|
VĂN PHÒNG CHÍNH PHỦ
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 432/TB-VPCP
|
Hà Nội, ngày 19
tháng 8 năm 2025
|
THÔNG BÁO
KẾT LUẬN CỦA PHÓ THỦ TƯỚNG TRẦN HỒNG HÀ TẠI PHIÊN HỌP LẦN THỨ
13 CỦA BAN CHỈ ĐẠO QUỐC GIA VỀ CHỐNG KHAI THÁC THUỶ SẢN BẤT HỢP PHÁP, KHÔNG BÁO
CÁO VÀ KHÔNG THEO QUY ĐỊNH (IUU)
Ngày 01 tháng 8 năm 2025, tại
trụ sở Chính phủ, Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà, Trưởng Ban Chỉ đạo quốc gia về chống
khai thác thủy sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (sau đây
viết tắt là Ban Chỉ đạo) đã chủ trì Phiên họp lần thứ 13 của Ban Chỉ đạo. Tham
dự cuộc họp có Lãnh đạo các Bộ, cơ quan: Nông nghiệp và Môi trường, Công
Thương, Xây dựng, Ngoại giao, Văn phòng Chính phủ; Thượng tướng Thái Đại Ngọc,
Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam; đại diện các Bộ, cơ quan:
Công an, Tài chính, Khoa học và Công nghệ, Tư pháp, Ban Tuyên giáo và Dân vận
Trung ương, Văn phòng Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia. Tham dự tại điểm cầu
các địa phương có Lãnh đạo Ủy ban nhân dân 21 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương ven biển.
Sau khi nghe Bộ Nông nghiệp và
Môi trường (Cơ quan Thường trực của Ban Chỉ đạo) báo cáo tình hình, kết quả chống
khai thác IUU và phương hướng nhiệm vụ trong thời gian tới; ý kiến phát biểu của
các Thành viên Ban Chỉ đạo và các địa phương tham dự Phiên họp, Phó Thủ tướng
Trần Hồng Hà - Trưởng Ban Chỉ đạo, kết luận như sau:
I. ĐÁNH GIÁ
CHUNG
Ban Chỉ đạo quốc gia về IUU ghi
nhận và đánh giá cao nỗ lực của các bộ, ngành trung ương, các địa phương ven biển
trong thực hiện các quy định về chống khai thác IUU với một số kết quả tích cực,
cụ thể như: Các cơ chế, chính sách, quy định pháp luật về chống khai thác IUU
được ban hành kịp thời, phù hợp với thực tiễn; việc tổ chức thực hiện được các
bộ, ngành, địa phương triển khai tích cực, chủ động, hiệu quả hơn; công tác xử
lý vi phạm quy định về khai thác IUU được các lực lượng thực thi pháp luật (bộ
đội biên phòng, cảnh sát biển, kiểm ngư) thực hiện quyết liệt, nghiêm túc hơn;
Số vụ vi phạm quy định ngắt kết nối thiết bị giám sát hành trình tàu cá (VMS),
số vụ khai thác hải sản bất hợp pháp ở vùng biển nước ngoài, số tàu cá, ngư dân
bị nước ngoài bắt giữ, xử lý đã giảm so với cùng kỳ năm 2024[1]; các địa phương đã rà soát, thống kê, cập nhật, đồng bộ dữ
liệu tàu cá với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, một số địa phương ( như An
Giang, Cà Mau…) đã hoàn thành việc định danh tàu cá; lập danh sách theo dõi, kiểm
soát số lượng tàu cá không đủ điều kiện tham gia hoạt động khai thác thủy sản,
vv.
Tuy nhiên, kết quả chống khai
thác IUU đến nay vẫn còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu để gỡ “Thẻ vàng” của
EC. Cụ thể như: Chưa có biện pháp quản lý hiệu quả để đảm bảo các tàu cá không
đủ điều kiện phải dừng hoạt động; Vẫn còn tình trạng tàu cá vi phạm khai thác bất
hợp pháp ở vùng biển nước ngoài và bị bắt giữ, đặc biệt tại các địa phương như
An Giang, Cà Mau, TP. Hồ Chí Minh, Lâm Đồng, Đắk Lắk,...; việc kiểm soát, xử lý
tàu cá không vào cảng chỉ định bốc dỡ sản phẩm chưa được thực hiện nghiêm túc;
việc kiểm tra, đối chiếu thông tin tàu cá cập cảng bốc dỡ sản phẩm tại nhiều cảng
cá chưa được thực hiện đầy đủ, thường xuyên; Công tác thực thi pháp luật, xử lý
tàu cá vi phạm khai thác IUU, đặc biệt là các hành vi: ngắt kết nối VMS, vượt
ranh giới được phép khai thác trên biển, vi phạm vùng biển nước ngoài còn chưa
được thực hiện, quyết liệt, nghiêm túc, triệt để và hiệu quả.
Nguyên nhân chủ yếu của các tồn
tại trên là do: (i) Việc thực hiện các chủ trương, chính sách pháp luật về bảo
vệ môi trường, phát triển thủy sản bền vững còn mang tính đối phó, bị động,
lúng túng; một số bộ, ngành, địa phương còn có suy nghĩ coi việc triển khai chống
khai thác IUU chỉ là để thực hiện các khuyến nghị của EC nhằm gỡ “thẻ vàng”,
chưa xuất phát từ mục tiêu lợi ích quốc gia, dân tộc để quản lý, khai thác, sử
dụng bền vững nguồn lợi hải sản, phát triển bền vững ngành thủy sản Việt Nam;
(ii) Việc triển khai cụ thể những khuyến nghị của EC về công tác chống khai
thác IUU còn chậm, chưa có giải pháp quyết liệt, hiệu quả để tạo sự thay đổi
căn bản về nhận thức và hành động; (iii) Công tác chỉ đạo, điều hành, các hoạt
động kiểm tra tuy được triển khai nhiều về số lượng nhưng chưa thực sự hiệu quả;
(iv) Công tác xử lý vi phạm còn chưa nghiêm, chưa thống nhất giữa các địa
phương; (v) Việc phát triển ngành thủy sản bền vững, bảo vệ nguồn lợi thủy sản,
đảm bảo sinh kế cho nhân dân chưa đạt mục tiêu đã đề ra.
II. NHIỆM VỤ,
GIẢI PHÁP TRỌNG TÂM TRONG THỜI GIAN TỚI
Trong thời gian tới, Ban chỉ đạo
yêu cầu các bộ, ngành và địa phương ven biển tập trung nguồn lực, đổi mới tư
duy, khẩn trương, quyết liệt thực hiện có kết quả cụ thể công tác chống khai
thác IUU theo Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 10 tháng 4 năm 2024 của Ban Bí thư; chỉ
đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Công điện số 122/CĐ-TTg ngày 25 tháng 7 năm
2025; kết luận của Phiên họp lần thứ 12 Ban Chỉ đạo tại công văn số 30/TB-VPCP,
trong đó, tập trung hoàn thành dứt điểm một số nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách sau
đây:
1. Bộ Quốc
phòng
a) Chủ trì, phối hợp với Bộ
Công an, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Tư pháp và các cơ quan, địa phương
liên quan nghiên cứu, xây dựng Quy chế phối hợp liên ngành, phân công trách nhiệm
cụ thể giữa các lực lượng chấp pháp trên biển, trên bờ, giữa trung ương và địa
phương trong phòng, chống khai thác IUU theo hướng quy định rõ trách nhiệm cơ
quan chỉ huy, cơ quan theo dõi, giám sát, phát hiện, xử lý các vi phạm; cơ chế
điều hành, huy động phương tiện, vật tư, thiết bị, nhân lực chống khai thác IUU
bảo đảm rõ người, rõ việc, không bỏ sót nhiệm vụ, hạn chế chồng chéo, hoàn
thành và báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả trong tháng 9 năm 2025.
b) Chủ trì, phối hợp với các địa
phương, các lực lượng chức năng quản lý chặt vùng biển, vùng bờ, chỉ đạo xử lý
dứt điểm các khu vực neo đậu, trốn tránh của các “tàu ma” trên biển, hoàn thành
và báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả trong tháng 9 năm 2025.
2. Bộ Nông
nghiệp và Môi trường
a) Phát huy vai trò là Cơ quan
thường trực, thực hiện nghiêm túc Quy chế hoạt động của Ban Chỉ đạo quốc gia về
IUU, chủ trì, phối hợp, tổ chức thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ quản lý nhà
nước theo chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền được giao, các nhiệm vụ đã được Ban
Chỉ đạo, Trưởng Ban Chỉ đạo kết luận.
b) Chủ trì, phối hợp với các Bộ:
Tư pháp, Quốc phòng, Công an, Công Thương và các cơ quan liên quan:
- Nghiên cứu, xây dựng, trình
Thủ tướng Chính phủ ban hành quy định về cơ chế theo dõi, giám sát, đánh giá, đảm
bảo thực hiện bằng được khuyến nghị của EC về chống khai thác IUU, theo hướng
cá thể hóa trách nhiệm, rõ nhiệm vụ, rõ tiến độ, lượng hóa mục tiêu, kết quả thực
hiện chống khai thác IUU, hướng đến mục tiêu khai thác, sử dụng, bảo vệ thủy sản
bền vững, không đánh bắt cá bất hợp pháp, hoàn thành trước ngày 15 tháng 9 năm
2025.
- Rà soát toàn diện hệ thống chủ
trương, chính sách, quy định để chủ động sửa đổi, bổ sung các quy định nhằm bảo
vệ, khai thác, hiệu quả nguồn lợi thủy sản, phát triển ngành thủy sản Việt Nam
bền vững, khắc phục tình trạng bị động, đối phó như hiện nay.
- Khẩn trương nghiên cứu, hoàn
thiện cơ chế, chính sách về quản lý đánh bắt thủy, hải sản theo ngư trường,
theo mùa, theo kích cỡ, đảm bảo bền vững, thân thiện với môi trường, hài hòa với
quy định quốc tế, có đầy đủ cơ sở khoa học và thực tiễn; sửa đổi, bổ sung quy
Nghị định số 37/2024/NĐ-CP, Nghị định số 38/2024/NĐ-CP, hoàn thành và báo cáo
Thủ tướng Chính phủ trước ngày 15 tháng 9 năm 2025.
- Nghiên cứu bổ sung quy định về
quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của các cảng cá của tư nhân đầu tư, quản lý, khai
thác tương tự như cảng cá do nhà nước đầu tư, quản lý, khai thác, được phép tiếp
cận dữ liệu và thông tin bao gồm VMS, nhật ký hành trình, định vị vệ tinh, dữ
liệu hệ thống cảng cá… để quản lý khai thác thủy sản, gắn với chế tài kiểm tra,
giám sát, phân cấp, phân quyền cho địa phương, hoàn thành và báo cáo Thủ tướng
Chính phủ trước ngày 15 tháng 9 năm 2025.
- Rà soát, hoàn thiện quy định
về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thủy sản, đảm bảo kịp thời, trách
nhiệm, minh bạch, phân cấp triệt để cho địa phương; phối hợp với Bộ Công Thương
và các địa phương nghiên cứu quy định rõ trách nhiệm, mở rộng đối tượng kiểm
soát, xử phạt vi phạm hành chính là các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, chế biến,
kinh doanh thủy sản, hoàn thành và báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong tháng 9
năm 2025.
c) Chủ trì, phối hợp với Bộ Quốc
phòng, Bộ Công an, các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông và các cơ quan liên quan
thực hiện nghiêm túc, có kết quả rõ ràng, cụ thể các nhiệm vụ về chuyển đổi số,
ứng dụng mạnh mẽ, triệt để công nghệ thông tin trong phòng chống khai thác IUU
đã được chỉ đạo tại văn bản số 30/TB- VPCP ngày 25 tháng 01 năm 2025, cụ thể:
- Chuyển đổi số thực sự, toàn
diện trong quản lý khai thác thủy sản IUU. Khẩn trương phối hợp, đặt hàng các
doanh nghiệp công nghệ xây dựng cơ sở dữ liệu nghề cá, các phần mềm quản lý nghề
cá, tàu cá tích hợp, dùng chung, thống nhất trên toàn quốc, đảm bảo kết nối,
chia sẻ, lưu trữ, truy xuất theo thời gian thực, trong mọi điều kiện thời tiết;
ứng dụng công nghệ hiện đại, đặc biệt là chuỗi khối blockchain, trí tuệ nhân tạo
AI trong lập nhật ký điện tử, giám sát hành trình tàu cá, ngư trường đánh bắt,
khai báo nguồn gốc thủy sản… Mọi thông tin về hành trình, ngư trường khai thác,
số lượng, chủng loại thủy sản trên tàu… đều phải được số hóa, tự động báo về cảng
trước khi tàu cập bờ. Quản lý chặt chẽ, khoa học các đối tượng liên quan như
ngư dân, thuyền trưởng, tàu cá, tàu hậu cần nghề cá, đơn vị thu mua, cơ sở/doanh
nghiệp chế biến... tích hợp với dữ liệu về dân cư, chia sẻ, kết nối liên thông
giữa các ngành, các địa phương để phục vụ công tác quản lý hoạt động đánh bắt của
các lực lượng trên biển, trên bờ và cung cấp các dịch vụ công hoàn toàn công
khai, minh bạch. Hoàn thành và báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong tháng 9 năm
2025.
- Phối hợp với các cơ quan liên
quan để kiểm định đảm bảo chất lượng các thiết bị VMS, tín hiệu kết nối trong mọi
điều kiện thời tiết; vận hành, khai thác, sử dụng hiệu quả cơ sở dữ liệu để kịp
thời phát hiện, cảnh báo hành vi tự ý ngắt kết nối VMS, vi phạm vùng cấm khai
thác, đảm bảo xử lý đúng người, đúng hành vi.
- Tổ chức các đoàn công tác,
các lực lượng liên ngành kiểm tra việc phát hiện, lập biên bản, xử lý thật
nghiêm hành vi tự ý ngắt tín hiệu VMS, vi phạm các quy định chống khai thác
IUU.
d) Tiếp tục đẩy mạnh, mở rộng hợp
tác quốc tế (hợp tác với EU, Mỹ, các nước có vùng biển giáp ranh với Việt Nam,
các tổ chức quốc tế như WB, Global Fishing Watch, WWF…) để tăng cường hợp tác,
học hỏi kinh nghiệm, chia sẻ thông tin về chống khai thác IUU.
đ) Chủ trì, phối hợp với các địa
phương ven biển, bộ, ngành có liên quan rà soát quy hoạch, xây dựng đề
án/chương trình chuyển đổi nghề nghiệp, sinh kế người dân gắn với bảo tồn, nuôi
trồng, khai thác, sử dụng bền vững nguồn lợi thủy sản, phục hồi môi trường,
phát triển du lịch sinh thái, du lịch trải nghiệm và các ngành dịch vụ khác.
3. Bộ Ngoại
giao chủ động nắm bắt, cung cấp thông tin cho các đối tác về quyết tâm, nỗ lực
và kết quả chống khai thác IUU của Việt Nam, thúc đẩy EC sớm tháo gỡ cảnh báo
thẻ vàng IUU đối với Việt Nam; phối hợp với Bộ Quốc phòng, Nông nghiệp và Môi
trường đẩy mạnh hợp tác song phương và đa phương, hình thành các cơ chế tuần
tra, kiểm soát, bảo vệ nguồn lợi thủy sản chung với các quốc gia trong khu vực.
4. Các bộ,
ngành có liên quan phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường, các địa phương
ven biển thực hiện quy định về chống khai thác IUU theo chức năng, nhiệm vụ được
giao.
5. Lãnh đạo
các Bộ, cơ quan, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố ven biển chịu
trách nhiệm trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ nếu không hoàn thành các nhiệm
vụ chống khai thác IUU tại địa phương, làm ảnh hưởng tiêu cực đến nỗ lực chung
gỡ cảnh báo “Thẻ vàng” IUU của EC đối với nghề cá Việt Nam. Tiếp tục chỉ đạo
quyết liệt hơn nữa, làm tốt hơn nữa công tác xử lý vi phạm về chống khai thác
IUU; hỗ trợ chuyển đổi nghề cho nhân dân, chủ động báo cáo, đề xuất những vấn đề
cấp bách, cần sự hỗ trợ từ Trung ương để kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc
trong công tác chống khai thác IUU.
6. Văn phòng
Chính phủ theo dõi, đôn đốc thực hiện theo chức năng, nhiệm vụ được giao.
Văn phòng Chính phủ thông báo để
các cơ quan liên quan biết, thực hiện. Văn bản này thay thế Văn bản số
431/TB-VPCP ngày 19 tháng 8 năm 2025./.
|
Nơi nhận:
- TTgCP, các PTTg (để báo cáo);
- Các Bộ: NNMT, QP, CA, NG, CT, XD, KHCN, TC, TP;
- Các Thành viên Ban Chỉ đạo;
- UBND các tỉnh, tp trực thuộc trung ương ven biển;
- VPCP: BTCN, các PCN, Trợ lý TTgCP, các Vụ: NC, PL, QHĐP, KTTH, QHQT;
- Lưu: VT, NN.
|
KT. BỘ TRƯỞNG,
CHỦ NHIỆM
PHÓ CHỦ NHIỆM
Phạm Mạnh Cường
|
[1] Từ đầu năm 2025 đến nay:
- Về tình hình tàu cá, ngư dân
bị nước ngoài bắt giữ, xử lý: 16 tàu cá (tại các tỉnh An Giang (9 tàu), Cà Mau
(4 tàu), Đắk Lắk (1 tàu), Lâm Đồng (1 tàu), thành phố Hồ Chí Minh (1 tàu)), với
120 ngư dân vi phạm bị nước ngoài bị bắt giữ, xử lý (ngoài ra còn có 13 tàu cá
mang biển số giả, không có số đăng ký với 90 ngư dân làm việc trên tàu là người
Việt Nam vi phạm bị bắt giữ, xử lý), giảm 20 tàu/129 ngư dân so với cùng kỳ.
- Về vi phạm quy định về VMS: tính đến ngày
30/6/2025 đối với khối tàu từ 24 mét trở lên mất kết nối VMS trên 06 giờ là
3.098 lượt tàu (giảm 5.833 lượt tàu)/ 619 tàu (giảm 531 tàu), mất
kết nối VMS quá 10 ngày trên biển là 24 lượt tàu (giảm 110 lượt tàu)/21
tàu (giảm 71 tàu), vượt ranh giới cho phép khai thác trên biển là 04 lượt
tàu (giảm 05 lượt tàu)/04 tàu (giảm 03 tàu).