|
BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG
*
|
ĐẢNG
CỘNG SẢN VIỆT NAM
---------------
|
|
Số 76-KL/TW
|
Hà Nội, ngày 28 tháng 7 năm 2026
|
KẾT LUẬN
HỘI NGHỊ LẦN THỨ BA
BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG KHÓA XIV
VỀ TIẾP TỤC HOÀN THIỆN, VẬN HÀNH HIỆU QUẢ MÔ HÌNH
TỔ CHỨC TỔNG THỂ CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ, MÔ HÌNH CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG 2 CẤP
-----
I- TÌNH
HÌNH
Sau 1 năm triển khai mô
hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền địa phương 2
cấp, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khẳng định chủ trương đổi mới, sắp xếp tổ chức
bộ máy của hệ thống chính trị theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu năng, hiệu lực,
hiệu quả là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước
trong giai đoạn mới; là quyết sách chiến lược, mang tính cách mạng sâu sắc
trong đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, tổ chức quyền lực nhà
nước và quản trị quốc gia hiện đại.
Thực tiễn sinh động đã chứng
minh mô hình mới không chỉ khắc phục căn bản những bất cập của mô hình cũ, mà
còn tạo chuyển biến rõ nét, thực chất trong tổ chức và hoạt động của toàn hệ thống
chính trị; rút ngắn "khoảng cách" từ Trung ương đến cơ sở; chuyển mạnh
từ tư duy quản lý hành chính sang quản trị phát triển; gắn phân cấp, phân quyền
với kiểm soát quyền lực, trách nhiệm giải trình; phát huy tính chủ động, sáng tạo
của địa phương, cơ sở; xây dựng nền hành chính phục vụ Nhân dân, gần dân, sát
dân, vì Nhân dân. Năng lực quản trị quốc gia đã được nâng lên một bước quan trọng,
bộ máy hoạt động thông suốt, ổn định, không để gián đoạn công việc, không để khoảng
trống pháp lý. Qua đó, góp phần củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và Nhân
dân đối với chủ trương đổi mới của Đảng; đồng thời tạo nền tảng thể chế, tổ chức
và quản trị để triển khai thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, thúc đẩy
tăng trưởng nhanh và bền vững, góp phần hiện thực hóa hai mục tiêu 100 năm của
đất nước.
Bên cạnh những kết quả đạt
được, quá trình vận hành mô hình mới vẫn còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập về
thể chế, phân cấp, phân quyền, phân bổ nguồn lực, chất lượng đội ngũ cán bộ,
chuyển đổi số và năng lực tổ chức thực hiện, nhất là ở cấp xã. Đây là những vấn
đề tất yếu phát sinh trong quá trình chuyển đổi mô hình, không làm thay đổi
tính đúng đắn và hiệu quả của chủ trương đổi mới tổ chức bộ máy, cần tiếp tục
được rà soát, khắc phục, hoàn thiện.
II- NHIỆM
VỤ, GIẢI PHÁP TIẾP TỤC HOÀN THIỆN, NÂNG CAO HIỆU QUẢ VẬN HÀNH MÔ HÌNH MỚI
Trong giai đoạn tới, cần
tiếp tục "tinh chỉnh" để hoàn thiện tổ chức bộ máy bên trong; đồng thời
chuyển mạnh trọng tâm sang nâng cao chất lượng vận hành, năng lực quản trị quốc
gia, năng lực kiến tạo phát triển và hiệu quả phục vụ Nhân dân; bảo đảm hệ thống
chính trị đủ năng lực tổ chức thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị,
nhất là người đứng đầu, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tiếp tục thực hiện tốt các
nghị quyết, kết luận liên quan của Trung ương, đồng thời tập trung triển khai
thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm sau:
1. Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng
đối với hệ thống chính trị và xã hội
Đổi mới mạnh mẽ phương thức
lãnh đạo của Đảng theo hướng lãnh đạo bằng đường lối, chiến lược, thể chế, công
tác cán bộ, kiểm tra, giám sát và đánh giá kết quả thực hiện. Kiên định nguyên
tắc Đảng lãnh đạo toàn diện, trực tiếp, nhưng không bao biện, làm thay, không
can thiệp hành chính sự vụ vào thẩm quyền của Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam và các tổ chức chính trị - xã hội.
Hoàn thiện cơ chế lãnh đạo,
chỉ đạo trực tiếp, liên thông từ Trung ương đến cấp tỉnh, cấp xã; bảo đảm "Trung
ương kiến tạo, tỉnh điều phối, xã thực thi". Phát huy cao nhất tính chủ
động, tự chủ, tự chịu trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền cơ sở; kiên quyết khắc
phục triệt để tình trạng thụ động, ỷ lại, né tránh, đùn đẩy trách nhiệm lên cấp
trên, đồng thời tăng cường công tác kiểm tra, giám sát.
Đổi mới nội dung, phương
thức hoạt động của tổ chức cơ sở đảng; nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ; xây
dựng tổ chức cơ sở đảng thực sự là hạt nhân chính trị, trung tâm đoàn kết, quy
tụ và phát huy sức mạnh của cán bộ, đảng viên và Nhân dân ở cơ sở.
2. Hoàn thiện thể chế, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với
phân bổ nguồn lực và kiểm soát quyền lực
Khẩn trương rà soát, hoàn
thiện đồng bộ hệ thống pháp luật, quy định, quy chế, quy trình, chức năng, nhiệm
vụ, thẩm quyền và cơ chế phối hợp liên quan đến tổ chức bộ máy trong toàn hệ thống
chính trị. Trọng tâm là tháo gỡ các điểm nghẽn, mâu thuẫn, chồng chéo, vướng mắc
phát sinh từ thực tiễn vận hành ở cơ sở. Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn liền
với phân bổ nguồn lực; kiên quyết chấm dứt tình trạng giao nhiệm vụ nhưng không
bảo đảm điều kiện thực hiện. Thẩm quyền được giao phải gắn chặt với trách nhiệm
giải trình và cơ chế kiểm soát quyền lực.
Hoàn thiện hệ thống tiêu
chuẩn, quy chuẩn, định mức kinh tế-kỹ thuật và bộ tiêu chí đo lường kết quả thực
thi; chuyển mạnh từ quản lý bằng mệnh lệnh hành chính sang quản trị phát triển,
quản trị bằng mục tiêu, dữ liệu, sản phẩm đầu ra và mức độ hài lòng của người
dân, doanh nghiệp.
3. Hoàn thiện mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính
trị và cơ chế vận hành của chính quyền địa phương 2 cấp
Tiếp tục hoàn thiện tổ chức
bộ máy từ Trung ương đến cấp xã theo hướng tinh gọn, rõ chức năng, rõ thẩm quyền,
rõ trách nhiệm, không chồng chéo, không bỏ sót nhiệm vụ. Đối với những lĩnh vực
liên ngành, giao thoa, phải thực hiện nguyên tắc: một việc có một cơ quan chủ
trì, một đầu mối chịu trách nhiệm chính, một nguồn dữ liệu dùng chung, một quy
trình phối hợp liên thông và một cơ chế kiểm tra, giám sát rõ ràng.
Phân định rõ vai trò, chức
năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và phương thức quản trị của từng cấp chính quyền.
Trung ương tập trung hoạch định chiến lược, xây dựng thể chế, quy hoạch quốc
gia, hạ tầng chiến lược, nền tảng số và kiểm tra, giám sát. Cấp tỉnh giữ vai
trò trung tâm trong quản trị, tổ chức không gian phát triển, liên kết vùng,
phân bổ nguồn lực và điều phối thực thi. Cấp xã là tuyến đầu của quản trị công,
triển khai các đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước
đến với người dân, xử lý kịp thời các vấn đề phát sinh từ cơ sở, trực tiếp phục
vụ người dân, doanh nghiệp.
Hoàn thiện mô hình tổ chức
đảng đồng bộ với hệ thống hành chính Nhà nước. Thực hiện thí điểm mô hình tổ chức
đảng trong giai đoạn mới gắn với thống nhất tên gọi các tổ chức đảng từ Trung
ương tới cấp xã; cho phép điều chỉnh cục bộ cơ cấu tổ chức bên trong tổ chức cơ
sở đảng đối với những nơi có tính đặc thù, tình hình đặc điểm riêng.
Nghiên cứu xây dựng khu
kinh tế đặc biệt nhằm tạo không gian phát triển mới với cơ chế vượt trội, mô
hình quản lý tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả, kết nối hạ tầng, dịch vụ
công và các không gian kinh tế trọng điểm, hình thành các cực tăng trưởng mới, đáp
ứng yêu cầu cạnh tranh khu vực và quốc tế. Hình thành các đơn vị hành chính cấp
xã mang tính hạt nhân tiêu biểu để lan tỏa, nhân rộng, dẫn dắt phát triển, gắn
với mục tiêu xây dựng cấp xã thực sự trở thành trung tâm vận hành mới ở cơ sở.
Việc đánh giá các đơn vị hành chính cấp xã về dân số, diện tích, đô thị hóa, đặc
điểm địa bàn, dư địa phát triển và yêu cầu phục vụ Nhân dân trong quá trình vận
hành bộ máy mới là nhiệm vụ thường xuyên trong quá trình quản lý, hoàn thiện tổ
chức và nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền cơ sở.
Tiếp tục rà soát, sắp xếp,
tinh gọn mạng lưới đơn vị sự nghiệp công lập, nhất là trong giáo dục, y tế, văn
hóa và các dịch vụ công cơ bản, gắn việc tinh giản biên chế với cơ cấu lại,
nâng cao chất lượng đội ngũ viên chức. Đẩy mạnh tự chủ, xã hội hóa dịch vụ công
phù hợp; đồng thời Nhà nước phải giữ vai trò chủ đạo, tập trung ngân sách bảo đảm
các dịch vụ công cơ bản thiết yếu, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải
đảo và địa bàn khó khăn.
4. Xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu của mô hình mới
Cơ cấu lại, nâng cao chất
lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức theo vị trí việc làm, chức năng, nhiệm
vụ, khối lượng công việc và yêu cầu thực tiễn. Đổi mới quản lý biên chế theo hướng
quản trị bằng dữ liệu, lượng hóa công việc, đo lường hiệu quả thực thi; phân bổ
biên chế linh hoạt, không cào bằng, phù hợp quy mô dân số, diện tích, mức độ
phát triển, tính chất địa bàn và khối lượng công việc. Thực hiện cải cách tiền
lương gắn kết chặt chẽ với lộ trình tinh gọn bộ máy, tinh giản biên chế và vận
hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền địa
phương 2 cấp.
Hoàn thiện khung năng lực,
tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm; bố trí đúng người, đúng việc, đúng sở
trường. Đổi mới công tác đánh giá cán bộ bằng sản phẩm cụ thể, kết quả đầu ra,
tiến độ xử lý công việc và sự tín nhiệm của Nhân dân; thực hiện nghiêm nguyên tắc
"có vào, có ra, có lên, có xuống". Xây dựng cơ chế đột phá để phát hiện,
thu hút, trọng dụng người có năng lực nổi trội; đãi ngộ chuyên gia, công chức
có trình độ chuyên môn sâu đồng bộ với hệ thống chức danh, vị trí việc làm, tạo
động lực để cán bộ cống hiến lâu dài và phát triển gắn với chuyên môn.
Thể chế hóa cơ chế khuyến
khích, bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung;
phân định rõ sai sót do thử nghiệm, đổi mới với sai phạm do động cơ cá nhân, vụ
lợi. Đồng thời kiên quyết chấn chỉnh bệnh sợ trách nhiệm, né tránh, ỷ lại, đùn
đẩy, làm việc cầm chừng; kịp thời thay thế cán bộ năng lực hạn chế, uy tín giảm
sút, không đáp ứng yêu cầu.
Xác định năng lực thực thi
của cán bộ cấp xã là thước đo quan trọng kiểm định sự thành công của mô hình mới.
Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, bố trí cán bộ có năng lực, chuyên
môn sâu về cơ sở, nhất là trong các lĩnh vực đất đai, quy hoạch, đầu tư, tài
chính, tư pháp, công nghệ, chuyển đổi số. Có chính sách ưu đãi về tiền lương,
phụ cấp, nhà ở, điều kiện làm việc và chế độ đãi ngộ phù hợp để cán bộ, công chức
cấp xã yên tâm công tác, phát huy năng lực, gắn bó lâu dài.
5. Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá và phát
huy trách nhiệm người đứng đầu
Thực hiện nghiêm túc, triệt
để nguyên tắc "quyền hạn giao đến đâu, trách nhiệm giải trình và cơ chế
kiểm soát tới đó" Thiết lập cơ chế kiểm tra, giám sát chặt chẽ, thường
xuyên, từ sớm, từ xa; kết hợp kiểm tra của cấp trên, giám sát chéo giữa các cơ
quan cùng cấp và giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức
chính trị - xã hội và của Nhân dân. Kiểm soát quyền lực phải đi đôi với khuyến
khích đổi mới, sáng tạo, không làm cán bộ sợ trách nhiệm, không triệt tiêu động
lực làm việc, cống hiến của cán bộ.
Chuyển mạnh sang giám sát
dựa trên dữ liệu số; lưu vết toàn bộ quá trình xử lý công việc; kết nối dữ liệu
giữa kiểm tra của Đảng với thanh tra, kiểm toán, tư pháp của Nhà nước. Xây dựng
bộ chỉ số đánh giá hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả vận hành của mô hình mới,
trong đó lấy sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp, tiến độ xử lý công việc,
chất lượng phục vụ và mức độ chủ động của cơ sở làm thước đo trọng tâm.
Người đứng đầu cấp ủy,
chính quyền, cơ quan, đơn vị chịu trách nhiệm toàn diện về hiệu quả vận hành của
bộ máy thuộc phạm vi quản lý; kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị, phát triển
kinh tế - xã hội, cải cách hành chính, chuyển đổi số và phục vụ Nhân dân phải
là căn cứ quan trọng để đánh giá, bố trí, quy hoạch, bổ nhiệm, điều động, khen
thưởng, kỷ luật cán bộ.
6. Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ
chức chính trị - xã hội và Nhân dân
Chuyển chức năng, nhiệm vụ
tham mưu về công tác dân vận từ Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương về Đảng ủy
Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương để tập trung một đầu mối, gắn kết giữa
nhiệm vụ tham mưu chiến lược và công tác lãnh đạo tổ chức thực hiện; triển khai
đồng bộ ở cấp tỉnh. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội
phải đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức hoạt động, hướng mạnh về cơ sở, thực
sự gần dân, sát dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân. Tăng cường tập
hợp, vận động, giám sát, phản biện xã hội và tham gia xây dựng Đảng, chính quyền.
Sắp xếp, kiện toàn tổ chức
bộ máy, thiết lập cơ chế điều hành tập trung, thống nhất, bảo đảm tính trực thuộc
của các tổ chức chính trị - xã hội vào Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và bảo đảm các
tổ chức chính trị - xã hội hoạt động theo luật và điều lệ của từng tổ chức phù
hợp với Điều lệ Đảng. Thiết lập cơ chế để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức
chính trị - xã hội và Nhân dân thường xuyên phản ánh, giám sát, đánh giá chất
lượng phục vụ của chính quyền các cấp, nhất là cấp xã. Ý kiến của người dân,
doanh nghiệp phải trở thành một kênh dữ liệu quan trọng trong đánh giá hiệu quả
vận hành của bộ máy mới.
Phát huy quyền làm chủ của
Nhân dân trong tham gia xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại, liêm chính, phục
vụ; củng cố đồng thuận xã hội, niềm tin của Nhân dân và khối đại đoàn kết toàn
dân tộc.
7. Xử lý hiệu quả tài sản công, hồ sơ lưu trữ và bảo đảm
nguồn lực cho cơ sở
Khẩn trương xử lý dứt điểm
nhà, đất, trụ sở, tài sản công dôi dư sau sắp xếp theo nguyên tắc công khai,
minh bạch, đúng pháp luật, không để lãng phí, thất thoát. Gắn việc sắp xếp, xử
lý với quản lý, sử dụng có hiệu quả, thực chất; ưu tiên sử dụng quỹ đất, cơ sở
vật chất dôi dư cho y tế, giáo dục, văn hóa, thể thao, sinh hoạt cộng đồng, an
sinh xã hội, hành chính công và các thiết chế phục vụ trực tiếp Nhân dân.
Thực hiện nghiêm việc bàn
giao, tiếp nhận, quản lý, chỉnh lý và số hóa hồ sơ, tài liệu sau sắp xếp; tuyệt
đối không để thất lạc, hư hỏng, phân tán hồ sơ ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp
pháp của người dân, doanh nghiệp. Ưu tiên số hóa dữ liệu đất đai, hộ tịch,
chính sách xã hội, tài chính, khiếu nại, tố cáo, hồ sơ cán bộ và các dữ liệu
dân sinh thiết yếu.
Rà soát toàn diện điều kiện
cơ sở vật chất, bộ phận một cửa, phòng tiếp công dân, hạ tầng công nghệ thông
tin, đường truyền, chữ ký số, phần mềm chuyên ngành ở cấp xã. Có cơ chế phân bổ
ngân sách, tăng tỉ lệ để lại nguồn thu phù hợp cho cấp xã; bảo đảm cơ sở có đủ điều
kiện vận hành, phục vụ Nhân dân và tổ chức phát triển kinh tế - xã hội trên địa
bàn.
8. Lấy chuyển đổi số, dữ liệu và trí tuệ nhân tạo làm
phương thức đột phá trong vận hành mô hình mới
Xây dựng kiến trúc số thống
nhất của hệ thống chính trị, bảo đảm liên thông giữa các cơ quan Đảng, Nhà nước,
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội từ Trung ương đến cơ
sở; thiết lập kiến trúc dữ liệu thống nhất từ Trung ương đến cấp xã, trong đó đặc
biệt chú trọng kết nối liên thông dữ liệu về đất đai, tài sản công; kiên quyết
khắc phục tình trạng cát cứ dữ liệu, phần mềm, đầu tư manh mún, thiếu kết nối.
Hoàn thiện các cơ sở dữ liệu
quốc gia, chuyên ngành và địa phương theo nguyên tắc "đúng, đủ, sạch, sống,
thống nhất, dùng chung"; xác định rõ chủ thể quản lý dữ liệu, trách nhiệm cập
nhật, chia sẻ, khai thác, bảo mật và kiểm tra chất lượng dữ liệu. Dữ liệu phải
trở thành nền tảng của chỉ đạo, điều hành, giám sát, đánh giá cán bộ và phục vụ
người dân, doanh nghiệp.
Tái cấu trúc thực chất thủ
tục hành chính trên nền dữ liệu dùng chung; thiết kế lại quy trình mới gắn với
giảm giấy tờ, giảm thời gian, giảm chi phí, giảm tiếp xúc không cần thiết. Triển
khai bàn làm việc số, giao việc số, giám sát số trong toàn hệ thống; mọi nhiệm
vụ trọng tâm phải rõ người, rõ việc, rõ thời hạn, rõ sản phẩm, rõ trạng thái xử
lý.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo
có kiểm soát trong tham mưu, điều hành và phục vụ Nhân dân; ưu tiên hỗ trợ cán
bộ cấp xã trong tổng hợp, phân tích dữ liệu, cảnh báo sớm rủi ro, giải đáp
chính sách, hướng dẫn thủ tục hành chính, tiếp nhận và xử lý phản ánh của người
dân, doanh nghiệp. Việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo phải bảo đảm an toàn, an ninh
mạng, bảo vệ dữ liệu cá nhân, bảo mật thông tin và xác định rõ trách nhiệm của
con người trong quyết định cuối cùng.
Tập trung kinh phí, nhân lực
cho chuyển đổi số, hiện đại hóa hạ tầng số, nhất là ở cấp xã, vùng sâu, vùng
xa, biên giới, hải đảo; quyết liệt khắc phục những hạn chế về hạ tầng số ở cơ sở
cũng như đồng bộ phần mềm để sử dụng hiệu quả dữ liệu dùng chung; đào tạo kỹ
năng số cho cán bộ, công chức; coi năng lực số là tiêu chuẩn bắt buộc của đội
ngũ cán bộ trong mô hình quản trị mới.
III- TỔ
CHỨC THỰC HIỆN
1. Giao Bộ Chính trị, Ban Bí thư chỉ đạo:
(1) Đảng ủy Quốc hội, Đảng
ủy Chính phủ lãnh đạo, chỉ đạo rà soát, hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật,
cơ chế, chính sách về tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, phân cấp,
phân quyền và cơ chế vận hành của hệ thống hành chính nhà nước từ Trung ương đến
cấp xã; ưu tiên xử lý dứt điểm các quy định còn chồng chéo, mâu thuẫn hoặc
không còn phù hợp với tổ chức bộ máy mới.
(2) Đảng ủy Chính phủ lãnh
đạo, chỉ đạo Chính phủ, các cơ quan, bộ, ngành liên quan: (i) Đẩy nhanh tiến độ
rà soát, ban hành các văn bản pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành
nhằm tháo gỡ dứt điểm, kịp thời điểm nghẽn về thể chế cho địa phương, (ii) Hoàn
thiện hệ thống tiêu chuẩn, định mức kinh tế - kỹ thuật, quy trình xử lý công việc
liên thông; thiết lập, đưa vào vận hành nền tảng dữ liệu số quốc gia dùng chung
phục vụ công tác điều hành, quản trị và giám sát. (iii) Tiếp tục rà soát, đánh
giá tình hình hoạt động chính quyền cấp xã; nghiên cứu xây dựng khu kinh tế đặc
biệt để tạo không gian phát triển mới; mô hình đơn vị hành chính cấp xã mang
tính hạt nhân tiêu biểu gắn với mục tiêu xây dựng cấp xã thực sự trở thành
trung tâm vận hành mới ở cơ sở. (iv) Tiếp tục sắp xếp tinh gọn các đơn vị sự
nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước; chỉ đạo xử lý dứt điểm, hiệu quả tài sản
công, trụ sở dôi dư, hồ sơ lưu trữ; ưu tiên phân bổ nguồn lực cho cấp cơ sở và
đẩy mạnh chuyển đổi số nhằm nâng cao năng lực quản trị quốc gia, quản trị địa
phương.
(3) Ban Tổ chức Trung ương
tham mưu hoàn thiện, ban hành Quy định về thi hành Điều lệ Đảng (thay thế Quy định
số 20-QĐ/TW, ngày 08/4/2026); rà soát, sửa đổi bổ sung các quy định, hướng dẫn
có liên quan bảo đảm thống nhất, đồng bộ với Quy định thi hành Điều lệ Đảng,
phù hợp với chủ trương thí điểm mô hình tổ chức đảng trong giai đoạn mới.
(4) Ban Tuyên giáo và Dân
vận Trung ương chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan: (i) Chỉ đạo công
tác thông tin, tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng nhằm tạo sự thống nhất
về nhận thức và đồng thuận cao trong toàn Đảng, toàn dân về chủ trương hoàn thiện
mô hình tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị và chính quyền địa phương 2 cấp.
Định hướng các cơ quan báo chí, xuất bản, truyền thông tăng cường lan tỏa những
mô hình hay, cách làm đột phá; chủ động đấu tranh, phản bác kịp thời các thông
tin sai trái, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, (ii) Tổ chức bàn
giao chức năng, nhiệm vụ tham mưu về công tác dân vận cho Đảng ủy Mặt trận Tổ
quốc, các đoàn thể Trung ương, (iii) Xây dựng Đề án chức năng, nhiệm vụ, tổ chức
bộ máy của Ban Tuyên giáo Trung ương trình cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.
(5) Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc,
các đoàn thể Trung ương: (i) Tiếp nhận chức năng, nhiệm vụ tham mưu về công tác
dân vận từ Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, (ii) Xây dựng Đề án chức năng,
nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc; các đoàn thể Trung ương
trình cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định, (iii) Khẩn trương đổi mới nội
dung, phương thức hoạt động, hướng mạnh về cơ sở, phát huy vai trò giám sát, phản
biện xã hội đối với hiệu quả vận hành của mô hình bộ máy chính quyền các cấp.
2. Các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị từ Trung ương đến
cơ sở lãnh đạo, chỉ đạo, rà soát xây dựng chương trình, kế hoạch hành động cụ
thể trình cấp có thẩm quyền quyết định để thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp
theo Kết luận của Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
3. Các cấp ủy trực thuộc Trung ương, các cơ quan, đơn vị, tổ
chức ở Trung ương tiếp tục rà soát, tham mưu sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành quy
định về chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, mối quan hệ công tác và cơ cấu tổ chức
bên trong, bảo đảm tinh gọn, không chồng chéo, không bỏ sót nhiệm vụ; thiết lập
cơ chế kiểm soát quyền lực, đánh giá cán bộ gắn với vị trí việc làm và sản phẩm,
kết quả đầu ra cụ thể, bảo đảm bộ máy hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả.
4. Các tỉnh ủy, thành ủy trực thuộc Trung ương tập trung lãnh
đạo, chỉ đạo: (i) Sắp xếp, kiện toàn đội ngũ cán bộ, hoàn thiện vị trí việc
làm; đổi mới phương thức lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành; làm tốt công tác chính
trị, tư tưởng, quan tâm giải quyết chế độ, chính sách, điều kiện làm việc để
cán bộ cấp xã yên tâm công tác, gắn bó với cơ sở. (ii) Căn cứ tình hình thực tế
của địa bàn, yêu cầu quản lý, phục vụ Nhân dân và định hướng phát triển trong từng
thời kỳ, chủ động rà soát những đơn vị hành chính chưa đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn,
điều kiện hoặc phát sinh bất hợp lý trong quá trình vận hành; trên cơ sở các
tiêu chí, nguyên tắc, điều kiện và quy trình do Trung ương quy định, xây dựng
phương án điều chỉnh nếu thật sự cần thiết, bảo đảm khoa học, thận trọng, tạo đồng
thuận xã hội, không gây xáo trộn, báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.
Chủ động lãnh đạo, chỉ đạo nhiệm vụ thuộc thẩm quyền, tháo gỡ kịp thời khó
khăn, vướng mắc phát sinh tại địa phương; đồng thời chịu trách nhiệm toàn diện
về hiệu lực, hiệu quả vận hành mô hình mới tại địa phương.
5. Ban Tổ chức Trung ương chủ trì, phối hợp với các cơ quan
liên quan theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, giám sát việc thực hiện Kết luận này, định
kỳ báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư.
|
Nơi nhận:
- Các tỉnh ủy,
thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương;
- Các ban, cơ quan, ban đảng Trung ương;
- Đảng ủy các bộ, ngành, tổ chức chính trị - xã hội ở
Trung ương;
- Các đảng ủy đơn vị sự nghiệp Trung ương;
- Các đồng chí Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng;
- Lưu Văn phòng Trung ương Đảng.
|
T/M BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG
TỔNG BÍ THƯ
Tô Lâm
|