|
BỘ
Y TẾ
-------
|
CỘNG
HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
---------
|
|
Số:
02/CT-BYT
|
Hà
Nội, ngày 25 tháng 02 năm 2009
|
CHỈ THỊ
VỀ
VIỆC ĐẨY MẠNH ỨNG DỤNG VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG NGÀNH Y TẾ
Ứng dụng và phát triển thông tin
trong công tác y tế (sau đây gọi tắt là Công nghệ thông tin y tế – CNTTYT) có
vai trò quan trọng trong phát triển công tác y tế. Những năm qua, CNTT YT đã
đạt nhiều thành tựu như: Khám chữa bệnh từ xa, quản lý bệnh viện, dự báo dịch
bệnh, quản lý trang thiết bị y tế, dược phẩm, đào tạo, khoa học công nghệ và
chuyển giao kỹ thuật.
Nhằm thực hiện chủ trương của
Đảng và Nhà nước nhằm tăng cường đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và
truyền thông trong các hoạt động của xã hội đã được cụ thể hoá qua Nghị định
64/2007/NĐ-CP về ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan Nhà nước, Quyết định
32/2006/QĐ-TTg về Kế hoạch phát triển Viễn thông Internet, Quyết định
56/2007/QĐ-TTg về chương trình phát triển công nghiệp nội dung số Việt Nam,
Quyết định 43/2008/QĐ-TTg về Phê duyệt Kế hoạch ứng dụng CNTT trong hoạt động
của cơ quan nhà nước để góp phần tích cực trong nâng cao chất lượng bảo vệ và
chămsóc sức khỏe nhân dân. Bộ trưởng Bộ Y tế yêu cầu thủ trưởng các đơn vị
trong ngành y tế đẩy mạnh hơn nữa việc triển khai CNTTYT trong đơn vị, thực
hiện những nhiệm vụ cụ thể sau:
1. Về chủ trương: CNTTYT cần
được xem là một trong những ưu tiên để đầu tư phát triển cơ quan đơn vị trong
năm 2009-2010. Thủ trưởng các đơn vị là người chịu trách nhiệm chính trong việc
triển khai CNTT tại đơn vị mình phụ trách. Trên cơ sở định hướng chiến lược của
ngành, các đơn vị cần xây dựng kế hoạch, lộ trình tổ chức thực hiện việc ứng
dụng ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin trong quản lý, điều hành, cải
cách thủ tục hành chính của đơn vị. Kế hoạch ứng dụng phát triển CNTT được lồng
ghép trong chiến lược, kế hoạch phát triển chung của địa phương, đơn vị.
2. Về tổ chức và nhân lực: Các
đơn vị cần có bộ phận chuyên trách, được bố trí nhân lực phù hợp để triển khai
việc ứng dụng công nghệ thông tin trong đơn vị. Các Sở Y tế, Bệnh viện tuyến
tỉnh,Viện nghiên cứu, trường Đại học, Cao đẳng y tế cần sớm tổ chức bộ phận
chuyên trách về công nghệ thông tin từ năm 2009.
3. Về đầu tư:Hàng năm các đơn vị
căn cứ vào khả năng ngân sách Nhà nước, các nguồn thu và các nguồn vốn hợp pháp
khác để ưu tiên dành kinh phí cho dự án, kế hoạch ứng dụng CNTT của đơn vị.Tùy
theo điều kiện cụ thể, các đơn vị cần dành tối thiểu 1% các nguồn kinh phí của
đơn vị để chi cho việc ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin.
4. Về xây dựng hạ tầng cơ sở
công nghệ thông tin: Đơn vị có kế hoạch đầu tư xây dựng hạ tầng cơ sở công nghệ
thông tin, truyền thông bao gồm mạng máy tính, thiết bị ngoại vi, phần mềm hệ
thống và quy trình thông tin để đảm cho việc trao đổi thông tin thông suốt, an
toàn, bảo vệ bí mật nhà nước trong các cơ quan và với các đơn vị y tế. Riêng
phần chi viện của Bộ sẽ thực hiện ưu tiên đầu tư trước cho các đơn vị y tế
tuyến trung ương, tuyến tỉnh sau đó đến tuyến cơ sở.
5. Cơ sở dữ liệu, phần mềm ứng
dụng và phần mềm mã nguồn mở:
a) Các cơ sở y tế đẩy nhanh việc
xây dựng kho cơ sở dữ liệu y tế của đơn vị và ngành đáp ứng yêu cầu cung cấp
thông tin phục vụ quản lý và nghiên cứu khoa học.
b) Các bệnh viện tổ chức triển
khai phần mềm báo cáo thống kê bệnh viện và các phần mềm ứng dụng khác để thuận
tiện trong việc quản lý, điều hành, tác nghiệp, thu thập, xử lý, lưu trữ và
trao đổi thông tin trong ngành. Các bệnh viện trung ương và tuyến tỉnh phải
triển khai phần mềm quản lý bệnh viện trước năm 2010.
c) Các cơ sở đào tạo cần triển
khai phần mềm quản lý học sinh, sinh viên theo yêu cầu của Bộ Giáo dục-Đào tạo
và Bộ Y tế.
d) Bộ Y tế khuyến khích đầu tư,
phát triển để đưa vào sử dụng chung đối với các chuẩn thông tin y tế, các
chương trình phần mềm có tính chất đặc thù chung cho một lĩnh vực trong ngành y
tế ; khuyến khích sử dụng phần mềm mã nguồn mở giúp giảm chi phí và chủ động
trong việc xây dựng phần mềm ứng dụng.
6. Internet và website:
a) Đến cuối năm 2010 có 100% các
cơ sở y tế trung ương, bệnh viện, cơ sở y tế tuyến tỉnh, các cơ sở đào tạo y
dược và 80% bệnh viện huyện có kết nối Internet băng thông rộngtạo điều kiện
thuận lợi để các cán bộ y tế, sinh viên, học sinh được tiếp cận dịch vụ
Internet có tốc độ cao để phục vụ công tác khám chữa bệnh, học tập và nghiên
cứu khoa học y dược.
b) Các cơ sở y tế tuyến trung
ương, các Sở y tế, các trường Đại học và Cao đẳng y tế phải có trang thông tin
điện tử (website) trên Internet với thông tin được cập nhật, tin cậy cao để
phục vụ nhân dân, doanh nghiệp và tổ chức khác có liên quan.
c) Các cơ sở đào tạo, chỉ đạo
tuyến, các bệnh viện chuyên khoa cần đẩy mạnh việc ứng dụng CNTT trong đào tạo
chuyển giao kỹ thuật, cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe, khám, chữa bệnh từ xa
phục vụ kịp thời cho nhu cầu của cán bộ và nhân dân.
7. Quản lý, điều hành: Đảm bảo
hệ thống chỉ đạo, điều hành, trao đổi thông tin từ Bộ đến các đơn vị trực thuộc
và Sở y tế thông suốt, kịp thời. Trong năm 2010 phải có trên 50% thông tin được
trao đổi trên mạng, 30% các cuộc họp của Bộ được tổ chức trên môi trường mạng,
hạn chế thủ tục, giấy tờ không cần thiết.
8. Dịch vụ công: Các dịch vụ
công về y dược ở cơ quan Bộ Y tế và các Sở Y tế được cung cấp trên mạng của Bộ
Y tế và các Sở y tế ở mức độ 2, một số dịch vụcông ở mức độ 3. Tăng cường ứng
dụng công nghệ thông tin trong việc cung ứng các dịch vụ khám, chữa bệnh, cấp
phép trong hoạt động y tế qua mạng, phục vụ tốt cho nhân dân và doanh nghiệp.
Nhận được Chỉ thị này yêu cầu
Giám đốc Sở y tế tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Thủ trưởng các đơn vị
trực thuộc Bộ và các Cơ sở y tế cần có kế hoạch tổ chức thực hiện và báo cáo
kết quả về thường xuyên về Bộ Y tế.
Giao cho ông Vụ trưởng Vụ Khoa
học và Đào tạo – Văn phòng Ban chỉ đạo công nghệ thông tin y tế có trách nhiệm
theo dõi, đôn đốc và hướng dẫn các đơn vị trong ngành y tế thực hiện Chỉ thị
này.
|
|
BỘ
TRƯỞNG
Nguyễn Quốc Triệu
|