|
CHÍNH
PHỦ
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số:
312/NQ-CP
|
Hà
Nội, ngày 05 tháng 10 năm 2026
|
NGHỊ QUYẾT
PHIÊN
HỌP CHÍNH PHỦ THƯỜNG KỲ THÁNG 9 NĂM 2026 VÀ HỘI NGHỊ TRỰC TUYẾN CHÍNH PHỦ VỚI
ĐỊA PHƯƠNG
CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ
ngày 18 tháng 02 năm 2025;
Căn cứ Nghị định số
191/2026/NĐ-CP ngày 29 tháng 5 năm 2026 của Chính phủ ban hành Quy chế làm việc
của Chính phủ;
Trên cơ sở thảo luận của các
Thành viên Chính phủ, ý kiến các đại biểu dự họp và kết luận của Thủ tướng
Chính phủ tại Phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 9 năm 2026 và Hội nghị trực
tuyến Chính phủ với địa phương, tổ chức vào ngày 03 tháng 10 năm 2026.
QUYẾT NGHỊ:
Trong tháng 9, quý III và 09 tháng
đầu năm 2026, tình hình thế giới diễn biến nhanh, rất phức tạp, khó lường; cạnh
tranh chiến lược giữa các nước lớn tiếp tục diễn ra gay gắt; xung đột quân sự
giữa Mỹ và Iran bùng nổ làm ngưng trệ tuyến vận tải chiến lược về dầu mỏ toàn
cầu, gây gián đoạn nguồn cung, đẩy giá dầu tăng cao; thị trường tài chính, tiền
tệ tiềm ẩn yếu tố rủi ro. Các thách thức an ninh phi truyền thống gia tăng,
thiên tai, biến đổi khí hậu xảy ra tại nhiều khu vực, tác động đến phát triển
bền vững, ổn định kinh tế - xã hội của nhiều quốc gia.
Ở trong nước, năm 2026 là năm đầu
tiên triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, có ý nghĩa quan trọng và tạo
nền tảng, tạo đà, tạo thế, tạo lực cho giai đoạn phát triển mới và thực hiện
các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh tình hình thế giới có
rất nhiều diễn biến phức tạp, khó khăn, khó dự báo và khó lường. Dưới sự lãnh
đạo toàn diện của Ban Chấp hành Trung ương mà trực tiếp, thường xuyên là Bộ
Chính trị, Ban Bí thư, đứng đầu là Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm; sự đồng
hành, phối hợp chặt chẽ của Quốc hội và các cơ quan trong hệ thống chính trị;
sự chung sức, đồng lòng của Nhân dân, cộng đồng doanh nghiệp; Chính phủ, Thủ
tướng Chính phủ đã tập trung chỉ đạo xây dựng, ban hành 32 Chương trình hành
động để triển khai kịp thời, đồng bộ Nghị quyết, Kết luận của Trung ương, Bộ
Chính trị, Ban Bí thư, Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, trọng tâm là các
quyết sách chiến lược tại Hội nghị Trung ương 2, Hội nghị Trung ương 3, trong
đó có Kết luận số 18-KL/TW, Nghị quyết số 19-NQ/TW về đổi mới mô hình phát triển
Việt Nam, 11 Nghị quyết chuyên đề về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới
sáng tạo, chuyển đổi số, giáo dục, y tế, văn hóa, du lịch, ngoại giao, kinh
tế...; các luật, nghị quyết được Quốc hội khóa XVI thông qua từ đầu nhiệm kỳ
đến nay; biến quyết tâm chính trị thành kết quả cụ thể, thực chất.
Tiếp tục nắm chắc tình hình, điều
hành thực hiện nhiệm vụ thường xuyên; chú trọng giải quyết vấn đề tồn đọng, kéo
dài; chủ động ứng phó nhanh chóng, hiệu quả vấn đề cấp bách phát sinh. Nhờ đó,
kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại tháng 9 và 09 tháng đầu năm
2026 của nước ta đạt nhiều kết quả quan trọng, tốt hơn tháng trước và cùng kỳ
năm trước.
I. Về tình hình, kết quả thực
hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội tháng 9 và 09 tháng năm 2026
Kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, lạm
phát được kiểm soát, duy trì đà tăng trưởng cao, các động lực truyền thống được
phát huy, nhiều điểm nghẽn được khơi thông, các động lực mới bước đầu được tập
trung thúc đẩy gắn với chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao năng suất, chất
lượng, sức cạnh tranh của nền kinh tế, tạo nền tảng cho đổi mới mô hình phát
triển, các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm. Tăng trưởng kinh tế (GDP)
quý III ước tăng 9,95% so với cùng kỳ, tính chung 09 tháng tăng 9,01%. Chính
phủ, Thủ tướng Chính phủ đánh giá cao nỗ lực của các địa phương, nhất là các
địa phương tăng trưởng vượt bậc trong quý III để đóng góp vào tăng trưởng chung
của cả nước như: Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Quảng Ninh, Hải Phòng, Bắc
Ninh, Đà Nẵng, Đồng Nai, Ninh Bình, Khánh Hòa, Thái Nguyên, Thanh Hóa, Nghệ An,
Hà Tĩnh, Quảng Ngãi, Cần Thơ, Tây Ninh, An Giang, Điện Biên, Quảng Trị, Lai
Châu... Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân 09 tháng tăng 4,52% so với cùng
kỳ. Thị trường tiền tệ, tỷ giá cơ bản ổn định, bảo đảm thanh khoản hệ thống các
tổ chức tín dụng, đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế. Thu ngân sách nhà nước
09 tháng đạt 2,19 triệu tỷ đồng, bằng 86,5% dự toán, tăng 12,1% so với cùng kỳ
trong khi đã miễn, giảm, gia hạn thuế, phí... khoảng 245,6 nghìn tỷ đồng; đáp
ứng nhiệm vụ chi phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, chế độ,
chính sách theo quy định. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tháng 9 đạt gần 117,7
tỷ đô la Mỹ (USD), tăng 7,3% so với tháng trước, 09 tháng đạt 888 tỷ USD, tăng
30,4% so với cùng kỳ; tháng 9 đổi chiều xuất siêu 1,27 tỷ USD sau nhiều tháng
nhập siêu. Thị trường chứng khoán Việt Nam chính thức được nâng hạng lên thị
trường mới nổi thứ cấp. Giải ngân vốn đầu tư công có nhiều chuyển biến; đến hết
tháng 9 ước đạt gần 643 nghìn tỷ đồng, đạt 63% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ
giao, cao hơn so với cùng kỳ khoảng 13% về tỷ lệ và 202,6 nghìn tỷ đồng về số
tuyệt đối.
Các lĩnh vực quan trọng của nền
kinh tế đạt kết quả tích cực. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 9 tăng
16,65% so với cùng kỳ, cao nhất từ năm 2015 đến nay, tính chung 09 tháng tăng
12,3%, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,9%. Chỉ số Nhà quản trị
mua hàng (PMI) tháng 9 đạt 51,9 điểm. Tập trung đầu tư phát triển kết cấu hạ
tầng chiến lược đồng bộ, hiện đại; hoàn thành thêm 395 km đường bộ cao tốc, đưa
vào khai thác toàn tuyến cao tốc Bắc - Nam phía Đông, khởi công đồng loạt 5
tuyến đường sắt đô thị, đóng điện 116 công trình lưới điện 110 - 500kV... Triển
khai sản xuất xăng sinh học, duy trì giá xăng dầu ở mức thấp so với khu vực; không
tăng giá điện; an ninh năng lượng được giữ vững. Quyết liệt tháo gỡ các dự án
tồn đọng kéo dài; từ tháng 4 đến tháng 9 năm 2026, đã hoàn thành tháo gỡ thêm
2.535 dự án (tổng diện tích đất là 86,6 nghìn ha, tổng mức đầu tư trên 1,69
triệu tỷ đồng), nâng tổng số dự án được tháo gỡ lên 3.557 dự án; 855 dự án đưa
vào khai thác, sử dụng (tổng diện tích đất là 19,35 nghìn ha, tổng mức đầu tư
322,8 nghìn tỷ đồng); Quốc hội đã ban hành Nghị quyết tháo gỡ khó khăn, vướng
mắc các dự án điện năng lượng tái tạo; cơ bản hoàn thành điều chỉnh quy hoạch
vùng, quy hoạch sử dụng đất quốc gia...
Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy
sản tăng 4,02%, bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng
và xuất khẩu; kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản ước đạt 56,3 tỷ USD, tăng
7,8% so với cùng kỳ; xuất siêu 16,9 tỷ USD, tăng 7,4%. Khu vực dịch vụ tăng
khá; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 9 tăng 14,1%
so với cùng kỳ, 09 tháng tăng 13,4%; khách quốc tế 09 tháng đạt 17,7 triệu lượt
người, tăng 14,5% so với cùng kỳ, cao nhất từ trước đến nay. Trong tháng 9, số
doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và quay trở lại hoạt động là 20,3 nghìn,
tính chung 09 tháng là 224 nghìn doanh nghiệp, cao hơn số doanh nghiệp rút lui
khỏi thị trường. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội quý III ước đạt 1,3 triệu tỷ đồng,
tăng 16,7% so với cùng kỳ, 09 tháng đạt 3,11 triệu tỷ đồng, tăng 15,1%; vốn đầu
tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đăng ký 09 tháng đạt trên 50,36 tỷ USD, tăng
76,4%, vốn FDI thực hiện đạt 21,07 tỷ USD, tăng 12,1% so với cùng kỳ. Nhiều tổ
chức quốc tế tiếp tục đánh giá tích cực về công tác chỉ đạo, điều hành của
Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, ghi nhận Việt Nam là điểm sáng về tăng trưởng
trong bối cảnh kinh tế toàn cầu thiếu ổn định.
Công tác an sinh xã hội được thực
hiện đầy đủ, kịp thời. Triển khai quyết liệt “Chiến dịch 500 ngày đêm tìm kiếm,
quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ”; đến hết tháng 9, đã tìm kiếm,
quy tập được 3.083 hài cốt liệt sĩ (đạt 44,04% kế hoạch), hoàn thành lấy mẫu
207.656 hài cốt liệt sĩ phục vụ xác định danh tính (đạt 98,15% kế hoạch); tiếp
nhận, lưu trữ, bảo quản gần 120 nghìn mẫu hài cốt liệt sĩ; thu nhận 265.761 mẫu
sinh phẩm ADN thân nhân liệt sĩ (đạt 106,3% kế hoạch), hoàn thành phân tích ADN
khoảng 100 nghìn mẫu và cập nhật vào cơ sở dữ liệu khoảng 80 nghìn kết quả phân
tích phục vụ công tác đối sánh, xác định danh tính hài cốt liệt sĩ. Hỗ trợ xây
dựng mới, sửa chữa nhà ở cho con đẻ người tham gia kháng chiến bị nhiễm chất
độc hóa học đang hưởng trợ cấp ưu đãi hằng tháng và sống trong nhà tạm, nhà dột
nát. Công tác bảo vệ trẻ em, người cao tuổi, bình đẳng giới, dân tộc, tôn
giáo... tiếp tục được chú trọng. Từ đầu năm đến nay, cả nước hoàn thành 108 dự
án nhà ở xã hội với quy mô gần 31,53 nghìn căn; khởi công 109 dự án với quy mô
153,76 nghìn căn; trong 04 tháng, đã khởi công 22 dự án nhà ở cho thuê với trên
33,4 nghìn căn hộ. Trong 09 tháng, các chương trình tín dụng chính sách xã hội
đã hỗ trợ khoảng 1,54 triệu lượt khách hàng vay vốn; thị trường lao động chuyển
biến tích cực, lao động có việc làm đạt hơn 52,7 triệu người, tăng gần 684
nghìn người so với cùng kỳ; thu nhập bình quân người lao động đạt hơn 9,1 triệu
đồng/tháng, tăng 9,1% so với cùng kỳ. Đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân
tiếp tục được nâng lên, bảo đảm công bằng xã hội. Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo
sát sao, quyết liệt, từ sớm, từ xa công tác ứng phó và khắc phục hậu quả thiên
tai; so với cùng kỳ năm 2025, số lượng cơn bão và áp thấp nhiệt đới giảm mạnh
(69,1%), thiệt hại kinh tế giảm 90,7% (tương đương giảm 38.446 tỷ đồng); đặt
tính mạng, sức khỏe, tài sản của Nhân dân lên trên hết, trước hết.
Các lĩnh vực văn hóa, y tế, giáo
dục và đào tạo chuyển biến rõ nét theo tinh thần Nghị quyết số 71-NQ/TW,
72-NQ/TW, 80-NQ/TW của Bộ Chính trị; nhận thức về vị trí và vai trò của văn hóa
được nâng cao; chú trọng xây dựng con người, môi trường văn hóa, công nghiệp
văn hóa, công nghiệp giải trí, văn học nghệ thuật, điện ảnh...; tổ chức thành
công các sự kiện chào mừng các ngày lễ lớn; thể thao thành tích cao đạt kết quả
tích cực. Ngành giáo dục sắp xếp lại mạng lưới các cơ sở giáo dục theo quy mô
dân số, phân bố dân cư, tạo điều kiện thuận lợi cho người học, sử dụng hiệu quả
cơ sở vật chất, đội ngũ cán bộ, giáo viên; triển khai chương trình đào tạo nhân
lực chất lượng cao; sử dụng thống nhất 01 bộ sách giáo khoa từ năm học 2026 -
2027; quan tâm phát triển giáo dục vùng biên giới, khánh thành đồng loạt 108
trường học tại các xã biên giới... Ngành y tế làm tốt công tác phòng, chống
dịch bệnh; nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh, cung ứng thuốc, vật tư y tế; tổ
chức khám sức khỏe định kỳ, khám sàng lọc miễn phí cho khoảng 53 triệu người
dân...
Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng
tạo, chuyển đổi số có bước tiến mới theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW; đã
ưu tiên, bố trí đủ 3% tổng chi ngân sách nhà nước, cơ bản hoàn thiện chính
sách, pháp luật, tháo gỡ vướng mắc quy định về tài chính, đầu tư cho khoa học,
công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; đáp ứng tiến độ 1.932/2.011 nhiệm
vụ; triển khai quyết liệt Đề án 06, “100 ngày cao điểm” xử lý điểm nghẽn về
chuyển đổi số, vận hành Trung tâm dữ liệu quốc gia; ban hành danh mục, thúc đẩy
phát triển công nghệ và sản phẩm công nghệ chiến lược; phê duyệt Chương trình
khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến
lược; Chỉ số đổi mới sáng tạo của Việt Nam năm 2026 xếp hạng 43/139, tăng 01
bậc so với năm 2025 (xếp thứ 3 trong ASEAN)...
Công tác hoàn thiện thể chế, pháp
luật gắn với đổi mới tư duy, phương thức xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật
đạt kết quả tích cực; nhiều điểm nghẽn được khơi thông, góp phần kiến tạo phát
triển, tạo lợi thế cho tăng trưởng 2 con số. Tích cực hoàn thiện 78 dự án luật,
nghị quyết trình tại 03 Kỳ họp Quốc hội khóa XVI năm 2026. Chính phủ, Thủ tướng
Chính phủ đã ban hành 485 văn bản quy phạm pháp luật; cơ bản khắc phục tình
trạng chậm, nợ ban hành văn bản quy định chi tiết. Công tác cải cách thủ tục
hành chính, xử lý kiến nghị của doanh nghiệp được thúc đẩy; đơn giản hóa 803,
cắt giảm 945 thủ tục hành chính, 1.754 điều kiện kinh doanh, giảm 53% thời gian
thực hiện và 55% chi phí tuân thủ cho người dân, doanh nghiệp (tiết kiệm khoảng
23 nghìn tỷ đồng/năm), mức cắt giảm lớn nhất từ trước đến nay. Tiếp tục sắp
xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy các bộ, cơ quan và xử lý hiệu quả vấn đề giao thoa
chức năng, nhiệm vụ; thống nhất chuyển giao các nhiệm vụ quản lý nhà nước về
địa chất, khoáng sản về một bộ đầu mối; phân định rõ chức năng quản lý nhà nước
đối với doanh nghiệp, tập đoàn, tổng công ty của các bộ, ngành liên quan; hoàn
thành sắp xếp các thôn, tổ dân phố, phát huy hơn nữa vai trò tự quản của cộng
đồng dân cư; đẩy mạnh sắp xếp trường học, bệnh viện, đơn vị sự nghiệp công
lập... Tập trung xử lý căn bản khó khăn, vướng mắc trong vận hành chính quyền
địa phương 2 cấp, bảo đảm thông suốt, hiệu quả.
Tiềm lực quốc phòng, an ninh được
củng cố, tăng cường; độc lập, chủ quyền quốc gia được giữ vững; trật tự an toàn
xã hội được bảo đảm theo tinh thần các Nghị quyết số 18-NQ/TW, 22-NQ/TW. Công
tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, chống lãng phí được chú trọng; triển
khai hiệu quả đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng buôn lậu, gian lận
thương mại, hàng giả, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Công tác đối ngoại, hội
nhập quốc tế được triển khai đồng bộ, hiệu quả theo Nghị quyết số 59-NQ/TW, nhất
là đối ngoại cấp cao, ngoại giao công nghệ, văn hóa, quốc phòng, an ninh, năng
lượng..., góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, củng cố và nâng cao
vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, đóng góp thiết thực xây dựng,
phát triển và bảo vệ đất nước. Thông tin, truyền thông được đẩy mạnh, nhất là
truyền thông chính sách; tăng cường đấu tranh phản bác, ngăn chặn thông tin
xấu, độc và xử lý nghiêm các hành vi sai phạm.
Chi tiết về kết quả chỉ tiêu
kinh tế - xã hội, ngân sách nhà nước chủ yếu của cả nước tại Phụ lục I kèm theo
Nghị quyết này.
Bên cạnh những kết quả đạt được là
cơ bản, kinh tế - xã hội nước ta còn gặp nhiều thách thức, nhất là mục tiêu
tăng trưởng 2 con số. Lạm phát chịu áp lực do tác động của thị trường quốc tế,
chính sách vĩ mô của các đối tác, CPI bình quân 09 tháng tiệm cận mục tiêu cả
năm; thị trường tiền tệ, tín dụng, tỷ giá, lãi suất chịu nhiều sức ép, nợ xấu
có xu hướng tăng. Các động lực tăng trưởng truyền thống chưa đạt như kỳ vọng;
thị trường trong nước chưa được thúc đẩy rõ nét. Cán cân thương mại được cải
thiện nhưng cơ cấu xuất, nhập khẩu chưa hài hòa, bền vững. Hoạt động sản xuất,
kinh doanh của doanh nghiệp còn khó khăn; tốc độ tăng trưởng doanh thu có dấu
hiệu chậm lại; khả năng tiếp cận vốn của một bộ phận doanh nghiệp còn hạn
chế... Tổng vốn đầu tư toàn xã hội chưa đáp ứng yêu cầu; còn một số bộ, cơ quan
giải ngân dưới 20%, một số dự án, dự án thành phần các công trình giao thông
trọng điểm giải ngân dưới 5% kế hoạch (chi tiết tại Phụ lục III kèm theo Nghị
quyết này); khối lượng tạm ứng chưa thu hồi còn lớn. Kết quả phát triển
khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số chưa đồng đều, mức độ đóng
góp vào nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế chưa
tương xứng với tiềm năng, yêu cầu phát triển. Đời sống một bộ phận người dân
còn khó khăn; tình hình an ninh, trật tự, tình trạng ô nhiễm không khí, ngập
úng, ùn tắc giao thông, cháy nổ... tại một số địa bàn, tội phạm lừa đảo chiếm
đoạt tài sản, nhất là trên không gian mạng, buôn lậu, gian lận thương mại, hàng
giả... còn yếu tố phức tạp.
II. Nhiệm vụ, giải pháp trọng
tâm tháng 10 và thời gian tới
Tháng 10 và những tháng cuối năm
2026, dự báo tình hình thế giới và khu vực tiếp tục biến động phức tạp, khó
lường... Ở trong nước, quý IV là giai đoạn “nước rút”, mang tính quyết định để
hoàn thành các mục tiêu, chỉ tiêu và nhiệm vụ năm 2026; có những khó khăn,
thách thức và thời cơ, thuận lợi đan xen nhưng khó khăn, thách thức nhiều hơn.
Trước tình hình đó, Chính phủ yêu
cầu Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh,
thành phố tiếp tục đề cao trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu, triển khai
quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả hơn nữa các Nghị quyết, Kết luận, chỉ đạo của
Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quốc hội và của Chính phủ; tận dụng tối
đa thời cơ, các yếu tố thuận lợi, khắc phục khó khăn, hạn chế, tổ chức thực
hiện hiệu quả nhiệm vụ trọng tâm phát triển kinh tế - xã hội những tháng cuối
năm 2026, phấn đấu hoàn thành cao nhất các mục tiêu, chỉ tiêu đã đề ra, tạo đà
bứt phá cho năm 2027 với tinh thần tăng tốc hành động quyết liệt; trong đó, tập
trung thực hiện một số nội dung sau:
1. Tập trung nguồn lực,
chuẩn bị kỹ lưỡng, bảo đảm tiến độ, chất lượng các báo cáo, đề án trình Hội
nghị Trung ương 4 khóa XIV, các dự án luật, nghị quyết trình Quốc hội khóa XVI
xem xét, thông qua tại Kỳ họp thứ Hai, tháng 10 năm 2026. Khẩn trương nghiên
cứu, tiếp thu ý kiến Nhân dân đối với các dự án luật quan trọng như Luật Đất
đai (sửa đổi), Luật Nhà ở (sửa đổi), Luật Kinh doanh bất động sản (sửa đổi)...
Hoàn thành việc sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy các bộ, cơ quan ngang bộ gắn
với phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền.
2. Kiên định mục tiêu ưu
tiên thúc đẩy tăng trưởng, phấn đấu tăng trưởng năm 2026 đạt “2 con số” gắn với
giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của
nền kinh tế; lấy hiệu quả thực chất của nền kinh tế, năng suất, sức cạnh tranh,
sự phát triển của doanh nghiệp và việc làm, thu nhập, chất lượng cuộc sống của
Nhân dân làm thước đo cho sự phát triển. Rà soát toàn bộ mục tiêu, chỉ tiêu,
nhiệm vụ năm 2026, có giải pháp cụ thể, quyết liệt đối với chỉ tiêu thực hiện
thấp, có khả năng không đạt mục tiêu, kịch bản cả năm và các nhiệm vụ chậm tiến
độ, phấn đấu hoàn thành ở mức cao nhất. Trên cơ sở kịch bản tăng trưởng quý IV
của các ngành, lĩnh vực, địa phương (Phụ lục IV kèm theo Nghị quyết này),
từng Bộ, cơ quan, địa phương xác định mục tiêu, nhiệm vụ, cơ quan thực hiện; rà
soát, xác định các động lực, dư địa tăng trưởng những tháng cuối năm, quyết
liệt triển khai các nhiệm vụ, giải pháp thuộc thẩm quyền và kịp thời tham mưu,
đề xuất những vấn đề vượt thẩm quyền; xác định rõ các dự án có khả năng sớm
hoàn thành, đưa vào khai thác và các doanh nghiệp có khả năng mở rộng sản xuất,
kinh doanh để tập trung tháo gỡ khó khăn, đôn đốc thực hiện.
3. Tăng tốc giải ngân vốn
đầu tư công, khẩn trương phân bổ chi tiết 19,58 nghìn tỷ đồng vốn ngân sách
trung ương còn lại, phấn đấu giải ngân 100% kế hoạch được giao, trong đó tập
trung giải ngân tốt cả vốn ngân sách trung ương và ngân sách địa phương, gắn
việc giải ngân với việc hoàn thành khối lượng. Khẩn trương lập hồ sơ thanh toán
ngay khi có khối lượng hoàn thành, không để dồn khối lượng giải ngân vào cuối
năm; kiên quyết điều chuyển vốn từ dự án giải ngân chậm sang dự án giải ngân
tốt có nhu cầu sử dụng vốn; kiểm soát chặt chẽ vốn tạm ứng bảo đảm tạm ứng phù
hợp với tiến độ dự án, sử dụng đúng mục đích, đúng đối tượng, đẩy nhanh thu hồi
tạm ứng, không để xảy ra tạm ứng quá hạn; cập nhật đầy đủ dữ liệu phục vụ chấm
điểm giải ngân. Rà soát, có phương án xử lý dứt điểm các dự án tồn đọng, vướng
mắc kéo dài (nhất là các dự án giao thông, năng lượng, hạ tầng lớn). Đẩy nhanh
việc kiểm kê, lập phương án xử lý, khai thác hiệu quả các cơ sở nhà, đất dôi dư
sau tinh gọn bộ máy và sắp xếp đơn vị hành chính, không để xuống cấp, lãng phí.
4. Thúc đẩy sản xuất, kinh
doanh, tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận vốn, ổn định thị trường,
bảo đảm cung cầu hàng hóa, năng lượng trong các tháng cuối năm. Tăng cường kết
nối doanh nghiệp trong nước với khu vực FDI. Phát triển thị trường trong nước,
kích cầu tiêu dùng, khai thác hiệu quả nhu cầu mua sắm, du lịch cuối năm gắn
với kiểm soát, bình ổn giá; tận dụng các FTA, xúc tiến thương mại biên giới và
đa dạng hóa thị trường xuất khẩu sang Nam Mỹ, Trung Đông..., phát triển thương
mại cân bằng, bền vững.
5. Đẩy nhanh tiến độ soạn
thảo, trình ban hành văn bản quy định chi tiết luật, nghị quyết đã có hiệu lực,
khắc phục triệt để tình trạng nợ đọng văn bản. Rà soát, cắt giảm, đơn giản hóa
thủ tục hành chính, nhất là các thủ tục liên quan đến đầu tư, đất đai, xây
dựng, môi trường; nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ công trực tuyến và giải
quyết thủ tục hành chính cho người dân, doanh nghiệp; khắc phục các điểm nghẽn
về kết nối, chia sẻ dữ liệu và giải quyết thủ tục liên thông. Triển khai quyết
liệt nhiệm vụ phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số;
khẩn trương hoàn thiện, đưa các chính sách mới vào cuộc sống, trong đó hướng
dẫn chi tiết thực thi các quy định về tài sản số, khung pháp lý cho Trung tâm
Tài chính quốc tế tại Thành phố Hồ Chí Minh, quy hoạch cụm công nghiệp...
6. Thực hiện đầy đủ, kịp
thời các chính sách an sinh xã hội, chăm lo đời sống của Nhân dân, nhất là
người có công, đối tượng chính sách, người yếu thế, người có hoàn cảnh khó
khăn. Đẩy nhanh tiến độ triển khai các chương trình mục tiêu quốc gia. Quyết
tâm hoàn thành giám định ADN đối với 18 nghìn mẫu hài cốt liệt sĩ đã được tìm
kiếm, quy tập. Rà soát tổng thể nhu cầu và xử lý dứt điểm tình trạng thiếu sách
giáo khoa tại các địa phương; tăng cường kiểm tra, chấn chỉnh công tác bảo đảm
an toàn vệ sinh thực phẩm tại các cơ sở chế biến, kinh doanh thực phẩm và bếp
ăn tập thể; chú trọng chất lượng bữa ăn học đường, cắt giảm khâu trung gian
không cần thiết trong mua sắm, cung ứng thuốc và thiết bị y tế; bảo đảm các cơ
sở khám, chữa bệnh công lập không bị thiếu hụt vật tư, bệnh nhân tiếp cận được
thuốc chất lượng với giá hợp lý.
7. Chuẩn bị chu đáo các hoạt
động văn hóa, lễ hội vào dịp cuối năm, trong đó tổ chức tốt Ngày Văn hóa Việt
Nam và tuần lễ văn hóa - đại đoàn kết dân tộc năm 2026. Chú trọng bảo tồn và
phát huy giá trị di sản gắn với phát triển du lịch, công nghiệp văn hóa. Theo
dõi sát tình hình quan hệ lao động, tiền lương, tiền thưởng tại các khu công
nghiệp; tăng cường tổ chức các sàn giao dịch việc làm, hỗ trợ kết nối lao động
cho các doanh nghiệp phục vụ cao điểm sản xuất cuối năm.
8. Đẩy nhanh tiến độ ban
hành kết luận thanh tra đối với các cuộc thanh tra đã hoàn thành thanh tra trực
tiếp; rà soát, xử lý dứt điểm tình trạng chồng chéo, trùng lặp trong hoạt động
thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp; đôn đốc việc thực hiện nghiêm các kết luận,
kiến nghị, quyết định xử lý sau thanh tra. Tăng cường trách nhiệm người đứng
đầu trong việc tiếp công dân định kỳ, đột xuất; gắn tiếp công dân với rà soát,
đối thoại, giải quyết dứt điểm các vụ việc khiếu nại, tố cáo ngay từ cơ sở,
không để hình thành điểm nóng. Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan tố tụng trong
việc phát hiện, điều tra, xử lý các vụ án, vụ việc tham nhũng; đẩy mạnh thu hồi
tài sản bị chiếm đoạt, thất thoát trong các vụ án tham nhũng, kinh tế.
9. Các lực lượng duy trì
nghiêm chế độ trực sẵn sàng chiến đấu; tăng cường tuần tra, kiểm soát, bảo vệ
vững chắc chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia; nắm chắc, dự báo sát tình
hình, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống. Chủ động phòng ngừa, phát
hiện, ngăn chặn âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; bảo vệ an
ninh kinh tế, an ninh tư tưởng - văn hóa, an ninh mạng và an toàn thông tin;
tăng cường phòng, chống tội phạm, bảo đảm an toàn giao thông, phòng cháy, chữa
cháy. Rà soát phương án, chuẩn bị sẵn sàng lực lượng, phương tiện, chủ động
tham gia phòng, chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn. Tăng cường hợp tác, liên kết,
thực hiện hiệu quả công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế.
10. Từng bộ, cơ quan, địa
phương theo chức năng, lĩnh vực quản lý, khẩn trương tổ chức thực hiện những
nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm tại Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị quyết này.
III. Về việc xử lý kiến nghị của
doanh nghiệp
Trên cơ sở báo cáo của Bộ Tài chính
về tình hình, kết quả xử lý kiến nghị của doanh nghiệp tại Tờ trình số
814/TTr-BTC ngày 02 tháng 10 năm 2026, Chính phủ yêu cầu:
1. Đối với 56 kiến nghị chưa
có kết quả xử lý theo tổng hợp của Bộ Tài chính tại Tờ trình số 814/TTr-BTC,
các Bộ: Nông nghiệp và Môi trường, Công Thương, Nội vụ, Y tế, Tư pháp, Giáo dục
và Đào tạo, Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố
liên quan khẩn trương xử lý dứt điểm, kịp thời thông báo kết quả xử lý tới
doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp.
2. Liên đoàn Thương mại và
Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổng hợp phản ánh, kiến nghị của doanh nghiệp; định
kỳ trước ngày 05 hằng tháng gửi các bộ, cơ quan, địa phương liên quan để xem
xét, xử lý, đồng gửi Bộ Tài chính, Văn phòng Chính phủ.
3. Trước ngày 25 hằng tháng,
các bộ, cơ quan, địa phương gửi kết quả xử lý kiến nghị của doanh nghiệp về Văn
phòng Chính phủ, Bộ Tài chính và VCCI để tổng hợp chung.
4. Bộ Tài chính chủ trì tổng
hợp tình hình, kết quả xử lý kiến nghị của các bộ, cơ quan, địa phương, báo cáo
Chính phủ tại phiên họp Chính phủ thường kỳ hằng tháng.
IV. Về việc báo cáo Chính phủ
theo quy định tại khoản 4 Điều 3 Quy chế làm việc của Chính phủ
Thực hiện quy định tại khoản 4 Điều
3 Quy chế làm việc của Chính phủ ban hành kèm theo Nghị định số 191/2026/NĐ-CP,
tại Phiên họp, các bộ, cơ quan đã báo cáo Chính phủ như sau:
1. Bộ Công Thương báo cáo về
việc tiếp thu, giải trình ý kiến Ủy ban Thường vụ Quốc hội về dự thảo Luật sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Thương mại, cạnh tranh, quản lý ngoại thương,
bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
2. Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam báo cáo về việc xây dựng chỉ tiêu lạm phát năm 2027.
3. Bộ Công an, Bộ Quốc phòng
báo cáo về việc chỉnh lý, bổ sung, hoàn thiện các nghị định quy định chi tiết
Luật An ninh mạng.
4. Bộ Nội vụ báo cáo về việc
tiếp thu, giải trình ý kiến Ủy ban Thường vụ Quốc hội và ý kiến thẩm tra sơ bộ
về dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội.
Văn phòng Chính phủ theo dõi, đôn
đốc, tổng hợp, báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ kết quả thực hiện Nghị
quyết này./.
|
Nơi nhận:
- Ban Bí thư Trung ương Đảng;
- Thủ tướng Chính phủ, các Phó Thủ tướng Chính phủ;
- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ;
- HĐND, UBND các tỉnh, thành phố;
- Văn phòng Trung ương và các Ban của Đảng;
- Văn phòng Tổng Bí thư;
- Văn phòng Chủ tịch nước;
- Văn phòng Quốc hội;
- Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội;
- Tòa án nhân dân tối cao;
- Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
- Kiểm toán nhà nước;
- Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
- Cơ quan Trung ương của các tổ chức chính trị - xã hội;
- Ban Chỉ đạo 35 Trung ương;
- VPCP: BTCN, các PCN, Trợ lý, Thư ký TTg, PTTg, các Vụ, Cục, Công báo;
- Lưu: Văn thư, TH (3b)
|
TM.
CHÍNH PHỦ
THỦ TƯỚNG
Lê Minh Hưng
|
…………………
Nội
dung văn bản bằng File Word (đang tiếp tục cập nhật)