|
ỦY BAN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 93/KH-UBND
|
Cần Thơ, ngày 30
tháng 9 năm 2025
|
KẾ HOẠCH
THỰC HIỆN ĐỀ ÁN CHUYỂN ĐỔI MỘT SỐ NGHỀ KHAI THÁC HẢI SẢN ẢNH
HƯỞNG ĐẾN NGUỒN LỢI VÀ MÔI TRƯỜNG SINH THÁI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Thực hiện Quyết định số
208/QĐ-TTg ngày 10 tháng 3 năm 2023 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án
chuyển đổi một số nghề khai thác hải sản ảnh hưởng đến nguồn lợi và môi trường
sinh thái; Quyết định số 2888/QĐ-BNN-TS ngày 19 tháng 7 năm 2023 của Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành Kế hoạch của Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn triển khai thực hiện Đề án Chuyển đổi một số nghề khai thác hải sản ảnh
hưởng đến nguồn lợi và môi trường sinh thái, Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ
ban hành Kế hoạch thực hiện Đề án chuyển đổi một số nghề khai thác hải sản ảnh
hưởng đến nguồn lợi và môi trường sinh thái trên địa bàn thành phố Cần Thơ, với
nội dung cụ thể như sau:
I. THỰC TRẠNG
NGHỀ KHAI THÁC THỦY SẢN
Thành phố Cần thơ có tổng chiều
dài bờ biển 72 km, đội tàu khai thác hải sản là 797 chiếc, tổng số lao động
đang hoạt động nghề cá khoảng 307.700 người, trong đó có khoảng 5.700 lao động
trực tiếp trên biển.
Cơ cấu đội tàu đánh bắt theo
nhóm chiều dài: tàu đánh bắt hải sản có chiều dài lớn nhất từ 15 mét trở lên,
hoạt động khai thác tại vùng khơi có 347 chiếc (chiếm 43,7%); tàu đánh bắt hải
sản có chiều dài lớn nhất từ 12 đến dưới 15 mét, hoạt động khai thác tại vùng lộng
có 118 chiếc (chiếm 14,8%); tàu đánh bắt hải sản có chiều dài lớn nhất từ 06 đến
dưới 12 mét, hoạt động khai thác tại vùng ven bờ có 332 chiếc (chiếm 41,5%) và
58 chiếc (chiếm 7,28%) làm dịch vụ hậu cần nghề cá. Tổng sản lượng khai thác hải
sản năm 2024 gần 60.000 tấn đã góp phần giải quyết công ăn việc làm, thu nhập
cho ngư dân khai thác, nghề khai thác cụ thể:
Cơ cấu đội tàu đánh bắt theo
nhóm nghề: nhóm nghề lưới kéo có 401 chiếc (chiếm 50,31%); trong đó, có 238 chiếc
(chiếm 29,86%) hoạt động đánh bắt tại vùng khơi, 30 chiếc (chiếm 3,76%) hoạt động
đánh bắt tại vùng lộng và 133 chiếc (chiếm 16,69%) hoạt động đánh bắt tại vùng
ven bờ. Nhóm nghề lưới rê có 265 chiếc (chiếm 33,25%); trong đó, có 33 chiếc
(chiếm 4,14%) hoạt động đánh bắt tại vùng khơi, 69 chiếc (chiếm 8,66%) hoạt động
đánh bắt tại vùng lộng và 163 chiếc (chiếm 20,45%) hoạt động đánh bắt tại vùng
ven bờ. Nhóm nghề lưới vây có 18 chiếc (chiếm 2,26%); trong đó, có 16 chiếc
(chiếm 2,01%) hoạt động đánh bắt tại vùng khơi và 2 chiếc (chiếm 0,25%) hoạt động
đánh bắt tại vùng lộng. Nhóm nghề câu có 19 chiếc (chiếm 2,38%); trong đó, có 5
chiếc (chiếm 0,63%) hoạt động đánh bắt tại vùng khơi, 3 chiếc (chiếm 0,38%) hoạt
động đánh bắt tại vùng lộng và 11 chiếc (chiếm 1,38%) hoạt động đánh bắt tại
vùng ven bờ. Nhóm nghề khác (kể cả lồng bẫy) có 36 chiếc (chiếm 4,52%); trong
đó, có 2 chiếc (chiếm 0,25%) hoạt động đánh bắt tại vùng khơi, 9 chiếc (chiếm
1,13%) hoạt động đánh bắt tại vùng lộng và 25 chiếc (chiếm 3,14%) hoạt động
đánh bắt tại vùng ven bờ.
Trong những năm gần đây, hoạt động
khai thác thủy sản tại vùng biển ven bờ gặp nhiều khó khăn, hiệu quả khai thác
không cao, là do nghề khai thác hải sản ven bờ phát triển tự phát khó kiểm
soát, tổ chức sản xuất trên biển mang tính nhỏ lẻ, phân tán, chưa có sự liên kết
và hợp tác trong tổ chức sản xuất; công nghệ bảo quản sản phẩm sau thu hoạch
trên tàu còn hạn chế; sự cạnh tranh trong khai thác thủy sản vẫn còn xảy ra;
tình trạng khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định
vẫn còn tàu cá vi phạm, đặc biệt là đánh bắt hải sản bằng các nghề lưới kéo,
nghề rập xếp, đăng, nò đó có kích thước mắt lưới nhỏ hơn quy định, cào điện vẫn
còn diễn ra đã làm cạn kiệt nguồn lợi hải sản vùng biển ven bờ, ảnh hưởng lớn đến
môi trường sinh thái.
Từ hiện trạng trên cho thấy đội
tàu khai thác hải sản trên địa bàn thành phố hoạt động vùng ven bờ chiếm số lượng
lớn; cơ cấu nghề lưới kéo, lồng bẫy chiếm tỷ lệ cao đã làm ảnh hưởng đến nguồn
lợi thủy sản và môi trường sinh thái; cần phải chuyển đổi sang nghề khác để đảm
bảo khai thác hợp lý, cân bằng với trữ lượng và khả năng cho phép khai thác nguồn
lợi hải sản; đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững, phục hồi, tái tạo nguồn lợi
thuỷ sản, ổn định thu nhập ngư dân.
II. MỤC TIÊU
1. Mục
tiêu chung
- Chuyển đổi một số nghề đánh bắt
hải sản ảnh hưởng lớn đến nguồn lợi và môi trường hệ sinh thái sang các nghề
đánh bắt hải sản ảnh hưởng ít hơn (thân thiện với môi trường) hoặc chuyển một số
tàu cá có nghề đánh bắt hải sản ảnh hưởng lớn đến nguồn lợi và môi trường sinh
thái sang lĩnh vực khác ngoài đánh bắt hải sản, để từng bước cân bằng lại cường
lực khai thác phù hợp với khả năng phục hồi tái tạo nguồn lợi thủy sản; từng bước
nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả trong hoạt động khai thác thủy sản, bảo
vệ nguồn lợi thủy sản; cải thiện môi trường làm việc và phấn đấu tất cả ngư dân
chuyển đổi nghề có việc làm và thu nhập ổn định, nâng cao đời sống sau khi chuyển
đổi nghề.
- Đảm bảo tổ chức triển khai
các nhiệm vụ kịp thời, hiệu quả nhằm đạt được các mục tiêu của Đề án đã được Thủ
tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 208/QĐ-TTg ngày 10 tháng 3 năm 2023
và Quyết định số 2888/QĐ- BNN-TS ngày 19 tháng 7 năm 2023 của Bộ Nông nghiệp và
Môi trường phù hợp với điều kiện thực tiễn của thành phố Cần Thơ.
2. Mục
tiêu cụ thể
a) Năm 2025
- Ban hành Kế hoạch thực hiện Đề
án chuyển đổi một số nghề khai thác hải sản ảnh hưởng đến nguồn lợi và môi trường
sinh thái trên địa bàn thành phố Cần Thơ.
- Nâng cao năng lực quản lý nhà
nước về bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản, đảm bảo sự thống nhất, đồng bộ
từ cấp thành phố đến cấp xã; tập huấn tuyên truyền cho ngư dân và phát huy vai
trò của các tổ nhóm đồng quản lý, cộng đồng dân cư trong công tác bảo vệ và
phát triển nguồn lợi thủy sản.
b) Giai đoạn 2026 - 2030
- Phê duyệt Đề án chuyển đổi
nghề cho ngư dân có tàu cá bị cắt giảm và ngư dân có tàu cá bị chuyển đổi nghề
phù hợp với nghề mới; các dự án chuyển đổi nghề; trình Hội đồng nhân dân tỉnh
ban hành Nghị quyết về chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề cho ngư dân.
- Thực hiện đánh giá trữ lượng
nguồn lợi thủy sản vùng biển ven bờ và vùng lộng làm cơ sở tham mưu công bố hạn
ngạch giấy phép khai thác thủy sản vùng bờ và vùng lộng trên địa bàn thành phố.
- Đến cuối năm 2026 đối với tàu
cá đang hoạt động ở vùng lộng và vùng ven bờ: Thực hiện chuyển đổi thí điểm giảm
ít nhất 05 tàu cá (0,63%) đang hoạt động khai thác hải sản vùng lộng và vùng
ven bờ sang nghề khác như: nuôi trồng thủy sản, chế biến thủy sản, dịch vụ nuôi
trồng thủy sản, nghề cá giải trí, tham gia hướng dẫn du lịch trong khu bảo tồn,
bảo vệ nguồn lợi thủy sản hoặc ngành nghề khác ngoài đánh bắt thủy sản và không
vi phạm các quy định của pháp luật.
- Đến cuối năm 2027 chuyển đổi
ít nhất 12 tàu cá (1,51%) hoạt động ở vùng biển khơi làm nghề khai thác thủy sản
ảnh hưởng lớn đến nguồn lợi thủy sản, hệ sinh thái sang làm nghề khai thác hải
sản ít ảnh hưởng đến nguồn lợi thủy sản, môi trường, hệ sinh thái như: chuyển đổi
tàu làm nghề lưới kéo sang các nghề lồng bẩy, chụp, vây, rê, câu và dịch vụ hậu
cần.
- Đến cuối năm 2030 đối với tàu
cá đang hoạt động ở vùng lộng và vùng ven bờ: Thực hiện chuyển đổi, cắt giảm ít
nhất 50 tàu cá (6,27%) đang hoạt động khai thác hải sản vùng lộng và vùng ven bờ
sang nghề nuôi trồng thủy sản, chế biến thủy sản, dịch vụ nuôi trồng thủy sản,
nghề cá giải trí, tham gia hướng dẫn du lịch trong khu bảo tồn, bảo vệ nguồn lợi
thủy sản hoặc ngành nghề khác ngoài đánh bắt thủy sản và không vi phạm các quy
định của pháp luật.
- Hết năm 2030 chuyển đổi ít nhất
20 tàu cá (2,51 %) hoạt động ở vùng biển khơi làm nghề khai thác thủy sản ảnh
hưởng lớn đến nguồn lợi thủy sản, hệ sinh thái sang làm nghề khai thác hải sản
ít ảnh hưởng đến nguồn lợi thủy sản, môi trường, hệ sinh thái như: chuyển đổi
tàu làm nghề lưới kéo sang các nghề thân thiện với môi trường, không ảnh hưởng
đến hệ sinh thái.
- Xây dựng thí điểm 3 - 5 mô
hình chuyển đổi từ lưới kéo sang các nghề câu, nghề cá giải trí… phù hợp với điều
kiện thực tế tại từng địa phương đảm bảo hiệu quả, bền vững.
- Tập huấn, đào tạo nghề cho
hơn 600 ngư dân và thuyền viên có tàu cá bị cắt giảm và chuyển đổi nghề phù hợp
với nghề chuyển đổi mới (kể cả ngư dân bị ảnh hưởng bởi cắt giảm tàu cá và ngư
dân chuyển đổi nghề khai thác khác).
III. TẦM
NHÌN ĐẾN NĂM 2045
Cơ bản hoàn thiện việc chuyển
tàu cá làm nghề khai thác hải sản ảnh hưởng đến nguồn lợi hải sản, môi trường,
hệ sinh thái của các vùng biển. Góp phần bảo vệ nguồn lợi thủy sản, nâng cao hiệu
quả quản lý đội tàu cá, ổn định đời sống của ngư dân; tham gia chủ động, có
trách nhiệm để phát triển hiệu quả, bền vững ngành khai thác thủy sản.
IV. NỘI DUNG
THỰC HIỆN
1. Truyền
thông
a) Tuyên truyền, phổ biến, tập
huấn đào tạo nhân rộng các mô hình nghề cá giải trí; các mô hình chuyển đổi từ
nghề lưới kéo, nghề rê thu ngừ sang các nghề khác đạt hiệu quả để người dân biết
và tổ chức triển khai thực hiện.
b) Thông tin, tuyên truyền, phổ
biến các quy định về khai thác, bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản.
c) Thông qua các phương tiện
thông tin đại chúng để phổ biến các kinh nghiệm tốt, các điển hình làm ăn giỏi,
hướng dẫn các quy trình mới, đào tạo nghề, tuyên truyền về tác hại của việc
khai thác hủy diệt và khai thác ảnh hưởng lớn đến nguồn lợi, thường xuyên tuyên
truyền ngư dân không khai thác trong các vùng ngư trường thuộc quản lý của nước
khác; tuyên truyền về tác hại của thiết bị đánh cá gây ô nhiễm rác nhựa trong đại
dương.
d) Tổ chức hội thảo, tọa đàm, học
tập kinh nghiệm, in tờ bướm, lắp đặt pano, băng rôn và tuyên truyền thông qua
các phương tiện truyền thông đại chúng giúp chuyển biến tích cực trong suy nghĩ
và hành động của ngư dân về đổi nghề.
2. Tăng cường
quản lý nhà nước về khai thác thủy sản
a) Không cấp văn bản chấp thuận
cho đóng mới, cải hoán, thuê, mua tàu cá đối với tàu cá làm nghề cấm, nghề hạn
chế phát triển theo quy định của pháp luật. Thực hiện nghiêm, không cấp giấy
phép khai thác thủy sản cho các tàu cải hoán, đóng mới khi không có văn bản chấp
thuận cải hoán đóng mới tàu cá.
b) Ban hành tiêu chí đặc thù của
địa phương trong việc cấp văn bản chấp thuận cải hoán, đóng mới thay thế tàu cá
của địa phương phải bảo đảm an toàn, điều kiện làm việc, nghỉ ngơi cho người
lao động, sử dụng ít nhiên liệu, hiện đại hóa trang thiết bị khai thác bảo quản
trên tàu; không bổ sung các nghề khai thác hải sản có ảnh hưởng lớn đến nguồn lợi
thủy sản, phù hợp với định hướng phát triển nghề khai thác thủy sản của trung
ương và địa phương. Đảm bảo cắt giảm số tàu trung bình hàng năm tối thiểu từ
1,5% đối với tàu hoạt động vùng khơi,
4% số tàu hoạt động vùng lộng
và 5% đối với tàu hoạt động vùng biển ven bờ trên tổng số tàu cá hiện có của địa
phương. Cấp giấy chấp thuận đóng mới theo hướng ưu tiên các nghề thân thiện với
môi trường, tàu được cơ giới hóa cao trong các khâu khai thác và bảo quản sản
phẩm, sử dụng vỏ tàu bằng kim loại, vật liệu mới; không cấp giấy chấp thuận
đóng mới, cải hoán đối với tàu làm nghề lưới kéo, nghề lưới rê thu ngừ.
c) Hằng năm tiến hành rà soát
thống kê số lượng tàu cá (trong đó chú trọng điều tra tàu cá làm nghề lưới kéo,
lưới rê thu ngừ) và nghề cấm khai thác trên địa bàn thành phố.
d) Xác định số lượng hạn ngạch
giấy phép khai thác thủy sản cắt giảm hằng năm theo loại nghề và bổ sung hợp lý
số tàu cá cho phép đóng mới để đảm bảo đội tàu về ngưỡng bằng khoảng 60% số tàu
cá hoạt động tại vùng ven bờ, khoảng 70% số tàu cá hoạt động tại vùng lộng so với
thời điểm khi bắt đầu thực hiện kế hoạch triển khai Đề án.
đ) Chủ động rà soát, cắt giảm
tàu cá có nghề khai thác hải sản làm ảnh hưởng đến nguồn lợi và môi trường sinh
thái tại địa phương; xây dựng các dự án chuyển đổi nghề phù hợp với thực tế của
địa phương và phù hợp với quy định tại Điều 6 của Luật Thủy sản số
18/2017/QH14.
e) Xây dựng, ban hành chính
sách hỗ trợ cho ngư dân chuyển đổi nghề từ các nghề khai thác hải sản ảnh hưởng
lớn đến nguồn lợi thủy sản, môi trường và hệ sinh thái sang các nghề khai thác
hải sản thân thiện với môi trường gắn với hiện đại hóa tàu cá hoặc chuyển ra
ngoài lĩnh vực khai thác phù hợp với định hướng phát triển nghề cá và điều kiện
kinh tế xã hội của địa phương.
3. Chuyển đổi
sang các nghề khai thác khác
a) Đối với nghề lưới kéo, lưới
rê thu ngừ
- Cắt giảm những tàu cá làm nghề
lưới kéo có chiều dài lớn nhất từ 15 m trở lên, tàu cá từ 15 tuổi trong giai đoạn
2026-2030.
- Không cấp lại giấy phép thuê,
mua tàu cá từ nơi khác về địa phương đối với tàu cá làm nghề lưới kéo, nghề lưới
rê thu ngừ. Việc cấp giấy chấp thuận cho thuê, mua tàu cá chỉ được thực hiện
khi người mua cam kết chuyển sang các nghề khác.
- Các tàu cá đăng ký cải hoán
nghề, khi cấp văn bản chấp thuận chỉ cho phép cải hoán sang các nghề khác ngoài
nghề lưới kéo, nghề lưới rê thu ngừ.
b) Chuyển đổi các nghề ven bờ
sang nghề dịch vụ khai thác thủy sản, nghề cá giải trí và các nghề khác
Khảo sát nhu cầu chuyển đổi nghề
từ khai thác hải sản xâm hại, hủy diệt nguồn lợi thủy sản (lưới kéo) sang các
nghề có tính chọn lọc cao phù hợp với điều kiện thực tế nghề khai thác tại
thành phố đảm bảo hiệu quả, bền vững. Tại các vùng biển bãi ngang, vùng cửa
sông, ven biển đảo nơi có tiềm năng, điều kiện phát triển du lịch cần thúc đẩy
phát triển nghề cá giải trí, bao gồm các hoạt động:
- Khai thác cảnh quan, hệ sinh
thái biển, chuyển đổi một số tàu cá sang hoạt động dịch vụ ẩm thực, đánh cá trải
nghiệm, các hoạt động giáo dục... đảm bảo không làm ảnh hưởng tới di sản văn
hóa tại khu vực biển theo quy định của pháp luật về di sản văn hóa.
- Các nghề dịch vụ hậu cần khai
thác thủy sản bao gồm các nghề thu mua, vận chuyển hải sản trên biển, thăm dò,
tìm kiếm, dẫn dụ. Gắn công tác quản lý cấp giấy phép nghề cá giải trí khai thác
nguồn lợi hải sản vào việc chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp cho cộng đồng ngư dân
ven biển thông qua các hình thức đồng quản lý, tổ đoàn kết.
- Tập trung chuyển đổi, cắt giảm
số lượng tàu cá làm nghề lưới rê khơi.
- Duy trì số lượng tàu cá làm
nghề lưới rê tại vùng ven bờ và vùng lộng.
c) Chuyển đổi sang nuôi trồng
thủy sản và các dịch vụ nuôi trồng thủy sản.
V. CÁC GIẢI
PHÁP THỰC HIỆN
1. Về
công tác quản lý nhà nước
- Quản lý chặt việc thực hiện hạn
ngạch giấy phép khai thác thủy sản do Bộ Nông nghiệp và Môi trường quy định đối
với nhóm tàu khai thác vùng khơi và của địa phương ban hành đối với nhóm tàu
khai thác vùng lộng và vùng ven bờ. Xây dựng kế hoạch hàng năm với các mục tiêu
cụ thể về khai thác hải sản tương ứng với trách nhiệm của từng địa phương để
làm cơ sở cho việc tuần tra, kiểm tra, giám sát kết quả thực hiện theo kế hoạch
đặt ra.
- Tăng cường công tác phối hợp
giữa các lực lượng Kiểm ngư, Công an, Bộ đội biên phòng, Cảnh sát biển, Hải
quân Vùng, Ủy ban nhân dân các phường, xã ven biển và có tàu cá, các đơn vị
liên quan và các cơ quan truyền thông.
- Kiểm soát, giám sát chặt chẽ
sản lượng khai thác được từ đội tàu theo quy định khi tàu cá cập cảng bốc dỡ sản
phẩm. Ngăn chặn, xử lý tàu không có giấy phép, giấy phép hết hạn, hoạt động sai
với nội dung của giấy phép tham gia vào khai thác thủy sản.
2. Về cơ
chế, chính sách
Triển khai văn bản quy phạm
pháp luật về lĩnh vực khai thác thủy sản, công tác đảm bảo chất lượng tàu cá,
vùng hạn chế tàu cá được phép hoạt động trên biển; chính sách về đồng quản lý
trong bảo vệ nguồn lợi thủy sản; chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề khai thác thủy
sản ảnh hưởng lớn đến nguồn lợi thủy sản, môi trường, hệ sinh thái sang các nghề
khai thác hải sản thân thiện với môi trường hoặc chuyển ra ngoài lĩnh vực khai
thác; chính sách đào tạo nghề cho người lao động chuyển đổi nghề từ khai thác hải
sản ra các ngành nghề khác hoặc khai thác hải sản gắn với các hoạt động dịch vụ
khác.
3. Giải
pháp về khuyến ngư
- Ứng dụng, chuyển giao công
nghệ mới trong sản xuất, đổi mới bản tin dự báo ngư trường để người dân nắm bắt
ngư trường của các vùng biển; chuyển giao các máy móc thiết bị mới, ít tốn
nguyên liệu để giảm chi phí nhằm nâng cao sản lượng khai thác và hiệu quả kinh
tế trong sản xuất.
- Xây dựng các mô hình hoạt động
du lịch trải nghiệm kết hợp với khai thác, chế biến, sử dụng hải sản nâng cao
giá trị, thu nhập cho người dân.
- Xây dựng các mô hình chuyển đổi
từ nghề khai thác ảnh hưởng đến nguồn lợi và môi trường sinh thái sang nghề cá
giải trí, nuôi trồng, chế biến trên các vùng biển ven bờ, vùng cửa sông, cửa biển
trên địa bàn thành phố.
4. Về khoa
học và công nghệ
- Từng bước hoàn thiện, ứng dụng
khoa học công nghệ, chuyển đổi số vào hoạt động khai thác hải sản, bảo quản sản
phẩm sau thu hoạch nâng cao hiệu quả kinh tế.
- Nghiên cứu, ứng dụng các mẫu tàu
mới phù hợp với khai thác hải sản vùng biển khơi, tiến tới thay thế tàu vỏ gỗ bằng
vật liệu phù hợp và các trang thiết bị thông tin hàng hải, từng bước cơ giới
hóa, hiện đại hóa trong hoạt động khai thác hải sản.
- Nghiên cứu ứng dụng vật liệu,
ngư cụ, phương pháp khai thác tiên tiến thân thiện với môi trường để nâng cao
năng suất, chất lượng và giá trị sản phẩm.
VI. NGUỒN
KINH PHÍ THỰC HIỆN
Nguồn kinh phí triển khai Kế hoạch
bao gồm nguồn ngân sách nhà nước và các nguồn kinh phí hợp pháp khác:
- Nguồn ngân sách nhà nước bố
trí theo phân cấp quản lý theo qui định.
- Tranh thủ nguồn kinh phí từ
các chương trình, dự án, đề án trong và ngoài nước, nhằm đầu tư, phát triển
khai thác thuỷ sản hiệu quả, bền vững.
- Nguồn kinh phí vận động, huy
động từ các nhà tài trợ, các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước.
- Các nguồn tài chính khác theo
quy định của pháp luật.
VII. CÁC ĐỀ
ÁN, DỰ ÁN, NGHỊ QUYẾT ƯU TIÊN
Xây dựng, phê duyệt các đề án,
dự án và trình ban hành nghị quyết, cụ thể:
1. Phê duyệt Đề án chuyển
đổi một số nghề khai thác hải sản ảnh hưởng
đến nguồn lợi và môi trường
sinh thái trên địa bàn thành phố Cần Thơ:
- Tổ chức đánh giá hiện trạng
khai thác hải sản ảnh hưởng đến nguồn lợi và môi trường sinh thái trên địa bàn
thành phố Cần Thơ để xác định quy mô, chỉ tiêu, ngành nghề chuyển đổi phù hợp.
- Dự án chuyển đổi nghề cho ngư
dân có tàu cá bị cắt giảm, ngư dân có tàu cá bị chuyển đổi nghề và các đối tượng
có liên quan phù hợp với nghề mới, phù hợp với điều kiện thực tế tại từng địa
phương đảm bảo hiệu quả, bền vững.
- Xây dựng thí điểm 3-5 mô hình
ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến trong khai thác thủy sản, chế biến và bảo
quản thủy sản trên tàu cá đảm bảo an toàn thực phẩm, nâng cao năng suất chất lượng,
tiệm cận với tiêu chuẩn quốc tế và thân thiện môi trường.
2. Ban hành Quyết định
quy định tiêu chí đặc thù về đóng mới, cải hoán, thuê, mua tàu cá trên địa bàn
thành phố Cần Thơ.
3. Nghị quyết về chính
sách hỗ trợ chuyển đổi nghề khai thác thủy sản ảnh hưởng lớn đến nguồn lợi và
môi trường sinh thái sang các nghề khai thác hải sản thân thiện với môi trường
hoặc chuyển ra ngoài lĩnh vực khai thác gắn với định hướng phát triển nghề cá
và điều kiện phát triển kinh tế xã hội của thành phố.
4. Các kế hoạch, chương
trình, dự án Bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản phù hợp với điều kiện thực
tế tại các xã, phường và phù hợp với quy định của Luật Thủy sản.
VIII. TỔ CHỨC
THỰC HIỆN
1. Sở
Nông nghiệp và Môi trường
- Là cơ quan đầu mối, chủ trì,
phối hợp với các sở, ban, ngành cấp thành phố; Ủy ban nhân dân các xã, phường
ven biển xây dựng và triển khai thực hiện các nội dung Kế hoạch; kiểm tra, đôn
đốc, hướng dẫn thực hiện Kế hoạch.
- Chủ trì, phối hợp với các Sở,
ngành, địa phương xây dựng và triển khai Kế hoach. Xây dựng các đề án, dự án,
chính sách và các nhiệm vụ, giải pháp theo chức năng, nhiệm vụ đã được Ủy ban
nhân dân thành phố giao.
- Chỉ đạo các đơn vị trực thuộc
phối hợp với các ngành liên quan, Ủy ban nhân dân các xã, phường ven biển nhằm
đẩy mạnh công tác tuyên truyền và phổ biến các quy định về chuyển đổi một số
nghề khai thác hải sản ảnh hưởng đến nguồn lợi và môi trường sinh thái với các
nội dung, hình thức tuyên truyền thiết thực, phù hợp với địa phương.
- Phối hợp với các cơ quan thuộc
Bộ Nông nghiệp và Môi trường, các Sở, ngành, địa phương xây dựng trình cấp có
thẩm quyền ban hành Quyết định về cơ chế đặc thù về cấp giấy chấp thuận đóng mới
để thay thế đối với cá tàu mục nát, chìm đắm, phá dở và tiêu chí trong việc cấp
văn bản chấp thuận cải hoán, đóng mới tàu cá.
- Lập dự toán kinh phí thực hiện
hàng năm gửi Sở Tài chính thẩm tra, đề xuất Ủy ban nhân dân thành phố xem xét
quyết định.
- Là cơ quan thường trực hướng
dẫn các địa phương triển khai thực hiện các nhiệm vụ; tổng hợp số liệu và báo
cáo Ủy ban nhân dân thành phố, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đảm bảo chất lượng
và đúng tiến độ.
2. Sở Tài
chính
- Trên cơ sở đề xuất của Sở
Nông nghiệp và Môi trường, các sở, ngành, địa phương có liên quan. Hằng năm căn
cứ vào khả năng cân đối ngân sách tham mưu cấp có thẩm quyển bố trí kinh phí thực
hiện Kế hoạch đối với các nhiệm theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước và
các văn bản hướng dẫn phù hợp các quy định của pháp luật về thủy sản.
- Chủ trì phối hợp với các cơ
quan liên quan tham mưu cấp có thẩm quyền bố trí vốn thực hiện các nhiệm vụ dự án,
công trình thuộc Kế hoạch theo đúng quy định của Luật Đầu tư công và các văn bản
hướng dẫn.
3. Sở
Khoa học và Công nghệ
- Phối hợp với các cơ quan liên
quan triển khai các nhiệm vụ khoa học và công nghệ về nghiên cứu, ứng dụng
trong lĩnh vực chuyển đổi nghề khai thác thủy sản.
- Tăng cường nghiên cứu, chuyển
giao các mô hình khai thác hải sản phù hợp với đặc điểm, điều kiện hiện nay của
các chủ tàu; ứng dụng khoa học, công nghệ trong chế biến, bảo quản sản phẩm sau
thu hoạch nâng cao giá trị, chất lượng hải sản khai thác.
4. Sở
Giáo dục và Đào tạo
Phối hợp với Sở Nông nghiệp và
Môi trường, Ủy ban nhân dân các phường, xã ven biển và có tàu cá, triển khai thực
hiện các chính sách hỗ trợ đào tạo nghề cho lao động chuyển đổi nghề theo quy định
để thay thế nghề khai thác ảnh hưởng đến nguồn lợi thủy hải sản và môi trường
sinh thái.
5. Sở Văn
hóa, Thể thao và Du lịch
- Phối hợp với Sở Nông nghiệp
và Môi trường và các cơ quan liên quan trong công tác tuyên truyền, phổ biến
thông tin và giới thiệu các mô hình chuyển đổi nghề hiệu quả; công tác truyền
thông về bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản và môi trường sinh thái.
- Chỉ đạo các cơ quan báo chí
và hệ thống thông tin cơ sở thông tin, tuyên truyền, phổ biến đến các cơ quan,
đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp tầng lớp nhân dân, đặc biệt là ngư dân thấy được
tầm quan trọng và trách nhiệm của họ trong việc tham gia thực hiện Kế hoạch
này.
6. Báo và
Phát thanh, Truyền hình Cần Thơ
- Định kỳ hàng quý, năm thực hiện
các tin bài, phóng sự tuyên truyền về hiệu quả của các mô hình chuyển đổi nghề
khai thác từ nghề ảnh hưởng đến môi trường, nguồn lợi sang làm nghề khác có hiệu
quả hơn.
- Truyền thông về trách nhiệm của
toàn dân trong công tác bảo vệ và khai thác bền vững nguồn lợi thủy sản.
7. Công an
thành phố, Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng thành phố
- Công an thành phố phối hợp
tăng cường kiểm soát nghề và ngư cụ cấm trong khai thác thủy sản trên địa bàn
thành phố.
- Lực lượng biên phòng phối hợp
kiểm soát chặt chẽ tàu cá và nghiêm cấm tàu cá tham gia khai thác thủy sản khi
không đủ điều kiện, phối hợp tuần tra, kiểm soát chống khai thác IUU trên vùng
biển thành phố.
8. Ủy ban
nhân dân xã, phường ven biển và có tàu cá
- Tổ chức thực hiện Kế hoạch
thông qua việc xây dựng và thực hiện các quy hoạch, kế hoạch phát triển thủy sản
thuộc địa phương quản lý. Theo chức năng, nhiệm vụ được giao; chủ động phối hợp
với Sở Nông nghiệp và Môi trường trong việc triển khai Kế hoạch tại địa phương.
- Đẩy mạnh các công tác tuyên
truyền các quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản đến
tổ chức, cá nhân tham gia trong lĩnh vực thủy sản, phát hiện và xử lý nghiêm
các hành vi vi phạm pháp luật về thủy sản theo thẩm quyền.
- Triển khai thực hiện chính
sách chuyển đổi nghề được phê duyệt và thực hiện giao khu vực biển cho cá nhân
để nuôi trồng thủy sản theo quy định hiện hành.
- Chỉ đạo các lực lượng chức
năng kiểm tra tình hình công dân tạm trú, di chuyển đến trên địa bàn hành nghề
khai thác thuỷ sản không tuân thủ theo Luật Thủy sản và các văn bản hướng dẫn
Luật Thuỷ sản để có biện pháp tuyên truyền, giáo dục, chấm dứt ngay việc đem
tàu cá ngoài thành phố vào khai thác thuỷ sản bất hợp pháp trên địa bàn được
giao quản lý.
9. Các Sở,
ngành thành phố, Ủy ban nhân dân xã, phường
Định kỳ báo cáo kết quả thực hiện
Kế hoạch này gửi về Sở Nông nghiệp và Môi trường (qua Chi cục Thủy sản và Kiểm
ngư) để tổng hợp báo cáo Ủy ban nhân dân thành phố, Bộ Nông nghiệp và Môi trường
trước ngày 15 tháng 11 hàng năm hoặc đột xuất khi có yêu cầu.
Trên đây là Kế hoạch thực hiện
Đề án chuyển đổi một số nghề khai thác hải sản ảnh hưởng đến nguồn lợi và môi
trường sinh thái trên địa bàn thành phố Cần Thơ. Trong quá trình triển khai thực
hiện, nếu có khó khăn, vướng mắc vượt thẩm quyền, đề nghị các cơ quan, đơn vị kịp
thời phản ánh về Sở Nông nghiệp và Môi trường tổng hợp, báo cáo Ủy ban nhân dân
thành phố xem xét, quyết định./.
|
Nơi nhận:
- Bộ Nông nghiệp và Môi trường;
- CT, PCT UBND TP (1A, 1G);
- Cục Thủy sản và Kiểm ngư;
- Các Sở, ban, ngành thành phố;
- Công an thành phố;
- Bộ Chỉ huy Quân sự thành phố;
- VP. UBND thành phố (2I, 3B);
- Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng thành phố;
- Báo và PT, TH TP Cần Thơ;
- UBND xã, phường ven biển;
- Lưu: VT, CT.
03 KH
|
TM. ỦY BAN NHÂN
DÂN
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH
Trần Chí Hùng
|