|
VĂN PHÒNG
CHÍNH PHỦ
--------
|
CỘNG HÒA XÃ
HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 502/TB-VPCP
|
Hà Nội, ngày
04 tháng 12 năm 2023
|
THÔNG BÁO
KẾT LUẬN CỦA PHÓ THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ TRẦN HỒNG HÀ TẠI CUỘC HỌP VỀ ĐỀ ÁN
CHỦ TRƯƠNG ĐẦU TƯ ĐƯỜNG SẮT TỐC ĐỘ CAO TRÊN TRỤC BẮC - NAM
Ngày 01 tháng 12 năm 2023, tại
Trụ sở Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà chủ trì cuộc họp về Đề
án chủ trương đầu tư đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam (Đề án). Tham dự
cuộc họp có Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải Nguyễn Văn Thắng, Chủ tịch Ủy ban
Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp Nguyễn Hoàng Anh, lãnh đạo các bộ, cơ
quan: Giao thông vận tải, Kế hoạch và Đầu tư, Xây dựng, Tài nguyên và Môi trường,
Giáo dục và Đào tạo, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, đại diện lãnh đạo các bộ: Tài
chính, Xây dựng, Công Thương, Khoa học và Công nghệ, Lao động - Thương binh và
Xã hội, Thông tin và Truyền thông, Công an, Quốc phòng, Ngoại giao, Nội vụ, Tư
pháp và Chủ tịch Hội đồng thành viên Tổng công ty Đường sắt Việt Nam.
Sau khi nghe Bộ Giao thông vận
tải báo cáo về quá trình xây dựng và nội dung Đề án, ý kiến phát biểu của các đồng
chí dự họp, Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà đã kết luận như sau:
Việc nghiên cứu đầu tư xây dựng
đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam đã được Bộ Giao thông vận tải thực hiện
nghiêm túc, công phu trong thời gian dài; trong đó Báo cáo nghiên cứu tiền khả
thi dự án năm 2010 đã được Bộ Chính trị tán thành chủ trương đầu tư, nhưng chưa
được cấp có thẩm quyền thông qua.
Ngày 28 tháng 02 năm 2023, Bộ
Chính trị ban hành Kết luận số 49-KL/TW về định hướng phát triển giao thông vận
tải đường sắt Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Ban Chỉ đạo xây dựng,
thực hiện Đề án chủ trương đầu tư đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam và
các dự án đường sắt quan trọng quốc gia (Ban Chỉ đạo) đã có Kết luận tại văn bản
số 420/TB-VPCP ngày 18 tháng 10 năm 2023 của Văn phòng Chính phủ. Bộ Giao thông
vận tải đã kế thừa kết quả nghiên cứu trước đây, tiếp thu các ý kiến, hoàn thiện
Đề án.
Đề án có ý nghĩa hết sức
quan trọng, góp phần rất lớn trong phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước. Quá trình xây dựng, triển khai Đề án cần có sự đồng
thuận, góp sức và thực sự vào cuộc của liên ngành trên nhiều lĩnh vực.
Để chuẩn bị đầy đủ nội dung
Đề án, Bộ Giao thông vận tải tiếp tục bám sát Kết luận số 49-KL/TW của Bộ Chính
phủ, Kết luận của Ban Chỉ đạo tại văn bản số 420/TB-VPCP ; tiếp thu ý kiến của
các đồng chí dự họp; giải trình đầy đủ, thuyết phục các ý kiến góp ý, phản biện
của các bộ, cơ quan và một số chuyên gia, nhà khoa học; hoàn thiện và chịu
trách nhiệm toàn diện về Đề án, báo cáo Thường trực Chính phủ; trong đó, lưu ý
một số vấn đề sau đây:
1. Về căn cứ lập Đề án:
- Căn cứ chính trị xây dựng
Đề án trên cơ sở Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII, Nghị quyết số 29-NQ/TW
ngày 17 tháng 11 năm 2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Kết luận số 49-KL/TW của Bộ Chính trị.
- Căn cứ thực tiễn dựa trên
yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, kinh nghiệm quốc tế (làm rõ thêm kinh nghiệm
các nước trên thế giới về phát triển đường sắt tốc độ cao bao gồm cả phương án
huy động vốn), với số liệu, dữ liệu kinh tế, kỹ thuật, khoa học để phân tích đầy
đủ, rõ nét hơn tác động của đường sắt tốc độ cao đến tổng thể nền kinh tế - xã
hội (giảm chi phí logistics, tăng sức cạnh tranh, ổn định kinh tế vĩ mô, tăng
hiệu quả nền kinh tế; tác động lan tỏa, phát triển đô thị, công nghiệp hóa, hiện
đại hóa; thúc đẩy phát triển du lịch...), trên cơ sở tính tương hỗ giữa các
phương thức vận tải để nghiên cứu, lựa chọn, đề xuất phương án đầu tư bảo đảm
khả thi, an toàn, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu giai đoạn trước mắt và lâu dài.
2. Về kịch bản phát triển: cần
dựa vào nhu cầu nội tại về phát triển kinh tế - xã hội nước ta, kinh nghiệm đầu
tư đường sắt tốc độ cao trên thế giới để nghiên cứu đầu tư đường sắt tốc độ cao
đảm bảo đồng bộ, hiệu quả, phù hợp với xu thế phát triển trên thế giới, tốc độ
thiết kế 350km/h và thực sự trở thành trục "xương sống" theo Kết luận
số 49-KL/TW của Bộ Chính trị, đồng thời khai thác hiệu quả tuyến đường sắt hiện
có.
3. Về cơ chế chính sách đặc
thù: Bộ Giao thông vận tải chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, Ủy ban Quản lý
vốn nhà nước tại doanh nghiệp, địa phương và doanh nghiệp nghiên cứu, đề xuất
cơ chế chính sách "đặc thù đặc biệt cả gói" để báo cáo Bộ Chính trị,
trình Quốc hội khi thông qua chủ trương đầu tư, bao gồm: cơ chế huy động và sử
dụng các nguồn vốn; cơ chế sử dụng tiền thu từ sử dụng đất từ các địa phương;
cơ chế đào tạo, sử dụng cán bộ, kỹ sư; cơ chế nội địa hóa gắn với phát triển
ngành công nghiệp đường sắt; cơ chế thu hút đầu tư PPP; cơ chế hợp tác, thu hút
đầu tư và chuyển giao công nghệ thông qua FDI; mô hình tổ chức vận hành - kinh
doanh... Phải triệt để thực hiện kết luận cuộc họp của Ban Chỉ đạo.
4. Quá trình triển khai
nghiên cứu tiếp theo, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương liên quan nghiên cứu,
làm sâu sắc thêm các nội dung sau:
- Tầm quan trọng của giao
thông, đặc biệt là đường sắt tốc độ cao trong việc phát triển đô thị theo định
hướng gắn kết với giao thông công cộng (TOD). Bộ Giao thông vận tải, Bộ Xây dựng,
Bộ Tài nguyên và Môi trường tiếp tục nghiên cứu giải pháp khai thác mô hình
này.
- Về hướng tuyến đường sắt tốc
độ cao: nghiên cứu sử dụng hiệu quả các giải pháp công trình cầu, hầm để đảm bảo
hướng tuyến thẳng nhất có thể, đảm bảo khả năng thoát lũ, hạn chế ảnh hưởng đến
các khu bảo tồn và chia cắt cộng đồng; xem xét phương án bố trí điểm đầu, điểm
cuối tuyến tại trung tâm Thủ đô Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.
- Về tổng mức đầu tư: do dự
án có quy mô lớn, phức tạp về kỹ thuật - công nghệ, thời gian thực hiện dài
(trên 10 năm) nên cần làm rõ việc tính toán sơ bộ tổng mức đầu tư chỉ là ước
tính ban đầu, số liệu chính xác sẽ tiếp tục được cập nhật ở các bước tiếp theo
khi đủ điều kiện, tránh hiểu nhầm trong trường hợp tổng mức đầu tư dự án tăng
trong giai đoạn triển khai.
- Về nguồn vốn: bố trí nguồn
vốn trong giai đoạn đầu; giai đoạn sau nghiên cứu kết hợp nguồn thu từ giá trị
gia tăng phát triển đô thị, kêu gọi xã hội hóa, thu hút vốn tư nhân đầu tư đầu
máy, toa xe để kinh doanh vận tải và trả phí cho Nhà nước.
- Phát triển nguồn nhân lực
phải đi trước một bước. Căn cứ nhu cầu, dự tính số lượng lao động chất lượng
cao (tự động hóa, chế tạo máy, chuyển đổi số...), nhân viên kỹ thuật trình cấp
có thẩm quyền giao Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
triển khai thực hiện.
- Bộ Công Thương chủ trì, phối
hợp với Bộ Giao thông vận tải nghiên cứu chính sách phát triển công nghiệp đường
sắt và công nghiệp phụ trợ (cơ khí, chế tạo, luyện kim...) giúp phát triển đường
sắt nói chung, đường sắt tốc độ cao nói riêng.
- Tổng công ty Đường sắt Việt
Nam chủ động tổ chức công tác chuẩn bị (đào tạo nguồn nhân lực, công nghệ, cơ
khí...) để thực hiện quản lý, vận hành, khai thác đường sắt tốc độ cao.
5. Về công tác tư vấn:
nghiên cứu huy động chuyên gia, tư vấn nước ngoài, tổ chức quốc tế có kinh nghiệm
về đường sắt tốc độ cao cùng tư vấn trong nước đánh giá kỹ phương án đầu tư bảo
đảm khả thi, an toàn, hiệu quả tối ưu.
Văn phòng Chính phủ thông
báo để Bộ Giao thông vận tải và các bộ, cơ quan, doanh nghiệp liên quan biết,
thực hiện./.
|
Nơi nhận:
- Thủ tướng, các Phó Thủ tướng CP;
- Các Bộ: GTVT, KHĐT, TC, XD, CT, TNMT, GDĐT, LĐTBXH, TTTT, CA, QP, NG, NV,
TP;
- Ngân hàng NNVN;
- UBQLVNN tại doanh nghiệp;
- TCty Đường sắt VN;
- VPCP: BTCN, các PCN,
Trợ lý TTg, PTTg, TGĐ Cổng TTĐT, VP BCSĐCP,
các Vụ: KTTH, QHQT, PL, TH;
- Lưu: VT, CN (2). y
|
KT. BỘ TRƯỞNG,
CHỦ NHIỆM
PHÓ CHỦ NHIỆM
Nguyễn Sỹ Hiệp
|