|
58,1
|
61
|
|
|
Hành củ
|
104,2
|
129,2
|
|
|
Hành lá
|
113,6
|
136,4
|
|
|
Hành tây
|
62,5
|
73,1
|
|
|
Hạt sen tươi
|
15,8
|
22
|
|
|
Hẹ lá
|
156,3
|
176,6
|
|
|
Hoa chuối
|
125
|
161,3
|
|
|
Hoa lý
|
108,7
|
112
|
|
|
Mướp
|
156,3
|
175
|
|
|
Mướp đắng
|
156,3
|
187,5
|
|
|
Rau dền cơm
|
131,6
|
131,6
|
|
|
Rau dền đỏ
|
61
|
84,1
|
|
|
Rau khoai lang
|
113,6
|
119,3
|
|
|
Nấm rơm
|
43,9
|
48,2
|
|
IV. Nhóm đường: 1 Đơn
vị chuyển đổi = 5g glucid
|
Tên
thực phẩm
|
Trọng
lượng (g)
|
Đơn
vị đo
|
|
Sữa đặc có đường
|
9
|
1
thìa trung bình (5ml)
|
|
Đường cát
|
5
|
1
thìa nhỏ đầy (2,5 ml)
|
|
Đường kính
|
5
|
1
thìa nhỏ đầy (2,5 ml)
|
|
Kẹo bơ cứng
|
7
|
1
cái
|
|
Kẹo cà phê
|
5
|
1
cái
|
|
Kẹo cam chanh
|
5
|
1
cái
|
|
Kẹo dừa mềm
|
7
|
1
cái
|
|
Kẹo dứa mềm
|
7
|
1
cái
|
|
Kẹo lạc
|
8
|
1
cái
|
|
Kẹo ngậm bạc hà
|
6
|
1
cái
|
|
Kẹo socola
|
6
|
1
cái
|
|
Kẹo sữa
|
6
|
1
cái
|
|
Kẹo vừng viên
|
6
|
1
cái
|
|
Mạch nha
|
6
|
1
cái
|
|
Mật ong
|
6
|
1
thìa nhỏ đầy (2,5 ml)
|
|
Mứt lạc
|
6
|
1
thìa trung bình (5ml)
|
CHỈ SỐ ĐƯỜNG HUYẾT CỦA
THỰC PHẨM
1. Đinh nghĩa: Chỉ số
đường huyết: GI (Glycemic index) Là chỉ số thể hiện tốc độ giải phóng đường vào
trong máu. Thực phẩm có chỉ số GI cao sẽ làm cho đường huyết trong máu tăng
nhanh hơn so với thực phẩm có GI thấp.
2. Chỉ số GI của thực
phẩm được phân loại:
- Rất thấp: <40
- Thấp: 40-45
- Trung bình: 56-69
- Cao: ≥70
DANH
SÁCH CHỈ SỐ ĐƯỜNG HUYẾT CỦA MỘT SỐ THỰC PHẨM
|
Tên
thực phẩm
|
Chỉ
số đường huyết (%)
|
|
Bánh mỳ trắng
|
100
|
|
Bột dong
|
95
|
|
Gạo trắng
|
83
|
|
Khoai lang
|
54
|
|
Khoai lang bỏ lò
|
135
|
|
Khoai sọ
|
58
|
|
Dưa hấu
|
72
|
|
Cam
|
66
|
|
Chuối
|
53
|
|
Xoài
|
55
|
|
Nho
|
43
|
|
Táo
|
53
|
|
Cà rốt
|
49
|
|
Rau muống
|
10
|
|
Lạc
|
19
|
|
Đậu tương
|
18
|
|
Hạt đậu
|
49
|
TƯ VẤN DINH DƯỠNG CHO PHỤ NỮ CÓ THAI VÀ BÀ MẸ
CHO CON BÚ
Tư vấn là một hình thức
giáo dục sức khỏe (GDSK), trong đó người tư vấn cung cấp thông tin cho đối
tượng (cá nhân, nhóm), động viên đối tượng suy nghĩ về vấn đề của mình, giúp
đối tượng hiểu nội dung, nguyên nhân của vấn đề và tự chọn cách hành động để
giải quyết vấn đề.
Tư vấn dinh dưỡng cho
phụ nữ có thai (PNCT) và bà mẹ cho con bú (BMCCB) là một phương pháp GDSK trực
tiếp ngày càng phổ biến, đặc biệt có kết quả tốt đối với sản phụ có những vấn
đề sức khỏe nhạy cảm. Tư vấn dinh dưỡng trở thành một trong những hoạt động
thông thường của nhiều cán bộ y tế chuyên khoa sản và cán bộ truyền thông GDSK
(sau đây gọi chung là tư vấn viên), bao gồm những hoạt động hàng ngày liên quan
đến công tác chuyên môn và những hoạt động mang tính chuyên sâu,giải quyết
những tình huống phức tạp đòi hỏi sự tham gia của chuyên gia.
Trong khi tư vấn, người
tư vấn tìm hiểu vấn đề của bà mẹ, cung cấp thông tin và hỗ trợ bà mẹ hiểu được
tầm quan trọng của vấn đề dinh dưỡng trong thời kỳ mang thai và cho con bú; từ
đó, tự xây dựng chế độ ăn cụ thể cho riêng mình và các cách thực hiện chế độ
đó. Bên cạnh lợi ích giúp đảm bảo dinh dưỡng, tư vấn còn hỗ trợ tâm lí cho bà
mẹ khi họ còn băn khoăn, hoang mang lo sợ về vấn đề dinh dưỡng an toàn cho mẹ
và bé. Do đó, người tư vấn không chỉ cần có kiến thức chuyên môn tốt mà còn
phải có các kĩ năng tạo niềm tin cho bà mẹ để họ yên tâmthực hiện lộ trình, chế
độ dinh dưỡng mới phù hợp.
1.
Nguyên tắc tư vấn dinh dưỡng cho PNCT và BMCCB:
Để đảm bảo tính hiệu
quả của một cuộc tư vấn dinh dưỡng, tư vấn viên cần tuân thủ các nguyên tắc sau
đây:
- Lấy bà mẹ làm trọng
tâm. Tuyệt đối tập trung vào vấn đề cá nhân của bà mẹ.
- Tùy theo đối tượng,
hoàn cảnh cụ thể mà lựa chọn phương pháp tư vấn thích hợp;
- Kết hợp kiến thức
khoa học và nghệ thuật giao tiếp trong tư vấn;
- Đảm bảo tính giới hạn
của thời gian tiếp xúc, nói chuyện trong khi vẫn nêu được đầy đủ các vấn đề của
tư vấn:
+ Vấn đề tư vấn dinh
dưỡng phải biết: là những thông tin, cốt lõi trọng tâm có ảnh hưởng trực tiếp
đến vấn đề của bà mẹ mà mỗi bà mẹ cần phối hợp, thực hiện và tuân thủ.
+ Vấn đề tư vấn dinh
dưỡng cần biết: là những thông tin giúp bà mẹ hiểu biết nhiều hơn về vấn đề sức
khỏe của mình, hỗ trợ bà mẹ vận dụng “Vấn đề tư vấn dinh dưỡng phải biết” tốt
hơn.
+ Vấn đề tư vấn dinh
dưỡng nên biết: là thông tin bổ sung, giúp cho bà mẹ nắm vững mấu chốt của vấn
đề, để bà mẹ có thể hiểu hơn về vấn đề sức khỏe của mình.
1.1. Nguyên tắc khi tư
vấn dinh dưỡng cho cá nhân
Tư vấn cá nhân là tư
vấn cho một người (một bà mẹ) nên nội dung tư vấn chỉ tập trung vào nhu cầu tư
vấn của một bà mẹ. Việc đưa ra lời khuyên, giải pháp, cam kết cũng nhằm vào các
vấn đề của bà mẹ đó. Quá trình tư vấn cá nhân cần tuân thủ các nguyên tắc sau:
- Thể hiện sự quan tâm
giúp đỡ, biết lắng nghe thể hiện qua thái độ, cử chỉ, ánh mắt…
- Xác định rõ nhu cầu
của bà mẹ, tìm hiểu những hiểu biết của bà mẹ về vấn đề cần được tư vấn và vấn
đề có liên quan
- Để bà mẹ trình bày
các ý kiến, cảm nghĩ và mong muốn
- Đưa ra các thông tin
cần thiết chủ yếu nhất, giúp bà mẹ tự hiểu rõ vấn đề của mình
- Giữ bí mật: tôn trọng
những điều riêng tư, lựa chọn địa điểm tư vấn phù hợp, âm lượng vừa nghe.
- Cần liên hệ và theo
dõi các hoạt động của bà mẹ sau tư vấn để đánh giá hiệu quả và giúp đỡ kịp
thời.
1.2. Nguyên tắc khi tư
vấn dinh dưỡng cho nhóm
Đối với đối tượng là
một nhóm các bà mẹ, cán bộ tư vấn phải xác định trước chủ đề tư vấn dựa trên
nhu cầu tư vấn của nhóm.Việc đưa ra lời khuyên và các giải pháp, sự cam kết
cũng đa dạng hơn. Việc vận dụng các kỹ năng tư vấn cũng cần linh hoạt để đảm
bảo khuyến khích được các đối tượng đều tham gia tích cực và đạt được mục tiêu
chung của buổi tư vấn.
Các nguyên tắc khi tư
vấn dinh dưỡng cho nhóm như sau:
- Do hiểu biết của
thành viên nhóm có thể không đồng đều, cần sử dụng từ ngữ dễ hiểu, mạch lạc,
hạn chế sử dụng thuật ngữ chuyên môn.
- Sử dụng các phương
tiện hỗ trợ: tranh ảnh, máy chiếu, video, tờ rơi....
- Tạo không khí trao
đổi hai chiều: sử dụng câu hỏi để thành viên nhóm tham gia trả lời.
- Nhấn mạnh cho nhóm
những vấn đề quan trọng, chuẩn bị trước một số câu hỏi trọng tâm liên quan đến
chủ đề thảo luận.
- Địa điểm tổ chức: chỗ
ngồi thoải mái, tạo sự thân mật, tránh ồn ào.
- Thời gian tổ chức:
trong vòng 1 giờ.
- Nên bố trí một thư ký
của chương trình có nhiệm vụ ghi chép những thông tin thảo luận, ý kiến đóng
góp của thành viên nhóm, những thiếu sót trong quá trình tổ chức...
2.
Yêu cầu của một cuộc tư vấn dinh dưỡng cho PNCT và BMCCB
- Thời cơ và địa điểm
thích hợp;
- Trong quá trình tư
vấn, cần xây dựng mối quan hệ tốt và không khí thân mật giữa người tư vấn và
đối tượng được tư vấn;
- Giải pháp tư vấn được
xây dựng dựa trên các ý kiến, cảm nghĩ cá nhân của đối tượng, trên cơ sở chia
sẻ chân tình và thẳng thắn;
- Tư vấn viên chỉ đưa
ra các thông tin cần thiết nhất để đối tượng tự hiểu biết rõ vấn đề của họ và
tự lựa chọn giải pháp;
- Cam kết hỗ trợ sau tư
vấn: đề xuất các biện pháp thiết thực để giúp đỡ đối tượng thực hiện các bước
tiếp theo. Các biện pháp này có thể liên quan đến gia đình và cộng đồng nơi đối
tượng sinh sống và làm việc. Trong nhiều trường hợp người tư vấn phải liên hệ
với gia đình, cộng đồng và một số ban ngành, tổ chức để phối hợp các hoạt động
giúp đỡ cho đối tượng. Giữ liên lạc và và theo sát các hoạt động của đối tượng
để hỗ trợ kịp thời.
3.
Kỹ năng tư vấn dinh dưỡng cho PNCT và BMCCB
3.1. 6 kỹ năng lắng
nghe và thấu hiểu
- Sử dụng ngôn ngữ giao
tiếp không lời có ích;
- Đặt câu hỏi mở;
- Sử dụng lời nói và điệu
bộ để biểu thị sự quan tâm;
- Nhắc lại ý kiến của
bà mẹ;
- Đồng cảm - tỏ ra bạn
hiểu cảm nghĩ của bà mẹ;
- Tránh nói những từ có
vẻ xét đoán.
3.2. 6 kỹ năng xây dựng
niềm tin và cung cấp hỗ trợ
- Tôn trọng những suy
nghĩ và cảm nhận của bà mẹ;
- Phát hiện và khen
ngợi những điều bà mẹ làm đúng;
- Giúp đỡ thiết thực;
- Cung cấp thông tin
ngắn gọn và thích hợp;
- Sử dụng ngôn ngữ đơn
giản;
- Đưa ra 1-2 gợi ý,
không ra lệnh.
4. Quy trình tư vấn
dinh dưỡng
4.1. Xác định nội dung
tư vấn dinh dưỡng
- Nhận định trước khi
tiến hành tư vấn dựa trên:
+ Độ tuổi, trình độ văn
hóa, công việc hiện tại của bà mẹ;
+ Ngôn ngữ và phương
thức giao tiếp phù hợp;
+ Sự hiểu biết và/ hoặc
kỹ năng của bà mẹ về vấn đề dinh dưỡng;
+ Những thói quen hiện
tại: có lợi và có hại;
+ Những khó khăn của bà
mẹ;
+ Các yếu tố khác (văn
hóa, tâm linh, tôn giáo, phong tục tập quán...).
- Nội dung tư vấn bao
gồm:
+ Vấn đề sức khỏe hiện
tại;
+ Sử dụng thực phẩm an
toàn và hiệu quả;
+ Sử dụng thuốc an toàn
và hiệu quả (nếu sử dụng thuốc);
+ Chế độ dinh dưỡng,
tương tác giữa thực phẩm và thuốc (nếu có);
+ Biện pháp phục hồi
chức năng để có thể thích ứng (nếu cần thiết);
+ Thực hiện thực đơn,
theo dõi diễn tiến và các xử trí cơ bản;
+ Các yếu tố nguy cơ
(nếu có).
4.2. Tiến hành tư vấn
dinh dưỡng:
4.2.1. Tư vấn dinh
dưỡng cho cá nhân
|
STT
|
Các
bước thực hiện
|
Nội
dung
|
|
1
|
Chào hỏi bà mẹ
Giới thiệu bản thân
|
- Chào hỏi lịch sự;
- Giới thiệu họ tên,
vị trí công tác;
|
|
2
|
Trình bày mục đích,
lý do của buổi trò chuyện
|
- Nêu rõ lý do của
buổi trò chuyện;
- Tầm quan trọng của
tư vấn dinh dưỡng đối với bà mẹ.
|
|
3
|
Nhận định
|
- Về kiến thức và kỹ
năng của bà mẹ liên quan đến vấn đề hiện tại;
- Những vấn đề bà mẹ
đã biết, chưa biết hoặc biết nhưng chưa đúng và đủ.
|
|
4
|
Tiến hành tư vấn
|
- Chọn thời điểm và
địa điểm thích hợp;
- Lựa chọn giới thiệu
nội dung tư vấn mà bà mẹ chưa biết;
- Nêu những nguy hại
đối với những vấn đề bà mẹ đã biết nhưng chưa đúng;
- Cung cấp thêm thông
tin bà mẹ đã biết nhưng chưa đủ;
- Khuyến khích, khen
ngợi những hành vi tốt.
- Quan sát thái độ,
cử chỉ của bà mẹ trong suốt quá trình tư vấn.
|
|
5
|
Lượng giá
Giải đáp thắc mắc
|
- Hỏi lại những gì đã
tư vấn;
- Quan sát những thay
đổi về ý thức và hành vi;
- Bà mẹ thực hiện kỹ
thuật, thực đơn… đã được hướng dẫn;
- Hướng dẫn lại nếu
bà mẹ thực hiện chưa đúng;
- Nhận định và tư vấn
lại vấn đề chưa hiểu;
- Giải đáp thắc mắc
(nếu có).
|
|
6
|
Tổng kết, nhấn mạnh
những điểm quan trọng cần thực hiện
|
- Nhắc lại những vấn
đề sức khoẻ then chốt mà bà mẹ nên biết, phải biết và cần biết.
|
|
7
|
Chào tạm biệt và chúc
sức khoẻ bà mẹ
|
|
4.2.2. Tư vấn dinh
dưỡng cho nhóm:
|
STT
|
Các
bước thực hiện
|
Nội
dung công việc
|
|
1
|
Chào hỏi giới thiệu
|
- Giới thiệu thành
phần tham dự;
- Nêu rõ lý do mời
nhóm đến tham dự buổi tư vấn.
|
|
2
|
Nêu nội dung của buổi
tư vấn
|
- Buổi tư vấn gồm bao
nhiêu phần;
- Bài trình bày của
tư vấn viên gồm bao nhiêu mục, nội dung các mục;
- Mục tiêu cần đạt.
|
|
3
|
Lượng giá ban đầu
|
- Đánh giá trước khi
tiến hành tư vấn;
- Số lượng câu hỏi:
05-10 câu;
- Nội dung câu hỏi có
liên quan đến các vấn đề dinh dưỡng của bà mẹ;
- Phương pháp: trực
tiếp hoặc sử dụng bảng câu hỏi.
|
|
4
|
Thực hiện tư vấn theo
từng nội dung
|
- Tầm quan trọng của
dinh dưỡng đối với PNCT và BMCCB;
- Những kiến thức cơ
bản;
- Những hiểu biết sai
lệch của bà mẹ;
- Khuyên họ nên làm
gì và làm như thế nào.
|
|
5
|
Thảo luận
|
- Nên nói rõ thời
gian thảo luận;
- Khuyến khích thành
viên nhóm nói ra những suy nghĩ, khó khăn, trở ngại;
- Khích lệ khi thành
viên nhóm hiểu biết, thực hành đúng;
- Nêu những nguy hại
khi thành viên nhóm hiểu sai, thực hành sai;
- Giải đáp thắc mắc
(nếu có);
- Câu hỏi thảo luận
rõ ràng, mọi người có thể cùng tham gia và chia sẻ kinh nghiệm.
|
|
6
|
Tóm tắt những nội dung
đã trình bày
|
- Vấn đề then chốt,
cụ thể giúp bà mẹ dễ nhớ;
- Phù hợp với nhận
thức, kỹ năng của thành viên nhóm.
|
|
7
|
Lượng giá
|
- Đánh giá ngay sau
buổi tư vấn thông qua câu hỏi, quan sát thành viên nhóm;
- Đánh giá công tác
tổ chức, người trình bày;
- Cảm ơn sự tham gia
của thành viên nhóm, chúc sức khỏe.
|
|
8
|
Tổng kết
|
- Phân tích kết quả:
so sánh, đánh giá kết quả thực tế đạt được so với mục tiêu đặt ra;
- Những điểm cần cải
thiện.
|
PHỤ LỤC. BẢNG TÓM TẮT NHU CẦU DINH DƯỠNG KHUYẾN
NGHỊ
Phụ lục 1. Nhu cầu khuyến nghị về năng lượng
|
Nhóm
tuổi
|
NCKN
cho HĐTL
nhẹ (kcal/ngày)
|
NCKN
cho HĐTL trung bình (kcal/ngày)
|
|
20-29
tuổi
|
1.760
|
2.050
|
|
30
- 49 tuổi
|
1.730
|
2.010
|
|
Phụ
nữ có thai 3 tháng đầu
|
+
50
|
|
Phụ
nữ có thai 3 tháng giữa
|
+
250
|
|
Phụ
nữ có thai 3 tháng cuối
|
+
450
|
|
Bà
mẹ cho con bú
|
+
500
|
Phụ lục 2. Nhu cầu khuyến nghị protein
2.1. Nhu cầu khuyến
nghị về protein
|
Nhóm
tuổi
|
Tỷ
lệ % năng lượng từ Protein/ tổng năng lượng khẩu phần
|
Nhu
cầu khuyến nghị protein(RDA, g/ngày)NPU = 70%
|
Yêu
cầu tỷ lệ protein động vật (%)
|
|
|
Nữ
|
|
|
g/kg/ngày
|
(g/ngày)
|
|
|
20-29
tuổi
|
13-20
|
1,13
|
60
|
>=30
|
|
30-49
tuổi
|
13-20
|
1,13
|
60
|
>=30
|
|
Phụ nữ có thai
|
|
|
|
3 tháng đầu
|
|
+
1
|
>=
35
|
|
3 tháng giữa
|
|
+
10
|
>=35
|
|
3 tháng cuối
|
|
+
31
|
>=
35
|
|
Bà mẹ cho con bú
|
|
|
|
6 tháng đầu
|
|
+
19
|
>=
35
|
|
6-12 tháng
|
|
+
13
|
>=35
|
2.2. Nhu cầu khuyến
nghị các amino acid thiết yếu ở PNCT và BMCCB
|
Acid
amin thiết yếu
|
mg/kg/ngày
|
mg/g
protein
|
|
Histidine
|
14
|
15
|
|
Isolocine
|
27
|
30
|
|
Leucine
|
53
|
59
|
|
Lysine
|
41
|
45
|
|
Mehionine + Cysteine
|
20
|
22
|
|
Methionine
|
14
|
16
|
|
Cystein
|
5
|
6
|
|
Phenylalanine +
tyrosine
|
34
|
38
|
|
Threonine
|
20
|
23
|
|
Tryptophan
|
5
|
6
|
|
Valine
|
35
|
39
|
|
Tổng số amino acid
thiết yếu
|
251
|
277
|
Phụ lục 3. Nhu cầu lipid
3.1.Nhu cầu lipid
khuyến nghị
|
Nhóm
tuổi/ Tình trạng sinh lý
|
%
năng lượng khẩu phần (kcal)
|
Nhu
cầu khuyến nghị lipid (g/ngày)
|
|
20-29
Tuổi
|
20-25
|
46-
57
|
|
30
- 49 Tuổi
|
20-25
|
45-
56
|
|
Phụ
nữ có thai
|
20-30
|
|
|
3
tháng đầu
|
|
+
1,5 g
|
|
3
tháng giữa
|
|
+
7.5 g
|
|
3
tháng cuối
|
|
+
15 g
|
|
Bà
mẹ cho con bú
|
20-30
|
+
10 g
|
3.2.Nhu cầu khuyến nghị
một số acid béo không no
|
Đối
tượng
|
Acid
Linoleic (g/ngày)
|
Acid
Alpha Linolenic (g/ngày)
|
|
Phụ
nữ có thai và bà mẹ cho con bú cho con bú
|
2,0
|
0,5
|
Phụ lục 4. Nhu cầu khuyến nghị glucid
4.1. Nhu cầu
carbohydrate *
|
Nhóm
tuổi
|
Nhu
cầu khuyến nghị glucid (g/ngày)
|
|
|
Nữ
|
|
20-29 tuổi
|
320-360
|
25
|
|
30 - 49 tuổi
|
290-320
|
25
|
|
Phụ nữ có thai
|
|
28
|
|
3
tháng đầu
|
+
(7-10)
|
|
|
3
tháng giữa
|
+
(35-40)
|
|
|
3
tháng cuối
|
+
(65-70)
|
|
|
Bà mẹ cho con bú
|
+
(50-55)
|
29
|
*) Tính theo nhu cầu
năng lượng khuyến nghị cho mức độ lao động trung bình
Phụ
lục 5. Nhu cầu khuyến nghị các chất khoáng
|
Nhóm
tuổi, giới
|
Canxi
|
Magie
|
Phospho
|
Sắt
(mg/ngày) theo giá trị sinh học của khẩu phần
|
Kẽm
(mg/ngày), theo mức hấp thu
|
Iod
|
|
|
(mg/
ngày )
|
(mg/
ngày)
|
(mg/
ngày)
|
10%b
|
15%c
|
Kémi
|
Vừai
|
Tốti
|
(mcg/
ngày)
|
|
20-29 tuổi
|
|
|
|
26,1
|
17,4
|
|
|
|
|
|
30-49 tuổi
|
|
|
|
26,1
|
17,4
|
|
|
|
|
|
Phụ nữ có thai
|
|
|
|
|
|
|
|
3 tháng đầu
|
1200
|
40
|
700
|
+15d
|
+10d
|
20
|
10
|
6,0
|
220
|
|
3 tháng giữa
|
40
|
700
|
20
|
10
|
6,0
|
220
|
|
3 tháng cuối
|
40
|
700
|
20,0
|
10,0
|
6,0
|
220
|
|
Bà mẹ cho con bú
|
|
|
|
|
|
|
|
0 - 3 tháng
|
1300
|
|
700
|
13,3 (chưa có KN trở
lại)
26,1 (đã có KN trở
lại)
|
8,9 (chưa có KN trở
lại)
17,4 (đã có KN trở
lại)
|
19,0
|
9,5
|
5,8
|
250
|
|
4 - 6 tháng
|
|
700
|
17,5
|
8,8
|
5,3
|
250
|
|
7 - 12 tháng
|
|
700
|
14,4
|
7,2
|
4,3
|
250
|
b Loại khẩu phần có giá
trị sinh học sắt trung bình (khoảng 10% sắt được hấp thu): Khi khẩu phần có
lượng thịt hoặc cá từ 30g - 90g/ngày hoặc lượng vitamin C từ 25 mg - 75 mg/ngày.
c Loại khẩu phần có giá
trị sinh học sắt cao (khoảng 15% sắt được hấp thu):
Khi khẩu phần có lượng
thịt hoặc cá > 90g/ngày hoặc lượng vitamin C > 75 mg/ngày
d Bổ sung viên sắt được
khuyến nghị cho tất cả phụ nữ có thai trong suốt thai kỳ. Những phụ nữ bị thiếu
máu cần dùng liều điều trị theo phác đồ hiện hành
e Trẻ bú sữa mẹ
f Trẻ ăn sữa nhân tạo
g Trẻ ăn thức ăn nhân
tạo, có nhiều phytat và protein nguồn thực vật
h Không áp dụng cho trẻ
bú sữa mẹ đơn thuần
i Hấp thu tốt: giá trị
sinh học kẽm tốt = 50 % (khẩu phần có nhiều protid động vật hoặc cá); Hấp thu
vừa: giá trị sinh học kẽm trung bình = 30 % (khẩu phần có vừa phải protid động
vật hoặc cá: tỷ số phytate-kẽm phân tử là 5 : 15). Hấp thu kém: giá trị sinh
học kẽm thấp = 15 % (khẩu phần ít hoặc không có protid động vật hoặc cá)
k AI-Adequate Intake
|
Nhóm
tuổi, giới
|
Selen
|
Đồng
|
Croma
|
Mangana
|
Fluoa
|
|
|
(mcg/ngày)
|
(mcg/ngày)
|
(mcg/ngày)
|
(mg/ngày)
|
(mg/ngày)
|
|
Phụ
nữ có thai
|
|
|
|
|
|
|
3
tháng đầu
|
26
|
1000
|
29
|
2,0
|
3
|
|
3
tháng giữa
|
28
|
1000
|
29
|
2,0
|
3
|
|
3
tháng cuối
|
30
|
1000
|
29
|
2,0
|
3
|
|
Bà
mẹ cho con bú
|
|
|
|
|
|
|
0
- 3 tháng
|
35
|
1300
|
45
|
2,6
|
3
|
|
4
- 6 tháng
|
35
|
1300
|
45
|
2,6
|
3
|
|
7
- 12 tháng
|
42
|
1300
|
45
|
2,6
|
3
|
a AI
Phụ
lục 6. Nhu cầu khuyến nghị vitamin
|
Nhóm
tuổi
|
Vitamin
B1
|
Vitamin
B2
|
Niacin
(Vitamin B3)
|
Acid
Pantothenic (Vitamin B5)
|
Vitamin
B6
|
Biotin
(Vitamin B7)
|
Folate
(Vitamin B9)
|
Vitamin
B12
|
|
|
(mg/
ngày)
|
(mg/
ngày)
|
(mg/ngày)
|
(mg/ngày
|
(mg/ngày)
|
(µg/ngày)
|
(µg/ngày)
|
(µg/ngày)
|
|
20-29
tuổi
|
1,1
|
1,2
|
14
|
5
|
1,3
|
30
|
400
|
2,4
|
|
30-49
tuổi
|
1,0
|
1,2
|
14
|
5
|
1,3
|
30
|
400
|
2,4
|
|
Phụ nữ có thai
|
|
|
|
|
|
|
3
tháng đầu
|
(+)
0.2
|
(+)
0.3
|
18
|
6
|
1,9
|
30
|
600
|
2,6
|
|
3
tháng giữa
|
(+)
0.2
|
(+)
0.3
|
18
|
6
|
1,9
|
30
|
600
|
2,6
|
|
3
tháng cuối
|
(+)
0.2
|
(+)
0.3
|
18
|
6
|
1,9
|
30
|
600
|
2,6
|
|
Bà mẹ cho con bú
|
|
|
|
|
|
|
0
- 3 tháng
|
(+)
0.2
|
(+)
0.6
|
17
|
7
|
2,0
|
35
|
500
|
2,8
|
|
4
- 6 tháng
|
(+)
0.2
|
(+)
0.6
|
17
|
7
|
2,0
|
35
|
500
|
2,8
|
|
7
- 12 tháng
|
(+)
0.2
|
(+)
0.6
|
17
|
7
|
2,0
|
35
|
500
|
2,8
|
*) Tính theo nhu cầu
năng lượng khuyến nghị cho mức độ lao động trung bình
a AI
|
Nhóm
tuổi
|
Biotin
|
Choline
|
Vitamin
C
|
Vitamin
A
|
Vitamin
D
|
Vitami
n E
|
Vitamin
K
|
|
|
|
(mg/ngày)
|
mg/
ngày)
|
(mcg/ngày)
|
(mcg/
ngày)
|
(mg/
ngày)
|
(mcg/
ngày)
|
|
20-29
tuổi
|
30
a
|
425
a
|
100
|
650
|
15
|
6
a
|
150
a
|
|
30-49
tuổi
|
30
a
|
425
a
|
100
|
700
|
15
|
6
a
|
150
a
|
|
Phụ nữ có thai
|
|
|
|
|
|
3
tháng đầu
|
30
a
|
450
a
|
(+)
10
|
(+)0
|
15
|
6.5
a
|
150
a
|
|
3
tháng giữa
|
30
a
|
450
a
|
(+)
10
|
(+)0
|
15
|
6.5
a
|
150
a
|
|
3
tháng cuối
|
30
a
|
450
a
|
(+)
10
|
(+)80
|
15
|
6.5
a
|
150
a
|
|
Bà mẹ cho con bú
|
|
|
|
|
|
0
- 3 tháng
|
35
a
|
550
a
|
(+)
45
|
(+)450
|
15
|
7
a
|
150
a
|
|
4
- 6 tháng
|
35
a
|
550
a
|
(+)
45
|
(+)450
|
15
|
7
a
|
150
a
|
|
7
- 12 tháng
|
35
a
|
550
a
|
(+)
45
|
(+)450
|
15
|
7
a
|
150
a
|
*) Tính theo nhu cầu
năng lượng khuyến nghị cho mức độ lao động trung bình
a AI
Phụ lục 7. Nhu cầu
khuyến nghị các chất điện giải
|
Nhóm
tuổi
|
Na
mg/ngày (Muối, g/ngày)
|
K
(mg/ngày)
|
Cl (mg/ngày)
|
|
|
Nhu
cầu khuyến nghị (RDA)
|
Mục
tiêu chế độ ăn
(DG)
|
Mức
tiêu thụ đủ (AI)
|
Mục
tiêu chế
độ ăn (DG)
|
Mức
tiêu thụ đủ (AI)
|
Mục
tiêu chế độ ăn (DG)
|
|
PN
có thai
|
|
<
2000 (5.0)
|
2000
|
>3510
|
900
|
<
2900
|
|
BM
cho con bú
|
|
<
2000 (5.0)
|
2000
|
>3510
|
900
|
<
2900
|
TÀI
LIỆU THAM KHẢO
1. Viện Dinh dưỡng and
Bộ Y tế, Nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị của người Việt Nam.
1996, Hà Nội: Nhà xuất bản Y học.
2. Bộ-Y-tế. Nhu cầu
dinh dưỡng khuyến nghị cho người Việt Nam. 2007, Nhà xuất bản Y học
3. Bộ-Y-tế-Viện-Dinh-dưỡng.,
Chiến lược quốc gia về dinh dưỡng 2001 - 2010. 2001, Hà Nội: Nhà xuất bản Y
học.
4.
Bộ-Y-tế-Viện-Dinh-dưỡng, Chiến lược quốc gia về dinh dưỡng 2011 - 2020 và tầm
nhìn đến 2030. 2011, Hà Nội: Nhà xuất bản Y học.
5. FAO/WHO/UNU, Energy
and Protid Requirement, in Report of a Join Expert Consultation. 1985: Genevea.
6. FAO/WHO/UNU, Human
Energy Requirement, in Report of a Joint FAO/WHO/UNU Expert Consultation. 2004:
Rome.
7. FAO/WHO/UNU, Human
Ennergy Requirements. 2007.
8. FAO-WHO, Fats and
tatty acids in human nutrition, in Report of an expert cónultation. 2010: Rome
9. Barba and Cabrera,
Recommended Dietary Allowances harmonization in Southeast Asia. 2008;17
(S2):405-408. Asia Pacific Journal Clinical of Nutrition, 2008. 17.
10. National-Institute-of-Health-and-Nutrition,
Dietary reference intakes for Janpanese 2015. 2015.
11.
Research-Institute., F.-a.-N., Nutrition Guidelines for Filipinos. 2000,
Department of Science and Technology.
12. WHO/FAO/UNU.,
Protein and Amino acid Requirements in Human Nutrition, ed. W.T.R.S. 935. 2007.
13.
International-Life-Science-Institute., Recommended Dietary Allowance:
Harmonization in South East, Current Status and Issues. 2005.
14. Viện-Dinh-dưỡng,
Tổng điều tra Dinh dưỡng 2009-2010 2010, hà Nội: Nhà xuất bản Y học
15. Bộ-Y-tế., Báo cáo
kết quả điều tra Y tế Quốc gia 2001-2002. 2003, Hà Nội: Nhà xuất bản Y học.
16.
Australian-Department-of-Nutrition-Dietetic-and-Food-Sience, Diettictians'
Pocket Book. 1999.
17. Esabel Z and
Cabrera, Philipine recommended dietary allowances: recent developements đan
future plans Nutrition Reviews, 1989 56(4): p.21.
18. Tu Giay and H.H.
Khoi, Use of Body Mass Index in the Assessementof Adult nutrition status in Viet
Nam. Europe Journal Clinical Nutrition, 1994. 48(3): p. 124-130.
19. KG Dewey, K.B.,
Update on technical issues concerning complementary feeding of young children
in developing countries and implications for intervention programs Food and
Nutrition Bulletin, 2003. 24(1).
20. IDECG, Report a
working group on protid and energy requirements. Europe Journal Clinical
Nutrition, 1996. 50: p. 593-595.
21. FNRI, Recommended
Energy and Nutrient Intakes Philipines. 2002, Manila, Philipine: Food and
Ntrition Reseach Institute, Department of Science and Technology.
22. Institute-of-Medicine-National-Academy-of-Science.
Dietary Reference intakes: The Essential Guide to Nutrient Requirements. 2006;
Available from: HTTP://www.nap.edu/catalog/11537.html.
23. IOM., ed. Dietary
Reference Intake for Energy, Carbohydrates, Fiber, Fat, Protein and Amino Acids
(Macronutrients). 2002, Food and Nutrition Boad. Institute of Medicine.
National Academy Press. Washington DC.
24. Ludwig DS,
P.K.G.S., Relation between consumption of sugar-sweetened drinks and childhood
obesity: a prospective observational analysis. Lancet, 2000. 17: p.
505-508.
25. Trần-Thị-Châu.,
Nghiên cứu một số biểu hiện lâm sàng về cơ-xương-khớp và đo mật độ xương got
bằng siêu âm trên phụ nữ mãn kinh tại Hà Nội. 2002, Đại học Y Hà Nội.
26. Bruce-A and Asp NG,
Implycations of recent food-carbonhydrate reseach on nutrition dietary fiber
recommendations and product developement: sumary of panel discussion. American
Jounal of Clinical Nutrition, 1994. 59: p. 770-772.
27. Barbara, Bowman,
and Robert M.Russel, Present Knowledge in Nutrition, in ILCL Press. 2001: Washington
DC.
28. Beard JL and RTobin
B, Iron status and excecise. American Jounal of Clinical Nutrition, 2000. 72:
p. 594-597.
29. Beard-JL, Iron
biology in mumune function, muscle metabolism and neuronal functioning. J Nutr
2001. 131: p. 5685-5805.
30. FAO/WHO, Human
Vitamin an Mineral Requirement, in Report of a Joint Expert Consulation. 2002: Rome.
p. 151-171.
31.
Institute-of-Medicine-National-Academy-of-Science., Dietary reference intake:
The essential guides to nutrient requirements. In: Sodium and Chloride. . 2006:
p. 387-396.
32. FAO/WHO, Vitamin
and mineral requirements in human nutrition. A report of a joint FAO/WHO expert
consultation: Bangkok: FAO/WHO., 2004.
33. FAO/WHO, Vitamin
and mineral requirements in human nutrition. 2004, A report of a joint FAO/WHO
expert consultation: Bangkok: FAO/WHO.
34.
National-Instutitute-of-Health-and-Nutrition, Dietary Reference Intake for
Japanese 2010. The summary report of the Scientific Committee of Dietary
Reference Intake for Japanese. 2010.
35. Cook, J.D., S.A.
Dassenko, and S.R. Lynch, Assessment of the role of nonheme-iron availability
in iron balance. Am J Clin Nutr, 1991. 54(4): p. 717-22.
36. Stoltzfus R and
Dreyfuss M, Guidelines for the Use of Iron Supplements to Prevent and Treat
Iron Deficiency Anemia. 1998, Washington, DC: ILSI Press.
37. WHO/UNICEF/UNU,
IDA: Prevention, Assessment and Control, in Report of a joint WHO/UNICEF/UNU
consultation. 1998: Genevea.
38. Clarkson PM and
Haymes EM, Exercise and mineral status of athletes: Can xium, magnesium,
phosphorous, and iron. Med Sci Sports Exerc, 1995. 27: p. 831-843.
39. Raunikar RA and
Sabio H, Anemia in the adolescent athelete. Am J Dis Child 1992. 146: p.
1201-1205.
40. Weaver, C.M. and S.
Rajaram, Exercise and iron status. J Nutr, 1992.122(3 Suppl): p. 782-7.
41.
Institute-of-Medicine-National-Academy-of-Science, Zinc. In: Dietary Reference
Intake for Vitamin A, Vitamin K, Arsenic, Boron, Chromium, Cooper, Iodine,
Iron, Manganese, Molybdelum, Nickel Silicon, Vanadium, and Zinc. 2001, Washington
DC: Food and Nutrition Boad. Institute of Medicine. National Academy
Press.
42. International Zinc
Nutrition Consultative, G., et al., International Zinc Nutrition Consultative
Group (IZiNCG) technical document #1. Assessment of the risk of zinc deficiency
in populations and options for its control. Food Nutr Bull, 2004. 25(1
Suppl 2): p. S99-203.
43. WHO, Preparation
and use of Food Based Dietary Guidelines, in Report of FAO/WHO Consulutation.
1996: Nicosia, Cyprus.
44. Institute-of-Medicine-National-Academy-of-Science,
Vitamin A. In: Dietary Reference Intake for Vitamin A, Vitamin K, Arsenic,
Boron, Chromium, Cooper, Iodine, Iron, Manganese, Molybdelum, Nickel Silicon,
Vanadium, and Zinc. 2001, Washington DC: Food and Nutrition Boad. Institute of Medicine. National Academy Press.
45. da Silva FJ and W.
RJ., Copper: Extracytoplasmic oxidases and matrix formation. In: da Silva FJ,
Williams RJ, eds, in The Biological Chemistry of the Elements: The Inorganic
Chemistry of Life. 1991, Clarendon Press: Oxford. p. 388-399.
46. ED., Copper In: O’Dell
BL, Sunde RA, eds, in Handbook of Nutritionally Essential Mineral Elements.
1997, Marcel Dekker: New York. p. 231-273.
47. Linder, M.C. and M.
Hazegh-Azam, Copper biochemistry and molecular biology. Am J Clin Nutr, 1996. 63(5):
p. 797S-811S.
48. JCL., S., Copper
deficiency in term and preterm infants. In: Fomon SJ, Zlotkin S, eds, in
Nutritional Anemias. 1992, Vevey/Raven Press: New York. p. 105-117.
49. Fujita, M., et al.,
Copper deficiency during total parenteral nutrition: clinical analysis of three
cases. JPEN J Parenter Enteral Nutr, 1989. 13(4): p. 421-5.
50. Pennington JA, et
al., Composition of core foods of the U.S. food supply, 1982-1991. III. Copper,
manganese, selenium, and iodine. J Food Comp Anal, 1995. 8: p. 171-217.
51. Anderson RA, et
al., Elevated intakes of supplemental chromium improve glucose and insulin
variables in individuals with type 2 diabetes. Diabetes, 1997. 46: p.
1786-1791.
52. Anderson, R.A., et
al., Supplemental-chromium effects on glucose, insulin, glucagon, and urinary
chromium losses in subjects consuming controlled low-chromium diets. Am J Clin
Nutr, 1991. 54(5): p. 909-16.
53. Anderson, R.A.,
N.A. Bryden, and M.M. Polansky, Dietary chromium intake. Freely chosen diets,
institutional diet, and individual foods. Biol Trace Elem Res, 1992. 32:
p. 117-21.
54. Anderson R and B.
NA., Concentration, insulin potentiation, and absorption of chromium in beer. J
Agric Food Chem, 1983. 31: p. 308-311.
55. Cabrera-Vique C, et
al., Determination and levels of chromium in French wine and grapes by graphite
furnace atomic absorption spectrometry. J Agric Food Chem, 1997. 45: p.
1808-1811.
56. Freeland-Graves-J.,
Derivation of manganese estimated safe and adequate daily dietary intakes. In:
Mertz W, Abernathy CO, Olin SS, eds. , in Risk Assessment of Essential
Elements. 1994, ILSI Press: Washington, DC. p. 237-252.
57. Keen CL,
Zidenberg-Cherr S, and L. B., Nutritional and toxicological aspects of
manganese intake: An overview. In: Mertz W, Abernathy CO, Olin SS, eds, in Risk
Assessment of Essential Elements. 1994, ILSI Press: Washington, DC.
58. Barceloux, D.G.,
Manganese. J Toxicol Clin Toxicol, 1999. 37(2): p. 293-307.
59. Pennington JA and
Young BE, Total Diet Study Nutritional Elements, 1982-1989. Journal of the
American Dietetic Association, 1991. 91(2): p. 179-183.
60. IOM, Dietary
Reference Intakes for Vitamin C, E, Selenium and Carotenoids. 2000, Washington DC: National Academy Press.
61. Guthrie HA and
Picciano MF, Water and Electrolites. 1995, St Louie Misouri: Mostby Year Book
Inc. 261-284.
62. IOM, Dietary
Reference Intake for Thiamine, Roboflavin, Niacin, Vitamin B6, Folate, Vitamin
B12, Pantothenic acid, Biotin and Choline. 1997, Washington DC: Food and
Nutrition Boad, Institute of Medicine.
63. Harper, Present
Knowledge in Nutrition. Vol. 6. 1990, Washington: ILSI Nutrition Foundation.
64. E.S, T., Current
status of Recommended Dietary Allowances (RDA) Harmonixation in Southeast Asia. International Life Sciences Institue, Singapore. 2005.
65. (America),
N.I.o.M., Dietary reference intakes for Thiamin, Riboflavin, Niacin, Vitamin
B6, Folate, Vitamin B12, Pantothenic Acid, Biotin, and Choline. National
Academy Press, 1998. http://www.nap.edu/catalog/6015.html.
66. Science, I.o.M.-N.A.o.,
Dietary Reference intakeL The Assential Guide to Requirements, truy cập ngày,
tại trang web HTTP://www.nap.edu/catalog/11537.html. 2006.
67. Martha H. Stipanuk,
M.A.C., Biochemical, Physiological, and Molecular Aspects of Human Nutrition.
2012. Third edition.
68. Barbara,
B.v.R.M.R., Present Knowledge in Nutrition, ILSI Press, 8. 2001.
69. WHO/FAO, Human
vitamin and mineral requirements. Report of FAO/WHO join expert consultation Bankok,
Thailand, 2001.
70. United States
Department of Agriculture and Human Service, Dietary Guidelines for predicting
the Energy Requirements of healthy adults aged 18-81 years old. American Jounal
of Clinical Nutrition, 1990. 69: p. 920.
71.
National-Academy-of-Science., Dietary Reference Intake: Electrolytes and Water.
2005, Washington DC.
72.
Zeman-FJ-and-Ney-DM, Water, Electrolites and Acid-Base Balance. In:
Applications in Medical Nutrition Therapy. 2nd Ed. Merrill, Englewood Cliffs, New
Jersey: 21-35. 1996.
73. Wardlaw GM and
Insel PM, Perspectives in Nutrition. 1993: Mostby - Year Book Inc, St Louie
Misouri. p. 261-284.
74. Holbrook JT, et
al., Sodium and potassium intake and balance in adults consuming self-selected
diets. American Jounal of Clinical Nutrition, 1984. 40(4).
75. Fukumoto T, Tanaka
T, and Fujioka H et al, Differences in composition of sweat induced by thermal
exposure and by running execise. Clinical Cardiol, 1998. 11(10).
76. Sawka MN and
Montain Sj, Fluid and electrolyte supplementation for exercise heart stress.
American Jounal of Clinical Nutrition, 2000. 72(2).
77. Brown IJ, Tzoulaki
I, and Candeias V, Salt intakes around the worldL implications for public
health. International Journal Epidemiol, 2009. 38(3).
78. WHO, Guideline:
Sodium intake for adults and children. 2012: Geneva.
79. Viện-Dinh-Dưỡng ,
Tổng điều tra Dinh dưỡng, in Báo cáo nghiệm thu Đề tài NC cấp Nhà nước 1987, 64
02-02 và 64D 01-01.
80. Lê Nam Trà, Đặc
điểm sinh thể con người Việt Nam, tình trạng dinh dưỡng và các biện pháp nâng
cao chất lượng sức khỏe, in Báo cáo toàn văn kết quả nghiên cứu của đề tài KX
07-07 thuộc chương trình nhà nước KX-07. 1996.
81. Butte NF and King
IC, Energy Requirements during pregnacy and lactation, in Energy background
paper prepared for the joint FAO/WHO/UNU Expert Consultation on Energy in Human
Nutrition.2002.
82. WHO, Guideline:
Potassium intake for adults and children. 2012.
83. Lê Thị Hợp. Nhu cầu
dinh dưỡng khuyến nghị cho người Việt Nam 2012. Nhà xuất bản Y học. Hà Nội.
Bổ sung thêm 2 tài liệu
84. Viện Dinh dưỡng, Bộ
Y tế. Bảng nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị cho người Việt Nam.
Nhà xuất bản y học 2016
85. Phạm Thị Thu Hương,
Nguyễn Thị Lâm. Hướng dẫn chế độ ăn cho người bệnh đái tháo đường theo đơn vị
chuyển đổi thực phẩm Nhà xuất bản y học 2008