QUỐC HỘI
********
|
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh
phúc
********
|
Số: 48-LCT/HĐNN8
|
Hà Nội, ngày 21
tháng 12 năm 1990
|
LUẬT
DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN CỦA QUỐC HỘI SỐ 48-LCT/HĐNN8 NGÀY
21/12/1990
Để thực hiện đường lối phát triển
nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, khuyến khích việc đầu tư kinh doanh, bảo
hộ lợi ích hợp pháp của chủ doanh nghiệp tư nhân; tăng cường hiệu lực quản lý
Nhà nước đối với các hoạt động kinh doanh;
Căn cứ vào Điều 83 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam;
Luật này quy định về doanh nghiệp tư nhân.
Chương 1:
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1
Công dân Việt Nam đủ 18 tuổi có
quyền thành lập doanh nghiệp tư nhân theo quy định của Luật này.
Điều 2
Doanh nghiệp
tư nhân là đơn vị kinh doanh có mức vốn không thấp hơn vốn pháp định, do một cá
nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động
của doanh nghiệp.
"Kinh doanh" nói trong
Luật này là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình
đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường
nhằm mục đích sinh lợi.
Điều 3
Nhà nước công nhận sự tồn tại
lâu dài và phát triển của doanh nghiệp tư nhân, thừa nhận sự bình đẳng trước
pháp luật của doanh nghiệp tư nhân với các doanh nghiệp khác và tính sinh lợi hợp
pháp của việc kinh doanh.
Trong khuôn khổ pháp luật, chủ
doanh nghiệp tư nhân có quyền tự do kinh doanh và chủ động trong mọi hoạt động
kinh doanh.
Điều 4
Quyền sở hữu về tư liệu sản xuất,
quyền thừa kế về vốn, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của chủ doanh
nghiệp được Nhà nước bảo hộ.
Điều 5
Ngoài một số ngành, nghề mà pháp
luật cấm kinh doanh, việc thành lập doanh nghiệp tư nhân trong các ngành nghề
dưới đây phải được Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng cho phép:
1- Sản xuất và lưu thông thuốc nổ,
thuốc độc, hoá chất độc;
2- Khai thác các loại khoáng sản
quý;
3- Sản xuất và cung ứng điện, nước
có quy mô lớn;
4- Sản xuất các phương tiện phát
sóng truyền tin; dịch vụ bưu chính viễn thông, truyền thanh, truyền hình, xuất
bản;
5- Vận tải viễn dương và vận tải
hàng không;
6- Chuyên kinh doanh xuất khẩu,
nhập khẩu;
7- Du lịch quốc tế.
Điều 6
Người mất trí, người đang bị
truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc bị kết án tù mà chưa được xoá án, thì không
được phép thành lập doanh nghiệp tư nhân.
Điều 7
Nghiêm cấm viên chức tại chức
trong bộ máy Nhà nước, các sĩ quan tại ngũ trong các lực lượng vũ trang nhân
dân thành lập doanh nghiệp tư nhân.
Chương 2:
THÀNH LẬP, ĐĂNG KÝ KINH
DOANH, GIẢI THỂ, PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP
Điều 8
Cá nhân muốn thành lập doanh
nghiệp tư nhân, phải gửi đơn xin phép thành lập doanh nghiệp đến Uỷ ban nhân
dân có thẩm quyền cấp giấy phép theo quy định của Hội đồng bộ
trưởng.
Đơn xin thành lập doanh nghiệp
phải ghi rõ:
1- Họ, tên, tuổi và địa chỉ thường
trú của chủ doanh nghiệp;
2- Trụ sở dự định của doanh nghiệp;
3- Mục tiêu, ngành, nghề kinh
doanh cụ thể;
4- Vốn đầu tư ban đầu, trong đó
ghi rõ phần vốn bằng tiền Việt Nam, ngoại tệ, vàng, tài sản bằng hiện vật;
5- Biện pháp bảo vệ môi trường.
Đơn phải kèm theo phương án kinh
doanh ban đầu.
Điều 9
Cá nhân có quyền thành lập doanh
nghiệp tư nhân, phải có đủ các điều kiện sau đây mới được cấp giấy phép thành lập:
1- Mục tiêu, ngành, nghề kinh
doanh rõ ràng; có trụ sở giao dịch và phương án kinh doanh cụ thể;
2- Có đủ vốn đầu tư ban đầu phù
hợp với quy mô và ngành, nghề kinh doanh. Vốn đầu tư ban đầu không được thấp
hơn vốn pháp định do Hội đồng bộ trưởng quy định;
3- Bản thân hoặc người được thuê
làm quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh có trình độ chuyên môn tương ứng mà
pháp luật đòi hỏi đối với một số ngành, nghề.
Điều 10
Uỷ ban nhân dân nhận đơn phải cấp
hoặc từ chối cấp giấy phép thành lập doanh nghiệp trong thời hạn ba mươi ngày,
kể từ ngày nhận đơn; nếu từ chối cấp giấy phép thì phải nói rõ lý do. Trong trường
hợp người xin phép thành lập doanh nghiệp tư nhân thấy việc từ chối cấp giấy
phép là không thoả đáng, thì có quyền khiếu nại lên Trọng tài kinh tế cấp trên
trực tiếp.
Điều 11
Trong thời hạn
sáu mươi ngày, kể từ ngày được giấy phép thành lập, chủ doanh nghiệp tư nhân phải
đăng ký kinh doanh tại Trọng tài kinh tế cùng cấp Uỷ ban nhân dân đã cấp giấy
phép thành lập.
Hồ sơ đăng ký kinh doanh bao gồm:
giấy phép thành lập, giấy chứng nhận của ngân hàng về số tiền Việt Nam, ngoại tệ,
vàng của chủ doanh nghiệp có trong tài khoản ở ngân hàng; giấy chứng nhận của
cơ quan công chứng về trị giá tài sản bằng hiện vật thuộc sở hữu của chủ doanh
nghiệp tư nhân tương ứng với vốn đầu tư ban đầu đã ghi trong giấy phép thành lập
và giấy tờ chứng thực về trụ sở giao dịch của doanh nghiệp.
Quá thời hạn sáu mươi ngày quy định
tại đoạn 1, Điều này mà chưa đăng ký, nếu muốn tiếp tục thành lập doanh nghiệp
tư nhân, thì chủ doanh nghiệp phải làm lại thủ tục xin phép thành lập. Trong
trường hợp có lý do chính đáng, Uỷ ban nhân dân đã cấp giấy phép thành lập có
thể gia hạn giấy phép thành lập không quá ba mươi ngày.
Điều 12
Khi đăng ký kinh doanh, doanh
nghiệp tư nhân được ghi tên vào sổ đăng ký kinh doanh và được cấp giấy chứng nhận
đăng ký kinh doanh. Kể từ thời điểm đó, doanh nghiệp tư nhân được tiến hành hoạt
động kinh doanh.
Trong thời hạn
bảy ngày, kể từ ngày cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, Trọng tài kinh tế
phải gửi bản sao giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh kèm theo hồ sơ của doanh
nghiệp cho các cơ quan thuế, tài chính, thống kê và cơ quan quản lý ngành kinh
tế, kỹ thuật cùng cấp.
Điều 13
Trong thời hạn ba mươi ngày, kể
từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, chủ doanh nghiệp tư nhân
được Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc đơn vị hành
chính tương đương cấp giấy phép phải đăng báo địa phương và báo hàng ngày của
trung ương về các điểm chủ yếu sau đây:
1- Họ, tên chủ doanh nghiệp và
tên doanh nghiệp;
2- Trụ sở của doanh nghiệp;
3- Mục tiêu, ngành, nghề kinh
doanh;
4- Vốn đầu tư ban đầu;
5- Ngày được cấp giấy phép thành
lập, ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, số đăng ký kinh doanh;
6- Thời điểm bắt đầu hoạt động.
Điều 14
Trong trường hợp cần đặt chi
nhánh hoặc văn phòng đại diện ngoài tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc
đơn vị hành chính tương đương, nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính, chủ doanh
nghiệp tư nhân phải:
1- Xin phép
Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc đơn vị hành chính
tương đương, nơi đặt chi nhánh hoặc văn phòng đại diện và đăng ký kinh doanh tại
Trọng tài kinh tế cùng cấp như quy định tại Điều 8 và Điều
11 của Luật này;
2- Thông báo bằng văn bản cho Uỷ
ban nhân dân đã cấp giấy phép thành lập về việc mở chi nhánh hoặc văn phòng đại
diện trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày chi nhánh hoặc văn phòng đại diện
được cấp giấy đăng ký.
Điều 15
Khi thay đổi mục tiêu, ngành,
nghề kinh doanh, vốn đầu tư ban đầu và các nội dung khác trong hồ sơ đăng ký
kinh doanh, chủ doanh nghiệp tư nhân phải khai báo lại với Trọng tài kinh tế đã
đăng ký kinh doanh. Đối với doanh nghiệp tư nhân được Uỷ ban nhân dân tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương hoặc đơn vị hành chính tương đương cấp giấy
phép, thì chủ doanh nghiệp còn phải đăng báo về những nội dung thay đổi.
Điều 16
Chủ doanh nghiệp tư nhân chỉ được
giải thể doanh nghiệp của mình, nếu bảo đảm thanh toán hết các khoản nợ của
doanh nghiệp và thanh lý hết hợp đồng mà doanh nghiệp đã ký kết.
Muốn giải thể doanh nghiệp, chủ
doanh nghiệp phải gửi đơn đến Uỷ ban nhân dân đã cấp giấy phép thành lập và
thông báo việc xin phép giải thể doanh nghiệp trên báo địa phương và báo hàng
ngày của trung ương. Đơn và thông báo phải ghi rõ trình tự và thủ tục thanh lý
tài sản, thời hạn thanh toán các khoản nợ và thanh lý các hợp đồng.
Uỷ ban nhân dân chỉ chấp thuận
đơn xin giải thể nếu sau mười lăm ngày, kể từ ngày kết thúc thời hạn thanh toán
các khoản nợ, thanh lý các hợp đồng đã ghi trong đơn và thông báo việc xin phép
giải thể mà không có đơn khiếu nại.
Việc giải thể doanh nghiệp chỉ
được bắt đầu khi đơn xin giải thể được chấp thuận.
Điều 17
Doanh nghiệp tư nhân gặp khó
khăn hoặc bị thua lỗ trong hoạt động kinh doanh đến mức tại một thời điểm tổng
số trị giá các tài sản còn lại của doanh nghiệp không đủ thanh toán tổng số các
khoản nợ đến hạn, là doanh nghiệp đang lâm vào tình trạng phá sản.
Doanh nghiệp nói tại đoạn 1, Điều
này có thể bị Trọng tài kinh tế tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc đơn
vị hành chính tương đương, nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính tuyên bố phá sản
theo đơn xin phá sản của chủ doanh nghiệp; hoặc đơn yêu cầu của một hoặc nhiều
chủ nợ; hoặc kiến nghị của cơ quan có thẩm quyền.
Trình tự và thủ tục phá sản thực
hiện theo quy định của pháp luật về phá sản.
Chương 3:
TỔ CHỨC HỌAT ĐỘNG CỦA
DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN
Điều 18
Doanh nghiệp tư nhân được đặt
tên theo ngành, nghề kinh doanh hoặc đặt tên riêng. Trên bảng hiệu, hoá đơn, quảng
cáo, báo cáo, tài liệu, giấy tờ giao dịch khác của doanh nghiệp tư nhân phải
ghi tên doanh nghiệp, kèm theo các chữ "doanh nghiệp tư nhân" và số vốn
đầu tư ban đầu của doanh nghiệp.
Điều 19
Chủ doanh nghiệp tư nhân trực tiếp
hoặc thuê người khác quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh, nhưng tự mình vẫn
phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Chủ doanh nghiệp tư nhân là
nguyên đơn, bị đơn trước Trọng tài kinh tế hoặc Toà án trong các tranh chấp và
vụ kiện liên quan đến doanh nghiệp.
Điều 20
Vốn đầu tư ban đầu của doanh
nghiệp tư nhân do chủ doanh nghiệp tự khai. Vốn là tiền Việt Nam, ngoại tệ hoặc
vàng phải gửi ở ngân hàng, nơi chủ doanh nghiệp mở tài khoản và được ngân hàng
chứng nhận. Vốn là tài sản bằng hiện vật thì phải có chứng nhận của cơ quan
công chứng.
Vốn đầu tư ban đầu và tài sản
khác mà chủ doanh nghiệp tư nhân sử dụng vào việc kinh doanh phải được ghi chép
vào sổ sách kế toán của doanh nghiệp.
Điều 21
Trong quá trình hoạt động, chủ
doanh nghiệp tư nhân có quyền tăng hoặc giảm vốn đầu tư ban đầu nhưng không được
thấp hơn vốn pháp định. Việc tăng hoặc giảm vốn đều phải ghi chép đầy đủ vào sổ
sách kế toán.
Điều 22
Theo quy định của pháp luật, chủ
doanh nghiệp tư nhân có quyền:
1- Lựa chọn
ngành, nghề, quy mô kinh doanh;
2- Lựa chọn hình thức và cách thức
vay vốn;
3- Lựa chọn khách hàng, trực tiếp
giao dịch, ký kết hợp đồng với khách hàng;
4- Tuyển dụng và thuê mướn lao động
theo yêu cầu kinh doanh;
5- Sử dụng ngoại tệ thu được;
6- Quyết định việc sử dụng phần
thu nhập còn lại;
7- Chủ động trong các hoạt động
kinh doanh đã đăng ký.
Điều 23
Chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền
cho thuê toàn bộ doanh nghiệp của mình. Trước khi cho thuê, chủ doanh nghiệp phải
báo cáo bằng văn bản với Trọng tài kinh tế đã cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh
doanh. Trong thời hạn cho thuê, chủ doanh nghiệp tư nhân vẫn phải chịu trách
nhiệm trước pháp luật với tư cách là chủ sở hữu doanh nghiệp.
Điều 24
Chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền
bán hoặc sáp nhập doanh nghiệp của mình vào doanh nghiệp khác. Trước khi bán hoặc
sáp nhập, chủ doanh nghiệp phải gửi đơn đến Uỷ ban nhân dân đã cấp giấy phép
thành lập doanh nghiệp nêu rõ lý do, có kèm theo:
1- Giấy xác nhận của các chủ nợ
về việc chủ doanh nghiệp thanh toán hết các khoản nợ, giấy cam kết của doanh
nghiệp khác hoặc ngân hàng chịu trách nhiệm về các khoản nợ của doanh nghiệp;
2- Giấy xác nhận của các khách
hàng về việc doanh nghiệp đã thanh lý hết các hợp đồng hoặc giấy cam kết của
doanh nghiệp khác về việc tiếp tục thực hiện các hợp đồng mà doanh nghiệp đã ký
kết.
Uỷ ban nhân dân chỉ chấp thuận
việc bán hoặc sáp nhập doanh nghiệp sau khi chủ doanh nghiệp đã đăng báo đơn
xin ba lần liên tiếp, cách nhau năm ngày mà không có đơn khiếu nại trong mười
lăm ngày kế tiếp. Việc bán hoặc sáp nhập doanh nghiệp chỉ được thực hiện sau
khi đơn đã được chấp thuận.
Sau khi hoàn tất
thủ tục bán hoặc sáp nhập doanh nghiệp vào một doanh nghiệp khác, chủ doanh
nghiệp tư nhân phải khai báo với Trọng tài kinh tế đã cấp giấy chứng nhận đăng
ký kinh doanh để xoá tên trong sổ đăng ký kinh doanh và phải thông báo công
khai.
Điều 25
Chủ doanh nghiệp tư nhân có
nghĩa vụ:
1- Khai báo đúng vốn đầu tư để
kinh doanh;
2- Kinh doanh theo ngành, nghề
ghi trong giấy phép;
3- Ưu tiên sử dụng lao động
trong nước; bảo đảm quyền, lợi ích của người lao động theo quy định của pháp luật
lao động; tôn trọng quyền của tổ chức công đoàn theo Luật công đoàn;
4- Bảo đảm chất lượng hàng hoá
theo tiêu chuẩn đã đăng ký;
5- Tuân thủ quy định của Nhà nước
về bảo vệ môi trường, bảo vệ di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh và
trật tự, an toàn xã hội;
6- Ghi chép sổ sách kế toán và
quyết toán theo quy định của pháp luật về kế toán, thống kê và chịu sự kiểm tra
của cơ quan tài chính;
7- Nộp thuế và thực hiện các
nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.
Chương 4:
XỬ LÝ VI PHẠM
Điều 26
Người thành lập doanh nghiệp tư
nhân mà không có giấy phép, kinh doanh mà không đăng ký; kinh doanh không đúng
ngành, nghề ghi trong giấy phép hoặc vi phạm các quy định khác của Luật này,
thì tuỳ theo mức độ nhẹ hoặc nặng mà bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu
trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
Điều 27
Người lợi dụng chức vụ, quyền hạn
cấp giấy phép thành lập doanh nghiệp tư nhân cho người bị cấm, cho người không
được phép thành lập doanh nghiệp; không cấp giấy phép thành lập hoặc giấy đăng
ký kinh doanh cho người đủ điều kiện thành lập doanh nghiệp hoặc đăng ký; chứng
nhận sai về vốn gửi ở ngân hàng hoặc về trị giá tài sản bằng hiện vật cho chủ
doanh nghiệp tư nhân hoặc vi phạm các quy định khác của Luật này, thì tuỳ theo
mức độ nhẹ hoặc nặng mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự
theo quy định của pháp luật.
Chương 5:
ĐIỀU KHỎAN CUỐI CÙNG
Điều 28
Luật này có hiệu lực kể từ ngày
15 tháng 4 năm 1991.
Những quy định trước đây trái với
Luật này đều bãi bỏ.
Trong thời hạn
một trăm tám mươi ngày, kể từ ngày 15 tháng 4 năm 1991, chủ doanh nghiệp tư
nhân đã được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép thành lập trước ngày đó phải
làm lại các thủ tục thành lập và đăng ký kinh doanh theo quy định của Luật này.
Luật này đã được Quốc hội nước Cộng
hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá VIII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 21 tháng
12 năm 1990.