|
BỘ Y TẾ
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ
NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 318/QĐ-BYT
|
Hà Nội, ngày 30 tháng 01 năm 2026
|
QUYẾT
ĐỊNH
VỀ VIỆC BAN HÀNH TÀI LIỆU CHUYÊN MÔN “HƯỚNG DẪN
ĂN BỔ SUNG CHO TRẺ EM TỪ 6 THÁNG TUỔI ĐẾN 23 THÁNG TUỔI”
BỘ TRƯỞNG
BỘ Y TẾ
Căn cứ Nghị định số 42/2025/NĐ-CP ngày 27 tháng 02 năm 2025 của
Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Y
tế;
Xét Biên bản họp Hội
đồng chuyên môn nghiệm thu tài liệu “Hướng dẫn ăn bổ sung cho trẻ em từ 6 tháng
tuổi đến 23 tháng tuổi” ngày 27 tháng 12 năm 2025;
Theo đề nghị của Cục
trưởng Cục Bà mẹ và Trẻ em, Bộ Y tế.
QUYẾT
ĐỊNH:
Điều 1. Ban
hành kèm theo Quyết định này tài liệu chuyên môn “Hướng dẫn ăn bổ sung cho trẻ
em từ 6 tháng tuổi đến 23 tháng tuổi”.
Điều 2. Quyết
định này có hiệu lực kể từ ngày ký, ban hành.
Điều 3. Các
Ông (Bà): Chánh Văn phòng Bộ, Cục trưởng Cục Bà mẹ và Trẻ em, Cục trưởng và Vụ
trưởng các Cục, Vụ thuộc Bộ Y tế, Thủ trưởng các đơn vị thuộc và trực thuộc Bộ
Y tế, Giám đốc Sở Y tế các tỉnh, thành phố, Thủ trưởng các đơn vị liên quan
chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.
|
Nơi nhận:
-
Như Điều 3;
- Bộ trưởng (để báo cáo);
- Các Thứ trưởng;
- Cổng Thông tin điện tử Bộ Y tế;
- Lưu: VT, BMTE.
|
KT. BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG
Nguyễn Tri Thức
|
HƯỚNG
DẪN ĂN BỔ SUNG CHO TRẺ EM
TỪ
6 THÁNG TUỔI ĐẾN 23 THÁNG TUỔI
(Ban
hành kèm theo Quyết định số 318/QĐ-BYT ngày 30 tháng 01 năm 2026)
MỤC
LỤC
Lời mở đầu
I. ĐẠI CƯƠNG
1. Khái niệm về ăn bổ
sung
2. Tầm quan trọng của
ăn bổ sung
3. Độ tuổi thích hợp
bắt đầu cho trẻ ăn bổ sung
II. NỘI DUNG
1. Nguyên tắc cho trẻ
ăn bổ sung
2. Nhu cầu dinh dưỡng
và sự phát triển của trẻ gắn với ăn bổ sung giai đoạn từ 6-23 tháng tuổi
2.1. Nhu cầu dinh dưỡng
của trẻ giai đoạn từ 6-23 tháng tuổi
2.2. Đặc điểm tăng
trưởng của trẻ giai đoạn từ 6-23 tháng tuổi
2.3. Phát triển hệ thần
kinh cơ, răng và hệ tiêu hóa của trẻ giai đoạn từ 6-23 tháng tuổi
2.4. Phát triển tâm vận
động với hành vi ăn uống của trẻ giai đoạn 6-23 tháng tuổi
2.5. Phát triển tâm lý
với hành vi ăn uống của trẻ giai đoạn 6-23 tháng tuổi
3. Chế độ ăn bổ sung
cho trẻ từ 6 đến 23 tháng tuổi
3.1. Thức ăn bổ sung
3.2. Cách cho trẻ ăn bổ
sung
4. Cách chế biến thức
ăn bổ sung
4.1. Đảm bảo an toàn
thực phẩm trong lựa chọn, chế biến, bảo quản thức ăn bổ sung và cho trẻ ăn
4.2. Các phương pháp
chế biến thức ăn bổ sung
4.3. Hướng dẫn cách chế
biến và cho trẻ ăn theo từng giai đoạn ăn bổ sung
5. Hỗ trợ hình thành
thói quen ăn uống lành mạnh
5.1. Vai trò của gia
đình để xây dựng các thói quen lành mạnh của trẻ
5.2. Tạo lập thói quen
lành mạnh theo từng giai đoạn
5.3. Một số sai lầm
thường gặp trong quá trình hình thành thói quen ăn uống của trẻ
5.4. Phòng tránh một số
vấn đề khó khăn thường gặp khi cho trẻ ăn bổ sung
6. Hướng dẫn thực hành
cho cán bộ y tế
6.1. Hỗ trợ thực hành
ăn bổ sung cho cha mẹ/người chăm sóc trẻ
6.2. Đánh giá thực hành
ăn bổ sung
Phụ lục 1: Cơ sở pháp
lý và hướng dẫn chuyên môn
Phụ lục 2: Một số khái
niệm về ăn bổ sung
Tài liệu tham khảo
DANH
MỤC BẢNG - HÌNH
Bảng 1. Nhu cầu năng
lượng khuyến nghị của trẻ bú mẹ từ 6-23 tháng tuổi
Bảng 2. Nhu cầu protein
khuyến nghị cho trẻ từ 6-23 tháng tuổi
Bảng 3. Nhu cầu lipid
khuyến nghị cho trẻ từ 6-23 tháng tuổi
Bảng 4. Nhu cầu các vi
chất dinh dưỡng khuyến nghị cho trẻ từ 6-23 tháng tuổi
Bảng 5. Phát triển răng
miệng và hệ tiêu hóa theo độ tuổi
Bảng 6. Các giai đoạn
phát triển tâm vận động từ 6-23 tháng tuổi
Bảng 7. Các giai đoạn
phát triển tâm lý từ 6-23 tháng tuổi và hành vi ăn uống liên quan
Bảng 8. Các giai đoạn
ăn bổ sung phù hợp theo chức năng ăn uống
Hình 1. Hình ảnh minh
họa độ đặc của bột
DANH
MỤC TỪ VIẾT TẮT
|
ABS
|
Ăn bổ sung
|
|
BMI
|
Body Mass Index (Chỉ
số khối cơ thể)
|
|
BYT
|
Bộ Y tế
|
|
ĐV
|
Động vật
|
|
HAZ
|
Height for Age Zscore
(Điểm Z của chiều cao theo tuổi)
|
|
IYCF
|
Infant and Young
Child Feeding (Nuôi dưỡng trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ)
|
|
KN
|
Khuyến nghị
|
|
LAZ
|
Length for Age Zscore
(Điểm Z của chiều dài theo tuổi)
|
|
SDD
|
Suy dinh dưỡng
|
|
SDG
|
Sustainable
Development Goals (Mục tiêu phát triển bền vững)
|
|
SM
|
Sữa mẹ
|
|
TB
|
Trung bình
|
|
UNICEF
|
United Nation
Children’s Fund (Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc)
|
|
WHO
|
World Health
Organization (Tổ chức Y tế thế giới)
|
Lời
mở đầu
Việt Nam đang phải đối
phó đồng thời 3 gánh nặng về dinh dưỡng, bao gồm thiếu dinh dưỡng, thừa dinh
dưỡng và thiếu vi chất dinh dưỡng. Gánh nặng này sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển
về tầm vóc, thể lực và trí tuệ của trẻ em, đồng thời làm gia tăng gánh nặng của
các bệnh không lây nhiễm khi trẻ trưởng thành. Một trong những nguyên nhân
chính là thực hành nuôi dưỡng trẻ nhỏ chưa tối ưu. Trong giai đoạn từ 6 tháng
tuổi đến 23 tháng tuổi, trẻ cần được nuôi dưỡng bằng sữa mẹ và ăn bổ sung đúng
cách để trẻ phát triển hết tiềm năng về thể chất, tinh thần và nhận thức với
những lợi ích kéo dài đến khi trưởng thành.
Nhằm mục đích hướng dẫn
chuyên môn cho nhân viên y tế chuyên ngành sản khoa, nhi khoa và dinh dưỡng để
có thể hướng dẫn và hỗ trợ cho bà mẹ, người chăm sóc trẻ về thực hành ăn bổ
sung cho trẻ từ 6-23 tháng tuổi, đảm bảo tính chuyên môn, khách quan và tuân
thủ các quy định hiện hành, Bộ Y tế đã giao Viện Dinh dưỡng làm đầu mối xây
dựng tài liệu Hướng dẫn ăn bổ sung cho trẻ từ 6 tháng tuổi đến 23 tháng tuổi.
Viện Dinh dưỡng đã phân công nhóm biên soạn của Viện để biên soạn hướng dẫn; tổ
chức họp Hội đồng chuyên môn của Viện với sự tham gia của các chuyên gia trong
và ngoài nước để góp ý, hoàn thiện theo ý kiến của các địa phương, của Hội đồng
chuyên môn nghiệm thu do Bộ Y tế thành lập và chịu trách nhiệm về chuyên môn kỹ
thuật trong hướng dẫn. Hướng dẫn được các thành viên biên soạn, cập nhật theo
khuyến nghị của Tổ chức Y tế thế giới và UNICEF, tham khảo các nghiên cứu quốc
tế và hướng dẫn của một số quốc gia trong khu vực. Một số nội dung chuyên môn
mới trong Hướng dẫn được xây dựng dựa trên những bằng chứng cập nhật về nhu cầu
và cơ cấu của chế độ ăn bổ sung trong bối cảnh có nhiều thay đổi về tiếp cận
thực phẩm và 3 gánh nặng về dinh dưỡng, đảm bảo chế độ ăn phù hợp với sự phát
triển của trẻ, phù hợp với văn hóa và truyền thống Việt Nam.
Bộ Y tế thành lập Hội
đồng chuyên môn nghiệm thu hướng dẫn với sự tham gia của đại diện một số đơn vị
chức năng của Bộ Y tế và các chuyên gia hàng đầu về dinh dưỡng. Hội đồng đã
thống nhất thông qua tài liệu hướng dẫn.
Bộ Y tế trân trọng cảm
ơn sự hỗ trợ của Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi Nhật Bản; cảm ơn sự đóng góp
tích cực và hiệu quả của các chuyên gia trong nước và quốc tế, Viện Dinh dưỡng,
Hội đồng chuyên môn nghiệm thu tài liệu hướng dẫn.
Đây là lần đầu tiên
Hướng dẫn được xây dựng và ban hành nên khó tránh khỏi sai sót. Bộ Y tế rất
mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các chuyên gia, đơn vị và bạn
đọc để tài liệu ngày càng hoàn thiện, cập nhật và phù hợp hơn trong các lần
chỉnh sửa tiếp theo.
Xin trân trọng cảm ơn!
I. ĐẠI CƯƠNG
1.
Khái niệm về ăn bổ sung
Ăn bổ sung là quá trình
cho trẻ ăn thêm các thức ăn khác ngoài sữa mẹ khi chỉ sữa mẹ (hoặc sữa công
thức) không đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng của trẻ. Quá trình này thường bắt đầu
từ khi trẻ tròn 6 tháng tuổi (180 ngày) cho đến khi trẻ 23 tháng tuổi (23 tháng
29 ngày), trong khi trẻ vẫn tiếp tục bú mẹ cho đến 24 tháng hoặc lâu hơn 1,2.
Thức ăn bổ sung là thức
ăn dành cho trẻ em từ 6 tháng đến 23 tháng tuổi để bổ sung thêm cùng với sữa mẹ
nhưng không hoàn toàn thay thế sữa mẹ. Thức ăn bổ sung phải là các loại thực
phẩm giàu dinh dưỡng, đủ về số lượng và cân đối về thành phần dinh dưỡng để trẻ
có thể tiếp tục phát triển. Ngoài ra, thức ăn phải phù hợp với khả năng nhai -
nuốt của trẻ.
Thức ăn dạng lỏng như
sữa và các loại nước trái cây không được coi là thức ăn bổ sung vì những thức
ăn này không cân đối về thành phần dinh dưỡng, làm trẻ bú mẹ ít đi hoặc bỏ bú.
Một số khái niệm chi
tiết về ăn bổ sung được trình bày ở Phụ lục 2.
2.
Tầm quan trọng của ăn bổ sung
Trẻ từ 6 đến 23 tháng
tuổi là giai đoạn trẻ tập làm quen với các thức ăn mới ngoài sữa mẹ, chuyển
tiếp từ bú mẹ sang làm quen với thức ăn bổ sung, tập nhai, nuốt và tiêu hoá
thức ăn này. Trong khi đó, hệ miễn dịch của trẻ trong giai đoạn này chưa phát
triển đầy đủ, các chức năng sinh lý, giải phẫu và tâm lý còn chưa hoàn chỉnh
nên trẻ dễ mắc các bệnh về đường tiêu hoá như tiêu chảy, nguy cơ dẫn đến suy
dinh dưỡng nếu thức ăn bổ sung không được chế biến đúng cách và không đảm bảo
vệ sinh.
Cho trẻ ăn bổ sung hợp
lý cùng với việc chăm sóc và phòng bệnh đầy đủ, đúng cách có thể giúp trẻ tăng
trưởng và phát triển tối ưu tiềm năng của mình, phòng thấp còi và thiếu hụt các
vitamin và khoáng chất. Cho trẻ ăn bổ sung hợp lý cũng là một cơ hội quan trọng
để hình thành thói quen ăn uống lành mạnh suốt cuộc đời sau này của trẻ và đảm
bảo cho trẻ không bị thừa cân và mắc các bệnh không lây nhiễm như đái tháo
đường, tăng huyết áp, ung thư sau này.
Giai đoạn ăn bổ sung,
từ 6 đến 23 tháng tuổi, là một trong những thời điểm khó khăn nhất để đáp ứng
nhu cầu dinh dưỡng của trẻ. Trong khi dạ dày của trẻ chỉ có thể chứa một lượng
nhỏ thức ăn mà nhu cầu dinh dưỡng của trẻ lại ở mức độ cao do đó trẻ dễ bị
thiếu dinh dưỡng dẫn đến chậm phát triển 3. Ở hầu hết các quốc gia, sự suy giảm
chiều dài hoặc chiều cao theo tuổi chủ yếu xảy ra trong giai đoạn ăn bổ sung do
chất lượng và số lượng thức ăn bổ sung không đủ, thực hành cho ăn bổ sung kém
và tỷ lệ nhiễm khuẩn tăng.
Trong khi thức ăn bổ
sung cần giàu dinh dưỡng để đáp ứng đủ nhu cầu, trẻ nhỏ thường được cho ăn các
bữa ăn chủ yếu dựa trên ngũ cốc, ít protein, sắt, kẽm và các chất dinh dưỡng
thiết yếu khác. Các ước tính toàn cầu gần đây nhất về thực hành ăn bổ sung cho
thấy tình hình ở các nước có thu nhập thấp và trung bình đáng lo ngại khi một
nửa số trẻ em có tần suất ăn tối thiểu và chế độ ăn chấp nhận tối thiểu chưa
đạt và có khả năng bị SDD thấp còi hoặc nhẹ cân. Chất lượng thức ăn bổ sung của
trẻ trong giai đoạn này quan trọng hơn so với bất kỳ thời điểm nào khác trong
suốt chu kỳ vòng đời.
Tuy nhiên, ở hầu hết
mọi nơi trên thế giới, các gia đình phải đối mặt với các rào cản kinh tế, chính
trị, thị trường, xã hội hoặc văn hóa trong việc cung cấp chế độ ăn bổ sung đủ
thành phần dinh dưỡng, an toàn, giá cả hợp lý và bền vững cho trẻ nhỏ. Những
thách thức này trở nên trầm trọng hơn trong các tình huống khẩn cấp, nơi khả
năng tiếp cận thực phẩm dinh dưỡng, nước uống sạch và dịch vụ chăm sóc sức khỏe
chất lượng tốt bị hạn chế, các nguồn lực và năng lực của người chăm sóc bị giới
hạn. Trẻ nhỏ và người chăm sóc đang tiếp xúc ngày càng nhiều hơn với các loại
thực phẩm có giá trị dinh dưỡng thấp, bao gồm thực phẩm chế biến có nhiều
đường, muối, chất béo bão hòa và chất béo chuyển hóa, dễ tiếp cận và dễ cho trẻ
nhỏ ăn. Do đó, việc đẩy nhanh tiến độ cải thiện chất lượng thức ăn bổ sung và
thực hành nuôi dưỡng trẻ nhỏ là rất quan trọng, góp phần giúp trẻ tăng trưởng
tối ưu trong giai đoạn 1000 ngày đầu đời.
3.
Độ tuổi thích hợp bắt đầu cho trẻ ăn bổ sung 4
Trẻ cần được nuôi hoàn
toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu. Từ khi tròn 6 tháng tuổi (180 ngày sau
sinh), trẻ nhỏ vẫn cần tiếp tục được nuôi bằng sữa mẹ do sữa mẹ vẫn cung cấp
hơn một nửa nhu cầu dinh dưỡng của trẻ 6-11 tháng tuổi (a) và ít nhất một phần ba
nhu cầu dinh dưỡng của trẻ 12-23 tháng tuổi (b). Tuy nhiên, bắt đầu có
sự thiếu hụt về năng lượng do sữa mẹ không đáp ứng đầy đủ nhu cầu dinh dưỡng
của trẻ vì vậy cần cho trẻ ăn bổ sung ngoài sữa mẹ. Trẻ càng lớn thì sự thiếu
hụt càng tăng. Vì vậy đối với đa số trẻ, tròn 6 tháng tuổi là thời gian tốt để
bắt đầu ăn bổ sung. Trong thời kỳ ăn bổ sung, chức năng ăn uống của trẻ phát
triển từ bú sữa sang nhai và nuốt thức ăn. Lượng và loại thực phẩm trẻ ăn dần
tăng lên, hình thức chế biến và thực đơn cũng thay đổi. Hành vi ăn uống trở nên
độc lập hơn khi trẻ chuyển từ được đút ăn sang tự ăn. Ăn bổ sung từ 6 tháng
tuổi giúp trẻ phát triển, hoạt động tốt và khỏe mạnh.
Từ khi tròn 6 tháng
tuổi, trẻ cần được học cách ăn bột đặc dần hay các thức ăn nghiền. Các thức ăn
này cung cấp năng lượng nhiều hơn các thức ăn lỏng. Trẻ ăn bột đặc hay thức ăn
nghiền từ khi tròn 6 tháng tuổi dễ hơn vì trẻ có thể điều chỉnh lưỡi tốt hơn để
đưa thức ăn di chuyển trong miệng, bắt đầu nhai và dịch chuyển hàm lên xuống.
Ngoài ra, hệ tiêu hoá của trẻ đủ phát triển để tiêu hoá dần các loại thức ăn.
Nếu trẻ không được nuôi
bằng sữa mẹ (do một số lý do bắt buộc), nên sử dụng sữa phù hợp thay thế sữa mẹ
cho tới khi trẻ được 6 tháng tuổi, không nên cho ăn bổ sung sớm trước 6 tháng
tuổi.
Các nguy cơ khi bắt đầu
cho trẻ ăn thức ăn bổ sung sớm (trước 6 tháng):
- Làm cho trẻ ít bú sữa
mẹ, không cung cấp đủ dinh dưỡng đáp ứng nhu cầu của trẻ.
- Tăng nguy cơ suy dinh
dưỡng do hệ tiêu hóa chưa hoàn thiện nên không tiêu hóa và hấp thu được các
chất dinh dưỡng từ thức ăn bổ sung.
- Tăng nguy cơ mắc một
số bệnh vì thiếu các yếu tố bảo vệ có trong sữa mẹ.
- Tăng nguy cơ mắc tiêu
chảy do thức ăn bổ sung chế biến không đảm bảo hay không tiêu hóa dễ như sữa
mẹ.
- Tăng nguy cơ dị ứng
vì trẻ chưa thể tiêu hoá được một số chất có trong thức ăn.
- Tăng nguy cơ mang
thai của bà mẹ nếu không cho con bú hoàn toàn.
Các nguy cơ khi bắt đầu
cho trẻ ăn thức ăn bổ sung muộn (sau 8 tháng):
- Trẻ không nhận được
các thức ăn thêm để đáp ứng nhu cầu phát triển của trẻ.
- Trẻ không nhận đủ các
chất dinh dưỡng và các vi chất dinh dưỡng dẫn tới tăng nguy cơ bị suy dinh
dưỡng, còi xương, thiếu canxi, thiếu máu do thiếu sắt...
II. NỘI DUNG
1.
Nguyên tắc cho trẻ ăn bổ sung
Bắt đầu ăn bổ sung đúng
thời điểm và
tiếp tục bú mẹ: Trẻ cần được bắt đầu ăn bổ sung từ khi trẻ tròn 6 tháng tuổi và
tiếp tục bú mẹ đến 2 tuổi hoặc lâu hơn, nhằm đảm bảo cung cấp tối ưu các chất
dinh dưỡng và tăng cường miễn dịch cho trẻ.
Đảm bảo đủ số bữa,
lượng ăn và đậm độ năng lượng: Thức ăn bổ sung cần được cung cấp với tần
suất, số lượng và độ đặc phù hợp với lứa tuổi, tăng dần theo sự phát triển của
trẻ. Do dung tích dạ dày của trẻ còn nhỏ, khẩu phần ăn cần có đậm độ năng lượng
cao, tránh thức ăn quá loãng hoặc nghèo dinh dưỡng.
Đảm bảo đa dạng thực
phẩm,
ưu tiên thực phẩm giàu dinh dưỡng: Khẩu phần ăn bổ sung cần đa dạng, bao gồm
đầy đủ các nhóm thực phẩm. Việc đa dạng hóa thực phẩm giúp đáp ứng nhu cầu vi
chất thiết yếu, phòng ngừa suy dinh dưỡng và hỗ trợ tăng trưởng, phát triển
toàn diện của trẻ.
Ưu tiên thực phẩm tươi,
ít chế biến, hạn chế thực phẩm nghèo dinh dưỡng: Ưu tiên sử dụng thực
phẩm tươi, được chế biến tại gia đình từ nguồn thực phẩm sẵn có tại địa phương.
Cần hạn chế hoặc không sử dụng các thực phẩm chế biến sẵn, thực phẩm có hàm
lượng cao đường, muối, chất béo bão hòa và chất béo chuyển hóa do các thực phẩm
này làm giảm chất lượng khẩu phần và ảnh hưởng bất lợi đến sức khỏe lâu dài của
trẻ.
Không cho trẻ sử dụng
thực phẩm và đồ uống không có lợi cho sức khỏe. Việc tiêu thụ sớm các
sản phẩm này có thể làm tăng nguy cơ suy dinh dưỡng, thừa cân - béo phì và hình
thành thói quen ăn uống không lành mạnh.
Thực hành nuôi dưỡng
đáp ứng:
bao gồm khuyến khích trẻ ăn, quan sát và đáp ứng các tín hiệu đói - no của trẻ,
không ép ăn, không gây căng thẳng trong bữa ăn. Môi trường ăn uống tích cực góp
phần hình thành thói quen ăn uống lành mạnh và hỗ trợ sự phát triển tâm lý - xã
hội của trẻ.
Đảm bảo an toàn thực
phẩm và vệ sinh.
Thức ăn bổ sung phải được chuẩn bị, chế biến, bảo quản và cho ăn đảm bảo vệ
sinh và an toàn thực phẩm. Người chăm sóc cần rửa tay sạch trước khi chế biến
và cho trẻ ăn, sử dụng dụng cụ ăn uống sạch sẽ nhằm phòng ngừa các bệnh nhiễm
khuẩn và tiêu chảy ở trẻ nhỏ.
Sử dụng thực phẩm tăng
cường vi chất dinh dưỡng khi cần thiết: Trong những bối cảnh khẩu phần ăn không đáp
ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng, đặc biệt tại các vùng khó khăn hoặc nơi có tỷ lệ
thiếu vi chất cao, có thể sử dụng đa vi chất hoặc thực phẩm tăng cường vi chất
theo hướng dẫn chuyên môn. Việc sử dụng này cần được thực hiện kết hợp với tư
vấn nuôi dưỡng phù hợp, không thay thế cho khẩu phần ăn đa dạng và cân đối.
Bên cạnh đó cần theo
dõi tăng trưởng thường xuyên - kiểm tra cân nặng, chiều dài hằng tháng để
kịp thời phát hiện các dấu hiệu sớm của chậm tăng trưởng hoặc tăng trưởng quá
mức từ đó điều chỉnh chế độ ăn phù hợp để phòng tránh suy dinh dưỡng hoặc thừa
cân.
2.
Nhu cầu dinh dưỡng và sự phát triển của trẻ gắn với ăn bổ sung giai đoạn từ
6-23 tháng tuổi
2.1.
Nhu cầu dinh dưỡng của trẻ giai đoạn từ 6-23 tháng tuổi
Nhu cầu năng lượng cho
trẻ từ 6-23 tháng tuổi được xây dựng trên cơ sở tính toán năng lượng tiêu hao
cộng với bù năng lượng cho tăng trưởng ở trẻ nhỏ được thể hiện ở Bảng 1.
Tổng nhu cầu năng lượng
được tính trung bình cho trẻ trai và trẻ gái ở mức cân nặng trung bình theo
chuẩn tăng trưởng của WHO với khoảng giao động từ mức thấp đến mức cao cho từng
nhóm tuổi. Mức thấp được tính cho trẻ gái ở độ tuổi thấp nhất của nhóm và có
cân nặng theo tuổi thuộc nhóm thấp nhất (dưới 25th percentile) và mức cao được
tính cho trẻ trai ở độ tuổi cao nhất của nhóm và có cân nặng theo tuổi thuộc
nhóm cao nhất (trên 75th percentile). Năng lượng từ sữa mẹ được ước tính dựa
trên số lượng sữa mẹ là ít, trung bình hay nhiều. Năng lượng từ thức ăn bổ sung
là khoảng thiếu hụt giữa tổng nhu cầu năng lượng và năng lượng từ sữa mẹ.
Bảng
1. Nhu cầu năng lượng khuyến nghị của trẻ bú mẹ từ 6-23 tháng tuổi
|
Năng
lượng
|
6-8
tháng
|
9-11
tháng
|
12-23
tháng
|
|
SM
ít
(356ml)
|
SM
TB (677ml)
|
SM
nhiều
(998ml)
|
SM
ít
(257
ml)
|
SM
TB
(621ml)
|
SM
nhiều
(985
ml)
|
SM
ít
(147ml)
|
SM
TB
(567ml)
|
SM
nhiều
(987ml)
|
|
Tổng nhu cầu năng
lượng* (kcal/ngày)5,6
|
643
(518
- 776)
|
723
(598
- 848)
|
863
(650
- 1086)
|
|
Năng lượng từ sữa mẹ
(kcal/ngày)7
|
217
|
413
|
609
|
157
|
379
|
601
|
90
|
346
|
602
|
|
Năng lượng cần từ
thức ăn bổ sung (kcal/ngày)
|
426
|
230
|
34
|
566
|
344
|
122
|
773
|
517
|
261
|
Như vậy nếu
cân nặng theo tuổi của trẻ ở mức trung bình, ước tính lượng sữa mẹ ở mức trung
bình thì nhu
cầu năng lượng từ thức ăn bổ sung ở nhóm tuổi 6-8 tháng, 9-11 tháng và 12-23
tháng tương ứng là 230, 344 và 517 kcal/ngày. Nếu nhu cầu năng lượng của trẻ ở
mức thấp hay mức cao (phụ thuộc tuổi, giới tính và cân nặng theo tuổi của trẻ)
cũng như nếu trẻ được nuôi bằng sữa mẹ (hoặc sử dụng sữa công thức) nhiều hoặc
ít hơn mức trung bình thì lượng thức ăn bổ sung sẽ được điều chỉnh tương ứng.
Tỷ lệ phần trăm năng
lượng từ protein là 13-20% và từ lipid là 30-40% cho trẻ 6-23 tháng tuổi 8.
Nhu cầu Protein khuyến
nghị cho trẻ từ 6-23 tháng tuổi đã được cập nhật cho phù hợp với chất lượng
protein và thể trọng của trẻ em Việt Nam theo Bảng 2.
Bảng
2. Nhu cầu protein khuyến nghị cho trẻ từ 6-23 tháng tuổi
|
Nhóm
tuổi
|
Nhu
cầu protein tổng số
|
Nhu
cầu protein từ thức ăn bổ sung
|
|
Trẻ
trai
|
Trẻ
gái
|
|
g/kg/ngày
|
g/ngày
|
g/kg/ngày
|
g/ngày
|
g/ngày
|
|
6
- 8 tháng
|
-
|
15*
|
-
|
15*
|
5
|
|
9
- 11 tháng
|
-
|
25*
|
-
|
25*
|
15,5
|
|
12
- 23 tháng
|
1,63
|
20**
|
1,71
|
20**
|
11,5
|
* Mức tiêu thụ đủ (AI);
** Nhu cầu khuyến nghị (RDA)
Đối với Lipid, để đạt
được tỷ lệ 30-40% năng lượng khẩu phần (đến cả từ sữa và thức ăn bổ sung) từ
Lipid, nếu trẻ bú mẹ (hoặc sữa công thức) thì tỷ lệ phần trăm năng lượng từ
Lipid trong thức ăn bổ sung cần đạt tối thiểu 25%, nếu trẻ không sử dụng sữa
thì tỷ lệ này từ thức ăn bổ sung cần đạt tối thiểu 30% 7. Bảng 3 trình bày nhu
cầu Lipid khuyến nghị cho trẻ từ 6-23 tháng với cách tính nhu cầu Lipid được
tính ở mức trung bình (35% trong tổng năng lượng khẩu phần của từng lớp tuổi)
và lượng Lipid từ thức ăn bổ sung ở 2 mức là 25% và 30% trong tổng năng lượng
khẩu phần.
Bảng
3. Nhu cầu lipid khuyến nghị cho trẻ từ 6-23 tháng tuổi
|
Nhóm
tuổi
|
Nhu
cầu lipid khuyến nghị (g/ngày)
|
|
Nhu
cầu lipid tổng số
|
Nhu
cầu lipid từ thức ăn bổ sung
|
|
Mức
25%
|
Mức
30%
|
|
6
- 8 tháng
|
25,0
|
6,4
|
7,7
|
|
9
- 11 tháng
|
28,1
|
9,6
|
11,5
|
|
12
- 23 tháng
|
33,6
|
14,4
|
17,2
|
Nhu cầu dinh dưỡng
khuyến nghị cho người Việt Nam đưa ra đầy đủ nhu cầu khuyến nghị và ngưỡng tiêu
thụ tối đa cho các vitamin, chất khoáng và điện giải ở độ tuổi này. Tuy nhiên,
tài liệu này chỉ chọn lọc một số vi chất được WHO sử dụng khi xây dựng mô hình tối
ưu hóa chế độ ăn bổ sung của trẻ nhằm lập cơ sở cho Hướng dẫn về ăn bổ sung năm
2023 6. Các thành phần vi
chất dinh dưỡng khác tham khảo Nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị cho người Việt
Nam hiện hành. Bảng 4 trình bày nhu cầu các vi chất dinh dưỡng khuyến nghị cho
trẻ 6-23 tháng tuổi tính chung trong chế độ ăn của trẻ 8,9 .
Bảng
4. Nhu cầu các vi chất dinh dưỡng khuyến nghị cho trẻ từ 6-23 tháng tuổi
|
STT
|
Vi
chất
|
6-11
tháng
|
12-23
tháng
|
|
Trẻ
trai
|
Trẻ
gái
|
Trẻ
trai
|
Trẻ
gái
|
|
1.
|
Vitamin A (µg
RAE/ngày)
|
400
|
400
|
400
|
350
|
|
2.
|
Thiamin (B1) (mg/ngày)
|
0,2
|
0,2
|
0,5
|
0,5
|
|
3.
|
Riboflavin (B2) (mg/ngày)
|
0,4
|
0,4
|
0,6
|
0,5
|
|
4.
|
Vitamin B6 (mg/ngày)
|
0,3
|
0,3
|
0,5
|
0,5
|
|
5.
|
Folate (µg/ngày)
|
60
|
60
|
90
|
90
|
|
6.
|
Vitamin B12 (µg /ngày)
|
0,5
|
0,5
|
0,9
|
0,9
|
|
7.
|
Vitamin C (mg/ngày)
|
40
|
40
|
40
|
40
|
|
8.
|
Canxi (mg/ngày)
|
400
|
400
|
500
|
500
|
|
9.
|
Sắt (mg/ngày)*
|
9,0
|
8,3
|
5,4
|
5,1
|
|
10.
|
Kẽm (mg/ngày) **
|
4,1
|
4,1
|
4,1
|
4,1
|
|
11.
|
Natri (mg/ngày)
|
600
|
600
|
600
|
600
|
|
12.
|
Kali (mg/ngày)
|
700
|
700
|
900
|
900
|
* Loại khẩu phần có giá
trị sinh học sắt trung bình (khoảng 10% sắt được hấp thu).
** Loại khẩu phần có
giá trị sinh học kẽm trung bình (giá trị sinh học = 30%).
2.2.
Đặc điểm tăng trưởng của trẻ giai đoạn từ 6-23 tháng tuổi 10
Sự phát triển về cân
nặng và chiều dài của trẻ từ 6 tháng tuổi đến 23 tháng tuổi là một trong những
chỉ báo quan trọng phản ánh tình trạng dinh dưỡng và sức khỏe tổng thể của trẻ
trong giai đoạn ăn bổ sung. Giai đoạn này trẻ vẫn đang tiếp tục phát triển
nhanh cả về thể chất và trí tuệ, nhưng tốc độ tăng trưởng bắt đầu chậm lại so
với 6 tháng đầu.
Giai đoạn 6-23 tháng
tuổi có thể chia thành 3 độ tuổi, mỗi độ tuổi có tốc độ tăng trưởng khác nhau:
- Độ tuổi 6-8 tháng
tuổi: Tăng cân trung bình khoảng 300-400 g/tháng. Tăng chiều dài trung bình khoảng
1,4-1,6 cm/tháng. Đây là thời kỳ đầu tiên trẻ làm quen với thức ăn đặc. Sữa mẹ
vẫn là nguồn cung cấp năng lượng chủ yếu (khoảng 70-75%) trong khẩu phần ăn của
trẻ. Tăng trưởng có thể chậm lại nếu ăn bổ sung chưa phù hợp (khẩu phần nghèo
năng lượng, không đủ vi chất dinh dưỡng).
- Độ tuổi 9-11 tháng
tuổi: Tăng cân trung bình khoảng 200-300g/tháng. Tăng chiều dài trung bình khoảng
1,2-1,4 cm/tháng. Trẻ vận động nhiều hơn (bò, vịn, đứng…), tiêu hao năng lượng
tăng. Ăn bổ sung bắt đầu đóng vai trò chính trong đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng
của trẻ. Đây là giai đoạn dễ xuất hiện thiếu đồng thời nhiều vi chất dinh
dưỡng, đặc biệt là sắt và kẽm, ảnh hưởng đến tăng trưởng nếu khẩu phần ăn không
đầy đủ.
- Độ tuổi 12-23 tháng
tuổi: Tăng cân trung bình khoảng 200-300g/tháng. Tăng chiều dài trung bình khoảng
1,0-1,2 cm/tháng. Tốc độ tăng trưởng chậm lại nhưng nhu cầu về vi chất dinh
dưỡng vẫn cao do não bộ và hệ miễn dịch phát triển nhanh. Trẻ thường xuyên ốm
vặt, dễ chán ăn - dẫn đến nguy cơ suy dinh dưỡng thể thấp còi nếu chăm sóc
không phù hợp do nhu cầu năng lượng từ ăn bổ sung đã tăng lên.
Việc theo dõi cân nặng
và chiều dài hằng tháng giúp phát hiện sớm các dấu hiệu suy dinh dưỡng (thấp
còi, nhẹ cân, gầy còm) hoặc thừa cân - từ đó có biện pháp can thiệp kịp thời.
Biểu hiện khi tăng
trưởng không đạt chuẩn
- Cân nặng không tăng
liên tiếp 2-3 tháng là dấu hiệu cảnh báo nguy cơ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân
hoặc gầy còm.
- Chiều dài tăng rất
chậm (dưới 0,5 cm/tháng) là dấu hiệu có nguy cơ suy dinh dưỡng thể thấp còi.
- Mức tăng trưởng nằm
dưới -1SD theo chuẩn tăng trưởng của WHO là dấu hiệu NGUY CƠ suy dinh dưỡng cần
phải can thiệp. Dưới -2SD là biểu hiện của suy dinh dưỡng.
|
Thay
đổi tăng trưởng trong giai đoạn 6-23 tháng tuổi
Cân nặng tăng thêm khoảng
4-5 kg, chiều dài tăng thêm khoảng 18-20 cm. Giai đoạn này là "cửa sổ cơ
hội" (window of opportunity) để đảm bảo tăng trưởng tối ưu, vì nếu
chậm tăng trưởng, đặc biệt là thấp còi trước 2 tuổi, thì rất khó phục hồi
hoàn toàn về sau. 10
|
2.3.
Phát triển hệ thần kinh cơ, răng và hệ tiêu hóa của trẻ giai đoạn từ 6-23 tháng
tuổi
11
12 13
2.3.1. Phát triển hệ
thần kinh cơ 14
Sự trưởng thành của hệ
thần kinh - cơ có ảnh hưởng sâu sắc đến cách tiếp cận cho trẻ ăn bổ sung. Nhiều
phản xạ nguyên thủy vùng miệng ở các giai đoạn phát triển khác nhau có thể hỗ
trợ hoặc cản trở việc tập cho trẻ ăn các loại thực phẩm mới. Khi các phản xạ
xuất hiện hay biến mất là dấu hiệu trẻ đã sẵn sàng về mặt thể chất để xử lý các
loại thực phẩm từ dạng lỏng đến thức ăn nghiền, thức ăn băm nhỏ/cầm tay đến
thức ăn gia đình.
Trẻ em xử lý thức ăn
qua các giai đoạn: bú, mút, nhai nhẹ (nhấm nháp), nhai thực sự. Ngay từ khi
sinh, cấu trúc hầu họng buộc lưỡi chuyển động theo kiểu duỗi - rụt, tạo ra động
tác bú/mút. Sữa được hút ra nhờ áp lực âm do miệng tạo ra, gọi là “bú thực sự”.
Khi bắt đầu ăn bổ sung với thức ăn mềm hoặc nghiền, trẻ thường mút từ thìa hoặc
tay người cho ăn. Khoảng 5 tháng tuổi, bắt đầu xuất hiện cử động nhai lên -
xuống của hàm. Cử động lưỡi sang ngang (đưa thức ăn đến răng hàm) xuất hiện từ
8-12 tháng. Đến 12-18 tháng mới xuất hiện cử động nhai xoay tròn cần thiết để
xử lý thịt và rau quả dai, trẻ có thể nhai bằng nướu do chưa mọc đủ răng sữa.
Nghiên cứu cho thấy dù trẻ nhỏ có thể tiêu hóa được nhiều loại thức ăn, nhưng
hiệu suất ăn uống (tốc độ và hiệu quả tiêu thụ) thay đổi theo độ tuổi. Trẻ nhỏ
cần thời gian lâu hơn để ăn các loại thực phẩm đặc và sệt. Trẻ 6 tháng hầu như
chưa ăn được thực phẩm đặc như trẻ lớn và hiệu quả cải thiện rõ rệt theo tuổi
đối với thực phẩm cứng hơn.
2.3.2. Phát triển răng
Trẻ thường bắt đầu mọc
chiếc răng sữa đầu tiên vào khoảng sau 6 tháng tuổi. Đến khoảng 23-24 tháng
tuổi, trẻ có thể mọc đủ từ 12-16 chiếc răng. Khoảng 36 tháng tuổi, trẻ sẽ mọc
đủ 20 chiếc răng sữa ở cả hàm trên và hàm dưới, tuy nhiên có sự khác biệt tùy
từng trẻ. Trình tự mọc răng phổ biến như sau:
- 6-10 tháng tuổi: Răng
cửa giữa (hàm dưới trước, sau đó hàm trên).
- 9-13 tháng tuổi: Răng
cửa bên.
- 13-19 tháng tuổi:
Răng hàm đầu tiên.
- 16-23 tháng tuổi:
Răng nanh.
Quá trình mọc răng giúp
trẻ bắt đầu nhai, cắn, nghiền thức ăn, đây là nền tảng để chuyển từ thức ăn mềm
sang thô dần. Khi mọc răng, trẻ có thể bị sốt nhẹ, chảy dãi, biếng ăn, khó
chịu. Vệ sinh răng miệng từ sớm rất quan trọng, nhất là khi bắt đầu ăn bổ sung
để phòng ngừa sâu răng sớm.
2.3.3. Phát triển hệ
tiêu hóa
Sự trưởng thành về chức
năng của hệ tiêu hóa bao gồm ống tiêu hóa và tuyến tiêu hóa. Chức năng của
miệng được hoàn thiện hơn nhờ sự phát triển của hệ thần kinh cơ và răng như mô
tả ở trên. Kích thước dạ dày của trẻ cũng to dần, thường tỷ lệ thuận với kích
thước cơ thể (ước tính khoảng 30 ml cho 1 kg thể trọng, nếu trẻ 1 tuổi có cân
nặng trung bình 8 kg thì thể tích dạ dày khoảng 240 ml)15. Tuyến nước bọt là một
tuyến quan trọng trong hệ tiêu hóa, tiết ra amylase để tiêu hóa tinh bột ngay
từ trong miệng, tạo ra cảm giác ngon miệng. Nước bọt có chất nhầy có tác dụng
bảo vệ niêm mạc miệng, làm trơn miếng thức ăn để khi nuốt thức ăn dễ trôi qua
thực quản xuống dạ dày và góp phần làm nhuyễn thức ăn trong dạ dày. Từ 6 tháng
tuổi, hệ tiêu hóa của trẻ đã dần hoàn thiện để tiêu hóa tinh bột phức tạp (nhờ
tăng men amylase tụy), tiêu hóa đạm động vật (nhờ enzym protease và axit dạ dày
hoạt động hiệu quả hơn) và tiêu hóa chất béo (nhờ tăng tiết mật và men lipase
dịch vị). Niêm mạc ruột và các tuyến của hệ tiêu hóa chưa hoàn thiện nên trẻ
chưa tiêu hóa được nhiều loại thực phẩm vì vậy trẻ dễ bị rối loạn tiêu hóa. Bên
cạnh đó, trẻ đang trong giai đoạn có khoảng trống miễn dịch do hệ miễn dịch
chưa hoàn thiện nên trẻ dễ bị nhiễm khuẩn tiêu hóa khi trẻ ăn phải thức ăn
nhiễm khuẩn.
Về hệ vi sinh đường
ruột, ở giai đoạn dưới 6 tháng tuổi, do thức ăn của trẻ là sữa mẹ (hoặc sữa
công thức) nên hệ vi sinh còn chưa phong phú, chủ yếu là nhóm Bifidobacterium,
thành phần oligosaccharide từ sữa mẹ giúp nuôi các vi khuẩn này. Khi trẻ bắt
đầu ăn bổ sung, hệ vi sinh chuyển dịch đáng kể, sự đa dạng tăng lên, thành phần
vi khuẩn thay đổi, tăng vi khuẩn có khả năng phân hủy chất xơ và carbohydrate
tốt hơn giai đoạn trước. Môi trường đường ruột chuyển từ “chủ yếu sữa” sang “đa
dạng thức ăn” nên vi sinh vật phải thích ứng với tiêu hóa protein, chất xơ,
tinh bột, thực phẩm rắn nhiều hơn. Hệ vi sinh đường ruột đặc biệt chịu ảnh
hưởng bởi loại thức ăn bổ sung (nếu sử dụng các thực phẩm lên men, chất xơ hòa
tan) và việc tiếp tục nuôi bằng sữa mẹ vì có tác dụng bảo vệ và tạo điều kiện
thuận lợi cho vi sinh vật có lợi hoặc tình trạng sử dụng kháng sinh hoặc các
bệnh lý về đường ruột như tiêu chảy kéo dài dẫn đến phá vỡ cân bằng hệ vi sinh16.
Bảng
5. Phát triển răng miệng và hệ tiêu hóa theo độ tuổi
|
Độ
tuổi
|
Răng
|
Miệng
|
Hệ
tiêu hóa
|
Khuyến
nghị thực phẩm
|
|
6-8
tháng
|
Bắt đầu mọc răng cửa
|
Biết mở miệng khi đưa
thìa vào, có thể dùng môi trên và dưới để lấy thức ăn trên thìa, di chuyển
các loại thức ăn mềm mịn hoặc được nghiền vào phía sau lưỡi và nuốt. Khi trẻ
có thể tự ngồi: Giữ thức ăn trong miệng, đẩy thức ăn vào hàm bằng lưỡi,
nhai/nghiền thức ăn theo chuyển động lên xuống.
|
Hệ tiêu hóa trưởng
thành dần nhưng vẫn còn non nớt
|
Bột, cháo xay, thực
phẩm nghiền mềm.
|
|
9-11
tháng
|
Có từ 4-8 răng
|
Cầm bắt thức ăn đưa
vào miệng, trẻ dùng môi trên và môi dưới kẹp thức ăn trên thìa và kéo để đưa
thức ăn vào miệng, cắn thức ăn bằng nướu răng; với chuyển động quay, chuyển
thức ăn bằng lưỡi đến răng; biết cong môi quanh cốc. Kiểm soát thức ăn trong
miệng tốt hơn, nhai tốt hơn.
|
Enzym tiêu hóa tăng
|
Cháo đặc, thức ăn băm
nhỏ, bắt đầu ăn thức ăn thô, thức ăn cầm tay.
|
|
12-23
tháng
|
Mọc răng hàm, răng nanh
|
Tự dùng dụng cụ bằng
tay, khả năng nhai được cải thiện, nhai xoay tròn, hàm ổn định, cải thiện
việc uống cốc, tăng hứng thú với thức ăn, trẻ bắt đầu muốn tự ăn và không
thích được đút. Bên cạnh đó hiện tượng sợ điều mới lạ (trẻ cảnh giác và từ
chối các loại thức ăn mới) cũng bắt đầu xuất hiện.
|
Dạ dày lớn hơn, hệ vi
sinh đường ruột ổn định hơn
|
Ăn cơm nát, thịt thái
nhỏ, thức ăn gia đình chế biến phù hợp.
|
Ý nghĩa thực hành
- Từ 6 tháng tuổi: Trẻ
có thể ăn được thực phẩm khác ngoài sữa, nhưng thức ăn cần nghiền nhỏ, tan được
trong miệng, dễ tiêu hóa (bột, cháo loãng rồi đặc dần), chia nhỏ bữa ăn để phù
hợp với dung tích dạ dày nhỏ (~ 200 ml) và sử dụng thận trọng các thực phẩm dễ
gây dị ứng, nhiễm khuẩn.
- Từ 9 tháng trở đi:
Trẻ có thể dần dần ăn thức ăn cứng hơn nhờ có răng và khả năng nhai tốt hơn.
- Từ 18 tháng tuổi: Trẻ
có thể ăn cùng gia đình (nhưng thức ăn vẫn cần điều chỉnh độ thô và cách chế
biến phù hợp).
2.4.
Phát triển tâm vận động với hành vi ăn uống của trẻ giai đoạn 6-23 tháng tuổi 17, 18
Phát triển tâm vận động
(psychomotor development) là quá trình trẻ hoàn thiện vận động thô: kỹ
năng dùng toàn bộ cơ thể (lẫy, bò, đi, chạy...), vận động tinh: sử dụng các cơ
nhỏ (cầm nắm, chỉ tay, bốc thức ăn...) và phối hợp cảm giác - vận động: nhìn -
chạm - cử động. Đây là quá trình gắn liền với phát triển trí tuệ và cảm xúc.
Bảng
6.
Các giai đoạn phát triển tâm vận động từ 6-23 tháng tuổi
|
Độ
tuổi
|
Vận
động thô
|
Vận
động tinh - cảm giác
|
Tâm
lý liên quan
|
|
6-8 tháng
|
Biết lẫy, ngồi có hỗ
trợ, bắt đầu trườn/bò
|
Với đồ vật, chuyền đồ
từ tay này sang tay kia
|
Bắt đầu nhận biết vật
thể, thích khám phá bằng miệng
|
|
9-11 tháng
|
Tự ngồi vững, bò
nhanh, bắt đầu đứng vịn, có thể đi men theo tường
|
Biết bốc bằng ngón
trỏ - cái, bắt đầu tự cầm thìa, vỗ tay
|
Bắt chước hành vi
người lớn, thích giao tiếp khi ăn
|
|
12-18 tháng
|
Đi độc lập, ngồi xổm,
leo bậc thang có hỗ trợ
|
Cầm nắm chắc, xếp
khối, tự xúc ăn vụng về
|
Thể hiện sự tự lập,
dễ phản kháng nếu bị can thiệp
|
|
19-23 tháng
|
Chạy, leo trèo, đá
bóng nhẹ, nhảy chập chững
|
Xếp chồng 4-6 khối,
vẽ nguệch ngoạc, dùng thìa tốt hơn
|
Có “cái tôi”, biết
chọn món ăn, thích tự quyết định
|
Ý nghĩa thực hành
- Giai đoạn từ 6-8
tháng: Bắt đầu tập bốc thức ăn mềm (finger food), tăng cơ hội luyện ngón
tay.
- Giai đoạn từ 9-11
tháng: Trẻ bốc thức ăn bằng tay và bắt đầu tập cho trẻ cầm thìa ăn, giúp phát
triển phối hợp tay - mắt.
- Từ 12 tháng trở đi:
Khuyến khích trẻ ngồi bàn ăn, có chỗ ngồi riêng, hỗ trợ khả năng kiểm soát vận
động khi ăn.
Gợi ý: có thể cho trẻ
chơi các trò như xếp hình, lăn bóng … để tăng khả năng tâm vận động liên quan
đến ăn uống.
2.5.
Phát triển tâm lý với hành vi ăn uống của trẻ giai đoạn 6-23 tháng tuổi 20-22
Giai đoạn từ 6 tháng
tuổi đến 23 tháng tuổi là thời kỳ chuyển tiếp từ phụ thuộc hoàn toàn vào người
chăm sóc sang hình thành tính độc lập ban đầu. Trẻ phát triển nhanh về cảm xúc,
ngôn ngữ, nhận thức và kỹ năng xã hội - ảnh hưởng trực tiếp đến hành vi ăn
uống, khả năng giao tiếp khi đói, no, thích hay không thích thực phẩm.
Bảng
7.
Các giai đoạn phát triển tâm lý từ 6-23 tháng và hành vi ăn uống liên quan
|
Giai
đoạn
|
Phát
triển tâm lý
|
Hành
vi điển hình liên
quan đến ăn uống
|
|
6-8
tháng
|
Khả năng nhận biết
người khác bắt đầu hình thành (nhận ra mẹ, người lạ), biểu hiện cảm xúc rõ
rệt qua tiếng khóc, nét mặt. Biết chơi trò đơn giản (vỗ tay, lắc lư theo
nhạc).
|
Phản ứng với mùi, vị,
kết cấu thức ăn lạ; dễ quấy khóc khi không hợp khẩu vị
|
|
9-11
tháng
|
Trẻ bắt đầu biết bắt
chước hành vi người lớn (ăn, uống, vẫy tay chào…). Thích quan sát người khác
nhưng chưa chơi cùng. Hình thành cảm giác gắn bó với người chăm sóc (lo lắng
khi bị tách khỏi mẹ).
|
Đòi bắt chước người
lớn, phản ứng rõ khi thích hoặc ghét thức ăn, đòi chọn thức ăn.
|
|
12-18
tháng
|
Biết sử dụng từ đơn,
bắt đầu gọi tên đồ vật, người quen. Xuất hiện hiện tượng “khủng hoảng tuổi
lên 2” sớm (thay đổi tâm lý, bướng bỉnh nhẹ).
|
Có xu hướng tự lập
trong ăn uống: muốn tự bốc thức ăn, cầm thìa, phản kháng nếu bị ép ăn.
|
|
19-23
tháng
|
Trẻ bắt đầu hình
thành "cái tôi" mạnh mẽ: thích tự làm mọi việc. Có khả năng tham
gia trò chơi đóng vai, bắt chước hành vi chăm sóc (bón búp bê ăn...). Biết
nói câu đơn giản (2-3 từ), hiểu yêu cầu đơn giản (“lại đây”, “ăn đi”...).
|
Dễ khó chịu khi bị
thay đổi thói quen ăn uống hoặc môi trường xung quanh. Kén ăn nhất thời, đòi
ăn món quen.
|
Ý nghĩa thực hành
- Giai đoạn 6-8 tháng:
Giới thiệu món mới từ từ, duy trì không khí vui vẻ khi ăn.
- Giai đoạn 9-11 tháng:
Cho trẻ ăn cùng bàn, để trẻ quan sát người lớn ăn.
- Giai đoạn 12-18
tháng: Khuyến khích trẻ tự lập, kiên nhẫn hỗ trợ trẻ trong ăn uống.
- Giai đoạn 19-23
tháng: Duy trì thói quen ăn đều đặn, tránh ép buộc trẻ ăn.
Phát triển tâm lý trong
giai đoạn này không đồng đều giữa các trẻ, nhưng có một số quy luật chung có
thể dự báo và hỗ trợ. Sự thay đổi hành vi ăn uống không chỉ là vấn đề sinh lý
mà còn liên quan đến tâm lý đang phát triển, đòi hỏi người chăm sóc phải thấu
hiểu và thích nghi. Cần tạo môi trường ăn tích cực, khuyến khích giao tiếp, lựa
chọn thực phẩm phong phú, an toàn, phù hợp với tuổi và tôn trọng cảm xúc của
trẻ để góp phần giúp ăn bổ sung thành công.
|
Ăn bổ sung là giai đoạn
chuyển tiếp quan trọng từ 6-23 tháng tuổi, khi sữa mẹ không còn đáp ứng đủ
nhu cầu dinh dưỡng của trẻ. Ăn bổ sung đúng thời điểm, đủ lượng, đa dạng,
an toàn và phù hợp với sự phát triển sinh lý - tâm vận động giúp trẻ tăng
trưởng tối ưu, phòng suy dinh dưỡng, thiếu vi chất và hình thành thói quen ăn
uống lành mạnh lâu dài. Giai đoạn này là “cửa sổ cơ hội” quyết định tầm vóc,
sức khỏe và phát triển trí tuệ của trẻ về sau.
Giai đoạn 6-23 tháng
tuổi, trẻ có nhu cầu dinh dưỡng cao trong khi dung tích dạ dày còn nhỏ.
Trẻ cần được đáp ứng đủ năng lượng, protein, chất béo và các vi chất thiết yếu
(đặc biệt sắt, kẽm, vitamin A) từ sữa mẹ và thức ăn bổ sung. Đồng thời, trẻ
phát triển nhanh về tăng trưởng thể chất, hệ tiêu hóa, răng miệng, vận động
và tâm lý, quyết định khả năng nhai-nuốt và hành vi ăn uống. Ăn bổ sung
phù hợp với từng giai đoạn phát triển là yếu tố then chốt giúp trẻ tăng
trưởng tối ưu và phòng suy dinh dưỡng.
|
3.
Chế độ ăn bổ sung cho trẻ từ 6 tháng tuổi đến 23 tháng tuổi
3.1.
Thức ăn bổ sung
3.1.1. Chế độ ăn đa
dạng
Chế độ ăn đa dạng là
các bữa ăn có các thực phẩm đến từ nhiều nhóm thực phẩm khác nhau mỗi ngày. Mỗi
bữa ăn nên có đủ 4 nhóm thực phẩm chính, bao gồm:
- Nhóm thực phẩm cung
cấp chất bột đường: gạo, ngô, khoai, sắn... được chế biến phù hợp cho trẻ nhỏ.
- Nhóm thực phẩm cung
cấp chất đạm: thịt các loại, cá và hải sản, trứng, sữa và các chế phẩm từ sữa,
đậu, đỗ...
- Nhóm thực phẩm cung
cấp chất béo: dầu ăn/mỡ, lạc, vừng, các loạt hạt...
- Nhóm rau và trái cây:
rau lá, rau củ, trái cây. Ưu tiên chọn rau lá tươi màu xanh thẫm, củ quả có màu
vàng, màu đỏ.
Thay đổi món ăn thường
xuyên, phối hợp giữa thức ăn nguồn động vật và thực vật, tránh lặp lại một loại
thực phẩm trong nhiều ngày, đảm bảo đa dạng theo mùa và tận dụng thực phẩm tại
địa phương. Trẻ nhỏ cần được tiêu thụ nhiều loại thực phẩm khác nhau để đáp ứng
nhu cầu dinh dưỡng, vi chất dinh dưỡng và tiếp cận với nhiều loại hương vị và
kết cấu thực phẩm khác nhau.
3.1.2. Đậm độ năng
lượng
Đậm độ năng lượng (energy
density) là lượng năng lượng (kcal) có trong một đơn vị khối lượng hoặc thể
tích thực phẩm, thường tính theo kcal/100 g (hoặc kcal/100 ml). Thức ăn bổ sung
nên có đậm độ năng lượng cao hơn sữa mẹ, từ 0,8 kcal/gam (trẻ dưới 1 tuổi) cho
đến 1 kcal/gam. Trẻ nhỏ có thể tích dạ dày hạn chế do đó cần được ăn nhiều bữa
nhỏ có đậm độ năng lượng cao để có thể tăng tối đa năng lượng ăn vào ở mỗi bữa.
Nếu thức ăn bổ sung có đậm độ năng lượng cao hơn thì cần một lượng nhỏ hơn để
bù đắp lượng năng lượng còn thiếu. Thức ăn bổ sung có đậm độ năng lượng thấp
hơn thì cần một thể tích lớn hơn để bù đắp đủ năng lượng. Ví dụ một khẩu phần
ăn bổ sung cần cung cấp 200 kcal, nếu khẩu phần ăn có đậm độ năng lượng là 1
kcal/gam thì bữa ăn bổ sung chỉ cần xấp xỉ 200 gam (tương đương với 1 bát con)
là cung cấp đủ năng lượng cần thiết, nhưng nếu đậm độ năng lượng thấp hơn, chỉ
cung cấp 0,6 kcal/gam thì cần bữa ăn bổ sung lên tới xấp xỉ 330 gam (tương
đương hơn 1,5 bát con) và trẻ sẽ không ăn hết khẩu phần do dạ dày bé.
Năng lượng trong bữa ăn
của trẻ được cung cấp từ các thực phẩm giàu chất đạm, chất béo và chất bột
đường. Các loại thức ăn chế biến từ ngũ cốc (bột, cháo) chủ yếu cung cấp chất
bột đường có thể giúp đỡ đói nhưng sẽ không cung cấp đủ protein và các vi chất
dinh dưỡng. Cần cho trẻ ăn thực phẩm giàu năng lượng và giàu dinh dưỡng với số
lượng hợp lý theo lứa tuổi để bù đắp vào lượng thiếu hụt giữa dinh dưỡng của
sữa mẹ và nhu cầu của trẻ ở độ tuổi này 22,23.
3.1.3. Ăn thức ăn có
nguồn gốc động vật, rau và trái cây hàng ngày
Thực phẩm nguồn gốc
động vật (thịt, cá, trứng, sữa) là nguồn cung cấp protein chất lượng cao và các
axit béo thiết yếu nên cần đưa sớm vào bữa ăn bổ sung của trẻ, là những thực
phẩm đầu tiên của trẻ và nên cho trẻ ăn hàng ngày. Các thực phẩm này cũng là
nguồn cung cấp các chất dinh dưỡng quan trọng khác như sắt, kẽm, vitamin B12 và canxi 24,25. Trái cây và rau là
thành phần thiết yếu của chế độ dinh dưỡng và là nguồn cung cấp đầy đủ vitamin,
chất khoáng, chất xơ và chất chống oxy hóa 26. Tiêu thụ rau và trái cây hàng ngày
giúp đảm bảo hấp thụ đủ các chất dinh dưỡng thiết yếu.
3.1.4. Chất béo trong
bữa ăn bổ sung của trẻ
Chất béo đóng vai trò
quan trọng trong chế độ ăn của trẻ nhỏ vì nó cung cấp các axit béo và hỗ trợ
hấp thu các vitamin tan trong chất béo (A, D, E, K), tăng đậm độ năng lượng và
cảm quan của thực phẩm. Chất béo có nhiều trong thịt, cá, trứng, sữa và các
loại hạt. Với trẻ ăn bổ sung và vẫn tiếp tục được nuôi bằng sữa mẹ thì sữa mẹ
vẫn là một nguồn cung cấp chất béo quan trọng, tùy thuộc lượng sữa mẹ nhiều hay
ít mà điều chỉnh lượng chất béo từ thức ăn bổ sung cho phù hợp (sữa mẹ nhiều
thì lượng chất béo trong thức ăn bổ sung không cần quá nhiều). Cần tiêu thụ
lượng chất béo hợp lý, không quá ít để đảm bảo đủ các axit béo và năng lượng
cần thiết nhưng cũng không quá nhiều dẫn đến nguy cơ trẻ bị thừa cân và mắc các
bệnh mạn tính không lây khi trưởng thành. Nên sử dụng các axit béo chuỗi dài
không bão hòa có nhiều ở cá, hải sản, các loại hạt, đậu nành và dầu thực vật
giúp thúc đẩy phát triển nhận thức và vận động ở trẻ em. Chất béo chuyển hóa
thường có trong thực phẩm chế biến thì nên tránh do có liên quan đến tình trạng
viêm ở trẻ và bệnh mạn tính khi trưởng thành.
Bên cạnh đó, tăng đậm
độ năng lượng của thức ăn bổ sung bằng cách tăng cường chất béo cũng đồng nghĩa
là giảm đậm độ của protein (tỷ lệ % năng lượng cung cấp từ protein trong tổng
số năng lượng) và đậm độ của các vi chất dinh dưỡng quan trọng khác (như sắt,
kẽm). Đối với những cá thể hoặc cộng đồng có nguy cơ thiếu vi chất cao thì cần
lưu ý bổ sung hoặc tăng cường vi chất 3,27.
3.1.5. Sử dụng thực
phẩm tăng cường hoặc vi chất dinh dưỡng khi cần thiết
Mặc dù thực phẩm giàu
dinh dưỡng, chế biến tại nhà và có sẵn tại địa phương luôn được lựa chọn nhiều
hơn nhưng khó có thể đáp ứng được nhu cầu dinh dưỡng của trẻ trong bối cảnh tại
một số nơi bị thiếu an ninh thực phẩm hoặc chế độ ăn còn chủ yếu từ nguồn thực
vật 27. Ngay cả khi thức ăn
của trẻ có thực phẩm nguồn gốc động vật thì với lượng thức ăn mà trẻ có khả
năng ăn được cũng không đáp ứng được nhu cầu thiếu hụt của một số chất dinh
dưỡng như sắt, kẽm. Trong hoàn cảnh đó, thực phẩm được tăng cường vi chất (có
chứa sắt) có thể bù đắp được khoảng trống hoặc có thể sử dụng đa vi chất (MNP)
để tăng cường chất lượng thức ăn bổ sung tại nhà 28. Các thực phẩm được
tăng cường vi chất (ngũ cốc, bột dinh dưỡng) cũng có thể là nguồn cung cấp vi
chất dinh dưỡng quan trọng và cần đáp ứng các tiêu chuẩn quốc gia và quốc tế về
thực phẩm bổ sung 29.
3.1.6. Tránh các loại
thực phẩm và đồ uống có giá trị dinh dưỡng thấp và các thực phẩm có nhiều
đường, muối và chất béo chuyển hóa
Những thực phẩm không
lành mạnh có giá trị dinh dưỡng thấp và các thực phẩm có nhiều đường, muối và
chất béo chuyển hóa như đồ uống có đường, kẹo, khoai tây chiênchỉ cung cấp năng
lượng là chủ yếu, trong khi đó lại có thể làm giảm việc bú mẹ và làm giảm cảm
giác thèm ăn của trẻ với các loại thực phẩm bổ dưỡng hơn. Việc trẻ nhỏ tiêu thụ
đồ uống có đường có liên quan đến việc tăng cân và có nguy cơ thừa cân béo phì 30. Nước ép trái cây, đặc
biệt là nước ép chế biến nên được tiêu thụ ở mức độ vừa phải vì chúng chứa
nhiều đường tự do. Một số thực phẩm sản xuất thương mại có xu hướng có vị ngọt
và khi tiêu thụ thường xuyên sẽ làm trẻ ít hứng thú với việc thử các món ăn gia
đình, trải nghiệm các hương vị và kết cấu thực phẩm tự nhiên mới.
3.1.7. Tránh thêm đường
vào thức ăn/nước uống
Cha mẹ/người chăm sóc
trẻ nên tránh cho thêm đường vào thức ăn và nước uống chuẩn bị tại nhà để cải
thiện hương vị cho thực phẩm. Đường có thể góp phần mang đến năng lượng dư thừa
và dẫn đến sâu răng cho trẻ. Việc tiêu thụ đồ ăn ngọt cũng góp phần tạo nên sở
thích đối với những thực phẩm này, có khả năng hình thành sở thích về đồ ngọt
suốt đời.
3.1.8. Tiếp tục cho trẻ
bú mẹ
Trẻ nên tiếp tục được
bú mẹ thường xuyên, theo nhu cầu cho đến khi được 24 tháng tuổi hoặc lâu hơn.
Tiếp tục bú mẹ trong suốt thời kỳ ăn bổ sung giúp cung cấp chất béo, protein
thiết yếu và các chất dinh dưỡng quan trọng khác. Trẻ em từ 12-23 tháng tuổi
nếu tiếp tục được bú mẹ (với lượng trung bình 550 ml/ngày) sẽ nhận được từ
35-40% năng lượng cần thiết từ sữa mẹ. Đây là nguồn dinh dưỡng quan trọng đặc
biệt là khi trẻ bị bệnh khiến trẻ không chịu ăn các thức ăn khác, cung cấp dịch
tránh mất nước và có thể giúp trẻ sớm hồi phục sau khi khỏi bệnh.
Bằng chứng cho thấy trẻ
từ 6 đến 23 tháng tuổi không được bú sữa mẹ có nguy cơ tử vong do mọi nguyên
nhân và tử vong liên quan đến nhiễm khuẩn cao hơn so với trẻ em được bú sữa mẹ 31. Các nghiên cứu ở các
quốc gia có thu nhập cao đã chỉ ra rằng việc cho con bú sau 4 tháng tuổi có
liên quan đến việc giảm nguy cơ trẻ thừa cân và béo phì 32-34. Cho con bú cũng liên
quan đến cải thiện sự phát triển nhận thức 35.
Đối với trẻ không được
bú mẹ
Sữa có nguồn gốc động
vật và các sản phẩm từ sữa là một phần trong chế độ ăn đa dạng và có thể giúp
đảm bảo cung cấp đủ vi chất dinh dưỡng, đặc biệt cho trẻ không bú mẹ và khi
nguồn thực phẩm từ động vật khác (thịt, cá, trứng) bị hạn chế. Bà mẹ cần lựa
chọn các loại sữa phù hợp với tình trạng dinh dưỡng và sức khỏe của trẻ hoặc
tham khảo ý kiến chuyên môn của cán bộ y tế. Các sản phẩm từ sữa như sữa thanh
trùng, sữa hoàn nguyên, sữa lên men hoặc sữa chua đều có thể sử dụng. Hạn chế
dùng sữa có đường, sữa đặc có đường hoặc sữa có hương vị nhân tạo (flavoured/sweetened
milk). Cần đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm khi bảo quản, pha chế và cho
trẻ sử dụng sữa.
3.1.9. Cung cấp nước
trong chế độ ăn bổ sung của trẻ
Nhu cầu nước của trẻ phụ
thuộc vào cân nặng của trẻ 8.
|
Trẻ em dưới 10 kg
|
100 ml/kg cân
nặng/ngày
|
|
Trẻ em từ 10 - 20 kg
|
1.000 ml + 50 ml/kg
cho mỗi kg tăng lên sau 10 kg
|
Tùy thuộc trẻ còn bú mẹ
hay không mà cung cấp lượng nước cho phù hợp. Dùng nước sạch đun sôi để nguội.
Tránh nước ngọt, nước có đường, trà, nước ép trái cây nguyên chất nhất là trẻ
dưới 1 tuổi.
Trẻ 6-11 tháng: Khi bắt
đầu ăn bổ sung, có thể cho uống thêm nước đun sôi để nguội. Với số lượng khoảng
từ 50-100 ml/ngày (trẻ 6-8 tháng), từ 120-180 ml/ngày (trẻ 9-11 tháng), chia
vài lần nhỏ (sau bữa ăn), không tính nước trong sữa mẹ và thức ăn. Nước không
thay thế sữa mẹ; vẫn tiếp tục bú theo nhu cầu. Lưu ý cho uống theo nhu cầu,
không ép trẻ uống.
Trẻ 12-23 tháng: Nhu
cầu nước tăng theo ăn uống và vận động. Lượng tham khảo: khoảng 250-350 ml/ngày
từ nước uống, chưa tính nước trong sữa mẹ và thức ăn. Tiếp tục bú mẹ đến 24
tháng hoặc lâu hơn.
Cho trẻ uống nước từng
ngụm nhỏ nhiều lần trong ngày, nhất là sau bữa ăn hoặc khi trời nóng, vận động
nhiều. Trẻ bị bệnh (sốt, tiêu chảy) cần tăng nước uống, có thể dùng các dung
dịch bù điện giải theo đúng hướng dẫn. Theo dõi dấu hiệu đủ nước: nước tiểu
nhạt màu, đi tiểu ≥ 3-4 lần/ngày, trẻ tỉnh táo. Đảm bảo vệ sinh nguồn nước và
dụng cụ uống để phòng tiêu chảy.
3.2.
Cách cho trẻ ăn bổ sung
3.2.1. Thời điểm ăn bổ
sung
Trẻ nhỏ cần được bú mẹ
hoàn toàn từ khi sinh cho đến khi trẻ 6 tháng tuổi. Tròn 6 tháng tuổi (180
ngày) là thời điểm tối ưu để bắt đầu ăn bổ sung vì nhu cầu dinh dưỡng của trẻ
vượt quá khả năng đáp ứng của sữa mẹ hoặc sữa công thức (đối với trẻ không bú
mẹ) và trẻ bắt đầu phát triển kỹ năng vận động miệng và tiêu hóa phù hợp để
tiếp nhận thức ăn đặc hơn sữa. Đây là giai đoạn quan trọng để hình thành thói
quen ăn uống lành mạnh, đa dạng và ngăn ngừa thiếu hụt vi chất dinh dưỡng.
Tuy nhiên, có một số
trường hợp có thể cân nhắc cho trẻ ăn bổ sung trước thời điểm này nhưng cần có
đánh giá và hỗ trợ từ cán bộ y tế như trẻ có nguy cơ thiếu sắt cao, trẻ không
tăng cân đầy đủ mặc dù đã được bú mẹ hoặc uống sữa công thức đúng cách, trẻ có
dấu hiệu đói thường xuyên, thức dậy nhiều lần vào ban đêm do đói dù lượng sữa
đã đạt khuyến nghị theo lứa tuổi, trẻ có chỉ định y tế đặc biệt như mắc một số
bệnh mạn tính ảnh hưởng đến hấp thu hoặc chuyển hóa. Không tự ý cho trẻ ăn bổ
sung trước 6 tháng tuổi nếu không có chỉ định từ cán bộ y tế.
Các dấu hiệu gợi ý thể
hiện trẻ đã sẵn sàng để ăn bổ sung:
- Trẻ biết giữ đầu
vững.
- Trẻ có thể ngồi có hỗ
trợ.
- Trẻ đưa tay ra cầm
nắm thức ăn hoặc đưa tay hay đồ chơi vào miệng.
- Trẻ tỏ ra quan tâm
khi người lớn ăn.
- Trẻ mở miệng và ít
dùng lưỡi đẩy ra khi được đút thìa.
3.2.2. Tần suất ăn bổ
sung
Người chăm sóc nên tăng
dần số lượng bữa ăn cho trẻ trong một ngày theo độ tuổi của trẻ. Số lần cho ăn
phù hợp phụ thuộc vào đậm độ năng lượng của thức ăn và lượng thức ăn tiêu thụ
trong mỗi lần cho ăn. Tần suất ăn tối thiểu cho một trẻ khỏe mạnh trung bình
như sau 1:
- Trẻ bú mẹ từ 6-8
tháng tuổi: Cho bú theo nhịp hiện tại cùng với cho ăn từ 01 bữa ăn (6 tháng)
đến 02 bữa ăn (7-8 tháng) một ngày gồm thức ăn mềm hoặc đặc.
- Trẻ bú mẹ từ 9-11
tháng tuổi: Cho bú theo nhịp hiện tại cùng với cho ăn 03 bữa ăn một ngày gồm
thức ăn đặc hoặc rắn; có thể thêm 1 bữa phụ.
- Trẻ bú mẹ từ 12-23
tháng tuổi: Cho trẻ ăn 03 bữa ăn một ngày gồm thức ăn đặc hoặc rắn, thêm 2 bữa
phụ, tiếp tục cho bú mẹ.
- Trẻ không bú sữa mẹ
từ 6-23 tháng tuổi: ngoài số bữa ăn trên, cho trẻ uống thêm 2-3 cốc sữa/ngày và
ăn thêm 1-2 bữa/ngày.
Số bữa ăn trong ngày
của trẻ còn phụ thuộc vào đậm độ năng lượng của loại thức ăn bổ sung và lượng
sữa mẹ tiêu thụ. Nếu thức ăn bổ sung của trẻ ít năng lượng và/hoặc trẻ bú mẹ ít
thì cần tăng số bữa ăn bổ sung để đáp ứng đủ nhu cầu của trẻ. Tuy nhiên không
nên ăn quá nhiều bữa không cần thiết, đặc biệt ở những trẻ còn bú mẹ vì có thể
làm giảm số lần bú mẹ.
Trẻ có thể được cho ăn
bổ sung trước, sau hoặc cùng với bú mẹ. Tốt nhất là nên sắp xếp các bữa ăn cách
nhau hợp lý để việc tiêu thụ sữa mẹ và ăn bổ sung không bị ảnh hưởng nhau. Đối
với trẻ dưới 1 tuổi, ưu tiên sữa mẹ trước và ăn bổ sung phù hợp.
Khoảng cách giữa các
bữa chính trong ngày nên từ 3 đến 4 tiếng do dạ dày trẻ độ tuổi này chỉ chứa
được khoảng 200-300ml và sau 3-4 giờ đã tiêu hóa gần hết. Nếu các bữa quá sát
nhau (<2 giờ), trẻ có thể bỏ ăn vì chưa tiêu hóa hết. Nếu cách quá xa (>5
giờ), trẻ dễ đói, giảm năng lượng ăn vào trong ngày.
Có thể cho trẻ ăn các
bữa phụ xen kẽ các bữa chính, 1-2 lần/ngày. Nên chọn các thực phẩm phù hợp,
giàu dinh dưỡng, tiện lợi và dễ chuẩn bị, trẻ có thể tự ăn được (ví dụ trái
cây, khoai củ, bánh quy, sản phẩm từ sữa). Không nhầm bữa phụ với các đồ ăn vặt
ít dinh dưỡng như kẹo, bánh snack (nhiều đường, muối và chất béo không tốt).
3.2.3. Số lượng thức ăn
bổ sung
Người chăm sóc nên cho
trẻ ăn một lượng nhỏ thức ăn lúc đầu và tăng dần lượng thức ăn của mỗi bữa khi
trẻ lớn hơn. Lượng thức ăn phù hợp với độ tuổi được khuyến nghị cho mỗi bữa
ăn đối với trẻ được nuôi bằng sữa mẹ và không được nuôi bằng sữa mẹ như sau
27:
- Trẻ từ 6-8 tháng
tuổi: bắt đầu với 2-3 thìa con thức ăn và chuyển sang khoảng ½ bát con, tương
đương 100-120ml cho mỗi bữa ăn.
- Trẻ từ 9-11 tháng
tuổi: cho trẻ ăn ½ đến ¾ bát con cho mỗi bữa ăn (tương đương 150-170ml).
- Trẻ từ 12-23 tháng
tuổi: cho trẻ ăn ¾ bát đến 1 bát cho mỗi bữa ăn (tương đương 170-220ml).
Mặc dù có các hướng dẫn
về nhu cầu năng lượng cần thiết phải cung cấp cho trẻ từ thức ăn bổ sung cùng
với sữa mẹ để đáp ứng nhu cầu năng lượng của trẻ, tuy nhiên cha mẹ/người chăm
sóc trẻ thường không ước tính được lượng sữa mẹ cũng như không đo lường được
năng lượng của mỗi bữa ăn, do đó lượng thức ăn cho trẻ ăn dựa trên nguyên tắc
cho ăn dựa vào đáp ứng (được mô tả bên dưới) đồng thời đảm bảo được đậm độ năng
lượng và số bữa ăn phù hợp với nhu cầu theo độ tuổi. Lưu ý không nên cho trẻ ăn
lượng thức ăn bổ sung quá nhiều, cần cân nhắc tính toán đến lượng sữa mẹ (hoặc
sữa công thức nếu trẻ không được bú mẹ) và mức độ tăng trưởng của trẻ để điều
chỉnh cho phù hợp thông qua theo dõi biểu đồ tăng trưởng của trẻ. Một số trẻ
trong giai đoạn hồi phục sau khi bị bệnh hoặc sống ở môi trường có tiêu hao
năng lượng cao có thể cần nhiều năng lượng hơn mức trung bình.
3.2.4. Độ đặc và độ thô
của thức ăn bổ sung
Độ đặc và độ thô của
thức ăn bổ sung tăng dần theo độ tuổi, tùy theo nhu cầu và khả năng của trẻ với
sự phát triển thần kinh - cơ. Trẻ nhỏ chuyển từ ăn thức ăn nghiền (lúc 6 tháng
tuổi) sang thức ăn có thể cầm bằng tay, có thể nghiền nát được bằng lưỡi và
nướu răng (lúc được 8 tháng tuổi), rồi sang thức ăn gia đình chế biến phù hợp
khi trẻ được 1 tuổi. Nên tránh cho trẻ ăn các thực phẩm có thể gây hóc, nghẹn
(như các loại hạt, các loại quả tròn trơn như nho hay các loại củ quả cứng như
cà rốt sống).
Độ đặc không phù hợp có
thể làm giảm lượng chất dinh dưỡng hấp thụ vì trẻ em chỉ tiêu thụ được một
lượng nhỏ thức ăn. Đồng thời, việc pha loãng thức ăn bổ sung để giảm độ đặc
cũng có thể làm giảm đậm độ năng lượng của thức ăn 36. Mặc dù thức ăn nghiền
là cần thiết cho trẻ em ở thời điểm mới bắt đầu ăn bổ sung hoặc trẻ em có nhu
cầu đặc biệt (ví dụ trẻ khuyết tật hoặc chậm phát triển khiến việc ăn uống trở
nên khó khăn), nhưng việc sử dụng thức ăn nghiền trong thời gian dài có thể làm
cho trẻ không được làm quen với các loại thức ăn có kết cấu và tính đồng nhất
khác nhau, dẫn đến trẻ không tập được kỹ năng nhai, trẻ hay ngậm thức ăn hoặc
không ăn được thức ăn rắn khi trẻ lớn hơn.
3.2.5. Ăn bổ sung dựa
vào đáp ứng của trẻ
Cải thiện ăn bổ sung
ngoài việc chú trọng đến thực phẩm thì còn phải quan tâm đến hành vi của người
chăm sóc trẻ. Trẻ cần được hỗ trợ phù hợp với độ tuổi và nhu cầu phát triển để
đảm bảo trẻ có thể ăn đủ lượng thực phẩm cần thiết - thực hiện điều này được
gọi là cho ăn dựa vào đáp ứng. Việc cho trẻ ăn cần phải tạo được mối quan hệ
qua lại giữa trẻ và người chăm sóc.
Việc cho ăn theo đáp
ứng giúp trẻ phát triển khả năng tự điều chỉnh lượng thức ăn ăn vào và tạo điều
kiện thuận lợi cho quá trình chuyển tiếp của trẻ sang hình thức ăn uống độc
lập. Sự tương tác giữa người chăm sóc và trẻ (như nói chuyện với trẻ, hát và
khuyến khích trẻ) cũng kích thích sự kết nối thần kinh trong não và khuyến
khích phát triển nhận thức. Một số nghiên cứu đã chỉ ra mối liên hệ tích cực
giữa cho ăn theo đáp ứng và cải thiện dinh dưỡng cho trẻ em. Thực hành cho ăn
theo đáp ứng, trong đó người chăm sóc tương tác với trẻ và đáp ứng với các dấu
hiệu no/đói của trẻ cho thấy góp phần cải thiện khả năng chấp nhận thức ăn cũng
như việc trẻ được ăn đủ. Người chăm sóc trẻ đôi khi không nhận thức được tầm
quan trọng của việc cho ăn theo đáp ứng và cần được nhân viên y tế hoặc nhân
viên cộng đồng cung cấp kiến thức và hỗ trợ cho việc thực hành.
Có bốn giai đoạn của
cho ăn dựa vào đáp ứng:
(1) trẻ báo hiệu đói
hoặc no thông qua hành động và biểu cảm;
(2) người chăm sóc nhận
ra các tín hiệu của trẻ;
(3) phản ứng của người
chăm sóc là ngay lập tức, thể hiện sự chăm sóc phù hợp;
(4) trẻ đón nhận sự hỗ
trợ của người chăm sóc. Các nội dung của cho ăn dựa vào đáp ứng bao gồm:
- Phối hợp giữa việc hỗ
trợ cho trẻ ăn và khuyến khích trẻ tự ăn, phù hợp với các mức phát triển của
từng trẻ.
- Động viên trẻ ăn bằng
lời nói, không được ép trẻ ăn bằng lời nói hoặc bằng hành động.
- Sử dụng các dụng cụ
cho ăn phù hợp với độ tuổi của trẻ và tập quán văn hóa địa phương.
- Cho trẻ ăn đáp ứng
với các dấu hiệu đói sớm của trẻ.
- Cho trẻ ăn trong một
môi trường an toàn và thoải mái.
- Người cho trẻ ăn nên
là người có mối quan hệ cá nhân với trẻ tốt, hiểu và nhận biết được tính cách
của trẻ bao gồm cả những thay đổi về trạng thái thể chất và tình cảm của trẻ.
Ngoài ra, hành vi của
người chăm sóc còn chịu ảnh hưởng của các yếu tố văn hóa xã hội và tập quán đến
việc cho trẻ ăn gì, lúc nào, ở đâu và như thế nào. Để tư vấn cho cộng đồng được
hiệu quả, cần phải có những đánh giá cụ thể ở một cộng đồng, một gia đình hay
cá nhân người chăm sóc liên quan đến những cản trở cụ thể cho thực hành ăn bổ
sung bao gồm cả hạn chế về thời gian trong việc chuẩn bị, cho trẻ ăn hay chi
phí (trực tiếp, gián tiếp) để thực hiện các khuyến nghị về ăn bổ sung.
3.2.6. Ăn bổ sung khi
trẻ bị bệnh
Trong các giai đoạn trẻ
bị ốm/bệnh (sốt, ho, viêm phổi, tiêu chảy, sởi…), nhu cầu năng lượng tăng,
nhưng trẻ lại ăn ít và tiêu hao nhiều. Nếu không được cho ăn đầy đủ, trẻ dễ bị
sút cân nhanh, giảm miễn dịch, nguy cơ suy dinh dưỡng cấp tính và thấp còi, kéo
dài thời gian bệnh và chậm phục hồi sau bệnh. Do đó nuôi dưỡng trong và sau khi
bị bệnh là một phần quan trọng của chăm sóc trẻ nhỏ. Khi trẻ bị bệnh, cần tiếp
tục cho trẻ bú mẹ và cho bú nhiều hơn bình thường. Cho trẻ uống nhiều dịch,
dung dịch bù điện giải. Cho trẻ ăn lỏng và mềm hơn, dùng thức ăn dễ tiêu, chia
thành nhiều bữa nhỏ vì trẻ ăn ít mỗi lần. Khuyến khích, kiên trì, không ép trẻ
ăn (ví dụ, bằng cách cho trẻ ăn thức ăn mềm, ngon miệng hoặc thức ăn yêu
thích). Đảm bảo vệ sinh trong chế biến, cho ăn và bảo quản thức ăn. Sau khi trẻ
khỏi bệnh, nên cung cấp bữa ăn thường xuyên hơn bình thường và khuyến khích trẻ
ăn nhiều hơn trong ít nhất 2 tuần để bù đắp lại phần dinh dưỡng bị mất trong
quá trình mắc bệnh và tăng trưởng bù. Cần tăng cường khẩu phần của trẻ (số bữa
và lượng mỗi bữa) cho đến khi trẻ lấy lại số cân đã mất và tăng trưởng tốt trở
lại. Ưu tiên thức ăn giàu năng lượng và dinh dưỡng, đặc biệt là thực phẩm nguồn
động vật, rau quả giàu vitamin và thực phẩm tăng cường vi chất khi cần. Theo
dõi tăng trưởng hàng tuần, hàng tháng để đánh giá hồi phục.
Trẻ em trong hoàn cảnh
đặc biệt (ví dụ, trẻ có dị tật bẩm sinh, dị ứng và khuyết tật) có nhu cầu và
yêu cầu chế độ ăn uống cụ thể sẽ cần được hỗ trợ phù hợp.
|
Trẻ cần được ăn bổ
sung đa dạng, đủ năng lượng và giàu dinh dưỡng, với đầy đủ các nhóm thực phẩm.
Thức ăn bổ sung cần có đậm độ năng lượng phù hợp, cung cấp đủ chất đạm,
chất béo và các vi chất thiết yếu như sắt, kẽm, vitamin A; hạn chế thực phẩm
ít giá trị dinh dưỡng, nhiều đường, muối và chất béo không có lợi, đồng
thời tiếp tục bú mẹ. Cần cho trẻ ăn đúng thời điểm, đủ số bữa, lượng
ăn và độ đặc phù hợp với lứa tuổi, đảm bảo an toàn thực phẩm và cho ăn
dựa vào đáp ứng của trẻ. Cán bộ y tế tuyến cơ sở giữ vai trò then chốt
trong tư vấn, theo dõi tăng trưởng, đánh giá thực hành ăn bổ sung và kịp thời
điều chỉnh chế độ ăn nhằm phòng suy dinh dưỡng và thừa cân ở trẻ nhỏ.
|
4. Cách chế biến thức
ăn bổ sung
4.1.
Đảm bảo an toàn thực phẩm trong lựa chọn, chế biến, bảo quản thức ăn bổ sung và
cho trẻ ăn
4.1.1. Nguyên tắc chung
Thực phẩm là nguồn cung
cấp các chất dinh dưỡng cho cơ thể nhưng nếu thực phẩm không đảm bảo vệ sinh an
toàn thì lại có thể là nguồn gây bệnh; không biết cách lựa chọn, bảo quản, chế
biến thực phẩm thì có thể đã bị hao hụt chất dinh dưỡng, làm giảm chất lượng
dinh dưỡng bữa ăn của trẻ. Trong quá trình chế biến thức ăn bổ sung cho trẻ,
việc sử dụng các phương pháp như nghiền hoặc xay nhỏ có thể làm tăng nguy cơ
nhiễm khuẩn nên rất cần đảm bảo vệ sinh. Việc chọn lựa, bảo quản, chế biến thực
phẩm đảm bảo an toàn và không bị hao hụt chất dinh dưỡng cho thức ăn bổ sung
của trẻ đặc biệt quan trọng vì đây là giai đoạn đầu đời trẻ làm quen với thực
phẩm, cần tránh các bệnh đường ruột, đảm bảo an toàn cho hệ tiêu hóa của trẻ và
cần đầy đủ các dưỡng chất để phát triển.
Cần tuân thủ 5 nguyên
tắc đảm bảo an toàn thực phẩm như sau:
(1) Giữ vệ sinh sạch sẽ
- Rửa tay sạch bằng xà
phòng và nước sạch trước khi chế biến thức ăn, trước khi cho trẻ ăn, sau khi đi
vệ sinh hoặc xử lý chất thải.
- Làm sạch bề mặt và
dụng cụ chế biến thực phẩm (dao, thớt, thìa, bát...).
- Che đậy thực phẩm,
tránh ruồi, bụi bẩn.
(2) Tách riêng thực
phẩm sống và chín
- Không dùng chung dụng
cụ hoặc bề mặt chế biến cho thực phẩm sống và thực phẩm đã nấu chín.
- Không để thực phẩm
sống tiếp xúc với thực phẩm chín để tránh lây nhiễm chéo vi khuẩn.
(3) Nấu chín kỹ thực
phẩm
- Đảm bảo các món ăn (đặc
biệt là thịt, cá, trứng) được nấu chín hoàn toàn.
- Đối với trẻ nhỏ, nên
chế biến phù hợp với khả năng nhai như nấu mềm, nghiền nhuyễn tùy theo lứa
tuổi.
(4) Giữ thực phẩm ở
nhiệt độ an toàn
- Cho trẻ ăn ngay sau
khi nấu xong.
- Thức ăn đã nấu nếu
không dùng ngay cần bảo quản trong tủ lạnh (dưới 5°C) và hâm lại thật kỹ trước
khi ăn (trên 70°C).
- Không giữ thức ăn
thừa quá 2 giờ ở nhiệt độ phòng, nhất là trong điều kiện thời tiết nóng ẩm.
(5) Sử dụng nguồn nước
và nguyên liệu an toàn
- Dùng nước sạch (nước
đun sôi để nguội hoặc nước lọc đạt chuẩn).
- Lựa chọn thực phẩm
tươi, không ôi thiu, không bị mốc, có nguồn gốc rõ ràng.
- Không sử dụng thực
phẩm hết hạn, thực phẩm đóng hộp bị phồng hoặc rò rỉ.
Cần đảm bảo thực hành
vệ sinh tốt bao gồm:
Vệ sinh dụng cụ và môi
trường ăn
- Bát, thìa, cốc của
trẻ nên dùng riêng, rửa sạch và phơi khô sau mỗi lần sử dụng.
- Dụng cụ chế biến thức
ăn (máy xay, rây lọc…) cần được vệ sinh ngay sau khi dùng.
- Môi trường ăn uống
cần sạch sẽ, tránh để trẻ ăn ở nơi có nhiều côn trùng, bụi bẩn.
Vệ sinh cá nhân cho
người chăm sóc
- Người chuẩn bị và cho
trẻ ăn cần rửa tay sạch, cắt móng tay ngắn.
- Không chuẩn bị, chế
biến thức ăn, cho trẻ ăn khi đang bị tiêu chảy hoặc nhiễm khuẩn.
- Tránh nhai thức ăn
mớm cho trẻ hoặc dùng miệng để thử thức ăn bằng thìa của trẻ.
4.1.2. Lựa chọn thực
phẩm an toàn
a) Lựa chọn thực phẩm
tươi sống
Để lựa chọn thực phẩm
tươi sống, nên xem xét các nhóm thực phẩm chính như rau củ quả, thịt, cá, hải
sản, trứng và các sản phẩm từ sữa. Mỗi nhóm có những tiêu chí riêng để đánh giá
độ tươi ngon và an toàn.
Nhóm tinh bột: nên sử dụng gạo tẻ để
nấu bột, cháo. Có thể dùng các loại mỳ sợi để đổi bữa cho trẻ.
Nhóm đậu đỗ: Các loại đậu đỗ như:
đậu xanh, đậu đỏ, đậu đen, đậu nành (đậu tương), đậu lăng... là nguồn đạm thực
vật tốt, giàu chất xơ, vitamin nhóm B và sắt.
- Cách lựa chọn an
toàn: Chọn hạt chắc, khô, nguyên vẹn, không mốc, không có mùi lạ. Tránh đậu bị
mọt, ẩm hoặc có dấu hiệu nấm mốc (có thể chứa aflatoxin - chất độc nguy hiểm
với gan). Ưu tiên đậu mới, chưa để lâu trên 6 tháng sau thu hoạch.
- Ngâm đậu từ 4-8 giờ
(tùy loại) trước khi nấu để làm mềm và giảm chất ức chế tiêu hóa. Nấu chín kỹ,
nghiền mịn hoặc xay nhuyễn (đặc biệt với trẻ 6-11 tháng tuổi). Có thể dùng đậu
để nấu cháo, súp, trộn với rau, thịt hoặc xay thành sữa đậu (đối với đậu nành)
nhưng phải nấu chín sữa đậu trước khi dùng. Không nên cho trẻ dưới 1 tuổi ăn
các loại đậu rang, đậu nguyên hạt vì dễ hóc sặc và khó tiêu.
- Một số loại đậu có
thể gây dị ứng cho trẻ, nên cần thử ít một, theo dõi phản ứng.
Nhóm rau, củ, quả:
- Màu sắc: Chọn rau củ
có màu sắc tươi sáng, tự nhiên, không bị héo úa, dập nát hoặc có các đốm lạ.
- Hình dáng: Nên chọn
những loại rau củ còn nguyên cuống, không bị sâu, không bị thối, không có vết
lạ.
- Độ cứng: Rau củ quả
tươi thường có độ cứng nhất định, không bị mềm nhũn.
- Mùi: Tránh chọn những
loại rau củ có mùi hôi, mùi lạ.
- Nguồn gốc: Ưu tiên
chọn rau củ có nguồn gốc rõ ràng, được trồng theo quy trình an toàn. Một số
loại rau ít dùng thuốc trừ sâu như bầu, bí xanh, bí đỏ.
Nhóm thực phẩm từ thịt,
trứng, thủy hải sản (thịt, trứng, cá, gia cầm và gan/nội tạng).
- Nguồn gốc: Nên chọn
mua ở các cửa hàng uy tín, có nguồn gốc rõ ràng.
- Chọn các loại thịt:
Thịt tươi có màu sắc tươi sáng, không bị tái, không có màu sắc lạ. Dùng tay ấn
vào miếng thịt, nếu thịt có độ đàn hồi tốt, không bị lõm và nhanh chóng trở lại
hình dạng ban đầu là thịt tươi. Thịt tươi có mùi đặc trưng, không có mùi hôi,
không có mùi lạ. Bề mặt thịt tươi không có lớp màng bao phủ. Ví dụ: Thịt lợn -
Màu hồng tươi, không chảy nước. Tránh thịt có màu đỏ bất thường, có mùi lạ hoặc
có lớp màng bao phủ. Thịt gà - Màu vàng tươi, da gà mịn, không có vết bẩn, mốc.
Tránh mua gà có da vàng ruộm bất thường, căng phồng. Thịt bò - Màu đỏ tươi, thớ
thịt nhỏ, mịn, mùi thơm đặc trưng của thịt bò. Tránh thịt có màu tái, có mùi
hôi hoặc có dấu hiệu bị bơm nước.
- Chọn cá, tôm: Mang cá
tươi có màu đỏ tươi hoặc đỏ sẫm, khép kín. Mắt cá tươi sáng, hơi lồi. Vảy cá
xếp đều, sáng bóng, không bong tróc. Thịt cá chắc, có độ đàn hồi, dính chặt vào
xương. Tôm chọn những con còn tươi, nguyên con, đầu dính chặt với thân, sờ vào
có cảm giác mềm dẻo, căng tự nhiên, độ đàn hồi cao. Cá tôm tươi có mùi tanh đặc
trưng, không có mùi hôi, mùi lạ. Nếu có thể nên chọn các loại cá, tôm tươi, còn
sống, hoặc nếu không còn sống phải được bảo quản trong đá lạnh dù là bán trong
siêu thị hay ở chợ truyền thống.
- Chọn trứng: Trứng mới
và tốt thường có lớp phấn mỏng màu trắng trên vỏ. Nếu vỏ trứng quá nhẵn bóng,
sáng, hoặc có vết rạn nứt, đó có thể là dấu hiệu trứng để lâu ngày hoặc không
đảm bảo chất lượng. Cầm quả trứng lên tai và lắc nhẹ. Nếu nghe tiếng động, điều
này cho thấy trứng để lâu ngày và lòng đỏ, lòng trắng đã bị tách rời. Trứng
tươi thường không phát ra tiếng động khi lắc nhẹ. Đưa trứng lên soi dưới bóng
đèn hoặc ánh sáng mặt trời. Trứng tươi sẽ có buồng khí nhỏ, lòng đỏ tròn và
không di chuyển nhiều. Nếu buồng khí lớn và lòng đỏ bị di chuyển mạnh, đó là
dấu hiệu trứng đã để lâu ngày. Trứng tươi khi thả vào nước sẽ chìm, còn trứng
cũ sẽ nổi.
Nhóm sữa và các chế
phẩm từ sữa: Sữa
và các chế phẩm từ sữa là nguồn canxi, đạm, chất béo, vitamin A và D quan trọng
trong giai đoạn ăn bổ sung.
- Các loại sữa và sản
phẩm phù hợp: Trẻ dưới 12 tháng chỉ nên dùng sữa mẹ là chính. Nếu cần bổ sung,
nên dùng sữa công thức dành cho lứa tuổi, pha đúng hướng dẫn. Từ 12 tháng trở
lên, có thể dùng thêm sữa động vật tươi tiệt trùng hoặc sữa bột nguyên kem.
Dùng các chế phẩm từ sữa an toàn và phù hợp như sữa chua (loại dành cho trẻ
em), phô mai mềm tiệt trùng, váng sữa.
- Tiêu chí an toàn khi
chọn sữa và chế phẩm: Có nguồn gốc rõ ràng, còn hạn sử dụng, bao bì nguyên vẹn,
không bị rách, thủng. Kiểm tra kỹ nhãn mác, hạn sử dụng, nguồn gốc xuất xứ và
thông tin dinh dưỡng. Ưu tiên sản phẩm dành riêng cho trẻ nhỏ, không thêm đường
hoặc ít đường. Tuân thủ nhiệt độ bảo quản được khuyến cáo trên bao bì. Sữa bột
phải đậy kín sau khi mở nắp. Không dùng sữa tươi chưa tiệt trùng hoặc sữa “nhà
làm” không kiểm soát được vi sinh vật. Không nên thay thế bữa ăn bằng sữa.
Một số thực phẩm không
nên sử dụng cho trẻ:
- Không cho trẻ dưới
một tuổi ăn mật ong để ngăn ngừa ngộ độc (do Clostridium botulinum hay
có trong mật ong).
- Không cho trẻ sử dụng
các thực phẩm chế biến sẵn nhiều đường, muối, chất béo bão hoà.
- Không cho trẻ sử dụng
các loại bánh kẹo ngọt, đồ uống có đường. Không nên dùng phô mai cứng, mặn hoặc
có nấm mốc (như camembert, brie…), không dùng phô mai tự nhiên chưa qua xử lý
nhiệt cho trẻ dưới 2 tuổi.
b) Lựa chọn thực phẩm
chế biến sẵn
Trong quá trình ăn bổ
sung, ngoài thực phẩm tự nấu tại nhà, cha mẹ và người chăm sóc có thể sử dụng
thức ăn chế biến sẵn hoặc thực phẩm thương mại dành cho trẻ nhỏ (commercial
baby food) nhằm hỗ trợ giảm bớt thời gian và công sức chế biến, bổ sung vi chất,
hoặc trong những tình huống đặc biệt (du lịch, mẹ đi làm…). Tuy nhiên, việc lựa
chọn đúng loại và sử dụng hợp lý là vô cùng quan trọng để đảm bảo an toàn và
không làm gia tăng nguy cơ béo phì, thiếu vi chất, hoặc lệ thuộc thức ăn bao
gói sẵn, đóng hộp.
Thực phẩm chế biến sẵn
cho trẻ nhỏ bao gồm:
- Sản phẩm dinh dưỡng
bổ sung: là các sản phẩm thương mại sản xuất theo phương thức công nghiệp, tuân
thủ theo tiêu chuẩn quy định hiện hành, nhằm bổ sung dinh dưỡng cho trẻ từ 6
đến 23 tháng tuổi, phù hợp với nhu cầu phát triển theo từng giai đoạn của trẻ.
- Các sản phẩm thực
phẩm khác được sản xuất không theo phương thức công nghiệp có bán trên thị
trường mà gia đình có thể mua và sử dụng không cần chế biến.
Nguyên tắc lựa chọn và
sử dụng thực phẩm chế biến sẵn cho trẻ nhỏ:
- Chỉ sử dụng những
thực phẩm đạt tiêu chuẩn, phù hợp với lứa tuổi. Không dùng thực phẩm thương mại
thay thế hoàn toàn cho thực phẩm tươi.
- Chỉ chọn các thực
phẩm còn hạn sử dụng, cân nhắc đối với những sản phẩm sắp hết hạn sử dụng. Các
sản phẩm phải có bao gói nguyên vẹn, có nhãn mác rõ ràng, những thực phẩm nhập
khẩu cần có nhãn phụ bằng tiếng Việt. Thực phẩm đóng hộp thì hộp phải sáng
bóng, không gỉ, không phồng, nhãn mác phải có đủ thông tin chính liên quan đến
sản phẩm.
- Đọc kỹ nhãn trước khi
mua và sử dụng: Kiểm tra nguồn gốc, nhà sản xuất, thời hạn sử dụng và chứng
nhận chất lượng. Ưu tiên sản phẩm có giá trị dinh dưỡng đầy đủ, cung cấp năng
lượng, chất đạm, chất béo, vitamin và khoáng chất phù hợp theo độ tuổi. Chọn
thực phẩm có tăng cường vi chất (đặc biệt là sắt, kẽm, vitamin A, i-ốt).
- Hạn chế tối đa các
sản phẩm có hàm lượng muối cao (sản phẩm phải có hàm lượng natri dưới 200
mg/100 g theo hướng dẫn của CODEX STAN 73-1981 đối với thức ăn trẻ em đóng gói
sẵn và dưới 100 mg/100 kcal sản phẩm ăn được theo hướng dẫn CODEX CXS74-1981
đối với thực phẩm thương mại chế biến từ ngũ cốc). Hạn chế các sản phẩm có
đường tự do (c); chất béo bão hòa, chất béo chuyển
hóa (trans fat). Thực phẩm không chứa chất bảo quản, phụ gia thực phẩm,
chất tạo màu vượt quy định dành cho trẻ nhỏ, không chứa hương liệu mạnh, gia vị
cay, nhiều chất điều vị (monosodium glutamate, v.v.).
- Cẩn trọng với các sản
phẩm ghi là “organic”, “tự nhiên”, “dành cho trẻ em” hoặc những sản phẩm được
quảng cáo về công dụng với sức khỏe nhưng không có chứng nhận rõ ràng.
- Chuẩn bị, chế biến
đúng theo hướng dẫn của nhà sản xuất: nếu phải pha với nước thì dùng nước đun
sôi để nguội theo đúng nhiệt độ hướng dẫn trên bao bì; nếu phải pha sản phẩm
thì phải thực hiện đúng theo hướng dẫn, không pha loãng hơn làm giảm đậm độ
năng lượng và vi chất, không pha đặc quá mức gây khó tiêu, quá tải thận và nguy
cơ táo bón.
- Thức ăn đã pha cần
dùng trong 2 giờ nếu ở nhiệt độ phòng. Nếu là thực phẩm nghiền sẵn, sau khi mở
chỉ dùng trong 24 giờ nếu bảo quản lạnh, không hâm đi hâm lại nhiều lần. Không
bảo quản lại thực phẩm sau khi đã pha hoặc mở nắp.
- Sản phẩm phải được
bảo quản ở điều kiện phù hợp với yêu cầu của nhà sản xuất, ví dụ sản phẩm thịt,
thủy sản đông lạnh phải để trong tủ lạnh đông, sữa và sản phẩm từ sữa phải được
bảo quản trong tủ lạnh ở 2-5oC, sản phẩm từ ngũ cốc đóng gói sẵn được bảo
quản nơi khô mát ở nhiệt độ phòng.
- Theo dõi phản ứng của
trẻ và điều chỉnh phù hợp: khi thử sản phẩm mới, cho trẻ ăn lượng nhỏ trước và
quan sát, nếu có biểu hiện bất thường (nôn, tiêu chảy, nổi mẩn) thì ngừng sử
dụng và theo dõi.
Thực phẩm chế biến sẵn
nếu được lựa chọn đúng có thể hỗ trợ trẻ ăn đủ năng lượng và dinh dưỡng. Tuy
nhiên, trẻ cần được tiếp xúc với thực phẩm tươi, tự chế biến tại nhà để phát
triển vị giác, khả năng nhai và thói quen ăn uống lành mạnh về lâu dài.
WHO/UNICEF khuyến cáo không nên cho trẻ ăn thực phẩm siêu chế biến (ultra-processed
foods) trong giai đoạn ăn bổ sung, đặc biệt là bánh quy, bánh ngọt, khoai
tây chiên; nước ngọt, nước trái cây công nghiệp; các sản phẩm có nhiều
đường/muối và chất béo bão hòa.
4.1.3. Chế
biến thực phẩm an toàn
Đối với
dụng cụ chế biến, bảo quản:
- Dụng cụ
chế biến thực phẩm cần làm từ các vật liệu không có khả năng phân hủy các chất
độc hại vào thực phẩm, bề mặt nhẵn, không sứt mẻ, dễ làm sạch, khử trùng, không
bị ảnh hưởng bởi các chất tẩy rửa và các chất khử trùng. Không dùng các dụng cụ
sản xuất từ đồng, kẽm, sắt hoặc hợp kim có chứa > 9,5% chì; 0,03% asen. Hạn
chế tối đa các dụng cụ làm bằng gỗ.
- Không
đựng thực phẩm có mỡ, dầu, mặn trong các túi, ca nhựa, để tránh các chất có hại
ngấm vào thực phẩm của trẻ.
- Không
dùng giấy báo, giấy đã in để gói thực phẩm do trong thành phần mực in có chứa
một số kim loại nặng, trong đó thành phần chủ yếu là chì (Pb), ngoài ra nguyên
liệu sản xuất giấy báo cũng dễ bị ô nhiễm các chất độc hại từ môi trường.
- Dùng
riêng dao thớt để chế biến thực phẩm sống và chín.
- Dụng cụ
ăn uống cần được tráng nước sôi để tiệt khuẩn trước khi đựng thức ăn.
Đối với
nguồn nước, khu vực nơi chế biến:
- Khu vực
bếp chế biến thức ăn cho trẻ cần đảm bảo không bị ô nhiễm bởi các nguồn ô nhiễm
như bị ứ đọng nước thải, dễ bị động vật côn trùng xâm nhập, có các chất thải rắn,
lỏng hay khí mà không thể loại bỏ.
- Cần có
nguồn nước đảm bảo dùng cho chế biến và vệ sinh. Nước sạch là nước không màu,
không mùi, không vị lạ và không chứa các tác nhân gây ô nhiễm.
- Cần có
dụng cụ chứa rác thải và vật phẩm không ăn được, đảm bảo kín và được cọ rửa
thường xuyên.
- Có hệ
thống thoát nước thải dễ dàng, kín, không để gây ô nhiễm ra xung quanh.
- Rửa tay
sạch trước khi chế biến thức ăn cho trẻ. Nếu người chế biến bị nhiễm khuẩn ở
bàn tay, hãy băng kỹ và kín vết thương nhiễm trùng đó trước khi chế biến thức
ăn.
- Do thức
ăn dễ bị nhiễm khuẩn, bất kỳ bề mặt nào dùng để chế biến thức ăn cho trẻ cũng
phải được giữ sạch. Khăn lau bát, đĩa cần phải được thay và luộc nước sôi
thường xuyên trước khi sử dụng lại.
Nhiệt độ
chế biến thực phẩm:
- Đun sôi,
nấu chín kỹ hoàn toàn thức ăn để tiêu diệt hết mầm bệnh, đặc biệt là thịt, gia cầm,
trứng và hải sản cần nấu chín hoàn toàn bên trong và không còn màu hồng.
- Cho trẻ
ăn ngay sau khi vừa nấu xong, không nên để lại thức ăn thừa vì thức ăn càng để
lâu thì nguy cơ phát sinh những vấn đề như ngộ độc thực phẩm càng cao.
- Muốn giữ
thức ăn quá 5 tiếng đồng hồ, cần phải giữ liên tục nóng trên 60oC hoặc lạnh
dưới 5oC. Nếu nhiệt độ dao động trong khoảng 5-60°C quá 2 giờ thì không
nên sử dụng lại cho trẻ nhỏ.
4.1.4. Bảo
quản thực phẩm an toàn
Bảo quản
cẩn thận thức ăn đã nấu chín
Thức ăn đã
nấu chín phải được đặt trên mặt bàn, trên giá, không để trực tiếp xuống sàn,
nền nhà. Che đậy thức ăn đã nấu chín để chống ruồi, gián, kiến hay các loài
động vật khác gây nguy hiểm và nhiễm bẩn. Vật dụng dùng che đậy, giữ thức ăn
chín cần được làm sạch thường xuyên.
Cách bảo
quản thực phẩm trong tủ lạnh
Thức ăn vừa
nấu chín phải để nguội mới cho vào tủ lạnh để ngăn riêng thức ăn sống và chín.
Thực phẩm tươi sống như thủy sản, thịt gà, các loại phủ tạng động vật cần rửa
sạch, loại phần thải bỏ. Tất cả thực phẩm để bảo quản trong tủ lạnh phải được
gói kín hoặc để trong khay, hộp có nắp đậy kín. Không để lẫn lộn thực phẩm chín
và thực phẩm sống. Không dùng thực phẩm đã chế biến để trong tủ lạnh quá 4
ngày.
Cách trữ
đông thực phẩm cho trẻ
- Chuẩn bị
thực phẩm: Rửa sạch, sơ chế và nấu chín thực phẩm (rau củ, thịt, cá, cháo,
súp,...).
- Làm
nguội: Để thực phẩm nguội hoàn toàn trước khi cho vào hộp hoặc túi trữ đông.
- Chia khẩu
phần: Chia nhỏ thực phẩm thành từng phần vừa đủ cho mỗi bữa ăn của trẻ để tránh
lãng phí và đảm bảo chất lượng khi rã đông.
- Đựng thực
phẩm: Sử dụng hộp đựng thực phẩm bằng nhựa hoặc silicon chịu nhiệt, có nắp đậy
kín. Nên ưu tiên sử dụng các loại khay trữ đông chuyên dụng, hộp hoặc túi zip
chuyên dùng cho đựng thực phẩm an toàn, có nguồn gốc rõ ràng. Đối với thức ăn
dạng lỏng như cháo, súp, có thể sử dụng khay đá viên để chia nhỏ, sau đó cho
vào túi zip bảo quản. Đối với thức ăn dạng đặc như rau củ xay nhuyễn, có thể
dàn trải đều trong túi zip và chia thành từng phần nhỏ để dễ dàng bẻ ra khi sử
dụng.
- Ghi nhãn:
Ghi rõ tên thực phẩm và ngày tháng trữ đông lên hộp hoặc túi để dễ dàng quản lý
và sử dụng.
- Cấp đông:
Đặt thực phẩm vào ngăn đá tủ lạnh, đảm bảo nhiệt độ luôn dưới -180C.
- Thời gian
bảo quản thực phẩm trong ngăn đá tùy thuộc vào loại thực phẩm, nhưng nên sử
dụng trong vòng 7 ngày đối với thực phẩm đã nấu chín.
- Nên rã đông
thực phẩm bằng cách cho vào ngăn mát tủ lạnh hoặc ngâm trong nước lạnh để đảm
bảo an toàn. Không nên rã đông tự nhiên ở nhiệt độ phòng quá 2 giờ vì nguy cơ
gây ngộ độc thực phẩm cao. Không nên trữ đông lại thực phẩm đã rã đông.
4.2. Các phương pháp chế biến thức ăn bổ sung
4.2.1.
Hướng dẫn cách nấu bột, cháo
Bước 1: Sơ chế
các thực phẩm trước khi nấu, đảm bảo vệ sinh thực phẩm trong quá trình sơ chế:
- Thịt cá:
rửa sạch, lọc bỏ gân, xơ, xương, thái băm hoặc nghiền nhỏ, hòa vào chút nước
đánh cho tan nếu cần. Cá có thể luộc lấy nước nấu bột, gỡ lấy thịt cá và bỏ
xương.
- Trứng gà:
với trẻ dưới 12 tháng, tách bỏ lòng trắng lấy lòng đỏ, quấy tan.
- Tôm: nhặt
tôm, bóc vỏ, lột chỉ đen, băm nhỏ.
- Cua: rửa,
nhặt sạch, lấy gạch, giã nhỏ cua, lọc lấy nước nấu bột.
- Gan, tim,
bầu dục: rửa sạch, băm nhỏ.
- Rau: nhặt
sạch, rửa dưới vòi nước chảy rồi xay, thái hoặc băm nhỏ. Rau lá, rau củ có thể
hấp rồi thái, nghiền nhỏ để tránh mất vitamin và hoạt chất sinh học.
- Nếu nấu
bột thì đong đủ lượng bột cần thiết, có thể ngâm bột với nước 15-30 phút trước
khi nấu để bột nở lên, giảm thời gian nấu.
Bước 2: Nấu bột/cháo
- Bột: Cho
bột và nước vào nồi quấy đều cho bột tan, đặt lên bếp, quấy đều nhẹ nhàng cho
đến khi bột sôi. Đậy vung và đun nhỏ lửa trong vòng 5 phút .
- Cháo: nấu
chín cháo trắng hoặc đun sôi cháo sơ chế.
- Nấu cháo từ
cơm: Cho cơm và nước vào nồi với tỷ lệ thích hợp. Nấu đến khi sôi và cho nhiệt độ thấp
hơn trong vòng 15-20 phút. Tắt bếp - để chín bằng hơi trong vòng 7-8 phút.
Bước 3: Cho thực
phẩm giàu đạm và dầu ăn hoặc mỡ vào nấu (bước này có thể áp dụng linh hoạt
tùy thói quen của mẹ/người chăm sóc cũng như thăm dò sở thích của trẻ)
- Cho
thịt/cá/tôm/gan xay băm nhuyễn vào bột/cháo đã nấu và quấy đều đun sôi, vặn nhỏ
lửa, đậy vung từ 5 đến 7 phút để bột và thịt/cá đủ chín. Với trẻ mới tập ăn, có
thể cho bột với thịt/cá hoà lẫn với nước ngay từ đầu đun kĩ cho cả bột và thịt
đủ chín.
- Với bột
trứng: đánh tan lòng đỏ trứng, đặt nồi ra ngoài cho bột hơi nguội, rồi đổ trứng
vào quấy đều tay để tránh vón. Sau đó đặt lên bếp đun tiếp.
- Trẻ lớn
hơn ăn được cả cái: có thể xào thịt/cá/tôm đã băm nhỏ trước cho thơm hoặc làm chín
thực phẩm rồi băm hoặc nghiền nhỏ và khi bột/cháo chín cho vào quấy cùng.
Bước 4: Tiếp tục
cho rau đã hấp và nghiền nhỏ hoặc rau tươi băm nhỏ vào, quấy đều, vặn nhỏ lửa
và đậy vung nấu trong vòng 2 phút.
Bước 5: Cho một
lượng nhỏ nước mắm/muối i-ốt (nếu cần) vào quấy đều. Hạn chế nêm nếm nước mắm,
gia vị mặn… vào thức ăn bổ sung cho trẻ dưới 1 tuổi.
Kiểm tra
bột sau khi nấu:
- Kiểm tra
độ chín của bột: Bột chín trong, đổ bột ra róc nồi, bát bột để nguội có độ
vồng, dùng thìa xúc vào bát bột thì tạo ra vết cắt gọn, sắc; bột nếu để lâu vẫn
thành khuôn và không bị vữa.
- Kiểm tra
độ đặc của bột: Dạ dày trẻ em rất nhỏ, vì vậy cần cho trẻ ăn thức ăn đặc mới đủ
dinh dưỡng để phát triển. Nếu cho trẻ ăn bột loãng, trẻ sẽ chóng no mà không
nhận được lượng dinh dưỡng cần thiết. Nếu bột đủ độ đậm đặc thì khi nghiêng
thìa, bột không chảy thành dòng mà vẫn nằm trên thìa (xem hình 1).

Hình 1. Hình ảnh minh họa độ đặc của bột
4.2.2. Các
phương pháp chính sử dụng khi chế biến thức ăn bổ sung cho trẻ từ 6 - 23 tháng
tuổi
Cắt, thái,
băm nhỏ: Sử dụng dao và thớt sạch để cắt/thái/băm nhỏ thức ăn cho trẻ.
Khi trẻ mới tập ăn cần cắt nhỏ thực phẩm đã nấu mềm thành miếng nhỏ 2-3 mm rồi
băm. Sau một thời gian làm quen có thể thái miếng to hơn dần, tối đa to 5-6 mm.
Khi trẻ khoảng 1 tuổi có thể cầm bốc ăn thì cắt miếng to hơn.
Luộc, nấu: Đối với
trứng, những loại củ và rau quả lâu chín như khoai, cà rốt thì cho nước và thực
phẩm vào nồi, sau đó đậy nắp và đun. Đối với các loại rau lá nhanh chín như rau
cải, rau ngót… thì nguyên tắc là luộc trong thời gian ngắn, đun nước sôi rồi
mới cho rau vào, đun lửa to mà không cần đậy vung, khi vớt rau ra cần nhúng
trong nước lạnh rồi mới cắt (lưu ý luộc ít nước hoặc tốt nhất là hấp rau).
Đối với các
loại thịt, cá, tôm cần sơ chế, bỏ vỏ, xương, rửa sạch trước khi luộc, cần luộc
chín kỹ hoàn toàn bên trong đến khi thịt không còn đỏ.
Làm nhuyễn,
nghiền: Đối với các thực phẩm đã luộc chín, có thể làm nhuyễn, nghiền
thực phẩm trong bát nhỏ bằng dĩa, thìa hoặc cho vào giã bằng cối. Cũng có thể
thêm 1 chút nước luộc hoặc súp vào rau hay cá/thịt rồi tán đều, đánh tan.
Rây, lọc: Đây là
phương pháp giúp loại bỏ hạt và vỏ thực phẩm hoặc xơ lá rau cho trẻ ở giai đoạn
mới tập ăn. Đối với những thực phẩm mềm chỉ cần cho vào rây và ấn nhẹ cho phần
thức ăn mềm mịn lọt xuống. Đối với thực phẩm có nhiều xơ thì nên cắt ra rồi mới
rây (đảm bảo lượng thực phẩm cuối sau khi sơ chế vẫn đủ theo yêu cầu).
Làm loãng: Giá đỗ có
chứa men amylase giúp tiêu hóa tinh bột. Dùng nước ép giá đỗ thêm vào để làm
loãng bột đặc, mục đích là cho trẻ dễ ăn hơn và tăng đậm độ năng lượng cho bữa
ăn của trẻ. Cách làm: lấy một lượng giá đỗ sống tương đương với trọng lượng
bột, giã nát phần thân trắng của giá đỗ và vắt ép lấy nước. Khi quấy bột/cháo
đã chín thì cho thêm nước ép giá đỗ vào, vừa quấy đều vừa đun sôi lại đến khi
bột/cháo loãng ra.
|
Cách chế biến một số thực phẩm thông dụng cho trẻ
- Các loại
rau củ như khoai tây, cà rốt, bí đỏ: sơ chế gọt vỏ, bỏ hạt, làm sạch sau đó
có thể cắt thành các hình dạng dễ cầm nắm, luộc chín mềm với ít nước hoặc có
thể chiên rán.
- Các loại
rau lá như mồng tơi, rau muống, rau ngót, rau dền, rau cải bó xôi (ưu tiên
rau lá màu xanh sẫm): Sử dụng phần lá, luộc chín mềm với nước, vớt ra, nhúng
vào nước để làm nguội, sau đó lấy ra vắt ráo, nghiền hoặc cắt thô sao cho
không còn thớ rau. Có thể dùng nước luộc rau để nấu bột.
- Trứng
gia cầm: rửa sạch, có thể cho trẻ ăn trứng hấp, luộc, hoặc chiên…
- Cá: Sử
dụng cá tươi chứ không ướp muối. Cá rửa sạch, luộc, bỏ da và xương, xé nhỏ.
- Thịt,
gan: rửa sạch, băm nhỏ, nấu chín kỹ bên trong thực phẩm.
- Trái cây
chín mềm như chuối, xoài, đu đủ: giai đoạn đầu băm nhỏ, từ sau khoảng 9 tháng
tuổi trẻ bắt đầu tự bốc ăn nên cắt kích thước vừa đủ sao cho trẻ có thể cầm nắm
bằng tay.
|
4.3. Hướng dẫn cách chế biến và cho trẻ ăn theo từng giai đoạn ăn
bổ sung
4.3.1. Giai
đoạn từ 6-8 tháng (Tập ăn bổ sung, nhai trệu trạo)
Làm quen
dần từ đồ ăn nghiền nhuyễn mềm, mịn cho trẻ dễ tiêu hóa, dễ nuốt sau đó có thể
tăng kích thước lên nhưng vẫn phải nấu nhừ để đảm bảo trẻ nghiền nát được bằng
lưỡi và hàm trên.
Bắt đầu từ
1 thìa bột hoặc cháo nghiền nhuyễn, thêm rau vào khi trẻ đã quen và bắt đầu ăn
chất đạm như lòng đỏ trứng gà, đậu phụ, thịt ức gà…
Giai đoạn
này, đặc biệt là trong tháng đầu, không cần quan tâm nhiều đến thực đơn, chỉ
cần thêm một hoặc một vài thức ăn khác vào bột/cháo là được. Hãy tập từng bước,
giúp trẻ biết thêm các vị của thức ăn một cách từ từ từng chút một.
Khi trẻ mới
tập ăn thì có thể tô màu bát bột/cháo bằng các loại thực phẩm có màu tự nhiên
như rau củ hay lòng đỏ trứng. Khi trẻ đã quen, có thể chọn cách nấu hỗn hợp
nhưng khuyến khích tập cho trẻ ăn riêng từng loại thức ăn mà không nấu lẫn, đa
dạng thực phẩm để cho thức ăn của trẻ có màu sắc hấp dẫn và không lẫn mùi vị.
Khi tập ăn riêng từng loại thực phẩm, trẻ có thể cảm nhận được hương vị nguyên
bản của từng loại thực phẩm và ăn ngon miệng hơn.
Tận dụng vị
ngon ngọt tự nhiên của nguyên liệu, không cần thêm gia vị khi chế biến.
4.3.2. Giai
đoạn từ 9-11 tháng (Nhai tóp tép)
Cho trẻ ăn
cùng thời gian với bữa ăn gia đình, nếu thực đơn của người lớn có thức ăn mềm
và vị nhạt thì có thể lấy cho trẻ.
Nấu thức ăn
có độ cứng và độ thô phù hợp để trẻ có thể cắn bằng răng cửa và bằng lợi.
Tạo điều
kiện cho trẻ tập bốc tự đưa thức ăn vào miệng với một số loại thức ăn nhất định
(các loại trái cây).
4.3.3. Giai
đoạn từ 12-23 tháng (Nhai thành thạo)
Trẻ có thể
ăn đa dạng các thực phẩm từ bữa ăn gia đình với người lớn, tuy nhiên vẫn cần
hạn chế gia vị, tránh món cứng.
Trẻ nhỏ
luôn cần được giám sát trong quá trình ăn. Bố mẹ và người chăm sóc tránh cho
trẻ ăn thức ăn cứng, nhỏ và tròn (ví dụ như các loại hạt, cà chua bi, nho quả
nhỏ…) hoặc thức ăn đặc, mịn và dính (thực phẩm nấu từ bột gạo nếp), có thể gây
nguy cơ sặc và nghẹn ở trẻ.
Khuyến
khích trẻ sử dụng các dụng cụ ăn uống như cốc, muỗng/thìa. Cho trẻ tự xúc ăn
bằng thìa.
Thức ăn có
thể băm nhỏ, nấu mềm, chế biến kích thước phù hợp với khả năng nhai của trẻ, đa
dạng thực phẩm như thịt, cá, rau củ.
Trẻ có thể
ăn cơm nát (nấu nhiều nước hơn bình thường). Nếu cơm lấy từ bữa ăn của người
lớn còn cứng, có thể thêm 1 chút nước nóng rồi quay trong lò vi sóng. Có thể
dùng các loại mỳ sợi luộc mềm và cắt thành các đoạn từ 2-3 cm (không dùng các
loại mỳ ăn liền dành cho người lớn). Bánh mỳ có thể cắt lát bỏ phần vỏ cứng, để
trẻ có thể dễ dàng cầm nắm.
|
Cha mẹ và
người chăm sóc cần biết cách lựa chọn, chế biến và bảo quản thức ăn bổ
sung nhằm đảm bảo an toàn thực phẩm và giữ được giá trị dinh dưỡng cho trẻ
6-23 tháng tuổi. Thức ăn bổ sung cần được chế biến từ thực phẩm tươi, an
toàn, phù hợp với khả năng nhai - nuốt và tiêu hóa của trẻ theo từng giai đoạn,
từ bột/cháo nghiền mịn đến thức ăn băm nhỏ và thức ăn gia đình điều chỉnh.
Các phương pháp chế biến cần hạn chế thất thoát dinh dưỡng, đặc biệt
là vi chất, đồng thời đảm bảo vệ sinh trong suốt quá trình chuẩn bị, bảo quản
và cho trẻ ăn.
Cán bộ y
tế tuyến cơ sở có vai trò then chốt trong việc hướng dẫn cha mẹ/người chăm
sóc thực hành chế biến đúng, lựa chọn phương pháp nấu phù hợp, bảo quản thức
ăn an toàn và phòng tránh nguy cơ nhiễm khuẩn, hóc nghẹn. Thông qua tư vấn và
giám sát thực hành, cán bộ y tế góp phần nâng cao chất lượng bữa ăn bổ sung
và phòng ngừa các bệnh liên quan đến dinh dưỡng và an toàn thực phẩm ở trẻ nhỏ.
|
5. Hỗ trợ
hình thành thói quen ăn uống lành mạnh
Thói quen
ăn uống hợp lý được hình thành ngay từ khi còn nhỏ sẽ giúp trẻ có thói quen ăn
uống lành mạnh sau này, giúp phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần,
tăng cường hệ thống miễn dịch, ngăn ngừa nguy cơ thừa cân béo phì và mắc các
bệnh mạn tính khi trưởng thành.
5.1. Vai trò của gia đình để xây dựng các thói quen lành mạnh của
trẻ
Gia đình
đóng vai trò then chốt trong việc hình thành và duy trì thói quen ăn uống lành
mạnh của trẻ. Môi trường gia đình là nơi trẻ được tiếp xúc đầu tiên và thường
xuyên nhất với thực phẩm, cách ăn uống và thái độ với việc ăn.
Gia đình là
tấm gương cho trẻ noi theo. Trẻ thường bắt chước hành vi của
cha mẹ nên nếu gia đình duy trì chế độ dinh dưỡng lành mạnh, trẻ sẽ học hỏi từ
những hành vi đó. Ví dụ, việc cha mẹ ăn rau xanh, trái cây hay từ chối thực
phẩm không lành mạnh, ăn đúng bữa, ăn chậm nhai kỹ sẽ khuyến khích trẻ làm
theo.
Gia đình
cung cấp thực phẩm lành mạnh: Gia đình lựa chọn thực phẩm lành
mạnh như ngũ cốc nguyên hạt, trái cây, rau củ và protein sẽ giúp trẻ tiếp xúc
với nhiều loại thực phẩm và hình thành thói quen ăn uống tốt.
Tạo bầu
không khí ăn uống tích cực: Bữa ăn nên được tổ chức trong một
không gian thoải mái, vui vẻ sẽ giúp trẻ cảm thấy thoải mái và hứng thú với
việc ăn uống.
Khuyến
khích sự tự lập: Gia đình có thể tạo điều kiện cho trẻ tự lập, tự tin và khả năng
khám phá thực phẩm bằng việc cho phép trẻ tự chọn thực phẩm, tự cầm nắm và thử
nghiệm với đồ ăn.
Giáo dục về
dinh dưỡng: Gia đình nên giải thích lợi ích của việc ăn trái cây, rau củ và
uống đủ nước; giải thích những thực phẩm nên tránh và hướng dẫn trẻ lựa chọn đồ
ăn lành mạnh thông qua các hoạt động cùng trẻ như xây dựng thực đơn, đi chợ,
nấu ăn, dọn bàn… Điều này giúp trẻ có cảm giác yêu thích và có trách nhiệm với
việc ăn uống.
Theo dõi
phản ứng của trẻ: Gia đình cần quan sát và ghi nhận phản ứng của trẻ đối với những
loại thực phẩm khác nhau. Dựa trên những phản ứng này, gia đình có thể điều
chỉnh chế độ ăn uống để phù hợp với sở thích và nhu cầu dinh dưỡng của trẻ.
Thúc đẩy sự
giao tiếp: Giao tiếp trong bữa ăn giúp trẻ phát triển kỹ năng xã hội và ngôn
ngữ. Gia đình có thể đặt câu hỏi về cảm nhận của trẻ với các món ăn, khuyến
khích trẻ bày tỏ ý kiến về thực phẩm trong bữa ăn, từ đó giúp trẻ phát triển kỹ
năng giao tiếp.
5.2. Tạo lập thói quen lành mạnh theo từng giai đoạn
Giai đoạn
6-8 tháng tuổi: Tập làm quen với thức ăn khác ngoài sữa mẹ
- Tiếp tục
bú mẹ theo nhu cầu: Ít nhất 4-5 lần/ngày.
- Bắt đầu
cho ăn bổ sung: Bắt đầu từ thực phẩm mềm và nhuyễn như các loại bột ngũ cốc,
các loại rau củ, trái cây nghiền nhuyễn. Dần dần cho ăn các thức ăn đạm như
thịt, cá xay hoặc đậu. Cho trẻ làm quen từng loại thực phẩm theo nguyên tắc “1
loại thực phẩm mới trong 3-5 ngày” để theo dõi dị ứng.
- Tập cho
trẻ làm quen với muỗng, thìa, mùi vị, kết cấu thức ăn mới bằng cách đa dạng
thực phẩm từng chút một.
- Ở giai
đoạn bắt đầu ăn bổ sung, không cần sử dụng gia vị. Khi quá trình ăn bổ sung
tiến triển, có thể dần dần sử dụng gia vị nhưng nếu sử dụng muối, đường… thì
chỉ nêm nhạt và tận dụng hương vị vốn có của từng loại thực phẩm.
Giai đoạn
9-11 tháng tuổi: Tăng dần độ đặc và đa dạng thực phẩm.
- Tiếp tục
bú mẹ: Ít nhất 3-4 lần/ngày (hoặc nhiều hơn nếu trẻ muốn).
- Tăng dần
độ đặc và số lượng thức ăn theo tháng tuổi.
- Kết cấu
thức ăn đặc hơn: Từ cháo đặc đến cơm nát, rau củ băm nhỏ, thức ăn mềm để cho
trẻ tập nhai bằng nướu răng.
- Đa dạng
thực phẩm: Bổ sung đầy đủ 4 nhóm thực phẩm: nhóm giàu tinh bột (gạo, mỳ, phở,
bún…), nhóm giàu chất đạm (cá, trứng, thịt, sữa…), nhóm giàu chất béo (dầu, mỡ,
các hạt có dầu), nhóm giàu vitamin và chất khoáng (rau xanh, quả chín).
- Cho trẻ
tập ăn chủ động: Trẻ có thể bắt đầu ăn bằng tay với thực phẩm mềm như chuối
chín, khoai lang hấp… Khuyến khích trẻ cầm nắm thức ăn để rèn kỹ năng tự lập và
sự thích thú khi ăn.
- Kiểm soát
khối lượng: Đảm bảo trẻ nhận đủ lượng thức ăn, nhưng cũng không ép trẻ ăn quá
nhiều. Cho phép trẻ chọn lựa và tự ăn sẽ làm trẻ cảm thấy thoải mái hơn.
Giai đoạn
12-23 tháng tuổi: Hình thành thói quen ăn uống giống người lớn, ăn đa dạng và đủ
chất.
- Tiếp tục
bú mẹ: duy trì nuôi trẻ bằng sữa mẹ đến 24 tháng tuổi hoặc lâu hơn nếu có thể.
- Chế độ ăn
giống người lớn: Trẻ có thể ăn hầu hết những món giống như người lớn. Tuy
nhiên, do trẻ vẫn chưa mọc đủ toàn bộ 20 răng sữa nên thức ăn cần phải được nấu
mềm và không có gia vị mạnh. Tập ăn cơm nát, thức ăn mềm và cắt nhỏ phù hợp khả
năng nhai, nuốt.
- Thúc đẩy
thói quen ăn uống lành mạnh: Cần cho trẻ ăn đa dạng thực phẩm và khẩu vị, tăng
cường rau củ, trái cây, đạm động vật, thực vật, chất béo tốt. Hướng dẫn trẻ lựa
chọn các thực phẩm lành mạnh và hạn chế thức ăn có đường, muối và thức ăn chế biến
sẵn.
- Khuyến
khích uống nước: Đưa nước vào chế độ ăn uống hàng ngày và hạn chế các loại đồ
uống có đường (nước ngọt có ga và không ga, nước tăng lực, nước trái cây có
đường...)
- Không ép
trẻ ăn, tôn trọng cảm giác no - đói tự nhiên.
- Tự xúc
ăn, ăn đúng giờ: Khuyến khích trẻ tự xúc ăn để hình thành thói quen ăn uống độc
lập, đúng bữa và trong không khí vui vẻ, thoải mái. Bữa ăn của trẻ là khoảng
thời gian của yêu thương và học hỏi.
- Củng cố
các kỹ năng xã hội: Tạo cơ hội cho trẻ ăn cùng gia đình hoặc bạn bè để trẻ học
hỏi và thể hiện kỹ năng giao tiếp và xã hội.
5.3. Một số sai lầm thường gặp trong quá trình hình thành thói
quen ăn uống của trẻ
Ăn uống
thiếu đa dạng: Lặp đi lặp lại vài món quen thuộc khiến trẻ thiếu chất, dễ kén
ăn và không học được cách thích nghi với thực phẩm mới. Thiếu rau, trái cây,
chất xơ dẫn đến táo bón và thiếu vi chất dinh dưỡng.
Nêm gia vị
quá sớm hoặc quá nhiều: Cho nhiều muối, đường, nước mắm vào thức ăn
của trẻ dưới 1 tuổi có thể gây gánh nặng cho thận, tăng nguy cơ béo phì, huyết
áp cao trong tương lai. Vị mặn ngọt quá mức khiến trẻ khó chấp nhận hương vị tự
nhiên của thực phẩm. Ở độ tuổi ăn bổ sung, nhu cầu Natri có thể đáp ứng đủ từ
nguồn sữa mẹ và thực phẩm. Muối, hạt nêm, gia vị, mắm, nước tương… có thể dùng
để chế biến món ăn cho trẻ nhưng khi chế biến cần xem xét tổng thể lượng muối
từ các nguồn khác nhau, nên nêm nếm nhạt hơn khẩu vị của người lớn để tránh tạo
thói quen ăn mặn cho trẻ sau này.
Ưu tiên số
lượng hơn chất lượng: Một số cha mẹ chỉ quan tâm đến việc trẻ ăn được bao nhiêu mà
không chú ý đến giá trị dinh dưỡng trong từng bữa ăn. Hậu quả là trẻ có thể
thừa năng lượng nhưng thiếu vi chất, ảnh hưởng đến sự phát triển.
Ép trẻ ăn
khi trẻ không muốn: Nhiều cha mẹ ép trẻ ăn hết khẩu phần dù trẻ đã no, dẫn đến tâm
lý sợ ăn, căng thẳng khi đến bữa. Việc ép buộc có thể làm trẻ mất khả năng tự điều
chỉnh cảm giác đói - no, ảnh hưởng xấu đến mối quan hệ với thực phẩm.
Cho trẻ ăn
vặt quá nhiều: Cho trẻ ăn bánh kẹo, bim bim, nước ngọt bất kỳ lúc nào đòi khiến
trẻ no giả, biếng ăn, bỏ bữa chính, không nạp đủ chất dinh dưỡng cần thiết. Đồ
ăn vặt thường nhiều đường, muối, chất béo, thiếu vi chất, dễ gây béo phì, sâu
răng, rối loạn tiêu hóa không tốt cho sức khỏe lâu dài.
Không có
giờ ăn cố định: Thói quen ăn uống thất thường khiến trẻ rối loạn tiêu hóa, không
có cảm giác đói đúng giờ, dẫn đến biếng ăn hoặc ăn uống vô tội vạ.
Cho trẻ vừa
ăn vừa xem tivi, điện thoại: Mở tivi, điện thoại cho trẻ xem để trẻ
"há miệng ăn", làm trẻ không tập trung vào việc ăn, không cảm nhận
được hương vị, ăn không kiểm soát, có thể ăn quá nhiều hoặc quá ít. Hình thành
thói quen xấu: chỉ chịu ăn khi có thiết bị điện tử.
Không kiên
nhẫn với việc giới thiệu món ăn mới: Trẻ không thích là bỏ luôn món đó.
Trẻ kén ăn, thiếu đa dạng thực phẩm, dễ thiếu hụt dinh dưỡng. Việc bỏ cuộc quá
sớm khiến trẻ không có cơ hội khám phá khẩu vị đa dạng. Trẻ cần thử một món mới
từ 8-15 lần để làm quen vì vậy người lớn cần kiên trì, nhẹ nhàng giới thiệu món
mới mà không ép buộc.
Không lắng
nghe tín hiệu đói - no của trẻ: Một số cha mẹ không để trẻ quyết
định khi nào no, cứ nghĩ trẻ phải ăn hết khẩu phần ăn từ đó gây rối loạn cảm
giác đói - no, dẫn đến ăn uống không điều độ sau này.
Dùng thức
ăn để thưởng hoặc phạt: Khen thưởng bằng kẹo bánh hoặc phạt bằng việc
không cho ăn khiến trẻ gắn cảm xúc tiêu cực với thực phẩm. Từ đó, hình thành
thói quen ăn uống theo cảm xúc, không theo nhu cầu cơ thể.
Phụ huynh
không làm gương: Nếu cha mẹ ăn uống tùy tiện, kén ăn, ăn đồ ngọt, bỏ bữa sáng hoặc
ăn không đúng giờ, trẻ cũng dễ bắt chước theo, từ chối các món ăn tốt cho sức
khỏe. Trẻ cần một hình mẫu tích cực trong cách ăn uống từ cha mẹ.
5.4. Phòng tránh một số vấn đề khó khăn thường gặp khi cho trẻ ăn
bổ sung
5.4.1.
Biếng ăn
Biếng ăn
trẻ em là tình trạng trẻ từ chối ăn, ăn ít hơn nhu cầu khuyến nghị của lứa tuổi
(ít hơn 60%), có dấu hiện thiếu chất dinh dưỡng hoặc ăn không đa dạng thực
phẩm. Quá trình này có thể kéo dài, từ 1 tháng trở lên khiến trẻ chậm tăng trưởng
và thời gian ăn kéo dài trên 30 phút 1 bữa. Biếng ăn không chỉ gây suy dinh
dưỡng mà còn ảnh hưởng đến tâm lý trẻ do bị căng thẳng trong giờ ăn và tâm lý
gia đình do lo lắng.
Biếng ăn có
thể có nguyên nhân do bệnh lý (hệ tiêu hóa, răng hàm mặt, tai mũi họng, dinh
dưỡng, nhiễm ký sinh trùng, nhiễm khuẩn, sau chấn thương hoặc phẫu thuật, sau
tiêm phòng, dùng thuốc), do chế độ ăn (ăn bổ sung sai độ tuổi, chưa đúng loại
thức ăn, chưa đúng lượng ăn hoặc cách chế biến không phù hợp), nhưng thường gặp
nhất là biếng ăn tâm lý (do trẻ bị ép ăn, áp dụng hình thức thưởng phạt khi
ăn).
Dấu hiệu
nhận biết: ăn chậm kéo dài trên 30 phút/bữa hoặc không ăn đủ trong mỗi bữa ăn;
thay đổi thói quen ăn (không muốn ăn, ăn ít hơn, chỉ ăn một số món cụ thể);
thay đổi thái độ ăn (trở nên khó chịu, ồn ào, hay giận dữ khi ăn); chậm phát
triển về thể chất; rối loạn tiêu hóa; giảm sức đề kháng, hay bị bệnh; mất tập
trung, khó ngủ, cáu gắt, khó chịu hoặc buồn bã, thay đổi cảm xúc, vô cảm hoặc
không hứng thú với các hoạt động. Khi xét nghiệm có thể có thiếu máu dinh
dưỡng, thiếu kẽm, sắt…
Chăm sóc
dinh dưỡng cần thiết:
- Cho trẻ
bú mẹ nhiều lần hơn nếu thời gian mỗi lần bú ít hơn bình thường. Nếu trẻ không
bú mẹ trực tiếp thì mẹ vắt sữa vào cốc rồi cho uống bằng thìa.
- Cho trẻ
ăn bổ sung các thức ăn mềm, đa dạng, dễ tiêu hóa và chia nhiều bữa nhỏ. Chế
biến ngon, phù hợp với khẩu vị và lứa tuổi. Thay đổi thức ăn và cho trẻ ăn
những loại thức ăn trẻ tỏ ra thích hơn để khuyến khích trẻ ăn được nhiều, kích
thích sự thèm ăn.
- Tăng
cường cho trẻ ăn các thực phẩm giàu dinh dưỡng để trẻ bắt kịp tăng trưởng.
- Để tăng
cường lượng sữa cho trẻ biếng ăn, có thể sử dụng nhiều cách như thay thế một phần
sữa nước bằng các chế phẩm từ sữa (sữa chua, phomai mềm…) hoặc cho thêm sữa bột
vào bột/cháo của trẻ.
- Cho trẻ
uống đủ nước và ăn thêm quả chín.
- Nếu trẻ
không thích ăn hỗn hợp thì có thể tập cho trẻ ăn thức ăn riêng, cho trẻ tập ăn
thô sớm và cầm nắm thực phẩm để trẻ nhận biết các loại thực phẩm khác nhau, tạo
hứng thú khi ăn. Tránh xay nhuyễn thức ăn trong thời gian dài không kích thích
khẩu vị ăn tốt cho trẻ.
Chăm sóc
tâm lý:
- Mẹ và
người chăm sóc cần bình tĩnh và kiên nhẫn tìm hiểu nguyên nhân trẻ không chịu
ăn.
- Tránh các
hành vi ép buộc trẻ ăn vì chỉ làm cho tình trạng nặng nề hơn và có nguy cơ sặc
đường thở của trẻ.
- Động viên
khuyến khích, tạo tâm lý thoải mái trong bữa ăn của trẻ, với trẻ trên 1 tuổi
nên tập cho trẻ tự xúc, bốc thức ăn để tạo hứng thú ăn và rèn tính tự lập.
- Tập cho
trẻ ăn ngồi tại bàn, tránh ăn rong, tốt nhất ăn cùng bữa ăn gia đình để tạo
hứng thú trong bữa ăn, tránh để trẻ xao lãng xem ti vi hay điện thoại khi ăn.
- Với trẻ
đang biếng ăn, nên bày đồ ăn ít một để trẻ hào hứng và tiếp thêm nếu trẻ ăn
hết. Món ăn nên trình bày đẹp trong dụng cụ đựng đẹp mắt.
- Bữa ăn
không kéo dài quá 30 phút, nếu trẻ chưa ăn hết thì vẫn dừng bữa ăn, nếu ăn
không đủ lượng thì tăng số bữa lên để vẫn đạt được đủ lượng ăn khuyến nghị hàng
ngày.
- Khuyến
khích trẻ chơi đùa, vận động thể lực đều đặn giúp trẻ chóng đói và vui vẻ sẽ ăn
ngon miệng hơn.
- Không
dùng việc ăn của trẻ làm thành tích thưởng phạt. Người lớn trong gia đình cần
làm gương về hành vi ăn uống lành mạnh và sự yêu thích thực phẩm.
Nếu các dấu
hiệu trên kéo dài, thay đổi về chăm sóc dinh dưỡng và tâm lý không hiệu quả,
ảnh hưởng đến tăng trưởng và phát triển, gia đình cần đưa trẻ đến cơ sở y tế để
tìm hiểu nguyên nhân và điều trị kịp thời.
5.4.2. Dị
ứng thức ăn
Dị ứng thức
ăn ở trẻ em có thể xảy ra khi hệ miễn dịch phản ứng với một số loại thực phẩm
mà trẻ tiêu thụ. Dưới đây là một số dấu hiệu và triệu chứng thường gặp khi trẻ
bị dị ứng thức ăn:
- Dấu hiệu
trên da: phát ban hoặc mẩn ngứa (da trẻ có thể nổi mẩn đỏ, phát ban hoặc nổi mề
đay); bọng nước hoặc ngứa (có thể xuất hiện các mụn nước hoặc cảm thấy ngứa ở
da).
- Dấu hiệu
về hô hấp: khó thở (trẻ có thể cảm thấy khó thở, thở khò khè hoặc có cảm giác
nặng ngực); chảy nước mũi hoặc nghẹt mũi.
- Dấu hiệu
tiêu hóa: đau bụng, buồn nôn hoặc nôn; tiêu chảy hoặc phân lỏng có thể xảy ra.
- Dấu hiệu
nghiêm trọng: sốc phản vệ - đây là một phản ứng dị ứng nghiêm trọng có thể đe
dọa tính mạng, với các triệu chứng như sưng mặt, môi, hoặc họng; khó thở; nhịp
tim nhanh hoặc bất thường; cảm giác choáng váng hoặc ngất xỉu. Nếu thấy trẻ có
những triệu chứng này, cần đưa trẻ đến cơ sở y tế ngay lập tức.
- Thời gian
xuất hiện triệu chứng: triệu chứng thường xuất hiện trong vòng vài phút đến vài
giờ sau khi ăn thực phẩm gây dị ứng.
Các thực
phẩm có thể gây dị ứng phổ biến bao gồm sữa động vật/chế phẩm sữa, trứng, lạc
(đậu phộng), lúa mì, đậu nành, cá và động vật có vỏ.
Đề phòng dị
ứng thức ăn: tập ăn cho trẻ từng loại một và theo dõi trẻ trong những ngày đầu.
Ghi lại các loại thực phẩm cho trẻ ăn để dễ dàng xác định nguyên nhân khi có
triệu chứng dị ứng xảy ra.
Nếu nghi
ngờ trẻ bị dị ứng thực phẩm, hãy tham khảo ý kiến của bác sĩ hoặc chuyên gia
dinh dưỡng để được hướng dẫn và xét nghiệm cần thiết.
|
Gia đình
và cộng đồng có vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ thực hành ăn bổ sung
đúng và hình thành thói quen ăn uống lành mạnh cho trẻ từ 6-23 tháng tuổi.
Giai đoạn này là thời điểm quan trọng để trẻ làm quen với thực phẩm đa dạng,
phát triển kỹ năng tự ăn, điều chỉnh hành vi ăn uống và hình thành sở thích
ăn uống lâu dài. Môi trường ăn uống tích cực, không ép buộc, tôn trọng
tín hiệu đói - no của trẻ và duy trì lịch ăn hợp lý giúp trẻ ăn ngon miệng và
phát triển toàn diện.
Cán bộ y
tế tuyến cơ sở giữ vai trò then chốt trong việc tư vấn, hỗ trợ và đồng hành
cùng cha mẹ/người chăm sóc trẻ nhằm xây dựng thói quen ăn uống lành mạnh,
phát hiện và xử trí kịp thời các khó khăn thường gặp như biếng ăn, kén ăn, ăn
không đúng cách. Thông qua tư vấn, truyền thông và hỗ trợ thực hành, cán bộ y
tế góp phần duy trì thực hành ăn bổ sung bền vững và phòng ngừa các rối loạn
dinh dưỡng ở trẻ nhỏ.
|
6. Hướng
dẫn thực hành cho cán bộ y tế
6.1. Hỗ trợ thực hành ăn bổ sung cho cha mẹ/người chăm sóc trẻ
Nhân viên y
tế có vai trò hỗ trợ cha mẹ/người chăm sóc trẻ thực hành cho trẻ ăn bổ sung bao
gồm: hướng dẫn về thời điểm bắt đầu, cách lựa chọn - chế biến thực phẩm, khẩu phần
và tần suất ăn, kỹ năng cho ăn, theo dõi tăng trưởng, xử lý khó khăn khi cho
trẻ ăn và tư vấn cá thể hóa để đảm bảo trẻ nhận đủ dinh dưỡng, an toàn và phát
triển tốt.
6.1.1.
Nguyên tắc cơ bản của hỗ trợ thực hành ăn bổ sung
Khuyến
khích trẻ độc lập trong ăn uống. Có mối liên hệ giữa tiến trình ăn
bổ sung và sự phát triển chức năng miệng, nhai. Hỗ trợ phù hợp thì trẻ sẽ có
khả năng và hứng thú ăn uống một cách phù hợp.
Hỗ trợ ăn
bổ sung cần dựa trên tính cá thể của trẻ. Vì mỗi trẻ có khẩu vị, hành
vi ăn uống, tốc độ phát triển khác nhau nên không nên áp dụng cách tiếp cận
cứng nhắc trong việc ăn bổ sung. Cần lưu ý đến văn hóa ẩm thực địa phương, thói
quen ăn uống của gia đình để thực hiện ăn bổ sung hợp lý và phù hợp với từng
trẻ. Dựa vào biểu đồ tăng trưởng có thể đánh giá được lượng ăn phù hợp hay
không phù hợp với trẻ.
Hình thành
nền tảng thói quen ăn uống lành mạnh. Đây cũng là thời điểm hình thành
nhịp sinh hoạt và thói quen ăn uống hợp lý, góp phần ngăn ngừa các bệnh liên
quan đến lối sống sau này. Nguyên tắc cơ bản là hỗ trợ phát triển “khả năng ăn”
của mỗi trẻ bằng cách giúp trẻ nhận biết nhịp sinh hoạt, xây dựng nền tảng thói
quen ăn uống lành mạnh và tăng trải nghiệm niềm vui ăn uống cùng gia đình. Giai
đoạn ăn bổ sung cũng là lúc cha mẹ xem xét lại thói quen ăn uống của chính
mình. Do đó, cần cung cấp thông tin phù hợp, lưu ý rằng thói quen ăn uống bị
ảnh hưởng bởi tình trạng kinh tế của hộ gia đình.
Hỗ trợ phát
triển mối quan hệ giữa cha mẹ và trẻ lành mạnh. Đối với
nhiều cha mẹ, việc chuẩn bị và cho con ăn bổ sung là một trải nghiệm hoàn toàn
mới. Do mỗi trẻ phản ứng khác nhau với quá trình ăn bổ sung, người chăm sóc có
thể gặp nhiều lo lắng và khó khăn. Nếu được hỗ trợ đúng cách, cha mẹ sẽ cảm
thấy tự tin hơn trong việc chăm sóc con thông qua ăn uống là một phần quan
trọng trong nuôi dưỡng trẻ.
6.1.2.
Những lưu ý khi hỗ trợ thực hành ăn bổ sung cho cha mẹ/người chăm sóc trẻ
Không khiến
người chăm sóc cảm thấy ăn bổ sung là việc quá khó khăn: Cần xem ăn bổ sung như
một phần trong quá trình phát triển và hỗ trợ phù hợp để không gây áp lực.
Cung cấp hỗ
trợ linh hoạt: Nội dung và phương pháp hỗ trợ cần phù hợp với đặc điểm của trẻ,
môi trường gia đình và mối quan tâm của người chăm sóc.
Lắng nghe
và đáp ứng lo lắng của người chăm sóc: Cần công nhận cảm xúc và đưa ra hỗ trợ
thích hợp.
Tạo môi
trường ăn uống tích cực: Cảm xúc ảnh hưởng đến sự thèm ăn của trẻ. Hãy hỗ trợ
để tránh sử dụng lời nói hoặc hành vi cưỡng ép trong bữa ăn.
6.1.3. Các
nội dung hỗ trợ thực hành ăn bổ sung cho cha mẹ/người chăm sóc
a) Hỗ trợ
duy trì việc nuôi con bằng sữa mẹ sau 6 tháng tuổi
Tạo điều
kiện để hỗ trợ việc nuôi con bằng sữa mẹ, giới thiệu cho người mẹ các dịch vụ
chăm sóc sức khỏe cho mẹ và bé để người mẹ có thể sử dụng và chia sẻ khi gặp
khó khăn.
Lượng sữa
mỗi lần bú khác nhau tùy vào từng trẻ nên cần tập trung vào lượng sữa trẻ bú
mỗi ngày thay vì số lần bú. Hỗ trợ để người mẹ không cần lo lắng khi trẻ không
ăn đủ lượng sữa theo mục tiêu, miễn là trẻ khỏe mạnh và tăng cân.
Hỗ trợ và
tôn trọng ý kiến của bà mẹ về việc nên tiếp tục cho con bú đến khi nào là phù
hợp. Cần cung cấp thêm thông tin để các bà mẹ có thể quyết định tiếp tục hay
dừng cho con bú dựa trên tình trạng của người mẹ và trẻ.
b) Hỗ trợ
việc cho trẻ ăn bổ sung
Cung cấp
cho bà mẹ các thông tin liên quan đến việc cho trẻ ăn bổ sung như tầm quan
trọng của ăn bổ sung, cách cho trẻ ăn bổ sung đúng và hợp lý (thời điểm bắt đầu
ăn bổ sung, số bữa, lượng ăn, loại thực phẩm, cách chế biến...).
Cung cấp
kiến thức về thực hành ăn bổ sung hợp lý, hỗ trợ người chăm sóc để tạo môi trường
thoải mái khi cho trẻ ăn bổ sung.
Chia sẻ
thông tin cho người cha và gia đình để hỗ trợ quá trình ăn bổ sung của trẻ.
Cần tạo điều
kiện để toàn xã hội hỗ trợ việc cho trẻ ăn bổ sung, giới thiệu cho bàmẹ các
dịch vụ chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ để người mẹ được tiếp cận và chia sẻ khi
gặp khó khăn.
Hướng dẫn
để người chăm sóc cho ăn theo đáp ứng, khuyến khích trẻ ăn, cung cấp thức ăn
theo nhu cầu và tín hiệu no của trẻ và cho trẻ ăn. Cho trẻ ăn đủ lượng, không
nên ép trẻ ăn quá nhiều.
Hỗ trợ và
tôn trọng ý kiến của người chăm sóc trẻ, cung cấp thêm thông tin khi cần để
người chăm sóc trẻ có thể quyết định việc cho trẻ ăn bổ sung đúng cách.
Cung cấp
thông tin, hướng dẫn và hỗ trợ chăm sóc trẻ khi trẻ mắc bệnh và sau khi khỏi
bệnh.
Việc nuôi
trẻ sẽ khác nhau tùy vào cân nặng sơ sinh, tuổi, cách nuôi dưỡng và trạng thái
của trẻ, sử dụng biểu đồ hoặc bảng tra cân nặng, chiều dài của WHO để theo dõi
sự tăng trưởng của trẻ và có hỗ trợ phù hợp.
6.1.4. Hỗ
trợ thực hành ăn bổ sung phù hợp với giai đoạn phát triển của trẻ
Thực hành
cho ăn bổ sung cần đáp ứng được các yêu cầu sau:
- Phù hợp
với sự phát triển hệ tiêu hóa.
- Đáp ứng
nhu cầu dinh dưỡng theo từng độ tuổi.
- Phát
triển kỹ năng ăn uống và vận động miệng.
- Tạo thói
quen ăn uống lành mạnh lâu dài.
- Phòng
tránh nguy cơ hóc sặc và rối loạn ăn uống.
Ăn bổ sung
đúng giai đoạn theo chức năng ăn uống của trẻ không chỉ đảm bảo dinh dưỡng mà
còn hỗ trợ sự phát triển vận động, nhận thức và cảm xúc của trẻ một cách hài
hòa. Ưu tiên hướng dẫn cá thể hóa theo từng trẻ, đồng thời có sự kiên nhẫn và
linh hoạt của người chăm sóc. Bảng 8 trình bày các giai đoạn ăn bổ sung theo
chiều dọc để thấy được sự tương đồng giữa các giai đoạn phát triển của chức
năng ăn uống với cách cho trẻ ăn, cách chế biến, loại thức ăn và lượng thức ăn
phù hợp cho từng độ tuổi. Số lượng thực phẩm (sống, sạch) được ước tính cho mỗi
bữa ăn bổ sung. Căn cứ vào nội dung này, cán bộ y tế thực hiện việc hỗ trợ thực
hành ăn bổ sung phù hợp cho từng trẻ.
Bảng 8. Các giai đoạn ăn bổ sung phù hợp theo chức năng ăn uống
|
Đặc
điểm
|
Giai
đoạn đầu
|
Giai
đoạn giữa
|
Giai
đoạn sau
|
|
6
tháng
|
7-8
tháng
|
9-11
tháng
|
12-18
tháng
|
19-23
tháng
|
|
Sự phát triển của chức
năng ăn uống
|
Có thể thực hiện động
tác ngậm miệng, lấy thức ăn đưa vào miệng và nuốt chửng
|
Có thể nghiền nát thức
ăn bằng lưỡi và khẩu cái
|
Có thể nghiền nát thức
ăn bằng nướu
|
Đã có thể dùng răng
để ăn
|
Có đủ răng cửa, răng
nanh, răng hàm nhỏ.
Kỹ năng nhai, nghiền,
nuốt thành thục hơn
|
|
Cách cho trẻ ăn
|
Vừa quan sát trạng thái
của trẻ vừa cho trẻ ăn, bắt đầu với từng thìa một, mỗi ngày 1 bữa.
Cho trẻ bú mẹ theo
nhu cầu của trẻ.
|
Tạo nhịp ăn đều đặn
ngày 2 bữa.
Đa dạng hoá các loại
thực phẩm để trẻ thưởng thức được nhiều hương vị và kết cấu thức ăn.
|
Cho trẻ ăn 1 ngày 3
bữa.
Học trải nghiệm niềm
vui ăn uống thông qua việc ăn cơm cùng gia đình.
|
Cho trẻ ăn 1 ngày 3
bữa , điều chỉnh nhịp sinh hoạt trong ngày cho phù hợp. Tăng sự thích thú khi
ăn cho trẻ bằng việc cho trẻ cầm nắm thức ăn hoặc tự ăn.
|
Hướng dẫn luyện tập
việc lấy và cắn thức ăn bằng răng cửa, thực hiện ăn bốc bằng tay, ghi nhớ
kích thước thức ăn vừa miệng, có thể sử dụng được dụng cụ ăn uống, biết sử
dụng cốc, muỗng, tự xúc ăn.
|
|
Hình thức chế biến
|
Dạng sệt lỏng hoặc
nghiền mịn
|
Thức ăn mềm có thể
dùng lưỡi để nghiền được
|
Độ cứng thức ăn có thể
nghiền nát bằng nướu
|
Độ cứng có thể nhai
nghiền bằng nướu
|
Thức ăn có thể thái
nhỏ, nấu mềm, đa dạng thực phẩm như thịt, cá, rau củ.
|
|
Loại thức ăn
|
Thực phẩm phải dạng
lỏng - mịn như bột loãng, cháo nghiền/ xay nhuyễn, rau củ nghiền mịn, dễ tiêu
hoá.
|
Cháo nấu kỹ.
Cháo rây, bột đặc,
rau củ nghiền nhuyễn.
Chuối, bí đỏ hấp
nghiền.
|
Cháo nguyên hạt.
Rau củ băm hoặc thái
nhỏ, thịt băm/ xay thô.
|
Ăn cháo hạt, cơm nát,
mì, nui mềm.
|
Ăn cháo hạt, cơm nát,
mì, nui mềm.
Tập ăn như người lớn
nhưng vẫn cần hạn chế gia vị, tránh món cứng.
|
|
Lượng
thực phẩm (gam hoặc ml)/bữa
|
|
Lượng thức ăn bổ sung
|
100
ml
|
100-120
ml
|
150-170
ml
|
170-200
ml
|
180-220
ml
|
|
Ngũ cốc
|
10
g
|
10-15
g
|
15-20
g
|
20-25
g
|
25-30
g
|
|
Rau/củ
|
5
g
|
10
g
|
10-15
g
|
20-25
g
|
20-30
g
|
|
Thịt hoặc cá hoặc
trứng hoặc đậu phụ
|
7
-10 g
|
10-15
g
|
15-20
g
|
20-25
g
|
20-25
g
|
|
1
lòng đỏ trứng
|
1
lòng đỏ trứng
|
1
lòng đỏ trứng
|
1
quả trứng
|
1
quả trứng
|
|
|
|
30
g
|
50
- 55 g
|
50
- 55 g
|
|
Dầu/mỡ
|
2-3
ml
|
2-3
ml
|
2-4
ml
|
3-5
ml
|
3-5
ml
|
|
Sữa mẹ hoặc sữa nước
khác/ngày
|
760-800ml
|
650-700
ml
|
600-650
ml
|
550-600
ml
|
550-600
ml
|
Lưu ý:
- Lượng thức ăn chỉ
mang tính tham khảo, cần điều chỉnh tùy theo nhu cầu ăn cũng như sự phát triển
và tăng trưởng của trẻ. Đây là lượng trẻ cần ăn được, không tính đến lượng thực
phẩm có thể hao hụt trong quá trình chuẩn bị và nấu.
- Giai đoạn tập ăn
(thời điểm 6 tháng tuổi) là để trẻ làm quen với cảm giác và kết cấu của thức ăn
và tập nuốt thành thạo. Vì vậy, cha mẹ không nên quá bận tâm đến lượng ăn mà
nên tiến hành từ từ.
- Cần đặc biệt lưu ý
với các thực phẩm có nguy cơ gây dị ứng, cho trẻ. Các thực phẩm có thể gây dị
ứng phổ biến bao gồm sữa, trứng, lạc (đậu phộng), lúa mì, đậu nành, cá và động
vật có vỏ.
- Tập cho trẻ ăn thực
phẩm mới: Có thể tập cho trẻ ăn riêng trực tiếp từng loại thực phẩm. Hoặc thêm
một loại thực phẩm mới vào bột/cháo và trộn thành hỗn hợp. Cho trẻ tập ăn trong
khoảng vài ngày và chú ý đến các phản ứng dị ứng.
6.2.
Đánh giá thực hành ăn bổ sung
6.2.1. Đánh giá trên cá
thể
Dấu hiệu để đánh giá
trẻ được ăn bổ sung đúng và đủ bao gồm:
- Trẻ tăng trưởng cân
nặng và chiều dài đều hằng tháng (theo dõi qua đường cong tăng trưởng trên biểu
đồ tăng trưởng của trẻ)
- Trẻ được ăn đủ thường
đi ngoài đều và phân có dạng mềm, dễ đi mà không quá lỏng. Nếu trẻ ăn đủ chất
xơ (từ rau quả) cũng sẽ giúp cải thiện sức khỏe tiêu hóa.
- Tâm trạng và hoạt
động: Trẻ có tinh thần vui vẻ, hoạt bát và thường xuyên hứng thú trong việc
khám phá môi trường xung quanh. Trẻ không quá quấy khóc hay khó chịu do đói và
có thể tự chơi mà không cần quá nhiều can thiệp của người lớn.
- Việc ăn uống và thói
quen ăn uống: Trẻ thể hiện sự quan tâm đến thức ăn và thường muốn thử các loại
thực phẩm khác nhau. Trẻ có thể tự cầm nắm thức ăn và ăn một cách thoải mái khi
đã quen với việc ăn bổ sung.
- Nhận biết dấu hiệu
đói và no: Trẻ thể hiện rõ dấu hiệu khi đói và ngừng ăn khi đã no (trẻ quay đầu
đi, nắm chặt miệng hoặc giãy giụa khi mẹ cố cho trẻ ăn thêm).
- Khả năng ăn thức ăn
mới: Trẻ có khả năng thử và chấp nhận các loại thực phẩm mới, giúp mở rộng chế
độ ăn uống và thói quen ăn uống của trẻ.
- Bên cạnh đó, có thể
theo dõi tình hình bệnh tật của trẻ cũng như các mốc phát triển tâm vận động
bình thường theo lứa tuổi.
6.2.2. Đánh giá trên
cộng đồng
Các chỉ số Nuôi dưỡng
trẻ nhỏ 39 có thể lựa chọn để đánh
giá một cộng đồng có các thực hành tối ưu về ăn bổ sung cho trẻ nhỏ, làm cơ sở
để đề xuất các chính sách, can thiệp về y tế và dinh dưỡng cũng như theo dõi và
đánh giá, bao gồm cả trong các tình huống khẩn cấp.
Chỉ số Trẻ 12-23 tháng
tuổi tiếp tục được nuôi bằng sữa mẹ, ký hiệu là CBF (Continued
breastfeeding 12-23 months) là tỷ lệ phần trăm trẻ từ 12-23 tháng tuổi được
bú sữa mẹ trong ngày trước đó.
|
CBF (%) =
|
Số trẻ từ 12 - 23 tháng được nuôi bằng sữa mẹ vào ngày hôm qua
|
x 100
|
|
Số trẻ 12 - 23 tháng tuổi được điều tra
|
Chỉ số Trẻ
6-23 tháng có chế độ ăn đa dạng tối thiểu, ký hiệu là MDD (Minimum
dietary diversity 6-23 months) là tỷ lệ trẻ 6-23 tháng tuổi được
ăn từ 5 nhóm thực phẩm trở lên trong 8 nhóm thực phẩm bao gồm cả sữa mẹ.
Phân loại 8
nhóm thực phẩm là:
Nhóm 1: Sữa
mẹ
Nhóm 2: Ngũ
cốc, các loại củ
Nhóm 3: Các
loại đậu và hạt
Nhóm 4: Các
sản phẩm từ sữa (sữa, sữa chua, pho mát)
Nhóm 5:
Thực phẩm từ thịt (thịt, cá, gia cầm, và gan/nội tạng)
Nhóm 6:
Trứng
Nhóm 7:
Trái cây, rau quả giàu Vitamin A
Nhóm 8: Các
loại trái cây và rau quả khác
Chỉ số Trẻ
6-23 tháng có chế độ ăn đa dạng tối thiểu (MDD) được ước tính theo công thức:
|
MDD (%) =
|
Số trẻ 6 - 23 tháng tuổi được ăn từ 5 nhóm thực phẩm trở lên
vào ngày hôm qua
|
x 100
|
|
Số trẻ 6 - 23 tháng tuổi được điều tra
|
Chỉ số Trẻ
6-23 tháng tuổi có đủ số lần ăn tối thiểu, ký hiệu là MMF (Minimum meal frequency
6-23 months) là tỷ lệ phần trăm trẻ em từ 6-23 tháng tuổi được ăn thức ăn mềm,
nửa rắn hoặc rắn (nhưng bao gồm cả sữa ngoài đối với nhóm trẻ không được bú sữa
mẹ) đạt số bữa tối thiểu trở lên trong ngày trước đó (“số bữa ăn tối thiểu”,
đồng nghĩa với “số lần ăn tối thiểu” trừ khi với số lượng rất nhỏ);
Số lần ăn
tối thiểu: ≥ 2 lần đối với trẻ 6-8 tháng tuổi, ≥ 3 lần đối với trẻ 9-23 tháng
tuổi đối với trẻ bú mẹ và ≥ 4 lần đối với trẻ 6-23 tháng tuổi không bú mẹ.
Khái niệm “số
bữa ăn tối thiểu” có sự khác nhau giữa nhóm trẻ được nuôi bằng sữa mẹ so với
nhóm trẻ không được nuôi bằng sữa mẹ, nên áp dụng 2 công thức cho 2 nhóm trẻ
này như sau:
- Với nhóm
trẻ được nuôi bằng sữa mẹ:
|
MFF (%) =
|
Số trẻ từ 6 - 23 tháng tuổi được nuôi bằng sữa mẹ, được ăn thức
ăn mềm, nửa rắn hoặc rắn với số lần tối thiểu hoặc nhiều hơn trong ngày hôm
qua
|
x 100
|
|
Số trẻ được nuôi bằng sữa mẹ từ 6 - 23 tháng tuổi được điều tra
|
- Với nhóm
trẻ không được nuôi bằng sữa mẹ:
|
MFF (%) =
|
Số trẻ từ 6 - 23 tháng tuổi không được nuôi bằng sữa mẹ được ăn
thức ăn mềm, nửa rắn hoặc rắn với số lần tối thiểu hoặc nhiều hơn trong ngày
hôm qua
|
x 100
|
|
Số trẻ không được nuôi bằng sữa mẹ từ 6 - 23 tháng tuổi được điều
tra
|
Chỉ số Trẻ
6-23 tháng tuổi có chế độ ăn chấp nhận tối thiểu, ký hiệu là MAD
(Minimum acceptable diet 6-23 months) là tỷ lệ trẻ 6-23 tháng tuổi được
ăn theo chế độ ăn tối thiểu có thể chấp nhận được vào ngày hôm trước. Chế độ ăn
chấp nhận tối thiểu được định nghĩa là:
- Đối
với trẻ em bú sữa mẹ: tối thiểu là có được sự đa dạng về chế độ
ăn uống (MDD) và đạt chỉ tiêu về tần suất bữa ăn tối thiểu (MMF) trong độ tuổi
của trẻ trong ngày hôm trước;
- Đối
với trẻ không được bú sữa mẹ: tối thiểu là có được sự đa dạng về chế độ
ăn uống (MDD) và đạt chỉ tiêu về tần suất bữa ăn tối thiểu (MMF) trong độ tuổi
của trẻ trong ngày hôm trước và có ít nhất 2 lần được uống sữa ngoài.
Chỉ số Trẻ
6-23 tháng tuổi có chế độ ăn chấp nhận tối thiểu (MAD) được tính từ 2 công thức
sau cho 2 nhóm đối tượng:
Với trẻ được
nuôi bằng sữa mẹ:
|
MAD (%) =
|
Số trẻ từ 6 - 23 tháng tuổi được nuôi bằng sữa mẹ có chế độ ăn
đa dạng tối thiểu (MDD) và đạt số bữa ăn tối thi ểu (MMF) ngày hôm qua
|
x 100
|
|
Số trẻ được nuôi bằng sữa mẹ từ 6 - 23 tháng tuổi được điều tra
|
Với trẻ không
được nuôi bằng sữa mẹ:
|
MAD (%) =
|
Số trẻ từ 6 - 23 tháng tuổi không được nuôi bằng sữa mẹ có chế độ
ăn đa dạng tối thiểu (MDD), và đạt số bữa ăn tối thiểu (MMF) đồng thời có được
ít nhất 2 lần bú sữa ngoài ngày hôm qua
|
x 100
|
|
Số trẻ không được nuôi bằng sữa mẹ từ 6 - 23 tháng tuổi được điều
tra
|
Chỉ số tiêu
thụ trứng, thịt, cá, gia cầm, nội tạng… ở trẻ 6-23 tháng tuổi, ký hiệu là
EFF (Egg and/or flesh food consumption 6-23 months) là tỷ lệ
trẻ 6-23 tháng tuổi có ăn ít nhất một trong các loại thực phẩm giàu đạm có
nguồn gốc động vật (như: trứng, thịt, cá, gia cầm, nội tạng …) vào ngày hôm
qua. Nhóm thực phẩm được đưa vào chỉ số này chính là Nhóm 5 (thịt, cá, gia cầm,
nội tạng động vật…) và Nhóm 6 (trứng) trong 8 nhóm thực phẩm theo phân nhóm của
WHO (xem chỉ số MDD).
Chỉ số EFF
được tính theo công thức:
|
EFF (%) =
|
Số trẻ từ 6 - 23 tháng tuổi được ăn trứng thịt, cá, gia cầm, nội
tạng ngày hôm qua
|
x 100
|
|
Số trẻ từ 6 - 23 tháng tuổi được điều tra
|
Chỉ số tiêu
thụ đồ uống có đường ở trẻ 6-23 tháng, ký hiệu là SwB (sweet beverage consumption
6-23 months) là tỷ lệ trẻ 6-23 tháng tuổi có tiêu thụ đồ uống có đường ngày hôm
qua. Đồ uống có đường trong định nghĩa này bao gồm: Các loại đồ uống được thêm
đường sản xuất và đóng gói thương mại như nước ngọt có ga, nước có hương vị hoa
quả, nước uống thể thao, nước sô-cô-la, sữa có đường, sữa ngũ cốc; nước trái
cây nguyên chất, nước có hương vị trái cây được chế biến tại nhà, bán trên
đường phố hoặc đóng chai, hộp, lọ… thành phẩm; đồ uống có thêm đường, mật ong,
si-rô, bột hương vị.
Được ước
tính theo công thức:
|
SwB (%) =
|
Số trẻ từ 6 - 23 tháng tuổi có tiêu thụ 1 đồ uống có đường ngày
hôm qua
|
x 100
|
|
Số trẻ từ 6 - 23 tháng tuổi được điều tra
|
Chỉ số tiêu
thụ thực phẩm không lành mạnh ở trẻ 6-23 tháng, ký hiệu là UFC (unhealthy food
consumption 6-23 months) là tỷ lệ trẻ 6-23 tháng tuổi có tiêu thụ các
thực phẩm không lành mạnh ngày hôm qua. Thực phẩm không lành mạnh trong định
nghĩa này bao gồm: Các thực phẩm có chứa đường (như sô cô la, kẹo cứng, kẹo
mềm, bánh ngọt, bánh quy, kem hoặc đồ ăn ngọt khác); Các thức ăn vặt có chứa
nhiều muối (bim bim, bỏng ngô mặn...).
Được ước
tính theo công thức:
|
UFC (%) =
|
Số trẻ từ 6 - 23 tháng tuổi có tiêu thụ thực phẩm không lành mạnh
ngày hôm qua
|
x 100
|
|
Số trẻ từ 6 - 23 tháng tuổi được điều tra
|
Chỉ số không
tiêu thụ rau quả ở trẻ 6-23 tháng tuổi, ký hiệu là ZVF (Zero vegetable or fruit
consumption 6-23 months) là tỷ lệ trẻ 6-23 tháng tuổi không tiêu thụ bất
kỳ loại rau quả nào trong khẩu phần ăn ngày hôm qua (24 giờ qua).
Được tính
theo công thức:
|
ZVF (%) =
|
Số trẻ từ 6 - 23 tháng tuổi không tiêu thụ rau quả ngày hôm qua
|
x 100
|
|
Số trẻ từ 6 - 23 tháng tuổi được điều tra
|
Phụ lục 1: Căn cứ xây dựng hướng
dẫn
1. Văn bản
quy phạm pháp luật:
- Nghị định
số 100/2014/NĐ-CP ngày 6/11/2014 của Chính
phủ quy định về việc kinh doanh và sử dụng sản phẩm dinh dưỡng cho trẻ nhỏ,
bình bú và vú ngậm nhân tạo;
2. Quyết
định của Chính phủ:
- Quyết
định số 1896/QĐ-TTg ngày 25/12/2019 của Thủ
tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình “Chăm sóc dinh dưỡng 1000 ngày đầu đời nhằm
phòng chống suy dinh dưỡng bà mẹ, trẻ em, nâng cao tầm vóc người Việt Nam”;
- Quyết
định số 02/QĐ-TTg ngày 05/01/2022 của Thủ
tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược Quốc gia về dinh dưỡng giai đoạn 2021-2030
và tầm nhìn đến 2045;
3. Hướng
dẫn chuyên môn hiện hành:
- Quyết
định số 4944/QĐ-BYT ngày 27/11/2014 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành
Hướng dẫn quốc gia về phòng chống thiếu vi chất dinh dưỡng;
- Quyết
định số 2615/QĐ-BYT ngày 16/6/2016 của Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành Nhu cầu dinh
dưỡng khuyến nghị cho người Việt Nam;
- Tài liệu
đào tạo Nuôi dưỡng trẻ nhỏ (tài liệu dùng cho cán bộ y tế công tác trong lĩnh
vực chăm sóc sức khỏe bà mẹ - trẻ em tại các tuyến) - Ban hành theo Quyết định
số 5063/QĐ-BYT ngày 5/12/2014 của Bộ Y tế;
- Viện Dinh
dưỡng. Khuyến nghị dinh dưỡng trong 1000 ngày vàng. Nhà xuất bản Y học, 2017;
- Viện Dinh
dưỡng. Hướng dẫn tư vấn dinh dưỡng 1000 ngày đầu đời. Nhà xuất bản Lao động,
2021.
- Viện Dinh
dưỡng. Hướng dẫn các can thiệp hỗ trợ thực hành về nuôi dưỡng trẻ nhỏ. Ban hành
theo Quyết định 1862/QĐ-VDD ngày 29/12/2023.
- WHO.
Global strategy for infant and young child feeding. 2003.
- WHO.
Guidance on ending the inappropriate promotion of foods for infants and young
children: implementation manual. 2017.
- WHO.
Indicators for assessing infant and young child feeding practices: definitions
and measurement methods. 2021.
- WHO.
Policies to protect children from the harmful impact of food marketing: WHO
guideline. 2023.
- WHO.
Guideline for complementary feeding of infants and young children 6-23 months
of age. 2023.
- United
Nations Children’s Fund (UNICEF). Improving Young Children’s Diets During the
Complementary Feeding Period. UNICEF Programming Guidance. 2020.
- ASEAN
Secretariat. Guidelines and Minimum Standards for the Protection, Promotion and
Support of Breastfeeding and Complementary Feeding. 2022.
- ASEAN
Secretariat. Minimum standards and guidelines on actions to protect children
from the harmful impact of marketing of food and non-alcoholic beverages in the
ASEAN region. 2023.
Phụ lục 2: Một số khái niệm về ăn
bổ sung 1
Đa vi chất
dinh dưỡng dạng bột (MNPs): Các vi chất dinh dưỡng (các vitamin
và chất khoáng) dạng bột khô có thể thêm vào bất kỳ loại thức ăn dạng rắn, nửa
rắn hoặc mềm nào đã được chế biến mà không làm thay đổi màu sắc và mùi vị của
thức ăn. MNPs được đóng trong các gói nhỏ. WHO khuyến nghị trẻ nhỏ 6-23 tháng
tuổi được bổ sung 90 gói/đợt, 1 năm 2 đợt cách nhau 3 tháng, đặc biệt ở các khu
vực có tỷ lệ thiếu máu cao. Giải pháp này còn được gọi là Tăng cường vi chất
tại nhà.
Cho ăn theo
đáp ứng: Thực hành cho ăn khuyến khích trẻ tự ăn và đáp ứng nhu cầu sinh lý
và phát triển, có thể khuyến khích trẻ tự điều chỉnh khi ăn và hỗ trợ sự phát
triển về nhận thức, cảm xúc và xã hội. Đây là phương pháp cho ăn mà người chăm
sóc khuyến khích trẻ ăn, cung cấp thức ăn theo nhu cầu và tín hiệu no của trẻ
và cho trẻ ăn một cách cẩn thận. Cho ăn theo đáp ứng giúp trẻ phát triển thói
quen ăn uống lành mạnh.
Code: Bộ luật
quốc tế về tiếp thị các sản phẩm thay thế sữa mẹ và tất cả các nghị quyết có
liên quan do Đại hội đồng Y tế Thế giới thông qua. Bộ luật này nhằm mục đích
cấm mọi hình thức quảng cáo các sản phẩm thay thế sữa mẹ, bao gồm cả sữa công
thức dành cho trẻ sơ sinh, bình sữa và núm vú.
Đồ uống có
đường: Bất kỳ chất lỏng nào được làm ngọt bằng cách thêm đường như đường
nâu, đường dextrose, đường fructose, đường glucose, xi-rô ngô có hàm lượng
fructose cao, mật ong, đường lactose, xi-rô mạch nha, đường maltose, mật mía,
đường thô và đường sucrose.
Giai đoạn
ăn bổ sung: Giai đoạn từ 6 đến 23 tháng tuổi. Đây là giai đoạn trẻ em cần học
cách chấp nhận các loại thực phẩm và đồ uống lành mạnh và thiết lập thói quen
ăn uống lâu dài. Giai đoạn này cũng trùng với giai đoạn đỉnh điểm của nguy cơ
chậm phát triển và thiếu hụt chất dinh dưỡng.
Sữa mẹ (breastmilk):
Chất lỏng dinh dưỡng tự nhiên được tiết ra từ tuyến vú của người mẹ sau khi
sinh con. Sữa mẹ là thức ăn lý tưởng nhất dành cho trẻ nhỏ, chứa đầy đủ các
chất dinh dưỡng cần thiết cho sự phát triển toàn diện của trẻ.
Sản phẩm thay
thế sữa mẹ: Bất kỳ loại thực phẩm hoặc đồ uống nào được tiếp thị hoặc được
sử dụng để thay thế một phần hoặc toàn phần sữa mẹ. Hướng dẫn gần đây của Tổ
chức Y tế thế giới phân loại các loại sữa được tiếp thị cho trẻ em từ khi sinh
cho đến 3 tuổi đều là sản phẩm thay thế sữa mẹ.
Sữa công
thức cho trẻ nhỏ (infant formula): Sản phẩm sữa hoặc gần giống sữa có nguồn gốc
động vật hoặc thực vật được sản xuất công nghiệp theo theo tiêu chuẩn quốc gia
hoặc Tiêu chuẩn Codex về sữa công thức cho trẻ nhỏ nhằm đáp ứng nhu cầu dinh
dưỡng của trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ trong 6 tháng đầu đời.
Sữa công
thức (follow-up formula): Sản phẩm sữa hoặc gần giống sữa có nguồn gốc
động vật hoặc thực vật được sản xuất công nghiệp theo tiêu chuẩn quốc gia hoặc
Tiêu chuẩn Codex về sữa công thức, được tiếp thị hoặc giới thiệu là phù hợp với
trẻ nhỏ trên 6 tháng tuổi. Còn được gọi là sữa công thức số 2.
Sữa tăng
trưởng (growing up milk): Sản phẩm sữa được tiếp thị cho trẻ em từ 1 đến 3
tuổi. Các sản phẩm này hỗ trợ bổ sung dinh dưỡng cho trẻ em nhưng không bắt
buộc.
Sữa động
vật là chất lỏng màu trắng được tiết ra từ tuyến vú của động vật có vú
cái (bò, dê, cừu, lạc đà…) sau khi sinh con, có chức năng nuôi dưỡng con non
trong giai đoạn đầu đời.
Sữa ít béo (low-fat
milk): Sữa được giảm bớt một phần chất béo so với sữa nguyên chất (sữa
bò hoặc sữa động vật khác). Sữa tách béo có hàm lượng chất béo 1-2% nhưng vẫn
giữ lại phần lớn các chất dinh dưỡng khác.
Sữa tách
béo (skim milk): Sữa được loại bỏ hoàn toàn hoặc gần như toàn bộ
chất béo so với sữa nguyên chất (sữa bò hoặc sữa động vật khác). Sữa tách
béo có hàm lượng chất béo giảm xuống dưới 0,5% nhưng vẫn giữ lại phần lớn các
chất dinh dưỡng khác.
Sữa thực
vật (plant-based milk): Được chế biến từ nguyên liệu có nguồn
gốc thực vật như hạt, ngũ cốc, đậu đỗ, thông qua quá trình ngâm, xay, lọc để
tạo thành chất lỏng có màu trắng đục, tương tự sữa động vật.
Thức ăn bổ
sung tăng cường dinh dưỡng: Thức ăn bổ sung được thiết kế đặc
biệt để cung cấp thêm năng lượng và/hoặc các chất dinh dưỡng. Những thức ăn này
có thể được sản xuất tại địa phương hoặc sản xuất thương mại.
Thức ăn bổ
sung thương mại: Thức ăn bổ sung có hoặc không được tăng cường dinh dưỡng, được sản
xuất thương mại (trong nước hoặc quốc tế) và có sẵn trên thị trường.
Thức ăn
đường phố: Thức ăn đã được chế biến hoặc nấu chín để tiêu thụ ngay do người
bán hàng rong bán trên phố hoặc ở những nơi công cộng khác.
Thực phẩm
chế biến: Thực phẩm đã được chế biến hoặc đóng gói thương mại dưới dạng
nướng, đóng hộp, sấy khô hoặc đông lạnh. Không phải tất cả thực phẩm chế biến
đều không lành mạnh, nhưng một số thực phẩm chứa hàm lượng muối, đường và chất
béo không lành mạnh cao, đã được chứng minh là làm tăng nguy cơ thừa cân, béo
phì và các bệnh mạn tính.
Thực phẩm
siêu chế biến: Thực phẩm siêu chế biến (ultra-processed foods - UPFs) là
những thực phẩm được sản xuất công nghiệp qua nhiều công đoạn, chứa nhiều thành
phần không hoặc hiếm khi dùng trong nấu ăn tại gia đình, nhằm tăng độ ngon,
tiện lợi, bảo quản lâu và kích thích tiêu dùng. Đặc điểm chính của thực phẩm
siêu chế biến là nhiều đường, muối, chất béo xấu; Chứa phụ gia thực phẩm: chất
tạo màu, tạo mùi, tạo ngọt nhân tạo, chất nhũ hóa, chất bảo quản…; Ít hoặc
không còn cấu trúc thực phẩm ban đầu; Giá trị dinh dưỡng thấp, đậm độ năng
lượng cao nhưng nghèo vi chất. Ví dụ: Nước ngọt có gas, nước tăng lực; Snack,
bim bim, bánh kẹo công nghiệp; Mì ăn liền, cháo/bột ăn liền pha sẵn; Xúc xích,
thịt nguội, thịt viên chế biến sẵn; Ngũ cốc ăn sáng nhiều đường; Sữa pha sẵn có
hương liệu, màu tổng hợp (Theo phân loại NOVA 40 được
WHO/FAO sử dụng).
Thực phẩm
chế biến từ ngũ cốc (processed cereal-based food): là thực phẩm được chế biến chủ yếu
từ một hoặc nhiều loại ngũ cốc xay xát, chiếm ít nhất 25% tổng khối lượng hỗn
hợp cuối cùng tính theo trọng lượng khô. Có bốn loại: Các sản phẩm bao gồm ngũ
cốc được chế biến để tiêu thụ với sữa hoặc các chất lỏng dinh dưỡng thích hợp
khác; Ngũ cốc được bổ sung thêm thực phẩm giàu protein được chế biến để tiêu
thụ với nước hoặc các chất lỏng không chứa protein thích hợp khác; Mì ống được
sử dụng sau khi nấu trong nước sôi hoặc các chất lỏng thích hợp khác; và Bánh
mì nướng và bánh quy được sử dụng trực tiếp hoặc sau khi nghiền thành bột, có
thể thêm nước, sữa hoặc các chất lỏng thích hợp khác (CODEX CXS74-1981).
Thức ăn trẻ
em đóng gói sẵn (canned baby food): thức ăn trẻ em dạng ăn liền được chế biến bằng
nhiệt trước hoặc sau khi được đóng kín trong hộp và thức ăn trẻ em dạng khô
được chế biến bằng phương pháp vật lý) (CODEX STAN 73-1981)
Thực phẩm
giàu dinh dưỡng: Thực phẩm có hàm lượng vi chất dinh dưỡng cao so với trọng lượng.
Thực phẩm giàu dinh dưỡng cũng chứa năng lượng và các chất dinh dưỡng đa lượng.
Ví dụ bao gồm các loại đậu và hạt, các thực phẩm có nguồn gốc động vật, trái
cây và rau màu xanh đậm và màu cam.
Thực phẩm
nguồn động vật: Thực phẩm có nguồn gốc từ động vật như thịt (thịt lợn, thịt bò,
thịt gà…), tôm, cá, trứng... và các sản phẩm từ sữa (sữa, sữa chua, phô-mai,
sữa lên men…).
Tiêu chuẩn
Codex: tiêu chuẩn được Ủy ban Codex (cơ quan trung tâm của Chương trình
Tiêu chuẩn thực phẩm chung của FAO/WHO) công bố nhằm bảo vệ sức khỏe người tiêu
dùng và thúc đẩy các hoạt động công bằng trong thương mại thực phẩm.
Trẻ nhỏ: Trong tài
liệu hướng dẫn này, trẻ nhỏ là trẻ em từ 6 đến 23 tháng tuổi.
Tài liệu tham khảo
1. Improving
Young Children’s Diets During the Complementary Feeding Period - UNICEF
Programming Guidance, 2020 | UNICEF. Accessed November 6, 2024.
https://www.unicef.org/documents/improving-young-childrens-diets-during-complementary-
feeding-period-unicef-programming
2. WHO. WHO
Guideline for complementary feeding of infants and young children 6-23 months
of age. Accessed November 10, 2024.
https://www.who.int/publications/i/item/9789240081864
3. Dewey
KG, Adu-Afarwuah S. Systematic review of the efficacy and effectiveness of
complementary feeding interventions in developing countries. Matern Child
Nutr. 2008;4 Suppl 1(Suppl 1):24-85. doi:10.1111/j.1740-8709.2007.00124.x
4. Viện
Dinh dưỡng. Khuyến Nghị Dinh Dưỡng 1000 Ngày Vàng. Nhà xuất bản Y học;
2017.
5. Dietary
Reference Intakes for Energy, Carbohydrate, Fiber, Fat, Fatty Acids,
Cholesterol, Protein, and Amino Acids. National Academies Press; 2005.
doi:10.17226/10490
6. Mary
Arimond, Elaine Ferguson, Doris Wiesmann. Insights from Optifood Modelling
to Support Revision of Infant and Young Child Feeding Recomendation: Full
Report - For the WHO Guidelines Development Group on Guidelines for Feeding
Infants and Young Children 6-23 Months of Age.; 2022.
7. Dewey
KG, Brown KH. Update on technical issues concerning complementary feeding of
young children in developing countries and implications for intervention
programs. Food Nutr Bull. 2003;24(1):5-28.
doi:10.1177/156482650302400102
8. Bộ Y tế
- Viện Dinh dưỡng. Nhu Cầu Dinh Dưỡng Khuyến Nghị Cho Người Việt Nam.
Nhà xuất bản Y học; 2016.
9. Formulation
Study Group. Dietary Reference Intakes for Japanese. Published online 2020.
10. WHO.
The WHO Child Growth Standards. 2006. Accessed October 7, 2024.
https://www.who.int/tools/child-growth-standards
11. Weltgesundheitsorganisation,
ed. Complementary Feeding: Report of the Global Consultation and Summary of
Guiding Principles for Complementary Feeding of the Breastfed Child. World
Health Organization; 2002.
12. Arvedson
JC, Brodsky L. Pediatric Swallowing and Feeding: Assessment and Management.
Delmar Publishers; 2002.
13. Suskind
D, Lenssen P, eds. Pediatric Nutrition Handbook: An Algorithmic Approach.
Wiley-Blackwell; 2013.
14. WHO/UNICEF.
Complementary feeding of young children in developing countries : a review
of current scientific knowledge. World Health Organization; 1998. Accessed
June 29, 2025. https://iris.who.int/handle/10665/65932
15. Complementary
feeding. In: Infant and Young Child Feeding: Model Chapter for Textbooks for
Medical Students and Allied Health Professionals. World Health
Organization; 2009. Accessed October 19, 2025.
https://www.ncbi.nlm.nih.gov/books/NBK148957/
16. Noles
DL, Matzeller KL, Frank DN, Krebs NF, Tang M. Complementary Feeding and Infant
Gut Microbiota: A Narrative Review. Nutrients. 2025;17(5):743.
doi:10.3390/nu17050743
17. Sharma
A, Cockerill H. From Birth to Five Years: Children’s Developmental Progress.
Routledge; 2008.
18. Illingworth
k RS. The Normal Child: Some Problems of the Early Years and Their Treatment.
Churchill Livingstone; 1983.
19. Berk
LE. Infants, Children, and Adolescents. Pearson; 2012.
20. Papalia
DE, Feldman RD, Martorell G. Experience Human Development, 12th Edition.
McGraw-Hill; 2012.
21. Benderev
MD. Revised Developmental Milestones for Babies and Toddlers: Your Questions
Answered. ZERO TO THREE. Accessed June 21, 2025.
https://www.zerotothree.org/resource/revised-developmental-milestones-for-babies-and-toddlers-
your-questions-answered/
22. Michaelsen
KF, Dewey KG, Perez-Exposito AB, Nurhasan M, Lauritzen L, Roos N. Food sources
and intake of n-6 and n-3 fatty acids in low-income countries with emphasis on
infants, young children (6-24 months), and pregnant and lactating women. Matern
Child Nutr. 2011;7 Suppl 2(Suppl 2):124-140.
doi:10.1111/j.1740-8709.2011.00302.x
23. Dewey
KG. The challenge of meeting nutrient needs of infants and young children
during the period of complementary feeding: an evolutionary perspective. J
Nutr. 2013;143(12):2050-2054. doi:10.3945/jn.113.182527
24. Millward
DJ. Nutrition, infection and stunting: the roles of deficiencies of individual
nutrients and foods, and of inflammation, as determinants of reduced linear
growth of children. Nutr Res Rev. 2017;30(1):50-72.
doi:10.1017/S0954422416000238
25. Iannotti
LL. The benefits of animal products for child nutrition in developing
countries. Rev Sci Tech. 2018;37(1):37-46. doi:10.20506/rst.37.1.2738
26. Slavin
JL, Lloyd B. Health benefits of fruits and vegetables. Adv Nutr.
2012;3(4):506-516. doi:10.3945/an.112.002154
27. WHO. Guiding
principles for complementary feeding of the breastfed child. 2003 Accessed
November 10, 2024. https://www.who.int/publications/i/item/9275124604
28. World
Health Organization. Essential Nutrition Actions: Mainstreaming Nutrition
through the Life-Course. World Health Organization; 2019. Accessed November
10, 2024. https://iris.who.int/handle/10665/326261
29. WHO.
Guidance on ending the inappropriate promotion of foods for infants and young
children: implementation manual. 2017.Accessed November 10, 2024. https://www.who.int/publications/i/item/9789241513470
30. Malik
VS, Pan A, Willett WC, Hu FB. Sugar-sweetened beverages and weight gain in
children and adults: a systematic review and meta-analysis. Am J Clin Nutr.
2013;98(4):1084-1102. doi:10.3945/ajcn.113.058362
31. Sankar
MJ, Sinha B, Chowdhury R, et al. Optimal breastfeeding practices and infant and
child mortality: a systematic review and meta-analysis. Acta Paediatr.
2015;104(467):3-13. doi:10.1111/apa.13147
32. Oddy
WH. Infant feeding and obesity risk in the child. Breastfeed Rev.
2012;20(2):7-12.
33. Oddy
WH, Mori TA, Huang RC, et al. Early infant feeding and adiposity risk: from
infancy to adulthood. Ann Nutr Metab. 2014;64(3-4):262-270.
doi:10.1159/000365031
34. Bergmann
KE, Bergmann RL, Von Kries R, et al. Early determinants of childhood overweight
and adiposity in a birth cohort study: role of breast-feeding. Int J Obes
Relat Metab Disord. 2003;27(2):162-172. doi:10.1038/sj.ijo.802200
35. Horta
BL, Loret de Mola C, Victora CG. Breastfeeding and intelligence: a systematic
review and meta-analysis. Acta Paediatr. 2015;104(467):14-19.
doi:10.1111/apa.13139
36. Parker
M, Schroeder D, Begin F, Hurtado E. Maternal Preferences for Consistency of
Complementary Foods in Guatemala. Food & Nutrition Bulletin.
1998;19. doi:10.1177/156482659801900102
37. Lee S,
Choi Y, Jeong HS, Lee J, Sung J. Effect of different cooking methods on the
content of vitamins and true retention in selected vegetables. Food Sci
Biotechnol. 2017;27(2):333-342. doi:10.1007/s10068-017-0281-1
38. Coe S,
Spiro A. Cooking at home to retain nutritional quality and minimise nutrient
losses: A focus on vegetables, potatoes and pulses. Nutr Bull.
2022;47(4):538-562. doi:10.1111/nbu.12584
39. WHO.
Indicators for assessing infant and young child feeding practices: definitions
and measurement methods. 2021. Accessed October 7, 2024.
https://www.who.int/publications/i/item/9789240018389
40. Moubarac
JC, Parra DC, Cannon G, Monteiro CA. Food Classification Systems Based on Food
Processing: Significance and Implications for Policies and Actions: A
Systematic Literature Review and Assessment. Curr Obes Rep.
2014;3(2):256-272. doi:10.1007/s13679-014-0092-0
I. Chỉ đạo
biên soạn Hướng dẫn
PGS. TS.
Nguyễn Tri Thức - Thứ trưởng Bộ Y tế
Ths. BS.
Đinh Anh Tuấn - Cục trưởng Cục Bà mẹ và Trẻ em, Bộ Y tế
II. Thành
viên Ban soạn thảo Hướng dẫn - Viện Dinh dưỡng
1. PGS. TS.
Trần Thanh Dương - Viện trưởng
2. PGS.TS.
Trương Tuyết Mai - Phó viện trưởng
3. TS.
Huỳnh Nam Phương
4. PGS.TS.
Nguyễn Trọng Hưng
5. TS.
Hoàng Thu Nga
6. TS.
Nguyễn Thị Lương Hạnh
7. ThS. Phí
Ngọc Quyên
8. ThS. Ngô
Thị Hà Phương
9. ThS. Ngô
Thị Thu Huyền
10. TS.
Nguyễn Song Tú
11. ThS.
Nguyễn Thị Mai Lan
12. ThS.
Phạm Thị Phương Dung
13. ThS.
Nguyễn Thị Vân Anh
14. ThS. Đỗ
Thị Hải Yến
15. CN.
Phạm Việt Dũng
III. Tổ
chuyên gia hỗ trợ - Hội Dinh dưỡng Việt Nam
1. TS. Phạm
Thị Thúy Hòa
2. PGS. TS.
Phạm Văn Phú
3. PGS. TS.
Nguyễn Đỗ Huy
4. TS. Trần
Thị Nguyệt Nga
IV. Thành
viên Hội đồng chuyên môn nghiệm thu Hướng dẫn - Bộ Y tế
1. GS.TS Lê
Thị Hợp, Chủ tịch Hội Nữ trí thức Việt Nam - Chủ tịch Hội đồng
2. BsCKII
Nguyễn Văn Chi, Phó Cục trưởng Cục Bà mẹ và Trẻ em - Phó Chủ tịch Hội đồng
3. PGS.TS
Lê Bạch Mai, Hội Dinh dưỡng Việt Nam - Thành viên
4. PGS.TS
Trần Thuý Nga, Viện Dinh dưỡng - Thành viên
5. TS.
Nguyễn Thị Hồng Diễm, Phó Trưởng phòng Kiểm soát bệnh không lây nhiễm và Dinh
dưỡng, Cục Phòng bệnh - Thành viên
6. Ths.
Trịnh Ngọc Quang, Phó Giám đốc Trung tâm Truyền thông giáo dục sức khoẻ Trung
ương, Bộ Y tế - Thành viên
7. TS. Lưu
Thị Mỹ Thục, Trưởng Khoa Dinh dưỡng Bệnh viện Nhi Trung ương - Thành viên;
8. Ths.
Hoàng Thị Ái Nhi, Bệnh viện Phụ sản - Nhi Đà Nẵng - Thành viên
9. TS.
Nguyễn Thị Thu Hậu, Trưởng khoa Dinh dưỡng, Bệnh viện Nhi đồng 2, Thành phố Hồ
Chí Minh - Thành viên;
10. Ths.
Nguyễn Mai Hương, Chuyên viên chính Cục Bà mẹ và Trẻ em, Bộ Y tế - Thành viên
kiêm Thư ký hội đồng.