|
BAN
CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG
*
|
ĐẢNG
CỘNG SẢN VIỆT NAM
---------------
|
|
Số:
42-QĐ/TW
|
Hà
Nội, ngày 03 tháng 10 năm 2016
|
QUY ĐỊNH
VỀ
NHIỆM VỤ VÀ QUAN HỆ CÔNG TÁC CỦA THƯỜNG TRỰC TỈNH ỦY, THÀNH ỦY
- Căn cứ Điều lệ Đảng;
- Căn cứ Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Trung
ương, Bộ Chính trị và Ban Bí thư khóa XII;
Trên cơ sở đánh giá việc thực hiện Quy định số
51-QĐ/TW, ngày 19-4-2007 của Ban Bí thư về nhiệm vụ và quan hệ công tác của thường
trực tỉnh ủy, thành ủy,
Ban Bí thư quy định nhiệm vụ và quan hệ công tác của
thường trực tỉnh ủy, thành ủy như sau:
I- QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Thường trực tỉnh ủy, thành ủy gồm bí thư và các phó bí thư,
chỉ đạo, kiểm tra thực hiện nghị quyết, chỉ thị của tỉnh ủy, thành ủy, của ban
thường vụ tỉnh ủy, thành ủy và của cấp ủy cấp trên; giải quyết công việc hằng
ngày của đảng bộ; quyết định triệu tập và chuẩn bị nội dung các kỳ họp của ban
thường vụ.
Thường trực tỉnh ủy, thành ủy làm việc theo nguyên
tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; thực hiện nhiệm vụ,
quyền hạn, các quan hệ công tác theo quy định của Ban Bí thư và theo quy chế
làm việc của tỉnh ủy, thành ủy.
Điều 2. Nhiệm vụ của tập thể
thường trực tỉnh ủy, thành ủy
2.1- Giúp ban thường vụ chỉ đạo việc chuẩn bị và tổ
chức thực hiện quy chế làm việc, chương trình làm việc toàn khóa của tỉnh ủy,
thành ủy; xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình làm việc hằng năm, 6
tháng, hàng quý, hằng tháng của ban thường vụ tỉnh ủy, thành ủy và chương trình
kiểm tra, giám sát hằng năm của cấp ủy; quyết định triệu tập hội nghị ban thường
vụ tỉnh ủy, thành ủy; chỉ đạo, kiểm tra việc chuẩn bị các nội dung (báo cáo, đề
án, phương án, dự thảo nghị quyết, kết luận...) trình hội nghị ban thường vụ tỉnh
ủy, thành ủy quyết định; chỉ đạo việc chuẩn bị nội dung làm việc với lãnh đạo cấp
cao của Đảng và Nhà nước đến thăm và làm việc tại địa phương hoặc khi lãnh đạo
yêu cầu cấp ủy đến báo cáo, làm việc.
2.2- Chỉ đạo phối hợp hoạt động giữa các cơ quan đảng,
đảng đoàn hội đồng nhân dân, ban cán sự đảng ủy ban nhân dân, viện kiểm sát
nhân dân, tòa án nhân dân, đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị -
xã hội trong việc quán triệt, cụ thể hóa và chỉ đạo tổ chức thực hiện, kiểm
tra, giám sát, sơ kết, tổng kết việc thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của
Trung ương và của cấp ủy địa phương. Chỉ đạo chuẩn bị việc chất vấn tại hội nghị
tỉnh ủy, thành ủy theo quy định. Chỉ đạo chuẩn bị tổ chức thực hiện việc lấy
phiếu tín nhiệm và bỏ phiếu tín nhiệm theo quy định của Đảng và Quốc hội.
2.3- Chỉ đạo giải quyết những công việc hằng ngày của
đảng bộ, những vấn đề đột xuất nảy sinh giữa hai kỳ họp của ban thường vụ tỉnh ủy,
thành ủy.
2.4- Thay mặt ban thường vụ tỉnh ủy, thành ủy giải
quyết những công việc theo sự chỉ đạo của Trung ương, theo quy chế làm việc của
cấp ủy và những công việc được ban thường vụ ủy quyền.
Những công việc ban thường vụ ủy quyền cho tập
thể thường trực tỉnh ủy, thành ủy giải quyết gồm:
- Về tổ chức, cán bộ:
+ Quyết định thẩm tra những cán bộ thuộc diện ban
thường vụ quản lý khi có vấn đề phải xem xét về lịch sử chính trị và chính trị
hiện nay theo quy định của Bộ Chính trị và một số vấn đề quan trọng khác về cán
bộ (bằng cấp, học hàm, học vị, độ tuổi, tài sản, thu nhập...) để đưa ra ban thường
vụ tỉnh ủy, thành ủy xem xét, kết luận.
+ Cho chủ trương thực hiện quy trình bổ nhiệm, giới
thiệu ứng cử, điều động, thuyên chuyển, nghỉ hưu, thôi giữ chức vụ, miễn nhiệm,
từ chức các chức danh thuộc diện tỉnh ủy, thành ủy, ban thường vụ tỉnh ủy,
thành ủy quản lý trước khi trình ban thường vụ tỉnh ủy, thành ủy cho ý kiến.
+ Cho ý kiến về bổ nhiệm, điều động, thuyên chuyển,
nghỉ hưu, thôi giữ chức vụ, miễn nhiệm, từ chức của cán bộ thuộc quyền quản lý
của đảng đoàn, ban cán sự đảng các cơ quan nhà nước hoặc tổ chức quần chúng đối
với các trường hợp mà các tổ chức đảng thấy cần phải xin ý kiến thường trực cấp
ủy trước khi quyết định.
+ Chỉ đạo cán bộ kê khai tài sản, thu nhập theo quy
định của Đảng và Nhà nước.
+ Chỉ đạo tổ chức tuyển chọn đối với cán bộ thuộc
diện ban thường vụ quản lý để trình ban thường vụ quyết định theo quy định của
Đảng và Nhà nước.
+ Hiệp y về đề nghị bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn
nhiệm, khen thưởng... đối với cán bộ là cấp phó của một số cơ quan trực thuộc
Trung ương đóng trên địa bàn (trừ cấp phó của bộ chỉ huy quân sự, công an, viện
kiểm sát nhân dân, tòa án nhân dân tỉnh, thành phố thuộc quyền của ban thường vụ)
theo Quy định phân cấp quản lý cán bộ của Bộ Chính trị.
+ Chuẩn y kết quả bầu cử cấp ủy viên, ủy ban kiểm
tra và các chức danh lãnh đạo của cấp ủy, đảng ủy trực thuộc; chỉ định bổ sung
cấp ủy viên, ủy viên đảng đoàn, ban cán sự đảng theo đề nghị của cấp ủy, đảng ủy,
đảng đoàn, ban cán sự đảng trực thuộc đúng với quy định của Điều lệ Đảng.
+ Quyết định việc thực hiện chế độ và chính sách tiền
lương; việc đi học tập, công tác ở trong nước và nước ngoài đối với cán bộ thuộc
diện ban thường vụ quản lý.
+ Cho ý kiến về đề nghị xét tặng các loại huân
chương, huy chương, các danh hiệu vinh dự Nhà nước và các danh hiệu thi đua,
khen thưởng khác được ban thường vụ ủy quyền trong quy chế làm việc của cấp ủy,
trước khi trình cơ quan có thẩm quyền quyết định.
+ Chỉ đạo công tác chăm sóc sức khỏe và chính sách
cán bộ; tổ chức tang lễ đối với cán bộ thuộc diện ban thường vụ quản lý theo
đúng chế độ, chính sách quy định.
+ Gợi ý kiểm điểm đối với tập thể cấp ủy, tổ chức đảng
trực thuộc và cá nhân cán bộ diện ban thường vụ tỉnh ủy, thành ủy quản lý khi
thấy cần thiết.
- Về công tác nội chính, an ninh, quốc phòng, đối
ngoại:
+ Cho ý kiến về chương trình công tác hằng năm và đánh
giá công tác năm của các cơ quan nội chính.
+ Cho ý kiến về chủ trương xử lý các vấn đề đột xuất
có liên quan đến an ninh trên địa bàn, nhất là an ninh chính trị, tôn giáo, dân
tộc và an ninh biên giới. Phối hợp chặt chẽ với thường vụ đảng ủy quân khu
trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, quân sự địa phương và
trong chỉ đạo, chỉ huy các đơn vị quân đội đóng trên địa bàn.
+ Cho ý kiến về chủ trương xử lý một số vụ việc, vụ
án nghiêm trọng, phức tạp có liên quan đến an ninh chính trị, đối ngoại hoặc
còn có ý kiến khác nhau giữa các cơ quan tư pháp... theo quy định của Bộ Chính
trị; chỉ đạo xử lý đơn, thư khiếu nại, tố cáo của công dân liên quan đến cán bộ
thuộc diện ban thường vụ quản lý và những đơn, thư nhiều người ký tên có biểu
hiện phức tạp.
+ Chỉ đạo công tác phòng, chống tham nhũng, lãng
phí.
+ Chỉ đạo các chương trình, kế hoạch và hoạt động đối
ngoại ở địa phương theo Quy chế quản lý thống nhất các hoạt động đối ngoại ban
hành kèm theo Quyết định số 272-QĐ/TW, ngày 21-01-2015 của Bộ Chính trị khóa
XI.
- Về kinh tế - xã hội:
+ Cho ý kiến về chủ trương đầu tư một số dự án quan
trọng theo quy định của ban thường vụ để Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố quyết
định (theo mức vốn đầu tư hoặc quy mô sử dụng đất, có ảnh hưởng sâu rộng đến
quyền lợi, tư tưởng của nhiều đối tượng xã hội, đến quốc phòng, an ninh, đối
ngoại... trên địa bàn) phù hợp với tình hình thực tiễn của mỗi địa phương.
+ Cho ý kiến về chủ trương sử dụng các khoản chi từ
nguồn hỗ trợ của Trung ương, tỉnh, thành phố bạn, các tổ chức trong và ngoài nước
cho các nhu cầu phòng, chống thiên tai, cứu trợ khẩn cấp... (trừ những trường hợp
thiên tai, cứu trợ đặc biệt khẩn cấp, không có điều kiện họp được thường trực tỉnh
ủy, thành ủy, do chủ tịch Ủy ban nhân dân quyết định, sau đó báo cáo lại thường
trực tỉnh ủy, thành ủy).
Những công việc được ủy quyền nêu trên, nếu có vấn
đề phức tạp hoặc khi xét thấy cần thiết thì thường trực tỉnh ủy, thành ủy xin ý
kiến ban thường vụ trước khi quyết định.
Trong phạm vi được ủy quyền, các ý kiến chỉ đạo của
thường trực tỉnh ủy, thành ủy có hiệu lực thực hiện như quyết định của ban thường
vụ.
Kết quả giải quyết công việc giữa hai kỳ họp của
ban thường vụ và các công việc được ban thường vụ ủy quyền, thường trực tỉnh ủy,
thành ủy phải báo cáo ban thường vụ trong phiên họp gần nhất.
Điều 3. Nhiệm vụ và quyền hạn của
bí thư tỉnh ủy, thành ủy
Bí thư là người đứng đầu tỉnh ủy, thành ủy, chịu
trách nhiệm cao nhất trước tỉnh ủy, thành ủy, ban thường vụ và thường trực tỉnh
ủy, thành ủy; cùng tỉnh ủy, thành ủy, ban thường vụ và thường trực tỉnh ủy,
thành ủy chịu trách nhiệm trước Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí
thư, trước đảng bộ và nhân dân địa phương về sự lãnh đạo của Đảng trên mọi lĩnh
vực ở địa phương và chịu trách nhiệm trực tiếp về những công việc được phân
công. Bí thư tỉnh ủy, thành ủy có các nhiệm vụ và quyền hạn:
3.1- Chủ trì các công việc của tỉnh ủy, thành ủy,
ban thường vụ và thường trực cấp ủy; chủ trì và kết luận các hội nghị của cấp ủy;
chủ động đề xuất, trao đổi trong thường trực tỉnh ủy, thành ủy những vấn đề lớn,
quan trọng để đưa ra ban thường vụ tỉnh ủy, thành ủy thảo luận, quyết định.
3.2- Chỉ đạo tổ chức quán triệt trong đảng bộ, nhân
dân địa phương và trực tiếp tổ chức quán triệt trong tỉnh ủy, thành ủy, ban thường
vụ các nghị quyết, chỉ thị của Đảng; chỉ đạo và định hướng chuẩn bị những đề án
quan trọng nhằm cụ thể hóa các nghị quyết, chỉ thị của Đảng để trình hội nghị tỉnh
ủy, thành ủy, ban thường vụ thảo luận, quyết định.
3.3- Tập trung chỉ đạo và thường xuyên kiểm tra,
giám sát việc thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm trong từng thời kỳ, các khâu và
lĩnh vực công tác khó khăn, phức tạp nhất; làm bí thư đảng ủy quân sự tỉnh,
thành phố và tham gia đảng ủy quân khu; trực tiếp nắm và chỉ đạo những vấn đề
cơ mật về quốc phòng, an ninh, đối ngoại, về công tác bảo vệ Đảng; chỉ đạo công
tác xây dựng Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt theo quy định của Bộ Chính
trị, Ban Bí thư và chịu trách nhiệm về công tác tư tưởng chính trị, tổ chức, cán
bộ ở địa phương; trực tiếp chỉ đạo công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu khoa
học và xây dựng lý luận; trực tiếp chỉ đạo công tác phòng, chống tham nhũng,
lãng phí; chủ trì việc lấy phiếu tín nhiệm đối với thành viên lãnh đạo tỉnh ủy,
thành ủy, việc chất vấn và trả lời chất vấn theo quy định. Chủ động kiến nghị với
ban thường vụ tỉnh ủy, thành ủy các chủ trương, biện pháp để cải tiến và đối mới
phương thức lãnh đạo của cấp ủy; bảo đảm sinh hoạt của tỉnh ủy, thành ủy, ban
thường vụ và thường trực tỉnh ủy, thành ủy được thực hiện đúng quy chế làm việc,
đúng nguyên tắc lãnh đạo của Đảng. Giữ vững đoàn kết, thống nhất trong nội bộ cấp
ủy và trong đảng bộ.
3.4- Chỉ đạo việc sơ kết, tổng kết theo định kỳ việc
thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng và chỉ đạo tổng kết các mặt công tác
lớn của địa phương; thay mặt tỉnh ủy, thành ủy báo cáo với Trung ương và thông
báo cho cấp dưới về tình hình thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng ở địa
phương và hoạt động của cấp ủy theo đúng chế độ quy định; khi cần thiết trực tiếp
báo cáo với Bộ Chính trị, Ban Bí thư về tình hình của địa phương và chịu trách
nhiệm cá nhân về những nội dung báo cáo đó.
3.5- Chỉ đạo đồng chí phó bí thư thường trực giải
quyết công việc hằng ngày của đảng bộ; chỉ đạo đồng chí phó bí thư phụ trách
xây dựng tổ chức cơ sở đảng tổ chức triển khai thực hiện các nghị quyết, chỉ thị
của Đảng liên quan đến công tác xây dựng cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh; chỉ
đạo đồng chí bí thư đảng đoàn - chủ tịch hội đồng nhân dân, đồng chí bí thư ban
cán sự đảng - chủ tịch Ủy ban nhân dân lãnh đạo đảng đoàn hội đồng nhân dân,
ban cán sự đảng ủy ban nhân dân tổ chức triển khai thực hiện các nghị quyết, chỉ
thị của Đảng và của cấp ủy có liên quan đến công tác quản lý nhà nước ở địa
phương; khi cần thiết, được yêu cầu các cơ quan, tổ chức đảng trực thuộc tỉnh ủy,
thành ủy, các cán bộ, đảng viên báo cáo về việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ
được giao; thay mặt tỉnh ủy, thành ủy, ban thường vụ ký các nghị quyết, chỉ thị,
các văn bản của tỉnh ủy, thành ủy và ban thường vụ tỉnh ủy, thành ủy.
Điều 4. Nhiệm vụ và quyền hạn của
phó bí thư thường trực tỉnh ủy, thành ủy
Phó bí thư thường trực tỉnh ủy, thành ủy cùng với
bí thư và các phó bí thư chịu trách nhiệm về toàn bộ công việc và hoạt động của
thường trực tỉnh ủy, thành ủy, đồng thời chịu trách nhiệm trực tiếp về những
công việc được phân công. Phó bí thư thường trực tỉnh ủy, thành ủy có các nhiệm
vụ và quyền hạn:
4.1- Chịu trách nhiệm trước tỉnh ủy, thành ủy, ban
thường vụ, tập thể thường trực và đồng chí bí thư tỉnh ủy, thành ủy chỉ đạo việc
chuẩn bị, thẩm định dự thảo quy chế làm việc, chương trình làm việc toàn khóa của
tỉnh ủy, thành ủy; chương trình công tác năm, 6 tháng, hằng quý, hằng tháng của
ban thường vụ; chương trình kiểm tra, giám sát hằng năm của cấp ủy và tổ chức
chỉ đạo việc thực hiện quy chế, các chương trình công tác đã đề ra; chỉ đạo việc
chuẩn bị chương trình và nội dung các hội nghị của tỉnh ủy, thành ủy, ban thường
vụ và các cuộc họp của thường trực tỉnh ủy, thành ủy.
4.2- Chịu trách nhiệm trước tỉnh ủy, thành ủy, ban
thường vụ, tập thể thường trực và đồng chí bí thư tỉnh ủy, thành ủy điều hành
hoạt động bộ máy đảng để giải quyết những công việc hằng ngày của đảng bộ. Trực
tiếp giải quyết những công việc do bí thư ủy nhiệm; thay mặt bí thư khi bí thư
đi vắng.
4.3- Trực tiếp chỉ đạo hoạt động của các cơ quan
chuyên trách tham mưu, giúp việc tỉnh ủy, thành ủy và phụ trách văn phòng tỉnh ủy,
thành ủy; phối hợp công tác giữa tổ chức đảng, nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các
đoàn thể chính trị - xã hội để tổ chức thực hiện và kiểm tra, giám sát việc thực
hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng và của cấp ủy địa phương. Chủ trì cùng với
các đồng chí ủy viên thường vụ phụ trách lĩnh vực xử lý những việc cần có sự phối
hợp của nhiều cơ quan hoặc những việc do các đồng chí ủy viên thường vụ phụ
trách lĩnh vực đề nghị.
4.4- Chịu trách nhiệm trước tỉnh ủy, thành ủy, ban
thường vụ, tập thể thường trực và đồng chí bí thư tỉnh ủy, thành ủy chỉ đạo một
số nhiệm vụ cụ thể: Công tác xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở và thực hiện
Quy chế dân chủ cơ sở (ở những nơi có phó bí thư phụ trách xây dựng tổ chức cơ
sở đảng thì chuyển nhiệm vụ chỉ đạo công tác xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở
và thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở cho đồng chí phó bí thư phụ trách xây dựng tổ
chức cơ sở đảng); công tác dân vận của Đảng; công tác đối ngoại; công tác thi
đua, khen thưởng trong Đảng; thẩm tra những cán bộ thuộc diện ban thường vụ quản
lý khi có vấn đề phải xem xét về lịch sử chính trị và chính trị hiện nay theo
quy định của Bộ Chính trị và một số vấn đề quan trọng khác về cán bộ (bằng cấp,
học hàm, học vị, độ tuổi, tài sản, thu nhập...); việc cán bộ kê khai tài sản,
thu nhập theo quy định của Đảng và Nhà nước; công tác ứng dụng công nghệ thông
tin trong hệ thống đảng; công tác tài chính đảng, thực hiện chế độ thông tin,
báo cáo, công tác lưu trữ, cơ yếu, giải quyết khiếu nại, tố cáo và bảo mật theo
quy định. Đề xuất với tập thể thường trực, ban thường vụ và tỉnh ủy, thành ủy
những vấn đề cần quan tâm giải quyết thuộc các lĩnh vực, nhiệm vụ mình phụ
trách; thay mặt tỉnh ủy, thành ủy, ban thường vụ ký một số văn bản của tỉnh ủy,
thành ủy, ban thường vụ theo quy chế làm việc của tỉnh ủy, thành ủy và sự phân
công của đồng chí bí thư.
Điều 5. Nhiệm vụ và quyền hạn của
phó bí thư - chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố
Phó bí thư - chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh, thành
phố cùng với bí thư và các phó bí thư tỉnh ủy, thành ủy chịu trách nhiệm về
toàn bộ công việc và hoạt động của thường trực tỉnh ủy, thành ủy, đồng thời chịu
trách nhiệm trực tiếp về những công việc được phân công. Phó bí thư - chủ tịch ủy
ban nhân dân tỉnh, thành phố có các nhiệm vụ và quyền hạn:
5.1- Chịu trách nhiệm trước tỉnh ủy, thành ủy, ban
thường vụ, tập thể thường trực và đồng chí bí thư tỉnh ủy, thành ủy về toàn bộ
hoạt động của ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố và của hệ thống cơ quan hành
chính nhà nước ở địa phương theo quy định của pháp luật; cùng với các đồng chí ủy
viên ban thường vụ, ủy viên ban chấp hành trong ủy ban nhân dân chỉ đạo xây dựng
bộ máy chính quyền địa phương trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu lực, hiệu
quả.
5.2- Làm bí thư ban cán sự đảng ủy ban nhân dân tỉnh,
thành phố; chỉ đạo tổ chức quán triệt và thực hiện chính sách, pháp luật của
Nhà nước trong cán bộ, công chức và các tầng lớp nhân dân ở địa phương. Cụ thể
hóa, tổ chức thực hiện và kiểm tra việc thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, quyết
định của tỉnh ủy, thành ủy, ban thường vụ, của hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố
và của cơ quan nhà nước cấp trên về những vấn đề kinh tế - xã hội, quốc phòng,
an ninh, công tác xây dựng Đảng và công tác tổ chức, cán bộ thuộc quyền. Chỉ đạo
công tác quy hoạch, kế hoạch hằng năm và 5 năm; chỉ đạo xây dựng các đề án cụ
thể về kinh tế - xã hội và ngân sách, về quốc phòng, an ninh, về hợp tác, liên
doanh, liên kết với nước ngoài... để đưa ra hội nghị tỉnh ủy, thành ủy, ban thường
vụ, thường trực thảo luận, quyết định theo chương trình làm việc.
5.3- Chịu trách nhiệm trước tỉnh ủy, thành ủy, ban
thường vụ, tập thể thường trực và đồng chí bí thư tỉnh ủy, thành ủy về triển
khai, tổ chức thực hiện công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí,
công tác giải quyết đơn, thư khiếu nại, tố cáo của công dân, công tác cải cách
hành chính, công tác thi đua - khen thưởng, công tác dân vận của chính quyền và
công tác đối ngoại ở địa phương; chỉ đạo thực hiện chế độ báo cáo về tình hình
kinh tế - xã hội, ngân sách, quốc phòng, an ninh trên địa bàn và các công việc
chỉ đạo, điều hành chủ yếu của ủy ban nhân dân cho thường trực, ban thường vụ
và cấp ủy theo định kỳ hoặc khi có yêu cầu; trực tiếp phụ trách đảng ủy công
an, đảng ủy bộ đội biên phòng (nếu có) của tỉnh, thành phố.
5.4- Thường xuyên báo cáo tình hình với đồng chí bí
thư, với thường trực tỉnh ủy, thành ủy về hoạt động của ban cán sự đảng ủy ban
nhân dân và hoạt động của ủy ban nhân dân; chủ động đề xuất những vấn đề thuộc
trách nhiệm và phạm vi công tác của ủy ban nhân dân cần báo cáo, xin ý kiến tập
thể thường trực, ban thường vụ hoặc tỉnh ủy, thành ủy; phối hợp chặt chẽ với đồng
chí phó bí thư thường trực và đồng chí bí thư đảng đoàn - chủ tịch hội đồng
nhân dân trong xử lý công việc để bảo đảm sự thống nhất trong lãnh đạo, điều
hành giữa Đảng và chính quyền; phối hợp với phó bí thư phụ trách xây dựng tổ chức
cơ sở đảng để xây dựng chính quyền cơ sở trong sạch, vững mạnh.
Điều 6. Nhiệm vụ và quyền hạn của
bí thư hoặc phó bí thư thường trực là chủ tịch hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố
Cùng với việc thực hiện tốt các nhiệm vụ và quyền hạn
của bí thư được ghi ở Điều 4 hoặc phó bí thư thường trực ghi
ở Điều 5 của Quy định này, bí thư hoặc phó bí thư là chủ tịch
hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố còn có các nhiệm vụ và quyền hạn:
6.1- Chịu trách nhiệm trước tỉnh ủy, thành ủy, ban
thường vụ và tập thể thường trực tỉnh ủy, thành ủy về toàn bộ hoạt động của hội
đồng nhân dân tỉnh, thành phố và của hệ thống hội đồng nhân dân các cấp ở địa
phương theo quy định của pháp luật; phối hợp với đồng chí chủ tịch ủy ban nhân
dân và cùng với các đồng chí trong thường trực hội đồng nhân dân chỉ đạo xây dựng
bộ máy chính quyền địa phương trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu lực, hiệu
quả.
6.2- Làm bí thư đảng đoàn hội đồng nhân dân tỉnh,
thành phố, có trách nhiệm chỉ đạo cụ thể hóa, tổ chức thực hiện và kiểm tra,
giám sát việc thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, quyết định của cấp ủy và của cơ
quan nhà nước cấp trên liên quan đến hoạt động của hội đồng nhân dân tỉnh,
thành phố; việc lấy phiếu tín nhiệm và bỏ phiếu tín nhiệm đối với các chức danh
do hội đồng nhân dân bầu theo quy định. Chỉ đạo xây dựng chương trình hoạt động,
chương trình giám sát hằng năm, chương trình các kỳ họp của hội đồng nhân dân.
Những quyết định quan trọng của hội đồng nhân dân về kinh tế - xã hội, ngân
sách, quốc phòng, an ninh và những vấn đề quan trọng khác của địa phương... cần
xin ý kiến cấp ủy trước khi trình hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố quyết định.
6.3- Định kỳ báo cáo tình hình với thường trực tỉnh
ủy, thành ủy về hoạt động của đảng đoàn hội đồng nhân dân và hội đồng nhân dân;
chủ động đề xuất những vấn đề thuộc trách nhiệm và phạm vi công tác của hội đồng
nhân dân cần báo cáo, xin ý kiến tập thể thường trực cấp ủy hoặc ban thường vụ;
phối hợp chặt chẽ với đồng chí bí thư ban cán sự đảng - chủ tịch ủy ban nhân
dân trong xử lý công việc để bảo đảm sự thống nhất trong lãnh đạo, điều hành giữa
Đảng và chính quyền.
Điều 7. Nhiệm vụ và quyền hạn của
phó bí thư phụ trách xây dựng tổ chức cơ sở đảng
Phó bí thư tỉnh ủy, thành ủy phụ trách xây dựng tổ
chức cơ sở đảng cùng với đồng chí bí thư và các đồng chí phó bí thư chịu trách
nhiệm về toàn bộ công việc và hoạt động của thường trực tỉnh ủy, thành ủy; đồng
thời chịu trách nhiệm trực tiếp về những công việc được phân công. Phó bí thư
phụ trách xây dựng tổ chức cơ sở đảng có nhiệm vụ và quyền hạn:
7.1- Chủ trì chỉ đạo việc chuẩn bị nội dung, chương
trình, kế hoạch công tác của tỉnh ủy, thành ủy, ban thường vụ và thường trực tỉnh
ủy, thành ủy về xây dựng tổ chức cơ sở đảng. Chịu trách nhiệm chính chỉ đạo sự
phối hợp hoạt động giữa các cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc, cơ quan nhà nước,
Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội, các cơ quan chuyên trách
tham mưu, giúp việc tỉnh ủy, thành ủy để nghiên cứu, quán triệt, cụ thể hóa, tổ
chức thực hiện, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc thực hiện nghị quyết, chỉ thị
của Đảng và của cấp ủy về công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng và công tác đảng
viên.
7.2- Chỉ đạo xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch,
vững mạnh. Tập trung củng cố, kiện toàn, phát triển tổ chức cơ sở đảng; nâng
cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội
ngũ cán bộ, đảng viên. Chỉ đạo các cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc tỉnh
ủy, thành ủy đề xuất về công tác thi đua, khen thưởng, kỷ luật tổ chức cơ sở đảng,
đảng viên theo quy định của Điều lệ Đảng và các quy định, hướng dẫn của Trung
ương. Chỉ đạo nghiên cứu, sơ kết, tổng kết, nhân rộng những điển hình tiên tiến
về tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh.
7.3- Phối hợp với phó bí thư thường trực tỉnh ủy,
thành ủy chỉ đạo việc chuẩn bị chương trình và nội dung hội nghị tỉnh ủy, thành
ủy, ban thường vụ bàn về những vấn đề liên quan đến lĩnh vực công tác được phân
công phụ trách; thường xuyên trao đổi và phối hợp với chủ tịch hội đồng nhân
dân, chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố để chỉ đạo xây dựng chính quyền
cơ sở trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả.
7.4- Trực tiếp chỉ đạo các cơ quan chuyên trách
tham mưu, giúp việc tỉnh ủy, thành ủy các cấp ủy trực thuộc và Mặt trận Tổ quốc,
các đoàn thể chính trị - xã hội thực hiện nhiệm vụ xây dựng Mặt trận Tổ quốc,
các đoàn thể chính trị - xã hội ở cơ sở và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở.
Thay mặt ban thường vụ ký các văn bản theo quy chế làm việc của tỉnh ủy, thành ủy
và theo sự phân công của đồng chí bí thư.
7.5- Thực hiện các nhiệm vụ khác theo sự phân công
của thường trực và bí thư tỉnh ủy, thành ủy.
II- QUAN HỆ CÔNG TÁC CỦA THƯỜNG
TRỰC TỈNH ỦY, THÀNH ỦY
Điều 8. Quan hệ công tác trong
nội bộ thường trực tỉnh ủy, thành ủy
8.1- Thường trực tỉnh ủy, thành ủy họp định kỳ từ mỗi
tuần một lần và họp đột xuất khi cần thiết. Thực hiện chế độ hội ý, trao đổi
công việc thường xuyên (có thể là hằng ngày) giữa bí thư với phó bí thư thường
trực, phó bí thư phụ trách xây dựng tổ chức cơ sở đảng; khi cần giữa bí thư và
phó bí thư - chủ tịch hội đồng nhân dân, phó bí thư - chủ tịch ủy ban nhân dân
để xử lý công việc đột xuất.
- Nội dung họp thường trực cấp ủy: Nghe phản ánh
tình hình tuần qua và xác định chương trình công tác tuần tới của thường trực;
bàn thống nhất trước về nội dung những vấn đề sẽ đưa ra ban thường vụ và ban chấp
hành đảng bộ thảo luận và quyết định; thảo luận và quyết định những vấn đề thuộc
thẩm quyền của thường trực tỉnh ủy, thành ủy đã được ban thường vụ ủy quyền;
cho ý kiến để xử lý kịp thời những công việc hằng ngày vượt quá thẩm quyền cá
nhân của từng đồng chí trong thường trực tỉnh ủy, thành ủy.
- Tùy nội dung mỗi phiên họp, thành phần mời dự hội
nghị thường trực tỉnh ủy, thành ủy có thể gồm: Chánh văn phòng tỉnh ủy, thành ủy;
chánh văn phòng hội đồng nhân dân, chánh văn phòng ủy ban nhân dân; đại diện
các cơ quan nhà nước, các cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc tỉnh ủy,
thành ủy, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội và các ngành chức
năng có liên quan.
8.2- Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong
sinh hoạt thường trực tỉnh ủy, thành ủy
- Khi giải quyết những công việc được ban thường vụ
ủy quyền, thường trực tỉnh ủy, thành ủy phải bàn tập thể và quyết định trên cơ
sở tán thành của mọi thành viên trong thường trực; đối với những vấn đề còn có
ý kiến khác nhau (nhất là trong công tác tổ chức và cán bộ, trong dự án đầu tư
xây dựng cơ bản...) thì cần tiếp tục chuẩn bị chu đáo để bàn lại, nếu vẫn chưa
thống nhất thì báo cáo ban thường vụ xem xét, quyết định.
- Đối với những công việc chuẩn bị để trình ban thường
vụ, ban chấp hành đảng bộ cần bảo đảm sự nhất trí cao trong thường trực tỉnh ủy,
thành ủy; trường hợp đã thảo luận kỹ mà vẫn chưa có sự nhất trí thì khi báo cáo
ban thường vụ cần trình bày rõ các ý kiến khác nhau để ban thường vụ xem xét,
quyết định.
8.3- Văn bản hóa các kết luận của thường trực tỉnh ủy,
thành ủy
Các kết luận và quyết định xử lý công việc của thường
trực tỉnh ủy, thành ủy được ban thường vụ ủy quyền đều được văn bản hóa dưới
danh nghĩa của ban thường vụ tỉnh ủy, thành ủy và được gửi đến các tổ chức và
cá nhân có nhiệm vụ thực hiện. Các ý kiến chỉ đạo của thường trực tỉnh ủy,
thành ủy có tính đôn đốc, nhắc nhở trong giải quyết công việc hằng ngày và giữa
hai kỳ họp của ban thường vụ; các quyết định xử lý cụ thể của mỗi đồng chí
thành viên trong thường trực khi lấy danh nghĩa thường trực tỉnh ủy, thành ủy để
giải quyết công việc đều phải do văn phòng tỉnh ủy, thành ủy thông báo bằng văn
bản, trừ những trường hợp mà các đồng chí thường trực tỉnh ủy, thành ủy cần chỉ
đạo hoặc xử lý trực tiếp.
Các kết luận, quyết định, các văn bản chỉ đạo của tập
thể thường trực và của từng đồng chí trong thường trực tỉnh ủy, thành ủy phải bảo
đảm đúng thể thức, thể loại văn bản của Đảng, ký ban hành đúng thẩm quyền và được
phát hành, quản lý, lưu trữ theo quy định hiện hành.
8.4- Thực hiện chế độ tự phê bình và phê bình
Hằng năm, cùng với kiểm điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo của
ban thường vụ tỉnh ủy, thành ủy, có kiểm điểm trách nhiệm của tập thể thường trực
tỉnh ủy, thành ủy để ban chấp hành đảng bộ tỉnh, thành phố xem xét, góp ý. Bí
thư và các phó bí thư tiến hành tự phê bình và phê bình trong hội nghị kiểm điểm
của tập thể và cá nhân ban thường vụ tỉnh ủy, thành ủy về thực hiện chức trách,
nhiệm vụ được giao, trong chi bộ nơi sinh hoạt về thực hiện chức trách, nhiệm vụ
đảng viên, có nhận xét của chi ủy nơi cư trú; kết quả kiểm điểm được thông báo
với hội nghị ban chấp hành đảng bộ tỉnh, thành phố để lấy ý kiến và gửi về Bộ
Chính trị, Ban Bí thư theo quy định. Bí thư và các phó bí thư kiểm điểm nghiêm
túc theo yêu cầu và nội dung gợi ý kiểm điểm của Bộ Chính trị, Ban Bí thư (nếu
có).
Điều 9. Quan hệ công tác giữa
thường trực tỉnh ủy, thành ủy với các đảng đoàn và ban cán sự đảng
9.1- Đối với đảng đoàn hội đồng nhân dân và ban cán
sự đảng ủy ban nhân dân
- Thường trực tỉnh ủy, thành ủy chỉ đạo đảng đoàn hội
đồng nhân dân chuẩn bị trình ban thường vụ tỉnh ủy, thành ủy cho ý kiến về những
định hướng, chủ trương quan trọng trong chương trình hoạt động, chương trình
các kỳ họp và những quyết định quan trọng của hội đồng nhân dân về kinh tế - xã
hội, ngân sách, quốc phòng, an ninh, những vấn đề quan trọng khác ở địa
phương... trước khi trình hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố quyết định.
- Thường trực tỉnh ủy, thành ủy chỉ đạo ban cán sự
đảng ủy ban nhân dân chuẩn bị trình ban thường vụ tỉnh ủy, thành ủy cho ý kiến
về các chương trình, kế hoạch, đề án cụ thể hóa các chủ trương, chính sách của
Đảng, Nhà nước về kinh tế - xã hội, ngân sách, quốc phòng, an ninh, mở rộng hợp
tác quốc tế... trước khi tổ chức thực hiện hoặc trình hội đồng nhân dân tỉnh,
thành phố quyết định.
Trong quá trình chuẩn bị những vấn đề trên, đảng
đoàn hội đồng nhân dân và ban cán sự đảng ủy ban nhân dân chủ động phối hợp, lựa
chọn những vấn đề xét thấy đặc biệt quan trọng hoặc nhạy cảm để báo cáo xin ý
kiến trước thường trực tỉnh ủy, thành ủy.
- Tùy theo nội dung và tính chất quan trọng của kỳ
họp hội đồng nhân dân và phiên họp ủy ban nhân dân, bí thư hoặc phó bí thư thường
trực tỉnh ủy, thành ủy thay mặt tỉnh ủy, thành ủy đến dự hội nghị và phát biểu
ý kiến chỉ đạo.
- Định kỳ theo quy định hoặc khi có yêu cầu, ban
cán sự đảng ủy ban nhân dân báo cáo với thường trực, ban thường vụ, ban chấp
hành đảng bộ tỉnh, thành phố tình hình chủ yếu về kinh tế - xã hội, quốc phòng,
an ninh, đối ngoại ở địa phương và những công việc chỉ đạo, điều hành chủ yếu của
ủy ban nhân dân.
9.2- Đối với ban cán sự đảng viện kiểm sát nhân dân
và ban cán sự đảng tòa án nhân dân
- Thường trực tỉnh ủy, thành ủy bảo đảm sự lãnh đạo
trực tiếp và chặt chẽ của Đảng đối với ban cán sự đảng viện kiểm sát nhân dân
và ban cán sự đảng tòa án nhân dân trên các vấn đề trọng yếu trong công tác tư
pháp; thường xuyên kiểm tra công tác kiểm sát và xét xử bảo đảm đúng đường lối,
chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước; cho ý kiến về nhân sự cấp trưởng,
cấp phó của viện kiểm sát nhân dân, tòa án nhân dân, về nhân sự thẩm phán và kiểm
sát viên trước khi trình xin ý kiến ban thường vụ tỉnh ủy, thành ủy và báo cáo
lên ngành dọc cấp trên.
- Thường trực tỉnh ủy, thành ủy không chỉ đạo cụ thể
về tội danh và mức án mà chỉ cho chủ trương và phương hướng xử lý các vụ án
nghiêm trọng, phức tạp, có liên quan đến an ninh chính trị, đối ngoại hoặc còn
có ý kiến khác nhau giữa các cơ quan tư pháp... theo quy định của Bộ Chính trị.
- Ban cán sự đảng viện kiểm sát nhân dân, ban cán sự
đảng tòa án nhân dân cùng với cơ quan điều tra phải chủ động, kịp thời báo cáo
những vấn đề cần xin ý kiến thường trực tỉnh ủy, thành ủy trong việc xử lý các
vụ án theo đúng quy định của Bộ Chính trị.
- Định kỳ hằng tháng hoặc hằng quý, thường trực tỉnh
ủy, thành ủy làm việc hoặc giao ban với lãnh đạo viện kiểm sát nhân dân, tòa án
nhân dân và các cơ quan nội chính để nghe kết quả hoạt động và những vấn đề cần
quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của tỉnh ủy, thành ủy đối với công tác của các cơ
quan này.
9.3- Đối với đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc, các đoàn
thể chính trị - xã hội và ban thường vụ tỉnh đoàn, thành đoàn Thanh niên Cộng sản
Hồ Chí Minh
- Thường trực tỉnh ủy, thành ủy cho ý kiến chỉ đạo
về những định hướng lớn trong từng thời kỳ; về chương trình, nội dung hoạt động
hằng năm do đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội và ban
thường vụ tỉnh đoàn, thành đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh trình; cho ý kiến
về vấn đề tổ chức và cán bộ, về nhân sự cấp trưởng và cấp phó trước khi trình
ban thường vụ tỉnh ủy, thành ủy quyết định.
- Thường trực tỉnh ủy, thành ủy chỉ đạo kiểm tra sự
phối hợp của các cơ quan đảng, chính quyền với Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể
chính trị - xã hội và ban thường vụ tỉnh đoàn, thành đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ
Chí Minh trong việc tổ chức triển khai các chủ trương lớn về công tác dân vận ở
địa phương và chỉ đạo các ban, ngành chức năng bảo đảm các điều kiện cần thiết
cho Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội và tỉnh đoàn, thành đoàn
Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh hoạt động; định kỳ hằng quý, đồng chí phó bí
thư thường trực tổ chức giao ban với lãnh đạo Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể
chính trị - xã hội và ban thường vụ tỉnh đoàn, thành đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ
Chí Minh để nghe kết quả hoạt động và các kiến nghị với Đảng và các cơ quan nhà
nước.
- Các đảng đoàn và ban thường vụ tỉnh đoàn, thành
đoàn phải đề cao trách nhiệm, kịp thời cụ thể hóa các nghị quyết của Đảng thành
chương trình, kế hoạch, phương pháp công tác phù hợp; động viên đoàn viên, hội
viên thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, tham gia
xây dựng Đảng, chính quyền; thường xuyên phản ảnh tâm tư, nguyện vọng của quần
chúng nhân dân đối với Đảng; chủ động lựa chọn những vấn đề cần thiết và định kỳ
báo cáo các hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội và
tỉnh đoàn, thành đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh với ban thường vụ và thường
trực tỉnh ủy, thành ủy.
Điều 10. Quan hệ công tác giữa
thường trực tỉnh ủy, thành ủy với các cấp ủy trực thuộc
10.1- Thường trực tỉnh ủy, thành ủy bảo đảm duy trì
sự lãnh đạo tuyệt đối và trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội, công
an; nắm và chỉ đạo các vấn đề cơ mật, trọng yếu về quốc phòng, an ninh ở địa
phương. Thông qua cơ chế đồng chí bí thư tỉnh ủy, thành ủy làm bí thư đảng ủy
quân sự tỉnh, thành phố và tham gia đảng ủy quân sự quân khu; đồng chí phó bí
thư - chủ tịch ủy ban nhân dân tham gia đảng ủy quân sự, phụ trách đảng ủy công
an, đảng ủy bộ đội biên phòng tỉnh, thành phố để lãnh đạo trực tiếp công tác quốc
phòng, an ninh.
10.2- Thường trực tỉnh ủy, thành ủy thường xuyên chỉ
đạo, kiểm tra các huyện ủy, thành ủy, thị ủy, quận ủy và các đảng ủy trực thuộc;
thông qua các cơ quan tham mưu, giúp việc tỉnh ủy, thành ủy và các đồng chí cấp
ủy viên dược phân công phụ trách đảng bộ trực thuộc để nắm tình hình các mặt
công tác của các đảng bộ trực thuộc; kịp thời uốn nắn các lệch lạc trong quá
trình tổ chức thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng và cho chủ trương xử
lý những vấn đề phức tạp nảy sinh ở từng địa phương, đơn vị.
10.3- Các cấp ủy trực thuộc phải chịu trách nhiệm
trước ban chấp hành, ban thường vụ tỉnh ủy, thành ủy về toàn bộ hoạt động ở địa
phương, đơn vị mình; kịp thời tổ chức triển khai có hiệu quả các nghị quyết, chỉ
thị của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước; thực hiện nghiêm chế độ báo
cáo định kỳ và đột xuất về tình hình ở địa phương, đơn vị cho ban thường vụ và
thường trực tỉnh ủy, thành ủy.
10.4- Thường trực tỉnh ủy, thành ủy làm việc trực
tiếp với tập thể ban thường vụ, đảng ủy của các đảng bộ trực thuộc theo định kỳ
hoặc đột xuất và khi thấy cần thiết để kiểm tra, giám sát tình hình thực hiện
các nghị quyết, chỉ thị của Đảng; nghe tình hình hoạt động của các đảng bộ và định
hướng các mặt công tác lớn, xử lý kịp thời những vấn đề xảy ra có liên quan đến
địa phương và đơn vị đó.
Điều 11. Quan hệ công tác giữa
thường trực tỉnh ủy, thành ủy với các cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc
tỉnh ủy, thành ủy
11.1- Thường trực tỉnh ủy, thành ủy chỉ đạo chặt chẽ
hoạt động của các cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc tỉnh ủy, thành ủy gắn
với công việc của cấp ủy; phát huy đầy đủ trách nhiệm và năng lực của mỗi cơ
quan để tham mưu, giúp việc cho ban chấp hành, ban thường vụ lãnh đạo, điều
hành và tổ chức thực hiện các công việc của đảng bộ; thường xuyên chăm lo xây dựng
để ngày càng hoàn thiện bộ máy các cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc tỉnh
ủy, thành ủy và nâng cao chất lượng vận hành bộ máy đảng.
11.2- Định kỳ hằng quý, đồng chí phó bí thư thường
trực tổ chức giao ban với lãnh đạo các cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc
tỉnh ủy, thành ủy để kiểm điểm công việc đã qua và định hướng các công tác lớn
trong thời gian tới phù hợp với chương trình chung của cấp ủy. Các cơ quan
chuyên trách tham mưu, giúp việc tỉnh ủy, thành ủy phải đề cao trách nhiệm, chủ
động tổ chức công việc của mình theo chức năng, nhiệm vụ; đồng thời lựa chọn những
vấn đề cần thiết để xin ý kiến thường trực tỉnh ủy, thành ủy.
11.3- Thường trực tỉnh ủy, thành ủy mà trực tiếp là
đồng chí phó bí thư thường trực thường xuyên chỉ đạo văn phòng tỉnh ủy, thành ủy
để văn phòng thực sự là cơ quan tham mưu tổng hợp, phục vụ sự điều hành, tổ chức
công việc của cấp ủy và làm công tác thông tin phục vụ lãnh đạo. Chỉ đạo để văn
phòng tỉnh ủy, thành ủy làm tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đẩy mạnh ứng
dụng công nghệ thông tin, đổi mới lề lối và phương pháp làm việc; có chế độ và
chính sách hợp lý để động viên, khuyến khích cán bộ công tác tại các cơ quan
chuyên trách tham mưu, giúp việc tỉnh ủy, thành ủy.
Điều 12. Quan hệ công tác giữa
thường trực tỉnh ủy, thành ủy với Ban Bí thư, các ban của Trung ương Đảng và
Văn phòng Trung ương Đảng, các đảng đoàn, ban cán sự đảng trực thuộc Trung ương
12.1- Thường trực tỉnh ủy, thành ủy kịp thời tổ chức
quán triệt, vận dụng, thể chế hóa và triển khai thực hiện có hiệu quả đường lối,
chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ở địa phương mình; thực
hiện đầy đủ chế độ báo cáo định kỳ, đột xuất về tình hình địa phương; chế độ thỉnh
thị, xin ý kiến Ban Bí thư đối với những vấn đề vượt quá thẩm quyền và những vấn
đề quan trọng mới nảy sinh ở địa phương; báo cáo đầy đủ và kịp thời những vấn đề
về tổ chức, cán bộ và công tác quản lý đội ngũ cán bộ tại địa phương thuộc diện
Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý khi có yêu cầu. Khi cần thiết, thường trực tỉnh
ủy, thành ủy có thể đăng ký làm việc với Ban Bí thư hoặc đồng chí Thường trực
Ban Bí thư để báo cáo tình hình và kiến nghị những vấn đề cần được quan tâm chỉ
đạo đối với địa phương.
12.2- Thường trực tỉnh ủy, thành ủy trực tiếp quan
hệ công tác và chỉ đạo các cơ quan tham mưu, giúp việc tỉnh ủy, thành ủy xây dựng
mối quan hệ công tác chặt chẽ, thường xuyên với các ban của Trung ương Đảng, Ủy
ban Kiểm tra Trung ương và Văn phòng Trung ương Đảng; kịp thời báo cáo những vấn
đề khi các cơ quan Trung ương có yêu cầu; bảo đảm để cán bộ, chuyên viên các
ban của Trung ương Đảng, Cơ quan Ủy ban Kiểm tra Trung ương và Văn phòng Trung
ương Đảng được phân công theo dõi địa phương hoặc đến địa phương công tác thực
hiện đúng quy chế chuyên viên và hoàn thành tốt nhiệm vụ; tranh thủ sự hướng dẫn,
đào tạo, bồi dưỡng về nghiệp vụ giúp các cơ quan tham mưu, giúp việc tỉnh ủy,
thành ủy làm tốt chức năng, nhiệm vụ được giao.
12.3- Phối hợp với các đảng đoàn, ban cán sự đảng
trực thuộc Trung ương trong việc lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị,
công tác xây dựng Đảng, chấp hành đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng ở
các đơn vị thuộc trách nhiệm quản lý của cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và
các đoàn thể chính trị - xã hội hoạt động trên địa bàn.
III- TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Điều 13. Quy định này thay thế Quy định số 51-QĐ/TW, ngày 19-4-2007
của Ban Bí thư về nhiệm vụ và quan hệ công tác của thường trực tỉnh ủy, thành ủy.
Căn cứ vào Quy định này, tỉnh ủy, thành ủy, ban thường vụ và thường trực tỉnh ủy,
thành ủy cụ thể hóa, bổ sung, điều chỉnh quy chế làm việc của tỉnh ủy, thành ủy
và các quy định có liên quan.
Điều 14. Đối với các địa phương có bố trí đồng chí phó bí thư - chủ
tịch hội đồng nhân dân thì thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn theo Điều 6 của Quy
định này và theo sự phân công của thường trực tỉnh ủy, thành ủy và bí thư tỉnh ủy,
thành ủy. Những tỉnh ủy, thành ủy không có phó bí thư xây dựng tổ chức cơ sở đảng
thì phó bí thư thường trực thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn tại Điều 7 Quy định
này.
Điều 15. Văn phòng Trung ương Đảng chủ trì, phối hợp với Ủy ban Kiểm
tra Trung ương, Ban Tổ chức Trung ương và các cơ quan liên quan giúp Ban Bí thư
theo dõi việc thực hiện Quy định và kiến nghị việc sửa đổi, bổ sung Quy định
khi cần thiết.
Quy định này có hiệu lực kể từ ngày ký.
|
Nơi nhận:
- Các tỉnh ủy, thành ủy,
- Các ban đảng, ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng ủy trực thuộc Trung ương,
- Các đảng ủy đơn vị sự nghiệp Trung ương,
- Các đồng chí ủy viên Ban Chấp hành Trung ương,
- Lưu Văn phòng Trung ương Đảng.
|
T/M
BAN BÍ THƯ
Đinh Thế Huynh
|